Thứ Bảy, ngày 17 tháng 9 năm 2011

Phỏng vấn cụ Nguyễn Trọng Vĩnh


Trần Ngọc Kha
Sau những biến động về chính trị trên thế giới và trong khu vực, đặc biệt là chủ quyền trên biển Đông của nước ta bị vi phạm, chúng tôi ghé thăm cụ Nguyễn Trọng Vĩnh, 96 tuổi, Thiếu tướng, CCB, cựu Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cựu Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh. Với trí tuệ minh mẫn, cụ rành rọt trả lời tất cả những câu phỏng vấn của phóng viên Báo Người cao tuổi…
PV: – Thưa cụ! Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngay khi nhậm chức đã nhấn mạnh: Một trong những việc cấp bách của chúng ta hiện nay là củng cố, xây dựng Đảng. Là cán bộ lão thành cách mạng, cụ có ý kiến gì về điều này?

Những khoảnh khắc thu Sài Gòn


Hoài Hương
Sài Gòn chỉ có hai mùa mưa, nắng. Những cơn mưa chợt đến chợt đi như thú vui rong chơi của Trời, Đất mà đôi khi sự thất thường làm “phố bỗng dưng thành dòng sông uốn quanh”. Còn nắng, như đổ lửa, hun đốt mọi thứ kể cả lòng người trong những vật vã mưu sinh tồn tại cuộc sống… Làm gì có mùa thu, mùa của những chiếc lá vàng bay lơ lửng trong gió vương vấn mắt nhìn, mùa của se se heo may để cảm nhận hơi ấm của bàn tay tình nhân, mùa của thi, ca, nhạc, họa lãng mạn với dòng thời gian… Nhưng Sài Gòn có mùa thu đấy, chỉ là khoảnh khắc mà những tâm hồn nhạy cảm tinh tế mới nhận ra được.

Kỳ lạ chuyện Ấn Độ hợp tác với Việt Nam khai thác dầu, Trung Quốc phản đối


Thái An
Trung Quốc cảnh báo các công ty Ấn Độ tham gia bất kỳ hợp đồng nào với các hãng Việt Nam trong việc thăm dò và khai thác dầu khí ở các khu vực tranh chấp của Biển Đông.
Theo tờ Times of India, tuyên bố từ Bắc Kinh có thể tạo ra diễn biến mới trong quan hệ của họ với Ấn Độ – nước đang yêu cầu Trung Quốc không xây dựng các dự án cơ sở hạ tầng ở vùng tranh chấp Kashmir mà Pakistan chiếm đóng (PoK).
“Chúng tôi hy vọng nước ngoài sẽ không liên can tới tranh chấp“, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du nói. “Với những quốc gia ngoài khu vực, chúng tôi hy vọng họ sẽ tôn trọng và ủng hộ các nước trong khu vực giải quyết tranh chấp thông qua các kênh song phương”, bà Khương Du trả lời câu hỏi liên quan tới kế hoạch của ONGC Videsh trong việc thăm dò hai lô dầu khí ngoài khơi mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền.

Một lần nữa, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại khẳng định, nước này “có chủ quyền không tranh cãi” với Biển Đông và các đảo của nó.
New Delhi dự kiến sẽ phản hồi và yêu cầu Bắc Kinh giải thích vì sao họ cho phép các công ty Trung Quốc xây dựng thủy điện và các dự án cơ sở hạ tầng khác ở vùng tranh chấp Kashmir, nơi Ấn Độ tuyên bố chủ quyền. Các chính khách Pakistan và PoK đã thảo luận công khai về việc Trung Quốc đầu tư vào vùng tranh chấp Kashmir cho dù Trung Quốc chưa xác nhận điều này.
Đây là lần đầu tiên, Ấn Độ liên quan tới tranh chấp trên biển ở Biển Đông. Trước đó, xung quanh vấn đề an ninh và chủ quyền hàng hải, Bộ Ngoại giao nước này đã tuyên bố: “Ấn Độ ủng hộ tự do hàng hải ở các vùng biển quốc tế, bao gồm cả Biển Đông và quyền qua lại phù hợp với các nguyên tắc được chấp thuận của luật pháp quốc tế. Các nguyên tắc này cần được tất cả các bên tôn trọng”.
Theo Times of India, trong cuộc họp báo ở Trung Quốc diễn ra trước chuyến thăm Việt Nam của Ngoại trưởng Ấn Độ SM Krishna, bà Khương Du đã nói: “Quan điểm nhất quán của chúng tội là phản đối bất kỳ nước nào tham gia vào các hoạt động thăm dò dầu khí và phát triển các hành động ở vùng biển thuộc thẩm quyền của Trung Quốc”.
Times of India nhấn mạnh, Việt Nam đã khẳng định chủ quyền với khu vực thăm dò dầu khí nói trên theo Công ước LHQ về Luật Biển.
Những tháng gần đây, căng thẳng Biển Đông đã gia tăng. Cả Việt Nam và Philippines đều mạnh mẽ lên tiếng phản đối cách hành xử gây hấn của Trung Quốc ở vùng biển này. Nhiều tàu thuyền Trung Quốc đã xâm nhập, quấy nhiễu hoặc làm hư hại các tàu cá, tàu thăm dò dầu khí của hai nước tại vùng biển mà hai nước tuyên bố chủ quyền.
Khi căng thẳng leo thang, Trung Quốc đã cảnh báo các láng giềng châu Á ngừng tìm kiếm dầu ở gần quần đảo Trường Sa (thuộc Biển Đông) đang tranh chấp, thậm chí còn thề sẽ khẳng định chủ quyền của mình với khu vực giàu tiềm năng dầu khí ở Biển Đông bất chấp chồng lấn chủ quyền với nhiều nước khác.
Biển Đông trải dài từ bờ biển phía tây của Singapore ở Đông Nam Á tới eo biển Đài Loan với diện tích khoảng 3.500.000 km vuông, bao gồm hơn 200 hòn đảo. Biển Đông chứa đựng khối lượng đáng kinh ngạc về đa dạng sinh học và tài nguyên biển, bao gồm trữ lượng dầu khí rất lớn, thủy sản và ước tính chiếm 30% các rạn san hô của thế giới. Đây là nơi diễn ra tuyên bố chủ quyền chồng lấn giữa Trung Quốc và 4 quốc gia Đông Nam Á, trong đó Trung Quốc đưa ra tuyên bố chủ quyền lớn nhất bằng cách công bố bản đồ 9 đoạn bao trùm hầu hết toàn bộ vùng biển.
Tờ Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc ngày 19/4 đã đưa ra một báo cáo đặc biệt về Biển Đông, trong đó mệnh danh vùng biển này là “Vịnh Ba Tư thứ hai”. Tờ báo cho biết, Biển Đông chứa đựng hơn 50 tỉ tấn dầu thô và hơn 20 nghìn tỉ mét khối khí. Con số này gấp khoảng 25 lần trữ lượng dầu và 8 lần trữ lượng khí của Trung Quốc đã được chứng minh. Tờ báo này không trích dẫn nguồn nào của ước tính trữ lượng dầu và khí tự nhiên nằm dưới đáy Biển Đông. Tuy nhiên, báo dẫn lời Trương Đại Vệ – một quan chức cấp cao thuộc Bộ Đất đai và Tài nguyên Trung Quốc, khi nói rằng, việc tăng cường thăm dò tìm kiếm ngoài khơi là “chìa khóa” để giải quyết cơn khát năng lượng của Trung Quốc.
Ngoài Biển Đông, Trung Quốc cũng có tranh chấp với Nhật Bản về chủ quyền lãnh thổ tại biển Hoa Đông.
Nguồn: VNN/DĐDN

Phỏng vấn GS-TS Nguyễn Đăng Hưng


Quỳnh Chi
Trong thời gian qua nhóm 57 vị trí thức và khoa học gia Việt Nam trên khắp thế giới đã gởi thư cảnh báo về việc các học giả Trung Quốc sử dụng bản đồ lưỡi bò như một phần lãnh thổ của họ trong các bài viết của mình.
Các bức thư này được gởi đến các đến các tạp chí khoa học và cơ quan truyền thông trên thế giới. Hôm thứ Tư, nhóm các vị trí thức này đã nhận được một lá thư phản hồi từ tờ tạp chí European Scientific Journal, một tạp chí khoa học ở Châu Âu, mời các vị học giả Việt Nam và Trung Quốc viết về vấn đề Biển Đông. Quỳnh Chi phỏng vấn GS-TS Nguyễn Đăng Hưng, một trong 57 vị trí thức ký vào bức thư cảnh báo gởi cho các cơ quan quốc tế.

Chứng minh sự sai lầm của tạp chí Science


Quỳnh Chi: Thưa GS, trong các cơ quan quốc tế mà 57 vị gởi thư đến, tạp chí European Scientific Journal có gởi thư phản hồi và mời các ông viết bài về Biển Đông để đăng trên tạp chí của họ. GS đánh giá tầm quan trọng của việc này ra sao thưa ông?
GS-TS Nguyễn Đăng Hưng: Lá thư này được anh Nguyễn Hùng gởi cho chúng tôi từ sáng thứ Tư và tôi đã chuyển cho khoảng 50 bè bạn khác. Tôi nghĩ đây là một dịp để Việt Nam quảng bá lập trường của mình về vấn đề Biển Đông, đặc biệt về vấn đề lưỡi bò. Nếu có một cơ quan báo chí quốc tế có thể chuyển đạt các bài viết này đến tay bạn bè thế giới, đặc biệt là các nhà khoa học Trung Quốc thì đó là một điều nên được tận dụng. Chúng tôi là người Việt Nam, bảo vệ lợi ích của Việt Nam, nhưng đồng thời cũng bảo vệ tính trung thực của khoa học. Chính vì thế, chúng tôi sẵn sàng đối chất với các nhà khoa học Trung Quốc, mà trong đó phải lấy căn bản khoa học và tính trung thực làm đầu.
Quỳnh Chi:Theo chúng tôi được biết, cho đến bây giờ, các ông vẫn chưa nhận được phản hồi từ tạp chí Science, tạp chí đã đăng bài của giáo sư Trung Quốc Xizhe Peng với bản đồ hình lưỡi bò, ông có nhận xét gì về phản ứng này?
GS-TS Nguyễn Đăng Hưng: Tôi nghĩ đây là một sai lầm của tạp chí Science, xuất phát từ đâu thì chưa rõ, khâu thẫm định hay khâu chủ trương. Tuy nhiên tôi cũng nghĩ chúng ta cần nhiều thời gian hơn để thuyết phục họ trước khi họ có những phản ứng đúng mức cho những việc như thế này.
Quỳnh Chi: Trước đây không lâu, tờ Journal of Waste Waste Management của Italy cũng đăng một bài của học giả Trung Quốc, kèm theo bản đồ hình lưỡi bò. Sau khi được một số học giả Việt Nam phản ánh, ông Cossu, tổng biên tập của tạp chí này đã báo là sẽ hiệu đính lại. Ông có nhận xét gì về phản ứng ấy với phản ứng của tạp chí Science lần này?
GS-TS Nguyễn Đăng Hưng:Tờ Journal of Waste Waste Management đã có những phản ứng khá chính xác và đúng mực của một tổng biên tập, còn phản ứng của tạp chí Science lại dè dặt hơn. Tôi nghĩ chúng ta cần cung cấp cho báo chí và cho tờ báo này nhiều thông tin hơn nữa để họ có thể có những nhận định rõ ràng hơn. Tôi cho rằng việc họ có những nhận định rõ ràng hơn chỉ là vấn đề thời gian.

Chưa một quốc gia nào ủng hộ “đường lưỡi bò”

Quỳnh Chi: GS có thể nói rõ hơn không?
GS-TS Nguyễn Đăng Hưng: Trên thế giới, chưa có một nước nào hay nhà khoa học nào ủng hộ đường lưỡi bò cả, bằng chứng là trong cuộc hội thảo Biển Đông tại Washington vừa qua, đại diện Trung Quốc bị chỉ trích. Thật tình tôi thấy tội cho ông Xizhe Peng vì với tư cách là nhà khoa học thì ông không thể bảo vệ đường lưỡi bò được.
Tôi nghĩ rằng đường lưỡi bò là một lỗi lầm về chính trị rất lớn của Trung Quốc. Nếu quốc gia nào cũng làm như Trung Quốc thì làm sao thế giới có trật tự được? Gỉa sử Mexico lấy vịnh Mexico làm vùng biển riêng của mình; hay Ấn Độ lấy Ấn Độ Dương làm vùng biển riêng của họ thì làm sao thế giới có hòa bình và trật tự được? Ngay cả thời thượng cổ, Đế quốc La Mã dù thống trị Địa Trung Hải nhưng không hề tuyên bố biển Địa Trung Hải là biển riêng của họ. Trung Quốc đang làm một việc chưa từng có từ cổ chí kim.
Việc Trung Quốc “giành” Biển Đông cho mình không khác gì hình ảnh Hitler, trước chiến tranh thế giới thứ II đã muốn có một vùng Âu Châu làm lãnh thổ của mình. Trước ý đồ này, tôi nghĩ thế giới sẽ hợp tác lại, “mời” Trung Quốc trở về vị trí của mình. Bởi nếu Trung Quốc tiếp tục những việc mình đang làm thì đó chính là đường dẫn đến chiến tranh.
Trên thế giới, chưa có một nước nào hay nhà khoa học nào ủng hộ đường lưỡi bò cả, bằng chứng là trong cuộc hội thảo Biển Đông tại Washington vừa qua, đại diện Trung Quốc bị chỉ trích.
GS-TS Nguyễn Đăng Hưng
Quỳnh Chi: Vâng, tờ European Scientific Journal có ý mời các học giả Việt Nam viết bài về Biển Đông nhưng mức ảnh hưởng của tờ tạp chí này không lớn, ông có nghĩ việc viết cho họ là một việc nên làm?
GS-TS Nguyễn Đăng Hưng: Tôi nghĩ rằng khi có cơ hội đưa ra công luận quốc tế về vấn đề này thì nó sẽ có lợi cho Việt Nam. Theo tôi, trong việc tranh chấp tại Biển Đông, Việt Nam có chính nghĩa cho nên càng có nhiều dư luận quốc tế quan tâm thì càng có cơ hội chặn đứng những cách giải quyết tranh chấp không minh bạch. Dĩ nhiên là chúng ta phải ưu tiên cho những tờ báo có nhiều ảnh hưởng quốc tế.
Quỳnh Chi: Khả năng để các vị học giả Việt Nam tham gia là như thế nào thưa ông?
GS-TS Nguyễn Đăng Hưng: Tôi nghĩ Việt Nam không thiếu người làm được điều đó. Nếu muốn, chúng tôi có thể hỗ trợ dịch sang tiếng Anh hay tiếng Pháp, tiếng Hoa…và còn các nhà khoa học, nhà nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài nữa. Đó là về phía của các cá nhân. Về phía chính quyền, tôi rất mong mỏi Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) sẽ có phản ứng. Chính tôi cũng đã gởi thư ngỏ cho cơ quan này nhưng chưa được phúc đáp.
Quỳnh Chi: Cho đến bây giờ, quý vị có nhận được phản ứng nào từ phía học giả Trung Quốc không?
GS-TS Nguyễn Đăng Hưng:Tôi nghĩ phía Trung Quốc cũng chưa có phản ứng nào. Nhưng có một vị giáo sư người Trung Quốc đã nói rằng chính phủ Trung Quốc đã áp đặt cho họ để khi vẽ bản đồ Trung Quốc thì phải vẽ theo đường lưỡi bò. Đây là một sự thú nhận trước mặt thế giới rằng chính phủ Trung Quốc có chủ trương dùng “quyền lực mềm” (theo cách họ nói) để áp đặt cho thế giới những ý đồ chính trị của mình.
Tôi mong mỏi các vị trí thức trong và ngoài nước đoàn kết để vì tiền đồ đất nước. Biển Đông là một buồn phổi của dân tộc, nếu bị cưỡng bức thì Việt Nam sẽ nghẹt thở.
GS-TS Nguyễn Đăng Hưng
Quỳnh Chi: Ông có thể cho chúng tôi biết thêm về vị giáo sư Trung Quốc này?
GS-TS Nguyễn Đăng Hưng: Đó là một vị giáo sư Trung Quốc, cũng là tác giả của một bài báo. Xin nêu rõ ra đây, đó chính là giáo sư Xuemei Shao, công tác tại Viện khoa học địa lý và tài nguyên thiên nhiên, Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc (Institute of Geographic Sciences and Natural Resources research, Chinese Academy of Sciences), theo thư điện tử của ông cho TS Bùi Quang Hiển (Canada).
Quỳnh Chi: Trong thời gian chờ đợi phản ứng từ tạp chí Science thì quí vị sẽ có hành động nào không?
GS-TS Nguyễn Đăng Hưng: Tôi sẽ cổ võ cho bạn bè cùng nhau viết bài, bản thân tôi cũng sẽ làm một việc gì đó. Tôi mong mỏi các vị trí thức trong và ngoài nước đoàn kết để vì tiền đồ đất nước. Biển Đông là một buồn phổi của dân tộc, nếu bị cưỡng bức thì Việt Nam sẽ nghẹt thở. Tôi nghĩ người Việt quan tâm đến tiền đồ dân tộc sẽ phản ứng bằng trí tuệ của mình để bảo vệ vùng trời vùng biển của cha ông. Đây là quyền lợi tối thượng và thiêng liêng của dân tộc.
Quỳnh Chi: Xin cám ơn GS-TS Nguyễn Đăng Hưng đã giành thời gian cho đài Á Châu Tự Do.
GS-TS Nguyễn Đăng Hưng: Xin cám ơn quý đài và cho phép tôi gởi lời thăm hỏi đến quý khán thính giả của đài RFA.
Nguồn: RFA

Ông Cao Minh Quang – Tiến sĩ dỏm, Thứ trưởng thật


Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang có phải là tiến sĩ dược khoa như ông đã khai hay không?
Ngày 8.9.2011, Cơ quan Lưu trữ Thông tin Sinh viên thuộc Trường ĐH Uppsala (Thụy Điển) đã có thư hồi đáp Bộ GDĐT Việt Nam, trong đó có đoạn: “Ông Cao Minh Quang đã tham dự một khoá học tại ĐH Uppsala năm 1993-1994 và được trao chứng chỉ­ sau ĐH về khoa học Dược”.
Bức thư cũng cho biết, chứng chỉ mà ông Quang được ĐH Uppsala của Thụy Điển trao chỉ là bước đệm để học tiếp lấy chứng nhận tiến sĩ.
Chỉ là chứng chỉ

Theo tài liệu mà chúng tôi thu thập được, Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang chỉ theo học một khóa học từ năm 1993 -1994 tại Trường Đại học Uppsala (Thụy Điển) và đạt được chứng chỉ về nghiên cứu khoa học dược phẩm tự nhiên.
Thế nhưng, ông Cao Minh Quang tự khai trong phiếu Đảng viên là tiến sĩ (năm 2003) lúc đó ông Cao Minh Quang vẫn còn đang là Phân viện trưởng Phân viện Kiểm nghiệm Bộ Y tế.
Tiếp đó đến năm 2006, khi là Cục trưởng Cục Quản lý dược, ông Quang tiếp tục khai trong bản tự khai sơ yếu lý lịch là: Tiến sĩ dược. Trong bản tự khai này, ông khai rõ rằng ông đạt chứng chỉ “Licentiate of Pharmaceutical Sciences (tương đương tiến sĩ dược khoa)”.
Và để chứng minh cho mọi người biết học vị tiến sĩ của mình, khi còn giữ chức Cục trưởng Cục Quản lý dược, ông Quang còn cho in danh thiếp ghi rõ: “Cao Minh Quang – Tiến sĩ Dược khoa – Cục trưởng”.

Trong hồ sơ lý lịch và danh thiếp của mình, ông Cao Minh Quang ghi học vị là Tiến sĩ và các văn bản của ngành chức năng phủ nhận điều đó .
Khai man lý lịch
Ngày 13.9.2011, Cục An ninh Chính trị nội bộ (A83) thuộc Tổng Cục an ninh II đã có Văn bản số 3157/A83 (P5) trả lời đơn tố cáo của ông Ngô Minh Nho (một đảng viên, cựu chiến binh ở TP.HCM) về việc ông Cao Minh Quang (Thứ trưởng Bộ Y tế) có gian lận trong việc kê khai tiến sĩ và lợi dụng chính sách luân chuyển để trù dập cán bộ không ăn cánh với mình (Về việc này, chúng tôi sẽ nói rõ ở bài sau).
Theo đó, Cục An ninh Chính trị nội bộ khẳng định, Trường Đại học Uppsala Thụy Điển khẳng định ông Cao Minh Quang đã học tại trường từ năm 1993-1994 và đạt chứng chỉ về nghiên cứu khoa học dược phẩm tự nhiên vào ngày 26.10.1994 (không phải là văn bằng). Theo quy định của trường, đây chỉ là chứng chỉ cần đạt được để tham dự khóa học tiến sĩ.
Trước đó, ngày 9.9.2011, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Văn bản số 664/KTKĐCLGD-VB cũng khẳng định chứng chỉ của ông Cao Minh Quang do Trường Đại học Uppsala Thụy Điển chỉ là chứng chỉ cần đạt được để theo học tiến sĩ.
Một điểm đáng lưu ý là trong hồ sơ của Trường Đại học Uppsala Thụy Điển thì ông Cao Minh Quang lại sinh ngày 6.6.1953, trong khi đó, trong hồ sơ lý lịch tự khai tại Bộ Y tế thì ông Quang lại khai sinh ngày 10.11.1956.
Tại sao ông Cao Minh Quang lại khai trong bản sơ yếu lý lịch ngày tháng năm sinh khác với lời khai về ngày tháng năm sinh khi học tại Trường Đại học Uppsala Thụy Điển?
Đặt câu hỏi này với một chuyên gia nội vụ, chúng tôi được trả lời: “Có lẽ thời điểm ông Quang đi học tại Thụy Điển năm 1993 khi ông này chưa có chức vụ gì nên khai đúng. Còn khi đã là Cục trưởng (năm 2006) thì lại mong danh vọng, quyền lực được lâu hơn nên khai rút tuổi đi” (?).
Chuyên gia này cũng bình luận: “Có lẽ vì chiếc ghế Thứ trưởng Bộ Y tế mà ông Cao Minh Quang đã phải khai man lý lịch và mạo nhận mình có học vị tiến sĩ”.
Sao ông Thứ trưởng Cao Minh Quang im lặng?
Đường đi lòng vòng của khoản tiền 2 tỷ đồng liên quan đến Thứ trưởng Cao Minh Quang có rất nhiều khuất tất. Rất nhiều câu hỏi được đặt ra như: Dấu hiệu tham nhũng, dấu hiệu hối lộ, dấu hiệu rửa tiền?…
Sau khi Báo Nông thôn Ngày nay ngày 8.9.2011 và báo điện tử Dân Việt khởi đăng loạt bài “Ông Thứ trưởng Bộ Y tế và món nợ 1 tỷ đồng”, ngay lập tức ngày 9.9, ông Cao Minh Quang đăng đàn, trả lời phỏng vấn một tờ báo rằng: “Tôi vay 2 tỷ đồng trả đủ cả lãi”.
Và ông Quang còn khẳng định rất rõ ràng rằng: “Vợ tôi là Nguyễn Thị Ngọc Loan đã chuyển tiền trả ông Dũng từ tài khoản của vợ tôi ở ngân hàng, cả gốc và lãi 2,2 tỷ đồng. Ông Ngô Chí Dũng đã viết giấy xác nhận việc nhận đủ tiền và tôi không còn bất kỳ khoản nợ nào với ông Dũng từ ngày 21.6.2008”.
Tuy nhiên, tiếp đó, ngày 13.9, Báo Nông thôn Ngày nay tiếp tục có bài: “Ai trả nợ thay cho Thứ trưởng Cao Minh Quang?”, phản ánh khoản tiền 1 tỷ đồng ông Quang nợ Tổng Giám đốc BV Pharma Ngô Chí Dũng lại do một cán bộ trong một công ty dược khác chuyển đến 2 tỷ đồng và công ty đã cấn trừ nợ của ông Quang 800 triệu đồng, còn 1,2 tỷ đồng BV Pharma lại chuyển cho bà Nguyễn Thị Ngọc Loan, vợ ông Quang.
Xung quanh đường đi lòng vòng của khoản tiền này có rất nhiều khuất tất. Đã có rất nhiều câu hỏi được đặt ra như: Dấu hiệu tham nhũng, dấu hiệu hối lộ, dấu hiệu rửa tiền?…
Thế nhưng lần này, đến sáng 16.9, chúng tôi vẫn chưa hề thấy ông Quang đăng đàn giải thích về đường đi lòng vòng của những khoản tiền khó hiểu liên quan đến một số doanh nghiệp dược – lĩnh vực ông Thứ trưởng phụ trách.
PV
Theo Dân Việt

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 9 năm 2011

Đọc bài cuối cùng trên blog của cựu Thủ tướng Nhật Naoto Kan


Danh Đức
Bài cuối cùng trên blog của ông hôm 16-8 có 561 từ, tựa đề là “Đối thoại với các chuyên gia: “Bây giờ hoặc chẳng bao giờ” (1), các biện pháp chống lan nhiễm phóng xạ”. Tựa đề đó phản ánh những “thu hoạch” của ông từ cuộc gặp với các chuyên gia bằng một thái độ cầu thị. Ông kể: “Cùng với các bộ và thứ trưởng hữu quan, một lần nữa hôm qua tôi lại lắng nghe bảy chuyên gia trong hơn ba giờ… Tôi cũng nghe bày tỏ những lo âu sâu sắc của công chúng, đặc biệt của những người có con nhỏ”.
Lắng nghe tri thức đầu ngành
“Thay vì đợi chính phủ tới kịp nhập cuộc vào vấn đề, tôi sẽ xắn tay vào việc giải quyết vấn đề ngay trước khi tôi từ chức”
Thủ tướng NAOTO KAN

Qua câu chuyện ông kể, thoáng thấy cái cơ chế “lắng nghe” của đất nước ông: “Chuyên gia đầu tiên là GS Tatsuhiko Kodama, giám đốc Trung tâm đồng vị phóng xạ Đại học Tokyo, người từng ra điều trần trước Quốc hội như là một nhân chứng…”.

Hiến pháp Nhật ngày 3-11-1946 đã quy định sẵn việc mời các nhân chứng ra điều trần trong điều 62 mỗi khi cần “tiến hành điều tra liên quan đến chính phủ”, qua đó giới trí thức được vời đến đóng góp vào chức trách kiểm tra của Quốc hội Nhật.
Trong thực tế, Hạ viện Nhật đã và còn đang điều tra về trách nhiệm của Chính phủ và của các cơ quan, đơn vị liên quan đến sự cố hạt nhân và nhất là những động thái sau sự cố. Hôm 27-7, GS Tatsuhiko Kodama đã được tiểu ban y tế, lao động, xã hội Hạ viện Nhật mời ra làm chứng về những tác hại của tai họa hạt nhân Fukushima, góp một tiếng nói chuyên môn khách quan vào những giải biện của Chính phủ hay của công ty điện lực liên quan.
Có thể tóm tắt điều trần (2) “lên án” của GS Kodama như sau: “Có bao nhiêu chất đồng vị đã thoát ra từ nhà máy? Chính phủ và TEPCO đã không báo cáo… Vậy thì chúng tôi phải đánh giá… Và nó tương đương với 29,6 quả bom nguyên tử Hiroshima… Căn cứ trên tri thức hiện thời của chúng tôi, lượng phóng xạ tồn đọng sẽ chỉ giảm được 1/10 mỗi một năm sau sự cố”.
Và rồi GS Kodama đề ra bốn biện pháp mà Chính phủ Nhật cần theo đó mà làm ngay, đồng thời vạch ra một “sai lầm tai họa” cho người dân: “Điều khiến cho tình hình thêm bức xúc là chuyện hỗ trợ đền bù. Tiền này chỉ chi cho những người bị cưỡng bách di tản. Cựu chủ tịch Công ty điện lực TEPCO Shimizu và Bộ trưởng Thương mại và công nghiệp Banri Kaieda (ông này vừa thất bại trong cuộc đua giành ghế thủ tướng với Bộ trưởng Tài chính Yoshihiko Noda – TTCT) đã chỉ nói có mỗi chuyện đó. Đừng trộn lẫn hai chuyện. Hãy tách bạch chuyện hỗ trợ đền bù với vấn đề sức khỏe ngay trước mắt…”.
Dò lại bản điều trần của GS Kodama, càng hiểu tại sao Thủ tướng Kan, khi viết bài đó trên blog, lại tỏ ra rất nể trọng ý kiến của GS này cùng sáu chuyên gia kia.
Ông kết luận buổi gặp lắng nghe đó như sau: “Bản thân tôi đã nêu một số câu hỏi… Thay vì đợi chính phủ tới kịp nhập cuộc vào vấn đề, tôi sẽ xắn tay vào việc giải quyết vấn đề ngay trước khi tôi từ chức”. Hiến pháp nước Nhật đã dự liệu và quy định thành điều luật tối thượng vai trò điều trần trước quốc hội của các chuyên gia là như thế, chính phủ cứ như thế mà chấp hành.
Truyền lửa cho thế hệ sau
Bài viết đề ngày 15-8 của ông Kan còn ngắn hơn, chỉ 358 từ, do hôm ấy ông bận đủ thứ, trong đó có dự lễ kỷ niệm 66 năm ngày Thế chiến thứ hai kết thúc. Ông nhắc lại với dân chúng: “Thế giới đã ngất ngây trước việc thế hệ trước thế hệ tôi đã có thể tái thiết được nước Nhật từ các cánh đồng tro tàn sau chiến tranh. Một lần nữa chúng ta hãy ôn lại tinh thần tái thiết này, suy nghĩ về tinh thần đó, để đưa lại tinh thần đó vào công việc tái thiết hiện nay… Trong các lĩnh vực mà tôi đang đeo đuổi bằng mọi giá – tổng hợp một đề án cải cách có thể giải quyết cùng lúc các vấn đề an sinh xã hội và các vấn đề thuế khóa; hồi phục và tái thiết từ thảm họa động đất; đưa tai họa hạt nhân đến giai đoạn kết thúc ổn định; cải cách cơ bản công tác quản lý năng lượng hạt nhân…, chúng ta đã thành công tiến đến điểm “không thể quay đầu về dĩ vãng” được nữa… Chúng ta không thể chậm rãi từng bước. Nội các này của Kan sẽ dành hết sức mình để làm tròn trách nhiệm cho đến giây cuối cùng”.
Thật ra ông Kan đã từng chính thức đòi từ chức từ hôm 2-6, vài giờ trước khi Quốc hội Nhật sắp bỏ phiếu tín nhiệm/bất tín nhiệm ông. Kết quả – chỉ có 152 phiếu bất tín nhiệm so với 299 phiếu tín nhiệm – càng tăng uy tín của ông Kan. Đến ngày 10-8, ông lại tuyên bố từ chức và lần này là ra đi luôn. Thành ra, không lấy làm lạ tại sao văn phong của ông lại nặng ý chia tay như thế!
Song không phải là một sự chia tay trong yếm thế mà trong phấn đấu đến phút giây cuối cùng. Ông kể đã làm gì và để lại gì cho người thủ tướng kế nhiệm: “Thỏa thuận tuần trước giữa lãnh đạo ba đảng Dân chủ (DPJ), Tự do dân chủ (LDP đối lập) và Komeito Mới đã đoan chắc rằng đạo luật dự chi ngân sách liên quan đến việc phát hành trái phiếu chính phủ sẽ được thông qua; đạo luật về việc xúc tiến các nguồn năng lượng tái tạo cũng thế…”.
Thành ra, bảo rằng đợi thông qua các đạo luật then chốt đó ông mới ra đi là chính xác. Công việc sắp tới của người kế vị ông, riêng trong các lĩnh vực này, đã được ông “dọn đường” bằng một thỏa thuận với đảng đối lập LDP để sau này đừng bị “thọc gậy bánh xe”, nhất là khi cơ cấu quản lý năng lượng hạt nhân mới sẽ va chạm với những lợi ích cũ.
Có thể thấy cách ông truyền lửa nhân ngày kỷ niệm 15-8: không chỉ hô hào mà chủ yếu còn qua tấm gương vùng vẫy cho đến giây phút cuối cùng trước khi giũ áo từ quan!
Kêu gọi dân tiêu xài thêm một chút
Nguy cơ thiểu phát mà tân Thủ tướng Yoshihiko Noda đề cập đến hôm 29-8 là một thực tế mà qua blog của cựu Thủ tướng Kan, người đọc xa xôi với hiện tình xã hội Nhật sẽ dễ thấu hiểu hơn. Hôm thứ tư 13-4, tức một tháng sau thảm họa động đất – hạt nhân, ông Kan viết: “Từ sau tai họa động đất khổng lồ vùng phía đông nước Nhật, tôi đã thôi không gửi các suy nghĩ của mình lên trên blog nữa. Đó là để tránh làm rối thêm tình hình… và để tôi dành trọn vẹn cho tai họa… Tôi sẽ trở lại blog từng chút một. Trong cuộc họp báo hôm qua, tôi đã kêu gọi dân chúng bớt khắc khổ thái quá. Do lẽ khắc khổ thái quá sẽ làm giảm tiêu dùng và qua đó làm nản lòng hoạt động kinh doanh của cả nước Nhật. Ngược lại, mua sắm hàng hóa từ những vùng bị thảm họa, thụ hưởng từ sự mua sắm đó, chính là sẽ giúp đỡ các vùng bị sự cố đó”.
Không rõ ông Kan có thuê một “thợ viết” nào để viết blog giùm ông, song rõ ràng là văn phong của blog ông phản ánh được tính khí ông: không hoa mỹ, hàn lâm, mệnh lệnh…
__________
(1) Dialogues with experts: “Now or never” countermeasures against radiation contamination, August 16.
(2) Dr Tatsuhiko Kodama’s Testimony to the House of Representatives, Japan.
Theo TTCT

Thứ Năm, ngày 15 tháng 9 năm 2011

Biển Đông là tương lai của xung đột

Robert D. Kaplan
Nhìn Châu Âu thấy đất, nhìn Đông Á thấy biển.  Từ đó có một khác biệt quan trọng giữa thế kỷ 20 và 21.  Những khu vực bị tranh chấp nhiều nhất trên địa cầu trong thế kỷ trước nằm trên đất liền ở châu Âu, đặc biệt là trên vùng bình địa khiến cho những biên giới phía đông và phía tây của Đức trở nên giả tạo và trơ mình gánh chịu bước chân hành quân không thương tiếc của các lực lượng lục quân.  Nhưng trong vòng mấy chục năm, trục dân cư và kinh tế của Trái Đất đã chuyển đáng kể sang đầu bên kia của khu vực Âu-Á, nơi mà những khoảng không gian giữa các trung tâm dân số quan trọng chủ yếu là biển.
Do cách địa lý soi rọi và xác lập các thứ tự ưu tiên, những địa hình đặc thù này của Đông Á tiên đoán một thế kỷ hải quân – hải quân ở đây được hiểu theo nghĩa rộng để bao gồm những đội hình chiến đấu cả trên biển lẫn trên không mà nay ngày càng không thể tách rời nhau.  Lý do?  Đó là Trung Quốc; quốc gia này đang tiến hành một cuộc bành trướng hải quân không thể chối cãi được, đặc biệt là khi mà các biên giới đất liền của nước này hiện nay vững chắc hơn bất cứ lúc nào kể từ thời kỳ đỉnh cao của triều đại nhà Thanh vào cuối thế kỷ 18.  Chính bằng sức mạnh trên biển mà về mặt tâm lý Trung Quốc sẽ xóa sạch hai thế kỷ bị ngoại bang xâm lấn lãnh thổ của họ – buộc tất cả các nước xung quanh họ phải phản ứng.
Tham chiến trên bộ và trên biển khác nhau vô cùng, với những ý nghĩa quan trọng cho các đại chiến lược cần có để thắng – hoặc để tránh – cuộc chiến.  Những cuộc chiến trên bộ lôi kéo cả thường dân vào cuộc, trên thực tế khiến cho nhân quyền trở thành một thành tố chính của các nghiên cứu về chiến tranh.  Những cuộc chiến trên biển xem xung đột như một vấn đề phân tích lý thuyết và kỹ thuật, trên thực tế biến chiến tranh chỉ còn là một phép toán, trái ngược hẳn với những cuộc đấu trí vốn là đặc trưng của những cuộc xung đột trước kia.
Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai là cuộc đấu tranh luân lý chống lại chủ nghĩa phát xít, cái ý thức hệ dẫn tới sát hại hàng chục triệu thường dân.   Chiến Tranh Lạnh là cuộc đấu tranh luân lý chống lại chủ nghĩa cộng sản, một ý thức hệ không kém phần áp bức mà qua đó đặt ách thống trị lên những vùng lãnh thổ bao la bị Hồng Quân đánh chiếm.   Thời kỳ ngay sau Chiến Tranh Lạnh trở thành cuộc đấu tranh luân lý chống lại nạn diệt chủng ở vùng Balkan và Trung Phi, hai nơi mà chiến tranh trên bộ và các tội ác chống lại nhân loại không thể nào tách rời nhau.  Gần đây hơn, cuộc đấu tranh luân lý chống lại Hồi giáo cực đoan đã kéo Mỹ lún sâu vào những địa hình núi non khép kín của Afghanistan, nơi mà việc đối xử nhân đạo với hàng triệu thường dân có ý nghĩa trọng yếu cho thành công của cuộc chiến.  Trong tất cả những nỗ lực này, chiến tranh và chính sách đối ngoại đã trở thành những vấn đề không chỉ cho binh lính và giới ngoại giao, mà còn cho cả giới hoạt động nhân đạo và giới trí thức.  Thực vậy, hoạt động chống chiến tranh du kích thể hiện cực điểm của cái có thể xem là sự liên kết giữa các quân nhân và các chuyên gia nhân quyền.  Đây là kết quả của việc chiến tranh trên bộ phát triển thành chiến tranh toàn diện trong thời hiện đại.
Đông Á, hay chính xác hơn khu vực Tây Thái Bình Dương, hiện đang nhanh chóng trở thành trung tâm mới của thế giới về hoạt động hải quân, báo trước một thế cục khác căn bản.   Có thể sẽ có tương đối ít những thế tiến thoái lưỡng nan về luân lý kiểu như những trường hợp chúng ta đã quen trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, với một ngoại lệ nổi bật nhưng khó xảy ra là chiến tranh trên bộ ở Bán đảo Triều Tiên.  Khu vực Tây Thái Bình Dương sẽ đưa các vấn đề quân sự trở lại phạm trù hạn hẹp của các chuyên gia quốc phòng.  Sở dĩ như vậy không chỉ vì chúng ta đang bàn tới một phạm trù hải quân, trong đó vắng mặt thường dân.  Mà cũng bởi vì bản chất của chính các nước ở Đông Á, mà, giống như Trung Quốc, có thể rất độc tài nhưng trong phần lớn các trường hợp lại không phải là tàn bạo hay quá độc ác.
Cuộc đấu tranh giành thế thượng phong ở khu vực Tây Thái Bình Dương sẽ không nhất thiết sẽ có đánh nhau; phần lớn những gì xảy ra sẽ diễn ra lặng lẽ và ở phía chân trời giữa biển cả mênh mông, với một nhịp độ chậm lừ đừ như băng trôi phù hợp với tiến trình thích nghi từ từ, đều đặn với sức mạnh kinh tế và quân sự ưu việt mà các nước đã trải qua trong lịch sử.   Chiến tranh không phải là tất yếu cho dù cạnh tranh là điều hẳn nhiên.  Và nếu Trung Quốc và Mỹ xử lý thành công cuộc chuyển giao sắp đến, Châu Á, và thế giới, sẽ là nơi an ninh và thịnh vượng hơn.  Còn gì có thể luân lý hơn thế?  Nên nhớ: chính chủ nghĩa hiện thực nhằm phục vụ lợi ích quốc gia – với mục tiêu là tránh chiến tranh – trong quá trình lịch sử đã cứu nhiều mạng người hơn sự can thiệp nhân quyền.
ĐÔNG Á LÀ MỘT KHU VỰC MÊNH MÔNG BAO LA trải dài gần như từ Bắc cực tới Nam cực – từ Quần đảo Kuril xuống phía nam tới New Zealand – và có đặc điểm là một chuỗi không liền lạc các bờ biển tách biệt và những quần đảo dàn trải.  Ngay cả khi tính đến chuyện khoa học kỹ thuật đã giảm đáng kể khoảng cách, bản thân biển cả vẫn là một rào cản cho việc xâm lấn, ít nhất là trong chừng mực mà đất liền không phải là rào cản.  Khác với đất liền, biển tạo ra những biên giới xác định rõ ràng, khiến nó có tiềm năng giảm xung đột.  Rồi còn phải kể đến tốc độ.  Ngay cả những tàu chiến nhanh nhất cũng đi tương đối chậm, chẳng hạn 35 hải lý, làm giảm xác suất tính toán sai và giúp cho các nhà ngoại giao có thêm nhiều giờ – thậm chí nhiều ngày – để xem lại các quyết định.  Hải quân và không quân không thể chiếm đóng lãnh thổ như cách của lục quân.  Chính vì các vùng biển xung quanh Đông Á – trung tâm của hoạt động sản xuất toàn cầu cũng như chi tiêu mua sắm quân sự ngày càng tăng – mà thế kỷ 21 có cơ may lớn hơn thế kỷ 20 để tránh những cuộc đại xung đột quân sự.
Dĩ nhiên Đông Á đã gặp nhiều cuộc đại xung đột quân sự trong thế kỷ 20 mà các vùng biển không ngăn chặn được: Chiến Tranh Nga-Nhật; gần nửa thế kỷ nội chiến ở Trung Quốc diễn ra với sự sụp đổ từ từ của nhà Thanh; nhiều cuộc chinh phạt của đế quốc Nhật mà tiếp theo đó là Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai ở Thái Bình Dương; Chiến Tranh Triều Tiên; các cuộc chiến tranh ở Cam Bốt và Lào; và hai cuộc chiến ở Việt Nam có dính líu đến người Pháp và người Mỹ.  Chuyện địa lý của Đông Á chủ yếu là biển chẳng có tác động gì tới những cuộc chiến tranh đó vốn dĩ cốt lõi là những cuộc xung đột nhằm thống nhất quốc gia hay giải phóng dân tộc.  Nhưng thời kỳ đó nhìn chung đã lùi vào quá khứ.  Các quân đội Đông Á, thay vì tập trung vào đất liền với các binh chủng lục quân kỹ thuật thấp, đang tập trung ra ngoài khơi với hải quân và không quân kỹ thuật cao.
Nhiều người so sánh giữa Trung Quốc hiện nay và Đức trước lúc xảy ra Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất, nhưng so sánh đó sai lầm:  Trong khi Đức chủ yếu là một quyền lực trên đất liền do địa lý của Châu Âu, Trung Quốc sẽ chủ yếu là một quyền lực trên biển do địa lý của Đông Á.
Đông Á có thể được chia thành hai khu vực tổng quát: Đông Bắc Á, nổi bật là Bán Đảo Triều Tiên, và Đông Nam Á, nổi bật là Biển Đông.  Đông Bắc Á xoay quanh vận mệnh của Bắc Hàn, một nhà nước chuyên chế, cô lập với những viễn cảnh mờ mịt trong một thế giới chịu sự chi phối của chủ nghĩa tư bản và thông tin liên lạc điện tử.  Nếu như Bắc Hàn bùng nổ từ bên trong, các lực lượng lục quân Trung Quốc, Mỹ, và Nam Hàn có thể gặp nhau ở phía bắc của bán đảo này với những can thiệp nhân đạo ở quy mô lớn khủng khiếp, ngay cả khi họ tạo ra những vùng ảnh hưởng cho chính mình.  Các vấn đề hải quân sẽ là thứ yếu.  Nhưng nếu cuối cùng hai nước Triều Tiên thống nhất, thì những vấn đề hải quân sẽ nhanh chóng được đưa lên hàng đầu, với Đại Hàn, Trung Quốc, và Nhật nằm trong thế cân bằng tế nhị, được tách biệt bởi Biển Nhật bản và các biển Hoàng Hải và Bột Hải.  Tuy nhiên vì Bắc Hàn vẫn tồn tại, giai đoạn Chiến Tranh Lạnh của lịch sử Đông Bắc Á vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt, và sức mạnh trên đất liền rất có thể vẫn chiếm lĩnh thời sự ở đó trước khi sức mạnh trên biển lên ngôi.
Ngược lại, Đông Nam Á đã bước sâu vào giai đoạn hậu Chiến Tranh Lạnh của lịch sử.  Việt Nam, chi phối bờ phía tây của Biển Đông, là một cỗ xe khổng lồ băng băng lao tới theo chiều hướng tư bản bất chấp hệ thống chính trị của họ, đang muốn thắt chặt quan hệ quân sự gần gũi hơn với Mỹ.   Trung Quốc, được Mao Trạch Đông củng cố thành một nhà nước mang tính triều đại sau nhiều thập niên hỗn loạn và được các chính sách tự do hóa của Đặng Tiểu Bình biến thành nền kinh tế năng động nhất thế giới, đang dùng hải quân của mình để lấn dần ra ngoài tới cái mà nước này gọi là “chuỗi đảo đầu tiên” trong khu vực Tây Thái Bình Dương.  Quốc gia Hồi giáo khổng lồ Indonesia, sau khi đã cam chịu và cuối cùng chấm dứt hàng thập niên ách cai trị quân phiệt, đang sẵn sàng trỗi dậy thành một Ấn Độ thứ hai: một nền dân chủ mạnh mẽ và ổn định với tiềm năng phô trương sức mạnh nhờ nền kinh tế lớn mạnh của mình.  Singapore và Malaysia cũng đang tiến nhanh về kinh tế, nhiệt thành theo đuổi mô hình “nhà nước đô thị kiêm nhà nước thương mại” và bằng nhiều sắc thái khác nhau pha trộn giữa dân chủ và chế độ độc tài.  Bức tranh tổng hợp thể hiện một cụm gồm những nước tuy vẫn còn trĩu nặng những vấn đề về tính chính đáng cúa thể chế trong nước và xây dựng đất nước nhưng đã sẵn sàng thúc đẩy những quyền lãnh thổ do tự họ cảm nhận vượt ra khỏi bờ biển của chính họ.  Lực đẩy tổng hợp ra biển khơi này nằm trong vùng tranh chấp dân số của địa cầu, vì chính Đông Nam Á, với 615 triệu người, là nơi 1,3 tỉ dân của Trung Quốc hội tụ với 1,5 tỉ người của tiểu lục địa Ấn Độ.  Nơi gặp nhau về mặt địa lý của những nước này và quân đội của họ là trên biển: Biển Đông.
Biển Đông nối các nước Đông Nam Á với khu vực Tây Thái Bình Dương, có chức năng như nút cổ chai của các tuyến đường biển toàn cầu.   Đây là trung tâm của vùng biển khu vực Âu-Á, bị chia cắt bởi các eo biển Malacca, Sunda, Lombok, và Makassar.  Hơn phân nửa trọng tải tàu thương mại hàng năm của thế giới đi qua những nút thắt chật hẹp này, và một phần ba của toàn bộ lưu lượng giao thông đường biển qua đây.  Lượng dầu hỏa được chuyên chở qua Eo biển Malacca từ Ấn Độ Dương, trên đường tới Đông Á qua Biển Đông, là gấp sáu lần lượng dầu đi qua Kênh Suez và gấp 17 lần lượng dầu chở qua Kênh Panama.  Khoảng hai phần ba nguồn cung cấp năng lượng của Nam Hàn, gần 60 phần trăm nguồn cung cấp năng lượng của Nhật và Đài Loan, và khoảng 80 phần trăm lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc đi qua Biển Đông.  Ngoài ra, Biển Đông đã chứng tỏ có trữ lượng dầu 7 tỉ thùng và ước tính 900 ngàn tỉ bộ khối khí đốt tự nhiên, một kho báu khổng lồ.
Không chỉ vị trí và trữ lượng năng lượng hứa hẹn khiến cho Biển Đông có tầm quan trọng địa chiến lược lớn lao, mà còn do những cuộc tranh chấp lãnh thổ tàn khốc từ lâu đã diễn ra xung quanh các vùng biển này.  Nhiều cuộc tranh chấp liên quan đến Quần đảo Trường Sa, một quần đảo ở phía đông nam của Biển Đông.  Việt Nam, Đài Loan, và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền toàn bộ hoặc phần lớn Biển Đông, cũng như toàn bộ Quần đảo Trường Sa và Quần đảo Hoàng Sa.  Đặc biệt, Bắc Kinh khẳng định một đường lịch sử: Họ tuyên bố chủ quyền tới tận trung tâm của Biển Đông trong một đường vòng khổng lồ (thường được gọi là “đường lưỡi bò”) từ Đảo Hải Nam của Trung Quốc ở đầu cực bắc của Biển Đông kéo dài suốt 1.200 dặm xuống phía nam đến gần Singapore và Malaysia.
Kết quả là tất cả chín nước tiếp giáp với Biển Đông ít nhiều đều dàn trận chống lại Trung Quốc và do đó dựa vào Mỹ để được ủng hộ về ngoại giao và quân sự.  Những tuyên bố chủ quyền mâu thuẫn này có thể sẽ càng gay gắt hơn vì các nhu cầu năng lượng tăng dần của Châu Á – mức tiêu thụ năng lượng dự kiến đến năm 2030 sẽ tăng gấp đôi, trong đó Trung Quốc chiếm phân nửa mức gia tăng đó – khiến cho Biển Đông thành nhân tố càng trọng yếu hơn để bảo đảm cho sức mạnh kinh tế của khu vực.  Hiện Biển Đông đã ngày càng trở thành một trại vũ trang khi mà các nước giành chủ quyền tăng cường và hiện đại hóa hải quân của họ, ngay cả khi việc tranh giành các đảo và bãi đá ngầm trong những thập niên gần đây hầu như đã chấm dứt.  Tính đến nay Trung Quốc đã chiếm giữ 12 vị trí địa lý, Đài Loan một, Việt Nam 25, Philippines tám, và Malaysia năm.
Chính địa lý của Trung Quốc định vị nước này theo hướng Biển Đông.  Trung Quốc nhìn về hướng nam tới một vùng biển được định hình, theo chiều kim đồng hồ, bởi Đài Loan, Philippines, đảo Borneo được phân tách giữa Malaysia và Indonesia (cũng như quốc gia bé tí Brunei), và bờ biển dài ngoằn ngèo của Việt Nam: tất cả đều là nước yếu, so với Trung Quốc.  Giống như Biển Caribbe, bị chia cắt bởi nhiều đảo quốc nhỏ và bao quanh bởi Mỹ có kích thước bằng cả lục địa, Biển Đông là một đấu trường hẳn nhiên để phô trương sức mạnh của Trung Quốc.
Thực vậy, vị trí của Trung Quốc ở đây về nhiều mặc giống như vị trí của Mỹ đối với khu vực Caribbe có kích thước tương tự trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.  Mỹ đã nhận ra sự hiện diện và các tuyên bố chủ quyền của các cường quốc Châu Âu trong vùng Caribbe, thế nhưng vẫn tìm cách thống lĩnh khu vực này.  Chính Chiến Tranh Tây Ban Nha – Mỹ 1898 và việc đào Kênh Panama từ năm 1904 đến 1914 đã đánh dấu việc Mỹ trở thành một cường quốc thế giới.  Hơn nữa, việc thống lĩnh khu vực đại Lưu vực Caribbe thực sự đã trao cho Mỹ quyền kiểm soát Tây Bán cầu, cho phép họ có ảnh hưởng đến cán cân quyền lực ở Đông Bán cầu.  Và ngày nay Trung Quốc thấy mình ở trong một tình thế tương tự ở Biển Đông, một tiền sảnh dẫn vào Ấn Độ Dương, nơi mà Trung Quốc cũng muốn có sự hiện diện hải quân để bảo vệ các nguồn cung năng lượng Trung Đông của mình.
Tuy nhiên có một điều sâu xa hơn và cảm tính hơn địa lý thúc đẩy Trung Quốc tiến tới vào Biển Đông và vươn ra Thái Bình Dương: đó là việc chính Trung Quốc bị các cường quốc phương Tây chia cắt một phần trong quá khứ tương đối gần đây, sau khi đã là một cường quốc vĩ đại và một nền văn minh thế giới trong mấy ngàn năm.
Trong thế kỷ 19, khi nhà Thanh trở thành con bệnh của Đông Á, Trung Quốc mất phần lớn lãnh thổ của mình về tay Anh, Pháp, Nhật, và Nga.  Trong thế kỷ 20 xảy ra những vụ tiếp quản đẫm máu của Nhật đối với Bán đảo Sơn Đông và Mãn Châu.  Đâu chỉ có những sự kiện này; Trung Quốc còn chịu bao nhục nhã ê chề do các thỏa thuận đặc quyền ngoại giao trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, qua đó các nước phương Tây giành giật quyền kiểm soát một số phần của các thành phố Trung Quốc – những cái gọi là “cảng hiệp ước”.   Đến năm 1938, như sử gia Jonathan D. Spence thuộc Đại học Yale thuật lại trong cuốn The Search for Modern China (Đi tìm Trung Quốc hiện đại), do những cuộc cướp bóc này cũng như Nội Chiến Trung Hoa, thậm chí có một nỗi sợ ngấm ngầm rằng “Trung Quốc sắp bị chia cắt, rằng nó sẽ không còn tồn tại như một quốc gia, và rằng bốn ngàn năm lịch sử được ghi nhận của nó sẽ đột ngột chấm dứt.”   Nỗi khát khao bành trướng của Trung Quốc là lời tuyên ngôn cho biết rằng họ không bao giờ có ý định để cho người nước ngoài lợi dụng họ lần nữa.
CŨNG NHƯ ĐẤT CỦA NƯỚC ĐỨC tạo thành tiền tuyến quân sự của Chiến Tranh Lạnh, vùng nước của Biển Đông có thể tạo thành tiền tuyến quân sự của những thập niên sắp tới.  Khi hải quân của Trung Quốc trở nên mạnh hơn và khi tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông mâu thuẫn với tuyên bố chủ quyền của những nước ven biển khác, những nước khác này sẽ buộc phải tăng cường năng lực hải quân của họ.  Họ cũng sẽ giữ thế cân bằng với Trung Quốc bằng cách ngày càng dựa vào Hải quân Mỹ với sức mạnh có lẽ đã đạt tới đỉnh cao xét về tương đối, ngay cả khi Mỹ phải chuyển hướng khá nhiều nguồn lực sang Trung Đông.  Tính đa cực toàn cầu đã là một đặc điểm của ngoại giao và kinh tế học, nhưng Biển Đông có thể cho ta thấy tính đa cực thực sự nghĩa là gì về mặt quân sự.
Không có gì viễn vông về trận tuyến mới này, dù cho nó không có những cuộc đấu tranh luân lý.  Trong các cuộc xung đột hải quân, trừ phi có nã pháo lên bờ, không có nạn nhân, cũng không có kẻ thù triết lý để đối đầu.  Có thể sẽ không xảy ra chuyện gì cỡ như thanh trừng sắc tộc trong vũ đài xung đột trung tâm này.  Tuy vẫn còn những người đối lập chịu đau khổ, Trung Quốc chưa tới mức để được xem là mục tiêu bị phẫn nộ về luân lý.  Chế độ Trung Quốc thể hiện chủ nghĩa độc tài chuyên chế chỉ ở mức độ thấp, với một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và chẳng có là bao ý thức hệ cai trị để bàn tới.  Hơn nữa, Trung Quốc có thể trở thành một xã hội mở, chứ không khép kín trong tương lai.  Thay vì chủ nghĩa phát xít hay chủ nghĩa quân phiệt, Trung Quốc, cùng với những nước khác ở Đông Á, ngày càng được đặc trưng bởi tính bền bỉ của chủ nghĩa dân tộc kiểu cũ: đương nhiên là một quan niệm, nhưng không phải là một quan niệm còn hấp dẫn đối với giới trí thức kể giữa thế kỷ 19.  Và ngay cả khi Trung Quốc trở nên dân chủ hơn, chủ nghĩa dân tộc của họ có thể chỉ càng tăng mạnh hơn, như có thể thấy rõ nếu chỉ cần điểm sơ qua các quan điểm của những công dân mạng tương đối được tự do của họ.
Ta thường nghĩ tới chủ nghĩa dân tộc như một cảm nghĩ phản động, một di tích của thế kỷ 19.  Nhưng chính chủ nghĩa dân tộc truyền thống là động lực chính thúc đẩy chính trị ở Châu Á, sẽ còn tiếp tục như thế.  Chủ nghĩa dân tộc đó đang không ngại ngùng dẫn tới sự tăng cường quân sự trong khu vực – đặc biệt là hải quân và không quân – để bảo vệ chủ quyền và tuyên bố chủ quyền đối với những tài nguyên thiên nhiên bị tranh chấp.  Hoàn toàn không có sức hấp dẫn triết lý ở đây.  Chỉ là lô gíc lạnh lùng của cán cân quyền lực.  Nếu như chủ nghĩa hiện thực không ủy mị, được liên kết với chủ nghĩa dân tộc, có một ngôi nhà địa lý, đó chính là Biển Đông.
Vì thế, bất cứ vở kịch luân lý nào thực sự diễn ra ở Đông Á cũng sẽ dưới dạng chính trị quyền lực khắt khe theo kiểu khiến nhiều tri thức và nhà báo bàng quan.  Như Thucydides thuật lại rất đáng nhớ chuyện người Athens cổ đại chinh phục đảo Melos, “Kẻ mạnh làm chuyện họ có thể làm, và kẻ yếu chịu đựng những gì họ phải chịu đựng.”  Trong phiên bản của thế kỷ 21, với Trung Quốc trong vai trò của Athens như một quyền lực trên biển ưu việt trong khu vực, kẻ yếu vẫn sẽ quy phục – nhưng chỉ vậy thôi.  Đây sẽ là chiến lược không công bố của Trung Quốc, và những nước nhỏ ở Đông Nam Á rất có thể đi cùng với Mỹ để tránh số phận như người Melos.  Nhưng sẽ không có cảnh tan xương nát thịt.
Biển Đông báo trước một hình thức xung đột khác với những cuộc xung đột mà chúng ta xưa nay đã quen.  Kể từ đầu thế kỷ 20, chúng ta đã đau lòng trước một mặt là những cuộc chiến trên bộ to lớn theo quy ước, và một mặt khác là những cuộc chiến bẩn thỉu, nhỏ không theo quy ước.  Bởi vì cả hai loại chiến tranh đều gây ra thương vong lớn cho thường dân, chiến tranh xưa nay là đề tài cho giới hoạt động nhân đạo cũng như giới tướng lĩnh.  Nhưng trong tương lai chúng ta có thể chứng kiến một hình thức xung đột tinh khiết hơn, chỉ giới hạn trong lĩnh vực hải quân.  Đây là một kịch bản tích cực.  Không thể loại trừ hoàn toàn xung đột ra khỏi thế gian.  Trong tác phẩm Discourses on Livy (Bàn về Livy) của Machiavelli, có một chủ đề cho rằng xung đột, nếu được kiểm soát đúng mức, có khả năng dẫn tới tiến bộ cho nhân loại hơn là tình trạng ổn định cứng nhắc.  Một vùng biển đông đúc tàu chiến không mâu thuẫn với một kỷ nguyên đầy hứa hẹn cho Châu Á.  Tình trạng bất an sinh ra tính năng động.
Nhưng liệu xung đột ở Biển Đông có thể được kiểm soát đúng mức hay không?  Lập luận của tôi cho tới đây giả định trước rằng sẽ không bùng nổ chiến tranh lớn trong khu vực này, mà thay vì thế, các nước sẽ hài lòng với việc giành giật ưu thế bằng các tàu chiến ngoài khơi xa, trong khi tranh nhau tuyên bố chủ quyền đối với các tài nguyên thiên nhiên và có lẽ thậm chí thỏa thuận một cách phân phối công bằng các tài nguyên này.  Nhưng nếu Trung Quốc, bất chấp mọi xu hướng rõ rệt, xâm lược Đài Loan thì sao?  Chuyện gì xảy ra nếu Trung Quốc và Việt Nam với lịch sử kình địch khốc liệt từ lâu nay lại đánh nhau như hồi năm 1979, nhưng lần này với vũ khí hiệu nghiệm hơn?  Vì không chỉ Trung Quốc mà cả các nước Đông Nam Á cũng mạnh tay xây dựng quân đội của mình.  Ngân sách quốc phòng của họ đã tăng khoảng một phần ba trong thập niên vừa qua, trong khi ngân sách quốc phòng của Châu Âu đã giảm.  Lượng nhập khẩu vũ khí vào Indonesia, Singapore, và Malaysia đã tăng lần lượt 84%, 146%, và 722% kể từ năm 2000.  Khoản chi tiêu này dành cho các hệ thống hải quân và không quân: tàu chiến trên mặt biển, tàu ngầm với các dàn tên lửa tối tân, và máy bay chiến đấu tầm xa.  Gần đây Việt Nam chi 2 tỉ đô-la mua sáu chiếc tàu ngầm hạng Kilo thượng hạng của Nga và 1 tỉ đô-la mua máy bay chiến đấu của Nga.  Malaysia vừa mới mở một căn cứ tàu ngầm trên đảo Borneo.  Trong khi Mỹ đang bị phân tâm bởi những cuộc chiến tranh trên bộ ở khu vực đại Trung Đông, quyền lực quân sự đã và đang lặng lẽ chuyển từ Châu Âu sang Châu Á.
Mỹ hiện tại bảo đảm hiện trạng rối rắm ở Biển Đông, giữ cho sự xâm lấn của Trung Quốc bị hạn chế chủ yếu trên bản đồ của họ và đóng vai trò kìm hãm đối với giới ngoại giao và hải quân của Trung Quốc (mặc dù như vậy không phải để nói rằng Mỹ là trong sáng trong hành động của mình và Trung Quốc đương nhiên là kẻ ác).  Mỹ mang đến cho các nước thuộc khu vực Biển Đông sức mạnh thô, chứ không hẳn là giá trị dân chủ.  Chính cán cân quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc rốt cuộc sẽ giúp cho Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Indonesia, Singapore, và Malaysia được tự do, có thể buộc hai đại cường quốc kình giữ nhau.  Và trong không gian tự do đó, chủ nghĩa khu vực có thể nổi lên để tự thân nó là một quyền lực, dưới dạng Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).  Tuy nhiên tự do đó không thể được xem là đương nhiên.  Bởi thế cân bằng tiếp tục căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc – bao trùm một loạt vấn đề từ thương mại tới cải cách tiền tệ, từ an ninh mạng tới do thám tình báo – có nguy cơ rốt cuộc sẽ chuyển hướng có lợi cho Trung Quốc ở Đông Á, chủ yếu là do vị trí địa lý trọng tâm của Trung Quốc đối với khu vực này.
BẢN TÓM TẮT TOÀN DIỆN NHẤT về bức tranh địa chính trị Châu Á mới không xuất phát từ Washington hay Bắc Kinh, mà từ Canberra.  Trong một bài viết dài 74 trang xuất bản năm ngoái có tựa đề “Power Shift: Australia’s Future Between Washington and Beijing” (Chuyển đổi Quyền lực: Tương lai của Úc giữa Washington và Bắc Kinh),  Hugh White, giáo sư nghiên cứu chiến lược ở Đại học Quốc gia Úc, đã mô tả đất nước của ông là quyền lực “hiện trạng” thuần túy – vốn thiết tha muốn tình hình ở Châu Á giữ y nguyên như hiện nay, với Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng để Úc có thể giao thương ngày càng nhiều hơn, trong khi Mỹ vẫn là “quyền lực mạnh nhất ở Châu Á”, để là “người bảo vệ cuối cùng” của Úc.  Nhưng như giáo sư White viết, vấn đề là ở chỗ cả hai điều này không thể tiếp tục như vậy.  Châu Á không thể tiếp tục thay đổi về kinh tế mà không thay đổi về chính trị và chiến lược; con khủng long kinh tế Trung Quốc đương nhiên sẽ không hài lòng với thế thượng phong quân sự của Mỹ ở Châu Á.
Trung Quốc muốn gì? GS White cho rằng người Trung Quốc có thể muốn ở Châu Á có một đế chế kiểu mới giống như kiểu mà Mỹ đã gầy dựng ở Tây Bán cầu sau khi Washington đã nắm chắc vị thế thống lĩnh đối với Lưu vực Caribbe (vì Bắc Kinh hy vọng họ sẽ có được vị thế đó đối với Biển Đông).  Theo lời của GS White, đế chế kiểu mới này đã có nghĩa là các nước láng giềng của Mỹ “ít nhiều cũng được tự do cai quản đất nước của họ”, ngay cả khi Washington nhất quyết đòi hỏi rằng những quan điểm của Mỹ phải “được cân nhắc thấu đáo” và được ưu tiên hơn quan điểm của các quyền lực bên ngoài.  Trở ngại của mô hình này chính là Nhật, mà có lẽ sẽ không chấp nhận bá quyền Trung Quốc, cho dù có mềm đến đâu chăng nữa.  Như vậy là chỉ còn lại mô hình Hòa hợp Châu Âu, trong đó Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật, Mỹ, và có lẽ một hoặc vài nước khác sẽ ngồi chung bàn quyền lực Châu Á với vai trò bình đẳng.  Nhưng liệu Mỹ có chấp nhận một vai trò khiêm tốn như vậy, vì xưa nay họ đã gắn sự thịnh vượng và ổn định của Châu Á với thế thượng phong của họ?  GS White cho rằng trong bối cảnh quyền lực Trung Quốc đang tăng lên, sự thống lĩnh của Mỹ có thể từ nay dẫn tới bất ổn cho Châu Á.
Sự thống lĩnh của Mỹ dựa trên quan niệm cho rằng bởi vì Trung Quốc độc tài chuyên chế trong nước, họ sẽ hành động “không chấp nhận được ở nước ngoài”.  Nhưng có thể không phải như vậy, GS White lập luận.  Theo cách Trung Quốc tự nhìn nhận về mình, họ là một cường quốc ôn hòa, không bá quyền, không can thiệp vào những triết lý quốc nội của những nước khác như cách của Mỹ với kiểu luân lý bao biện.  Vì Trung Quốc tự xem mình là Vương quốc Trung tâm, nền tảng cho sự thống lĩnh của Trung Quốc là vị thế trọng tâm vốn có của họ đối với lịch sử thế giới, chứ không phải bất kỳ kiểu chế độ nào mà họ muốn xuất khẩu.
Nói cách khác, Mỹ, chứ không phải Trung Quốc, có thể là vấn đề trong tương lai.  Chúng ta có thể thực tình quan tâm quá nhiều về bản chất nội tại của chế độ Trung Quốc và mong muốn hạn chế sức mạnh của Trung Quốc ở nước ngoài bởi vì chúng ta không thích  những chính sách quốc nội của họ.  Thay vì thế, mục tiêu của Mỹ ở Châu Á nên là giữ thế cân bằng, chứ không phải thống lĩnh.  Cũng chính vì quyền lực cứng vẫn là thiết yếu cho quan hệ quốc tế mà chúng ta phải chừa chỗ cho một Trung Quốc đang vươn lên.  Mỹ không cần phải tăng sức mạnh hải quân của mình ở Tây Thái Bình Dương, nhưng Mỹ không thể giảm đáng kể sức mạnh đó.
Việc giảm bớt một đội tiêm kích từ hàng không mẫu hạm Mỹ ở Tây Thái Bình Dương do cắt giảm ngân sách hay tái triển khai sang Trung Đông có thể gây nên những thảo luận căng thẳng trong khu vực về sự suy tàn của Mỹ, và từ đó dẫn tới nhu cầu cần phải làm lành và thỏa thuận bên lề với Bắc Kinh.  Tình thế tối ưu là sự hiện diện không quân và hải quân của Mỹ ít nhiều vẫn ở mức hiện nay, ngay cả khi Mỹ nỗ lực hết mức trong khả năng của mình để gượng gạo giữ những quan hệ thân tình và dễ tiên đoán với Trung Quốc.  Bằng cách đó Mỹ có thể dần dần điều chỉnh thích ứng với hải quân có khả năng tác chiến ngoài khơi xa (blue-water navy) của Trung Quốc.  Trong quan hệ quốc tế, đằng sau những câu hỏi về luân lý đạo đức luôn có những câu hỏi về sức mạnh.  Việc can thiệp nhân đạo ở vùng Balkan đã khả thi chỉ vì chế độ Serbia yếu, chứ không phải như chế độ Nga có những hành động tàn bạo ở quy mô tương tự ở Chechnya trong khi phương Tây chẳng làm gì cả.  Tại khu vực Tây Thái Bình Dương trong những thập niên sắp đến, luân lý có thể nghĩa là từ bỏ một số trong những lý tưởng chúng ta hằng ấp ủ để đổi lấy ổn định.  Còn cách nào khác nữa để chúng ta chừa chỗ cho một Trung Quốc bán độc tài chuyên chế khi quân đội của họ mở rộng?  Bản thân cán cân quyền lực, thậm chí hơn cả những giá trị dân chủ của phương Tây, thường là cách bảo vệ tự do tốt nhất.  Đó cũng sẽ là một bài học của Biển Đông trong thế kỷ 21 – một bài học mà những người lý tưởng không muốn nghe.
Robert D. Kaplan là nghiên cứu viên cao cấp ở Center for a New American Security, thông tín viên quốc gia cho tờ Atlantic, và là ủy viên Hội đồng Chính sách Quốc phòng  của Bộ Quốc phòng Mỹ.  Ông là tác giả của cuốn sách Monsoon: The Indian Ocean and the Future of American Power (Gió mùa: Ấn Độ Dương và Tương lai của Quyền lực Mỹ).
Người dịch: Phạm Vũ Lửa Hạ

Trong chiến tranh 54-75, có một hay hai Quốc gia trên hai miền Bắc, Nam?


Dương Danh Huy
Trạm khí tượng thủy văn trên đảo Hoàng Sa thời
Việt Nam Cộng Hòa
Thực tế là VNDCCH đã không hề tuyên bố rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của mình, hoặc là của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Nổi bật nhất là VNDCCH đã không có lời bảo lưu về hai quần đảo này trong công hàm của Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai ngày 14/9/1958.
Những gì chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trước 30/4/1975 (VNDCCH) đã nói hoặc không nói liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa đã để lại một vũ khí tuyên truyền mà Trung Quốc đã, đang và sẽ tiếp tục khai thác trong tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo này với Việt Nam.
Ngoài ra, phía Trung Quốc còn cho rằng tồn tại những sự kiện sau:
●     Ngày 15/6/1956, Thứ trưởng  Ngoại giao VNDCCH Ung Văn Khiêm đã nói với thường vụ viên của sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc chưa từng nêu ra biên bản của buổi họp họ cho rằng trong đó Ung Văn Khiêm đã nói điều trên.
●     Sách giáo khoa và bản đồ và báo Nhân Dân dưới thời VNDCCH đã thể hiện quan điểm Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc.
Dễ có thể thấy được tại sao những điều trên là vũ khí tuyên truyền lợi hại cho Trung Quốc, nhưng theo pháp lý quốc tế thì không có nghĩa chúng làm cho nước Việt Nam thống nhất mất chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa vào tay Trung Quốc.

Chúng ta có lập luận mạnh mẽ để cho rằng trước khi Việt Nam chia đôi, Hoàng Sa là của Việt Nam, và Pháp đã tuyên bố chủ quyền đối với Trường Sa một cách hợp pháp và sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa của Nam Kỳ.
Tuy vậy, giai đoạn Việt Nam chia đôi đã để lại một số nghi vấn cho danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam. Vì VNCH và VNDCCH đã có những hành vi rất khác nhau liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa, trả lời cho một số câu hỏi về tính quốc gia và thẩm quyền của VNDCCH và VNCH trong giai đoạn này có nhiều ảnh hưởng đến lập luận của Việt Nam.
Mục đích của bài viết này là tổng hợp một số khả năng và lập luận khác nhau lại thành một bản đồ lý lẽ. Bản đồ đó còn nhiều thiếu sót vì còn nhiều vấn đề cần được các nhà luật học Việt Nam làm sáng tỏ, nhưng hy vọng rằng nó sẽ đóng góp cho thảo luận và khuyến khích việc nghiên cứu. Người đọc có thể tự xét xem quan điểm của mình nằm đâu trên bản đồ đó, hay nằm ở điểm chưa có trên bản đồ, có thể tự bác bỏ một số điểm trên bản đồ, và có thể tự xét xem cần thêm gì để củng cố lập luận cho quan điểm của mình. Với mục đích đó, bài này sẽ xét những trường hợp sau cho giai đoạn chiến tranh 1954-1975.
Ký hiệuTrường hợp
2-BCó 2 Quốc gia, và Quốc gia ở miền Bắc (VNDCCH) thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa từ nước Việt Nam trước khi chia đôi.
2-NCó 2 Quốc gia, và Quốc gia ở miền Nam (VNCH) thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa từ nước Việt Nam trước khi chia đôi. Trường hợp này bao gồm hai tiểu trường hợp 2-N-K và 2-N-R dưới đây.
2-N-KCó 2 Quốc gia, Quốc gia ở miền Nam (VNCH) thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa, và VNDCCH đã không gây ra cho bản thân mình sự ràng buộc không tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc
2-N-RCó 2 Quốc gia, Quốc gia ở miền Nam (VNCH) thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng VNDCCH đã gây ra cho bản thân mình một sự ràng buộc không tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc.
1-BCó 1 Quốc gia, và chính phủ miền Bắc là đại diện cho Quốc gia đó trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975.
1-NCó 1 Quốc gia, và chính phủ miền Nam là đại diện cho Quốc gia đó trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975.
1-XCó 1 Quốc gia, và trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975 không có chính phủ nào riêng biệt có thể thay đổi về danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa.
Khi viết bài này, một số nhà luật học có nhiều uy tín của Việt Nam đã giúp tác giả một số tư liệu, thông tin, nhiều hướng dẫn quý báu về pháp lý quốc tế, và nhiều thảo luận về lập luận. Tác giả cảm ơn các nhà luật học này. Tất cả những sai sót về kiến thức, phương pháp lập luận, quan điểm, là của tác giả.

Trong giai đoạn Việt Nam chia đôi

Một số sự kiện liên quan đến giai đoạn này là:
  • Ngày 2/9/1945 chính quyền Việt Minh tuyên bố sự ra đời của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
  • Ngày 5/6/1948 Pháp ký hiệp ước Vịnh Hạ Long công nhận một chính thể dưới chính quyền Bảo Đại với tên Quốc gia Việt Nam.
  • Ngày 20/7/1954 Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Hiệp định Genève tạm thời chia Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự.
  • Ngày 26/10/1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập chính thể Việt Nam Cộng hòa.
  • Năm 1969 chính thể Cộng hòa Miền Nam Việt Nam được thành lập với chính quyền là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
  • Ngày 30/4/1975 chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể.
  • Ngày 25/4/1976 Việt Nam bầu cử Quốc hội cho nước Việt Nam thống nhất.
  • Ngày 2/7/1976 chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam sáp nhập với nhau thành chính quyền của nước Việt Nam thống nhất với tên Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Một hay hai Quốc gia?

Câu hỏi trước tiên cho giai đoạn này là câu hỏi: VNDCCH và VNCH là hai Quốc gia độc lập hay là hai vùng lãnh thổ của một Quốc gia trong tình trạng nội chiến?
Theo luật quốc tế, để là một Quốc gia (State), cần có (i) lãnh thổ, (ii) nhân dân, (iii) chính phủ, và (iv) khả năng có quan hệ với các chính phủ khác.
Một số nhà luật học có nhiều uy tín của Việt Nam cho rằng ý kiến của các luật gia quốc tế nổi tiếng nhất, thí dụ như James Crawford, Robert Jennings, Nguyễn Quốc Định, Jules Basdevant, Paul Reuter, Louis Henkin, Grigory Tunkin, cho rằng VNDCCH và VNCH là hai Quốc gia khác biệt.
Trong quyển The Creation of States in International Law, GS James Crawford lập luận như sau để cho rằng VNCH và VNDCCH là hai Quốc gia.
●      Sự ra đời của VNDCCH vào năm 1945 không có gì bất hợp pháp và VNDCCH có thể cho rằng mình là đại diện cho toàn Việt Nam. (Lưu ý với luận điểm này GS Crawford không khẳng định VNDCCH là một Quốc gia vào năm 1945). Sau khi Pháp “công nhận sự độc lập” của Quốc Gia Việt Nam (QGVN) trong Hiệp ước Vịnh Hạ Long 1948, với điều kiện QGVN phải nằm trong Liên Hiệp Pháp, VNDCCH và QGVN cũng vẫn chưa là hai Quốc gia, vì VNDCCH thì chưa kiểm soát được toàn bộ lãnh thổ, còn QGVN thì chưa thật sự độc lập.
●      Việc Hiệp định Genève 1954 thiết lập hai vùng tập kết quân sự phải được xem như sự thiết lập hai Quốc gia. Trên phương diện luật pháp cũng như trên thực tế, lãnh thổ của mỗi Quốc gia trên không phải là toàn bộ Việt Nam. (Với luận điểm này, GS Crawford cho rằng ranh giới trong Hiệp định Genève đã trở thành biên giới giữa hai Quốc gia, có nghĩa VNDCCH và QGVN (cũng như VNCH, là  thể chế tiếp nối QGVN) đáp ứng được các điều kiện về (i) lãnh thổ và (ii) nhân dân).
●      Trong Hiệp đinh Paris 1973, VNCH và VNDCCH được xem như hai thể chế trong việc sử dụng quân sự, tự khẳng định, đối nội và đối ngoại. Những thể chế như thế là những Quốc gia. (Với luận điểm này, GS Crawford cho rằng Hiệp đinh Paris 1973  có nghĩa VNDCCH và VNCH đáp ứng được các điều kiện (iii) chính phủ và (iv) khả năng có quan hệ với các chính phủ khác, và vì vậy nó công nhận VNCH và VNDCCH là hai Quốc gia).
Chắc chắn là VNDCCH và VNCH đều có thể đáp ứng được các điều kiện (iii) chính phủ và (iv) khả năng có quan hệ với các chính phủ khác, nhưng còn hai điều kiện (i) lãnh thổ và (ii) nhân dân thì sao?
Theo ý kiến của tác giả, mặc dù thực tế về sự kiểm soát và ngoại giao ủng hộ quan điểm tồn tại hai Quốc gia với lãnh thổ và nhân dân được giới hạn bởi vĩ tuyến 17, để trả lời câu hỏi về có một hay hai Quốc gia, intention cũng là một khía cạnh cần được xét đến song song với thực tế. Intention của VNCH và VNDCCH là gì? Có phải là mình là Quốc gia với lãnh thổ và nhân dân được giới hạn bởi vĩ tuyến 17 hay không?
Hiến pháp đầu tiên của VNDCCH ra đời năm 1946. Đương nhiên lúc đó VNDCCH cho rằng lãnh thổ của mình bao gồm Bắc, Trung, Nam. Điều 2 hiến pháp VNDCCH 1946 ghi, “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia”. Lời nói đầu của hiến pháp 1959 của VNDCCH ghi, “Nước Việt Nam ta là một nước thống nhất từ Lạng Sơn đến Cà Mau”, và điều 1 ghi,“Đất nước Việt Nam là một khối Bắc Nam thống nhất không thể chia cắt”.
Việc từ “thống nhất” và các cụm từ “không thể phân chia” và “không thể chia cắt” được dùng cho một thực thể địa lý, ở đây là “Đất nước Việt Nam” từ Bắc đến Nam, có vẻ như là sự khẳng định không thể chia thực thể địa lý đó thành hay cho hai Quốc gia. Như vậy, dường như các hiến pháp của VNDCCH không công nhận việc chia thực thể địa lý bao gồm Bắc, Nam thành hai Quốc gia.
Hiến pháp đầu tiên của VNCH ra đời năm 1956. Lời mở đầu viết “Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan”. Điều 1 hiến pháp VNCH 1956 ghi, “Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân”. Điều 1 hiến pháp VNCH 1967 lặp lại điều 1 của hiến pháp VNCH 1956. Câu hỏi là “Việt Nam” trong điều 1 hiến pháp VNCH 1956 là từ Cà Mau đến vĩ tuyến 17 hay đến Ải Nam Quan? Nếu là đến Ải Nam Quan thì dường như “Thống nhất” và “bất khả phân” trong hiến pháp VNCH cũng có nghĩa không công nhận việc chia thực thể địa lý bao gồm Bắc, Nam thành hai Quốc gia.
Hiệp định Genève 1954 chia đôi Việt Nam chỉ chia Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự và quy định rằng cho đến khi có tổng tuyển cử thì việc quản lý dân sự trong nằm trong tay VNDCCH và Liên Hiệp Pháp. Như vậy, Hiệp định Genève riêng nó không chia Việt Nam thành hai Quốc gia với hai chính phủ.
Hiệp định Paris 1973 cũng khẳng định là ranh giới trong Hiệp định Genève 1954 chỉ là ranh giới tạm tời giữa hai vùng tập kết quân sự, chứ không phải ranh giới chính trị hay lãnh thổ.
Như vậy, có thể lập luận rằng các hiến pháp của VNDCCH và VNCH đều cho rằng từ Nam Quan đến Cà Mau chỉ có một Quốc gia, tức là lãnh thổ của VNCH hay VNDCCH đều không bị giới hạn bởi vĩ tuyến 17, và Hiệp định Genève 1954 không đi ngược với quan điểm đó. Cũng xin nói thêm là QGVN không ký kết hiệp đinh này.
Phân tích về các hiến pháp này, một trong những nhà luật học có nhiều uy tín của Việt Nam cho rằng:
●      Các hiến pháp trên đã cố tình tránh dùng các thuật ngữ pháp lý “lãnh thổ nước VNDCCH” hay “lãnh thổ nước VNCH”, và chỉ thể hiện quan điểm chính trị (thay vì quan điểm pháp lý) của VNCH và VNDCCH không chấp nhận sự chia đôi vĩnh viễn, và không chấp nhận việc có hai Quốc gia.
●      Quan điểm chính trị đó đã phải nhường bước trước thực tế chính trị-pháp lý, và VNCH và VNDCCH đã hành xử như hai Quốc gia với lãnh thổ giới hạn bởi vĩ tuyến 17.
●      Thực tế quản lý, ngoại giao và những điều trên ủng hộ quan điểm VNDCCH và VNCH là hai Quốc gia.
Câu hỏi ở đây là một phiên tòa quốc tế, hay các nhà luật học quốc tế, sẽ giải thích các hiến pháp trên thế nào? Và nếu giải thích đó đi ngược với thực tế quản lý và ngoại giao nghiêng về có hai quốc gia, thì tòa và các nhà luật học sẽ quyết định thế nào?
Ngoài những cân nhắc trên, chúng ta cũng phải xét đến câu hỏi: Quan điểm của chính phủ Việt Nam ngày nay là gì? Quan điểm đó có thể ảnh hưởng đến việc tranh tụng ở tòa và lập luận mà các tác giả Việt Nam có thể công bố rộng rãi.
Chúng ta có thể xây dựng luồng lập luận chính về Hoàng Sa, Trường Sa dựa trên một trong hai trả lời, nhưng cũng vẫn phải xây dựng luồng lập luận phụ để dự trù cho trường hợp trả lời đó không được tòa, hay ý kiến luật học, hay các nhà chính trị Việt Nam ngày nay chấp nhận.

Các trường hợp hai Quốc gia: 2-B, 2-N, 2-N-K, 2-N-R

Trong trường hợp VNDCCH và VNCH là hai Quốc gia khác biệt, chúng ta phải trả lời câu hỏi:Quốc gia nào đã thừa kế danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ nước Việt Nam trước đó?
Hiêp định Genève không trả lời rõ ràng về vấn đề này.
Thứ nhất, Hiêp định Genève không ghi rõ ràng về Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về vùng tập kết quân sự nào. Theo Hiêp định Genève, ranh giới chỉ kéo dài từ đất liền vào lãnh hải theo một đường vuông góc với bờ biển. Lúc đó, lãnh hải chỉ là 3 hải lý hay cùng lắm là 12 hải lý cho nên ranh giới đó không vươn ra đến Hoàng Sa, Trường Sa. Tuy nhiên, một trong những nhà luật học hàng đầu của Việt Nam cho rằng, theo quan điểm của Việt Nam lúc đó, Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ phụ thuộc của các tỉnh ven bờ cho nên hai quần đảo này đương nhiên thuộc về vùng tập kết phía nam cùng với các tỉnh đó.
Thứ nhì, Hiệp đinh nói về hai vùng tập kết quân sự chứ không phải về lãnh thổ của hai Quốc gia.
Vì vậy, có lẽ trả lời cho câu hỏi “Quốc gia nào đã thừa kế danh nghĩa chủ quyền quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ nước Việt Nam trước đó?” tùy thuộc vào thực tế quản lý và nhận thức của VNDCCH và VNCH. Như vậy, trên lý thuyết có hai trường hợp sau.

Trường hợp 2-B

VNDCCH và VNCH đã trở thành hai Quốc gia khác biệt và VNDCCH là Quốc gia thừa kế danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Trong trường hợp này, các hành vi của VNDCCH liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa sẽ bất lợi cho chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Việt Nam phải bác bỏ trường hợp này. Để dự trù cho trường hợp sự bác bỏ không thuyết phục được toà án quốc tế hay ý kiến học thuật, các nhà nghiên cứu Việt Nam phải nghiên cứu về các nguyên tắc recognition, acquiescence và estoppel trong luật quốc tế để lập luận rằng các hành vi của VNDCCH không làm cho VNDCCH bị mất danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.

Trường hợp 2-N

VNDCCH và VNCH đã trở thành hai Quốc gia khác biệt và VNCH là Quốc gia thừa kế danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Trong trường hợp này, các hành vi của VNDCCH không ảnh hưởng đến danh nghĩa chủ quyền mà VNCH duy trì. Trường hợp này có sẽ lợi cho Việt Nam.
Trên thực tế, QGVN và sau đó là VNCH luôn luôn khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, trong khi cho đến năm 1975 VNDCCH mới gửi quân đội đến Trường Sa, cho nên trường hợp 2-N, cũng là trường hợp có lợi cho Việt Nam, là hợp lý hơn trường hợp 2-B.
Riêng về Trường Sa thì có thể lập luận rằng Pháp đã sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa, không bảo lưu gì về Trường Sa khi VNCH trở thành một Quốc gia hoàn toàn độc lập bao gồm tỉnh Bà Rịa, và sau đó Pháp cũng không phản đối việc VNCH thực thi chủ quyền đối với Trường Sa, cho nên VNCH đã thừa kế chủ quyền đối với Trường Sa từ Pháp. Với lập luận đó, về Trường Sa, VNDCCH là một bên hoàn toàn không liên quan, và trường hợp 2-N là hoàn toàn áp dụng.
Xin nói bên lề ở đây rằng không những lập luận “thừa kế Trường Sa từ Pháp” khẳng định được trường hợp 2-N (thay vì 2-B), tức là trường hợp có lợi cho Việt Nam,  nó còn vững chắc hơn lập luận “thừa kế Trường Sa từ nhà nước phong kiến Việt Nam” (vì khó chứng minh được rằng nhà nhà nước phong kiến Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ quần đảo Trường Sa và đội Bắc Hải đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ vùng lãnh thổ đó.
Trong trường hợp 2-N, mặc dù VNDCCH không thể ảnh hưởng đến danh nghĩa chủ quyền mà VNCH thừa kế và duy trì, và không thể gây ra sự ràng buộc gì cho VNCH, chúng ta vẫn cần phải xét xem VNDCCH có đã gây ra nghĩa vụ có tính ràng buộc nào cho bản thân mình hay không. Vì vậy, trường hợp 2-N bao gồm 2 tiểu trường hợp sau:
Tiểu trường hợp 2-N-K
VNDCCH đã không gây ra nghĩa vụ có tính ràng buộc nào cho bản thân mình, cho nên nước Việt Nam thống nhất chỉ thừa kế danh nghĩa chủ quyền từ VNCH, không phải thừa kế nghĩa vụ gì từ VNDCCH. Trường hợp này sẽ hoàn toàn có lợi cho Việt Nam.
Tiểu trường hợp 2-N-R
VNDCCH đã gây ra nghĩa vụ có tính ràng buộc nào đó cho bản thân mình, cho nên nước Việt Nam thống nhất có thể phải thừa kế nghĩa vụ đó từ VNDCCH cùng với thừa kế danh nghĩa chủ quyền từ VNCH. Trường hợp này để lại một di sản có hại cho Việt Nam, một di sản có lợi, và sẽ được phân tích sau.
2-N-K hay 2-N-R?
Định nghĩa của trường hợp 2-N là VNCH là Quốc gia thừa kế chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Trong trường hợp 2-N, không thể có chuyện VNDCCH gây ra nghĩa vụ ràng buộc VNDCCH phải chuyển nhượng hai quần đảo này cho Trung Quốc, hoặc phải từ bỏ chủ quyền đối với hai quần đảo này. VNDCCH cũng không thể gây ra sự ràng buộc gì cho VNCH.
Tuy nhiên, VNDCCH vẫn có tiềm năng gây ra một sự ràng buộc về tự giới hạn quyền tự do hành động của bản thân mình, ở đây là quyền trong tương lai VNDCCH có thể tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc. Có thể minh hoạ khái niệm “ràng buộc về tự giới hạn quyền tự do hành động của bản thân mình” bằng kịch bản giả định sau.
●     Nhật và Hàn Quốc tranh chấp nhóm đảo Takeshima/Dokdo, Trung Quốc là bên thứ ba trong tranh chấp này.
●     Trung Quốc ký một thoả thuận với Nhật trong đó Trung Quốc sẽ không bao giờ tranh chấp nhóm đảo Takeshima/Dokdo với Nhật để đổi với một khoản viện trợ. Rõ ràng thoả thuận này không có giá trị chuyển nhượng Takeshima/Dokdo cho Nhật và không có giá trị ràng buộc gì đối với Hàn Quốc.
●     Sau đó Hàn Quốc chuyển nhượng danh nghĩa chủ quyền đối với Takeshima/Dokdo cho Trung Quốc.
●     Trong kịch bản giả định này, khả năng là toà quốc tế sẽ không cho phép Trung Quốc tranh chấp Takeshima/Dokdo với Nhật.
Minh hoạ này cho thấy trong trường hợp Hoàng Sa, Trường Sa là của VNCH, và VNDCCH không phải là một bên trong tranh chấp, thì VNDCCH vẫn có tiềm năng gây ra nghĩa vụ ràng buộc giới hạn quyền tự do hành động của bản thân mình, cụ thể nghĩa vụ ràng buộc VNDCCH không được tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc, và chúng ta phải xét xem tiền năng đó có đã trở thành thực tế hay không.
Mặc dù hành vi của VNDCCH có thể bị hiểu là công nhận hay thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc, hoặc bị diễn giải là VNDCCH tự giới hạn quyền tự do hành động của mình, hành vi đó là những động thái đơn phương. Theo luật quốc tế, cần phải có nhiều điều kiện trước khi các động thái đơn phương, hay các lời hứa, có thể gây ra nghĩa vụ ràng buộc. Nguyên tắc này bao gồm:
●      Khi một Quốc gia tuyên bố về tự giới hạn quyền tự do hành động của mình thì cần phải giải thích tuyên bố đó một cách có giới hạn.
●      Cần phải xét đến bối cảnh của tuyên bố đó.
●      Phải rõ ràng là bên tuyên bố thể hiện ý muốn bị ràng buộc bởi tuyên bố đó.
●      Bên kiện bên tuyên bố phải đã có hành động dựa trên tuyên bố đó.
Phán quyết của Toà án Công lý Quốc tế về tranh chấp các đảo/đá Pedra Branca, Middle Rocks và South Ledge giữa Malaysia và Singapore thể hiện rất rõ những nguyên tắc trên.
Năm 1953 Singapore hỏi bang Johor, một trong những tiền thân của Malaysia, về chủ quyền đối với đảo Pedra Branca. Johor trả lời bằng công hàm rằng họ không có tuyên bố chủ quyền đối với Pedra Branca.
Singapore đưa ra trước Toà ba luận điểm về công hàm 1953 của Johor: (a) Johor đã từ bỏ chủ quyền, (b) một estoppel, và (c) có tính cách ràng buộc.
Toà bác bỏ cả ba quan điểm trên của Singapore với những lý do:
●     Công hàm 1953 của Johor không có hiệu quả pháp lý có tính quyết định.
●     Bên viện nguyên tắc estoppel phải chứng minh là mình đã có hành động dựa vào tuyên bố của bên kia, nhưng các hành động của Singapore không phải là dựa vào công hàm 1953 của Johor.
●     Khi một nước tuyên bố một điều tự hạn chế quyền tự do hành động của mình thì cần phải giải thích tuyên bố đó một cách có giới hạn.
●     Công hàm 1953 của Johor không phải là trong văn cảnh tranh chấp chủ quyền giữa Singapore và Johor cho nên không thể giải thích nó là có tính ràng buộc.
Có nhiều điều song song giữa công hàm 1953 của Johor và hành vi của VNDCCH, bao gồm cả công hàm Phạm Văn Đồng:
●      Các tuyên bố và ấn phẩm của VNDCCH không có hiệu quả pháp lý có tính quyết định.
●      Không có chứng cớ rằng những hành động của Trung Quốc như đánh chiếm Hoàng Sa, hay viện trợ cho VNDCCH là vì dựa vào các tuyên bố của VNDCCH. Không những thế, vì VNDCCH không phải là Quốc gia thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa, những tuyên bố của VNDCCH không có thẩm quyền để Trung Quốc có thể dựa vào.
●      Nếu VNDCCH có tuyên bố tự giới hạn quyền tự do hành động của mình, thí dụ như tuyên bố “tán thành” và “tôn trọng” về những gì trong tuyên bố 1958 của Trung Quốc về đường cơ sở và lãnh hải, thì cần phải giải thích những tuyên bố đó một cách có giới hạn. Có thể dùng nguyên tắc “giải thích những tuyên bố đó một cách có giới hạn” để ủng hộ lập luận cho rằng chủ ý của công hàm Phạm Văn Đồng không phải là để công nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc.
●      Những tuyên bố hay ấn phẩm của VNDCCH không phải là để trả lời Trung Quốc trong tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa giữa VNDCCH và Trung Quốc, cho nên không thể cho rằng chúng có tính ràng buộc.
Những điểm song song trên ủng hộ quan điểm VNDCCH đã không hề gây ra nghĩa vụ ràng buộc cho mình, và trường hợp 2-N-K, cũng là trường hợp có lợi cho Việt Nam, là hợp lý hơn 2-N-R.
Lưu ý trong trường hợp 2-N (dẫn đến 2-N-K hoặc 2-N-R), danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc về VNDCCH cho nên các nguyên tắc recognition hay acquiescence không áp dụng, vì việc công nhận hay thừa nhân là của người khác những gì không phải của mình là những hành động không có giá trị.
Để khẳng định trường hợp 2-N-K thay vì 2-N-R, các nhà nghiên cứu Việt Nam phải nghiên cứu về nguyên tắc estoppel để chứng minh rằng VNDCCH đã không gây ra một estoppel ràng buộc mình không được tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc.

Các trường hợp một Quốc gia: 1-B, 1-N, 1-X

Nếu trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975 chỉ tồn tại một Quốc gia Việt Nam trong tình trạng nội chiến, chúng sẽ phải trả lời câu hỏi: VNDCCH hay VNCH là đại diện cho toàn Việt Nam trong giai đoạn đó, bao gồm cả về vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa? Sẽ có ba trường hợp sau.

Trường hợp 1-B

Chỉ tồn tại một nước Việt Nam trong tình trạng nội chiến, và VNDCCH là đại diện hợp pháp của toàn Việt Nam trong giai đoạn đó. Trường hợp này bất lợi cho Việt Nam như trường hợp 2-B. Việt Nam phải bác bỏ trường hợp này. Để dự trù cho trường hợp sự bác bỏ không thuyết phục được toà án quốc tế hay ý kiến học thuật, các nhà nghiên cứu Việt Nam phải nghiên cứu về các nguyên tắc recognition, acquiescence và estoppel trong luật quốc để lập luận rằng các hành vi của VNDCCH không làm cho VNDCCH bị mất danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.

Trường hợp 1-N

Chỉ tồn tại một nước Việt Nam trong tình trạng nội chiến, và chính phủ VNCH là đại diện của toàn Việt Nam trong giai đoạn đó. Vì VNCH luôn luôn duy trì danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa, trường hợp này sẽ có lợi cho lập luận của Việt Nam như trường hợp 2-N-K. Xác suất trường hợp 1-N được chính phủ Việt Nam ngày nay chọn là thấp.

Trường hợp 1-X

Chỉ tồn tại một nước Việt Nam trong tình trạng nội chiến, nhưng với Hiệp định Genève và tình trạng nội chiến thì mỗi chính phủ VNCH hay VNDCCH riêng biệt không có đủ thẩm quyền để làm thay đổi danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Trong trường hợp này, một mặt thì VNCH duy trì chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa, mặt kia thì những hành vi liên quan của VNDCCH không thay đổi được danh nghĩa chủ quyền đó. Vì vậy, trường hợp này cũng có lợi cho Việt Nam như trường hợp 1-N và 2-N-K.
Trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975, quốc hội VNDCCH không có đại biểu được bầu bởi nhân dân miền Nam, và nghị viện VNCH và nghị viện VNCH không có đại biểu được bầu bởi nhân dân miền Bắc. Vì vậy, phải chăng có thể lập luận rằng mỗi chính phủ VNCH hay VNDCCH riêng biệt không có đủ thẩm quyền để làm thay đổi danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa, tức là trường hợp 1-X?

Khi Việt Nam thống nhất

Khi Việt Nam thống nhất, danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam sẽ tuỳ thuộc vào kịch bản nào áp dụng trong giai đoạn Việt Nam chia đôi.
Các trường hợp hai Quốc gia: 2-B, 2-N, 2-N-K, 2-N-R
Trong trường hợp giai đoạn chiến tranh 1954-1975 có hai Quốc qia, sẽ có vấn đề thừa kế giữa các Quốc gia Việt. Danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa sẽ đi từ nước Việt Nam trước chia đôi đến một trong hai Quốc gia trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975, và sẽ đi từ Quốc gia đó đến nước Việt Nam thống nhất.
Trường hợp 2-B có nghĩa VNDCCH thừa kế danh nghĩa chủ quyền từ nước Việt Nam trước đó, và các hành vi hữu quan của VNDCCH làm tổn hại danh nghĩa đó. Nước Việt Nam thống nhất sẽ thừa kế danh nghĩa chủ quyền đã bị tổn hại và khó có thể cạnh tranh pháp lý với Trung Quốc. Như đã nói, Việt Nam phải bác bỏ trường hợp này
Trường hợp 2-N-K có nghĩa VNCH thừa kế danh nghĩa chủ quyền từ nước Việt Nam trước đó, và nước Việt Nam thống nhất thừa kế danh nghĩa chủ quyền này từ VNCH. Vì Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Việt Nam (hay Pháp, trong trường hợp Trường Sa) trước 1954, sau 1976 và ngày nay hai quần đảo này cũng thuộc về Việt Nam. Trường hợp này có lợi cho Việt Nam.
Trường hợp 2-N-R có nghĩa VNCH thừa kế danh nghĩa chủ quyền từ nước Việt Nam trước đó, và nước Việt Nam thống nhất thừa kế danh nghĩa chủ quyền này từ VNCH. Tuy nhiên nước Việt Nam thống nhất cũng phải thừa kế nghĩa vụ ràng buộc gây ra bởi VNDCCH, thí dụ như không được tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Quốc. Như vậy, nước Việt Nam thống nhất sẽ thừa kế hai điều trái nghịch nhau (danh nghĩa chủ quyền thừa kế từ VNCH và nghĩa vụ ràng buộc thừa kế từ VNDCCH) và một phiên toà quốc tế sẽ phải quyết định xoá bỏ điều nào thì sẽ công bằng hơn.
Như đã trình bày, những hành vi của VNDCCH đã không đáp ứng được các điều kiện để gây ra nghĩa vụ ràng buộc cho VNDCCH. Vì vậy, trong trường hợp VNDCCH và VNCH là hai Quốc gia độc lập, khả năng là chúng ta sẽ có trường hợp 2-N-K, có lợi cho Việt Nam, thay vì 2-N-R.
Giả sử như chúng ta có bị rơi vào trường hợp 2-N-R đi nữa, thì tác giả cũng cho rằng toà sẽ cho rằng việc xoá bỏ nghĩa vụ thừa kế từ VNDCCH sẽ công bằng hơn xoá bỏ danh nghĩa chủ quyền thừa kế từ VNCH.
Các trường hợp một Quốc gia: 1-B, 1-N, 1-X
Trong trường hợp giai đoạn chiến tranh 1954-1975 chỉ có duy nhất một Quốc qia, sẽ không có vấn đề thừa kế giữa các thể chế Việt, vì danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa, sau khi đã thuộc về Việt Nam, sẽ chỉ thuộc về một Quốc gia Việt.
Trường hợp 1-B có nghĩa hành vi hữu quan của VNDCCH trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975 đã gây tổn hại cho danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam, và Việt Nam khó có thể cạnh tranh pháp lý với Trung Quốc. Đó là vì sao lập luận của Trung Quốc mặc nhiên cho rằng VNDCCH là đồng nghĩa với Việt Nam, bỏ qua sự kiện Việt Nam chia đôi và VNCH. Như đã nói, Việt Nam phải bác bỏ trường hợp này.
Trường hợp 1-N và 1-X thì sẽ hoàn toàn có lợi cho Việt Nam. Trong hai trường hợp này, danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam không thay đổi trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975. Vì Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Việt Nam (hay Pháp, trong trường hợp Trường Sa) trước 1954, sau 1976 và ngày nay hai quần đảo này cũng thuộc về Việt Nam.

Kết luận

Các trường hợp bất lợi cho Việt Nam: 2-B và 1-B

Các trường hợp bất lợi cho Việt Nam là 2-B và 1-B. Như đã trình bày, khả năng là trường hợp 2-B bị pháp lý quốc tế loại bỏ. Lập luận của Trung Quốc dùng trường hợp 1-B. Trung Quốc mặc nhiên cho rằng VNDCCH là Việt Nam, bỏ qua VNCH. Theo ý kiến của tác giả,
●      Quan điểm chính trị của chúng ta phải bác bỏ 1-B và 2-B.
●      Chúng ta cần nghiên cứu luật pháp quốc tế để bác bỏ 1-B và 2-B, cũng như xác định khả năng có thể bác bỏ hai trường hợp này.
●      Để dự trù cho trường hợp toà án quốc tế hay ý kiến học thuật không chấp nhận việc bác bỏ 1-B và 2-B, các nhà nghiên cứu Việt Nam phải nghiên cứu về các nguyên tắc recognition, acquiescence và estoppel trong luật quốc tế (đó là những nguyên tắc phía Trung Quốc có thể dùng) để lập luận rằng các hành vi của VNDCCH không làm cho VNDCCH bị mất danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.

Trường hợp trung bình: 2-N-R

Trường hợp 2-N-R là trường hợp trung bình cho Việt Nam. Trong trường hợp này, nước Việt Nam thống nhất thừa kế hai điều đối nghịch với nhau: một bên là danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ VNCH, và bên kia là nghĩa vụ ràng buộc nào đó ảnh hưởng đến Hoàng Sa, Trường Sa từ VNDCCH. Việc thắng thua sẽ tuỳ vào toà cho rằng xoá bỏ nghĩa vụ VNDCCH gây ra hay xoá bỏ chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa là công bằng hơn. Tất cả những chứng cớ chúng ta có hiện nay nghiêng về 2-N-K (VNDCCH đã không gây ra nghĩa vụ ràng buộc, trường hợp có lợi cho Việt Nam) thay vì 2-N-R. Tuy nhiên, để dự trù  cho mọi trường hợp, chúng ta vẫn cần nghiên cứu về luật pháp quốc tế, để
●      Củng cố lập luận để khẳng định trường hợp 2-N-K (thay vì 2-N-R), và xác định khả năng trường hợp 2-N-R được tòa chấp nhận.Điều này cần nghiên cứu về nguyên tắc estoppel và những tuyên bố đơn phương trong luật quốc tế.
●      Xác định khả năng, trong trường hợp 2-N-R, tòa sẽ xoá bỏ nghĩa vụ VNDCCH gây ra hay xoá bỏ chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Điều này cần nghiên cứu về luật quốc tế về bồi thường: nếu, trong trường hợp 2-N-R, CHXHCNVN phải bồi thường cho Trung Quốc vì hành vi của VNDCCH thì bồi thường thế nào là công bằng? Theo ý kiến của tác giả, giả sử Việt Nam có bị rơi vào trường hợp 2-N-R đi nữa, thì một toà án quốc tế cũng sẽ không đòi hỏi CHXHCNVN phải bồi thường cho Trung Quốc bằng danh nghĩa chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.

Các trường hợp có lợi: 2-N-K, 1-N, 1-X

Các trường hợp có lợi cho Việt Nam là 2-N-K, 1-N và 1-X. Nếu Việt Nam khẳng định được một trong ba trường hợp này trước toà, khả năng là Việt Nam sẽ thắng Trung Quốc trong tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa.
Xác suất trường hợp 1-N được chính phủ Việt Nam ngày nay chọn là thấp. Như vậy, trong 6 trường hợp đã nêu ra, 2-N-K và 1-X là vừa có lợi cho Việt Nam, vừa khả thi trên diện chính trị. Lựa chọn cho Việt Nam là giữa hai trường hợp này.
Nếu Việt Nam cho rằng VNDCCH và VNCH không phải là hai Quốc gia, thì Việt Nam phải khẳng định trường hợp 1-X. Để khẳng định 1-X, Việt Nam có thể lập luận rằng trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975, quốc hội VNDCCH không có đại biểu được bầu bởi nhân dân miền Nam, và nghị viện VNCH không có đại biểu được bầu bởi nhân dân miền Bắc, cho nên mỗi chính phủ VNCH hay VNDCCH riêng biệt không có đủ thẩm quyền để làm thay đổi danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa. Nếu lập luận đó được chấp nhận thì Việt Nam sẽ thắng. Trước khi có thể chọn 1-X, chúng ta phải xác định khả năng tòa sẽ chấp nhận quan điểm “mỗi chính phủ VNDCCH và VNCH riêng biệt không có đủ thẩm quyền để thay đổi về danh nghã chủ quyền đối với Hoàng Sa, trường Sa” hay không.
Sách trắng của Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa lập luận rằng trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975, VNCH luôn khẳng định chủ quyền Việt Nam. Như vậy có thể hiểu được là thừa nhận rằng VNCH là một Quốc gia, vì trong luật quốc tế sự khẳng định chủ quyền phải là của Quốc gia mới có giá trị. Ngoài ra, có thể cho rằng quan điểm trên hình thức của VNDCCH về Cộng Hoà Miền Nam và Chính phủ Lâm thời Mặt trận Giải phóng Miền Nam là hình thức công nhận miền Nam là một Quốc gia khác biệt.
Phần lớn các luật gia quốc tế nổi tiếng nhất cho rằng VNCH và VNDCCH là hai Quốc gia. Trong quyển “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa”, giáo sư luật quốc tế Monique Chemillier-Gendreau cũng dùng quan điểm đó. Trong sách dựa trên luận văn tiến sĩ của mình, giáo sư Nguyễn Hồng Thao cũng dùng quan điểm đó. Lập luận trong sách trắng của Việt Nam cũng dựa trên quan điểm đó.
Như vậy có vẻ như các lập luận ủng hộ chủ quyền Việt Nam dựa trên quan điểm VNCH và VNDCCH là hai Quốc gia.
Trên diện pháp lý, để khẳng định được trường hợp 2-N-K, Việt Nam phải
●      Cho rằng VNDCCH và VNCH là 2 Quốc gia. Đây là lãnh vực của các nhà chính trị.
●      Thuyết phục được tòa về rằng VNDCCH và VNCH là 2 Quốc gia. Điều này và các điều sau là lãnh vực của các nhà luật học.
●      Bác bỏ được trường hợp 2-B.
●      Bác bỏ được trường hợp 2-N-R.
Trên diện truyền thông đại chúng hiện nay, dường như Việt Nam không khẳng định cụ thể rằng VNCH và VNDCCH là hai Quốc gia khác biệt. Có lẽ Việt Nam e ngại rằng nếu VNCH và VNDCCH là hai Quốc gia khác biệt thì sẽ có câu hỏi là việc VNDCCH tham gia chiến tranh 1954-1975 có phải là một Quốc gia can thiệp vào nội bộ của Quốc gia khác hay không. Trong lãnh vực tuyên truyền về Hoàng Sa, Trường Sa, Trung Quốc đã, đang và sẽ tiếp tục lợi dụng tình hình đó bằng cách mặc nhiên cho rằng luôn luôn chỉ tồn tại duy nhất một Quốc gia Việt Nam, và VNDCCH là đại diện cho Quốc gia đó, để nói rằng Việt Nam đã công nhận rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc.
Tuyên truyền của Trung Quốc cho thấy việc lựa chọn giữa các khả năng thí dụ như được nêu ra trong bài này không chỉ là một vấn đề cho các nhà sử học và các nhà chính trị, mà nó còn ảnh hưởng đến lập luận của Việt Nam về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, và đến việc tranh thủ dư luận quốc tế.
Trong việc lựa chọn, người lựa chọn nên cho rằng VNDCCH và VNCH là quá khứ, trong khi nước Việt Nam thống nhất và sự vẹn toàn lãnh thổ, bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông, là hiện tại và tương lai. Sự vẹn toàn lãnh thổ, bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông, phải được nước Việt Nam thống nhất cho là ưu tiên hơn việc đánh giá những gì đã trở thành quá khứ. Mặt khác, chúng ta cũng không nên dùng sự lựa chọn trên để phục vụ những mục đích chính trị khác với đem lại cho Việt Nam lập luận mạnh mẽ nhất về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa.