Thứ Bảy, ngày 01 tháng 10 năm 2011

Thế giới phải... nghiêng mình!

Kiều Bích Hậu
Lối sống ở VN đầu thế kỷ 21 này rất cần được thế giới đem ra nghiên cứu, bởi hình như nó nằm ngoài mọi quy tắc của sự phát triển.

Bằng chứng là cậu tôi, một cán bộ ngành an ninh, vừa có đợt đi tập huấn ở ba nước: Singapore, Malaysia, Hongkong hơn một tháng trở về đã xuýt xoa bảo rằng điều kiện sống bên nước người quả là hiện đại, tiện nghi, rất văn minh sạch sẽ. Thu nhập bên bạn cũng cao hơn ở VN rất nhiều, nhưng nếu hỏi có chọn sang đó sống hay không thì, bỏ ngoài yếu tố yêu nước, cậu tôi khẳng định rằng không, chẳng dại gì sang sống bên đó, tiền kiếm nhiều nhưng phải tiêu hết vì mọi thứ đắt đỏ, và nhất là mọi người sống tốc độ đến không kịp thở, tính từng giây từng phút một, chóng mặt lắm. Thà cứ ở VN mình sống túc tắc còn hơn, còn có thời gian la cà bạn bè, nhâm nhi cốc bia mỗi chiều, chơi bời thăm thú họ hàng hang hốc, hàng xóm láng giềng… Tôi cho rằng cậu tôi đã ngoài 50 tuổi nên khó chịu đựng tốc độ sống, lối sống công nghiệp hóa đó.

Một luật sư danh tiếng kiêm doanh nhân, anh Nghiêm Quốc Bảo, chưa phải đã già, nhưng cũng tâm sự thật sau một chuyến đi Hongkong, rằng bên đó họ tính chi li từng phút một, ai đời đi du lịch mà cũng căn ke từng phút, luôn chính xác giờ đến bệnh hoạn, thôi, cứ sống ở VN mình cho… lành! Vâng, anh kể chuyện đó trong lúc bản thân anh phải đợi các vị khác trong Ban chấp hành một hội mà anh là Chủ tịch đến họp thường kỳ, cuộc họp đã trễ hơn nửa tiếng so với giờ quy định do hơn 1/3 số vị trong Ban chấp hành… cao su! Ở VN chuyện giờ giấc cao su quen rồi, đã thành nếp sống.

Bây giờ ta thử đối chiếu với hiện tượng này. Cả thế giới đang tiêu tiền Mỹ, ai cũng nói Mỹ giàu nhất thế giới. Thu nhập bình quân đầu người tại Mỹ lên tới 50.000 USD/năm. Thế mà vừa qua dân Mỹ xuống đường đông quá, lại giương cao biểu ngữ “Americans want to work” – đại ý là người Mỹ cần việc làm, người Mỹ muốn làm việc. Ơ hay nhỉ, tại sao dân Mỹ giàu thế rồi mà còn đòi làm việc cơ chứ! Dân VN nghèo thế này mà đâu quá cần việc làm đến mức xuống đường đòi việc như thế.

Người VN nghèo, nhưng vẫn vui tươi, ung dung lắm nhé, sáng ra ngồi cafe đầy hè, đầy quán, trưa ra nhà hàng máy lạnh tụ tập, chiều tối tranh nhau chiếm chỗ ở quán bia hơi để tham dự cuộc thi tìm kiếm “Người buôn dưa lê tài nhất VN”. Giới trẻ 9X, 8X thì tụ tập thưởng thức KFC, Lotteria và bàn luận chuyện làm thế nào để được tự do, không phải làm việc mà vẫn giàu có, làm thế nào để tuần làm việc 4 giờ và gia nhập nhóm New Rich (nhóm nhà giàu mới)… Cả thế giới phải ngắm nhìn VN mà sửng sốt, cả thế giới phải nghiêng mình trước lối sống vô cùng thông minh của người Việt.

Và hãy nhìn sang Nhật, một nước châu Á, (một cường quốc kinh tế vừa mất thứ hạng 2 vào tay anh bạn láu cá Trung Quốc), nước này từ năm 1969 xuất hiện hiện tượng karoshi, hiện tượng tử vong do làm việc quá sức, và tiếp diễn đến tận ngày nay. Mỗi năm ở Nhật có 150 vụ karoshi, những người vì nghiện công việc, làm việc quá sức mà chết. Người Nhật vốn đem sự chuyên cần trong công việc ra làm nền tảng cho phát triển. Văn hóa làm việc cật lực của người Nhật cho dù họ giàu hơn VN rất nhiều cho thấy họ thuộc một dân tộc coi trọng vinh quang lao động.

Vậy theo bạn, hiện tượng lối sống đặc biệt VN có lý thú không?

Theo Tầm Nhìn

Putin hạ lệnh bầu Putin

Phạm Nguyên Trường dịch
Các phương tiện truyền thông đại chúng phương Tây gọi ông thủ tướng hiện nay là Putin Bất Diệt. Tin tức về việc ông ta trở lại chiếc ghế tổng thống được đưa lên ngay đầu trang nhất của tất cả các tờ báo lớn. Tại đại hội Đảng Nước Nga Thống Nhất, nơi người ta công bố về sự dịch chuyển các quân cờ, Medevedev trông thật tội nghiệp; thậm chí ông ta còn không giải thích vì sao một quan chức mới có 46 tuổi, khỏe mạnh, không vướng mắc vào vụ tai tiếng nào, thành tích hoạt động tốt và có kế hoạch hành động rõ ràng lại không ứng cử nhiệm kì tiếp theo.

“Vladimir quay trở lại”, đấy là đầu đề bài báo trên tờ The Times (Anh). Tờ báo này nói thêm rằng Putin có thể nắm quyền đến năm 2024, lúc đó ông ta đã 70 tuổi. “Đây là sự kiện chứng tỏ rõ ràng nhất rằng ở nước Nga thời hậu Xô viết nền dân chủ đã thất bại. Chủ nghĩa Putin cũng là chủ nghĩa Stalin”. Tờ báo này tuyên bố như thế.

Putin nói rằng đã đạt được thỏa thuận về ứng viên chức tổng thống cách đây vài năm. Bằng cách nói như thế, ông ta đã thể hiện “thái độ vô liêm sỉ và coi thường đối với chế độ dân chủ và chẳng biết xấu hổ là gì”, tờ báo này viết. Tuyên bố của ông ta cũng chứng tỏ rằng bốn năm qua chỉ là “một vở kịch nhằm lừa gạt thế giới và biến quá trình “tái thiết lập” [quan hệ với Nga] thành trò nhảm nhí”.

Theo tờ báo náy thì phần lớn dân Nga không phản đối “sự độc chiếm quyền lực của Putin”. Nhưng, “khác với cử tri Nga, các nhà đầu tư nước ngoài đòi phải có những bằng chứng đáng tin cậy là họ sẽ không bị lừa bịp một lần nữa”, tờ báo này viết như thế.

“Sự suy đồi ở nước Nga” là đầu đề bài xã luận trên tờ Washington Post (Mĩ). “Putin quyết định là ông ta muốn trở thành tổng thống một lần nữa, và ông ta sẽ được như ý” vì theo tờ báo này thì nước Nga là như thế. Đây là tin tốt lành đối với Medvedev vì cũng theo tờ báo thì ông này phù hợp với “nhân vật thứ hai”, chứ không phải nhân vật đứng đầu đất nước.

“Nhưng đây là tin xấu đối với Obama. Obama đã dành nhiều công sức cho việc xây dựng quan hệ với Medvedev, hi vọng là ông này sẽ trở thành một lạnh tụ thực thụ”, tờ báo này viết như thế. Đây cũng là tin xấu đối với Georgia và Ukraine. “Nhưng tin xấu nhất là đối với nhân dân Nga, họ sẽ đối mặt với hiện tượng tham nhũng và trì trệ, có thể là cho đến cuối đời tổng thống, nếu – tương tự như Stalin - Putin muốn nắm quyền suốt đời”, tờ báo này kết luận như thế.

Putin đã làm sống lại nhiều đặc điểm của chế độ Xô Viết, nhưng có một ngoại lệ: “Các quan chức Liên Xô không có tài khoản ở ngân hàng Thụy Sĩ và không có biệt thự ở London hay ở Riviera”, tờ báo này viết.

Bây giờ nhiều nước có thể xây dựng quan hệ với nước Nga theo đúng bộ mặt thật của nó, bài báo này nói. Putin sẽ tính toán lợi ích của mình và của phe nhóm mình khi đưa ra quyết định. Nhưng nếu Mĩ có tính đến quyền con người trong chính sách của mình (thí dụ như dự luật của thượng nghị sĩ Cardin) thì có thể ảnh hưởng đến những toan tính của Putin, tờ báo này viết.

“Putin Bất Diệt” là nhan đề bài xã luận trên tờ Wall Street Journal (Mĩ). Điện Cẩm Linh đã chính thức khẳng định rằng giấc mơ dân chủ ở Nga đã tan thành mây khói, tờ báo này cho là như thế. Hi vọng dường như Medvedev là một nhà cải cách độc lập cũng tan theo.

Chính sách “tái thiết lập” [quan hệ với Nga] nhằm củng cố vị trí của Medvedev chứ không gây được ảnh hưởng gì tới “việc Nga quay sang đường hướng bài dân chủ”, tờ báo này viết.

Việc tuyên bố về ứng viên tổng thống được thực hiện vào lúc này chứ không phải là sau bầu cử quốc hội cũng làm người ta hơi bất ngờ, tờ báo này viết. Có vẻ như ông ta thấy cần phải khẳng định quyền lực tuyệt đối của mình và chấm dứt mọi sự dao động.

“Hệ thống chính trị phụ thuộc vào một cá nhân cụ thể là hệ thống về bản chất là không ổn định”, tờ báo này nhận xét. Để có thể tiến hành những cuộc cải cách thật sự thì Putin phải để cho những trung tâm quyền lực khác xuất hiện, nhưng đấy không phải là thói quen của các Sa hoàng.

Tờ Independent (Anh) viết: “Thật đáng buốn là đời sống chính trị ở Nga càng cố bắt chước phương án dân chủ thì nó lại càng trở lại như cũ”.

Dưới trào Putin đa phần dân chúng Nga được hưởng sự ổn định và mức sống gia tăng: một sự kết hợp thường không có dưới các chế độ trước đây. Nhưng việc Putin trở lại cũng làm người ta thất vọng, tờ báo này nói như thế: “Trong mấy chục năm gần đây người Nga đã phải chịu đựng quá nhiều rồi, họ xứng đáng với một cái gì đó tốt hơn chứ không chỉ lặp lại chính những chuyện đã qua”.

“Putin bỏ phiếu cho việc trở lại của Putin”, là đầu đề trên tờ Financial Times (Anh). Tất cả hi vọng về việc chuyển tiếp của nước Nga sang chế độ dân chủ đã kết thúc như thế đấy.

Việc Putin trở lại với chức vụ cao nhất – theo hiến pháp – “tạo ra một sự đứt quãng của chế độ dân chủ”, tờ báo này viết. Nhưng họ cũng giải thích rằng Putin hiện được lòng dân hơn là Medvedev. “Nhưng việc Putin trở lại chức vụ tổng thống vẫn là bước đi đầy mạo hiểm và là sự giật lùi” - tờ báo này nhận xét: Medvedev kêu gọi hiện đại hóa về kinh tế và chính trị, một quá trình mà nước Nga đang rất cần; trong khi sự ổn định của Putin “cùng với thời gian sẽ trở thành chiếc áo chật, hạn chế sự phát triển của nước Nga”.

Có khả năng là Putin sẽ có những bước đi cho phép sự cạnh tranh giữa các ý tưởng và đường lối chính trị, sẽ đấu tranh với tệ tham nhũng ..v.v.. “Nhưng muốn làm như thế thì phải rỡ bỏ những thành tố chủ yếu của họ thống mà ông ta xây dựng trong nhiệm kì tổng thống trước”, tờ báo này viết.

“Việc Putin quay trở lại sẽ làm phức tạp thêm quan hệ với phương Tây”, tờ báo này viết tiếp. Thí dụ Washington dễ làm việc với Medvedev hơn, còn bà Merkel thì có quan hệ lạnh lùng với Putin hơn là với vị tổng thống hiện nay.

Nhưng nếu Putin quay lưng lại với các cuộc cải cách thì có khả năng là ông ta đang “mạo hiểm gieo những hạt giống cho sự sụp đổ của chính mình”, tờ báo này cảnh giác như thế. Thế hệ trẻ người Nga nhận được tin tức từ Internet, mà hệ thống này, khác với TV, không bị kiểm duyệt. Có khả năng là vị tổng thống Nga, cũng như các đồng nghiệp của ông ta trong thế giới Arab, sẽ cảm nhận được sức mạnh của các mạng xã hội và những vụ phản đối diễn ra trên đường phố, tờ báo này không loại bỏ khả năng đó.

“Vị tổng thống đầy quyền lực đã tự sát về mặt chính trị”, nhà báo Tony Halpin viết trên tờ The Times như thế. Ngày đại hội thứ hai của Đảng Nước Nga thống nhất đã tặng cho người ta một màn diễn “hiếm có, thậm chí là vô tiền khoáng hậu nữa”: Dmitri Medvedev “trước sự vui sướng thấy rõ của Putin” tuyên bố rằng ông ta không có tham vọng làm tổng thống để “đổi lấy món quà an ủi” là chiếc ghế thủ tướng. “Ở nước nào mà một quan chức mới có 46 tuổi, khỏe mạnh, không vướng mắc vào vụ tai tiếng nào, thành tích hoạt động tốt và có kế hoạch hành động rõ ràng lại không ứng cử nhiệm kì tổng thống thứ hai nếu điều đó về nguyên tác là khả thi?”, nhà báo này ngạc nhiên hỏi. Theo ông ta thì “Medvedev trông thật tội nghiệp”.

Tony Halpin cho rằng việc Putin trở lại Điện Cẩm Linh đặt ra cho phương Tây hai vấn đề căn bản. Thứ nhất, Obama xây dựng chính sách “tái thiết lập” [quan hệ với Nga] trên cơ sở quan hệ cá nhân với Medvedev đồng thời cố gắng đẩy Putin ra rìa”, bây giờ ông sẽ khó lí giải đường lối của mình với quốc hội. “Ngoài ra, Putin chứng tỏ một cách rõ ràng cho Mĩ và phương Tây thấy rằng ông ta là một nhà độc tài và chẳng cần quan tâm tới việc giữ gìn thậm chí hình ảnh bên ngoài của chế độ dân chủ chứ chưa nói tới bản chất của nó… Ông ta chứng tỏ cho mọi người thấy rằng những cuộc bầu cử tổng thống trong tương lai chỉ là trò nhảm nhí, chẳng cần phải có tính chính danh mà làm gì. Trong những tháng gần đây phương Tây đã làm hết sức mình nhằm thách thức các nhà lãnh đạo độc tài trong thế giới Arab. Họ sẽ nói gì trước sự trở lại của Putin?”.

“Mặc dù trong mấy tháng gần đây mọi người đã biết rõ là Putin sẽ quay lại, nhưng chúng ta vẫn giả vờ ngạc nhiên khi điều đó xảy ra”, nhà báo Julia Ioffe viết trên tờForeign Policy như thế. Bà nhắc lại một “câu chuyện tiếu lâm có tính mặc khải” hồi cuối năm 2007 như sau: “Nước Nga, năm 2023. Putin và Medvedev ngồi trong bếp của một trong hai người, vừa uống vừa hàn huyên về đủ thứ chuyện. “Tôi nói nghe này – Putin lên tiếng – Tôi lại lẫn rồi. Trong hai ta ai là thủ tướng, ai là tổng thống ấy nhỉ?”. “Hình như bây giờ anh là tổng thống”, Mevedev đáp. “Thế thì đến lượt cậu đi mua bia”.

“Putin có xu hướng tuyên bố rất cứng rắn nhưng không chắc là sẽ kèm theo những hành động quyết liệt, đấy là chưa nói nhiều vấn đề hiện nay: tham nhũng, bao che, nền chính trị mù mờ - đã ăn sâu bén rễ trong giai đoạn ông ta nắm quyền, có vẻ như Putin sẽ tiếp tục đường lối đó, thay đổi sẽ diễn ra càng ít càng tốt. Nếu suy nghĩ một cách thấu đáo thì đây cũng là “một bước đi dũng cảm”, nhà báo này bình luận như thế.

Một số người dự đoán rằng sẽ có nhiều người bỏ nước ra đi hay là sẽ xuất hiện một tầng lớp người có hai quốc tịch, ý nói những người mà trong 12 năm tới sẽ có những kế hoạch khác, bài báo này viết như thế. Một số người cho rằng khi nhận chức thủ tướng là Medvedev tự nhận trách nhiệm về làn sóng khủng hoảng sau này. Một số người thì cho rằng Putin chỉ cầm lái trong vài năm, sau đó ông ta sẽ ra đi trước thời hạn.

“Dù sao mặc lòng, có thể nói một cách chắc chắn rằng chức vụ tổng thống – dù sự suy thoái của các định chế khác trong mười năm qua có góp phần củng cố nó đến mức nào – cũng đã mất rất nhiều tính chính danh”, nhà báo Ioffe viết như thế. “Bây giờ Medvedev – con người vừa bị tước mất quyền lực tối cao ngay trước mắt bàn dân thiên hạ - sẽ lèo lái Đảng Nước Nga thống nhất trong giai đoạn bầu cử. Đấy có thể là tin tốt cho những người coi Nước Nga thống nhất là đảng của những tên lừa đảo và ăn cắp, nhưng chính nước Nga thì sẽ rơi vào hoàn cảnh như thế nào?”.

“Tôi nghĩ là chúng ta sẽ được chứng kiến sự suy giảm uy tín của chính phủ, nhân dân sẽ coi đấy là một chính quyền ngu dốt, nguy hiểm và chính quyền sẽ buộc phải dựa vào những người mà nhờ nó họ mới có địa vị và tài sản. Kịch bản thật chẳng lành mạnh gì, nhưng nó sẽ tồn tại cùng chúng ta trong một thời gian dài”, đấy là lời nhà nghiên cứu chính trị học Gleb Pavlovski được bài báo này dẫn lại.

“Xin mời vào đất nước ‘Putland’! Ở đây tổng thống trở thành thủ tướng, còn thủ tướng thì thành tổng thống. Việc trao đổi chức vụ giữa Vladimir Putin và Dmitri Mevedev là một trò nhảm nhí, nhưng đấy chưa phải là hết” – nhà báo Benjamin Bidder viết trên tờ SPIEGEL ONLINE (Đức) như thế, trong khi so sánh “nước Nga đầy kiêu hãnh” với một công quốc phong kiến “kiểu mới”. “Medvedev, người đứng đầu một cường quốc hạt nhân, tổng chỉ huy một đội quân gồm cả triệu người trên thực tế hóa ra chỉ là một tổng thống tạm thời. Putin sẽ trở lại Điện Cẩm Linh sau cuộc bầu cử vào tháng 3 năm 2012”. Nhiều chuyên gia cho rằng ông ta sẽ giữ chức tổng thống 12 năm nữa.

Truyền thống “nối ngôi” trong lịch sử Nga hiện đại có nguồn gốc từ quá khứ Xô Viết, nhà báo này viết như thế. “Truyền thống này cho thấy giới tinh hoa muốn nắm quyền và phần nào phù hợp với nguyên vọng muốn được ổn định của dân chúng”. Những phép biến hóa của “động cơ chính trị vĩnh cửu” gây ra chứng rối loạn tiền đình của những người bình thường, nhà báo Bidder chế giễu.

Nhân dân Nga đã cho Putin quyền lực không hạn chế trong việc lãnh đạo nhà nước – đấy là lời cám ơn vì ông này đã tặng cho đất nước một sự ổn định nhất định, tác giả bài báo viết. Putin và “đội của ông ta” lấy làm tự hào vì đã vực dậy được nước Nga. “Trên thực tế, họ đã tóm lấy nó chẳng khắc gì quân ăn cướp. Hiến pháp Nga đã bị họ rút ruột và bị chế độ phong kiến mới đứng đầu là bá tước Vladimir Putin sử dụng theo cách của mình. Dù các định chế dân chủ ở Nga hồi cuối những năm 1990 có còn non trẻ và chưa có kinh nghiệm đi nữa, nhưng Putin đã tước hết những chức năng vốn có của chúng”.

Ban biên tập tờ The Observer (Anh) không ngạc nhiên trước ý định tranh cử tổng thống của Putin: “Trên thực tế, Putin, một cựu quan chức tàn bạo của KGB đã rời nhiệm sở sau hai nhiệm kì vào năm 2008, như ông ta chưa hề đi đâu hết”. “Mặc dù không có ai phủ nhận rằng ông ta hay Đảng Nước Nga thống nhất của ông ta được một số người tín nhiệm, nhưng sự ủng hộ này có được là do lực lượng đối lập và các phương tiện thông tin đại chúng tự do bị Putin và những người ủng hộ ông ta tấn công. Đất nước trượt dài từ chế độ dân chủ sang độc tài. Đây là sự kiện đáng lo”, bài bình luận viết.

Tờ El País (Tây Ban Nha) gọi những sự kiện tại đại hội Đảng Nước Nga thống nhất là nhảm nhí. “Những thủ đoạn được thực hiện tại đại hội đưa ra một tín hiệu rõ ràng là hi vọng dân chủ hóa đã chấm dứt. Medvedev hóa ra là một tổng thống vô tích sự, nhưng bốn năm trước, trong khi phê phán “thái độ hư vô về pháp lí” và “hiện tượng tham nhũng thâm căn cố đế” ở Nga, ông ta đã làm dấy lên hi vọng về sự thay đổi, có thể đưa đất nước vĩ đại này thoát khỏi chế độ độc tài, thoát khỏi những định chế kém cỏi và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc. Putin trở lại chức tổng thống cũng có nghĩa là trở lại điểm xuất phát”, tờ báo này nói như thế.

Dịch qua bản tiếng Nga tại địa chỉ: inopressa.ru

Theo Phạm Nguyên Trường blog

Xem thêm:

Giấc mộng cầm quyền mãn đời của Putin

Tú Anh

Phải chăng cựu trung tá KGB Vladimir Putin muốn làm Nga Hoàng ? Với những phương tiện chính trị nắm trong tay hiện nay, thủ tướng Nga chắc chắn sẽ tái đắc cử tổng thống vào năm tới và sẽ phá kỷ lục cầm quyền của hai cố tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô là Stalin và Brejnev.

Trong bối cảnh Putin chuẩn bị trở lại điện Kremli, hơn 31 tỷ đôla đã không cánh mà bay ra khỏi nước Nga trong vòng không đầy 6 tháng.

Số phận của nước Nga được định đoạt trong vòng 20 phút hôm 24/09/2011 vừa qua. Màn một, Tổng thống và Thủ tướng cùng đi lên khán đài trong tiếng vỗ tay của 10 ngàn đại biểu tham dự Đại hội đảng Mái Nhà nước Nga. Màn hai, Thủ tướng Putin mời đại biểu chọn Tổng thống Dmitri Medvedev, 46 tuổi, thay ông lên làm chủ tịch đảng cầm quyền mặc dù cả hai đều không phải là thành viên. Màn ba, Dmitri Medvedev « đề nghị đồng chí bài trùng » Vladimir Putin ra ứng cử tổng thống năm tới 2012.

11 ngàn đại biểu của đảng Mái Nhà nước Nga, tuy ăn mặc sang trọng, nhiều người đeo đồng hồ ngoại sáng chói, cầm Ipad trên tay nhưng phong cách máy móc không khác vì đại biểu đảng Cộng sản Liên Xô cũ, cũng đồng loạt đứng lên, đồng loạt vỗ tay, đồng loạt phất cờ, đồng loạt biểu quyết « nhất trí ».

Như vậy, sau nhiều tháng nghi vấn không rõ « cặp bài trùng này » tính toán ra sao nay thì màn bí mật đã được vén lên : nắm 2008, do Hiến pháp cấm ba nhiệm kỳ liên tiếp, Putin để cho ông Medvedev giữ tạm ghế. Vừa đắc cử, ông Medvedev nhanh chóng sửa đổi Hiến pháp để cho người tiền nhiệm quay lại Kremli với nhiệm kỳ sáu năm.

Vladimir Putin tuyên bố thẳng tại đại hội là hai người đã chuẩn bị « tương lai » từ nhiều năm trước.

Với phương tiện và biện pháp triệt tiêu đối lập một cách có hệ thống từ nhiều năm nay, Vladimir Putin sẽ đắc cử một cách dễ dàng vào năm tới.

Bị Tây phương và một phần công luận Nga chỉ trích là đã dung túng một chế độ quan liêu, tham những và bất công, cựu trung tá mật vụ KGB tuyên bố là sẽ dùng nhiệm kỳ ba để « canh tân » đất nước mà ông cho là « bị lệ thuộc vào xuất khẩu tài nguyên, bất công xã hội đến mức độ nguy hiểm, dân chúng cảm thấy bị ức chế tột cùng khi có chuyện giao tiếp với cảnh sát hay khi cần đến pháp luật ».

Vladimir Putin đưa ra hai lời hứa là sẽ đưa nước Nga vào thời kỳ hùng mạnh kinh tế lẫn trang bị quân sự.

Từ những tháng nay, ông thường xuyên vinh danh một thủ tướng của Nga Hoàng Nicolas đệ nhị, Piotre Stolypin (1862-1911). Vị thủ tướng này, để cứu nguy cho vương triều đã ra sức canh tân đế chế và cùng lúc đàn áp các phong trào nổi dậy của dân chúng.

Thử thách lớn lao : dân số giảm, vốn chạy ra nước ngoài

Nhưng theo báo chí Tây phương, để canh tân và phát triển, nước Nga hiện nay cần khoa học kỹ thuật và vốn đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia. Nếu không có hai điều kiện này thì làm sao Nga có thể duy trì vị trí xuất khẩu dầu khí hàng đầu thế giới ?

Ưu tư kế tiếp là làm sau ngăn chận nguồn vốn chạy sang nước ngoài ? Chỉ trong vòng sáu tháng, 31,2 tỷ đôla tuôn ra khoải nước Nga.

Chế độ dân chủ trá hình hiện nay đang đứng trước nhiều thử thách to lớn và bất cập khác.Tình trạng dân số giảm sẽ làm mất đi 10 triệu lao động từ nay đến 2025 tạo ra lo ngại kinh tế sẽ bị trì trệ và làm tăng chi phí xã hội.

Ngân sách chính phủ lại được dự trù theo giá dầu khí thị trường với 80% nguồn thu nhập tùy thuộc vào xuất khẩu nhiên liệu.

Đây cũng là nhận định của bộ trưởng tài chính Alexei Kudrin, nhân vật duy nhất trong chính phủ dứt khoát từ chức để chống lại thủ đoạn bám quyền của Putin. Ông cho biết sự lệ thuộc quá nhiều vào nhiên liệu sẽ là một « điều nguy hiểm cho kinh tế quốc gia ».

Giới blogger « chúc mừng » Putin với lời chế diễu « Chào mừng Liên Xô cũ » hoặc ám chỉ xa gần chế độ Bắc Triều Tiên « May thay, Putin không có con trai » .

Để tìm hiểu thêm vì sao một dân tộc nhiều lần tự giải phóng ra khỏi chế độ kềm kẹp, bạo chúa phong kiến, đe dọa phát-xít Đức và độc tài cộng sản lại có thể bị một cựu trung tá mật vụ dàn dựng kịch bản chính trị cai trị , mời quý thính giả theo dõi phần phân tích của nhà báo Nguyễn Minh Cần từ Matxcơva trên RFI.

Nguồn: RFI

Thứ Sáu, ngày 30 tháng 9 năm 2011

411 tỉ đồng to hay nhỏ?

Nguyễn Quang Lập
Trả lời về kinh phí 411 tỉ tạc tượng mẹ Việt Nam anh hùng (MVNAH) ở Quảng Nam là to hay nhỏ, họa sĩ Lương Xuân Đoàn đã rất có lý khi nói “đồng tiền nào cũng quý, nhưng những việc cần làm thì chúng ta vẫn phải làm.” Đúng vậy, sự hy sinh của mẹ Thứ và 50 ngàn MVNAH là vô cùng to lớn, là vô giá. Theo đó thì 411 tỉ không thể gọi là to. Dù đất nước còn nghèo nhưng nếu cần ta có thể bỏ ra 4 ngàn tỉ cũng không tiếc.
Nhưng thử đặt câu hỏi ngược lại, rằng liệu có thể tạc tượng MVNAH với kinh phí 4 tỉ, thậm chí 400 triệu mà giá trị nhân văn và ý nghĩa của nó không hề thua kém việc tạc tượng 411tỉ được hay không? Nói như nhà văn Nguyên Ngọc “ vĩ đại không đồng nghĩa với khổng lồ”, liệu có cần phải có một bức tượng to bằng trái núi mới chứng tỏ được sự vĩ đại của MVNAH?
Họa sĩ Lương Xuân Đoàn nói :“ vấn đề bây giờ không phải là thu nhỏ tượng đài, bớt số tiền 410 tỷ này để làm việc khác. Nếu cứ nghĩ mãi thế thì lúc nào mới có thể làm được công trình thực sự của tương lai, tồn tại vài thập kỷ?” Ô hay, té ra chỉ có bà mẹ khổng lồ mới được coi là “công trình thực sự của tương lai, tồn tại vài thập kỷ?” Nếu có tượng đài về sợi tóc của mẹ, chiếc khăn răn hay đơn giản chỉ là giọt nước mắt của mẹ thì sao? Không lẽ chỉ tồn tại vài ngày?
Đến đây phải nói đến giá trị nghệ thuật của bức tượng. Nếu đó là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt mỹ, có lẽ không ai kêu 411 tỉ là to. Người ta sẽ xuýt xoa khen tạc một bức tượng như thế mà chỉ có 411 tỉ thôi à, quá rẻ. Tiếc thay giá trị thẩm mỹ của bức tượng lại rất có vấn đề. Nhiều ý kiến cho rằng “tượng mẹ mà thô nặng, một tượng bán thân ( bust ) gắn với rặng đá lớn, hình ảnh xa lạ, thậm chí hơi dữ, không phù hợp”. Nhà văn Nguyên Ngọc đã nói thẳng: “Tượng đài là cả một quả đồi lớn, cái đầu người (người mẹ) sẽ nhô lên thành một khối cao to đến hơn chục mét, tôi xin lỗi, cho tôi nói thật, tôi rất lo sẽ gây ra cảm giác không phải vĩ đại, mà là dị hợm, trẻ con nhìn thấy ắt sẽ hoảng sợ, người lớn đi qua đó ban đêm thanh vắng cũng có thể run… Tượng tròn, nhỏ, thì thỉnh thoảng ta mới đến nhìn ngắm trong bảo tàng hay ở một nơi trưng bày nào đó với mục đích thưởng thức nghệ thuật, còn cái đầu khổng lồ kia thì sẽ mãi mãi trở thành một bộ phận không thể tách rời của không gian sống hằng ngày quanh ta, cạnh ta. Nên chăng?”
Điều đáng nói là bức tượng phảng phất khối tượng bán thân đồ sộ của bốn tổng thống Mỹ George Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt, Abraham Lincoln, gọi là tượng núi Rushmore. Không dám nói có sự sao chép nhưng phong cách và ngôn ngữ khá giống nhau. Một nhà thơ danh tiếng, vốn làm công tác quản lý văn hóa lâu năm, người mà họa sĩ Lương Xuân Đoàn rất gần gũi và quí mến, đã tâm sự với tác giả viết bài này: “Phong cách Mỹ, tượng bán thân ( bust ) tạc vào rặng núi đá đã trở thành ngôn ngữ ” có bản quyền” rồi. Ta không nên chép lại cho “bà mẹ quê” của ta, hơn nữa đó là bà mẹ anh hùng trong chống Mỹ.”
Đến đây thì mọi người có thể hiểu 411 tỉ là nhỏ hay to.
Nguồn: Quê choa blog/Phụ Nữ cuối tuần

Tù mù- minh bạch, và “Tam đại đồng đường”!


Kim Dung
Cơ chế quản lý doanh nghiệp tù mù hay minh bạch, thi toán quốc tế với bài toán quốc gia, và nghề… làm quan, là những lát cắt buồn vui của Phát ngôn và Hành động tuần này mong được chia sẻ, đồng cảm và trao đổi của quý bạn đọc gần xa.
Tù mù- minh bạch và… “Tam đại đồng đường”?
Sự kiện nổi bật trong tuần này là bức tranh kinh tế- xã hội được các đại biểu Quốc hội tại phiên họp toàn thể của Ủy ban Kinh tế QH chiều 24/9 (T/p HCM) nhận xét “đang ở giai đoạn cực kỳ khó khăn”. Còn chuyên gia kinh tế, TS Lê Đăng Doanh thì cho rằng “xấu nhất từ năm 1991 đến nay”.
Ngày 23/9, VnEconomy có bài viết dưới đầu đề: “Kinh tế vĩ mô bất ổn đến mức nào?”. Đặt câu hỏi vậy, nhưng bài viết đã là câu trả lời khi đưa ra hiện trạng các doanh nghiệp Nhà nước- đứa con trưởng của nền kinh tế đang “ốm đau”. Cũng là đánh giá của TS Trần Đình Thiên (Viện trưởng Viện Kinh tế VN):
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có thể lỗ 11.669 tỷ đồng (2010 lỗ 23.647 tỷ), Tổng công tyXăng dầu (Petrolimex): 1.200 tỷ đồng. Tập đoàn Công nghiệp và Tàu thủy (Vinashin): 3.092 tỷ; Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines): 613 tỷ đồng… Thiếu vốn đầu tư ngành chính nhưng đầu tư ngoài ngành hơn 22.590 tỷ. Lĩnh vực được chuộng nhất là tài chính, ngân hàng, bảo hiểm với 13 đơn vị, tổng vốn hơn 10.700 tỷ…”
Tức là vốn đầu tư ngành chính của các DNNN thì lỗ, nhưng vốn đầu tư các ngành phụ, mang tính chất mì ăn liền, nhiều rủi ro và mất an toàn, lại khá lớn. Nói một cách dân dã, tiền chi tiêu cho “bồ” của đứa con trưởng này không ít. Hiệu quả ra sao?
Nhìn toàn cảnh, người ta dễ dàng nhận thấy lạm phát tăng, tăng trưởng giảm, bội chi ngân sách, thâm hụt thương mại, giá trị đồng tiền Việt Nam giảm…. Đương nhiên, niềm tin của người dân vào sự kinh doanh và điều hành của các DNNN cũng giảm theo.
Các chuyên gia cũng đưa ra nhiều giải pháp, nhưng người viết bài rất tâm đắc với nhận định của TS Lê Đăng Doanh rằng, đặc trưng của nền kinh tế hiện nay có nhiều bệnh, mà nguồn gốc sâu xa gắn liền với thể chế kinh tế, chính sách của Nhà nước. Để khắc phục các căn bệnh đó, không thể không cải cách bộ máy quản lý của Nhà nước, các chính sách kinh tế.
Nhận định này không mới, nhưng rất bản chất, phản ánh rõ trong những bất ổn của nền kinh tế hiện nay. Và nó không chỉ phản ánh ở kinh tế, mà còn ở cả những mảng xã hội như giáo dục, y tế, văn hóa…
Vì sao? Vì tuy đổi mới cơ chế quản lý kinh tế- xã hội đã hơn 20 năm, nhưng ai dám bảo đảm tư duy của con người trong điều hành đã thật sự mới, thoát được thói quen của một cơ chế bao cấp xin- cho vốn ăn sâu trong tiềm thức, từ cả lý luận lẫn thực tiễn?
Sự minh bạch thể hiện trong con số lỗ hàng nghìn tỷ đồng, phung phí biết bao mồ hôi nước mắt của dân
Nhưng sự tù mù vẫn còn nằm ở tư duy, ở cung cách quản lý và điều hành các cấp, lúc kiểu thị trường, lúc kiểu bao cấp, rất khó cho cả 2 phía doanh nghiệp và cho người dân. Rút cục, sẽ luôn có một nhóm lợi ích hưởng lợi
Trước đó, ngày 19/9. Diễn đàn Kinh tế VN có bài “Quản lý thì đừng sở hữu”, một bài viết rất đáng suy ngẫm về hiện trạng cơ chế quản lý các DNNN hiện nay.
Trong thông điệp đầu nhiệm kỳ mới 2011-2016, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu đổi mới cơ chế quyền chủ sở hữu Nhà nước đối với DNNN theo hướng, cơ quan hoạch định chính sách không đồng thời thực hiện chức năng chủ sở hữu DN. Thực chất là tách chức năng quản lý Nhà nước ra khỏi chức năng chủ sở hữu DN, tránh hiện tượng quản lý theo kiểu Nhà nước “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Luật DN cũng quy định rõ nguyên tắc này.
Để bảo đảm luật định đưa vào cuộc sống, Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước đã ra đời để thi hành quyền chủ sở hữu một cách chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả nhất.
Thế nhưng, giữa luật và thực tiễn quả là bao giờ cũng có một khoảng cách khá xa. Vì “Mọi lý thuyết đều mầu xám. Chỉ cây đời mãi mãi xanh tươi”. Tiếc thay, ở đây thực tiễn cũng… xam xám nốt. Bởi cho đến giờ, Tổng Công ty (SCIC) vẫn than vãn, riêng khâu đầu tiên- chuyển vốn về để quản lý đã trắc trở, rất khó khăn. Việc đổi mới cung cách quản lý DNNN rất trì trệ, thì hiệu quả hoạt động và chất lượng DNNN cũng rất ì ạch.
Thực tiễn này khiến người viết bài đặt 3 câu hỏi:
-Chúng ta đang quá “hổng” mảng lý luận mang tính nền tảng, định hướng cho kinh tế thị trường?
- Tư duy quản lý kinh tế kiểu bao cấp xin- cho vẫn ngự trị, luồn lách ngay trong cung cách điều hành quản lý Nhà nước?
- Lợi ích nhóm chi phối khéo léo?
Cả 3 yếu tố này đều có quan hệ ràng buộc và là nguyên nhân của thực trạng kinh tế bất ổn hiện nay.
Nhưng nhiều chuyên gia kinh tế đặt vấn đề lợi ích nhóm nhiều hơn. Cứ nhìn bức tranh kinh tế thị trường hiện tại sẽ thấy rất rõ.
Bên cạnh DNNN có DN cổ phần hóa, DN tư nhân. Bên cạnh DN trong nước, có DN liên doanh vốn nước ngoài. Bên cạnh DN lớn, có doanh nghiệp vừa và nhỏ…
Vậy nhưng nếu các DN vừa và nhỏ loay hoay chống đỡ cơn bão lạm phát, tìm vốn, tìm đầu ra cho sản phẩm, thì các DN lớn lại luôn “làm mình, làm mẩy”, hoặc có thua lỗ “Nhà nước vẫn chìa tay” – theo cách nói của các đại biểu QH tại cuộc thảo luận sáng 4/8 (Kỳ họp QH khóa XIII) về tình hình kinh tế – xã hội.
Đến độ có đại biểu nêu: “DNNN cần huy động vốn thì báo lãi, cần tăng giá lại báo lỗ… Vậy bản chất kinh doanh lãi hay lỗ, lãi thật hay giả, lỗ thật hay giả?”.
Điều đó, tạo nên sự bất bình đẳng giữa các DN, chứ không phải tài năng hơn kém giữa họ.
Ngay cả các chuyên gia kinh tế nước ngoài của Ngân hàng Thế giới (WB) cũng tư vấn, thúc giục phải tiếp tục cải cách khu vực kinh tế này.
Giật mình, quốc gia đang tiến tới hội nhập văn minh, vậy nhưng cách điều hành và quản lý kinh tế của chúng ta lại “Tam đại đồng đường” kiểu … “Hai lúa”! Đứa con trưởng- DNNN có kém cỏi, làm thiệt hại Nhà nước đến mấy vẫn được ưu ái, yêu chiều, bởi nó là cây gậy?
Hay bởi vị thế và cả những khuyết tật của nó đang tạo ra lợi ích của không ít người?
Thi toán quốc tế và bài toán quốc gia
Đỉnh điểm của những bất ổn trong cơ chế quản lý kinh tế- khiến các DNNN làm mưa làm gió, được đánh dấu bằng cuộc khẩu chiến hiếm có giữa Bộ Tài chính và Bộ Công thương, cùng DN xăng dầu lớn nhất- Petrolimex, tại hội thảo “Điều hành giá xăng dầu theo cơ chế thị trường ở VN hiện nay” (ngày 20/9 tại Hà Nội).
Có lẽ trước áp lực dư luận xã hội, 2 Bộ- Tài chính và Công thương mới đây đã trần tình trên báo chí rằng, không có bất đồng trong điều hành giá xăng dầu. Nhưng bản chất của chuyện khẩu chiến tại hội thảo vừa qua vẫn là… không đồng tình với nhau về giá xăng, giữa 2 bộ, và các DN trực thuộc Bộ Công thương.
Một bên dọa bỏ cuộc không kinh doanh và một bên…không hề sợ, với tuyên bố sắc như móng tay nhọn bóc vỏ quýt dày: “Nếu doanh nghiệp nào không làm được thì rút lui. Kể cả Petrolimex, nếu không làm được chúng tôi sẵn sàng cho giải tán để lập tổng công ty khác. Nhà nước không dọa ai và cũng không ai dọa được Nhà nước”. Phải được chiều chuộng, ưu ái đến thế nào thì một DN mới dám dọa cả Nhà nước?
Xét cho cùng, nó là hệ lụy của một nền kinh tế thị trường nhưng không có cạnh tranh?
Thế nên người viết bài cho rằng, sẽ không thể có khẩu chiến về giá xăng tại hội thảo, nếu như trong thực tế, xăng dầu-  lĩnh vực cốt tử của quốc gia, không chỉ do 3 DNNN lớn-  Petrolimex, Saigon Petro và PVOil- độc quyền, chiếm tới 80-90% thị phần. Chỉ vì thế độc quyền, và chưa có thị trường cạnh tranh, các DNNN thả sức với dân:”Bắt cởi trần phải cởi trần/ Cho may ô mới được phần may ô”
Sẽ không thể có khẩu chiến, nếu như sự giải trình lỗ, lãi của  DNNN lớn như Petrolimex không có sự tù mù kỳ lạ và khó hiểu. Liên tục kêu lỗ, nhưng khi để trở thành một công ty cổ phần, trong bản cáo bạch tài chính thu hút các nhà đầu tư, người ta lại thấy Petrolimex công bố liên tục lãi. Năm 2008: Hơn 900 tỉ đồng, năm 2009: Gần 3,000 tỉ đồng, năm 2010: Lãi 81 tỉ đồng, và năm 2011: Dự kiến lãi khoảng 600 tỉ đồng.
Hóa ra kinh doanh lỗ, lãi phụ thuộc vào… “cái lưỡi”, không phụ thuộc vào lợi nhuận thực chất.
Đến người dân thường cũng không thể tin vào cách tính kiểu này, chưa nói đến Bộ trưởng Tài chính, một người có thâm niên và kinh nghiệm trong kiểm toán.
Sẽ không thể có khẩu chiến, nếu như không có câu trả lời tù mù của đại diện Petrolimex, về câu hỏi xăng lỗ bao nhiêu, dầu lỗ bao nhiêu? Đây là 2 mặt hàng chủ đạo của họ, mà với cách tính thiếu khoa học- gói trọn tổng doanh thu của tất cả các mặt hàng chủ đạo và phụ trợ, trừ đi tổng chi phí để tạo ra một kết quả lỗ chung của DN, Bộ trưởng Tài chính phải nghi ngờ Ban Quản trị của Tổng Công ty có vấn đề.
Sự can thiệp và không đồng ý tăng giá xăng của Bộ trưởng Tài  chính không chỉ chứng tỏ ông đứng về phía lợi ích của hơn 80 triệu dân. Mà ông còn phải làm nhiệm vụ của chính Bộ mình- gắng kiềm tỏa lạm phát đang lồng lộn phi mã. Nếu giá xăng lên, sẽ kéo theo rất nhiều mặt hàng khác tăng theo, có thể con ngựa lạm phát đứt dây cương, thật nguy hiểm.
Duy nhất có một người, biết làm cho bạn đọc… cười vì cái sự hơi ít văn hóa. Đó là ông N.L.A, Vụ phó Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công thương). Có vẻ như ông này muốn “xả thân” bênh vực các sếp của mình, bênh vực chủ trương đòi tăng giá xăng của các DN đến tận cùng, khi mỉa mai: “Tôi nghe tin cứ nghĩ Bộ Tài chính bị làm sao“.
Và để mọi người biết về trí thông minh của mình, ông khoe mẽ: “Tôi không giỏi nhưng cũng đi thi toán quốc tế…”. Hơi buồn cười cho ông vì chả hiểu làm sao, mới đây Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng GD (Bộ GD) cho biết năm 1982, không có học sinh nào đi thi Olimpic toán Quốc tế có tên như ông (chỉ có 4 người: Lê Tự Quốc Thắng, Trần Minh, Ngô Phú Thanh và Nguyễn Hữu Đoàn).
Cũng có thể ông mới ở trong đội tuyển chọn thì… bị loại từ trong nước.
Đến nước này, thì bạn đọc lại bảo: “Ông Vụ phó này làm sao í nhỉ?”. Chả trách Bộ trưởng Vương Đình Huệ dạy lại ngay tại hội thảo: “Dù học nhiều nhưng cần có kiến thức thực tế”. Chí lý!
Dẫu sao, người viết bài vẫn tin ông là người thông minh, tuy “nổ” không phải chỗ. Nếu từng đi thi toán quốc tế, xin ông thử giải bài toán cấp quốc gia và… cấp DN:
Vì sao giá cả, trong đó có giá xăng tăng vùn vụt đến chóng mặt, còn giá trị văn hóa, con người, giáo dục, giá trị đạo lý xã hội, giá trị niềm tin lại…tụt nhanh đến thế?
Vì sao người dân không chỉ hoài nghi về cách tính giá xăng tù mù, thiếu minh bạch của DN, người dân còn hoài nghi về “lợi ích” được mất xung quanh chuyện bảo vệ cho việc tăng giá này?
Vì sao Bộ Công thương cũng không thể kiểm soát được hiện tượng các cửa hàng bán xăng luôn ăn cắp, ăn bớt xăng của khách hàng. Giá đã cao, khách hàng lại bị bòn rút, rút cục, họ bị thua thiệt tới 2 lần?
Dù vậy, chuyện khẩu chiến giữa 2 bộ và các DNNN xăng dầu có thể sẽ qua đi. Nhưng nếu sự độc quyền kinh doanh của các DN lớn vẫn tồn tại, nếu cơ chế quản lý chồng chéo đầy bất ổn vẫn hiển nhiên và đằng sau nó là các “con tin” của các đại gia, như cách nói của một nhà báo có tên tuổi, thì đương nhiên sẽ có những Bộ trưởng như ông Vương Đình Huệ.
Nhưng có một Bộ trưởng thẳng thắn vẫn không bằng có một cơ chế quản lý phù hợp thực tiễn kinh tế xã hội, được lòng dân và thực sự vì dân.
Làm quan: “Lập danh, lập nghiệp, lập ngôn”
Có lẽ vì tâm đắc với những phát ngôn thẳng thắn của Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, trong dàn những Bộ trưởng của Chính phủ mới, trên Vnexpress ngày 27/9 có bài viết : “Các tân Bộ trưởng đã dám thể hiện cá tính”.
Chợt nghĩ tới câu tổng kết của dân gian: “Lập danh, lập nghiệp, lập ngôn”.
Trong 3 lập ấy, lập ngôn là khó nhất. Khó vì “ngôn” phải tỉnh táo, sáng suốt, khôn ngoan, để thiên hạ “người trên trông xuống, người ta trông vào” tâm phục, khẩu phục khỏi cười chê.
Làm người có 3 cái lập ấy đã khó, làm quan còn khó đến đâu!
Đứng dưới ít người, đứng trên muôn người, có danh, có tiếng, có quyền, có lợi, làm quan quả là nghề hấp dẫn. Chả thế từ cổ chí kim, bao tấn bi hài kịch xoay quanh cái nghề đặc biệt này.
Nhưng làm quan cũng lắm khổ ải. Vinh đấy, và tủi hổ đấy! Quyền đấy, và bất tín đấy!
Có những vị quan “lập ngôn” quá dễ dãi, ngớ ngẩn, khiến thiên hạ cười chê-  IQ cao! IQ cao lẽ ra phải là sự ngợi khen, lại là sự chê cười. Tại sao?  Hay… cái nước Việt mình nó thế! (mượn lời cố GS Hoàng Ngọc Hiến)
Nhưng hãy chú ý hiện tượng này: Nếu sự “lập ngôn” của các quan chức vốn rất dè dặt, mang đặc điểm của một cơ chế lãnh đạo tập thể. Thì dường như càng ngày, sự “lập ngôn” của các quan chức càng mang đặc điểm cá tính, năng lực tư duy và trách nhiệm cá nhân của họ, nhất là với lĩnh vực dân đang bức xúc. Đó là điểm đáng mừng.
Một đặc điểm khác: Họ đều xấp xỉ 50- 51, cái tuổi đã tích lũy nhiều kinh nghiệm sống, được đào tạo bài bản, lại kinh qua nhiều nhiệm vụ từ cơ sở. Thời đại thế giới phẳng cho họ rất nhiều thông tin, và tư duy buộc phải luôn trẻ hóa, để thích ứng với bổn phận.
Hãy thử nghe Bộ trưởng Giao thông Đinh La Thăng thẳng thắn: “Bộ trưởng là tư lệnh lĩnh vực ngành, phải cho tôi toàn quyền…Bộ GT sẽ tập trung giải quyết 3 khâu đột phá chiến lược. Thứ nhất, đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông.Thứ hai, tình trạng tai nạn giao thông. Thứ ba, ùn tắc giao thông… Tôi cho rằng khi đất nước có đủ điều kiện mới làm đường sắt cao tốc…. Sẽ ưu tiên đầu tư đường bộ cao tốc Bắc Nam, nâng cấp đường sắt hiện có, cân đối phát triển đường quốc lộ, tỉnh lộ, giao thông nông thôn”. Những phát ngôn của ông khá ấn tượng và rõ ràng khá hợp lòng dân.
Và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình: “Sẽ đưa lãi suất về 17-19% trong vòng hai tháng kể từ ngày nhậm chức“.  Đi kèm với thông điệp mạnh mẽ về lãi suất, ông đưa ra một loạt chính sách, biện pháp mạnh tay đối với những cá nhân và tổ chức vi phạm. Kết quả, lãi suất cho vay đã bắt đầu hạ dù chưa thiết lập một mặt bằng ổn định.
Còn khi Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ không chấp nhận tăng giá xăng, lục lại phát ngôn của ông sau nhậm chức, thấy rằng ông đang thực hiện những điều đã tuyên bố: Sẽ lập lại trật tự trên thị trường xăng dầu, công khai minh bạch các khoản lỗ, lãi trong lĩnh vực vốn nhạy cảm, rất tác động tới đời sống nhân dân này.
Dĩ nhiên, mới 2 tháng trôi qua- một đoạn rất ngắn của nhiệm kỳ. Từ phát ngôn ấn tượng đến hành động ấn tượng cũng còn cần rất nhiều sự kiểm chứng của thực tiễn.
“Lập danh” đã thành. “Lập ngôn” nhiều Bộ trưởng đã có. Nhân dân đang trông chờ vào sự “lập nghiệp”- hành động cụ thể của các Bộ trưởng trong Chính phủ mới. Nhân dân vốn “nghìn mắt, nghìn tai” và nhân dân cũng luôn biết sát cánh với những Bộ trưởng biết vì nước, vì dân.
Một Bộ trưởng thực tài, thực tâm không bằng một cơ chế quản lý văn minh và minh bạch. Nhưng chắc chắn sẽ hữu hiệu hơn nữa, nếu một cơ chế quản lý văn minh, minh bạch có các Bộ trưởng thực tài, thực tâm.
Nguồn: Tuan Viet Nam

Thái Lan tăng giá gạo xuất khẩu: Cơ hội cho Việt Nam?


Võ Chung

Không thể thay vị trí Thái Lan

Việc tân Chính phủ Thái Lan của bà Yingluck Shinawatra chi ra khoảng 470 tỉ baht (gần 16 tỉ đô-la Mỹ) để hỗ trợ giá mua lúa cho nông dân. Do vậy, giá gạo xuất khẩu 5% tấm của Thái Lan sẽ tăng lên khoảng 800 đô-la Mỹ, thay vì 550 đô-la Mỹ như hiện nay. Một số doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam hy vọng đây sẽ là cơ hội để trở thành nhà xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Theo nhận định của Tiến sĩ Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, điều này là không thể. Lý do là với diện tích trồng lúa khoảng 10,5 triệu ha, mỗi năm Thái Lan sản xuất hơn 22 triệu tấn gạo, dân số chỉ khoảng 62 triệu người, nên có thể xuất khẩu trên 10 triệu tấn gạo. Trong khi đó, Việt Nam có chưa đầy 4 triệu ha trồng lúa với dân số 90 triệu người, nên chỉ có thể xuất khẩu tối đa trên 7 triệu tấn gạo. Dù dốc lực, Việt Nam cũng khó có thể xuất khẩu bằng Thái Lan do còn phải đảm bảo an ninh lương thực trong nước. Mặt khác, chính sách nâng giá mua gạo sẽ thúc đẩy nông dân Thái mở rộng diện tích trồng lúa trong những năm tới.
Giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam cũng không thể bằng Thái Lan. Xưa nay gạo Việt Nam luôn phải chịu bán với giá thấp hơn gạo của Thái từ vài chục đến cả trăm đô-la/tấn gạo. Có thể nói, gạo Thái xuất cho người giàu ăn, còn gạo Việt Nam xuất cho dân nghèo. “Xuất khẩu gạo của Việt Nam chỉ hơn Thái Lan ở gạo có phẩm chất thấp”, Võ Tòng Xuân, giáo sư nông nghiệp kỳ cựu ở Việt Nam, nói.

Cơ hội tăng giá ‘ké’

Thái Lan chiếm khoảng 30% lượng gạo xuất khẩu của thế giới, Việt Nam chiếm khoảng 20%, còn lại là các nước khác. Do vậy, việc Thái Lan tăng giá xuất khẩu, sẽ làm cho nhiều nước nhập khẩu gạo tìm đến Việt Nam và đây là cơ hội để tăng giá ké.
Gạo xuất khẩu tăng giá sẽ làm cho giá gạo tiêu thụ nội địa tăng, đặc biệt là gạo Thái Lan. Theo Giáo sư Võ Tòng Xuân, chưa thể thống kê được gạo Thái nhập vào Việt Nam là bao nhiêu, do chủ yếu được nhập lậu. Theo ước đoán Giáo sư Võ Tòng Xuân, khối lượng này khoảng vài trăm tấn/năm và chủ yếu bán cho những người giàu. Tiến sĩ Lê Văn Bảnh cũng cho rằng gạo nhập từ Thái không nhiều, chủ yếu là lấy giống về trồng ở Việt Nam. Mặt khác, gạo Thái Lan được bày bán tại các đại lý, cửa hàng chủ yếu do người bán trộn các loại gạo và tự đặt tên để “lòe” người tiêu dùng.
Cả hai nhà khoa học về nông nghiệp hàng đầu vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vùng sản xuất gạo xuất khẩu chính của Việt Nam, đều cho rằng trong thời gian tới giá gạo có thể sẽ tăng, kéo theo nhiều mặt hàng khác cũng tăng giá. Điều này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến khả năng kiềm chế lạm phát trong nước.
Tuy nhiên, chính phủ sẽ không để giá gạo tăng quá cao. Một giải pháp là tạm ngưng xuất khẩu để kìm giá, như đã từng làm vào năm 2008. Gạo ở Việt Nam không chỉ đơn thuần là lương thực, mà còn là mặt hàng mang yếu tố chính trị.

Thái Lan làm được, Việt Nam thì không

Chính phủ Thái Lan sẵn sàng bỏ tiền ra mua gạo giá cao cho nông dân, sau đó các doanh nghiệp mua và xuất khẩu. Với cách làm này, có thể nói Chính phủ Thái chịu lỗ để nông dân được lợi.
Theo Giáo sư Võ Tòng Xuân, Việt Nam không thể làm như vậy được vì nhà nước không có đủ tiền để gánh cho nông dân. Giá gạo nói riêng và giá các loại nông sản nói chung xưa nay vẫn bị thương lái và các công ty lương thực thao túng, trục lợi trên đầu trên cổ người nông dân.
Không ít ý kiến cho rằng giá lúa, gạo thu mua tại Thái Lan cao sẽ khiến cho thương lái nước này sang Campuchia, Việt Nam mua gạo về để bán chênh lệnh. Giáo sư Võ Tòng Xuân nhận định điều này là không thể bởi Bộ Thương mại Thái Lan có quy trình kiểm tra rất khắt khe chất lượng trước khi nhập kho, nên gạo của Việt Nam lọt vào kho Thái không hề dễ.
Gạo của Thái Lan có uy tín trên thị trường xuất khẩu do nông dân nước này chỉ trồng vài ba giống có chất lượng, được đăng ký rõ ràng, dù năng suất không cao. Trong khi đó, ở Việt Nam có cả trăm giống lúa, nông dân nơi nào cũng muốn trồng lúa có năng suất cao mà không chú ý đến chất lượng. Mặt khác, các thương lái mua về trộn lại để pha chế ra nhiều giống khác nữa. Với cung cách ấy, dù có xuất khẩu nhiều cũng khó tạo được thương hiệu.
“Đáng tiếc bao nhiêu năm nay, vì lợi ích của một số người, dù Việt Nam xuất khẩu gạo với số lượng lớn nhưng người trồng lúa vẫn chưa có được hưởng lợi thật sự”, Giáo sư Võ Tòng Xuân nói.
Theo ông, để gạo Việt Nam tạo được uy tín trên thị trường thế giới, nhà nước cũng như người nông dân trồng lúa phải có chính sách rõ ràng. Các đơn vị xuất khẩu phải chấm dứt cung cách làm ăn chụp giật và tuân thủ quy trình khoa học, không lợi dụng người nông dân. Họ cần tạo vùng nguyên liệu ổn định cho riêng mình, đăng ký giống nào sản xuất giống đó, hoặc đặt hàng để cho nông dân sản xuất.
Theo Bay Vút

Thật ra chúng ta nên sợ điều gì ở Trung Quốc?

Vivek Wadhwa
Các nhà hoạch định chính sách Mỹ đang lo lắng về sự gia tăng rõ rệt con số các bài báo khoa học được xuất bản và số bằng sáng chế được cấp cho giới nghiên cứu ở Trung Quốc. Họ tin rằng điều này sẽ tạo cho Trung Quốc một lợi thế cạnh tranh khủng khiếp trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo. Xét tới cùng, Trung Quốc hiện chỉ đứng thứ hai, sau Mỹ, về số lượng ấn phẩm khoa học, và từ nay tới năm 2015, mỗi năm Trung Quốc sẽ đăng ký số bằng sáng chế nhiều hơn cả Mỹ.
Giới làm chính sách của Mỹ lo ngại là đúng, nhưng họ lại đang lo nhầm chỗ.

Thứ Năm, ngày 29 tháng 9 năm 2011

Trung Quốc đang hướng tới sụp đổ?


Đôi lời: Với sự hiểu biết sâu sắc không chỉ về tình hình chính trị Trung Quốc, mà còn về các lĩnh vực lịch sử, văn hóa, địa lý, dân tộc học, thậm chí cả triết lý sống –  một điều hiếm thấy ở một nhà báo phương Tây – tác giả, ông Samuel Bleicher đã từng làm việc cho Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, cũng như đã trải qua nhiều năm sống và làm việc ở Trung Quốc. Ông Bleicher hiện là giáo sư liên kết của Ðại học Geogertown, có công ty tư vấn riêng mang tên, The Strategic Path LLC.
Qua bài phân tích này, ông Bleicher đã chỉ ra rằng, sự thay đổi chế độ ở Trung quốc không thể sớm xảy ra một cách dễ dàng, khác với các nhận định đơn giản của khá nhiều người, trong đó có một số kinh tế, chính trị gia, cho rằng, sự sụp đổ ở Trung Quốc tất yếu sẽ xảy ra một khi nền kinh tế ở nước này bị suy thoái. Ngay cả khi xung đột xã hội căng thẳng đang diễn ra ở Trung Quốc cũng khó có thể đủ để châm ngòi cho một cuộc cách mạng ở nước này.
Tuy nhiên, điều thú vị chính là ở chỗ, tác giả đã chỉ ra các kịch bản thay đổi chế độ có khả năng xảy ra, tuỳ thuộc vào các điều kiện trong và ngoài nước. Trong một thế giới liên kết chặt chẽ của thời đại toàn cầu hóa mà Trung Quốc đã chấp nhận tham gia cuộc chơi và đã được hưởng khá nhiều lợi ích từ thế giới bên ngoài, các yếu tố chính trị, kinh tế, dân chủ và quân sự bên ngoài chắc chắn ảnh hưởng đến sự thay đổi này. Nhưng quan trọng hơn cả là vận mệnh chính trị Trung Quốc, giờ đây không chỉ là ván cờ giữa các phe phái trong giới lãnh đạo Ðảng Cộng sản Trung Quốc, mà người dân Trung quốc bắt đầu đóng vai trò chính trong cuộc chơi và cũng chính họ cuối cùng sẽ là những người chiến thắng trong ván cờ này.
————
Foreign Policy in Focus

Trung Quốc đang hướng tới sụp đổ?

Samuel A Bleicher
13-09-2011
Có một hợp đồng xã hội được ngầm hiểu, đặt nền tảng cho mối quan hệ giữa người dân Trung Quốc với chính quyền. [Theo hợp đồng đó] người dân chấp nhận sự chuyên chế của Ðảng Cộng sản Trung Quốc, với tệ nạn tham nhũng và sự tham gia tối thiểu của công chúng [trong việc điều hành đất nước], chính quyền cộng sản Trung Quốc không ngừng cải thiện nhanh đời sống kinh tế. Nhưng hợp đồng xã hội đó đang có nguy cơ bị phá vỡ, do Trung Quốc đang trên con đường [phát triển] không bền vững, sẽ dẫn đến sự trì trệ hoặc suy giảm kinh tế trong những thập niên tới.
Thủ phạm đứng sau sự suy thoái đang đe dọa Trung Quốc là các giới hạn sinh thái, hiện đứng đầu danh sách này. Chẳng hạn như, trong quyển sách khi một tỷ người Trung Quốc hành động (Nguyên văn: When A Billion Chinese Jump), Jonathan Watts liệt kê danh mục các thảm họa sinh thái hiện tại, cũng như các thảm họa tiềm ẩn: khai thác mỏ than đến cạn kiệt ở các tỉnh miền Tây khô ráo, đánh bắt cá và hải sản quá mức, thiếu nước và ô nhiễm nước công nghiệp, khai thác các khu rừng nguyên sinh và đồng cỏ đến mức không thể phục hồi được, tất cả những điều vừa kể càng làm tăng thêm hiệu ứng do sự thay đổi khí hậu toàn cầu.
Kế đến là do sự điều hành thiếu hữu hiệu: các quyền sở hữu đáng tin cậy, nền hành chính trung thực, sự giám sát pháp lý công bằng. Sự điều hành thiếu hữu hiệu kể trên không những gây khó khăn về mặt xã hội, mà còn được coi như là chướng ngại quan trọng, ngăn cản nền kinh tế tiếp tục phát triển. Những nghiên cứu gần đây cho rằng, tiến bộ kinh tế tương quan với sự quản lý điều hành tốt, Mark Whitehouse công bố trên báo Wall Street Journal rằng: “Trung Quốc đã đạt được tiến bộ lớn trong việc giúp người dân thoát khỏi thứ hạng các nước nghèo nhất. Nhưng nếu kinh nghiệm của các nước khác là một chỉ dấu nào đó, thì Trung Quốc cần một cuộc cách mạng để trở thành một quốc gia giàu có“.      
Một sức ép thứ ba lên hệ thống của Trung Quốc là sự lựa chọn kinh tế vĩ mô của chính phủ không bền vững. Theo Strafor, sự mất cân đối trong đầu tư ở Trung Quốc, cấu trúc kinh tế theo kiểu vụ lợi, chắc chắn tạo ra “một cuộc chạy đua không những giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ hoặc thậm chí giữa Trung Quốc và thế giới” mà là “một cuộc đua để xem điều gì sẽ đập vỡ Trung quốc trước, sự mất cân bằng nội tại của chính Trung Quốc hay quyết định của Hoa Kỳ thực hiện biện pháp vụ lợi hơn đối với mậu dịch quốc tế“.
Khi một hoặc nhiều sức ép kể trên gây ra sự trì trệ kéo dài hoặc suy thoái kinh tế, chính quyền ÐCSTQ sẽ không thể đem lại tăng trưởng kinh tế như đã hứa hẹn. Các thảm họa kinh tế và xã hội sắp xảy ra, gồm sự phụ thuộc vào các nguyên liệu thô nhập khẩu đắt đỏ ngày càng nhiều, nhu cầu xuất khẩu bị giảm đáng kể, các vụ bạo loạn do công nhân nghành xuất khẩu và các sinh viên đại học tốt nghiệp bị thất nghiệp gần đây, sự sụp đổ trong ngành bất động sản, lạm phát tăng nhanh và sự khan hiếm thực phẩm ở các vùng thành thị.
Một cách rõ ràng hay ngầm hiểu, nhiều điều trong các cuộc thảo luận về “con đường không bền vững” cho rằng, sự trì trệ hoặc suy thoái kinh tế sẽ huỷ diệt chế độ CSTQ, một khi chế độ này thất bại trong thực hiện được hợp đồng xã hội. Có nhiều thay đổi chế độ tương tự, từ sự sụp đổ mang tính lịch sử của các triều đại Trung Quốc và sự sụp đổ của Liên Xô cùng chế độ cộng sản ở các nước đồng minh Ðông Âu, cho đến Cách Mạng màu trong những năm 2000, và gần đây là các cuộc nổi dậy Mùa Xuân Ả Rập ở Tunisia, Ai cập, Yemen, Lybia và Syria.
Tuy nhiên, đặc tính của một nước Trung Quốc đương đại lại hoàn toàn khác so với những nước đã có sự thay đổi chế độ vừa kể. Đặc thù của Trung Quốc khiến cho chế độ CSTQ khó có thể tan rã đột ngột, ngay cả khi phải liên tục đối mặt với khó khăn về kinh tế. Câu hỏi thực sự là, liệu chế độ này sẽ đáp ứng bằng cách thay đổi thành một chế độ cởi mở hơn, một chế độ có sự tham gia của quần chúng, hay một nền chuyên chế ngày càng tàn bạo và bị cô lập. Chỉ có giới lãnh đạo và nhân dân Trung Quốc là những người cuối cùng có thể thực hiện sự lựa chọn hệ trọng này. Hoa Kỳ và phương Tây cần đi những bước thận trọng để tránh bị cho là nguyên nhân gây ra sự nguy khốn về kinh tế ở Trung Quốc.
Tác động của các yếu tố kinh tế và văn hóa
Mặc dù có những điểm giống nhau có thể dễ dàng nhận ra, chế độ CSTQ chắc chắn sẽ không sụp đổ giống như chế độ chuyên chế toàn trị ở Liên Xô hoặc chế độ Mubarak ở Ai Cập. Trung Quốc thuộc loại khác, do vấn đề dân số và văn hóa, cấu trúc kinh tế và chính trị hợp thành một thể thống nhất có tính quốc gia, cũng như bản chất của sự đối kháng quần chúng. Quan niệm cho rằng, khi tăng trưởng kinh tế chấm dứt sẽ làm cho chế độ CSTQ sụp đổ, đã bỏ qua yếu tố thực tế về xã hội Trung Quốc.
Đặc thù của Trung Quốc trước hết là tính đồng nhất về văn hóa của nước này. Trong số 1,3 tỷ dân thì 92% là người Hán, có cùng ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo và các quan điểm triết lý, và thể chất tương tự, làm giảm thiểu sự chia rẽ. Dân chúng ở các vùng tự trị Quảng Châu, Nội Mông, Tây Tạng, và Tân Cương có đặc thù ngôn ngữ, văn hóa, diện mạo, và với nhiều mức độ khác nhau, họ xem mình không phải người Hoa. Nhưng không một sắc tộc nào trong số 56 dân tộc thiểu số ở Trung Quốc có đông hơn 1,25% dân số Trung Quốc. Tây Tạng là những người được quốc tế biết rõ nhất, dân số cũng chưa tới 6 triệu người. Hơn nữa, thực tế địa lý ràng buộc chặt chẽ giữa các vùng tự trị đó với Trung Quốc về mặt kinh tế, và chế độ CSTQ đang thúc đẩy các mối liên hệ đó qua việc di cư người Hán.  
Liên Xô là nước có “kịch bản thay đổi chế độ” duy nhất gần giống Trung Quốc về mặt qui mô dân số, nhưng ngay từ đầu, Liên Xô đã là một liên bang, gồm các nước cộng hòa tách biệt về ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo và có mức sống khác nhau. Phần lớn những nước đã từng trải qua sự thay đổi chế độ là những nước nhỏ hơn Trung Quốc rất nhiều và không đồng nhất về văn hóa. Ai Cập là nước lớn nhất trong các nước xảy ra cách mạng Mùa Xuân Ả Rập, cũng chỉ có 78 triệu người, và khoảng 90% dân số theo đạo Hồi. Năm trong mười tám tỉnh ở Trung Quốc có dân số lớn hơn thế. Nước lớn nhất đã xảy ra Cách Mạng màu là Ukraine, có dân số dưới 50 triệu người, trong đó có 20% là người sắc tộc và sử dụng tiếng Nga.
Văn hóa Trung Hoa đã duy trì tính liên tục bền vững, nhưng cấu trúc kinh tế và xã hội đã thay đổi một cách đột ngột trong 30 năm qua. Hầu hết các hoạt động kinh tế giờ đây là một phần của một thể hợp nhất, với các công ty nhà nước và tư nhân trên danh nghĩa do chính quyền chỉ đạo, hợp tác để mở rộng sản xuất. Khoảng một nửa dân số sống ở thành thị. Chính sách định hướng xuất khẩu về “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” đã khiến các vùng duyên hải giàu có phụ thuộc nặng nề vào sự thâm nhập thị trường nước ngoài và nguồn lao động nội địa, cũng như nguyên liệu thô.
Khác với các triều đại Trung Quốc trước đây, nông nghiệp không còn là yếu tố chi phối hệ thống kinh tế Trung Quốc. Nền tài chính của chế độ CSTQ không còn phụ thuộc vào thuế của các sản phẩm nông nghiệp. Thay vào đó, Trung Quốc trợ cấp các vùng nông thôn bằng ngân quĩ có được từ xuất khẩu. Nguồn dự trữ ngoại tệ dùng để nhập khẩu thực phẩm trong giai đoạn đói kém và hạn hán. Một cuộc nổi dậy của nông dân giống như thế đã từng bị các triều đại phong kiến đàn áp, khó có thể xảy ra để lật đổ chế độ hiện tại.
Nền kinh tế kế hoạch của Liên Xô không có sự trao đổi mậu dịch với nước ngoài, các sản phẩm và dịch vụ còn tương đối thô sơ và bị lệch theo hướng có lợi cho Moscow và St. Petersburg (2 trung tâm quyền lực chính trị của Liên Xô thời bấy giờ – ND). Các nước cộng hòa ở châu Âu và các đồng minh Liên Xô đã dự đoán chính xác rằng, có thể cải thiện nhanh mức sống bằng cách thoát khỏi Liên Xô và mở cửa giao thương với Tây Âu. [Trong khi đó] không hề có sự thúc đẩy tương tự ở một vùng nào của Trung Quốc vốn đã được hưởng lợi từ thương mại quốc tế cũng như đang dựa vào mậu dịch quốc tế. Bất kỳ tỉnh nào cố tách ra khỏi Trung Quốc sẽ chịu hậu quả nặng nề về mặt kinh tế.
Mặc dù thu nhập trung bình ở Trung Quốc gần bằng những nước đã trải qua cách mạng Mùa xuân Ả Rập và Cách Mạng màu, hơn 200 triệu người Trung Quốc hiện đang được hưởng đời sống “trung lưu” thành thị. Tình trạng kinh tế của họ phụ thuộc vào sản xuất ở các xí nghiệp, xây dựng, thương mại quốc tế và tài chính. Tỷ lệ thất nghiệp ở Trung Quốc năm 2008 là 4%, và hầu hết mọi người đều có việc làm vì lý do kinh tế lẫn văn hóa. Tỷ lệ thất nghiệp năm 2008 được báo cáo là 30% ở Lybia, 14% ở Tunisia và 8% ở Ai Cập và đó là con số trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu. Không kể đến xuất khẩu dầu, những nước Ả Rập này là những nước kém phát triển nhất, năng suất lao động kém hiệu quả nhất trên thế giới.
Các lực lượng chính trị đối lập
Giờ đây, chế độ CSTQ thực hiện theo mô hình lãnh đạo ở các tập đoàn công ty, với các nhiệm kỳ đã được xác định rõ, đem lại một mức độ ổn định mà các chế độ cộng sản khác chưa bao giờ đạt được. Sự quá đáng của Mao và “Bè lũ bốn tên” cảnh báo chống lại bất cứ điều gì dẫn đến sự cai trị của một người. Trung Quốc mong muốn được quốc tế tôn trọng, với khuynh hướng có tính văn hóa sâu sắc, ủng hộ sự đồng thuận, ngăn cản bất cứ ý kiến cấp tiến nào, nên chỉ có thể quyết định được những chuyện nhỏ mà mọi người đồng thuận (*). Chế độ ủy ban không rõ ràng là sự tương phản của chủ nghĩa “sùng bái cá nhân”, có mặt ở hầu hết các nước đã trải qua sự thay đổi chế độ đột ngột.
Mục tiêu của chế độ CSTQ là “một xã hội hài hòa” dựa trên “qui luật phát triển khoa học”. Một số ít người Trung Quốc nghi ngờ giới lãnh đạo trung ương muốn cải thiện kinh tế tốt hơn, bất cứ điều gì họ nghĩ tới, đều dẫn đến vấn đề nhân quyền. Một lực lượng đối lập thống nhất chống lại các ủy ban hoạt động theo phương pháp đồng thuận thì khó hơn là chống lại một cá nhân lãnh đạo tự khoe khoang, tô vẽ, rất dễ nhìn thấy.
Về mặt hành chính, chế độ CSTQ là một thể chế thống nhất. Quan chức trong các tỉnh thay phiên nhau điều hành và thường ít có sự liên hệ với hệ thống pháp lý mà họ điều hành. Tương tự, quân đội cũng hoạt động như một tổ chức quốc gia thống nhất. Các sỹ quan quân đội cao cấp là đảng viên Ðảng Cộng sản, tham gia một cách tích cực. Sự sắp đặt này nhằm cổ vũ cho sự trung thành đối với thể chế quốc gia và ngăn chặn các liên minh đối lập hoặc các lực lượng ly khai tiềm ẩn.
Do mối liên hệ sâu sắc về chính trị và kinh tế giữa Trung Quốc với thế giới bên ngoài, hoạt động [của đất nước] sẽ không thực tế nếu thiếu [sự điều hành của] một chính phủ trung ương hữu hiệu. Phá vỡ [sự thống nhất quốc gia] sẽ bị nguyền rủa về mặt tâm lý đối với đa số người dân Trung Quốc, những người được học về một nước Trung Quốc “yếu đuối” bị các cường quốc đế quốc làm nhục hồi thế kỷ 19.  Bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài cũng sẽ làm cho người dân Trung Quốc đoàn kết để chống lại.
Hơn nữa, trong một thế giới được trang bị vũ khí nguyên tử và liên kết với nhau về mặt kinh tế, các nước khác cũng muốn làm việc với một chế độ trung ương có quyền hành về quân đội, chính trị và kinh tế. Việc các cường quốc và các tổ chức quốc tế tiếp tục công nhận chế độ CSTQ sẽ phá hoại các phong trào đối lập và ly khai. Thời kỳ “các nước trong tình trạng chiến tranh” xuất hiện trở lại (hoặc đưa Ðài Loan trở về với Đại Lục) là điều không thể tưởng tượng có thể xảy ra trong thế kỷ 21.
Hàng ngàn người biểu tình phản đối chính quyền, các vụ biểu tình, nổi loạn và các hành động bạo lực đã xảy ra ở Trung Quốc hàng năm. Nhưng hầu như tất cả đều phát sinh từ những hành vi tệ hại ở cấp địa phương hoặc công ty: các kiểu làm ăn suy đồi [về đạo đức] như: giả mạo thực phẩm, xây dựng trường học bằng hàng dỏm, làm ô nhiễm môi trường hoặc đối xử tuỳ tiện với những người dân dám thách thức các quan chức tham nhũng. Các nhóm chống đối thường kêu gọi sự giúp đỡ của [chính quyền] Bắc Kinh, thỉnh thoảng chính quyền cũng trở thành anh hùng do thực hiện các hành động sửa sai.
Chế độ CSTQ tấn công dữ dội vào bất kỳ tổ chức quốc gia nào mà họ không công nhận, dù là tổ chức tôn giáo (Pháp Luân công) hay chính trị (Tuyên ngôn 2008). Lo sợ về một cuộc “Cách mạng hoa nhài” ở Trung Quốc hay các cuộc biểu tình nhỏ tổ chức trên mạng Twitter đã xảy ra trong năm 2011, các bộ phận an ninh Trung Quốc đã phản ứng bằng cách đánh phủ đầu, kể cả việc bắt giữ và làm biến mất những người “gây rối” như họa sĩ nổi tiếng Ngải Vị Vị và 20 luật sư nhân quyền hàng đầu của nước này. Chế độ này cũng bắt đầu kiểm soát các phương tiện liên lạc điện tử hết sức tinh vi. Những hành động đó đã vô hiệu hóa bất kỳ mối đe dọa nhỏ nhặt nào có thể tồn tại mà họ thấy.
Thời Trung Hoa đương đại chỉ có vài sự kiện có thể tập trung sự giận dữ ảnh hưởng tới chế độ. Các cuộc bầu cử có nhiều ứng viên trong nội bộ đảng chỉ xảy ra ở cấp địa phương. Chẳng có sự thống nhất quan trọng nào có thể so sánh được với các cuộc bầu cử gian lận ở những nước xảy ra Cách Mạng màu. Bất kỳ sự chống đối đáng kể nào đối với thể chế quốc gia này đều phải đối mặt với thực tế khó khăn lớn, khi thiếu một tổ chức hoặc không có những người lãnh đạo ở tầm quốc gia.
Sự bất bình về tai nạn tàu cao tốc gần Ôn Châu xảy ra gần đây đã lan rộng trong quần chúng và tiếp theo là sự che đậy bằng cách dập tắt các tin tức có liên quan, cho thấy có khả năng [xảy ra] một kiểu châm ngòi khác [cho quần chúng]. Bộ Ðường sắt Quốc gia chịu trách nhiệm trực tiếp về chương trình tàu cao tốc, và vì vậy sự căm ghét của công chúng nhắm trực tiếp vào cấp trung ương của chế độ CSTQ. Chính quyền đã sa thải 3 viên chức cao cấp trong Bộ Ðường sắt và chắc chắn sẽ đền bù thiệt hại cho những người bị thương, nhưng các hành động như thế không giải quyết được mối lo ngại sâu sắc của người dân về chính sách, sự minh bạch, và xử lý vấn đề đúng luật. Một thảm họa lớn như vụ tai nạn lò phản ứng hạt nhân Fukushima tan chãy có thể dấy lên sự chống đối chế độ CSTQ mạnh mẽ và liên tục. Tuy nhiên, mặc dù các dự án được kiểm soát ở tầm quốc gia, đặc biệt là các nhà máy năng lượng hạt nhân, sẽ trở nên phổ biến hơn khi Trung Quốc tiến bộ hơn về mặt kỹ thuật, khả năng một tai nạn lớn có thể làm rung chuyển chế độ CSTQ dường như rất nhỏ.
Ðiều gì sẽ xảy ra với chế độ Cộng sản Trung Quốc
Những ví dụ về ‘kịch bản thay đổi chế độ’ cho thấy, người dân bị thúc đẩy để lật đổ các chế độ toàn trị khi chính quyền ở những nước này đe dọa sự sống còn của các phe nhóm không đủ mạnh, thất bại trong việc lập chính sách giải quyết vấn đề thất nghiệp và lạm phát cao, hoặc tham gia các hoạt động phi pháp trắng trợn để tiếp tục nắm quyền, khi đương đầu với sự giận dữ của đông đảo quần chúng chống đối. Những điều vừa kể, không có điều nào áp dụng vào tình hình Trung Quốc hiện nay.
Tuy nhiên, suy thoái kinh tế chắc chắn sẽ dẫn đến thay đổi. Một kết quả có thể xảy ra [do suy thoái] sẽ là đấu đá chính trị nội bộ làm cho các phe phái suy yếu hơn, khi tìm cách bảo vệ phần (kinh doanh, tài sản) của họ trong một nền kinh tế trì trệ. Một kết quả khác nữa là Trung Quốc sẽ ngày càng bận tâm đối phó với thách thức nội bộ và ít quan tâm đến vai trò lãnh đạo, hay thậm chí vai trò đáp ứng trong quan hệ toàn cầu.
Ðể giảm bớt sự bất mãn cao độ [trong quần chúng] về việc điều hành kinh tế kém cỏi liên tục kéo dài, ÐCSTQ có thể sẽ không bầu lại người giữ chức chủ tịch thêm nhiệm kỳ thứ hai, hoặc thậm chí chủ tịch có thể từ chức trước khi kết thúc nhiệm kỳ. Tuy nhiên, những điều làm cho kinh tế suy thoái sẽ không biến mất. Không có chủ tịch mới nào sẽ có thể ngăn chặn được sự suy thoái.
Ban lãnh đạo mới có thể không làm vừa lòng công chúng được lâu, đặc biệt do sự thay thế này cũng đến từ một quá trình [chọn lựa] không rõ ràng như cũ và cũng từ những cán bộ cũ là đảng viên ĐCS Trung Quốc. Khác với một cuộc bầu cử thực sự, quá trình thay thế lãnh đạo này sẽ không tạo ra sự tin tưởng trong dân chúng về các nhà lãnh đạo mới, hay bất kỳ sự quan tâm nào đến sự thành công của họ. Khôi hài hơn, sự thay đổi trong giới lãnh đạo ĐCSTQ không dự trù trước có thể bị coi như thừa nhận thất bại, điều này thúc đẩy nhu cầu thay đổi hệ thống chính trị thực sự hơn nữa. Kết quả cuối cùng có thể lại là sự lo sợ hoang tưởng hơn trong giới lãnh đạo, dẫn tới sự thay đổi mang tính hình thức, gia tăng ảnh hưởng hoặc thậm chí nắm quyền quân đội và các cơ quan an ninh.
Do phải đối phó với các vấn đề vô cùng khó khăn về môi trường và kinh tế, chế độ ÐCSTQ có thể sẽ cố thử nhiều cách cải cách khác nhau như kiểu công khai (glasnost) và đổi mới (perestroika), cho phép sự tham gia chính trị rộng rãi hơn [trong dân chúng]. Mục tiêu của những cải cách này là giảm bớt nỗi bất bình trong dân chúng, cho người dân có cảm giác lớn hơn trong việc tham gia và ủng hộ chính sách của chế độ.
Chiến lược này gồm, gia tăng nỗ lực giảm bớt tệ nạn tham nhũng ở địa phương. Cho phép sử dụng nhiều hơn hệ thống toà án, điều trần chính phủ, truyền thông và các hệ thống khác để dân chúng bày tỏ nỗi bất bình, cũng như sửa sai, bồi thường. Những điều vừa kể, có thể lái sự tức giận của công chúng sang hướng khác, tránh sự nổi đậy. Những bước đi đó có lẽ là chiến thuật tốt nhất để bảo đảm sự sống còn của chế độ về lâu dài, vượt qua thời kỳ khó khăn trước mắt.
Tuy vậy, việc mở rộng sự thay đổi để quần chúng tham gia [điều hành đất nước] là điều tất yếu. Rõ ràng là chế độ CSTQ hiện nay tin tưởng rằng, bất kỳ sự phát tán quyền lực cai trị đáng kể nào, cũng sẽ dẫn đến sự suy yếu không thể chấp nhận được, hoặc dẫn đến sự kết thúc của chế độ. 
Một khả năng tiềm ẩn khác là, khi nền kinh tế liên tục trì trệ, bất mãn sẽ gia tăng, điều này sẽ thúc đẩy gia tăng cường độ đàn áp các tổ chức, cũng như đàn áp những tiếng nói đối lập thật sự hoặc tiềm tàng. Ông James Fallows, một nhà quan sát nhạy bén cho rằng, quá trình này đã bắt đầu, ở một mức độ nào đó là các phản ứng của chính quyền đối với cách mạng Mùa Xuân Ả Rập. Kết quả là sự gia tăng ảnh hưởng của quân đội và các cơ quan an ninh có thể đẩy chính sách của chính quyền theo hướng đàn áp và độc tài hơn. Một đặc tính của nhiều chế độ toàn trị đó là, dần dần biến thành chủ nghĩa quân phiệt và về mặt này có lẽ Trung Quốc không phải là trường hợp ngoại lệ.
Về lâu dài, các biện pháp này dường như có thể phát sinh sự bất mãn và chống đối nhiều hơn trong dân chúng khi điều kiện kinh tế và chính trị không được cải thiện. Nếu sự chuyên chế toàn trị và kinh tế thường xuyên sa sút, kèm theo nạn tham nhũng tiếp tục, tự tung tự tác, đàn áp, bất công, và nếu các quyền lợi của giới công chức, chính trị và kinh tế làm cho các nguồn tài nguyên chệch khỏi quyền lợi của toàn bộ dân chúng, chế độ CSTQ cuối cùng sẽ phải đối mặt với sự chống đối của đông đảo quần chúng. Trong cơn tuyệt vọng, chế độ này thậm chí có thể đe dọa các nước láng giềng bằng quân sự, hoặc một thủ đoạn chính trị nội bộ có tính toán, hoặc là kết quả của một sự sợ hãi và hoang tưởng trong giới lãnh đạo. Kết quả này có khả năng sẽ tàn phá cả Trung Quốc lẫn thế giới bên ngoài.   
Phương tây và sự suy thoái của Trung Quốc
Rất nhiều bằng chứng cho thấy, sự tăng trưởng hiện nay của Trung Quốc không bền vững do nhiều nguyên nhân. Nếu quả thực như vậy, Trung Quốc đang đối mặt với khó khăn, bất kể đặc trưng của chế độ cai trị như thế nào. Sự suy thoái của Trung Quốc, đặc biệt nếu gây ra tình trạng hỗn loạn ở đó, có thể gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế của Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế, vốn phụ thuộc vào Trung Quốc như một cỗ máy cho sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu, cũng như một đối tác về hợp tác hòa bình trong vấn đề kiểm soát phổ biến hạt nhân. Sự trì trệ hoặc suy thoái  kinh tế lâu dài [ở Trung Quốc] ảnh hưởng đến chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế.
Trong ba thập kỷ qua, Hoa Kỳ và châu Âu theo đuổi một loạt chính sách thiết kế nhằm đưa Trung Quốc vào hệ thống kinh tế và chính trị toàn cầu. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều người trong Quốc Hội [Mỹ] lập luận rằng, Trung Quốc hiện quá mạnh, đã đến lúc phải đòi Trung Quốc thay đổi chính sách vụ lợi về định giá tiền tệ, bảo vệ sở hữu trí tuệ và các vấn đề nhân quyền. Nhưng thay đổi hướng đi của Mỹ và châu Âu trong lúc này có thể là bước đi không thích hợp.
Mặc dù Trung Quốc hiện nay có vẻ giống một đối thủ chính trị và kinh tế đang trỗi dậy, tình trạng đó có thể nhanh chóng bị đảo ngược. Các dự đoán sai lầm về “Nhật Bản là số một” cách nay ba thập niên, nên dùng để cảnh báo thế giới bên ngoài, không nên phản ứng quá mức về “mối đe dọa Trung Quốc“. Các biện pháp trừng phạt của Hoa Kỳ trong việc đáp trả chính sách vụ lợi về tiền tệ và trao đổi mậu dịch, cũng như không tuân thủ các quyền sở hữu trí tuệ, cho dù chính đáng, nhưng có thể gây ấn tượng ở Trung Quốc, rằng Hoa Kỳ đã tạo ra, hay ít nhất cũng đã thúc đẩy và làm cho kinh tế Trung Quốc suy thoái trầm trọng hơn. Hoa Kỳ nên tránh, không để cho ÐCSTQ có bất cứ lý do nào cáo buộc Hoa Kỳ là nguyên nhân gây ra các tai họa ở Trung Quốc. Nếu toàn bộ người dân Trung Quốc xem Mỹ là nguyên nhân gây ra tai họa, thì quan hệ Mỹ – Trung có thể bị hủy hoại trong nhiều thập kỷ.  
Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế cũng nên nhìn nhận rằng, khi kinh tế Trung Quốc xấu đi, bất kỳ sự vận động quân sự mang tính đối đầu nào cũng dễ gặp phải sự leo thang [chống đối], hơn là sự nhân nhượng. Sự đối đầu có thể đẩy chế độ CSTQ vốn đang chật vật, thực hiện chủ nghĩa yêu nước hiếu chiến, tập hợp dân chúng đứng lên. Chế độ CSTQ đã tẩy não người dân và sử dụng tình cảm chống Nhật như mục đích chính trị đối với những người Trung Quốc sinh ra sau Đệ nhị Thế chiến rất lâu. Chiêu bài “mối đe doạ ngoại bang” sẽ được dùng để cổ vũ dân chúng đoàn kết, cũng như biện hộ cho bất kỳ sự đàn áp nào đối với thành phần đối lập trong nội bộ xuất hiện, dù đó là sự chống đối thực hay chỉ là cảm  nhận. Chế độ CSTQ cũng ưu tiên gia tăng chi tiêu quốc phòng và đánh lạc hướng quần chúng khỏi các diễn biến bất lợi về sinh thái cũng như kinh tế. Hoa Kỳ nên thật sự cố gắng, tránh trở thành kẻ thù mới của Trung Quốc. Mỹ cần đi những bước thận trọng để tránh làm cho sự suy thoái kinh tế ở Trung Quốc càng tồi tệ hơn, cho cả Trung Quốc lẫn các nước còn lại trên thế giới.  
Nguyễn Trùng Dương dịch từ Foreign Policy in Focus
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011
———–
Ảnh: Tập Cận Bình, có thể là lãnh đạo mới của Trung Quốc.
Ghi chú của editor:
(*) China’s desire for international respectability, along with a deep cultural bias favoring consensus, discourages anything more radical than “muddling through”: Do văn hóa Trung Quốc không chấp nhận sự khác biệt, nên tất cả mọi người phải đồng thuận về một vấn đề nào đó thì mới thông qua. Trên thực tế, con người vốn sinh ra đã không giống nhau, nên rất khó có thể tìm sự đồng thuận của tất cả mọi người trong cùng một vấn đề. Vì không chấp nhận ý kiến khác biệt, nên Trung Quốc không thể thực hiện những quyết định lớn, bởi thiếu sự đồng thuận của tất cả mọi người, mà chỉ có thể thực hiện những việc nhỏ. Điều này hoàn toàn trái ngược với văn hóa Mỹ và phương Tây: chấp nhận sự khác biệt.