Thứ Bảy, ngày 08 tháng 10 năm 2011

Trung Quốc lại dọa đánh Việt Nam

Xã luận của báo Trung Quốc nói Việt Nam gây căng thẳng
trên Biển Đông
Nguyễn Trọng Vĩnh

1. Trước hết phải nói ngay rằng Trung Quốc không có quyền gì ở Biển Đông

Việt Nam có đầy đủ tư liệu lịch sử và pháp lý về 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Ngay cả một số bản đồ Trung Quốc vẽ trước đây cũng coi Hoàng Sa là của Việt Nam. 200 hải lý trên biển Đông là vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đúng theo công ước quốc tế về luật biển 1982 của L.H.Q còn Trung Quốc thì không đưa ra được cứ liệu lịch sử nào có giá trị đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Chỉ dựa vào cái “lưỡi bò” do chính quyền Tưởng Giới Thạch vẽ ra một cách phi pháp bị thế giới bác bỏ. Trung Quốc chỉ cậy thế nước lớn to mồm tuyên bố chủ quyền có tính chất ăn cướp đối với vùng biển và hải đảo của các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Chính vì thế mà Trung Quốc rất sợ quốc tế hóa và đàm phán đa phương vì Trung Quốc sẽ không có lý lẽ gì để nói, một mực đòi đàm phán song phương để dễ bề ăn hiếp hoặc mua chuộc đối phương, Trung Quốc không có quyền gì ở Biển Đông thế mà những chuyên gia của Trung Quốc cũng như Long Tao lại nói ngược là Việt Nam, Philipin, Malaysia… “xâm chiếm” đảo của Trung Quốc. Kẻ cướp hung khí đầy mình xông vào nhà người ta ăn cướp lại đổ cho chủ nhà là cướp của!

2. Nhà cầm cuyền Trung Quốc thường xoen xoét nói hữu nghị với Việt Nam nhưng luôn đánh và uy hiếp Việt Nam, gần đây lại dọa đánh Việt Nam nữa

Đã có biết bao lời “hữu nghị”, “nghĩa tình” do các nhà cầm quyền Trung Quốc nêu ra: nào “cùng chung lợi ích”, “môi hở răng lạnh”, nào là phương châm “16 chữ”, tinh thần “4 tốt”, nào là “tinh thần đồng chí anh em”, v.v. Nhưng thực tế diễn biến từ trước đến nay như thế nào: năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam lúc đó do Chính phủ Việt Nam cộng hòa quản lý và đóng giữ; Năm 1979, Trung Quốc huy động hàng chục vạn quân bắn giết nhân dân và tàn phá các tỉnh biên giới của Việt Nam mà Đặng Tiểu Bình gọi là “dạy cho Việt Nam một bài học” (chính cuộc bắn giết và tàn phá này đã xóa hết món nợ Trung Quốc giúp Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến trước đây); 1984, Trung Quốc bắn giết hàng trăm binh sĩ của Việt Nam để chiếm cao điểm 1509 nằm trong huyện Vị Xuyên thuộc tỉnh Hà Giang của Việt Nam; Năm 1988 đánh đắm tàu tiếp tế, giết hại 64 binh sĩ Việt Nam ở rường Sa; Từ sau khi lập lại quan hệ bình thường, biết bao nhiêu lần tàu Trung Quốc đâm chìm tàu cá, bắn giết ngư dân Việt Nam, bắt tàu cá của ngư dân hoạt động trong vùng biển của mình, tịch thu ngư cụ, tài sản, đòi tiền chuộc, tàu “hải giám” Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cấm, đuổi ngư dân Việt Nam đánh cá, triệt đường làm ăn sinh sống của họ, cắt cáp tầu Bình Minh 2, phá cáp tàu Viking II, phá các cuộc liên doanh thăm dò dầu khí trong vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam.

Báo Trung Quốc thường xuyên lăng mạ nói nào là bọn Việt Nam “vong ân bội nghĩa”, nào là “bọn tiểu nhân, ty tiện Việt Nam”, “Bọn lang sói Việt Nam”, v.v.

Ngày 17/6/2011, một tờ báo Trung Quốc vu cáo “Việt Nam khiêu khích Trung Quốc” , “Chiếm đóng đảo nhiều hơn”, “Bắt buộc” Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nếu không chịu thì sẽ tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng sẽ “kiên quyết diệt trừ”… “Nếu Việt Namlàm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay. Hãy giết hết bọn giặc Việt Namđể làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa” (Báo điện tử Trung Quốc binh khí đại toàn). Gần đây nhất, tờ Thời báo Hoàn cầu, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đăng bài kêu gọi đánh Việt Nam và Philippin… trong đó có những đoạn: “Việt Nam “xâm phạm” đảo Nam Sa (Trường Sa) của Trung Quốc và đòi hỏi chủ quyền với đảo Tây Sa (Hoàng Sa), đã đến lúc sử dụng vũ lực ở biển Đông”…; “Biển Đông là nơi tốt nhất để tiến hành chiến tranh”…; “dạy cho Việt Nam và Philipin bài học đạo đức bằng vũ lực”…; “Cuộc chiến nên tập trung tấn công vào Philipin và Việt Nam, là 2 nước gây rối nhất để đạt được hiệu quả “giết những con gà để dọa bầy khỉ”.

Đấy, “hữu nghị” của Trung Quốc đối với ViệtNamlà như thế đấy! Chỉ có những ai khờ khạo mới tin những lời đường mật, lừa bịp, đạo đức giả của những người nắm quyền ở Trung Quốc thôi.

3. Chưa phải là thời cơ để Trung Quốc gây chiến tranh đánh Việt Nam và Philipin

Lâu nay cũng như trong sách trắng Trung Quốc thường nêu “Trỗi dậy hòa bình”, “nước lớn có trách nhiệm”, v.v. Nay nếu Trung Quốc gây chiến tranh với Việt Nam và Philipin thì cái “mặt nạ hòa bình” sẽ rơi xuống trước mặt thế giới, bộ mặt đạo đức giả phơi ra. Trung Quốc thường nói: “Trung Quốc mạnh lên nhưng “không xưng bá” nhưng làm sao giấu được trên thực tế chủ nghĩa bành trướng, bá quyền diễn ra khắp nơi. Trong điều kiện toàn cầu hóa, vì lợi ích kinh tế, các nước phải làm ăn hoặc hợp tác với Trung Quốc, một thị trường hơn 1 tỷ dân, nhưng trong thâm tâm họ đều không ưa gì tư tưởng bá quyền của Trung Quốc, đều cảnh giác với “mối đe dọa từ Trung Quốc”, đều cảnh giác cao độ với “chủ nghĩa bành trướng Đại Hán”. Hơn nữa Trung Quốc hiện đương cô lập trước thế bao vây từ Hàn Quốc, Nhật Bản, qua Đài Loan xuống Đông Nam Á,Australia, sắp móc qua cả Ấn Độ.

Trên một số tờ báo Hồng Kông gần đây như Đại công báo, Văn hối, Đông phương nguyệt san, phòng vệ Hán Hòa dẫn lời của “các chuyên gia quân sự Trung Quốc cho rằng còn nhiều “rào cản” đối với Trung Quốc: rào cản chính trị, rào cản quân sự, rào cản địa lý, rào cản chiến thuật… nếu Trung Quốc áp dụng hành động quân sự tại biển Đông, cái giá phải trả sẽ rất đắt”.

Nội tình Trung Quốc hiện tại còn có biết bao nhiêu vấn đề: Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông vẫn tiềm ẩn yếu tố bất ổn, hàng vạn cuộc biểu tình đã xảy ra ở các tỉnh Tây Bắc Trung Quốc, không khí bất mãn xã hội bao trùm nhiều nơi. Cứ có việc gì xảy ra đụng đến người dân là hàng ngàn người tụ tập ngay lập tức phản đối các nhà chức trách, các cuộc đánh bom cơ quan hành chính cũng từng xảy ra.

Trong bối cảnh quốc tế và nội tình Trung Quốc như hiện nay, nếu giới cầm quyền Trung Quốc gây chiến tranh thì không biết điều gì sẽ xảy ra?

4. Hoàn cầu thời báo dọa đánh, chỉ người nhát gan mới sợ, nhân dân Việt Nam không sợ

Là nước nhỏ, từ trước đến nay ViệtNamchưa hề khiêu khích nước lớn Trung Quốc. ViệtNamcũng không muốn đối đầu quân sự với Trung Quốc. Nếu Trung Quốc cậy mạnh đánh ViệtNamthì toàn dân ViệtNamđoàn kết một lòng kiên quyết đánh trả. Biết rằng hải quân Trung Quốc mạnh hơn hải quân Việt Nam, vũ khí, phương tiện hiện đại Trung Quốc hơn Việt Nam nhưng ưu thế về lực lượng và vũ khí phương tiện không nhất định thắng. Thời thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, Pháp có đủ tàu chiến, máy bay, xe tăng, Việt Nam thì không hề có những thứ đó. Cuối cùng Pháp đã thất bại. Thời kháng chiến chống Mỹ, tuy Việt Nam cũng có xe tăng, máy bay, tên lửa, pháo phòng không, pháo mặt đất, v.v. nhưng so với Mỹ thì Mỹ có ưu thế gấp nhiều lần về số lượng và chất lượng vũ khí phương tiện hiện đại, cuối cùng Mỹ cũng chịu thất bại mà rút quân. Kết quả của chiến tranh không chỉ phụ thuộc vào vũ khí mà còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác. Thiên thời, địa lợi, nhân hòa, cả 3 điều này hiện tại Trung Quốc không có. Thắng, bại còn tùy thuộc vào chiến lược, chiến thuật, tùy thuộc ý chí bất khuất kiên cường của quân, dân và tính thần dũng cảm và sáng tạo của chỉ huy, tài thao lược của tướng lĩnh. Những điều này ViệtNamđã chứng minh từ xa xưa đến cận đại. ViệtNamđã có truyền thống và kinh nghiệm “lấy ít địch nhiều”, “lấy nhỏ thắng lớn”, lấy “chính nghĩa thắng hung tàn”. Ai dọa ViệtNamcũng không sợ !

N. T. V.

Nguồn: Bauxite VN

Những tay đàn ông không muốn về nhà


Phùng Hi
Chiều về…
Thợ hồ, thợ sơn, thợ mộc, thợ điện, thợ nước, thợ tiện, thợ hàn, thợ sửa xe, thợ sửa đồng hồ… kéo nhau ra quán cóc, vỉa hè, thành cầu, kè sông uống bia hơi hay rượu đế. Thức nhắm là cóc, ổi, xoài, ốc bươu, ốc quắn, cút nướng, bắp chiên…
Chiều về…
Giáo viên, nhân viên, bác sĩ, kỹ sư, nhà văn, nhà thơ, nhà báo, viên chức, thương gia… rời chổ làm đi nhậu. Tùy đẳng cấp, tùy hệ số lương, tùy bổng lộc, họ ghé quán nhậu, nhà hang, resort phù hợp với túi tiền. Có thể uống bia hay rượu ngoại. Nhắm thịt chó, lẩu dê, gà nướng, tôm nướng, gỏi cá…
Chiều về, cả thành phố tưng bừng nhậu, dzô dzô và dzô dzô. Những phụ nữ có chồng gọi những kẻ đang nhậu đó là “những tay đàn ông không muốn về nhà”.
Làm một cuộc phỏng vấn nhanh “những tay đàn ông không muốn về nhà” này, thấy có quá nhiều lý do: Về nhà sớm chả biết làm gì. Ham vui với bạn bè. Đùn việc nhà cho vợ. A dua. Chứng tỏ dân chơi, sành điệu. Chán nản vợ con bíu ríu. An em réo điện thoại. Không chơi, chúng bảo mình sợ vợ. Có làm, có chơi… Uống riết rồi nghiện ly bia buổi chiều như nghiện ly cà phê buổi sáng vậy.
Nếu xem gia đình là tế bào của xã hội và xem đàn ông là phần nhân của tế bào đó, thì mỗi khi chiều về cái tế bào xã hội kia đang khiếm khuyết nghiêm trọng phần nhân của nó, khuyết từ bốn giờ rưỡi chiều và có khi kéo dài đến nửa đêm.
Làm gì với “những tay đàn ông không muốn về nhà” này bây giờ? Rắn tay với thú uống bia nhưTổng thống Medvedev đã làm ở Nga chăng?
Theo TTCT

Thứ Sáu, ngày 07 tháng 10 năm 2011

Tránh Chiến tranh tận diệt với Trung Quốc

Dan Blumenthal, Mark Stokes, Michael Mazza
Điều đáng mừng là James Traub, một ký giả và nhà văn rất được kính nể, có lẽ đã bật ngửa, không còn tin tưởng Trung Quốc (TQ) là một cường quốc muốn duy trì “nguyên trạng”, căn cứ một phần trên một bài nghiên cứu của chúng tôi.
Chúng tôi hy vọng rằng sẽ có thêm nhiều nhà văn tầm cỡ như Traub cũng bật ngửa như thế trước hiểm họa ngày càng đáng sợ của TQ. Sự thật là, cũng như mọi cường quốc đang trỗi dậy trong lịch sử nhân loại (kể cả Hoa Kỳ), TQ muốn thay đổi các quy tắc, các đường biên giới, và các luật lệ quốc tế được viết ra khi TQ còn yếu kém.
Traub nhận xét rằng TQ “có tiếng là kiên nhẫn và chín chắn” và vì thế “gần như là một điều lạ lẫm” khi TQ “thay đổi lập trường của mình đối với thế giới một cách cực đoan và nhanh chóng như thế”. Nhưng Traub có đủ lương thiện trí thức để nhìn nhận rằng sự “kiên nhẫn” có tiếng của TQ có thể cũng chỉ là “một cách đóng kịch khéo léo, hay một giai đoạn quá độ” mà thôi.
Nhưng có lẽ sự kiên nhẫn của TQ đã luôn luôn được cường điệu. Suốt chiều dài lịch sử của TQ, nước này đã từng lao vào từ thảm họa này sang thảm họa khác, tổn thất không biết bao nhiêu nhân mạng và tài sản (chẳng hạn, Bước Nhảy vọt Vĩ đại, Cuộc Cách mạng Văn hóa, Chiến tranh của Bắc kinh với Việt Nam). Chắc chắn là, khi trở lại địa vị một cường quốc, TQ đã có thêm một cơ hội để “che giấu khả năng và chờ thời cơ” [thao quang dưỡng hối] như Đặng Tiểu Bình đã chỉ thị. Nhưng thay vì làm như thế, TQ lại quyết định xây dựng một quân đội có khả năng gây bất ổn nghiêm trọng trong vùng (xin tham khảo các báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ trong 10 năm qua, bản mới nhấthttps://mail.google.com/mail/?ui=2&view=bsp&ver=ohhl4rw8mbn4) và đã tiến hành những cuộc giương oai giễu võ với Đài Loan, Nhật Bản, Việt Nam, Philippines, Nam Hàn, và, đáng lo ngại nhất, với Mỹ. Hiện nay chính TQ đã tạo điều kiện cho một sự bao vây mà TQ rất sợ.
Theo Traub, không những một mình cựu Thứ trưởng Ngoại giao James Steinberg “nhận xét rằng những khả năng quân sự được gia tăng của TQ” và “thái độ quyết đoán về quyền chủ quyền quá rộng lớn của TQ” ở Biển Đông đã khiến Mỹ và đồng minh phải “nghi ngờ các ý đồ của TQ”. Các nhà lãnh đạo ngoại giao và quân sự của Mỹ cũng bày tỏ sự lo ngại tương tự. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates, một người rất điềm đạm, cũng bày tỏ mối quan ngại của ông về quân lực TQ trên tờWashington Post. Ông nói, quân đội TQ “rõ ràng có tiềm lực đe dọa các khả năng quân sự của chúng ta… Chúng ta cần phải đáp lại thích đáng bằng các chương trình quân sự của mình”.
Và vào tháng Sáu năm nay, khi thuyết trình về việc TQ tăng cường quân lực, Chủ tịch Ban Tham mưu Liên quân, Đô đốc Mike Mullen, đã phát biểu, “Tôi đi từ tâm trạng tò mò sang tâm trạng thực sự lo ngại”. Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton cũng đã đề cập vấn đề này. Phản ứng lại các vụ TQ sách nhiễu qua nhiều năm các tàu bè của Mỹ, Nhật Bản, Việt Nam, và Philippine, năm ngoái Bà Clinton đã có hành động đột phá bằng cách tuyên bố tại cuộc họp thượng đỉnh ở Hà Nội rằng “cũng như mọi quốc gia khác, Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia trong việc tự do lưu thông, tự do tiếp cận các hải phận quốc tế tại châu Á, và có bổn phận tôn trọng luật pháp quốc tế trên Biển Đông”. Đây là một cách nói ngoại giao để cho TQ biết rằng chúng ta sẽ tiếp tục thao diễn quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế của TQ, phù hợp với thông lệ quốc tế, và chúng ta sẽ đảm bảo các đối tác của chúng ta tại châu Á có đủ khả năng chống lại sự ức hiếp của TQ.
Điều này làm chúng tôi chú ý đến điểm bất đồng có vẻ lớn nhất của Traub đối với bài nghiên cứu của chúng tôi: rằng thực hiện những điều mà ông Gates và bà Clinton tuyên bố là cần phải làm (đáp lại TQ bằng các chương trình cải tiến quân sự của chúng ta và đảm bảo tự do thông thương và tự do tiếp cận hải phận quốc tế tại châu Á) là rất tốn kém. Đúng vậy. Duy trì an ninh quốc gia là một nỗ lực rất tốn kém. Nhưng lịch sử của chúng ta đã chứng minh, sự yếu kém quân sự (như giai đoạn trước Trân Châu Cảng, trước Chiến tranh Triều Tiên) khi đối diện với những đe dọa mới lại còn đắt giá hơn, về nhân mạng và ngân sách.
Bài nghiên cứu của chúng tôi không đưa ra tổng số phí tổn để xây dựng các khả năng quân sự mà chiến lược Mỹ cần đến. Nhưng vì ngân sách quốc phòng cơ bản hiện nay đang ở mức thấp nhất sau Thế chiến II, tức 3,5% GDP, cho nên bình ổn nó ở mức 4% GDP, con số mà Traub cho biết ứng viên Tổng thống Cộng hòa Mitt Romney muốn đề xuất, có vẻ là một khởi điểm hợp lý. Chúng tôi thực sự nhận ra được một số khả năng quân sự cần thiết cho chiến lược Mỹ (theo Traub, Blumenthal đã bàn rộng về điểm này trong bản điều trần trước quốc hội gần đây). Một cách hữu hiệu để thoát khỏi sự phá sản chiến lược – một tình trạng mà một quốc gia lâm vào khi nó không đủ ngân sách để tài trợ những cam kết đã đưa ra – là phải cung cấp nguồn lực thích đáng cho các kế hoạch đã được Bộ Quốc phòng đề xuất. Nhưng điều đáng lo ngại là, chính quyền Obama không chịu tài trợ các khả năng quân sự mà quân đội cho là cần thiết để thực thi các sứ mệnh mà các chủ nhân ông dân sự (civilian masters) đã giao phó cho họ.
Chẳng hạn, Hải quân Mỹ cần 328 chiến hạm so với con số 284 hiện nay, nhưng Văn phòng Ngân sách Quốc hội đã tuyên bố mục tiêu đó nằm ngoài khả năng thực hiện. Nói rõ hơn, đội tàu ngầm tấn công hạt nhân chắc chắn sẽ chịu thêm nhiều sức ép. Yêu cầu mà Hải quân đã công bố là 48 tàu loại này. Tuy nhiên, nếu kế hoạch đóng tàu 30 năm của Hải quân không nhận thêm ngân sách, Hải quân Mỹ sẽ khó đạt đủ số 48 tàu ngầm. Ngoài ra, không có một điều khoản nào trong kế hoạch đóng tàu cho phép gia tăng sản xuất khẩn cấp để đáp lại việc TQ càng ngày càng có thêm nhiều tàu ngầm. Trong 16 năm liền, trung bình mỗi năm TQ đưa vào hoạt động trên hai tàu ngầm. Hiện nay TQ có trên 60 tàu ngầm tấn công trong đội tàu ngầm của mình, và đang đóng thêm nữa. Và khác với Mỹ là nước đang phân tán mỏng đội tàu ngầm của mình khắp Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, và Ấn Độ Dương, TQ tung tất cả tàu ngầm sẵn có vào Đông Á và Đông Nam Á.
Trong khi đó, theo ước tính của Không quân, binh chủng này sẽ thiếu hụt một số lượng chóng mặt là 800 máy bay chiến thuật trong vài năm tới. Hải quân và Thủy quân Lục chiến Mỹ ước tính sẽ sẽ thiếu hụt 200 máy bay chiến đấu trong cùng một giai đoạn. Hãy so sánh sự kiện này với việc TQ tăng cường lực lượng máy bay chiến đấu, kể cả chiếc máy bay chiến đấu tàng hình mới ra mắt đã khiến giới quan sát tình hình TQ (kể cả chúng tôi) thêm một lần nữa phải ngạc nhiên.
Bộ Quốc phòng đã ước tính những thiếu hụt của mình trước khi Chính quyền Obama và Quốc hội đề nghị cắt thêm 1.000 tỷ đôla trong các chương trình quốc phòng trong 5 năm tới. Những cắt giảm ngân sách này không những có ý nghĩa là Bộ Quốc phòng sẽ không thực hiện được những chương trình đầu tư hiện tại. Nếu được thực thi, những cắt giảm mới này còn có ý nghĩa là mọi hệ thống thiết bị mà quân đội cho là cần thiết trong tương lai sẽ bị lâm nguy (chẳng hạn, một loại máy bay ném bom hiện đại hơn, những hệ thống không gian, có lẽ cả tàu sân bay).
Những người đề nghị cắt giảm ngân sách quốc phòng không bao giờ trả lời câu hỏi này: Sẽ có những thiệt hại nào do việc không cung cấp đủ nguồn lực để thực hiện các kế hoạch và chính sách Mỹ? Mỹ sẽ rút lui những cam kết nào, và bằng cách nào? Với Đài Loan? Với Nhật Bản? Với quyền tự do tiếp cận Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông]? Có cách nào để Mỹ nhường châu Á lại cho TQ một cách tế nhị không? Có cách nào để làm việc này một cách hòa bình, không thúc đẩy một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân giữa nhiều nước trong khu vực? Với tư cách một quốc gia, liệu chúng ta có thể khấm khá được không nếu phải cầu xin TQ cho phép sử dụng những tuyến đường mậu dịch châu Á?
Traub so sánh bài nghiên cứu của chúng tôi với tư duy của các Lý thuyết gia Chiến tranh Lạnh như Herman Kahn và ông sử dụng từ ngữ của thời Chiến tranh Lạnh như “đẩy lùi” (roll back). Nhưng bài nghiên cứu của chúng tôi dứt khoát tránh xa một sự so sánh nào với Chiến tranh Lạnh. Chiến tranh Lạnh là một ẩn dụ quá thô thiển để mô tả quan hệ Mỹ-Trung hiện nay. TQ là một đối tác kinh tế, và Washington đã dấn thân sâu sắc vào một chính sách ngoại giao thân thiện, cố tình thuyết phục TQ chấp nhận địa vị đại cường của mình một cách hòa bình. Đồng thời, chúng ta cũng đang cố gắng quân bình lực lượng với TQ và có những biện pháp đề phòng nhằm chống lại một TQ hiếu chiến. Bài nghiên cứu của chúng tôi đề xuất một chiến lược nhằm thực hiện thành công hai điều vừa nói (các tác giả khác đã viết nhiều về những điều kiện cầu thân [engagement’s requirements] với TQ). Chính vì sự kềnh cựa an ninh quốc phòng Mỹ-Trung hiện nay rất khác với Chiến tranh Lạnh trước đây khiến chúng tôi nhận thấy rằng nước Mỹ đang bức thiết cần đến một nghệ thuật quản lý nhà nước tinh vi (sophisticated statecraft). Chúng ta cần phải kết hợp đúng đắn cùng một lúc vừa cầu thân, vừa quân bình lực lượng vừa đề phòng TQ.
Chiến lược quân bình lực lượng và đề phòng TQ cần đến nhiều lựa chọn khác nhau để tránh điều mà Traub mô tả đúng đắn là “Armageddon” [trận Đại chiến trước ngày Tận thế]. Chúng tôi kêu gọi những lựa chọn mang tính [chiến tranh] quy ước, để khỏi đánh vào một Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có trang bị vũ khí hạt nhân, với hy vọng rằng một chiến lược như thế trước hết sẽ tăng cường khả năng ngăn chặn và tránh trận Đại chiến hủy diệt nhân loại nếu chính sách ngăn chặn có thất bại đi nữa. Chiến lược này có mục đích làm trì hoãn tiến trình leo thang quân sự hơn là thúc đẩy nó.
Ý kiến cho rằng chúng ta đang biến hoang tưởng thành hiện thực – đang biến TQ thành quốc gia thù nghịch bằng cách ứng xử với TQ như một kẻ thù – gợi lên hình ảnh con rồng, một con vật tưởng tượng mà vẫn có người tin. Mỹ đã cố gắng làm nhiều điều hơn bất cứ quốc gia nào khác để “biến TQ thành một người bạn” bằng cách chào đón TQ gia nhập cộng đồng quốc tế. Nhưng than ôi, cho đến nay TQ vẫn chưa biến “lời tiên tri của Mỹ về tình hữu nghị” thành hiện thực. Thay vào đó, TQ đã tiên tục xây dựng cái mà tất cả các nhà quan sát khả tín gọi là một quân đội gây bất ổn (a destabilizing military), một hành động đã thay đổi nguyên trạng (the status quo) bằng cách dí súng vào đầu Đài Loan thậm chí cả khi Đài Loan có những nỗ lực hòa bình, bằng cách tuyên bố chủ chuyền thêm nhiều lãnh thổ hơn bao giờ hết trên Biển Đông, và bằng các âm mưu ức hiếp và hù dọa Nhật Bản.
Traub thắc mắc là liệu các quốc gia đồng minh và đối tác của chúng ta có muốn tham gia một “liên minh chống Trung Quốc” hay không, như từ ngữ ông dùng để mô tả. Theo nghiên cứu của chúng tôi, tất cả các quốc gia đồng minh, đối tác, và có tiềm năng đối tác với Mỹ đều đã hiện đại hóa quân đội của mình để phản ứng lại TQ. Và các quốc gia này sẽ tiếp tục làm như thế bất chấp Mỹ có theo đuổi cái mà Traub sẽ coi là một chiến lược “chống TQ” hay không. Ngay cả một nước có thái độ thư giãn như Australia cũng đã lên kế hoạch tăng gấp đôi đội tàu ngầm của mình – Australia không làm điều này nhằm đẩy lui sự tấn công của đảo quốc tí hon Fiji.
Bài nghiên cứu của chúng tôi lý luận rằng đã đến lúc Mỹ phải đưa ra sự hỗ trợ nghiêm chỉnh hơn [với các nước trong khu vực] để tình hình khỏi rơi ra ngoài vòng kiểm soát. Chẳng hạn, một sự hiện diện và cam kết mạnh mẽ của Mỹ đối với nền an ninh của khu vực này có thể giúp các nước tránh được một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Mỹ có thể là một lực lượng “hà hơi tiếp sức” (a force multiplier) bằng cách cung cấp tin tức tình báo, tuần tra, và thám thính, những khả năng chỉ một mình Washington có được, và bằng cách huấn luyện và trang bị quân đội của các đồng minh và các nước bạn.
Chiến lược này là một phương cách để bắt đầu đưa châu Á trở lại quân bình lực lượng trong khi TQ tìm cách thay đổi nguyên trạng. Chúng tôi chỉ sợ rằng, nếu không làm được như thế thì sẽ dẫn đến một cuộc Chiến tranh tận diệt.
Trần Ngọc Cư dịch
Dan Blumenthal và Michael Mazza là những học giả của trung tâm nghiên cứu American Enterprise Institute. Mark Stokes là giám đốc điều hành của Viện Nghiên cứu Dự án 2049 (the Project 2049 Institute)

Công ty Trung Quốc làm rò rỉ hóa chất ở Tân Rai


Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) vừa lên tiếng nhận trách nhiệm trong vụ nhà thầu Trung Quốc làm rò rỉ hóa chất, gây ô nhiễm môi trường tại dự án chế biến bauxite Tân Rai, Lâm Đồng.
Được biết vào đầu tuần này, TKV đã gửi giải trình chính thức về sự cố rò rỉ hóa chất lên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Từ cuối tháng Bảy, người dân sinh sống xung quanh dự án Tân Rai tại thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng đã phát hiện ra các dấu hiệu ô nhiễm hóa chất ở địa phương, như cá chết đồng loạt trong hồ chứa và nước giếng bị nhiễm xút nặng, không thể sử dụng trong sinh hoạt.
Người dân còn than phiền về ô nhiễm tiếng ồn tại khu vực, nhưng được giải thích chỉ là tình trạng tạm thời vì chạy thử máy.
Trong giải trình gửi lên thủ tướng Chính phủ ngày 03/10, TKV thừa nhận việc nồng độ pH trong nguồn nước ở quanh dự án Tân Rai tăng quá tiêu chuẩn cho phép và nói đây là lỗi của nhà thầu.
Nhà thầu Trung Quốc khi cho công nhân pha xút ở nhà máy alumin đã không che chắn kỹ bao bì đựng hóa chất, khiến xút bị rò rỉ ra ngoài, theo nước mưa thẩm thấu xuống dưới đất.
Mức độ thiệt hại chưa được xác định rõ.
Theo TKV, tới cuối tháng Tám (tức hơn một tháng sau khi có than phiền từ người dân), Ban Quản lý Dự án Tân Rai đã cho ngừng việc pha xút và yêu cầu nhà thầu khắc phục tình trạng sụt lở tường bao bể pha xút.
Giải trình của TKV nói: “Trước đề nghị của lãnh đạo Tập đoàn, nhà thầu chính Chalieco đã cam kết thực hiện đúng các yêu cầu của chủ đầu tư. Hiện, nhà thầu đã tiến hành vận hành thử trạm xử lý nước thải, toàn bộ nước thải của nhà máy đã được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn quy định trước khi thải ra môi trường”.
Tuy nhiên cho tới cuối tháng Chín, truyền thông Việt Nam phản ánh tình trạng ô nhiễm vẫn còn, và người dân vẫn chưa dám sử dụng nước giếng và nước ao hồ.
Yêu cầu bồi thường
TKV nói có sáu hộ dân đã gửi đơn kiến nghị về tình trạng cá trong các ao và cây trồng bị chết do ô nhiễm xút. Tập đoàn này nói sẽ bồi thường “trên cơ sở xác định mức độ thiệt hại”.
Bản giải trình viết: “Lãnh đạo Tập đoàn TKV thừa nhận khuyết điểm đã để xảy ra sự cố đáng tiếc, song mức độ rò rỉ xút ra môi trường đã được khắc phục ngay và mức độ ảnh hưởng đến môi trường là không đáng kể”.
TKV cũng nói đã chỉ đạo các đơn vị liên quan, trong đó có nhà thầu, kiểm điểm rút kinh nghiệm và thực hiện nghiêm túc các giải pháp phòng ngừa.
Hai dự án Nhân Cơ và Tân Rai được cho là hai dự án bauxite thí điểm của Việt Nam, được thực hiện bất chấp nhiều phản đối từ giới khoa học gia và thậm chí cả một số nhân vật trong chính giới.
Một trong các lý do phản biện là quan ngại về môi trường. Tuy nhiên dự án Tân Rai đã đi vào chạy thử sau thời gian xây dựng.
Dự án này có công suất (giai đoạn một) với sản lượng khai thác mỏ hơn 4,3 triệu tấn/năm, công suất nhà máy tuyển 1,6 triệu tấn quặng tinh khô/năm, nhà máy alumin 650 nghìn tấn/năm.
Tập đoàn TKV làm chủ đầu tư và Công ty Chalieco (Trung Quốc) làm nhà thầu chính.
Các dự án bauxite Tây Nguyên còn đang đứng trước bài toán nan giải cho việc vận chuyển thành phẩm ra thương cảng.
Nguồn: BBC

Thứ Năm, ngày 06 tháng 10 năm 2011

Steve Jobs, người sáng lập Apple đã qua đời

“Apple đã mất đi một người có đầu óc sáng tạo và tầm nhìn vĩ đại, thế giới đã mất đi một con người tuyệt vời”, thông báo về cái chết của ông Steve Jobs được đăng trang trọng trên website của Apple.

Theo các nguồn tin từ Apple, ông Steve Jobs – Chủ tịch kiêm đồng sáng lập và là cựu Tổng giám đốc của hãng đã từ trần hôm thứ Tư (5/10 theo giờ Mỹ), hưởng thọ 56 tuổi.

Một thông báo khác từ phía gia đình ông Steve Jobs cho biết thêm rằng “ông đã ra đi một cách yên bình trong vòng tay của người thân trong gia đình”.

Cả Apple và gia đình ông Steve Jobs đều không cho biết nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông Steve Jobs đồng thời lên tiếng kêu gọi giới truyền thông và mọi người “hãy tôn trọng sự riêng tư của gia đình ông”. Cách đây vài năm, Steve Jobs bị phát hiện mắc bệnh ung thư tuyến tụy đồng thời cũng đã từng phải ghép gan… cùng với một số đợt điều trị bí mật.

Hồi tháng 8/2011, Steve Jobs chính thức rời khỏi chức vụ Tổng giám đốc Apple và bổ nhiệm giám đốc điều hành Tim Cook thay thế vị trí của mình.

Sinh ngày 24 tháng 2 năm 1955, Steve Jobs lớn lên ở Cupertino, California. Tên tuổi ông gắn liền với các thương hiệu cầm tay iPod, iPhone và máy tính bảng iPad trong những năm gần đây. Ông cũng là người đồng sáng lập ra Apple.

Chọn lựa sự đơn giản

Đối với Jobs, đơn giản chính là sự tinh tế. Để tạo ra những sản phẩm với sự nổi bật của những công cụ cần thiết nhất, ông thường nói “không” đối với những tính năng mang tính “trang trí”. Và điều này được thể hiện rõ ràng trong tất cả sản phẩm của Apple.

Luôn học hỏi với cái tâm của người bắt đầu

Jobs rất tâm đắc với một cụm từ của Phật giáo “Beginner’s mind”, tức là hãy học hỏi với cái tâm thuần khiết của người mới bắt đầu, luôn khao khát tìm tòi những điều mới. Bạn cũng nên tiếp cận mọi thứ với tinh thần cởi mở và trải nghiệm chúng như lần đầu.

Kỳ vọng vào sự thể hiện xuất sắc
Apple trải qua 35 năm tuổi đời đã trở thành một trong những công ty lớn và quyền lực nhất thế giới với hơn 50.000 nhân viên, doanh số bán hàng hàng năm đạt 100 tỉ USD, tăng trưởng 60 %/ năm và mỗi năm lại cho ra đời những sản phẩm “hit” trên toàn cầu. Sở dĩ công ty có thể đạt được như vậy là do Jobs luôn kỳ vọng và chỉ chấp nhận sự hoàn hảo. Và trong sự nghiệp, bạn cũng nên làm như vậy, luôn hi vọng và cố gắng thể hiện sự xuất sắc của bản thân.

Chú trọng tuyển chọn và nuôi dưỡng nhân tài

Tại Apple có một tổ chức cấp cao gọi là “top 100″, là một nhóm những nhà lãnh đạo chiến lược của công ty. Nhóm này thường xuyên kết nạp những nhân viên cấp dưới có kỹ năng tốt và đưa ra những ý tưởng hay. Hành động này chứng tỏ Apple rất chú trọng tới việc nuôi dưỡng và đãi ngộ nhân tài. Nếu là người lãnh đạo, bạn có thể tham khảo cách làm này của Apple.

Tin tưởng và kiên trì với những dự án tưởng chừng như “không tưởng”

Với 10 triệu USD, Jobs đã mua lại công ty đồ họa của George Lucas khi lĩnh vực này còn rất mới mẻ, sau đổi tên thành Pixar. Năm 2006, ông bán Pixar cho Tập đoàn Walt Disney bằng bản hợp đồng giá trị 7,4 tỉ USD và trở thành cổ đông cá nhân lớn nhất của Disney với 7% cổ phiếu, tương đương 3 tỉ USD. Đây có thể được coi là khoản đầu tư sinh lời nhất trong đời của vị cựu CEO của Apple.

Câu chuyện của Jobs cho thấy dù những người khác không nhận thấy tiềm năng của một dự án nhưng bạn có thể và tin tưởng, kiên trì theo đuổi nó, bạn sẽ đạt được thành công.

Không lo sợ sự khác biệt

Chuỗi cửa hàng bán lẻ của Apple chính là một minh họa cho điều này. Các cổ đông đã từng cho rằng chúng là một sự rủi ro lớn đối với công ty nhưng Jobs lại nhìn nhận theo cách khác. Ông đặc biệt nhấn mạnh tới những khác biệt đó trong việc chinh phục thành công. “Đi đầu trong đổi mới chính là điểm phân biệt giữa một người lãnh đạo và người theo sau”, Jobs nói.

Vì vậy, bạn không nên e dè khi những ý tưởng, hành động của mình khác biệt so với người khác, chỉ cần bạn chứng tỏ được rằng sự khác biệt đó chính là chìa khoá thành công của bạn.

Yêu thích công việc

Jobs nói: “Cách duy nhất để làm nên những việc vĩ đại là yêu thích và đam mê điều bạn muốn làm. Nếu bạn vẫn chưa tìm thấy công việc mà mình thực sự muốn theo đuổi, hãy tiếp tục tìm kiếm. Bằng trái tim, bạn sẽ nhận ra khi tìm thấy nó”. Hãy nhớ, nếu không có tình cảm với công việc, bạn sẽ không thể tạo ra sự đổi mới.

Tin tổng hợp từ nhiều nguồn

“Cú sốc” ở sân bay Đà Nẵng & cái sĩ của người đứng đầu

“Cú sốc” là cách thổi của báo Pháp Luật TP HCM, chứ thật ra thay cái thằng trưởng ban quèn của dự án sân bay Đà Nẵng có gì đâu mà gọi “cú sốc”, to tát như thể thay Thủ tướng hay Tổng Bí thư không bằng.
Trương Duy Nhất

Nhân vật Đinh La Thăng, trong mắt tôi cũng bình thường, thậm chí dưới mức bình thường. Thật tình ông có làm được gì cho đáng kể từ khi ở Tổng công ty Sông Đà đến Phó bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên- Huế, Chủ tịch HĐQT tập đoàn dầu khí Việt Nam, và bây giờ là Bộ trưởng Giao thông- vận tải. Việc ông được đặt vào cái ghế Bộ trưởng GTVT nghe đâu cũng chỉ là thế “không có chó bắt mèo…”.

Có thể, những lời chém gió từ khi ngồi ghế Bộ trưởng khiến nhiều người kỳ vọng, nhưng tôi lại thấy ông Thăng hình như đang nhầm ghế, ông đáng được kéo về làm Bí thư… đoàn phường có khi phù hợp hơn. Nghe nhiều báo thổi khen quá, tôi cố tìm đọc, nhưng đọc riết mấy bài chém gió của ông Thăng, tôi cứ nghĩ: hay ông đang nhầm mình vẫn còn là “thằng” Bí thư đoàn Tổng công ty Sông Đà?

Quay lại “cú sốc” ở sân bay Đà Nẵng. Chuyện là thế này: Ông Thăng vào làm việc với lãnh đạo Thành ủy Đà Nẵng. Không biết trao đổi thế nào mà đã bị ông Thanh (Nguyễn Bá Thanh) dèm pha sự chậm trễ bầy nhầy trong quá trình xây dựng dự án sân bay Đà Nẵng là “nỗi nhục quốc thể”! Ông Thanh bảo: nếu đó là dự án của TP Đà Nẵng thì cái ban quản lý dự án đó đã bị cách chức lâu rồi.

Nói thế khác gì chửi Bộ GTVT?

Có lẽ xấu hổ và tự ái, cái sĩ của ngài Bộ trưởng đã khiến ông lao thẳng xuống hiện trường. Đứng giữa công trường đang thi công, sau khi phủ đầu đám thuộc cấp, ông đã rút điện thoại lệnh điều ngay một nhân vật khác từ miền Nam tức tốc bay ra ngay trưa hôm đó để thay tay Trưởng ban dự án sân bay Đà Nẵng.

Thế nên báo chí mới bị “sốc”.

Sau hàng loạt những pha chém gió, từ khi ngồi ghế Bộ trưởng đến giờ, có thể nói đây là đòn “ấn tượng” nhất của Bộ trưởng Thăng. Cho dù chưa bao giờ đánh giá cao và kỳ vọng ở nhân vật này, nhưng “cú sốc” ngày 4/10 tại sân bay Đà Nẵng đã ít nhiều làm thay đổi trong tôi chút gì đó về ông: dù sao, có thể ông cũng bất tài như bao vị khác thôi, nhưng ông còn biết xấu hổ, biết tự ái và còn cái sĩ của người đứng đầu.

Mà điều này lại rất thiếu trong đội ngũ chính phủ hiện thời. Trong hàng ngũ chính phủ và trung ương ủy viên, có được mấy ai còn biết xấu hổ, tự ái và còn cái sĩ khi nghe dân chúng hoặc thuộc cấp chê bai, than phán mình? Đứa nào góp ý tí, không khéo lại ăn đòn “chống đối phản động” như chơi.

Vì thế, khoan nói đến tài năng, trước nhất là cần ở sự biết xấu hổ và cái sĩ của người đứng đầu. Không biết xấu hổ, không còn sĩ thì người đứng đầu càng cao, có tài giỏi mấy cũng thành kẻ phá hoại.

Và hơn nữa, sau “cú sốc” này, tôi muốn tin rằng: sau một nhiệm kỳ (hoặc chỉ cần nửa nhiệm kỳ thôi) nếu không làm thay chuyển được gì như những lời chém gió, ông Thăng sẽ vẫn còn biết xấu hổ, còn sĩ và biết tự trọng nhường cái ghế Bộ trưởng GTVT cho người khác. Đó mới là “cú sốc” thật sốc và đáng trọng!

Nguồn: Trương Duy Nhất blog

Thứ Tư, ngày 05 tháng 10 năm 2011

Đoạn kết một mô thức kinh tế và một văn hóa chính trị

Vào lúc này một điều đã chắc chắn: chúng ta đang sống cuộc khủng hoảng kinh tế dài nhất trong lịch sử thế giới. Sau gần bốn năm thay vì ra khỏi khủng hoảng thế giới đã chỉ bắt đầu một giai đoạn suy thoái mới.

Khi cuộc khủng hoảng bắt đầu năm 2008, các chính quyền trên thế giới đã đồng loạt khẩn cấp bơm tiền vào hệ thống ngân hàng. Nhưng đây chỉ là biện pháp băng bó cấp cứu chờ đợi những giải pháp thực sự, bởi vì người ta đã chỉ vay thêm và bơm thêm tiền vào một sinh hoạt kinh tế đang khủng hoảng vì khối lượng tiền tệ quá lớn và các khối nợ, công cũng như tư, quá cao. Nhiều tiếng nói đúng đắn đã cất lên cảnh giác rằng phải có những biện pháp rất triệt để và cuộc khủng hoảng có thể kéo dài rất lâu.

Tại sao? Lý do đầu tiên là vì đây không phải chỉ là một cuộc khủng hoảng tài chính như người ta lầm tưởng lúc ban đầu. Nếu chỉ vì lý do tài chính thì nó đã không xẩy ra bởi vì các định chế tiền tệ quốc tế không thiếu và hoạt động khá mạnh, mặt khác các nước mạnh nhất cũng gặp và trao đổi với nhau thường xuyên. Cuộc khủng hoảng đã xẩy ra sau khi người ta đã làm tất cả để tránh cho nó đừng xẩy ra. Nó đã xẩy ra sau khi các nước giầu mạnh không còn chạy trốn sự thực được nữa vì đã tựa lưng vào chân tường. Nó là một cuộc khủng hoảng về mô thức kinh tế.

Mô thức kinh tế trong hai mươi năm qua là gì? Trong các nước đã phát triển nó là sự kích thích chi tiêu để gia tăng GDP (sản lượng nội địa), ngay cả với cái giá là phải vay nợ ngày càng nhiều. Trong các nước chưa phát triển nó là xuất khẩu thật nhiều hàng hoá với giá thật rẻ, bằng cách bóc lột công nhân dã man và hủy hoại môi trường sinh sống một cách điên cuồng. Hậu quả là, một mặt, các dân tộc đã giầu có lại hưởng thụ quá mức mà sự giầu có của mình cho phép, trong khi các dân tộc nghèo khổ lại phải chịu đựng sự nghèo khổ hơn mức độ mà tình trạng chưa phát triển của mình bắt buộc và, mặt khác các nước nghèo cho các nước giầu vay tiền để có thể tiếp tục tiêu thụ và nhập khẩu. Thế giới ngày một bất công hơn, vô lý hơn và ô nhiễm hơn, các giá trị dân chủ không còn được quan tâm, và các chế độ độc tài gần như được bình thường hóa. Cuối cùng khủng hoảng đã đến khi các nước giầu không thể vay thêm được nữa bởi vì khả năng hoàn trả đã kiệt quệ và phải bắt đầu một giai đoạn cố gắng và cần kiệm lâu dài để phục hồi.

Mô thức kinh tế này là sản phẩm của một văn hóa chính trị bệnh hoạn trong đó, tại các nước dân chủ, các cấp lãnh đạo cao nhất được bầu ra vì trẻ đẹp, giỏi truyền thông và biết tranh cử thay vì lý tưởng, kinh nghiệm, bản lĩnh và thành tích. Các cấp lãnh đạo như thế vừa không muốn vừa không thể áp đặt những cố gắng lớn, như thăng tiến dân chủ và nhân quyền, gia tăng áp lực lên các chế độ độc tài, cầm kiệm về mặt kinh tế. Họ chỉ có thể đưa ra và thực hiện những chính sách thực tiễn, nghĩa là dễ dãi và ngắn hạn, như kích thích tối đa tiêu thụ.

Suy thoái kinh tế dĩ nhiên kéo theo những khó khăn mới cho mọi dân tộc, nhưng đó là điều không tránh khỏi vì thế giới đã đi lạc hướng trong nhiều năm. Chính sự lạc hướng này đã làm khựng lại phong trào dân chủ và cho phép các chế độ độc tài tồn tại. Tin mừng là giai đoạn ân huệ của các chế độ độc tài bạo ngược đã chấm dứt.

Theo Tổ Quốc

Vì khát vọng SẠCH, ai dám nhảy vào “vạc dầu”?

Hồ Bất Khuất
Ông Nguyễn Đức Kiên (được gọi thân mật và ngắn gọn là bầu Kiên) đã làm được một việc có ý nghĩa: Sổ toẹt cái báo cáo đẹp đẽ về bóng đá ngay tại Hội nghị tổng kết mùa giải bóng đá Việt Nam 2011. Hơn thế nữa, sau phát biểu của ông, từ “SẠCH” được báo chí nhắc đến rất nhiều. Nhiều người bày tỏ khát vọng sống sạch không chỉ trong bóng đá mà còn ở nhiều lĩnh vực khác của cuộc sống. Như vậy là chúng ta công khai thừa nhận với nhau, cuộc sống xã hội đang bị nhiễm “BẨN” nặng.

Bóng đá được chọn làm nơi khởi đầu cho khát vọng “Sạch”?

Kỳ lạ là bóng đá Việt Nam rất lẹt đẹt, xếp hạng thứ 129 gì đó, nhưng tình yêu bóng đá của người Việt Nam được xếp vào loại nhất, ngang ngửa với dân Brazil. Đã có những lúc bóng đá Việt Nam sạch sẽ, thơm tho cuốn hút hàng triệu khán giả tới sân.

Bao nhiêu năm nay, người ta nói về cái bẩn của bóng đá, nhưng chỉ nói ở quán nước hay trên báo, còn vừa rồi ông Kiên nói trực diện ngay tại Hội nghị của Liên đoàn bóng đá Việt Nam. Thật vui khi có người dũng cảm và thẳng thắn nói lên khát vọng SẠCH. Còn vui và hy vọng hơn khi những người yêu cái sạch lần này rất kiên quyết. Họ được sự cổ vũ của đông đảo quần chúng nên quyết tâm làm cuộc “cách mạng SẠCH” trong bóng đá. Và “chuyển động sạch” trong bóng đá Việt Nam đã được bắt đầu. Kết quả ra sao thì chúng ta còn phải chờ đợi, nhưng ít nhất là chúng ta có niềm hy vọng.

Tôi rất hoan nghênh, thậm chí là biết ơn những doanh nhân tài năng và thành đạt bỏ nhiều tiền và công sức ra để phát triển bóng đá nước nhà, nhưng tôi vẫn xin nói thẳng là họ vẫn thiếu một chút cao ngạo! Hơn nữa, họ là những doanh nhân mà lại không biết quý trọng “thương hiệu”. Những cái tên đã trở thành “thương hiệu” của bóng đá Việt Nam như Thể Công, Công an Hà Nội, Cảng Hải Phòng, Cảng Sài Gòn… đã bị xóa đi không thương tiếc vì một số người có tiền. Tại sao không học nước ngoài? Tỷ phú người Nga Abramovich bỏ tiền mua đội bong Chelsea của Anh nhưng ông ta có đổi tên đội bóng ấy đâu? Hay nước Nga đã trải qua những biến động lớn, các đội bóng nổi tiếng đã thay chủ sở hữu, nhưng vẫn còn đó những cái tên quen thuộc: Spartak, CSKA, Dinamo, Lokomotiv… Bỏ tiền ra để “chơi” bong đá nhưng không gắn tên tuổi mình, công ty mình vào đó mới là cuộc “chơi đẹp”.

Dẫu sao thì hiện nay ở nước ta, trong bóng đá đã thể hiện khát vọng SẠCH. Nhưng có lẽ bóng đá chỉ là sự khởi đầu, vì cái BẨN hiện hiện khắp nơi. Muốn bóng đá sạch, chúng ta phải làm đồng bộ thì cơ hội thành công sẽ lớn hơn nhiều. Hơn nữa, có những lĩnh vực quan trọng hơn, thiết thực hơn bóng đá đang rất mong được làm sạch.

Thời trong trẻo, thanh tao nay còn đâu?!

Năm 1982, tôi tốt nghiệp đại học. Sau khi nộp giấy tờ cho Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, tôi về quê đi tắm biển. Sau vài tháng có giấy gọi ra nhận công tác. Nhận quyết định xong, tôi phải hỏi đường chán mới về được trụ sở Tạp chí Cộng sản. Tôi ra mắt cơ quan bằng một bao thuốc lá Sông Cầu và một lạng chè Thái Nguyên. Hơn chục năm làm việc ở đó cho tôi biết nhiều thứ. Tôi chuyển chỗ làm việc nhiều lần nữa, nhưng lãnh đạo ở các cơ quan tôi đến làm việc không nhận được ở tôi một chút quà, kể cả một chai rượu. Ấy vậy mà tôi vẫn làm việc bình thường, thân thiện.

Chính vì vậy, dăm năm trước, khi một người bạn khoe: “Mình vừa chạy cho con gái mình vào làm việc ở Bệnh viện Xanh Pôn. May có người quen mối lái, hết có 70 triệu đồng thôi”, tôi đã nổi đoá lên: “Cái gì?! Lương tâm của cái bọn người ấy ở đâu mà nỡ lấy 70 triệu đồng mới cho người học giỏi, có bằng cấp đàng hoàng được làm việc để cứu người?!”. Thấy tôi hùng hổ, mấy người bạn chỉ cười, cho rằng tôi chẳng hiểu gì thực tế cuộc sống ở Việt Nam cả, chỉ cần sống một thời gian sẽ thấy.

Đúng thế thật, mấy năm sau tự tôi được chứng kiến cảnh ăn tiền vô tội vạ ở mọi lĩnh vực, trong đó có ngành y tế, giáo dục, văn hóa… và đặc biệt là lĩnh vực tổ chức-cán bộ. Người ta làm bẩn mọi thứ vì tiền.

Tôi là người am hiểu giáo dục vì có 5 năm ngồi ở trụ sở Bộ Giáo dục và Đào tạo 49 Đại Cồ Việt, Hà Nội nên thật sự căm phẫn vì những cái bẩn trong ngành này. Để được làm giáo viên mà phải chạy tới cả trăm triệu đồng thì mong gì nền giáo dục ấy sạch sẽ, tốt đẹp! Khi người ta công khai bôi bẩn nền giáo dục, cũng có nghĩa là cuộc sống càng ngày càng bẩn nặng.

Nhưng nguyên nhân của mọi cái bẩn có lẽ nằm ở công tác tổ chức – cán bộ, hay nói chính xác là nơi sắp xếp “ghế”, dự định ban phát chức, quyền.

Bây giờ, cái gì cũng đùng đục, bẩn thỉu

Tôi có nhiều bạn bè, người quen có chức có quyền, nhưng cũng có nhiều người không được ngồi vào cái ghế mà đáng ra họ được ngồi. Còn có những người không hề có những phẩm chất xứng đáng với vị trí đó, nhưng họ vẫn cứ được đặt vào. Ngồi trò chuyện với mọi người, được biết là người ta chạy bằng tiền cả đấy. Thế mới biết cái câu: “Cái gì không mua được bằng tiền thì mua được bằng rất nhiều tiền” là rất chí lý.

Mặc dù không có giá cố định cho những chức vụ tương đương vì ở những vùng miền khác nhau, giá khác nhau. Hoặc cũng là vụ trưởng cả đấy, nhưng ở vụ tài chính – kế toán khác với vụ, quản lý học sinh – sinh viên chẳng hạn. Chỉ biết chức vụ càng cao, vị trí càng béo bở thì số tiền chi ra để được ngồi vào đó càng nhiều, có khi lên tới hàng chục tỷ đồng.

Tôi có người anh em họ, công tác trong lực lượng vũ trang. Gần chục năm trước đây, khi anh mang quân hàm thượng tá, anh đã giữ chức trưởng phòng. Bây giờ anh đã mang quân hàm đại tá, nhưng vẫn trưởng phòng. Tôi hỏi: “Tại sao anh không được lên chức Cục phó, Vụ phó gì đó?”. Anh cười ngượng nghịu rồi khẽ trả lời: “Tôi không đủ tiền đi “chợ”. Với chức vụ đó phải mất cỡ 1 tỷ, tôi gom mãi cũng chỉ đủ 500 triệu. Vậy nên chấp nhận “đứng” mãi chức trưởng phòng”. Còn một người bạn học cùng phổ thông với tôi, làm cấp phó từ năm 1989 đến bây giờ mà không lên trưởng được. Vừa rồi mới gặp nhau, tôi hỏi thẳng: “Tại sao cậu mãi không lên được cấp trưởng? Đừng nói với tôi là cậu không đủ tiền để đi “chợ” đấy!”. Anh bạn cười buồn, nhưng vẫn không giấu được vẻ ranh mãnh, anh nói: “Tiền thì tôi có đủ, nhưng mãi gần đây mới được gợi ý. Tôi nhẩm tính, thấy mình tuổi đã cao, chi phí nhiều, thời gian tại vị ngắn, có giỏi cướp may ra mới hoà vốn. Vì vậy tôi thôi, không chạy chọt nữa…”

“Thợ mộc vĩ đại và Giám đốc Tiếp thị đại tài”


Trong cuộc gặp mặt bạn bè vui vẻ, một người đưa ra câu đố đơn giản: “Theo các vị thì những người thợ mộc giỏi nhất sống ở đâu?”. Nhiều người trả lời: “Ở Đồng Kỵ, Bắc Ninh”. “Sai, những người thợ mộc giỏi nhất, tạo nên những mặt hàng đắt tiền nhất sống ở Thủ đô Hà Nội. Các vị thấy đó, họ tạo nên những chiệc ghế bán hàng chục tỷ đồng…”. Có người đế thêm vào: “Đúng vậy, nhưng họ không chỉ là những người thợ mộc vĩ đại đơn thuần mà còn kiêm luôn cả chức Giám đốc tiếp thị nữa. Họ rao bán những chiếc ghế đó đúng lúc, đúng chỗ nên luôn luôn có cạnh tranh đẩy giá lên. Kết quả họ bán được giá rất hời”. “Anh có ví dụ nào về vấn đề này không?”. “Có chứ! Trước ngày quyết định ai giữ vị trí gì trong bộ máy công quyền của chúng ta vừa qua, có một người đến chơi ở nhà một người có quyền cao, chức trọng, có thể quyết định nhiều thứ. Vị này hỏi người đến chơi: “Chú đã yên vị chưa?” “Làm sao yên được anh?! Em quen với công việc điều hành cụ thể trên địa bàn, nay làm một việc thiên về tổ chức trong các cơ quan, thấy không hợp”. “Vậy còn một vị trí nữa, nhưng chú không phải là ứng cử viên duy nhất đâu…”. Thế là người khách hiểu, anh ta về, chuẩn bị tiền, vàng mang đến những nơi cần thiết. Mấy ngày sau, anh ta ngồi vào vị trí mới, không to hơn về hàm, cấp nhưng nhiều bổng lộc hơn. Các anh có thấy người rao bán chiếc ghế đó tiếp thị tinh tế không?”

Ở bàn trà, quán nhậu, công sở (khi thủ trưởng cơ quan không có mặt), trong gia đình, mọi người đều nói về những tệ nạn bẩn thỉu trong các lĩnh vực của cuộc sống. Ai cũng căm tức điều này, muốn loại bỏ nó nhưng chưa biết làm thế nào.

Đi tìm nơi hang ổ của cái bẩn

Trên một chuyến xe chở đại biểu dự hội thảo ở Đồ Sơn về Hà Nội, khi mọi người nói về vai trò quan trọng của công tác tổ chức – cán bộ, tôi góp vui bằng câu chuyện sau:

“Tôi có người bạn từ cơ quan trở về, vui sướng nói với bố: “Bố mừng cho con đi! Con vừa được đề bạt làm Vụ trưởng Vụ Tổ chức – cán bộ!”. Ông bố buồn bã lắc đầu rồi nói: “Sao mày dại dột vậy con?! Đấy là chỗ dành cho bọn vô học, mày là tiến sỹ, sao lại nhận cái chức đó?”. “Căn cứ vào đâu mà bố lại nói vậy?”; “Thế mày chỉ cho tao ở Việt Nam cũng như trên thế giới, có cái trường đại học nào gọi là trường Đại học Tổ chức không?””.

Mọi người cười ồ vui vẻ, chỉ có hai người là không cười. (Sau này tôi mới biết đấy là hai quan chức làm ở Vụ Tổ chức của một Bộ quan trọng ở Hà Nội). Tôi cho rằng, nguyên nhân chính của cái BẨN mà chúng ta đang phải chịu đựng hôm nay bắt nguồn từ việc mua quan, bán chức; hay như bây giờ người ta thường nói là “chạy chức, chạy quyền”. Vì đã bỏ tiền ra để “mua” chức, quyền; khi có chức quyền rồi thì người ta tìm cách lấy lại vốn – không chỉ hoàn vốn, mà phải có lãi. Thế là nạn tham nhũng tràn lan. Quan chức thì ăn tiền của cán bộ, nhân viên; cán bộ, nhân viên thì ăn tiền của dân; trong giáo dục: trưởng phòng giáo dục, hiệu trưởng ăn tiền của giáo viên, giáo viên ăn tiền của cha mẹ học sinh… Tóm lại, chỉ những người dân không có chức tước hay không phụ trách một công việc nào đấy là không ăn “bẩn” được mà thôi.

Ai cũng công nhận việc hối lộ tiền bạc để được việc là bẩn thỉu, nhưng nhiều người vẫn phải “nhắm mắt đưa chân”, nghĩa là chúng ta đã chấp nhận sống chung với cái “bẩn” vì chống lại nó rất khó.

Cần nhiều “bầu Kiên” cho các lĩnh vực khác

Chưa biết trong tương lai bóng đá Việt Nam có trở nên sạch sẽ và có đẳng cấp hay không, nhưng ít ra đã có những chuyển động tích cực. Tất cả những điều này có được là nhờ sự dũng cảm của ông Kiên và sự ủng hộ của quần chúng thông qua hệ thống truyền thông. Bóng đá đã có “chuyển động sạch”, vậy các lĩnh vực khác thế nào?

Bầu Kiên đã tạo ra chuyển động sạch trong bóng đá Việt Nam, nhưng điều chúng ta cần là “chuyển động sạch” trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, nhất là những lĩnh vực như: Tổ chức – cán bộ (bố trí những người xứng đáng vào những vị trí lãnh đạo quan trọng), an ninh, quốc phòng, giáo dục, y tế, đầu tư, thuế vụ, văn hóa, nghệ thuật… Tất cả những lĩnh vực này cần trở nên sạch sẽ và mạnh mẽ.

Để tạo ra chuyển động sạch trong lĩnh vực này phải có những người dũng cảm ở những tổ chức quan trọng như Quốc hội, Trung ương Đảng, Chính phủ… Phải là những người có hiểu biết, có niềm tin, có chí khí mới có thể phát biểu thẳng thắn ở những diễn đàn quan trọng này (đã có một số người như thế là đại biều Quốc hội khóa trước như ông Nguyễn Minh Thuyết, bà Phạm Thị Loan, nhưng họ chưa kịp nói những gì quan trọng nhất (tôi tin thế!) thì nay đã không còn cơ hội để nói nữa. Nhưng tôi thấy vẫn có những trí thức, doanh nhân, những người có chí khí trong các cơ cấu tổ chức quyền lực của đất nước. Hy vọng những vị này làm được cái việc giống bầu Kiên ở lĩnh vực của mình.

Nhiều người cho rằng, sở dĩ bầu Kiên nói thẳng nói thật được vì lãnh vực bóng đá dù sao vẫn còn chỗ cho “fair play” (chơi đẹp), còn ở những lĩnh vực khác thì đừng có mơ, mà càng lên cấp cao, càng khốc liệt.

Thật ra tôi cũng biết điều này, nhưng tôi lại có niềm tin vào tiết tháo, vào sự hào sảng của một số trí thức, doanh nhân, quan chức… Ngày xưa ở nước ta có cụ Chu Văn An dám dâng tấu đòi chém 7 tham quan là đại thần của triều đình. Tuy ý nguyện của cụ Chu Văn An không được vua thực hiện, nhưng họ (vua và 7 người bị đề nghị chém) vẫn để cụ từ quan, về quê mở trường dạy học.

Còn nói rộng ra, thời xa xưa ở Trung Quốc có nhiều chuyện còn ghê gớm hơn. Vua Trụ là người gian ác, đại quan Tỷ Can luôn can ngăn những việc dốt, việc xấu, việc ác của vua Trụ. Tức giận, vua Trụ nói với Tỷ Can: “Ta nghe nói tim của thánh nhân có 7 lỗ”, rồi bèn ra lệnh mổ Tỷ Can để xem tim.

Vua Trụ làm thế cốt để dọa những người khác không được vạch cái xấu của vua ra, nhưng sau này vẫn còn nhiều người chỉ ra cái dốt, cái xấu, cái ác của vua giữa sân rồng. Họ nói xong, xăm xăm bước tới vạc dầu và bình thản nhảy vào đó.

Dưới chế độ quân chủ độc tài xa xưa mà có những người làm được như vậy, huống hồ hiện nay ta đang sống trong thời đại dân chủ. Hơn nữa Đảng cộng sản Việt Nam xem chuyện “Phê bình và tự phê bình” là một trong những biện pháp làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh hơn thì việc chỉ ra cái kém của Đảng chắc phải được hoan nghênh!?

Nếu việc phát biểu thẳng thắn về những sự việc bẩn thỉu trong đời sống của chúng ta ở những diễn đàn quan trọng thực sự nguy hiểm thì những ai đó có vị thế, trách nhiệm, có lương tâm, có chí khí vẫn phải làm. Để làm được điều này, hãy sống theo phương châm của những người thông thái: Xem ngày nào còn lại trong cuộc đời của mình cũng như ngày cuối cùng! Khi đã có được quan niệm như vậy, mọi việc trở nên nhẹ nhàng, kể cả cái chết.

Nếu tất cả chúng ta có khát vọng sống SẠCH mạnh mẽ, chúng ta phải ủng hộ những người lên tiếng vạch trần cái bẩn ở bất kỳ cấp nào trong bậc thang quyền lực đương thời thì có hy vọng được sống trong sự sạch sẽ.

Nguồn: Hồ Bất Khuất blog

Thứ Ba, ngày 04 tháng 10 năm 2011

Bàn tay ma quỷ của Trung Quốc ở Châu Phi

Yuriko Koike
TOKYO – Khi Hội đồng Chuyển tiếp Quốc gia của Libya cố gắng thành lập một chính phủ hiệu quả cho một đất nước mới giải phóng, sự thật về những gì đã diễn ra dưới chế độ của Đại tá Muammar el-Qaddafi đang bắt đầu lộ ra ánh sáng.  Nhiều kho báu đã được phát hiện từ những dinh thự Tripoli nay trống toang sau khi chủ nhân vội vã trốn chạy, và chuyện đã xảy ra với những người bị tra tấn, bị sát hại, và bị mất tích đang bắt đầu được tiết lộ.
Một số bí mật ngoại giao bẩn thỉu nhất của Qaddafi cũng bị phơi trần.  Hôm 2/9/2011, tờ báo Canada The Globe and Mail đăng bài tường thuật những cuộc thương thảo gần đây giữa chế độ Qaddafi đang khốn đốn với những công ty vũ khí Trung Quốc có quan hệ trực tiếp với chính phủ Trung Quốc về những hợp đồng trị giá 200 triệu đô-la.
Những hợp đồng đó là sự vi phạm trắng trợn lệnh cấm vận vũ trang được thiết lập theo Nghị quyết Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc 1970, mà Trung Quốc đã chuẩn y.   Nhà cầm quyền Trung Quốc đã bác bỏ tính hiệu lực của những hợp đồng mua bán vũ khí bí mật đó, và nhất mực khẳng định rằng chính phủ không ủy quyền cho họ.  Nhưng một báo cáo công cán đã nêu rõ là các quan chức an ninh của Qaddafi họp với ba công ty sản xuất vũ khí của Trung Quốc: Công ty Công nghiệp Bắc Phương (Norinco), Công ty Xuất Nhập khẩu Máy Chính xác Quốc gia Trung Quốc (CPMIC), và Công ty Xuất Nhập khẩu Trung Quốc Tân Hưng.  Chương trình nghị sự bao gồm không chỉ những kho dự trữ vũ khí hiện có của những công ty này, mà còn có cả lời hứa của những công ty Trung Quốc về việc cung cấp thêm vũ khí nếu được yêu cầu.
Chuyện Qaddafi cầu cạnh Trung Quốc trong lúc tuyệt vọng có phần đáng ngạc nhiên.  Dù gì đi nữa, hắn đã phản ứng trước những hoạt động ngày càng tăng của Trung Quốc ở Châu Phi - mà các quan chức của hắn cho là “tàn dư của chủ nghĩa đế quốc” – bằng cách tiếp đón một cuộc viếng thăm chính thức hồi năm 2006 của Trần Thủy Biển, lúc đó là tổng thống của Đài Loan.  Khi phiến quân tăng cường áp lực, hy vọng cuối cùng của Qaddafi trong việc duy trì quyền lực lại là Trung Quốc, vì thế nỗi lo sợ về ảnh hưởng của Trung Quốc bị gạt qua một bên.
Trong mấy chục năm, Qaddafi hành xử như thể hắn là “Vua trong số những Vua Châu Phi” (như bộ máy tuyên truyền của hắn xưng tụng), dùng doanh thu dầu lửa dồi dào của đất nước hắn để viện trợ cho các nước láng giềng.  Hắn đã công bố khoản đầu tư 97 tỉ đô-la để “giải phóng Châu Phi khỏi Phương Tây”.   Tổng thống Compaoré của Burkina Faso (ban đầu bị đồn đoán có thể là chốn lưu vong của Qaddafi) đã được huấn luyện quân sự ở Libya trong thập niên 1980 trước khi lên nắm quyền sau một cuộc đảo chánh.  Tổng thống Idriss Déby của Chad cũng đã tiến hành thay đổi chính trị năm 1990 với sự hậu thuẫn của Qaddafi.  Tổng thống Mahamadou Issoufou của Niger (hiện đang là chứa chấp Saadi, con trai thứ ba của Qaddafi) đã giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống hồi tháng Ba vừa rồi nhờ hỗ trợ tài chính của Qaddafi.
Nhưng trong những năm gần đây, Trung Quốc trở thành một rào cản cho các tham vọng Châu Phi của Qaddafi, và Trung Quốc cản bước hắn bằng cách bắt chước những phương pháp của hắn: mua sự ủng hộ của những nhà độc tài bằng vũ khí và tài chính.  Từ năm 2000, Trung Quốc đã tích cực ve vãn các quốc gia độc tài và không ổn định của Châu Phi với những lời hứa viện trợ và không chịu ủng hộ những biện pháp cấm vận của Liên Hiệp Quốcáp dụng với họ.  Thực vậy, Trung Quốc đã hồ hởi giao du với những nước Châu Phi mà Châu Âu và Mỹ không muốn dính líu, do có cấm vận.
Nay dường như đã rõ: các biện pháp cấm vận quốc tế là cánh cửa qua đó Trung Quốc ùa vào tiếp cận nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào của Châu Phi cho những ngành công nghiệp khát nguyên liệu của mình.   Ví dụ, thay vì có nỗ lực kiến tạo hòa bình ở Sudan, như một thành viên thường trực có quyền phủ quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nên làm, việc Trung Quốc dính líu quá sâu vào Sudan, bằng cách cung cấp cơ sở hạ tầng dầu lửa và vũ khí, thực sự đã kéo dài cuộc xung đột Darfur.  Một bức thư gởi chính quyền Trung Quốc có chữ ký của nhiều hạ nghị sĩ Mỹ, và một bản báo cáo của Ân Xá Quốc tế tuyên bố rằng Trung Quốc xuất khẩu vũ khí sang Sudan là vi phạm các nghị quyết Liên Hiệp Quốc.   Steven Spielberg, đạo diễn đoạt giải Oscar, đã làm bẽ mặt Trung Quốc khi từ chức cố vấn cho Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 vì họ ủng hộ chính quyền ở Khartoum; ông gọi sự kiện ở Trung Quốc là “Thế Vận Hội diệt chủng”.
Khi Qaddafi bận đánh nhau hồi mùa hè năm nay, mười bang ở miền nam Sudan tách ra tuyên bố độc lập để trở thành quốc gia thứ 54 trên lục địa Châu Phi.  Khoảng 80% sản lượng dầu 490.000 thùng/ngày của Sudan tập trung ở Nam Sudan.  Năm 2010, Trung Quốc nhập khoảng phân nửa sản lượng này, ước chừng 250.000 thùng/ngày, chiếm khoảng 5% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc.  Do trước đây ủng hộ chính phủ trung ương tàn bạo ở Khartoum, Trung Quốc hiện đang cuống cuồng cố gắng hàn gán quan hệ với Nam Sudan để có thể tiếp tục khai thác trữ lượng dầu của quốc gia mới này.
Cũng như Sudan, Angola, nước sản xuất dầu lớn thứ nhì của Châu Phi, đã trải qua mấy chục năm xung đột liên tục.  Nước này bị Liên Hiệp Quốc cấm vận tới năm 2002.  Tuy nhiên, trong những năm cùng khổ của Angola, Trung Quốc tài trợ cơ sở hạ tầng trên quy mô lớn để đổi lấy dầu.  Ngày nay, Trung Quốc là nước nhập khẩu dầu Angola  lớn thứ nhì (Mỹ, nhảy vào cuộc sau khi hết cấm vận, là nước nhập khẩu nhiều nhất).  Thực vậy, Angola sản xuất nhiều dầu cho Trung Quốc hơn Ả Rập Saudi, và nhiều khi có tới 100.000 công nhân Trung Quốc làm việc trong những dự án cơ sở hạ tầng Angola.
Trung Quốc đã chọn một con đường đầy rủi ro – phớt lờ nhân quyền và vi phạm các lệnh cấm vận của Liên Hiệp Quốc - nhằm chiếm được những tài nguyên năng lượng và tài nguyên khác cần để duy trì tốc độc tăng trưởng kinh tế nhanh của họ.  Đó là một lựa chọn không xứng với một thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an, mà cũng không chứng tỏ Trung Quốc sẵn sàng trở thành một nước tham gia có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
Việc Trung Quốc sẵn lòng vũ trang và che chở cho các nhà độc tài Châu Phi, thậm chí bất chấp những lệnh cấm vận của Liên Hiệp Quốc, làm giảm giá trị lời tuyên bố “hòa bình quật khởi” (peaceful rise, 和平崛起)  của họ.  Với trò hai mang của Trung Quốc ở Libya, thế giới hiện nay nên xác định xem liệu đó có phải là một quốc gia tuân thủ luật lệ quốc tế chỉ khi có lợi cho mình.
Yuriko Koike, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng và Cố vấn An ninh Quốc gia của Nhật, là Chủ tịch Hội đồng Điều hành Đảng Dân chủ Tự do.
Nguồn: China’s African Mischief, Project Syndicate, 28/9/2011
Bản tiếng Việt: Phạm Vũ Lửa Hạ

Thế giới tiêu tiền gì 20 năm tới?


Kiều Tỉnh
Hiện nay hơn hai trăm loại tiền giấy được phát hành và lưu hành ở 193 quốc gia độc lập và vùng lãnh thổ. Thế nhưng liệu tiền giấy còn tồn tại và lưu hành trong bao lâu? 
Chế độ bản vị vàng được lưu thông trong thời gian dài, sau đó tiền giấy ra đời đảm nhiệm chức năng lưu thông, trao đổi, dự trữ, thanh toán thay thế vàng, bạc. Hiện nay có hơn 200 loại tiền giấy được lưu hành ở 193 quốc gia độc lập và vùng lãnh thổ. 
Lịch sử ghi chép, tiền giấy ra đời sớm nhất ở Trung Quốc vào đời Bắc Tống (năm 960 – 1127), khi đó chủ yếu là các tờ ngân phiếu viết tay. Tại châu Âu, tiền giấy ra đời vào năm 1661 do Ngân hàng Thụy Điển phát hành, khi đó cũng chỉ là những tờ ngân phiếu thay thế tiền vàng dễ lưu thông trong dân chúng. Phải tới năm 1694 khi Ngân hàng Anh (The Bank of England) được thành lập đồng thời cũng phát hành tiền giấy. Lúc đầu cũng là tờ ngân phiếu nhưng sau đó được thiết kế và in ấn chính thức lưu hành. 
Năm 1792, khi Quốc hội Mỹ thông qua Luật tiền tệ, các loại tiền giấy USD được lưu hành. Năm 1913 khi Mỹ thành lập Cục Dữ trữ liên bang (FED) và FED được quyền phát hành tiền giấy,  thì tiền giấy được lưu hành thay thế đồng tiền vàng. Tới năm 1929 các loại tiền giấy USD được phát hành và lưu hành rộng rãi. Các kỹ thuật in ấn ngày càng hiện đại, nên tiền giấy được các nước in ra rất đẹp và kỹ thuật bảo vệ chống lại tiền giả cũng có hiệu lực cao. Australia là nước đầu tiên in tiền giấy bằng chất liệu nilon tổng hợp, so với chất liệu khác giữ lâu dài gấp 4 lần, sau khi thu hồi vẫn có thể tái sử dụng. Hiện nay, Nam Cực tuy chưa phải là một quốc gia độc lập, nhưng cũng phát hành tiền giấy “đô la Nam Cực”, tuy chưa mang tính pháp định, nhưng có thể tiêu dùng ở một số  địa phương gần kề.
Để giảm bớt lượng lưu hành tiền giấy trên thị trường, nhiều nước hiện nay đã phát hành các loại “thẻ tín dụng” thay thế tiền giấy thanh toán khi tiêu dùng, nhưng đây cũng chỉ là biến tướng của tiền giấy.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, với sức mạnh kinh tế của Mỹ, đồng USD được chọn làm đồng tiền thanh toán và dự trữ quốc tế. Nhưng khủng hoảng tiền tệ tín dụng thời gian qua ở Mỹ đã làm đồng USD bị mất giá và uy tín cũng như độ tin cậy không cao như trước đây. 
Năm 1999,  đồng tiền chung Châu Âu ra đời (đồng Euro) và hình thành Khu vực đồng Euro (Eurozone) cạnh tranh với đồng USD. Kể từ tháng 10/2000 tới nay, đồng EUR tăng giá 80% so với đồng USD (từ 1 EUR đổi 0,82 USD lên 1 EUR đổi 1,47 USD). Nhưng cùng với cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu, đồng EUR đang bị giảm giá và Eurozone đang bị lung lay và đứng trước thách thức. Hai đồng tiền lớn đại diện cho hai thực thể kinh tế lớn thế giới bị suy yếu đã ảnh hưởng lớn hệ thống tiền tệ thế giới cũng như kinh tế thế giới.
Ngoài ra, nhiều nước đã lạm dụng việc in tiền để phát hành lượng tiền lớn hơn nhu cầu thực tế dẫn tới lạm phát. Bởi vậy, độ tin cậy của tiền giấy bị giảm sút mạnh mẽ. Tình trạng tiền giấy được in ra nhiều hơn so với nhu cầu đã làm lạm phát mang tính toàn cầu làm cho giá vàng, bạc tăng lên mạnh mẽ. Vì vậy, một số nhà kinh tế thế giới dự đoán rằng thế giới sẽ trở lại chế độ “Bản vị vàng” và sẽ phổ biến dùng tiền vàng.
Báo “Trung Đông” ngày 20/9 đăng bài của Giáo sư Qasim Yafeih, chuyên gia kinh tế của Saudi Arabia dự đoán rằng thế giới trong tương lai sẽ phổ biến tiêu tiền vàng, bạc. Ông Yafeih viết: “Có thể khẳng định rằng trong tương lai 10-20 năm tới đây tiền tệ thế giới sẽ là tiền vàng, bạc. Khi đó đồng tiền giấy USD, EUR và các đồng tiền giấy khác sẽ không còn giá trị như hiện nay”. Giáo sư Qasim Yafeih cho biết nhiều nước hiện nay đều lo ngại rằng khủng hoảng nợ công làm đồng USD và EUR mất giá, vì vậy các nước thời gian qua đang đổ xô săn lùng mua vàng về dự trữ, nhất là Trung Quốc. Dự đoán tới cuối năm 2011, giá vàng có thể vượt trần 2.000 USD/oz. Đầu tư vào vàng, bạc, đá quý sẽ tăng lên, nhất là từ nửa cuối năm 2011. Nửa đầu năm 2011 tiêu thụ vàng trên thế giới là 624 tấn, nửa cuối năm 2011 lên tới trên 1.000 tấn. Những đồng tiền giấy các nước sẽ mất giá theo và mọi người đều tìm tới vàng làm  cảng lánh nạn, bảo vệ tài sản của mình. Bởi vậy, chế độ bản vị vàng lại quay trở lại.
Theo tờ “Bắc Kinh buổi sáng” ngày 30/9,  trong bài tham luận đọc tại “Hội nghị các nhà kinh tế đoạt giải Nobel” tổ chức ở Trung Quốc cuối tháng 9/2011,  Giáo sư Robert Mundell – người đoạt giải thưởng Nobel kinh tế năm 1999 và hiện là giảng viên Trường Đại học Columbia (Mỹ) – chủ trương các nước trên thế giới nên thống nhất dùng loại tiền chung gọi là “Tiền toàn cầu”. Giá trị của một đơn vị  tiền tệ này được tính toán dựa trên cơ sở giá trung bình trên thị trường thế giới, như vậy sẽ loại trừ được tình trạng lạm phát, cũng như in tiền giấy bừa bãi hiện nay ở các nước. Ông nói: “Đây là chủ trương xem ra rất xa vời, nhưng là xu thế phát triển chung của tiền tệ thế giới. Nó là cơ sở để xây dựng hệ thống tiền tệ chung, một đồng tiền chung thế giới cho 195 quốc gia và vùng lãnh thổ”. Tuy nhiên ông cũng cho rằng đồng tiền chung thế giới nên lấy đồng USD và EUR làm cơ sở, vì nền kinh tế Mỹ và EU chiếm tới trên 40% GDP thế giới.
Giáo sư John Forbes Nash, người được giải thưởng Nôben kinh tế năm 1994 cũng có một chủ trương tương tự. Ông nói: “Cuộc khủng hoảng tiền tệ thời gian qua khiến mọi người phải suy nghĩ về đồng tiền chung trong tương lai của thế giới”. Ông cho rằng cần xây dựng một đồng tiền chung toàn cầu gọi là “Tiền lý tưởng”.  Giá trị của một đơn vị đồng tiền này có thể dựa vào chỉ số giá cả tiêu dùng công nghiệp chung của thế giới để tính toán. Các tổ chức tiền tệ như IMF, Ngân hàng thanh toán quốc tế và Ngân hàng Châu Âu là cơ quan nòng cốt quản lý, giám sát đồng tiền này.
Giáo sư Paul de Grauwe, giảng viên Trường đại học Leuven (Lauven University), một trường đại học số 1 của Bỉ cho rằng thời gian tới, hệ thống tiền tệ thế giới sẽ hình thành thế chân vạc là đồng USD, đồng EUR và đồng Nhân dân tệ (CNY) của Trung Quốc. Thế giới sẽ tiêu ba loại tiền chính này.
Vậy thế giới tiêu tiền gì thời gian tới? Vàng, bạc, USD, EUR, CNY hay “Tiền toàn cầu”, “Tiền lý tưởng”? Rõ ràng đây là vấn đề tranh cãi. Thực tế cho thấy tiền giấy ra đời có vai trò lịch sử lớn và đến nay vai trò lịch sử đó đang bị xói mòn, dẫn đến việc hình thành một loại tiền mới.
Theo Tầm Nhìn

Kỷ niệm cái gì?


Blogger Gốc Sậy
Cái “hội chứng kỷ niệm” xxx năm của một địa phương đã ngày càng biến tướng đến cùng cực.
Một đơn vị hành chính hình thành từ thời Quân chủ, rồi thời Thực dân đế quốc, NÓI CHO CÙNG chỉ là QUY ĐỊNH của kẻ cai trị, để quản lý một vùng đất-nước.
Nhưng có nhẽ do CÓ TẦM NHÌN, các Cụ từ thời Quân chủ (và các quan Thực dân) đã nhận ra, khoanh vùng… xác định địa giới các tỉnh-thành (thậm chí cả tới huyện-xã) một cách Khoa học, phù hợp Tự nhiên-Xã hội… Dần dà, trải thời gian, trong các địa giới ấy đã ổn định những văn hóa vùng-miền.
Đến những năm 80 của thế kỷ trước, trong tư duy DUY Ý CHÍ XHCN, nhiều vùng, nhiều địa phương nhỏ được sáp nhập khiên cưỡng, bất chấp Phong thủy, địa lý, văn hóa… Nào Hà-Nam-Ninh (Hà Nam- Nam Định- Ninh Bình), nào Hà-Sơn-Bình (Hà Đông- Sơn Tây- Hòa Bình), nào Hoàng Liên Sơn (Lào Cai- Yên Bái- Nghĩa Lộ)… Kể ra thì hết cả entry này, nên thôi.
Ngay trong những cái tên tỉnh mới nói trên đã lộ rõ tính “thời vụ”, tạm bợ: Nơi thì là ghép tên cũ theo những cách tùy tiện, nơi thì là đặt mới (khiến tỉnh Nghĩa Lộ từ đó biến mất)
Nói về chuyện kỷ niệm thành lập một địa phương KHÔNG THỂ KHÔNG NHẮC đến vụ “kỷ niệm 300 năm Sài Gòn”.
Chuyện VÔ LÝ KINH HÒANG thế mà vẫn làm được. Bấy giờ GS Trần Quốc Vượng đã đặt câu hỏi: – Thế trước đó, vùng Sài Gòn là gì?
Không ai thèm trả lời.
Và rồi “hội chứng” ấy đã lan ra khắp miền Trung, bất chấp những HÔ HÀO về một Đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Đã có ý kiến bao biện: Đấy là kỷ niệm thành lập một vùng tụ cư của người Việt. Ô hay, thế trước khi người Việt đến ở thì đó là đất hoang chắc. Những cư dân của các vương quốc Champa, Phù Nam- Chân Lạp là hổ báo, rắn rết chăng?
(Xin nói luôn rằng đừng ai đem chuyện mấy trăm năm Hợp chủng quốc Hoa Kỳ vào đây. Chuyện ấy xin hẹn bàn dịp khác. Chỉ xin nhắc rằng: Chính phủ Australia chính thức xin lỗi thổ dân vì những sai lầm mà các chính phủ trước đó đã gây ra cho họ.)
Chuyện “khắc nhập-khắc xuất” đã gây ra nhiều chuyện:
- Hệ lụy tranh chấp địa giới Hà Nội – Hòa Bình
tỉnh bạn đề nghị phía Tây đường Hồ Chí Minh thuộc về Hòa Bình, phía Đông đường Hồ Chí Minh thuộc về Hà Nội. “Tôi không hiểu người ta nghĩ gì, nếu thực hiện đề xuất như vậy sẽ xáo trộn đến cuộc sống của khoảng hai nghìn hộ dân””.  Công dân Hà Nội, “sổ đỏ” Hòa Bình
Rồi đẻ ra: Hoà Bình: Thủ tướng cấm, tỉnh vẫn cứ làm
Dân gian thì cười nghiêng ngả về chuyện 2 vợ chồng già vẫn sống trên mảnh đất đó, ngôi nhà đó, bỗng nhiên thành người 2 tỉnh khác nhau: “Ông nhà tôi là người Hà Nội, nhưng bây giờ lương hưu nhận ở Lương Sơn, sinh hoạt Đảng, cựu chiến binh vẫn ở Lương Sơn…”
Phàm cái gì BẤT HỢP LÝ thì sẽ không thể tồn tại lâu. Các tỉnh TO lại dần được chia ra, trả lại như cũ, dưới thời Phong kiến-đế quốc
Dù không chính thức, nhưng rõ ràng đó là THỪA NHẬN: Không phải cái gì của Phong kiến-đế quốc cũng là XẤU, là Phản động, là cần xóa bỏ.
Thậm chí, thực tế hoạch định các tỉnh thành hiện nay đang GẦN TRÙNG, tiệm cận trở lại với hoạch định thời Phong kiến-đế quốc.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 9 ra Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Theo đó:
1- Chia tỉnh Nghệ Tĩnh thành 2 tỉnh, lấy tên là tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh (Dân gian lại đồn có 1 ý kiến đề nghị sáp nhập Hà Tĩnh với Quảng Bình để có tỉnh BÌNH TĨNH)
2. Chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành 2 tỉnh, lấy tên là tỉnh Yên Bái và tỉnh Lào Cai.
3. Chia tỉnh Hà Tuyên thành 2 tỉnh, lấy tên là tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang.
4. Chia tỉnh Gia Lai – Kon Tum thành 2 tỉnh, lấy tên là tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum.
5. Chia tỉnh Hà Sơn Bình thành 2 tỉnh, lấy trên là tỉnh Hoà Bình và tỉnh Hà Tây…
Chuyện chia tách tỉnh To trở về tỉnh nhỏ như cũ đã để lại không biết bao nhiêu hậu quả, hệ lụy đau đớn. Đỉnh cao có nhẽ là chuyện lực lượng vũ trang 2 địa phương Phú Yên và Khánh Hòa (tái tách từ Phú Khánh ra) đã dàn trận, suýt đánh nhau to trên đèo Cả. Mỉa mia là ngay gần đó là Vũng Rô – một di tích “đường Hồ Chí Minh trên biển” hồi miền Bắc chi viện cho miền Nam đánh Mỹ.
Nhưng rất gần đây, chuyện “khắc xuất” đó lại bỗng trở thành nguyên nhân của một TRÀO LƯU “kỷ niệm” khác: Kỷ niệm tái lập tỉnh.
Thật là KỲ QUÁI, một việc làm SAI, phải sửa, lại trở thành lý do để người ta TIÊU TIỀN. Cho dù ngay từ khi sửa sai, Nghị quyết Quốc hội đã có yêu cầu:
8. Giao cho Hội đồng Bộ trưởng chỉ đạo thực hiện Nghị quyết này của Quốc hội theo tinh thần tiết kiệm, không tăng biên chế, không để thất thoát tài sản xã hội chủ nghĩa; nhanh chóng ổn định tổ chức và phát triển sản xuất.
Vậy NGƯỜI TA kỷ niệm cái gì ?

CHUYỆN Ở LÀO CAI:

Sau ồn ã về việc nhân dịp kỷ niệm tái lập tỉnh TP Lào Cai: Cưỡng bức dân treo cao đèn lồng đỏ?, lại là sự kiện về NGÀY tái lập tỉnh này.
Đã có nhiều chứng minh chuyện trang thông tin điện tử UBND tỉnh Lào Cai xóa chứng tích đánh tráo lịch sử Âm mưu Hán hóa – Sửa lịch sử để kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh cùng ngày Quốc Khánh Trung Quốc.  Ở đây không bàn đến nữa.  Chỉ nói chuyện VÔ LÝ “Sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông…”
Thực tế, các cơ quan chức năng của tỉnh này đã được thành lập NGAY SAU khi kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VIII ra Nghị quyết:
- “Tháng 8/1991, Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ 9 đã ban hành Nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh Hoàng Liên Sơn thành lập hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái. Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao ban hành quyết định số 96/QĐ-TC ngày 22/8/1991 thành lập Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai và bổ nhiệm đồng chí Triệu Viết Hanh làm Viện trưởng với chỉ tiêu biên chế là 104 đồng chí (tỉnh 40, huyện 60).”
- “Bước vào năm 1991, tỉnh Lào Cai được tái lập, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ký Quyết định số 115/TCHQ-TCCB ngày 30/9/1991 đổi tên Hải quan Hoàng Liên Sơn thành Hải quan Lào Cai trực thuộc Tổng cục Hải quan, có trụ sở tại thị xã phố Lu tỉnh Lào Cai.”
Cái ngày 01/10 (hay 10/10) kia là từ đâu ra???
Tra toàn bộ danh mục văn bản pháp quy năm 1991 trên Cổng TTĐT Chính phủ, KHÔNG CÓ VĂN BẢN NÀO LIÊN QUAN ĐẾN CHUYỆN THÀNH LẬP LẠI CÁC TỈNH theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII. Chỉ có “Quyết định về việc điều chỉnh địa giới thị xã Đông Hà và thành lập lại huyện Cam Lộ thuộc tỉnh Quảng Trị”.
Nếu Hội đồng Bộ trưởng không có Quyết định thì phải lấy ngày Quốc hội ra Nghị quyết làm MỐC. Nghĩa là ngày TÁI LẬP tỉnh này phải lấy mốc ngày Quốc hội ra Nghị quyết là ngày 12/8/1991.

CHUYỆN Ở HÒA BÌNH:

Dư luận xôn xao chuyện ở Lào Cai nhưng lại không để ý chuyện 1 tỉnh khác cũng vừa kỷ niệm THÀNH LẬP và TÁI LẬP. Nhân dịp đó, tỉnh này còn tổ chức lễ hội cồng chiêng để đón rước Huân chương Hồ Chí Minh.
Buồn cười là, hầu hết các báo đều “giật tít” Hòa Bình kỷ niệm 125 năm thành lập tỉnh
Trước đó, “Ngày 13 tháng 7 năm 2011, tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình, Ban tổ chức, Ban giám khảo cuộc thi đọc sách báo tìm hiểu 125 năm thành lập tỉnh Hòa Bình tổ chức Hội nghị triển khai phát động cuộc thi trong toàn tỉnh, “Với mục đích ôn lại những trặng đường lịch sử vẻ vang, những truyền thống cách mạng của nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình qua 125 năm đấu tranh giành độc lập tự do, xây dựng và trưởng thành.” “
Tức là từ khi được thành lập, nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình đã phải đấu tranh. Vậy sao phải kỷ niệm cái MỐC THỜI GIAN BỊ NÔ LỆ đó? Đọc mà buồn.
“Khắc nhập, khắc xuất” chắc chắn còn là câu chuyện chưa có hồi kết.
Với từng người dân, chuyện đó CHẲNG CÓ Ý NGHĨA GÌ. Họ vẫn sinh sống ở đó, trong ngôi nhà đó, trên mảnh đất đó… chẳng có gì khác. Người muốn ăn mừng chỉ là những ông “có ghế” ngồi thôi !
Chuyện tách ra nhập vào đã là DUY Ý CHÍ. Chuyện kỷ niệm cái NGÀY SỬA SAI thì càng rõ là Phi lý và Lãng phí.
Bài viết do tác giả gửi cho HDTG blog. Chân thành cảm ơn tác giả

Thứ Hai, ngày 03 tháng 10 năm 2011

Thánh địa của tư bản


trong thời điểm hiện tại khi xứ Mỹ phải chi tiêu cả ngàn tỷ đôla mổi năm cho các nô lệ nghèo và già (vì lá phiếu của dân chủ); chưa nói đến cả ngàn tỷ đôla khác để bảo vệ hình ảnh của đế chế (Iraq, Afghanistan) và quyền lợi của tư bản (các công ty đa quốc). Trung Quốc không bị gánh nặng này. Cho nên, tôi sẽ không ngạc nhiên nếu trong vòng 20 năm nữa, thánh địa của tư bản sẽ được dời qua một địa điểm nào tại Trung Quốc. 
TS Alan Phan
Sau một cuộc họp dài suốt ngày, tôi cáo lỗi với đối tác, đi ăn một mình và thả bộ trên đường phố. Tôi chợt nhận ra là mình đang đứng giữa lòng Las Vegas, buổi tối thứ bảy, nhộn nhịp đám đông, xe cộ và muôn ánh đèn màu rực rỡ. Người ta nói nhiều đến sinh thái năng động của các thành phố Á châu mới nổi, nhưng tôi chắc chắn rằng không đâu có thể sánh bằng Vegas. Đủ mọi sắc dân Âu Á Phi, đủ mọi mầu da đen trắng vàng, đủ mọi loại tuổi, mọi loại quần áo phong cách và mọi loại thể hình mập ốm cao lùn. Nhưng họ đều chia sẻ một mẫu số chung: ngất ngây với mùi tiền, mùi tham và mùi vội vã.
Tôn giáo nào cũng có những vị thánh và những thánh địa để giáo dân hướng tâm tư và làm những cuộc hành hương tỏ lòng tôn kính. Người Thiên Chúa giáo tìm về Jesuralem đi lại con đường Thập Tự Giá của Chúa Jesus, người Hồi giáo có Mecca và giáo chủ Mohammed, người Phật giáo quỳ dưới cây bồ đề của Phật Thích Ca ở Patna. Tôn giáo tư bản có đôla và Las Vegas. Người ta nói nhiều đến New York, nhưng đây chỉ là chỗ để kiếm tiền, muồn hành hương để tìm biểu tượng cho sức mạnh của đồng tiền và những thú vui từ đôla, ta phải đến Las Vegas.
Người ta cũng hay nói về Macau, đỉnh mới của cờ bạc, nhưng vài ba sòng bài lớn và những số tiền khổng lồ thu từ các đại gia Trung Quốc (bao nhiêu là tiền rửa?), không thể cho Macau một phong cách của tư bản đại chúng, đa dạng mà sang trọng như Vegas. Một buổi tối cuối tuần ở Vegas sẽ phô bày tất cả xấu đẹp, sẽ phản ánh mọi đúng sai của triết thuyết tư bản.
Tôi đến Vegas lần đầu vào năm 1964 khi đi một vòng xứ Mỹ du lịch ba lô với vài sinh viên cùng trường. Một con đường lớn giữa sa mạc mênh mông, vài ba sòng bài như ốc đảo, tôi vào Desert Inn, Dunes, Hacienda… như một anh nông dân Cà Mau bước vào Hyatt, Sheraton ở Sài Gòn. Ấn tượng và lạ, nhưng không có gì để say mê hay cuốn hút (có lẽ tại tôi rất dửng dưng với cờ bạc). Qua các thập niên kế tiếp, tôi đến Vegas khá thường xuyên, vì khi mời các đối tác làm ăn về Los Angeles họp hành, họ không mặn mà lắm. Nhưng ở Vegas, nơi họ có thể ăn chơi cờ bạc, tiệc tùng trác táng và trừ phí tổn thua lỗ vào thuế, ai nấy đều hăng hái. Rồi đến các doanh nhân Trung Quốc vào những năm đầu mở cửa, Vegas là nơi phải dừng chân.
Đế chế Mỹ càng mạnh thì Vegas càng phát triển. Tôi chứng kiến một cuộc đua không mệt mỏi qua năm tháng của các công ty cờ bạc. Wynn tạo danh tiếng với Mirage, Treasure Island rồi cuối cùng là màn khiêu vũ nước hàng đêm ở Bellagio. Adelson trả lời với Venetian sau khi xây Sands thành một trung tâm hôi nghị lớn nhất nhì xứ Mỹ. Harrah nhập cuộc với những thâu tóm ngoạn mục dọc The Strip (con đường chính của Vegas) như Bally, Paris, Planet Hollywood, Imperial. Nhiều tên tuổi hàng đầu ngày xưa như Circus Circus, Stardust,… thua cuộc và tụt hậu thảm hại. Nhiều tay chơi vừa nhập cuộc tạo ấn tượng mới với Cosmopolitan, Trump, Aria, City Center, Mandarin, Madalay Bay. Một cuộc đua thật hấp dẫn và sáng tạo để dành thị trường và lợi nhuận, hoàn toàn tự phát kiểu tư bản đại chúng. Dubai, Macau, Shanghai, Singapore… cũng có những cuộc đua, nhưng chỉ là một xếp đặt của giới cầm quyền và cầm tiền, kết quả thường được định đoạt qua “nghị quyết” nên không gì ngạc nhiên, và do đó, không gì đáng kể. Giống như một trận đá bóng, không ai buồn tham dự hay đi coi nếu nhà tổ chức đã xếp đặt sẵn người thua kẻ thắng.
Một thực tế phải hiểu là trong lịch sử loài người, luôn luôn có một đẳng cấp thống trị nhỏ nhoi, cố gắng lợi dụng quyền lực và tiền bạc của mình để áp đặt “giải pháp” của mình trên đại đa số quần chúng. Từ các bộ lạc xa xưa, qua các triều đại phong kiến, thực dân, đến các quốc gia Tây Phương hiện tại hay các xã hội “bình đẳng” như Liên Xô, Trung Quốc… giải pháp thường đem lại một cuộc sống “ngon lành” hơn về đủ phương diện cho giai cấp cầm quyền này. Chế độ tư bản cũng không khác gì. Lợi dụng công sức và tài sản của quần chúng “ngu ngơ” để làm đầy túi tiền cá nhân và phe nhóm mình là thủ thuật tinh vi mà các chính trị gia và đại gia đều thông thạo.
Mục đích như nhau nhưng cách làm thì giới tư bản đã đẩy lên hàng nghệ thuật. Những chế độ dùng roi vọt gông cùm để thúc đẩy ép buộc người dân đang đi dần vào quá khứ. Indonesia của Suharto hay Hàn Quốc của Park Chung Hee ngày nào chỉ còn là dư âm. Tunisia, Lybia, Egypt, Syria… đang được sắp xếp lại. Ở các xã hội tư bản, người dân làm nô lệ với tinh thần hoàn toàn tự nguyện. Hai lý do: lòng tham cố hữu của con người và những món nợ ngập đầu.
Triết thuyết tư bản vẽ ra một cuộc chơi hào hứng là ai cũng có thể thắng và đem về một phẩn thưởng đẹp như mơ. Đây là tiền đề của Las Vegas, của tư bản. Dĩ nhiên, ai cũng biết là xác xuất cho thấy người thua bạc chiếm đến 95% người tham dự. Ngoài xã hội, cũng không thiếu những người nhận chân ra điều này. Tuy nhiên, giới tư bản còn một tuyệt chiêu khác: mua trước trả sau. Không nơi nào mà một người tay trắng có thể mua nhà, tậu xe, sắm sửa tiêu xài như ở xứ Mỹ. Có thể bạn không muốn nợ, nhưng chắc chắn là vợ con và đa số thành viên gia đình bạn bè sẵn sàng “shop” dùm bạn. Đòi hỏi duy nhất: bạn phải có việc làm và phải nô lệ nghiêm túc. Mất việc làm là mất tất cả.
Vì lòng tham và vì cái giây xích nợ vô hình này, cả trăm triệu nô lệ Mỹ đã đẩy nền kinh tế và xã hội Mỹ lên đỉnh cao thế giới dưới danh nghĩa “thị trường và tự do”. Trong khi đó các xã hội “phong kiến cổ hủ” phải trì trệ trong đống bùn vì ngu xuẩn. Các lãnh đạo nơi đây không hiểu rằng con ngựa sẽ chạy nhanh hơn nếu bạn treo trước đầu nó một củ cà rốt tươi ngon; chứ không thể dùng roi siết cương suốt chặng dường dài.
Cuối cùng, Đặng Tiểu Bình và cận thần hiểu được điều này. Họ đã dùng lòng tham và miếng mồi tư bản giàu có để kích thích cả tỷ nô lệ sửa đổi định mệnh Trung Quốc và củng cố tài sản cũng như quyền lực của đẳng cấp thống trị. Họ thành công vượt mơ ước, nhưng vẫn phải núp mình dưới nhiều tên gọi nghe trái tai. Thực sự, Trung Quốc là một quốc gia tư bản gấp nhiều lần so với Mỹ, nếu bạn xem xét kỹ các chương trình phúc lợi xã hội hay quyền lực của các nhóm lợi ích của xứ này.
Nhất là trong thời điểm hiện tại khi xứ Mỹ phải chi tiêu cả ngàn tỷ đôla mổi năm cho các nô lệ nghèo và già (vì lá phiếu của dân chủ); chưa nói đến cả ngàn tỷ đôla khác để bảo vệ hình ảnh của đế chế (Iraq, Afghanistan) và quyền lợi của tư bản (các công ty đa quốc). Trung Quốc không bị gánh nặng này. Cho nên, tôi sẽ không ngạc nhiên nếu trong vòng 20 năm nữa, thánh địa của tư bản sẽ được dời qua một địa điểm nào tại Trung Quốc. Nhưng không phải loại tư bản đại chúng, muôn màu và đa dạng như Vegas, mà là loại tư bản của phe nhóm, ích kỷ, tàn nhẫn và đơn điệu với chút quê mùa.
Nguồn: SGTT