Thứ Bảy, ngày 24 tháng 9 năm 2011

Bệnh hình thức


Song Chi
Một trong những nét tính cách không được đẹp của người VN mình là bệnh hình thức, thói sĩ diện. Cái bệnh hình thức, thói sĩ diện này không loại trừ một ai-từ ông nhà nước nói chung cho đến các ông quan cụ thể, từ giới có chữ cho đến dân đen ít chữ; và ngày càng nặng, càng phát triển thành nhiều trò lố lăng.

Marx vẫn sai

Khủng hoảng kinh tế khiến những ý tưởng của Karl Marx lại trở nên hợp thời, nhưng thế giới không nên quên những gì Marx đã nhận định sai.
Peter Coy
Minh họa của Andy Martin

Xã hội thường tiến lên nhờ rút kinh nghiệm từ những sai lầm của mình.  Bác sĩ không còn rút hết máu từ bệnh nhân.   Phi công không gắng bay bằng cách buộc cánh vào tay mình.  Chẳng còn ai vẫn còn nghĩ rằng nạn nô lệ là điều hay.  Tuy nhiên, Karl Marx dường như là một ngoại lệ của quy tắc sống và học hỏi.  Những tiên đoán nổi tiếng nhất của Marx đã thất bại; không có chế độ độc tài của giới vô sản, và nhà nước cũng chẳng lụi tàn.  Môn đồ của ông có một số kẻ sát nhân hàng loạt tàn bạo nhất của thế kỷ 20: Lenin, Stalin, Mao, Pol Pot.  Thế nhưng triết gia thích tranh luận và bi quan này dường như vẫn có nhiều người ủng hộ trong mỗi thế hệ mới của những bạo chúa và những kẻ mơ mộng.

Papa và cây sáo


Lưu Minh Gian
Lần đầu tiên nghe papa thổi sáo, thằng nhỏ trợn tròn con mắt ngạc nhiên, như thể nó đang chứng kiến cái sự gì đó lạ lùng lắm trên thế giới này: Papa biết thổi sáo, mà còn thổi hay quá trời quá đất.

Cây sáo chỉ là một khúc trúc nhỏ (còn nhỏ hơn mấy khúc tre thằng nhỏ dùng để chăn bò). Ấy vậy mà dưới đôi tay của papa, nó trở nên réo rắt đến nức lòng nức ruột.

Ngày đó có một người bạn của papa ở xa đến thăm. Người bạn mang theo một chiếc sáo trúc. Người bạn ấy kể rằng hồi còn đi học papa hay thổi sáo. Papa mừng quá chừng, không biết vì gặp lại người xưa hay vì gặp lại cái ống sáo. Mấy chục năm rồi papa mới gặp lại người bạn cũ. Mấy chục năm vần xoay với vòng cơm áo, papa đã không còn đụng đến chiếc ống sáo.
……….
Thằng nhỏ đòi papa dạy thổi sáo, papa nói nhất định không là không. Thằng nhỏ theo năn nỉ miết, papa sẵn giọng: thích thì tự mà tập. Thằng nhỏ nằn nì: nhưng mà papa phải chỉ sơ sơ qua thì con mới tập được chứ. Papa cười cười: chỉ rồi thì ai mà chả thổi được, không chỉ mà thổi được thì mới ngon chứ….
Thằng nhỏ tức khí. Như muốn chứng tỏ mình ngon, nó cầm ống sáo tự mình tập thổi phù phù. Vừa mệt, vừa tốn hơi, vừa chóng mặt, đã có lắm lần nó toan quăng cái ống sáo vào một xó. Nhưng cái cách papa nhìn nó cười cười khiến nó không bỏ cuộc được. Nó quyết tâm phải tập thổi sáo cho được thì thôi.
Có lần, nó đang vận nội công thổi phù phù, papa đi làm về bảo nhóc em nó: con chạy xuống bưng cái lò than lên đây cho ba cái coi. Nhóc em ngây thơ hỏi lại: bưng lò than lên làm gì ba? Papa cười: thì để chỗ anh hai mày thổi chứ chi. Anh mày thổi một hồi thì bảo đảm lò than đỏ rực… thổi sáo gì phù phù giống y người ta thổi lửa…
***
Hồi nhỏ, con – thằng nhỏ ngày ấy – hay bị ba quở vì cái tính lãng mạn. Ba không dạy con thổi sáo vì không muốn con lãng mạn. Người ta nói rằng lãng mạn thì khổ. Ba hay đem mình ra làm gương để dạy con. Ba nói rằng làm thằng con trai thì phải mạnh mẽ chứ không có được yếu đuối như papa. Ba dạy rằng lớn lên con phải học hành đàng hoàng, phải biết làm ăn tính toán với đời để đừng có thua thiệt người ta, giống như papa…
Thua thiệt người ta. Cái câu này con nghe ba nói hoài. Thua thiệt có nghĩa là không biết làm ăn bon chen như người ta, không có chụp giựt tranh thủ được như người ta. Kết quả là không có nhà cao cửa rộng như người ta. Trong khi bạn bè bao người đã bước những bước thật dài trên con đường công danh sự nghiệp, ba vẫn mãi lặng lẽ làm một lão nông chân bùn tay lấm. Trong khi bao bạn bè yên vị ở phồn hoa thị thành, ba vẫn ngày ngày cặm cụi trên cánh đồng quê.
Người ta gọi đó là thua thiệt. Ba cũng thấy đó là thua thiệt sao? Chẳng phải từ nhỏ ba đã dạy con rằng, sống ở đời quan trọng nhất là nhân nghĩa. Con người có thể thiếu mọi thứ, nhưng thiếu nhân nghĩa thì là người vứt đi. Người ta có thể hy sinh mọi thứ để sống như một người nhân nghĩa, chứ không thể hy sinh nhân nghĩa để có được mọi thứ. Ba lặng lẽ mà bền bỉ sống với xác tín ấy. Thế nên đô thị phồn hoa với những đua chen tranh giành đâu phải là vùng đất dành cho ba..
Hồi nhỏ, ba cũng dạy con rằng hạnh phúc nhất là khi người ta được sống thật là mình. Trên cánh đồng quê, với nắng sớm mưa chiều, với hương đồng cỏ nội, ba đã tìm được khoảng trời bình an cho tâm hồn mình. Đó chẳng phải là hạnh phúc sao?…
Con được sinh ra trên cánh đồng quê, và cũng ước mong được chết trên cánh đồng quê. Từ những ngày còn chập chững, trải dài trước mắt thằng nhỏ đã là cánh đồng xanh vô tận. Thế giới sống của con là màu xanh của mạ non, màu trắng trong của mây trời, màu trắng sáng của bình minh, màu vàng sậm của hoàng hôn, màu vàng ươm của đồng lúa chín. Thế giới ấy chất chứa đậm đà bao mùi hương của làng quê: mùi ngai ngái của bùn non, mùi thơm tho của cỏ lá, mùi khen khét của nắng trưa, mùi nhàn nhạt của mưa chiều… Thế giới ấy cũng tập hợp nhiều dư vị phong phú từ cuộc sống: vị chua chua của lá giang, vị đăng đắng của những đọt măng tre, vị bùi bùi ngòn ngọt của những củ khoai lang đầu mùa, vị thơm thơm cay cay của những chiếc lá bạc hà xanh rịm…
Con yêu tiếng sáo. Lần đầu tiên được trong đời được tiếng sáo, con như bị chạm vào điều gì đó thật sâu thẳm trong cõi lòng. Tiếng sáo gợi lên trong con cả một khoảng trời quê mênh mang dào dạt. Trong tiếng sáo, có cái bao la khoáng đãng của mây trời, có cái rì rầm dìu dịu của gió núi, có cái vút cao trong trẻo của nắng sớm, có cái trầm lắng an nhiên của mưa đêm. Tiếng sáo dội về trong ký ức bao hương vị ngọt ngào, bao sắc màu đằm thắm. Tiếng sáo vang lên, vọng xa,… rồi tan loãng giữa trời quê. Tiếng sáo làm đọng lại trong lòng người một khoảng không gian mênh mang lặng lẽ…
Phải chăng như thế thì gọi là lãng mạn? Lãng mạn như thế không tốt sao? Cuộc sống vốn phong nhiêu đa dạng, nhưng đâu phải mọi điều từ cuộc sống có thể chạm đến lòng người. Có những điều hết sức ý nghĩa và thân thương với người này, nhưng cực kỳ vô nghĩa và xa lạ với người kia. Có những điều gợi lên trong người này cả một khung trời ký ức, nhưng chỉ thoảng qua người kia như chút gió bụi vô thường…
Không phải sự từng trải làm cho cuộc sống phong phú, chính những cảm nghiệm đọng lại từ những gì đã trải qua mới tạo nên sự phong phú cho cuộc sống… Cho đến lúc ấy, khung trời sống của con chỉ là một làng quê vô danh. Thế nhưng trong cái vô danh bé nhỏ ấy, biết bao giá trị đẹp của cuộc sống đã thấm đậm và từng ngày làm nên cuộc đời của một con người. Điều ấy tạo nên trong con niềm thiết tha với cuộc sống.
***
Ngày con đi học xa, trong túi hành trang má chuẩn bị cho con, papa gởi vào một cây sáo trúc. Đó là những gì ba muốn gởi gắm theo con đến chân trời xa.
Hơn ai hết, con hiểu được tấm lòng của ba. Con sẽ học để lớn lên thành một người nhân nghĩa. Con sẽ tìm cho mình một khung trời thích hợp để được sống thật là mình.
Còn trong mái ấm gia đình, con còn là một thằng nhỏ. Ra giữa dòng đời, thằng nhỏ phải học để làm người lớn, phải tự mình lớn lên mỗi ngày. Để một thằng nhỏ có thể vươn vai thành một người lớn, dường như nó cần phải vươn vai thoát khỏi vòng bảo bọc của những người lớn khác. Để thực sự lớn lên, thằng nhỏ cần có những va chạm với thực tế của cuộc sống. Những lãng đãng đẹp như mơ của làng quê đã tiếp cho con một niềm yêu nồng nàn với cuộc sống. Những bình yên lắng đọng của làng quê đã hình thành trong con một tâm hồn hiền lành đơn giản. Nhưng cuộc đời không như là mơ, và dòng chảy cuộc sống có khi nào bình yên đơn giản…
Gởi con vào đời, ba mang trong lòng nhiều nỗi lo sợ. Sợ một lúc nào đó con không còn là thằng nhỏ nữa, sẽ trở nên thực dụng và sòng phẳng như cuộc đời. Sợ một lúc nào đó giữa bao điều hào nhoáng hữu hình trước mắt, con sẽ quên mất những gì là bình dị lặng lẽ trong tâm hồn. Sợ một lúc nào đó giữa những hổn mang tạp nhạp, con sẽ đánh mất những gì là mộc mạc hiền lành, đơn sơ và chân chất… Sợ ngày trở về, con lạ lẫm đứng giữa làng quê…
Cám ơn cái ống sáo của ba. Cảm ơn những tâm tình ba muốn gởi vào con. Cảm ơn những tháng ngày tuổi thơ trong mái ấm gia đình giúp con chia sẻ với ba nhiều xác tín đẹp để sống. Sống tình cảm không phải là một mối lo, đáng lo hơn là nếu một lúc nào đó người ta không còn chút tình cảm nữa. Tâm hồn lãng mạn thì không đáng sợ, chỉ sợ tâm hồn người ta nêng khô khan và chai cứng trước bao vẻ đẹp của cuộc đời.
Ba không phải là mẫu người thành công trong vòng xoay cuộc đời. Ba cũng không phải là mẫu người thành danh trong xã hội. Nhưng với con, ba luôn là mẫu gương sống động dẫn con bước vào đời và sống như một con người. Một con người nhân nghĩa…
Bài do một người bạn sưu tầm & chia sẽ mỗi cuối tuần với HDTG’s blog/ hãy dành thời gian. Chân thành cảm ơn!

Ngư dân không có tiền hỗ trợ vì thiếu con dấu ở Hoàng Sa

Nam Cường
Hơn 100 chủ tàu ở Đà Nẵng cho đến nay vẫn chưa thể nhận tiền hỗ trợ xăng dầu (theo Quyết định 48 của Chính phủ) bởi một lý do duy nhất: Không thể xác nhận được ngư trường hoạt động bằng một con dấu đỏ giữa Hoàng Sa mênh mông.
Ngậm ngùi chờ tiền
Trong khi ngư dân cả nước đã hoan hỉ cầm tiền tươi sau khi trở về từ biển thì hàng loạt chủ tàu ở Đà Nẵng vẫn chưa nhận được tiền hỗ trợ dù hồ sơ đã nộp đầy đủ.
Thuyền trưởng tàu ĐNa 90307 Nguyễn Phú Hùng trình bày: Chúng tôi được biết Nhà nước hỗ trợ tiền dầu hằng năm, ai nấy hoan hỉ. Nhưng đi mấy chuyến về, chẳng thấy tiền đâu. Hỏi Hội Nông dân, Hội lắc đầu. Thuyền trưởng Hồ Ngọc Thạnh vừa có chuyến biển đầy rủi ro bởi bị sét đánh hỏng toàn bộ máy, ICOM, bộ đàm… Trình hồ sơ lên cả tháng nay vẫn không nhận được tiền.

Thứ Sáu, ngày 23 tháng 9 năm 2011

Lời cuối cho Bauxite

“Làm Bauxite Tây Nguyên chẳng được cái gì, thiệt hại về kinh tế, ô nhiễm về môi trường, nguy hiểm về quân sự, đến đứa con nít cũng biết. Vậy người ta có đóng cửa Bauxite Tây Nguyên không? Không, không bao giờ, không đời nào. Cũng như Vinashin, người ta sẽ chèo chống đến cùng giữ cho được Bauxite Tây Nguyên.”

Nguyễn Quang Lập
Cho dù dự án Bauxite Tây Nguyên còn kéo dài bao lâu  nữa, cũng như Vinashin, câu chuyện Bauxite  người ta  có thể đặt dấu chấm hết được rồi. Nói như ông Tô Văn Trường: “Lối ra rẻ nhất và cũng là có lợi nhất cho đất nước là đình chỉ và tiến tới xóa sổ dự án bauxite Tây Nguyên.”
Ấy là ông Tô Văn Trường chỉ nói riêng về mặt kinh tế, sự thảm bại về kinh tế của Bauxite Tây Nguyên là không thể chối cãi. Khi Nhà nước bỏ ra 4000 tỉ cho TKV nợ để nâng cấp quốc lộ 20 cho Bauxite Tân Rai vận chuyển Alumin thì không cần phải đi thi toán quốc tế người ta cũng thừa biết Bauxite Tây Nguyên không thể trả được món nợ này, bởi vì nếu tính cả thuế thì TKV đã không còn một xu lãi nào, lấy đâu ra tiền để trả nợ?

Ông Tô Văn Trường nói rất đúng: ” Theo TKV, nếu đưa chi phí cải tạo, nâng cấp các tuyến đường tỉnh lộ, quốc lộ vào các dự án bauxite thì dự án sẽ không còn hiệu quả kinh tế và nguồn vốn hiện nay cho dự án đang gặp khó khăn muốn được nhà nước bảo lãnh!?  Tính mập mờ, cố tình lờ đi trong tính toán về kinh tế của TKV còn thể hiện ở việc dỡ bỏ thuế thì dự án có lãi, nếu để thuế thì không có lãi”  Thì rõ rồi, Nhà nước sẽ bảo lãnh theo cách đánh thuế 0%, cho nợ đáo nợ giãn nợ, cuối cùng treo nợ thế là xong. Cứ nhìn sang Vinashin thấy Chính phủ cứu Vinashin thế nào rồi sẽ biết Chính phủ cứu Bauxite Tây Nguyên theo cách đó. Rõ như ban ngày ấy mà.
Nhưng câu chuyện Bauxite Tây Nguyên không chỉ là kinh tế. Nếu chỉ thuần kinh tế như Vinashin thì sẽ không có Kiến Nghị 2009, Kiến nghị 2010  của hàng ngàn nhân sĩ trí thức trong và ngoài nước, sẽ không có hẳn một trang mạng Bauxite ròng rã 4 năm trời kiên trì phản biện để đến nỗi VTV1 gọi họ là “bọn phản động”.  Sở dĩ ông Tô Văn Trường nói “dự án bauxite Tây Nguyên là một dự án gây chia rẽ sâu sắc nhất trong lòng người dân Việt Nam” chính vì nó liên quan đồng thời cả ba vấn đề sinh tử của Đất nước: Kinh tế, môi trường và quốc phòng. Ấy là chưa kể văn hóa Tây Nguyên bị bào mòn, bị xâm hại đến thế nào.
Kinh tế coi như xong om, thế còn môi trường thì sao? Bauxite Tân Rai vừa đưa vào sản xuất nhưng Rò rỉ hóa chất ra môi trường đã xảy ra. “Ông Bùi Công Liên, phó giám đốc Công ty TNHH trà giống Cao Nguyên (khu 6, thị trấn Lộc Thắng), cho biết: “Cuối tháng 7, nguồn nước từ nhà máy alumin chảy ra có mùi hắc, sủi bọt và có độ nhờn. Nguồn nước này đổ vào hồ nước rộng khoảng 20ha của công ty, khiến cá chết nổi trắng hồ và không thể dùng nước để tưới cho hơn 100ha trà và cà phê. ”. Báo Tuổi trẻ đăng đàng hoàng nhé, không phải “rác rưởi” đăng đâu nhé!  Cứ nhìn vào bức ảnh chụp Nước nhiễm hóa chất từ dự án bôxit Tân Rai chảy ra môi trường với bọt trắng xóa, không ai không giật mình tự hỏi: vừa mới đưa vào sản xuất đã thế này, năm mười năm nữa rồi sẽ ra sao đây? Đấy là chưa nói đến mối nguy hiểm tiềm tàng, ấy là những quả bom bùn đỏ đang treo trên lơ lửng trên đầu Đất nước.
Cuối cùng là Quốc phòng. Tình trạng lao động nước ngoài, nói thẳng ra là lao động TQ,  không cấp phép đang tràn ngập như hiện nay ai dám bảo đảm họ chỉ là những lao động? Ngày xưa Trung Quốc có đội quân gọi là sương quân, đấy là những người lính được huấn luyện bài bản rồi cho về quê quán làm ăn, khi cần giao vũ khí cho họ là họ chiến đấu được ngay. Đã từ lâu người ta nghi ngờ các công nhân lao động Trung Quốc ( cả có phép lẫn không phép) chính là  những người lính sương quân. Có bao nhiêu sư đoàn sương quân Trung Quốc trên Đất nước ta là bấy nhiêu con ngựa thành Troy đấy. Theo đó thấy rất rõ có ít nhất hai con ngựa thành Troy ở Nhân Cơ và Tân Rai, cùng với những con ngựa thành Troy ở Cao- Bắc Lạng, ở Đồng bằng sông Cửu Long, tạo ra thế chân vạc rất nguy hiểm, nhờ đó mà ông Khổng Minh thời Tam quốc đã đánh đâu thắng đó.
Làm  Bauxite Tây Nguyên chẳng được cái gì, thiệt hại về kinh tế, ô nhiễm về môi trường, nguy hiểm về quân sự, đến đứa con nít cũng biết. Vậy người ta có đóng cửa Bauxite Tây Nguyên không? Không, không bao giờ, không đời nào. Cũng như Vinashin, người ta sẽ chèo chống đến cùng giữ cho được Bauxite Tây Nguyên. Vì sao ư, quá dễ để có câu trả lời. Nhưng như một ông quan đã than thở với mình:  nói ra dễ bị tù tội lắm em ạ, ai dại. Mình cũng chả dại, vì thế mình mới viết lời cuối cho Bauxite, coi như ai điếu cho cái thời  mình đang sống vậy.
“Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”, kinh thì kinh thật nhưng chắc là không còn xa nữa đâu.
Nguồn: Quê Choa

Bình luận về cuộc đấu khẩu giữa Bộ Tài chính và Bộ Công thương về việc giảm giá xăng


TS Nguyễn Quang A
Còn nhớ AT&T đã là công ty viễn thông tư nhân chi phối thị trường viễn thông Mỹ một thời. Chính phủ Mỹ đã buộc xé nhỏ AT&T để thúc đẩy cạnh tranh. Không có hành động ấy của Chính phủ Mỹ chắc công nghiệp viễn thông thế giới không được như ngày nay.
Xăng dầu là lĩnh vực kinh doanh có tầm quan trọng đặc biệt trong ngành năng lượng. Muốn khu vực nhà nước giữ vai trò chủ đạo, Chính phủ Việt Nam trực tiếp điều hành các ngành chủ chốt của nền kinh tế, trong đó có xăng dầu, thông qua các doanh nghiệp nhà nước của mình (một vài công ty được gọi là cổ phần nhưng nhà nước vẫn giữ phần chi phối nên thực ra vẫn là doanh nghiệp nhà nước). Mối quan hệ giữa các cơ quan Chính phủ và các doanh nghiệp này không minh bạch và nhiều khi các cơ quan hay quan chức nhà nước trở thành “tay chân” cho doanh nghiệp và đổi lại doanh nghiệp “nuôi” quan chức. Ông nào cũng giàu, cùng có lợi. Chỉ có đất nước và người dân phải gánh chịu hậu quả.
Trong bối cảnh ấy “sự nặng lời” đến mức báo giới phải “kinh ngạc” giữa một số đại diện của 2 Bộ Công thương và Tài chính trong hội thảo về xăng dầu ngày 20-9-2011 là điều dễ hiểu.
Bộ Công thương có vẻ “thông/và đồng cảm” với các doanh nghiệp xăng dầu: “doanh nghiệp đang gánh lỗ rất lớn, nếu không giải quyết được vấn đề này thì đừng hòng giải quyết được các biện pháp khác”. Ai cũng biết Công ty chi phối thị trường (Petrolimex) khi làm hồ sơ niêm yết (để bán cổ phần, huy động vốn) thì nói công ty lãi lớn, khi bàn về giá thì thường kêu bị lỗ to.
Bộ trưởng Bộ Tài chính nói họ không lỗ, và ông truy lỗ ra sao thì họ trả lời loanh quanh về thành tích “nộp ngân sách”. Nộp ngân sách đâu phải thành tích của doanh nghiệp! Đấy là thuế mà người tiêu dùng đóng cho nhà nước, giỏi lắm họ chỉ có “thành tích” thu hộ và “sử dụng” khi chưa nộp cho sở thuế! Ông Bộ trưởng Tài chính truy về lỗ lãi của từng mặt hàng, thì họ bảo “chúng tôi không tách ra từng mặt hàng giá lỗ lãi bao nhiêu mà tính tổng thể”. Ơ hay, không có cái thành phần (từng loại mặt hàng) thì làm sao có thể tính tổng được. Quả là hết sức tù mù. Thế mà không có ai từ chức hay bị cách chức mới lạ và ngẫm kỹ cũng chẳng lạ gì.
Rồi ngày hôm sau họ phản lại các chất vấn của Bộ Tài chính bằng các số liệu tổng hợp: xăng lỗ hơn 50 đồng/lít, dầu lỗ… Liệu các ông chủ – nhân dân – đòi họ cung cấp số liệu chi tiết, thì họ có dám đưa ra mọi số liệu chi phí hay không? Chắc là “bí mật kinh doanh” vì đưa ra thì làm sao còn tù mù được nữa và họ sao sống nổi. Vấn đề cốt lõi là cần sự tù mù thì các bên mới “cùng có lợi”.
Ông Bộ trưởng Tài chính đã nhận ra là quỹ bình ổn giá xăng dầu (tiền của người tiêu dùng góp) mà để cho các doanh nghiệp quản là không ổn. Cải thiện quản lý quỹ bình ổn và cả cải thiện, sửa đổi cơ chế quản lý giá như hiện nay dù có vá víu đến đâu cũng không giải quyết được vấn đề căn bản. Vấn đề căn bản là phải có cạnh tranh lành mạnh và buộc các doanh nghiệp phải minh bạch sổ sách, và nhà nước đừng kinh doanh theo kiểu này nữa.
Như thế giải pháp cũng chẳng phải là “để cho họ có lãi” bằng cách giữ hay tăng giá. Tuy có 11 doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu nhưng một đại gia vẫn nắm hơn 60% thị phần, độc quyền vẫn đó.
Vài năm trước tôi đã kiến nghị tổ chức lại ngành xăng dầu: chia tách Petrolimex ra làm đôi; hợp nhất nhiều trong số 10 doanh nghiệp nhỏ; để hình thành 3 – 4 doanh nghiệp sàn sàn nhau. Trước mắt có thể tất cả vẫn là các doanh nghiệp nhà nước, nhưng chúng phải cạnh tranh khốc liệt với nhau (hãy xem thị trường điện thoại di động). Khi đó vẫn cần sự điều tiết, giám sát của nhà nước (thí dụ để chống sự thông đồng), và chỉ khi đó vấn đề giá xăng dầu mới có thể hoàn toàn để cho cơ chế thị trường điều tiết. Khi đó các bộ liên quan sẽ rất nhàn, khỏi phải cãi vã. Bộ làm việc của Bộ, doanh nghiệp làm việc của doanh nghiệp. Nhưng họ có muốn thế không? Phải hỏi các ông to hơn.
Xóa độc quyền, tạo sự cạnh tranh thật sự và nhà nước không bao cấp, không ưu ái cho các doanh nghiệp này (lỗ thì cách chức Giám đốc thậm chí cho phá sản) mới là giải pháp chính. Mà đâu chỉ có xóa độc quyền và tạo sự cạnh tranh trong lĩnh vực doanh nghiệp.
N.Q.A.
Nguồn: Bauxite VN
Xăng và Vương Đình Huệ
Huy Đức
Khi quyết định giảm giá xăng 500 đồng/ lít, Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ đã chứng minh, “các doanh nghiệp không khó khăn như họ kêu ca, Petrolimex ngoài khoản lãi định mức 300 đồng/lít, theo số liệu hải quan, còn dôi ra một khoản 780 đồng/lít”. Cách làm việc của ông Huệ cho thấy, ít nhất là cho đến nay, ông chưa trở thành con tin của các đại gia.
Sự can thiệp của Bộ Tài chính là cần thiết, vì như ông Huệ nói: Thị phần của ba đại gia Nhà nước, Petrolimex, Saigon Petro và PVOil, chiếm tới 90% nên không thể để doanh nghiệp tự định giá mà phải có kiểm soát. Vấn đề nằm ở đây.
Lợi nhuận là lợi nhuận, độc quyền quốc doanh còn dễ lũng đoạn Nhà nước hơn cả tư nhân. Không phải cứ nắm các mặt hàng chiến lược là Quốc doanh sẽ phục vụ được các mục tiêu xã hội. Có vẻ như Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú đã đúng khi kêu gọi phải dùng cái đầu để xử lý giá xăng dầu. Nhưng nếu mục tiêu của các Bộ là “phải giải quyết cái gốc: doanh nghiệp đang lỗ rất lớn” như ông Tú đề nghị thì chính các đại gia đang dùng cái đầu, còn các nhà hoạch định chính sách lại đang có nguy cơ trở thành “tay chân” của họ.
Để chống lũng đoạn các mặt hàng chiến lược, không chỉ xăng dầu, cần nhiều biện pháp. Nhưng, trước hết, Bộ Tài chánh nên phối hợp với Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (chứ đừng làm với Bộ Công thương), nghiên cứu trình Quốc hội ban hành một đạo luật, theo đó: Không một doanh nghiệp nào được phép nắm giữ quá 10% thị phần xăng dầu trong nước; Không một cá nhân nào, bao gồm vợ, con, có quyền nắm giữ một lượng cổ phiếu ở tất cả các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu nội địa ở mức quá 6% thị phần. Chỉ khi phi quốc doanh hóa, các doanh nghiệp mới nhập đúng giá xăng dầu. Chỉ khi chia nhỏ các đại gia như Petrolimex, Saigon Petro và PVOil, và để tư nhân tham gia, Việt Nam mới có thể có thị trường thật sự.
Một Bộ trưởng như ông Vương Đình Huệ không nên tiếp tục dùng tài năng của mình để “ăn thua” từng đồng với các đại gia. Việt Nam đã cam kết “kinh tế thị trường” với WTO, Nhà nước không thể “điều hành giá” như thế này mãi được. Có lẽ ông Huệ cũng biết, với năng lực chi phối của các đại gia quốc doanh, cấp thứ trưởng, thậm chí bộ trưởng, chỉ là tép riu. Cạy cửa Vương Đình Huệ không được thì họ sẽ mở những cánh cửa cao hơn. Không những cần mua xăng giá rẻ, người dân còn muốn chứng kiến một Vương Đình Huệ không bị tẩm xăng đốt cháy.
Nguồn: Osin Huy Đức

Các nhà hoạt động Trung Quốc thách thức với quyền lực, đẩy mạnh bầu cử

Chris Buckley
Bắc Kinh – Hàng trăm ứng viên độc lập chạy đua để giành các ghế đại biểu hội đồng nhân dân địa phương vốn dỉ tẻ nhạt, đang mở một mặt trận mới trong cuộc tranh giành quyền chính trị ở đất nước này, thu hút cử tri ngoài phố và trên mạng Internet, bất chấp sự kiểm soát về chính trị.
Đảng Cộng sản cầm quyền nói rằng các đại hội đại biểu hội đồng nhân dân ở các tỉnh, thành, là cơ sở cho một nền dân chủ kiểu Trung Quốc. Tuy nhiên, giới phê bình cho rằng các hội đồng này – đầy những quan chức trong đảng, không có quyền kiểm soát ngân sách và không có ý định phản biện chính sách – là những ban bệ đã được thuần hóa để tạo ra cái vẻ ngoài là chính quyền từ trên xuống dưới đều được dân chúng hoan nghênh.

Thứ Năm, ngày 22 tháng 9 năm 2011

Công trình bôxit Tân Rai: Rò rỉ hóa chất ra môi trường

Ngày 21-9, ông Trần Dương Lễ – phó giám đốc Ban quản lý dự án tổ hợp bôxit nhôm Lâm Đồng – thừa nhận: “Có việc để lượng xút tàn dư từ công trình bôxit Tân Rai chảy ra môi trường, đây là một sơ suất. Hiện đã khắc phục được vấn đề này”.
Lê Dung

Tuy nhiên, đến nay người dân ở khu vực quanh công trình bôxit Tân Rai thuộc khu 6, thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng vẫn không dám sử dụng nước giếng để sinh hoạt cũng như nước ao hồ để tưới trà và cà phê…
Dân kêu

Vĩnh cửu trong lòng người


Đỗ Trung Quân
Ngày 11 tháng 9 hai tòa tháp đôi sụp đổ . Tổng thống G.Bush tuyên bố nước Mỹ bị tấn công, có nghĩa là chiến tranh đã diễn ra ngay trong lòng nước Mỹ, nơi mà người dân Mỹ tin tưởng rằng chiến tranh có ở khắp nơi trên thế giới trừ nước Mỹ. Cú chấn thương khủng khiếp ấy theo lô gic phương Đông nó sẽ hằn sâu mãi mãi trong tâm trí người Mỹ. Hình như không hẳn  vậy. Nỗi đau vẫn  được nhắc nhở mỗi lần kỷ niệm ngày đen tối ấy , nhưng dường như nó không làm người Mỹ chỉ quay nhìn ký ức đau buồn .Một tượng đài mới được dựng lên để ghi nhớ . Nó sẽ có gì qua hình ảnh thể hiện ? Lửa ? Sự đổ nát , Những gương mặt uất hờn ? Nước mắt ? Không, nó chỉ là  cái hồ nước mênh mông phản chiếu bầu trời , mây trắng in trong đấy, mặt trời soi xuống đấy . Những tên người chết được khắc chung quanh thành hồ không theo thứ tự abc nào cả, cái chết cũng bình đẳng như sự sống, nơi ấy dành chỗ cho một cành hoa , ngọn nến đặt xuống, thế thôi. Và một tượng đài khác được tặng cho nước Mỹ,  tác giả là một điêu khắc  gia danh tiếng người Nhật Bản được thể hiện  rất phương Đông . Giữa hai hình khối tượng trưng hai tòa tháp chảy xuống một giọt nước mắt. Vẫn có nước mắt, vẫn không thể không biểu tượng nỗi đau bằng nước mắt. Tư tưởng và nghệ thuật  khác nhau rồi nhé .

Lòng dân nguội lạnh?

Cu Làng Cát
Trung Quốc lên tiếng phản đối Ấn Độ hợp tác khai thác dầu khí với Việt Nam cả ở mặt trận ngoại giao và truyền thông. Huy động lực lượng giáo sư vào cuộc phản đối này một cách ráo riết.
Trung Quốc lên tiếng phản đối Ấn Độ hợp tác khai thác dầu khí với Việt Nam cả ở mặt trận ngoại giao và truyền thông. Huy động lực lượng giáo sư vào cuộc phản đối này một cách ráo riết.

Thứ Tư, ngày 21 tháng 9 năm 2011

Mẹ Việt Nam ơi!


Quách Đình Đạt
Thú thực, sau khi đọc được tin người ta định xây dựng tượng Mẹ Việt Nam anh hùng với chi phí hơn 400 tỉ, tôi cứ day dứt mãi. Dù không sinh ra trong thời chiến, nhưng qua những thước phim, lời ca, trang sách, tôi cũng vẫn cảm nhận được những hi sinh, mất mát của các Mẹ.
Khi đã sinh con ra, mẹ nào cũng muốn con mình yên ấm, hạnh phúc. Nhưng vì đất nước, các mẹ lần lượt tiễn những đứa con thân yêu ra chiến trường. Việc chăm sóc các Mẹ Việt Nam là trách nhiệm của toàn xã hội, sao cho xứng đáng với những hi sinh của mẹ và các con của mẹ cho cuộc sống thanh bình hôm nay. Tuy nhiên, việc làm như thế nào lại là một điều thực đáng suy nghĩ sao cho thấu đáo.

Đại cải cách ở Trung Quốc có thể xuất hiện sau khi Tập Cận Bình kế nhiệm


Tác giả bài viết là Nhà bình luận chính trị Trung Quốc sống tại Mỹ
Hà Tần
Vào cái năm ghi dấu ấn Hồ Cẩm Đào tiếp nhận chức Tổng bí thư, phóng viên BBC đã tới Mỹ hỏi về quan điểm của tôi. Tôi trả lời, không biết rồi Hồ Cẩm Đào có sẽ làm được cái gì không, chỉ biết rằng trước đây Hồ Cẩm Đào chưa làm được cái gì.
Từ “con tàu rách nát” đến “chiếc du thuyền sang trọng”

Thư gửi GS HOÀNG TỤY


Nguyễn Huy Canh
Tham nhũng, và cuộc đấu tranh chống tham nhũng có thể xem như là nỗi ưu tư nhức nhối của tất cả những lương tri, những nhà tư tưởng, những chính trị gia có tâm huyết với đất nước, với sự tồn vong của dân tộc này. Những điều trăn trở của GS HOÀNG TỤY về nguồn gốc sản sinh ra tham nhũng phải được xem là những ưu tư đầy trách nhiệm như thế đối với sự trong sạch của chế độ và sự phát triển của đất nước.(xem bài ”Tôi nói, cơ chế sản sinh ra tham nhũng…”-Nguồn Tạp chí Lập pháp)
Tôi đang là một giáo viên sống với đồng lương trong veo, nghèo túng, nhiều khi cũng rất bất mãn với cơ chế tiền lương hiện nay của nước nhà.Đặc biệt khi nhìn vào mức sống với trăm cách thu nhập, kiểu thu nhập của các quan chức trong cùng ngành và trong bộ máy công quyền tôi càng cảm nhận được sâu sắc sự bất công và sa đọa của bộ phận quan chức này. Và vì vậy tôi rất xúc động và cảm ơn những đòi hỏi của GS cho một đời sống, một chế độ tiền lương hợp lí trong hoàn cảnh hiện nay. Tuy nhiên, với một thái độ chân thành và kính trọng tôi vẫn muốn nói với GS đã hoàn toàn chưa đúng khi cho rằng đó chính là cơ chế phát sinh và nuôi dưỡng tham nhũng như một căn bệnh trầm kha của xã hội chúng ta. Nếu đây chỉ là cái cớ để GS bênh vực và đấu tranh cho quyền lợi những người làm công ăn lương, và đặc biệt cho  đời sống các nhà giáo và cùng với điều đó là sự phát triển của ngành GD thì rất lấy làm quí báu, và do đó chúng ta cần phải ủng hộ những đề xuất và suy tư của GS từ nhiều chục năm nay.
Nhưng nếu hiểu đây là gốc rễ của tham nhũng thì đó lại là cái nhìn lệch lạc, phiến diện và có phần ngây thơ. Cũng giống như người thầy thuốc, sẽ rất là nguy hiểm khi không nhìn thấy căn nguyên thực sự của căn bệnh
Tiền lương không đủ sống có mối liên quan tương đối mật thiết với hành vi và tư duy tham nhũng .Có rất nhiều dẫn chứng trong đời sống cho điều đó. Nhưng chúng ta cần phải nhớ rằng vì túng thiếu mà tham nhũng đó là cách tư duy, cách sống của những nông dân nhà quê, của chủ nghĩa kinh nghiệm và sản xuất nhỏ.
Tham nhũng như đang hiện hình, nảy nở trong xã hội chúng ta đã trở thành một tư tưởng, một nhu cầu, một lối sống trên một bình diện lớn hơn nhiều
Các doanh nhân cấu kết với quan chức nhà nước tham nhũng trong việc thu hồi đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng; tham nhũng trong đấu thầu xây dựng; trong cơ chế xin cho khi phân bổ nguồn ngân sách; trong cơ chế quản lí các doanh nghiệp nhà nước; trong quản lí thuế; quản lí giáo dục; trong việc xét bổ nhiệm cán bộ ở các ngành…Tiền bạc họ thu được từ tham nhũng đều là bạc triệu, bạc tỉ.(Nếu cần phải làm phép so sánh, thì tiền lương dù có tăng được đầy đủ cũng chỉ là thứ họ dùng để tiêu vặt mà thôi)
Vì vậy có thể khẳng định rằng, tiền lương không bao giờ là nguyên nhân, là gốc rễ của tham nhũng cả. Cơ chế tiền lương chỉ là một hình thái che đậy ít nhiều cái bản chất đã sinh ra nó. Cái đó chúng ta phải đi tìm từ những căn nguyên sâu xa hơn.
Một thể chế chính trị mà ở đấy toàn bộ quyền lực được tập trung vào trong tay Đảng và Nhà nước trong hình thức thống nhất, tập quyền luôn đẻ ra nguy cơ lạm quyền, tha hóa quyền lực: quyền lực phát triển thành vô hạn độ. Trong lúc tư duy về đổi mới, sửa đổi HP, GS Nguyễn Đăng Dung đã có ý kiến đúng rằng cốt lõi của HP là hạn chế quyền lực. Nhưng ông đã rất thiếu sót khi chỉ nhìn thấy quyền lực Nhà nước cần hạn chế. Ông đã không nhìn thấy thực ra quyền lực nhà nước như đang hiển hiện ra trong thực tế là rất hạn chế. Nhà nước(QH) thường chủ yếu chỉ làm cái việc thể chế hóa những nghị quyết, những quyết định của đảng đã xong. Điều này nhiều vị ĐBQH khóa trước cũng đã nói ra một cách chua xót. Không chuyển biến được một cách cơ bản cơ chế, thể chế chính trị; không hiến định được khả năng quyền lực chính trị(của Đảng và nhà nước) được kiểm soát thì tôi chắc chắn rằng chúng ta vẫn chưa với tới được ngọn nguồn sâu xa của căn bệnh tham nhũng này
Tôi ý thức rằng, khi quyền lực xã hội phải được nhân dân trao cho bằng những lá phiếu của mình(chứ không phải như được đem từ bên ngoài ấn vào xã hội thông qua quyền lực của Đảng như hiện nay) và được kiểm soát, xã hội dân sự được phát triển trở thành định chế được hiến định trong lần sửa đổi HP này sẽ là cơ sở sâu xa cho một niềm tin vào quá trình phòng chống tham nhũng có hiệu quả.
Nguồn: Quê Choa

Bản lĩnh lãnh đạo

Bản gốc

Hoàng Tụy
Cuối kỳ họp đầu tiên Quốc Hội khoá XIII nhiều vị lãnh đạo sau khi được bầu vào các chức vụ cao nhất đã long trọng hứa sẽ lắng nghe ý kiến, nguyện vọng người dân. Lời hứa đó nên được coi như lời thề, vì lịch sử cho thấy thời nào mà lãnh đạo biết gần dân, nghe dân, thì dù đất nước khó khăn đến mấy dân cũng không mất niềm tin. Mà còn niềm tin thì còn tất cả, khó khăn sẽ được khắc phục, đất nước sẽ vững bước đi lên.
Trong cuộc gặp mặt hồi tháng trước của Tổng Bí Thư với Liên hiệp KHKT đã có nhiều trí thức bày tỏ những ưu tư, trăn trở trước hiện tình đất nước đang trải qua những giờ phút nghiêm trọng như cách đây ba mươi năm. Vì không có cơ hội tham gia buổi gặp mặt, tôi xin góp câu chuyện sau để hưởng ứng cuộc trao đổi ý kiến đáng nhớ đó.
Chúng ta đều biết, trong quá trình hoạt động cách mạng, Đảng đã giành được những thắng lợi vẻ vang, đồng thời cũng đã có lúc phạm sai lầm lớn. Đặc biệt, những sai lầm trong khoảng mười năm sau thống nhất đất nước đã khiến lòng tin của dân đối với Đảng sa sút trầm trọng.

Nhưng ngay cả trong thời kỳ đen tối ấy tôi vẫn giữ được niềm tin. Đó là nhờ giữa lúc bế tắc đó, tôi đã được may mắn nhìn thấy ở các lãnh tụ Đảng một tinh thần thật sự cầu thị, bình tĩnh tiếp thu ngay cả những ý kiến mà thoạt nghe tưởng như rất khó chấp nhận.
Số là khoảng tháng 5-6 năm 1979, tôi cùng với 4 anh em trí thức khác được Tổng Bí Thư Lê Duẩn mời xuống Đồ Sơn gặp để trao đổi ý kiến về tình hình kinh tế xã hội. Kế hoạch trù định làm việc trong 2 tuần nhưng nửa chừng phải dừng lại để về Hà Nội vì có tin Phó Chủ Tịch Nguyễn Lương Bằng vừa mất.
Trong mấy ngày đó chúng tôi đã có điều kiện góp ý trực tiếp và thẳng thắn với TBT. Phát biểu đầu tiên tôi nêu thắc mắc: cùng với nhiều anh em khoa học, tôi đã cố gắng tìm hiểu nhưng vẫn chưa hiểu lý luận làm chủ tập thể là thế nào. Sau khi được TBT giải thích kỹ càng, tôi thưa lại: tất cả sự giải thich ấy tôi đã được nghe trong nhiều cuộc thảo luận chính trị, song tôi vẫn băn khoăn một điều cơ bản: ta nói làm chủ tập thể là hình thức dân chủ cao hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong lúc đó ngay dân chủ tư sản ta cũng chưa đạt được. Và để dẫn chứng tôi nêu ra nhiều việc và đọc lên cho TBT nghe mấy câu truyền miệng mà hồi đó khá phổ biến ở vỉa hè Hà Nội: năng làm thì đói, biết nói thì no, biết bò thì sướng, càng bướng càng khổ. Hồi ấy lý luận làm chủ tập thể được coi là cơ sở lý luận và điểm mấu chôt trong đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, một sáng tạo lớn của Đảng, cho nên tôi hiểu rằng tôi đã chạm một điểm nóng, cực nóng, chưa biết rồi sẽ gặp phản ứng gì.
Hôm sau, TBT nêu câu hỏi: làm thế nào chống tiêu cực (hồi ấy tiêu cực là từ dành để nói tham nhũng). Tôi đáp: với cách quản lý kinh tế như ta, không thể chống tiêu cực được. Bởi công chức cán bộ lương quá thấp, không sống nổi thì họ phải xoay xở mọi cách để sống và khi xoay xở tất nhiên không tránh được tiêu cực. Bắt đầu là tầng lớp cán bộ công chức cấp thấp nhất, rồi leo dần lên cấp cao hơn vì kinh tế càng khó khăn thì cấp cao hơn cũng dần dần không sống nổi bằng lương. Cứ thế tiêu cực sẽ đi từ cấp thấp nhất lên cấp cao dần. Có thể lúc bấy giờ tiêu cực chỉ mới lên tới cấp trung gian – cái cấp mà, như người dân mô tả, “trung ít gian nhiều” – nhưng nguy hiểm là một khi tiêu cực đã bắt đầu có chút lý do dựa vào cuộc sống để được dung thứ, thì nó sẽ phát triển không biên giới, và lây dần sang cả những cán bộ công chức mà hành vi tiêu cực hoàn toàn không thể biện minh bằng lý do cuộc sống. Không ai có thể cưỡng lại cái quy luật đó, cũng không ai dám chắc với cơ chế này tiêu cực sẽ dừng lại ở cấp nào. Nói cách khác, tiêu cực, tham nhũng gắn liền với cách quản lý, nó là một khuyết tật hệ thống của cơ chế quản lý. Vậy vấn đề là phải thay đổi cơ chế quản lý thì mới chống được tiêu cực, mới chống được tham nhũng.
Một hôm khác TBT nêu băn khoăn: ta có nhiều đơn vị tiên tiến: Duyên Hải, Đại Phong, rồi Vũ Thắng, v.v… tại sao không nhân lên nổi ? tại sao phong trào thi đua cứ đi xuống dần, cứ nhạt dần ? Tôi thưa lại: lấy ví dụ hợp tác xã Vũ Thắng là đơn vị tiên tiến trong nông nghiệp, hàng năm được Nhà Nước cấp không 1000 tấn than, lại còn bao nhiêu ưu ái khác về cán bộ, v.v…, nếu nhân lên thì cả nước lấy đâu ra đủ than, đủ cán bộ tốt, v.v.. cấp cho mọi hợp tác xã ? Theo tôi, cách quản lý kinh tế như vậy chỉ có TQ và ta làm, mà cả hai đều thất bại. Còn về thi đua thì phải thấy rằng ở LX phong trào stakhanovit có thể thành công vì đó là thi đua giữa công nhân nhà máy, ở đó năng suất lao động từng người có thế đánh giá bằng những số liệu khách quan. Nếu áp dụng cho các ngành khác, ví dụ giáo dục, thì làm gì có những số liệu khách quan như thế, cho nên thi đua sớm muộn sẽ dẫn đến báo cáo thành tích giả tạo (chẳng hạn, nếu lấy tiêu chí thi đua là ít học sinh bị đúp lớp thì chắc chắn mau chóng sẽ không còn học sinh bị đúp nhưng không vì thế mà chất lượng giáo dục tăng lên, trái lại). Cho nên ở LX ngay từ 1935 đã có chỉ thị của Hội đồng Bộ trưởng bãi bỏ thi đua trong giáo dục. Tại sao ta không rút kinh nghiệm việc ấy mà cứ máy móc áp dụng thi đua trong mọi ngành ? Trong kháng chiến khi tinh thần yêu nước, hy sinh chịu đựng rất cao, hơn nữa thành tích thi đua không gắn liền với quyền lợi vật chất thiết thực thì thi đua ít bị méo mó, còn ngày nay, khi lợi ích vật chất ngày càng lấn át lợi ích tinh thần, thì thi đua trong nhiều ngành rất dễ trở thành không lành mạnh. Vì vậy tôi đề nghị nên xem lại việc mở rộng máy móc thi đua trong mọi ngành, đặc biệt trong giáo dục.
Ngoài ra dĩ nhiên chúng tôi còn góp nhiều ý kiến khác, xung quanh việc coi trọng lợi ích vật chất, mở rông quyền tự chủ của các xí nghiệp, bãi bỏ ngăn sống cấm chợ, v.v…. Thậm chí khi bàn về chính sách nông nghiệp có người đã không ngần ngại chỉ rõ: chính sách của Đảng đã bần cùng hoá nông dân. Tóm lại, thật sự đã có không khí nói thẳng nói thật trong mấy ngày đó.
Điều bất ngờ với chúng tôi là trước những ý kiến gai góc mà trước đó lãnh đạo chưa từng nghe bao giờ, TBT dù rất buồn vẫn không tỏ ý bực dọc mà vẫn bình tĩnh, đĩnh đạc cùng chúng tôi trao đổi, thảo luận trong không khí cởi mở, thân thiện.
Sau đó một thời gian ngắn có Hội nghị TƯ thứ 6. Vào lúc đó tôi chuẩn bị đi Canada. Ngay trước ngày lên đường, tôi được Thủ Tướng Phạm Văn Đồng mời cơm và căn dặn mấy điều nhờ tôi nhắn nhủ với anh chị em trí thức Việt kiều. Thủ Tướng cho biết: những ý kiến các anh góp vừa qua ở Đồ Sơn rất tốt, kỳ này chúng ta sẽ chuyển hướng mạnh. Về sau tôi được biết Hội nghị TƯ 6 đã có nghị quyết lịch sử, với nhiều thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức và chủ trương. Bỏ ngăn sông cấm chợ, nhân dân được tự do làm ăn hơn, lợi ích vật chất được coi trọng hơn, không còn xây dựng các điển hình tiên tiến theo kiểu hợp tác xã Vũ Thắng, và chuyện thi đua trong giáo dục cũng dần dần lui vào quá khứ (mãi gần đây mới được dựng lại do sự trổi dậy của tư tưởng thành tích, gây ra gian dối, quan liêu, tiêu cực mà người ta vẫn muốn nhắm mắt làm ngơ).
Theo tôi tư duy đổi mới đã thật sự hình thành từ Hội nghị TƯ 6, tuy chưa quyết liệt và còn phải vất vả mấy năm nữa mới trở thành đường lối đổi mới chi phối toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội mà nhờ đó chúng ta đã vượt qua được khủng hoảng gay gắt những năm 80.
Kể lại câu chuyện trên tôi muốn nói rằng ngay khi khó khăn nhất, nếu lãnh đạo chịu khó lắng nghe những tiếng nói tâm huyết ngược với lời ca tụng thông thường thì không những lấy lại được niềm tin mà còn tìm ra được lối thoát. Còn như cứ thich nghe những lời tán tụng đường mật thì đó chính là con đường dẫn tới huỷ hoại niềm tin, mà mất niềm tin thì mất hết, đúng như nguyên Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết đã cảnh báo.
Điều làm tôi xót xa là cái thái độ thật sự cầu thị của các lãnh đạo ngày nào dường như ngày càng hiếm thấy trong bộ máy quyền lực. Không chỉ ở cấp lãnh đạo cao nhất mà ngay trong từng ngành, đã có biết bao ý kiến, đề nghị tâm huyết của trí thức am hiểu đã bị bỏ qua mà cái giá phải trả ngày càng lộ rõ.
Trong khi đó tệ nạn tiêu cực, tham nhũng đã diễn biến đúng như dự báo, nghĩa là từ cấp thấp nhất đã leo dần lên mọi cấp và lan ra toàn xã hội. Đến mức mà khi kỷ niệm ngày sinh thứ 90, Cố vấn Phạm Văn Đồng đã phải thốt ra: căn nhà của chúng ta quá nhiều rác rưởi dơ bẩn, phải quét sạch đi thì sự nghiệp cách mạng mới có thể thành công. Từ đó đến nay, rác rưởi chỉ tăng lên, ngập dần cả những tầng cao. Thật chua xót.
Đã qua hơn một phần ba thế kỷ từ ngày thống nhất đất nước mà trước mắt vẫn còn đó các vấn đề hệ trọng sống còn, với những khó khăn, thách thức có phần, có mặt phức tạp gay gắt hơn.
Nhưng cũng thật kỳ diệu: ngày nay trong giới trí thức và các tầng lớp nhân dân những tấm lòng yêu nước, yêu dân, những ý kiến xác đáng, những việc làm đẹp đẽ vì Tổ Quốc thân yêu ngày càng nhiều và dễ thấy, miễn là chịu nhìn, chịu thấy, chịu lắng nghe. Đó là niềm tin và hy vọng của chúng ta.
Nguồn: Viet-studies

Thứ Ba, ngày 20 tháng 9 năm 2011

Trí thức là trí tuệ của dân tộc

Đã đến lúc phải bước nhanh hơn trên lộ trình dân chủ để huy động được sức mạnh của toàn dân, của trí thức trong và ngoài nước để chống ngoại xâm, xây dựng đất nước trên những cơ sở bền vững hơn; tăng cường  dân chủ là để xây dựng chính quyền mạnh chứ không phải làm cho chính quyền yếu đi.
Vĩnh Khánh phỏng vấn NNC Nguyễn Đắc Xuân
Ông hiểu như thế nào về trí thức? Họ là ai, họ có những phẩm chất gì? Họ khác với các hạng người, giai tầng khác chỗ nào?
Nguyễn Đắc Xuân.- Muốn hiểu trí thức là gì, vào Google trên Net sẽ có hàng chục định nghĩa. Tôi vốn ít viết, ít nói về lý thuyết mà thường là căn cứ trên hiện thực cuộc đời. Do nghề nghiệp cầm bút tôi đã gặp các đối tượng được gọi là “chuyên viên”, “các nhà khoa bảng”, thuộc tầng lớp trên của xã hội. Thông thường họ cũng gọi chung hai đối tượng trên là “trí thức” (ví dụ như khi đi họp Mặt trận, hay đưa người ra ứng cử HĐND, ứng cử Quốc hội.v.v). Gọi thế không sai, nhưng không đúng với ý của bạn muốn hỏi tôi. Chuyên viên là một người hiểu biết rộng về một ngành nghề nào đó. Sự hiểu biết đó do họ tự học, tự nghiên cứu mà có. Nếu do họ được đào tạo và được xác nhận bởi các học vị, học hàm Giáo sư, Thạc sĩ, Tiến sĩ, khi ấy họ trở thành các nhà khoa bảng. Các chuyên viên, các nhà khoa bảng muốn được xem là trí thức, họ phải mở rộng thêm tri thức về chính trị nhân văn, xã hội, có những trải nghiệm chứng tỏ họ biết nhiều, hiểu rộng, có tầm nhìn xa, nhiều việc xảy ra đúng với nhận định của họ trước đó. Như thế cũng chưa đủ. Họ phải có nhân cách cao. Nhân cách cao nhất là tinh thần phục vụ quốc gia, dân tộc. Cha ông ta xưa nói “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Nay ta có thể cập nhật hóa rằng “Tầng lớp trí thức là trí tuệ của dân tộc”.  
Trong lịch sử dân tộc, theo ông, tầng lớp trí thức đã ra đời từ lúc nào? , trong hoàn cảnh nào?


Nguyễn Đắc Xuân.- Tôi chưa có dịp nghiên cứu về lịch sử ra đời của tầng lớp trí thức Việt Nam. Trong chiến tranh tôi thường nghe câu nói rất chí lý “ Dễ trăm lần không dân cũng chịu, Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Dân tức là không phải chính quyền, không phải tầng lớp cai trị, giải quyết những cái khó của đất nước là dân, dân trong thực tế là anh hùng và trí thức. “Thời thế tạo anh hùng”. Đọc lịch sử VN, ta thấy có anh hùng là Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung.v.v. và thời thế cũng làm xuất lộ những trí thức: Sư Vạn Hạnh, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, La Sơn Phu Tử, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phan Văn Trường, Võ Nguyên Giáp, Phan Anh, Hoãng Xuân Hãn, Nguyễn Khắc Viện.v.v. Nhiều anh hùng cũng là trí thức (Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo) và nhiều trí thức cũng là anh hùng (Võ Nguyên Giáp). Nói tóm trí thức ra đời khi đất nước gặp những vấn đề khó.
Như ông nói :“Tầng lớp trí thức là trí tuệ của dân tộc”, tôi hiểu theo ý ông Trí thức là tinh hoa của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc. Trí thức luôn gắn liền với vận nước và có tiếng nói quan trọng với vận nước. Trí tuệ của trí thức là trí tuệ của dân tộc để chèo lái vận mệnh dân tộc trong những lúc vận nước cam go nhất. Thế nhưng hình như trong lịch sử số phận của trí thức luôn được xác định có một khoảng cách đáng kể với nhà cầm quyền. Có điều đó không?
Nguyễn Đắc Xuân.- Trong lịch sử có điều đó.
Tại sao vậy?
Nguyễn Đắc Xuân.- Theo tôi về bản chất chính quyền và tầng lớp trí thức có tư duy khác nhau. Chính quyền luôn luôn muốn xã hội ổn định để cai trị theo ý mình, trí thức luôn luôn muốn khắc phục những nhược điểm do hoàn cảnh phát sinh, thay đổi cải tổ để xã hội tốt hơn, để người dân được sống hạnh phúc hơn cả về vật chất lẫn tinh thần. Chỉ có những lúc thịnh thời thì chính quyền mới có trí thức đứng bên cạnh.
Có ý kiến cho rằng, trên cả thế giới chứ không riêng gì một nước nào, trí thức là một đội ngũ dễ và hay bị phân hóa nhất. Có điều đó không? Tại sao vậy?
Nguyễn Đắc Xuân.- Đó là một ý kiến, chứ chưa hẵn là một thực thể của tầng lớp trí thức. “Tầng lớp trí thức” là một cái tên gọi chung các cá thể trí thức, chứ không phải một tổ chức gồm nhiều trí thức. Trí thức có tư duy riêng lẽ, họ hoạt động, sống theo tư duy và nhân cách của mình. Trí thức chỉ gặp nhau trong các hoạt động phụng sự dân tộc (dù họ chưa quen nhau, ở cách xa nhau trong nhiều quốc gia), hay họ gặp nhau vì cùng một quan điểm về một việc cụ thể nào đó của dân tộc; Ví dụ như việc xây dựng một nền Đại học quốc gia VN ngang tầm Khu vực và thế giớichẳng hạn. Trí thức có “kết” đâu mà bảo “phân”? Một trí thức mà không làm chủ được mình thì chưa đủ phẩm chất của một người được gọi là trí thức.
Có người bảo tại họ trong sáng, rành mạch hơn trong nhận thức và tình cảm nên dễ tin và vì vậy dễ bị mê hoặc và phân hóa?
Nguyễn Đắc Xuân.- Một trí thức đã “trong sáng rành mạch”  thì họ chỉ tin những gì cũng trong sáng rành mạch. Họ sẽ từ chối những gì tối tăm, uẩn khúc, không rành mạch. Vậy làm sao họ lại có thể “dễ tin và dễ bị mê hoặc” được?. Còn chuyện “phân hóa”, như tôi đã giải thich ở trên: trí thức họ có kết đâu mà bảo họ “phân hóa”? Tuy nhiên, lịch sử cũng cho thấy “các thánh” có khi còn nhầm, huống chi con người, trí thức cũng là con người thôi. Nhưng trí thức thật, sau khi bị nhầm, họ biết mình nhầm, nói ra được điều mình nhầm là trí thức vậy. Còn như nhầm mà không biết mình nhầm là không phải trí thức!
Trở lại với lịch sử Việt Nam, theo ông thì giai đoạn lịch sử nào, hay là bước ngoặt lịch sử nào của đất nước đã chứng minh rõ ràng nhất vai trò của đội ngũ trí thức nước nhà?
Nguyễn Đắc Xuân.- Trong phạm vi nghiên cứu lịch sử hạn hẹp của tôi, tôi thấy vai trò của các trí thức Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhâm, La Sơn Phu Tử đã giúp cho sự thành công của triều Quang Trung, trong sự nghiệp đánh giặc cũng như trong việc ngoại giao với nhà Thanh; các trí thức Nam bộ giúp cho vua Gia Long xây dựng nên nền móng của triều Nguyễn về nhiều mặt; trí thức Việt Nam ở Hà Nội, Huế, Nam Bộ đã giữ một vai trò quan trọng trong Cách mạng Tháng 8/1945 và buổi đầu kháng chiến chống Pháp; Trí thức Huế và Sài Gòn giữ vai trò hiệu triệu rất có kết quả trong kháng chiến chống Mỹ. v.v.
Phẩm chất của trí thức theo tôi là một hằng số, ít thay đổi. Vậy điều gì đã giúp cho giới trí thức trong những giai đoạn đó khẳng định được, làm nên được những công trạng to lớn đó với dân tộc?
Nguyễn Đắc Xuân.- Đó là ý thức trách nhiệm của người trí thức với quốc gia, dân tộc.
Xuyên suốt lịch sử dân tộc, theo ông, các nhà cầm quyền, các bậc minh quân của dân tộc đã có nhữngbí quyết nào để tập hợp và phát huy vai trò không thể thay thế của giới trí thức?
Nguyễn Đắc Xuân.- Mỗi triều đại, mỗi cá nhân có những bí quyết riêng để tập hợp và phát huy vai trò không thể thay thế của trí thức. Thông thường thì các bậc minh quân, các nhà cầm quyền biết đánh giá đúng chất xám của trí thức, tín nhiệm họ, giao cho họ công việc của đất nước hợp với khả năng của họ nhất và đãi ngộ xứng đáng với những gì họ đã đóng góp cho đất nước.
Theo ông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những bài học nào sâu sắc nhất về vấn đề này?
Nguyễn Đắc Xuân.- Bác Hồ đã thực hiện đúng cái bí quyết thông thường tôi vừa nói trên. Bác tín nhiệm và giao chính quyền cho Huỳnh Thúc Kháng khi Bác đi Pháp năm 1946, giao việc quân sự cho Võ Nguyên Giáp, giao việc chế tạo vũ khí cho Trần Đại Nghĩa, giao y tế cho Tôn Thất Tùng, Phạm Ngọc Thạch, giao văn hóa cho Nguyễn Văn Huyên.v.v.
Đất nước ta đã có sự phát triển khá nhanh trong những năm qua. Việt Nam bây giờ đã có tầm vóc mới để có thể tự tin hơn trong sự tự quyết định vận mạng của mình. Chúng tôi nghĩ, trong sự vận động phát triển hiện nay của đất nước, trí thức có vị trí và trách nhiệm rất lớn. Ông có cảm nhận như thế về vai trò trách nhiệm đó của giới trí thức nước nhà hiện nay? Họ đã thể hiện vai trò của mình như thế nào với sự tồn tại và phát triển của đất nước?
Nguyễn Đắc Xuân.- Đã gọi là trí thức thì bao giờ họ cũng thấy trách nhiệm của mình với quốc gia, dân tộc, họ luôn trăn trở với những vấn đề làm cản ngại sự phát triển của dân tộc, vấn đề giữ gìn nền độc lập, giữ gìn sự thống nhất của đất nước .v.v. Vấn đề phải quan tâm là chính quyền có thực hiện bài học của Bác Hồ về việc sử dụng trí thức hay chưa? Nếu chưa hay đã làm mà chưa đầy đủ thì trước tiên trí thức phải có trách nhiệm nhắc chính quyền về bài học của Bác Hồ để lại. Loại ra ngoài bọn giả trí thức, bọn mua bằng để chạy chức, giữ chức, trí thức Việt Nam hiện nay – đối với những người tôi quen biết – ít nhất có 4 hoàn cảnh xuất thân khác nhau: 1. Trí thức xã hội chủ nghĩa (ví dụ như Hoàng Tụy, Trần Thanh Đạm, Phan Huy Lê, Nguyên Ngọc, Dương Trung Quốc, Mai Quốc Liên, Đặng Nhật Minh, Nguyễn Huệ Chi, Chu Hảo.v.v.), 2. Trí thức ở các đô thị miền Nam trước năm 1975 (Nguyễn Nhã, Vũ Hạnh, Bửu Ý, Nguyễn Hữu Thái, Tôn Nữ Thị Ninh, Bùi Trân Phượng, Thái Ngọc Dư .v.v.) 3. Trí thức Việt Nam định cư ở nước ngoài (Pháp: Thích Nhất Hạnh, Lê Thành Khôi, Cao Huy Thuần, Lê Huy Cận, Lê Bá Đảng, Đặng Tiến; Bỉ: Nguyễn Đăng Hưng; Mỹ: Trần Chung Ngọc, Bùi Duy Tâm, Bùi Minh Đức, Nguyễn Bá Chung, Lê Xuân Khoa, Tôn Thất Chiểu, Đinh Cường, Nguyễn Hữu Liêm, Trần Quang Thuận; Nguyễn Mộng Giác; Úc: Nguyễn Xuân Thu, Quán Như Phạm Văn Minh, Canada: Huỳnh Hữu Tuệ, 4. Trí thức trưởng thành sau năm 1975 ở trong và ngoài nước (Ngô Bảo Châu (Mỹ), Nguyễn Văn Tuấn (Úc), Lê Tự Quốc Thắng (Mỹ), Hồ Anh Tài (Hà Nội), Nguyễn Quang Thiều (Hà Nội). v.v.  Muốn thấy được sự “thể hiện vai trò của mình (trí thức) như thế nào với sự tồn tại và phát triển của đất nước” trước hết phải tìm hiểu họ đang nghĩ về tình hình đất nước hiện nay như thế nào, họ nhận thức như thế nào về lịch sử VN đương đại, và họ đang làm gì cho đất nước. Qua tiếp xúc trong đầu tôi có những ý tưởng sau đây:
- Trí thức xem việc thống nhất đất nước năm 1975 là một sự kiện lịch sử trọng đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại ngang hàng với các anh hùng dân tộc như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung.
- Lý luận về việc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay chưa thuyết phục được trí thức mà cần phải tiếp tục được nghiên cứu để phù hợp với những điều kiện mới của thời đại và đất nước.
- Đã đến lúc phải bước nhanh hơn trên lộ trình dân chủ để huy động được sức mạnh của toàn dân, của trí thức trong và ngoài nước để chống ngoại xâm, xây dựng đất nước trên những cơ sở bền vững hơn; tăng cường  dân chủ là để xây dựng chính quyền mạnh chứ không phải làm cho chính quyền yếu đi.
- Phải tuyên chiến với quốc nạn tham nhũng.
- Chính quyền cấp này cấp khác, chỗ này chỗ nọ có thể có điều nầy, việc nọ chưa phải, trí thức không ủng hộ, nhưng nhân dân, dân tộc không bao giờ sai lầm, nhân dân luôn luôn cần đến sự đóng góp trí tuệ của trí thức.
Vậy trí thức hiện nay cần thể hiện vai trò của mình như thế nào?
Nguyễn Đắc Xuân: Cùng khát vọng phụng sự dân tộc nhưng mỗi người, mỗi nhóm có những thể hiện khác nhau.
- Chưa làm được việc lớn thì làm việc nhỏ; ví như vào các thư viện quốc tế, vào kho lưu trữ của Trung Quốc sưu tập tư liệu chứng minh một cách khoa học Hoàng Sa, Trường Sa thuộc vùng biển VN; nghiên cứu luật pháp quốc tế để sẵn sàng đối chất với Trung Quốc trước Tòa án quốc tế chẳng hạn.
- Chưa làm cho nhà nước thì làm cho tư nhân, làm cho ngoại quốc để gián tiếp giúp nước như dạy sinh viên VN trong các Đại học quốc tế chẳng hạn.
- Vận động các chính phủ, các tổ chức quốc tế ủng hộ VN  về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội như chương trình chống Viêm gan B của BS Bùi Duy Tâm ở Hoa Kỳchẳng hạn;
- Kiên trì thuyết phục chính quyền quan tâm đến việc sử dụng chất xám đúng chỗ; không ngừng phản biện trên tinh thần xây dựng về những vấn đề liên quan đến quốc gia dân tộc của chính quyền.v.v. Đã là trí thức dấn thân thì khi chưa được làm lợi cho dân bằng chiều dọc, thì cũng tìm cách làm lợi cho dân theo chiều ngang. Trí thức không bao giờ ngồi yên.
Về một phương diện nào đó, trí thức là đại biểu, đại diện cho nền văn hóa dân tộc. Vận nước đang rất cần trí tuệ và bản lĩnh của giới trí thức. Vậy theo ông,  Đảng và Nhà nước cần làm gì thiết thức và cụ thể để tập hợp đông đảo hơn, củng cố khối đoàn kết thống nhất bền chặt hơn, phát huy mạnh mẽ hơn vai trò và trách nhiệm của giới trí thức trong giai đoạn lịch sử hết sức quan trọng này của đất nước.
Nguyễn Đắc Xuân.- Về bài học sử dụng trí thức Bác Hồ đã để lại còn mới nguyên đó. Đảng và nhà nước chỉ cần bàn kế hoạch cụ thể để thực hiện thôi. Vấn đề tôi băn khoăn là những ai có đủ trình độ, có sự kính trọng trí thức, có lòng bao dung, có đủ thông tin để thiết lập nên một kế hoạch sử dụng trí thức như thời Bác Hồ? Từ kế hoạch đến khâu thực hiện có thoát khỏi những tay chạy chức chạy quyền, những người buôn quan, bán chức hiện nay không? Hay lại trở thành một cơ hội để cho bọn trí thức dỏm trong và ngoài nước ùa đến làm xấu mặt trí thức trước nhân dân mà thôi. Hôm nay trả lời bạn thế này là do những trải nghiệm của tôi, do tôi rút kinh nghiệm từ cuộc đời 45 năm theo cách mạng của tôi. Chỉ có thực tế mới trả lời được những vấn đề của cuộc sống. Thế thôi.
Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi này.
Nhà văn, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân(1937) xuất thân trong phong trào đô thị miền Nam, tham gia kháng chiến chống Mỹ (1966 – 1975), Hội viên Hội nhà văn VN, Hội nhà báo VN, Hội sử học VN, chuyên nghiên cứu lịch sử, văn hóa triều Nguyễn và Huế, đã xuất bản khoảng năm chục đầu sách. Trước khi nghỉ hưu ông là Trưởng Văn phòng đại diện báo Lao động tại Miền trung và Tây nguyên.
Nguồn: VHNA

Hội nghị Diên Hồng ngược


Huỳnh Ngọc Chênh
Khi quân Nguyên tàn phá non sông, vua Trần cho vời các vị bô lão về kinh để xin ý kiến: Nên hòa hay nên chiến? Nên chiến! Đó là tiếng trả lời dõng dạc của các vị bô lão đại diện cho các tầng lớp nhân dân.
Hội nghị Diên Hồng lịch sử được vua Trần tổ chức, không những chỉ nhằm vào việc xin ý kiến của các bô lão là những người đại diện cho các tầng lớp nhân dân mà còn nhằm vào mục đích quan trọng hơn là thu hút sự ủng hộ của toàn dân vào công cuộc kháng chiến, tạo ra mối đoàn kết gắn bó giữa nhân dân với nhà cầm quyền trước tình thế hiểm nghèo của đất nước.
Nhờ vào khối đoàn kết bền vững và to lớn ấy mà nhà Trần đã 3 lần tổ chức kháng chiến thành công chống lại quân Nguyên hung hản đã từng gieo rắc kinh hoàng trên vùng đất rộng lớn trải dài từ Trung Hoa đến Châu Âu.

Nhà Hồ đã không làm được điều ấy trước cuộc chiến xâm lược của quân Minh do thiếu sự ủng hộ của toàn dân bởi lòng họ lúc ấy ly tán do bất mản trước việc soán nghịch của họ Hồ.


Một lần nữa, đất nước lại đối mặt với những thách thức to lớn. Cường quốc phương Bắc chưa bao giờ  hung hăng và gian trá như hiện nay. Biển Đông đang bị uy hiếp càng ngày càng nặng nề. Việc khai thác tài nguyên khoáng sản trên đất liền phần lớn đang vào tay các công ty TQ. Nền công nghiệp sản xuất lệ thuộc quá nhiều vào máy móc thiết bị và nguyên liệu cái của TQ. Lao động phổ thông không phép của TQ đã đông lên hàng sư đoàn. Chưa một quốc gia còn chủ quyền nào trên thế giới lại cho lao động nước ngoài vào làm lậu trên nước mình dễ dàng và đông đảo đến như vậy…
Lo lắng trước vận nước, các bô lão thời nay đã không thể ngồi yên. Trong vài năm trở lại đây, hàng loạt các góp ý và kiến nghị được gửi lên nhà cầm quyền. Trong hàng ngũ cán bộ cao cấp của Đảng Cộng Sản thì có kiến nghị hoặc góp ý của các ông Võ Văn Kiệt, Trần Độ, Nguyễn Hộ, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn An, Nguyễn Trọng Vĩnh…Rồi mới đây hàng loạt kiến nghị ký tên tập thể của các nhân sỹ trí thức trong nước như kiến nghị về vấn đề khai thác Bauxite, Kiến nghị về vụ án Cù Huy Hà Vũ, Kiến nghị về việc cấm biểu tình, Kiến nghị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay… Mỗi kiến nghị ký tên đến hàng ngàn người trong đó phần lớn là các nhân sỹ trí thức được xã hội kính trọng, có thể kể tên một số ít ra đây như: Nguyên Ngọc, Tống Văn Công, Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Quang A, Lê Hiếu Đằng, Phạm Xuân Nguyên, Chu Hảo, Tương lai, Hà Sỹ Phu, Bùi Minh Quốc, Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Xuân Diện,Trần Quốc Thuận, Đặng Thị Hảo, André Menras Hồ Cương Quyết, Lữ Phương, Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, Phạm Đình Trọng, Hoàng Lại Giang, Cao Lập, Hạ Đình Nguyên, Hoàng Tụy, Nguyễn Đình An….
Mới đây nhất là Thư ngỏ gửi các nhà lãnh đạo Việt nam về hiểm họa ngoại bang và sức mạnh dân tộc được ký tên bởi 36 nhân sỹ trí thức hải ngoại. Để có được lá thư nầy, những trí thức đáng kính đó đã vượt qua các định kiến, các ngăn cách và nhiều vật cản, từ tầm nhìn rộng mở của họ, đã rút ruột viết ra những lời góp ý tâm huyết với mong muốn sao cho đất nước vượt qua cơn hiểm nghèo và vươn lên theo kịp thế giới.
Rồi chưa nói hàng ngàn bài viết khác của những người có trách nhiệm trong và ngoài nước đăng trên các phương tiện truyền thông cũng tập trung vào việc góp ý kiến cho các nhà lãnh đạo về các vấn đề bảo vệ và xây dựng đất nước.
Một hội nghị Diên Hồng tự phát, một hội nghị Diên Hồng ngược mà các bô lão thời nay đã tự đứng ra tổ chức để dâng hiến ý kiến lên cho lãnh đạo. Ngày xưa vua Trần phải mời các vị bô lão về kinh để xin ý kiến. Ngày nay ý kiến từ khắp mọi nơi được tập trung dâng lên nhà cầm quyền.
Thế nhưng tất cả đều rơi vào chỗ nín thinh đáng sợ. Mà đáng sợ thật trước vận nước như hiện nay.
Nhà cầm quyền dựa vào ai để lo cho vận nước mà không cần dựa vào dân nhỉ?

Nhà văn Nguyễn Quang Lập


Mặc Lâm
Trong vài năm trở lại đây hàng ngàn trang blog liên tiếp nổi lên với nhiều khía cạnh hấp dẫn người đọc khi mà những trang báo giấy ngày càng rời xa độc giả do bị ràng buộc và viết theo định hướng bởi guồng máy nhà nước. Các trang blog nhanh chóng thay thế báo lề phải để chuyển tải thông tin cũng như những bài viết chắc chắn không thể xuất hiện trên bất cứ tờ báo nào trong nước.

Bọ Lập và trang blog “Quê Choa”

Trang blog “Quê Choa” của nhà văn Nguyễn Quang Lập ngay từ ngày đầu tiên ra mắt đã được công dân mạng chú ý. Có thể do tên tuổi của anh đã có từ trước và cũng có thể do cách viết khá độc đáo đã làm người đọc chú ý, thích thú và chuyền nhau đường link tới trang này.

Số người vào trang “Quê Choa” cho tới nay đã lên hơn chục triệu lượt. Con số lớn lao này đã nói lên sự thành công của trang “Quê Choa” một cách thuyết phục và một phần do chính hai tác phẩm xuất phát từ trang blog này được in ra trên sách đã như sức hút khó kềm lại đối với công dân mạng.
“Ký ức vụn” in ra năm 2009 trở thành best seller đối với thị trường sách Việt Nam khiến trang blog “Quê Choa” càng nổi tiếng hơn. Quyển tạp văn này mang một nét mới của văn học Việt Nam do cách kể chuyện bằng khẩu văn của tác giả. Nhiều bài điểm sách cho rằng cách kể chuyện của Nguyễn Quang Lập làm người ta say mê. Đọc nó như đọc Kim Dung và không thể bỏ quyển sách xuống khi chưa tới trang cuối.
Nguyễn Quang Lập thích được gọi là Bọ Lập, bởi quê hương Quảng Bình luôn theo anh trong mọi trang sách anh viết ra. Phương ngữ đặc thù Quảng Bình làm nên tên blog “Quê Choa”, và Bọ Lập đi đâu cũng kín đáo giới thiệu nét đặc thù của quê anh qua cách viết, cách kể chuyện bằng chính ngôn ngữ quê hương mình.

Nhà viết kịch xuất sắc

Nguyễn Quang Lập nổi tiếng trước khi viết blog và tạp văn. Anh sáng tác trên nhiều lãnh vực trong đó có văn học, kịch bản sân khấu và kịch bản điện ảnh. Tác phẩm “Đời cát” do anh viết kịch bản phim đoạt giải vàng Liên hoan phim Châu Á-Thái Bình Dương, giải Bông sen Vàng Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 13 và nhiều giải thưởng khác. Phim “Thung lũng hoang vắng” cũng do anh viết kịch bản đoạt giải Fipresci, Bông Sen Bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 13. Cũng trong Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 13, với thành công của Đời cát và Thung lũng hoang vắng, Nguyễn Quang Lập được trao giải Nhà biên kịch xuất sắc nhất.
Nhà văn Nguyễn Quang Lập muốn chúng tôi gọi anh là Bọ đúng theo tinh thần mà anh vẫn giữ như từ trước tới nay: gắn bó và viết từ dòng chảy của non nước Quảng Bình. Trước tiên Bọ cho chúng ta biết về giai đoạn đầu khi anh chính thức bước chân vào sáng tác văn học:
Nguyễn Quang Lập: Lúc đầu tôi định viết một cuốn sách tầm cỡ theo kiểu Mỹ La tinh, ảnh hưởng của Marquet, dự định có tựa là “Bảy mươi chín niềm tin”, viết khoảng 80 trang A4. Khi đó nghe tin Nguyễn Văn Linh gặp gỡ các nhà văn Hà Nội, đổi mới mà …. cho nên mình háo hức quá nên dẹp luôn ý tưởng của “Bảy mươi chín niềm tin”, và dự định viết về hiện thực phê phán. Cuốn“Những mảnh đời đen trắng” bị ảnh hướng rất lớn nhờ buổi nói chuyện của ông Nguyễn Văn Linh và niềm tin rất là thành thật. Mấy cuốn này mình viết trong vòng hai mươi ngày.
Mặc Lâm: Và sau đó thì cuốn sách này bị đánh dữ lắm phải không?
Nguyễn Quang Lập: Sau đó thì bị đánh kinh lắm! Khoảng bảy tám chục bài, các báo địa phương lẫn báo trung ương cũng như một chương trình truyền hình của đài Quân đội trung ương họ tổ chức đánh tôi một cách rất nặng nề, đại khái thế. Nó đấu tố đến mức mà ông Vũ Tú Nam, ông nhà văn rất hiền lành cũng phải phản ứng. Ông phản ứng với chương trình đó.
Mặc Lâm: Thế bọ có thể kể chuyện về viết kịch bản điện ảnh…câu chuyện xảy ra như thế nào? Chắc là hấp dẫn lắm, bởi đoạt luôn một lúc mấy cái huy chương…
guyễn Quang Lập: Tất cả những gì tôi làm đều xuất phát từ một cái gọi là đói! Tôi phải kiếm tiền kể cả văn chương lẫn tất cả mọi thứ, trừ thơ ra! Từ khởi điểm bắt đầu mình làm thơ thì rất hồn nhiên. Thích thì làm thôi, còn mọi việc trên đời này đều do nhu cầu kiếm sống!
Năm 94-95 tôi đem cả gia đình ra Hà Nội, lúc đó khổ lắm, làm cái nhà nhưng bị thiếu tiền, bạn tôi là đạo diễn Vương Đức ông ấy bảo là “tại sao mày thiếu tiền mà không hỏi mượn tao?” Sau đó ông cho tôi vay 700 đô! 700 đô hồi ấy lớn lắm. Sau khi tôi làm nhà xong các thứ ông ấy nói “bây giờ tao không bắt mày trả tiền tao đâu, mày làm phim đi tao trừ số tiền đó cho mày“. Đây là loại phim TV, phim 1 tập.
Sau đó tôi làm phim truyện “Ngày nghỉ phép cuối cùng” đó là phim đầu tay của tôi, phim video một tập. Còn phim thứ hai là phim “Đời cát“, phim này do Thanh Vân đưa truyện ngắn cho tôi bảo tôi chuyển thành kịch bản phim.
Mặc Lâm: Và khi “Đời cát” xuất hiện thì khán giả đón nhận như thế nào?
Nguyễn Quang Lập: Lúc đầu khi mới chiếu thì phim này không ai xem cả. Không phải vì phim dở mà bởi vì cái thói quen của người dân người ta không đến rạp vì không thích xem phim Việt Nam cho nên phim Việt Nam mà lại đầu đề là “Đời cát” thì chả ai màng.
Một hôm tôi đến rạp Tháng Tám, lúc đó đến giờ chiếu rồi mà trong rạp chỉ có tám người! Nhưng khi cuộn phim này được giải thì người xem khủng khiếp luôn! Người xem phim đông nghịt, tất cả các rạp trong cả nước một ngày chiếu ba xuất vẫn không phục vụ nổi,. Đây chỉ là hiệu ứng giải thưởng thôi chứ không phải là gì cả.

Nhờ blog viết nhiều hơn

Mặc Lâm: Sau tai nạn tưởng chừng như cướp mất luôn trí tuệ của Bọ làm cách nào mà Bọ chống chỏi lại được hoàn cảnh gần như liệt nửa người để mà bước chân vào không gian mạng như một người chuyên nghiệp? Trước đó thì thế giới computer đối với Bọ ra sao?
Nguyễn Quang Lập: Một điều bất ngờ là năm 1996 tôi đến chơi nhà của Bảo Ninh tôi thấy có một máy vi tính và tôi rất phục. Tôi không biết làm sao mà nó vận hành được như vậy. Phục lắm nhưng trong đời mình chưa bao giờ có một cái máy vi tính cả. Hồi đó mình quan niệm rất là ấu trĩ, viết văn thì phải viết bằng giấy! Viết bằng máy thì chẳng ra làm sao cả! Phải có tâm, chuyển từ óc xuống tay mình cầm bút mới được, chứ máy vi tính thì chả là gì đâu!
Nhưng cuối cùng thì vợ kê cho một máy tính trên giường, vì không đi được. Trước tiên chỉ tập đánh máy thôi.
Mặc Lâm: Còn việc viết blog thì diễn tiến ra sao? hình như lúc đó các trang blog chưa thịnh hành lắm làm sao Bọ phát hiện được việc viết blog sẽ ảnh hưởng tới người đọc?
Nguyễn Quang Lập: Thật sự tôi hoàn toàn không biết gì về blog! Có một cô học trò tôi dạy ở Hà Nội đề nghị tôi lập blog. Lúc đó tôi hỏi blog là cái gì? Cô ấy trả lời blog là một loại nhật ký cá nhân để ngỏ, hay lắm! Tôi nghĩ đó là trò trẻ con, trò của mấy cô sinh viên chứ mình già rồi làm mấy thứ ấy làm gì!
Con bé nhà tôi lúc ấy nó học lớp 9 nó bảo là để nó lập cho tôi một cái blog rồi nó ép tôi bảo viết đi!
Nghe lời con tôi viết xong một blog. Viết cái entry đầu tiên xong tôi để đó chả để ý tới nó, quên luôn không nhớ nữa. Vài ngày sau mở ra thấy bao nhiêu là comment!
Mình quá ngạc nhiên, sau đó suy nghĩ thấy rằng blog có tính chất rất tuyệt vời! Rất tuyệt vời! Tại vì mình ở nhà một mình, bản thân thì què không đi đâu cả, con cái đi học, vợ đi làm một mình, mình ở trong bốn bức tường lạnh ngắt không có gì cả.
Tại sao mình không mở blog để nghe những tiếng comment, nghe chính người khác trò chuyện với mình? Đấy là một niềm vui vô cùng luôn vì hàng ngày nghe tiếng lao xao của comment. Thấy phấn khởi và yêu đời hơn! Thật sự như thế. Phải nói thật nhờ blog tôi sống nhông hơn và nhờ blog tôi viết nhiều hơn.
Mặc Lâm: Ý Bọ nói nhiều hơn là sao? Là so với trước khi bị tai nạn phải không?
Nguyễn Quang Lập: Với trước khi tôi bị tai nạn. Tôi viết văn từ năm 20 tuổi nhưng chỉ trong vòng 2 năm tôi viết blog, khối lượng tôi viết gấp 4 lần so với tất cả những năm tôi không què quặt. Đó là cái nhu cầu. Nhu cầu tiếp xúc với bạn đọc. Nghề viết văn tóm lại là sự chia sẻ. Một khi mình nhìn thấy sự chia sẻ thật sự thì mình rất háo hức, háo hức lắm và mình viết không biết mệt.

Ký Ức Vụn và Bạn Văn ra đời

Mặc Lâm: Và Ký Ức Vụn ra đời cũng từ trang blog này phải không Bọ?
Nguyễn Quang Lập: Hoàn toàn đúng vậy nhưng mình không để ý. Ông bạn nhà văn dịch giả Đoàn Tử Huyến bảo mình in những bài viết trên blog ra vì theo ông Huyến thì những bài này rất hay và sẽ hấp dẫn người đọc trên sách.
Khi đó mình chả để ý gì tới, nhưng khi in ra thì sách bán chạy khủng khiếp luôn! Có thể nói lúc đó vào năm 2009 tôi thật sự bất ngờ vì mình viết theo loại văn khẩu văn, mình bịa ra loại khẩu văn gọi là văn nói, cho nên mình cứ nghĩ người ta quen loại văn kia rồi ai coi loại văn này làm gì! Nhưng không ngờ kể cả những người bình thường hay có học đều rất thích thú!
Tôi nhận được hàng trăm, hàng nghìn những tin nhắn của bạn bè, của những người không quen nhiều người nói: “ông ơi vợ tôi đang đọc sách của ông mà cười như thế này…”
Mặc Lâm: Và rồi từ “Ký ức vụn” qua “Bạn văn” có sự tính toán, xếp đặt nào khác hơn hay không?
Nguyễn Quang Lập: Không có một tính toán nào cả. Bởi vì trong “Ký ức vụn” tôi chỉ in khoảng 20 mẫu chuyện của “Bạn văn” thôi, còn lại tôi nghĩ rằng thôi mình viết “Bạn văn” thì cũng như vẽ lại những chân dung văn học. Mình thấy rất nhiều người khen. Vì được khen nên cũng cố gắng viết nhiều lên. Sau khi đã thu thập nhiều rồi thì tính chuyện in thành sách. Lúc đầu định đặt là hí họa, hí họa văn chương, chỉ là vui không có ý gì. Suy nghĩ lại mình có nhiều chân dung rồi sao không in thành sách? Lúc đó cũng có gợi ý của mấy ông bên Nhà xuất bản Trẻ nên in thôi.
Mặc Lâm: Tôi có nhận xét thế này, thời gian gần đây trang blog “Quê Choa” của Bọ xuất hiện nhiều bài có tính thời sự rất lớn. Điều này mới xảy ra sau này hay trước đây Bọ cũng đã có những bài viết như thế này rồi?
Nguyễn Quang Lập: Không. Trước đây “Quê Choa” chỉ lập ra để viết văn chương cho vui thôi chứ không nói chuyện thời sự báo chí gì đâu, nhưng dần dà thấy nhiều chuyện chướng tai gai mắt quá, mình là thằng nhà văn mà không lên tiếng thì chẳng ra làm sao cả, thế nên tôi buộc phải lên tiếng thôi chứ còn lúc đầu chỉ làm một blog văn chưong cho vui chứ không có ý định làm cái gì cả. Nhưng dần dần cuộc sống nó đập vào mình, nó buộc mình phải lên tiếng. Nếu không lên tiếng thì mình thấy nó thế nào! Không được! Không xứng đáng là một thằng nhà văn! Buộc phải lên tiếng.
Mặc Lâm: Những bài viết thời sự của Bọ được rất nhiều comment tán thưởng, nhưng bên cạnh đó Bọ có bị phiền toái nào đến từ phía chính quyền hay không?
Nguyễn Quang Lập: Hoàn toàn không! đó là điều rất là may mắn! Tôi nói đùa với ông Đỗ Trung Quân với ông Huy Đức là họ có đuôi còn tôi không có đuôi! Tôi không bị mọc đuôi! Đơn giản là vì tôi què tôi có chạy đàng trời nếu có ai người ta muốn bắt. Họ theo tôi làm gì! Nhưng tôi biết có một sự khó chịu, một sự khó chịu nào đó, mơ hồ, nhưng cụ thể thì không có.
Mặc Lâm: Vâng bây giờ xin quay lại với “Bạn văn” tôi đọc thấy rất nhiều điều rất thích thú, nó có tính cách phác thảo chân dung văn học rất rõ mà chỉ có ngôn ngữ Bọ Lập mới viết được, trong đó tôi đặc biệt chú ý câu chuyện của ông Xuân Diệu khi chính Bọ chứng kiến sự nóng giận của ông ấy và viết lên.
Đó là những nét hiếm thấy trong chân dung văn học. Đây cũng là đặc trưng của “Bạn văn”, trong đó có rất nhiều chi tiết của những khuôn mặt khác nữa. Mỗi người một phong cách riêng mà Bọ nhìn ra. Tôi thắc mắc là Bọ lưu giữ những chi tiết ấy trong trí nhớ hay là Bọ ghi xuống vào lúc ấy rồi viết lại?
Nguyễn Quang Lập: Thật ra mình làm chân dung thì cũng giống như vẽ vậy. Cố gắng tìm một nét gì đặc trưng nhất của người ta, mình chọn lọc rồi viết ra. Giống như ông Xuân Diệu tôi quen ông ấy 8 năm trời, rất nhiều chuyện mình biết đặc sắc chứ. Nhưng từ góc nhìn của mình mà tạo ra một chân dung vừa ý mình. Tôi rất ghét loại chân dung ca ngợi nhau, khen nhau, tâng bốc nhau… đó không phải chân dung! Đó là bản báo cáo thành tích chứ không phải chân dung.
Theo RFA