Thứ Bảy, ngày 15 tháng 10 năm 2011

Sông nước trong tâm thức người Việt


Sông nước từ lâu vẫn là hình ảnh quen thuộc, dung dị nhất về quê hương, bản quán trong lòng mỗi người dân Việt
Mở đầu bài thơ Tống biệt hành, Thâm Tâm viết:
“Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng
Bóng chiếu không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?…”
Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã tranh luận và giảng giải rất nhiều về khổ thơ hay nhất bài này. Nhìn từ góc độ văn hóa còn thấy thêm rằng “tiếng sóng” dào dạt không phải từ đáy sông mà từ “trong lòng” ấy chính là tâm thức sông nước có sẵn trong mỗi người. Người Việt xưa cũng như nay, nói tới chia li, cách trở vẫn hay nghĩ tới hình ảnh dòng sông, con đò, bến nước… Nghịch lí mà Thâm Tâm đưa ra là “không” mà “có” ấy tựa như một điểm nhấn có giá trị biểu cảm và thẩm mĩ rất đặc trưng cho tâm hồn dân tộc. Người ra đi, dù không qua sông vẫn nghe âm vang sóng vỗ và dòng sông không có ấy, qua ngôn ngữ thơ, thực sự đã chảy trong tâm hồn người đọc.
Nói tới sông nước trong tâm thức của người Việt là đề cập tới khá nhiều vấn đề liên quan: điều kiện địa lí, môi trường sống, tiến trình lịch sử, đặc điểm dân tộc và phong tục, tập quán v.v.. Trong giới hạn của một bài viết ngắn cũng là một ý kiến phát biểu, chúng tôi chỉ nói đến sông nước có liên quan đến nhận thức, tư duy, cách ứng xử cũng như biểu hiện tâm hồn, cảm xúc của người Việt từ xưa đến nay.
1. Nước Việt Nam có nhiều con sông lớn nhỏ, rộng hẹp khác nhau nhưng hầu như vùng, miền nào cũng có. “Nước” trong tiếng Việt còn có nghĩa là Tổ quốc, lãnh thổ, quốc gia, đất nước… Sông nước tồn tại cùng với con người. Với những cư dân lúa nước, nước không chỉ là điều kiện tiên quyết của kinh tế nông nghiệp (nước, phân, cần, giống) mà còn là yêu cầu đầu tiên cho mọi sự lựa chọn từ nơi sinh sống đến vị trí quan trọng nhất là kinh đô của một nước. Trong một bài viết có tên “Vị thế địa – văn hóa của Hà Nội nghìn xưa trong bối cảnh môi sinh lưu vực sông Hồng và cả nước Việt Nam”, cố giáo sư Trần Quốc Vượng đã vẽ ra tứ giác nước của Hà Nội trong đó có hai con sông quan trọng: sông trước là sông Nhị và sông sau là sông Tô. Giáo sư Vượng cũng cho rằng: “…các cửa ô cơ bản ngày trước của thủ đô Hà Nội đều là cửa nước (đúng với khái niệm Watergate), ví dụ: Ô Cầu Giấy nằm ở ngã ba Tô Lịch – Kim Ngưu…”, và tư duy sông nước ấy còn có liên quan đến việc hình thành nên những cảng thị như mặt tiền của cả một vùng duyên hải miền Trung [7:366]. Thượng toạ Thích Nguyên Đức, trụ trì chùa Hồ Sơn, Tuy Hòa cũng cho rằng ngay cả việc dựng chùa, tưởng như chỉ cần chọn nơi hẻo lánh, “thâm sơn cùng cốc” để thuận tiện cho việc tu hành, thì thực ra yếu tố nước vẫn được tính đến đầu tiên. Suối nước, giếng nước nhà chùa thường rất trong và ngọt và không chỉ có trong văn chương của Nguyễn Tuân [5]. Trong nhận thức của người Việt, sự hiện hữu của sông nước khẳng định sự tồn tại của sự sống, hay nói khác hơn, giá trị của nước chính là đem lại cuộc sống cho con người. Nước dồi dào, cây cối xanh tươi, mùa màng sung túc; sông cạn, nước khô có nghĩa là sự sống đang cạn kiệt, đang bị hủy diệt. Dần dần, từ tự nhiên tồn tại khách quan, nước hiện hữu, chi phối nhận thức và cách ứng xử trong mỗi con người. Sông nước là dòng chảy bất tận của thời gian (Dù cho sông cạn, đá mòn…); là sự xác định giới hạn về không gian (Đôi ta cách một con sông…), là nguồn cội thiêng liêng (Uống nước nhớ nguồn), là niềm tin trong cuộc sống (Có nước, có cá / Sông có khúc, người có lúc), là đạo đức và cách hành xử (Thác trong hơn sống đục / Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo)… Những tính chất: lỏng, mềm, trong, linh hoạt, liên kết không có ranh giới, truyền nhiệt, dễ bốc hơi… của nước dường như đều có ảnh hưởng tính cách của người Việt. Đó cũng là hệ quả tất yếu từ mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.
Khi nói đến hệ giá trị trong văn hóa truyền thống của người Việt, giáo sư Chu Xuân Diên lưu ý rằng: “Trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, người Việt phụ thuộc vào tự nhiên, nương nhờ tự nhiên hơn là chiếm lĩnh, làm chủ tự nhiên. Khuynh hướng đó trong ý thức thể hiện thành sự tôn trọng, sự sùng bái tự nhiên, trong hành động thể hiện thành những sự lựa chọn có tính chất thích nghi với tự nhiên, tận dụng sức tự nhiên hơn là chinh phục tự nhiên, dùng sức người thay thế tự nhiên, trong sinh hoạt thể hiện thành lối sống hòa hợp, hòa mình với tự nhiên, gắn bó với môi trường tự nhiên…” [2:256-257]. Người Việt từ xa xưa đã sống hòa với sông nước đến mức coi sông nước như người. Cách đặt tên sông phổ biến ở cả nước là: sông Cái, sông Con, sông Cả… cũng thể hiện một mối quan hệ rất thân tình, rất gia đình của con người với tự nhiên. Sông nước cho dù có lúc làm nguy hại hay gây khó khăn cho cuộc sống con người thì con người cũng biết chấp nhận như một lẽ tất yếu của tự nhiên. Chuyện “Sơn Tinh – Thủy Tinh” dù có thừa nhận thần núi thắng thần nước, nước dù có dâng cao mấy cũng không ngập núi được, nhưng hằng năm lũ lụt vẫn xảy ra vì Thủy Tinh vẫn nhớ mối thù xưa và Thủy Tinh vẫn là một vị thần mang tính cách người, hành xử như là một người bình thường. Sự giận dữ của tự nhiên đối với con người phần lớn là do con người đã không tôn trọng nó. Điều này còn được thể hiện rất ấn tượng qua nhiều truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc như truyện “Bà Mọi hú”, truyện Câu dầm… Trong truyện “Bà Mọi hú”, nhà văn Bình Nguyên Lộc lí giải vùng ruộng rừng phía tây Hồ Nai – Biên Hòa luôn khô cạn là do Bà Mọi linh thiêng giận đồng bào Kinh phá rừng nên đã bịt tắt dòng nước. Tiếng hú tuyệt vọng, đau đớn của người đàn bà rừng rú mà thần thánh ấy vang vọng, là lời nhắc nhở mọi người về cách ứng xử với tự nhiên, về việc cần bảo vệ nguồn nước. Truyện “Câu dầm” cũng vậy, thông qua chuyện báo ứng hoang đường của ông Ba, hệ quả tất yếu của chuyện vét sạch cá ở sông suối, ao hồ thật khủng khiếp và con người phải hứng chịu lấy. Câu cá là thú vui, là để kiếm sống nhưng xét ở góc độ cân bằng sinh thái, nếu câu triệt để thì môi trường sông nước sẽ bị hủy diệt.
Nam Bộ là vùng sông nước vì có tới 57.000km đường kênh rạch, sông nước [2:313]. Cũng như Bình Nguyên Lộc, nhà văn Sơn Nam là cây bút của sông nước miền Nam. Tác phẩm của ông không chỉ khai thác văn hóa sông nước Nam Bộ làm đề tài, bối cảnh dựng truyện mà còn thể hiện rất đặc thù ngôn ngữ, nhận thức và cách ứng xử của người miền Nam trong môi trường và cuộc sống sông nước. Đọc “Mùa “len” trâu”, “Một cuộc biển dâu”, “Bắt sấu rừng U Minh hạ”, “Con Bảy đưa đò”… của Sơn Nam sẽ nhận ra cá tính người miền Nam trọng nghĩa, hào sảng, dễ dãi… thể hiện trong sự gắn kết với nước: ruộng ngập nước, trồng lúa nước, tôm cá rắn rùa… là thức ăn có sẵn dưới nước, nhà trên nước, chợ trên nước, đi lại trên nước bằng ghe, xuồng, coi hát trên nước, đua ghe trên sông, nhân duyên trên nước; thậm chí con trâu, con chuột cũng biết bơi và người chết vào mùa nước thì đành an táng bằng cách dìm xác dưới nước…
2. Như vậy, sông nước vừa là hình ảnh chung của đất nước vừa rất cá biệt, vừa là tự nhiên khách quan vừa thể hiện tính bản địa, sự khác biệt của văn hóa mỗi vùng miền. Những con sông đều giống nhau ở dòng nước chảy giữa hai bờ, nhưng sông Hồng khác với sông Cửu Long và càng khác với những con sông ngắn mà dốc, chạy từ miền núi phía Tây đổ xuống biển Đông ở khúc ruột miền Trung…
Theo tài liệu [4:90], tỉnh Phú Yên có khoảng 50 con sông có chiều dài trên 10km, trong đó phần lớn là các sông ngắn từ 10 đến 50km. Mật độ sông ngòi khá dày, trung bình là 0, 5km/km2, nhưng vào mùa nắng kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8, 9 nhiều sông, suối hầu như đều cạn kiệt nước. Nguồn nước cung cấp chủ yếu là nước mưa và có từ 70 đến 80 % lượng nước tập trung vào mùa mưa, gây nên hiện tượng ngập, lụt thường xuyên. Trong kí ức của người dân, mưa lụt và nắng hạn đều đáng sợ và đều liên quan tới nước Trời. Người nông dân thường cầu khấn “Lạy trời mưa xuống / Lấy nước tôi uống…”. Mưa nhiều, mưa ít cũng là do đấng quyền năng này “Ông không tha, bà không tha. Trời cho cây lụt hai ba tháng mười…”. Con người thật khiêm nhường, vì cầu mong nên mọi sự ban phát dù quá đáng, dù làm hại người xin, vẫn được coi đó là của “cho”, của Trời. Sông nước cũng không đủ rộng, đủ dài để con người có cảm giác “bèo dạt, mây trôi” hoặc “lênh đênh mặt nước” như miền Nam và miền Bắc. Có chăng người ta sợ những con “ma gia”, oan hồn của những người chết nước, thỉnh thoảng lại hiện lên đòi những người khác là “họ Lê, họ Nguyễn, họ Trần…” thế mạng.
Mặt khác, Phú Yên cũng như các tỉnh duyên hải miền Trung, vì có mặt tiếp giáp với biển Đông nên trong sự nhận thức con người, biển mới là biểu tượng hùng vĩ, vững bền của tự nhiên. Người dân hay “ngó ra ngoài biển…” và rất nhiều câu ca dao bắt đầu bằng cụm từ “ngó ra” như vậy. Sinh hoạt văn hóa gắn với biển có phần lấn át văn hóa sông nước. Phú Yên không có một lượng từ ngữ lớn gắn liền với sinh hoạt sông nước như phương ngữ Nam Bộ nhưng cũng có một hệ thống ngữ nghĩa khá đa dạng thể hiện nếp sinh hoạt, tư duy của người dân vùng biển, đặc biệt là có hiện tượng biến âm địa phương ở những làng ven biển. Nhiều người tự giải thích đó là do nguồn nước hay cho đó là dân biển “ăn sóng, nói gió” và sóng gió, muối biển làm cứng tiếng nói của họ. Thế nhưng, như một sự tiếp nối truyền thống, người dân vẫn giữ tục cúng giếng, cúng sông và trên mâm cúng sóc vọng, cúng nhà mới, bao giờ cạnh hai món gạo, muối căn bản cũng có chai hoặc chén nước trong. Trước mỗi nhà là một vò nước giếng. Vò làm bằng đất nên mùa hè nước không nóng mà mùa đông nước cũng không lạnh. Ai đi ngang qua, nếu khát, cũng có thể ghé vô múc gáo nước uống. Bên cạnh vò nước thường có một chậu đất trồng hành, trồng hẹ hay trồng rau. Nước uống còn dư trong gáo là để tưới cho chậu rau ấy. Nhà văn Võ Hồng còn kể một chuyện hà tiện, “để dành” nước rất đáng yêu của người miền Trung: Một bà cụ thấy trời mưa đem hết ang, thau, chậu trong nhà ra hứng nước mưa, tới khi cần cái thau lớn mà đổ nước đi thì tiếc nên bà khệ nệ bưng thau nước mưa đổ lại xuống giếng!
Trăm sông đều đổ ra biển cả nhưng sông vẫn có đời của sông, biển vẫn sống đời của biển. Chỗ gặp gỡ là cửa biển, là vùng nước “xà hai” mặn ngọt pha trộn như là một kiểu vừa tranh chấp vừa hòa hợp tạm thời. Văn hóa các tỉnh ven biển miền Trung với mặt tiền là biển, mặt hậu là núi cũng giống như một vùng nước “xà hai”, có sự giao thoa mạnh mẽ, thú vị so với hai đầu Nam và Bắc của đất nước. Biển dù rộng lớn, đem lại nhiều lợi ích cho con người thì cũng không thay thế sông suối được, cũng như nước mặn không thay cho nước ngọt được. Đặc biệt hơn, không dễ gì mất đi trong tiềm thức, tâm hồn người Việt hình ảnh con sông quê hiền hòa, trong mát.
3. Năm 1948, trong thời kháng chiến chống Pháp, Hoàng Cầm viết bài thơ “Bên kia sông Đuống”, sau đoạn tả con sông với dòng nước trong và bờ cát trắng, nhà thơ bày tỏ tâm trạng, cảm xúc: “Đứng bên này sông sao nuối tiếc / Sao xót xa như rụng bàn tay…”. Chữ “rụng bàn tay” đó quả là bất ngờ. Ai cũng có thể nói hay về lòng yêu mến của con người đối với quê hương, nhưng nói như Hoàng Cầm thì mới cảm nhận được thật cụ thể và máu thịt về quê hương đối với mình. Con sông quê đã như một phần thân thể (phần quan trọng, không thể thiếu là bàn tay) gắn bó chung trong mỗi con người. Và con sông Đuống hay còn gọi là sông Thiên Đức chảy qua tỉnh Bắc Ninh của Hoàng Cầm bỗng trở thành một sinh thể có linh hồn, có tâm trạng và thân thiết, gần gũi xiết bao! Từ con sông cụ thể trên những vùng quê khác nhau đã chảy thành sông thơ, sông nhạc… trong văn hóa Việt Nam. Từ văn hóa có liên quan đến cảm hứng sáng tác, đến cảm hứng du lịch và nhiều ý tưởng khác cho cuộc sống. Trong mỗi người chúng ta vừa có những con sông cụ thể mà ta gắn bó vừa có những con sông bắt nguồn từ sự tiếp nhận văn hóa (qua văn chương, hội họa, âm nhạc…). Đi lên vùng Tây Bắc, hay là chưa từng đến đây nhưng khi nhắc đến tên sông Đà, thế nào bạn cũng hình dung bằng hình ảnh Nguyễn Tuân miêu tả “Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo…” [6:161]). Văn chương, nghệ thuật đôi khi làm cho nhiều sự vật rất tầm thường trở nên lấp lánh, đáng yêu hơn và hiệu quả mà nó đem lại chính là tình yêu đối với quê hương, là cảm xúc trong tâm hồn. Tồn tại một cách bình đẳng và gắn kết với những con sông trên bản đồ địa lí, hành chính của đất nước là những con sông trên bản đồ văn chương, nghệ thuật. Sông Đà của Nguyễn Tuân, sông Đuống của Hoàng Cầm, sông Lấp của Tú Xương, sông Trà Bồng của Tế Hanh, sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Côn của Nguyễn Mộng Giác, sông Phường Lụa của Võ Hồng…; rồi sông Lô, sông ĐăKrông, sông Ba, sông Hiền Lương, sông La, sông Mã, sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ Đông… nổi danh trong nhạc, trong họa… Có con sông thơ, nhạc và cũng có những con sông lịch sử mãi mãi khắc ghi như sông Bạch Đằng, sông Cầu, sông Gianh, sông Bến Hải… Sông nước tự bản thân nó đã là gương mặt quê hương…
Sông quê, ao làng, giếng nước… là nơi in hình mây trắng, trời trong, là nơi gần gũi để gửi gắm biết bao tâm sự, nỗi niềm của người dân quê. Tế Hanh có con sông “xanh biếc” gắn liền với tuổi nhỏ của mình. Hai mươi năm sống xa quê, dòng sông ấy vẫn “lai láng chảy” từ nỗi nhớ của nhà thơ, và còn tiếp tục hóa thân trong tâm hồn hàng triệu người đọc. Có lẽ vì nước dễ lây lan và có khả năng hóa giải mọi điều chăng? Ngày xưa cô Tấm đi xem hội ngẫu nhiên đánh rơi chiếc giày xuống nước như gieo cầu hạnh phúc; còn nàng Vũ Thị, vợ Trương sinh, lại bỏ mình theo làn nước vì oan ức, tuyệt vọng. Các cô gái làng ai chẳng một lần thầm ngắm dung nhan mình qua mặt ao, mặt sông, giếng nước hay thậm chí là chum đựng nước… Có biết bao mối lương duyên kết thành hay tan vỡ từ những lần gánh nước hoặc qua sông, qua đò. Thi sĩ Hồ Dzếnh, tác giả của bài “Chiều” nổi tiếng, chính là kết quả của tình yêu giữa người thanh niên Quảng Đông phiêu bạt với cô lái đò trên sông Ghép (Thanh Hóa). Hồ Dzếnh nói rằng, nước Việt in hình trong thơ của ông:
“Thơ tôi: đê thắm, bướm vàng
Con sông be bé, cái làng xa xa…” [1:45]
Nếu những con sông quê hiền hòa, be bé chảy xuôi dòng kết nối nên tình yêu quê hương thì giếng nước và những mặt ao (nhất là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ) chính là nơi thể hiện rõ nhất đặc điểm của văn hóa làng và nếp sinh hoạt trong gia đình người Việt. Cái giới hạn cong cong, tròn tròn khép kín, chật hẹp mà thăm thẳm ấy, luôn chứa đựng biết bao chuyện buồn vui của đời người. Nhà có cưới, nhà có tang ma, có con nhỏ, có khách, dậy sớm và thức khuya, hẹn hò và thề thốt, ồn ào hay lặng lẽ… đều gắn với giếng nước, cầu ao. Người ta trò chuyện, chia sẻ, giãi bày, tâm sự hay gây sự nhiều khi từ giếng nước, cầu ao… Nhà nghiên cứu văn hóa Toan ánh ví cái ao, cái giếng đối với làng quê giống như chén nước mắm không thể thiếu trong mỗi bữa cơm gia đình [1:45]. Diễn trình Nam tiến của người Việt cộng với những điều kiện tự nhiên khác biệt đã làm cho sự ràng buộc của “văn hóa làng” càng vào miền trong càng lơi lỏng đi, chỉ có số phận chìm nổi của người phụ nữ ngày xưa thì nơi nào cũng gợi xót xa, thương cảm. Nhiều khi họ phải lấy câu “phận gái mười hai bến nước” để tự an ủi mình, hay chỉ biết làm một cái bến tĩnh tại, âm thầm chờ đợi: “Thuyền ơi có nhớ bến chăng / Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”. Khi thuyền tình tan vỡ, họ cũng chỉ biết oán trách con đò, dòng nước: “Cha mẹ cho em sang chuyến đò nghiêng. Đò chùng chiềng đôi mạn em ôm duyên trở về…”…
Sông nước từ xưa đến nay đã chảy trong tâm hồn người Việt với biết bao buồn vui của một đời người, với biết bao thăng trầm, đổi thay của thời cuộc. Người chưa một lần qua sông, qua đò, chưa từng sống cạnh sông nước nhưng nghe câu hò của một chàng trai của vùng sông nước phương Nam: “Hò ơ… Gió đưa cơn buồn ngủ lên bờ / Mùng ai có rộng, cho anh ngủ nhờ một đêm!” thì cũng thấy rất thú vị và tâm hồn lâng lâng, bắt nhịp…
Sông nước hóa thành giá trị văn hóa và có khả năng làm tươi mới tâm hồn con người…
4. Cuối cùng, cần phải nói rằng sông nước cũng như tình yêu không phải là vĩnh viễn, bất biến mà luôn vận động, đổi thay. Dù người xưa hay lấy sông núi để thề bồi nhưng vẫn có chuyện “sông cạn, đá mòn” xảy ra. Câu nói nổi tiếng “Không ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông” của học giả Heraclite (530 – 470 tr.CN) xem ra vẫn là nỗi ám ảnh chung cho con người hiện đại về bước đi của thời gian cùng với sự thay đổi liên tục của xã hội và thế giới tự nhiên trong đó có sông nước. Nhiều giá trị văn hóa bị mất đi và thay thế bằng những giá trị mới. Con người cần kiến thiết những công trình vĩ đại nhưng cũng phải bảo vệ những cái gần gũi, thiết yếu là nguồn nước tự nhiên. Lũy tre và ao làng không thể trói buộc con người hay ngăn cản sự đổi mới, nhưng sông nước, làng quê vẫn vô cùng thiêng liêng trong tâm thức của người Việt Nam. Quá trình đô thị hóa và cuộc sống công nghiệp hiện nay đã khiến cho diện tích mặt nước tự nhiên hầu như đều bị thu hẹp lại. Nguy cơ mất cân bằng trong môi trường sinh thái cũng như sự mai một, khô cạn của một nền văn hóa sông nước đã có tự nghìn năm không phải chỉ là lời cảnh báo.
Nhắm mắt lại, ta không chỉ nghe tiếng gọi đò của Tú Xương từ con sông Lấp đã mất, mà còn nghe âm vang, đồng vọng biết bao nhiêu tiếng gọi đò khác… u hoài và da diết!
Tài liệu tham khảo:
  • Toan Ánh, “Ta về ta tắm ao ta” trong cuốn Lá rụng về cội, Nxb. Thuận Hóa, 1992, tr.45.
  • Chu Xuân Diên, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, 2002, tr.256-257.
  • Hồ Dzếnh, Một hồn thơ đẹp, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2001, tr.248.
  • Nhiều tác giả, Đặc điểm khí hậu thủ văn Phú Yên, Nxb. Nông nghiệp phối hợp với Sở Khoa học & Công nghệ Phú Yên xuất bản, 1995, xem từ tr.90.
  • Nguyễn Tuân, “Những chiếc ấm đất” (trích Vang bóng một thời), đã đăng trên tạp chí Tao đàn số 8 (16/6/1939)
  • Nguyễn Tuân, “Người lái đò sông Đà”, Văn học 12, tập I, Nxb. Giáo dục, 1998, tr.161.
  • Trần Quốc Vượng, Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996, tr.366.
Nguồn: Tạp chí Văn Hóa Dân Gian

Xe của.. Bộ Công An






Ảnh GDVN

Thứ Sáu, ngày 14 tháng 10 năm 2011

Thỏa thuận Việt Trung về Biển Đông : Một bước tiến bị hoài nghi


Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng hiện đang có chuyến thăm chính thức 5 ngày (11/10-15/10) tới Bắc Kinh.
Ngay trong ngày đầu tiên 11/10, ông Trọng cùng Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã chứng kiến việc ký kết một loạt văn kiện, trong đó có Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản giải quyết các vấn đề trên biển.
Tháp tùng ông tổng bí thư Việt Nam là một đoàn đại biểu, mà theo nhận định của nhà nghiên cứu Trung Quốc Dương Danh Dy, thuộc loại hùng hậu nhất từ trước tới nay.
Ông Dy, người từng phục vụ lâu năm trong ngành ngoại giao và từng giữ chức Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, đã nói chuyện với BBC từ Hà Nội.
Chuyên gia Dương Danh Dy: Đoàn Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đi Trung Quốc lần này trong bối cảnh quan hệ hai bên đang có nhiều căng thẳng.
Đài Hoàn Cầu của Trung Quốc trước chuyến đi của ông Trọng đã mượn lời bản tin của Nhật Bản phát đi các chi tiết như, không giống người tiền nhiệm Nông Đức Mạnh, ông Nguyễn Phú Trọng lên tổng bí thư 10 tháng rồi mới thăm Trung Quốc, trong khi ông Mạnh chỉ nhậm chức có bốn tháng đã đi Bắc Kinh.
Rồi họ cũng nói ông Mạnh đi Trung Quốc là nước đầu tiên, trong khi ông Trọng chọn đi Lào rồi mới đi Trung Quốc vv…
Dường như họ muốn nói cho người dân trong nước biết, ông Trọng không phải nhân vật được hoan nghênh như ông Nông Đức Mạnh.
Một điều nữa, là nhìn vào thành phần đoàn thì tôi cho là từ khi tôi vào ngành ngoại giao tới nay, chưa bao giờ tôi chứng kiến một đoàn đi Trung Quốc mà thành phần đông đảo và cao cấp như lần này.
Trong đoàn có tới bốn ủy viên Bộ Chính trị, kể cả ông Nguyễn Phú Trọng, 11 ủy viên Trung ương Đảng. Rồi tuy là đoàn của Đảng, nhưng về phía chính phủ có một phó thủ tướng và đại diện của bảy bộ bao gồm sáu bộ trưởng và một thứ trưởng.
Về phía Trung Quốc, thì họ cũng tiếp đón một cách hùng hậu tương tự. Kể cả ông Hồ Cẩm Đào, họ cũng có bốn ủy viên Bộ Chính trị đón tiếp đoàn, ba ủy viên Quốc vụ viện, rồi cả ba bộ trưởng ngoại giao, công an, quốc phòng đều có mặt.
Không phải tự dưng mà hai bên lại bố trí thành phần như vậy, mỗi bên chắc chắn đầu có ý đồ.
Ý đồ của phía Việt Nam, theo tôi khá rõ, là muốn cho thấy đây là chuyến đi đông đảo của tập thể, chứ không phải chuyến đi của riêng một ông tổng bí thư.
BBC: Thưa ông, trong ngày đầu hai bên đã ký thỏa thuận về các nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển. Theo ông, liệu thỏa thuận này có mang tính đột phá gì hay không ạ?
Chuyên gia Dương Danh Dy: Gọi là đột phá thì cũng hơi mạnh quá, vì chúng ta thấy trong chuyến đi này hai bên đã ký tổng cộng sáu văn kiện, hiệp định, mà thỏa thuận về các vấn đề trên biển chỉ là một.
Tuy nhiên, cần phải nói là các văn kiện đã ký phần lớn đều không có mấy tính thực chất, thí dụ không có các điều khoản cụ thể như đầu tư bao nhiêu vào đâu, cho vay bao nhiêu tiền vv… Nói về quan hệ hữu hảo, rồi 16 chữ vàng bốn tốt thì lâu nay hai bên đều nói rất nhiều rồi.
Do vậy, nhận định chủ quan của tôi là hình như người ta đã phải gói rất nhiều chủ đề vào để làm cho chủ đề nóng bỏng nhất, gây tranh cãi nhất (Biển Đông) bớt gay gắt đi.
Trong thời gian vừa qua, hai bên đều thấy nếu không có một sự giải quyết dứt khoát thì vấn đề Biển Đông chắc chắn sẽ bùng nổ.
Muốn hay không muốn, điều này sẽ không có lợi cho cả hai nước, nhất là Trung Quốc vì từ sau vụ Bắc Kinh cắt cáp tàu Bình Minh của Việt Nam hồi tháng Sáu, dư luận thế giới và khu vực đều tỏ ra chỉ trích Trung Quốc.
Thêm vào đó, cũng từ tháng Sáu dư luận trong nước Việt Nam tỏ ra bức xúc, nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc nổ ra, báo chí lề phải cũng bắt đầu được nói về những mặt trái, phê phán Bắc Kinh… nên lãnh đạo Trung Quốc nhận thức được rằng nếu cứ để tình hình như vậy thì sẽ rất bất lợi, họ buộc phải tìm cách thỏa thuận, ngăn chặn.
Tôi cho thỏa thuận đó là cái được nhất của chuyến đi này.
Thế nhưng tôi muốn nhắc lại chuyện lịch sử, là hồi năm 1978 trước khi có cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, ông Tổng bí thư Lê Duẩn cũng dẫn một đoàn sang Bắc Kinh đàm phán. Hai bên cũng nói chuyện hữu nghị, đoàn kết, nhưng rút cục tháng Hai năm 1979, Trung Quốc họ vẫn đánh Việt Nam.
Thế cho nên giải quyết vấn đề Biển Đông dần dần như thế là được, nhưng vẫn phải cảnh giác, đừng tưởng là chuyện Biển Đông như thế là xong được.
BBC: Có một chi tiết chúng tôi hơi tò mò, là báo chí chính thống khi nói về chuyến thăm chỉ nói đây là ‘chuyến thăm chính thức’, chứ không dùng chữ ‘chuyến thăm hữu nghị’ như lệ thường. Liệu chúng ta có nên bình luận gì về điều này hay không, thưa ông?
Chuyên gia Dương Danh Dy: Vâng, nhận xét đó khá chính xác. Tôi muốn nói là trước đó báo chí Trung Quốc, như Tân Hoa Xã, khi đưa tin về chuyến thăm của ông Nguyễn Phú Trọng, cũng không dùng cụm từ ‘hữu nghị’.
Chỉ thế là nói lên nhiều điều rồi, tôi xin miễn bình luận (cười).

RFI
12-10-11
Thỏa thuận Việt Trung về Biển Đông : Một bước tiến bị hoài nghi
Trọng Nghĩa

GS Carlyle A. Thayer
Về hình thức, chuyến công du Trung Quốc của lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đã mang lại một “kết quả” thấy rõ. Bắc Kinh cam kết giải quyết tranh chấp Biển Đông với Hà Nội một cách hòa bình. Việc hai bên ghi lại trên giấy trắng mực đen các nguyên tắc hướng dẫn đàm phán, được giới phân tích xem là một tiến bộ. Thế nhưng, căn cứ vào tiền lệ thường thấy liên quan đến vấn đề Biển Đông là lời hứa không đi đôi với việc làm, giới phân tích vẫn dè dặt về hiệu quả thực thụ của thỏa thuận.
Trả lời phỏng vấn nhanh của Ban Việt ngữ RFI về bản “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển” được hai thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam và Trung Quốc ký kết ngày hôm qua, 11/10/2011, giáo sư Carl Thayer, chuyên gia kỳ cựu về Biển Đông tại Học viện Quốc phòng Úc (Đại học New South Wales) trước tiên ghi nhận rằng thỏa thuận này là một bước tiến mới trong tiến trình đàm phán Việt Trung về biên giới :Thỏa thuận nguyên tắc chỉ đạo việc giải quyết tranh chấp trên biển [giữa Việt Nam và Trung Quốc] đã được mong đợi từ lâu. Vào năm 2008 hai bên đã đồng ý tiến tới thỏa thuận này, và bảy cuộc gặp song phương đã được tổ chức từ năm 2010. Việc loan báo rằng thỏa thuận đã đạt được là một bất ngờ, nhưng rõ ràng là cả hai bên đều muốn trình bày một “thành quả” cụ thể nhân chuyến công du đang diễn ra của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tại Trung Quốc.
Cho dù thỏa thuận vừa ký kết chỉ mang tính nguyên tắc, tuy nhiên, theo giáo sư Thayer, điểm yếu đầu tiên của văn kiện này là tính chất mơ hồ về thời gian, không quy định thời hạn cho việc tiến hành đàm phán.
Trong thực tế, Trung Quốc và Việt Nam đã từng đạt được một thỏa thuận có tính chất tương tự trong quá trình dẫn đến việc phân định biên giới trên đất liền của họ. Một cuộc họp thượng đỉnh giữa lãnh đạo Đảng của hai nước đã ấn định một thời hạn, và sau đó thỏa thuận về biên giới trên bộ đã đạt được. Nhưng không có dấu hiệu cho thấy là hội nghị thượng đỉnh Việt Trung lần này sẽ quy định ra một thời hạn tương tự cho việc giải quyết tranh chấp trên biển giữa hai bên.
Về mặt nội dung, thỏa thuận Việt – Trung về Biển Đông, theo giáo sư Thayer, đã để ngỏ rất nhiều câu hỏi mà phải có thêm thời gian mới có đáp án. Một trong những câu hỏi là thái độ của Bắc Kinh sẽ như thế nào nếu Hà Nội vẫn tiếp tục thăm dò và khai thác những vùng mà Trung Quốc đòi chủ quyền. Đề nghị mà Trung Quốc thường đưa ra là đồng khai thác trước, trong khi chờ đợi giải quyết vấn đề chủ quyền, cũng vẫn là một bài toán khó giải quyết :
Thỏa thuận nguyên tắc thể hiện cho một bước tiến, nhưng đó là một bước tiến quan trọng hay không, đó là điều vẫn còn chưa rõ ràng. Các bằng chứng sẽ chỉ được thấy trong những tháng sắp tới đây. Liệu Việt Nam và Trung Quốc có sẽ thực sự khai trương một lĩnh vực nào đó trong số các địa hạt hợp tác được gợi lên hay không ? Nếu có, thì đó sẽ là một dấu hiệu tích cực. Mặt khác, liệu Trung Quốc có sẽ tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của họ trên Biển Đông và lên tiếng phản đối khi Việt Nam ký hợp đồng với các công ty dầu hỏa nước ngoài hay không ?
Vấn đề hợp tác đồng khai thác cũng đã được đề xuất từ lâu. Điều này chỉ có thể xúc tiến được nếu cả hai bên đồng ý trên một điều khoản theo đó việc cùng nhau khai thác phát triển không làm phương hại đến các tuyên bố chủ quyền của mỗi bên. Ngoài ra, Việt Nam sẽ phải cẩn thận xem xét khu vực được chọn để làm nơi đồng phát triển. Khu vực đó không được quyền ảnh hưởng đến một bên thứ ba. Trong vấn đề này, Việt Nam cũng phải chú ý xem là việc chia sẻ dầu khí sẽ được thực hiện trên cơ sở bình đẳng hay là Trung Quốc sẽ dành phần lớn ?
Sau cùng, theo giáo sư Thayer, ngay cả việc thỏa thuận Việt Trung nhắc đến vấn đề lấy Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 làm cơ sở cho các cuộc thương thảo cũng đặt ra nhiều nghi ngại, vì lẽ cho đến nay, cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều không tuân thủ đầy đủ văn kiện này :
Việc nêu lên giá trị của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển bề ngoài có vẻ rất tốt. Tuy nhiên, cả Trung Quốc, Việt Nam lẫn Philippines đều tuyên bố chủ quyền dựa trên những đường cơ sở quá rộng, vốn không phù hợp với luật pháp quốc tế. Các đường cơ sở đó tạo thành nền tảng của việc phân định lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế.
Sẽ là một bước tiến quan trọng nếu tất cả các bên đều đồng ý vẽ lại các đường cơ sở của mình sao cho phản ánh đúng luật pháp quốc tế. Còn vào lúc này, việc viện dẫn Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển chỉ mang tính chất hình thức mà thôi.

Hungary, một năm sau cuộc Tận Thế màu đỏ

Phạm Toàn dịch
Năm 2010, một đợt bùn đỏ mang chất độc từ nhà máy alumin Ajka như thủy triều tràn về các làng xung quanh. Hôm nay vùng này đã được phục hồi. Một tấm gương soi.
Một năm sau thảm kịch ở làng Kolontár và làng Devecser, chúng tôi quay lại hai ngôi làng Hungary này nơi đã bị nhấn chìm trong đợt nước mang độc tố tràn ra từ một nhà máy alumin địa phương. Thảm họa này là một thử thách với chính quyền  Hungary, một phép đo dường như là họ đã cao tay vượt qua nổi. Ngày 4 tháng Mười năm 2010, hai làng nằm ở phía Tây Hungary đã bị chìm dưới một dòng thác bùn đỏ. Không dưới 700.000 mét khối nước có chứa độc tố ăn mòn [nhà máy này dùng kỹ thuật hòa tan xút ăn da để sản xuất oxit nhôm, loại kỹ thuật tạo ra rất nhiều bùn lỏng có độ pH rất cao], đã tràn ra khỏi các bể chứa của nhà máy alumin Ajka. Thảm họa này làm mười người chết và 150 người bị thương, phá hủy hàng chục khu dân cư và toàn bộ cây cỏ trên khu vực hay xã này.
Một năm sau sau vụ “làn sóng đỏ” này, cuộc sống đã trở lại ở Kolontár và Devecser. Dân chúng đã trở về những ngôi nhà mới và giới chức địa phương tự khen là đã nhanh chóng phản ứng trước thảm kịch. Thoạt nhìn thì thấy xã Kolontár đang sống êm đềm. Những người sống sót sau vụ thảm họa nay đã dọn về ngôi làng như thể được một bàn tay vô hình cho mọc chồi lên trên đồi, cao hơn vị trí cũ. Nhưng các dấu tích thảm họa vẫn còn thấy rõ: đường sá phủ một lớp tráng màu đỏ trên bề mặt, và cả những đồ vật như xe đạp và các thứ đồ bỏ đi khác bên vệ đường cũng thế.  Erzsi Juhász là một nạn nhân chính của “cơn Tận Thế màu đỏ” này. Người đàn bà 30 tuổi sinh sống ở Kolontár này có hai con. Đứa con gái nhỏ của bà khi lũ bùn xảy ra mới 14 tháng, đã chết và con gái lớn khi đó lên 4 thì chút nữa bị mù. “Tất cả bắt đầu với một tiếng ầm trầm đục. Khi đó tôi còn ở trong bếp. Năm phút sau, cả ngôi nhà tôi đã đầy bùn đỏ”, chị vừa khóc vừa kể. Con nhỏ của bà bị sóng bùn đỏ cuốn đi, còn cháu bé kia thì bị bỏng mắt. Số phận trớ trêu, chồng chị và em rể chị đều làm trong nhà máy alumin đó.
Chính quyền  Hungary đã thống kê chính xác tất cả những ai mất nhà hoặc thương tích, đề phòng khai man. Việc tái thiết xã này tốn tất cả là 130 triệu euro. Các doanh nghiệp được Nhà nước kêu gọi làm công việc tái thiết này đã không tính đến lợi nhuận. Những nạn dân được quyền di cư sang các khu vực khác, nhưng chỉ có ba mươi người trong tổng số tám trăm người bị nạn di chuyển. Do chỗ nguồn sống của một phần ba số dân hai xã là nông nghiệp, nên chính quyền  đã đào bóc 30 centimet đất trên toàn bộ diện tích trồng trọt bị ngập nước có xút. Không bóc đi như thế thì chẳng trồng trọt gì được.
472 triệu euro phạt
Cho tới nay, cả Nhà nước Hungary lẫn các chuyên gia đều không thể tiên đoán được trong những năm tới sức khỏe của người dân các vùng này sẽ bị tác hại tới đâu. ­
“Hàng ngày, người ta vẫn đo độ pH trong nước, đo chất lượng khí trời và đất. Dân vẫn còn sợ lắm, họ không uống nước vòi và chọn cách mua nước đóng chai thôi. Không thể trách họ được, xã trưởng Károly Tili nói.  Nhà máy alumin Ajka, bị coi là thủ phạm rò rỉ chất độc, đã bị tuyên phạt  472 triệu euro vì vụ thảm họa môi trường này. Ban giám đốc nhà máy cho biết họ không thể trả món tiền phạt này. Nhà máy đã thực sự tham gia vào việc thống kê các thiệt hại. Nhà máy mất toàn bộ khách hàng, chẳng còn ai muốn dây với một doanh nghiệp mang cái vạ tầy đình này.
Tham khảo
Vụ vỡ đê bao hồ chứa tại xí nghiệp Magyar Alumin Ajka là nguyên nhân thảm họa bùn đỏ ngày 4 tháng Mười năm 2010. Hơn một triệu mét khối bùn đỏ – có lẫn cả nước thải khai khoáng chứa kim loại nặng – đã tràn ra bảy ngôi làng.  Theo tổ chức phi chính phủ Greenpeace, tác hại môi trường rất lớn. Ngảy cả khi chính phủ có những biện pháp giải ô nhiễm hữu hiệu, thì các tổ chức bảo vệ môi trường vẫn không hài lòng. Các tổ chức này cho rằng bụi bùn đỏ khô đã thâm nhập vào đất và vào những lớp nước ngầm. Những phân tử bụi bùn đỏ này chứa kim loại nặng. Ngoài ra, sông Danube nằm kề đó cũng bị bùn đỏ và nước có độc tố trôi xuống, song“chẳng bị pháp luật quốc tế xét đến”, tổ chức Robin des bois nhấn mạnh. Sau nữa, các nhà hoạt động xã hội trách chính phủ Hungary không quan tâm đến việc quản lý các chất thải công nghiệp như các hồ chứa bùn đỏ này. Mới đây thôi, một bể chứa tương tự cũng bị tổ chức Greenpeace phát hiện là đặt nằm quá gần sông Danube.
Nguồn: Bauxite VN/Courrier International ngày 13.10.2011

Thứ Năm, ngày 13 tháng 10 năm 2011

Đoàn hoa hậu .. xấu hổ

Đào Tuấn
Hơn 40 người trong “Đoàn Từ thiện” của Hoa hậu Ngọc Hân đã gây ra một scandal từ thiện “vô tiền khoáng hậu”, tại Trung tâm Bảo Trợ Trẻ em Thủy Xuân (TP. Huế), khi buộc chính những cô Bảo mẫu, những đứa trẻ đang phải sống trong diện bảo trợ, phải bỏ tiền làm một “bữa từ thiện” cho các Hoa hậu, Người đẹp.
Nổi hứng trong một cuộc họp báo sang trọng và hoành tráng được tổ chức tại Khách sạn 5 sao Celadon Palace, nơi có giá thuê phòng thấp nhất là 80 USD, các Hoa hậu, Người đẹp đã đòi đi làm… Từ thiện.
“Đoàn Từ thiện” 40 người đã có một “hoạt động từ thiện” là nhổ cỏ, nhặt rác để… chụp ảnh và sau đó đưa lại cho Trung tâm 1,5 triệu đồng để “dùng bữa cùng trẻ em”.
Bà Giám đốc Trung tâm Bảo trợ Trẻ em Thủy Xuân phát biểu trên tờ Pháp luật TP.HCM: ” Tôi thấy số tiền này không đủ, nên đề nghị Ban Tổ chức thay vì tặng quà, họ có thể đưa thêm tiền, còn Trung tâm sẽ bỏ thêm 1 triệu đồng để các cháu được ăn ngon một bữa. Thế nhưng họ không đồng ý. Trung tâm có 5 khu nhà, tôi đành chia ra mỗi khu 300 ngàn đồng để nấu ăn”. Một cô bảo mẫu cho biết: “Đã phải bỏ thêm 100 ngàn tiền túi để đi chợ”.
Ông Trưởng Ban Tổ chức sau đó phân trần rằng “Không có nhiều tiền”; rằng “Đem niềm vui đến cho các em mới là điều quan trọng nhất”; rằng: “Chúng tôi chỉ biết làm bằng cái tâm”. Ông còn nói thêm: Các Người đẹp “đã sắp xếp thời gian có thể nhất của mình rồi”. Cái “tâm” được nói đến nhiều quá. Nhưng cái “tâm” không thể mang ra tiêu ngoài chợ được.
Thế nên xảy ra câu chuyện 1,5 triệu đồng để 40 người “Đoàn Từ thiện” và 70 trẻ em “dùng bữa”… Hình như đã lâu, các Người đẹp không đi chợ, hoặc chỉ chuyên đi… “ăn cơm chùa”.
Cũng không thể nói khác đi một sự thật: Người làm Từ thiện, trong trường hợp này là các cô Bảo mẫu, là những đứa trẻ đang được bảo trợ, chứ không phải là “Đoàn Hoa hậu” nữa.
Có câu: “Của cho không bằng cách cho”. Nhưng ngay cả “cách cho”, thì các Người đẹp cũng đã thực hiện theo một cách, không thể xấu xí hơn, bởi ngay cả khi đang nhặt rác – cuốc đất, họ cũng tạo dáng để chụp ảnh. Và từ chối đưa thêm… “tiền chợ”. Đáng tiếc là “cách cho” như vậy, không phải là hiếm.
Cách đây 4 năm, một Hoa hậu đã bị phản ứng dữ dội khi cô mặc áo bà ba hồng, mặt mũi bôi vẽ như diễn viên tuồng, xuống “từ thiện” tại một bệnh viện, nơi các nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ đang ngắc ngoải.
Chuyện Hoa hậu mặc áo hở rún hoặc mỏng đến khoe nội y đen, thì nhiều đến mức có tờ báo phải đặt câu hỏi “Đi Từ thiện cũng cần phải sexy!”. Và không thể không nhắc lại scandal “đấu giá lòng trắc ẩn”, và xù trong đêm “Hoa hậu Trái đất và doanh nhân hướng về miền Trung”…
Một tờ báo của ngành Công an mới đây khẳng định như đinh đóng cột “Các chuyến đi từ thiện, có mặt những Hoa hậu đẹp xinh thì nhà tài trợ phải trả thêm cát xê cho các nàng”. Thậm chí còn khẳng định “Nghề tay trái của Hoa hậu không phải làm người mẫu ảnh, không phải diễn viên…mà là làm từ thiện”.
Lạ lùng là dù hầu như chỉ “đi làm từ thiện” nhưng các Hoa hậu, Người đẹp lúc nào cũng xe xịn, đồ hiệu, đi giày cao gót ngất ngưởng và cười, và khoe dáng bất kể nơi đâu, bất kể hoàn cảnh nào. Không còn cần phải nghi ngờ khi chính “nghề tay trái Từ thiện” đang nuôi sống các Hoa hậu.
Câu trả lời phổ biến của các Người đẹp Việt Nam trong các cuộc thi sắc đẹp là: “Sau khi đăng quang, em sẽ tích cực tham gia các hoạt động Từ thiện” (hoặc hoạt động xã hội)”. Không ai kể là mình đã từng làm Từ thiện gì? Cho ai và bằng tiền ở đâu?..
Các Người đẹp dường như chỉ “Hoạt động Từ thiện” sau khi họ đã trải qua các cuộc thi. Họ làm Từ thiện nhiều đến nỗi, đôi khi khó có thể kể ra công việc chính của một Hoa hậu, ngoài Từ thiện.
Họ nghiện Từ thiện đến mức… sóng thần xảy ra ở bên Nhật, cũng thấy họ khóc và đòi làm Từ thiện. Họ Từ thiện chuyên nghiệp đến mức, làm Từ thiện ở một xã miền núi cũng phải có kỳ được các nhà báo đi theo. Và họ lạm dụng Từ thiện đến mức quẳng vòng một, vòng ba trước ống kính, mang ra khoe ngoài bãi biển (không biết để làm gì), rồi sau đó tuyên bố “bán đấu giá làm… Từ thiện”.
Làm Từ thiện cần “cái tâm”. Nhưng “cái tâm” mà cứ nói ra mồm, hoặc chỉ dùng để chụp ảnh, là “cái tâm” rất khó tin.
Xem thêm:

Doanh nhân và tinh thần dân tộc


Trần Minh Quân
Bạch Thái Bưởi
Nếu được hỏi: Ai là doanh nhân tiêu biểu của Việt Nam từ trước đến nay? Có lẽ đáp án nhiều nhất sẽ dành cho Bạch Thái Bưởi. Điều này cũng thật dễ hiểu khi tên tuổi của ông không những gắn liền với những thành công vang dội trong sự nghiệp kinh doanh mà còn là tấm gương sáng của ý thức tự cường và tự tôn dân tộc.
Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở làng An Phúc, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội), Bạch Thái Bưởi đã trãi qua một thời tuổi thơ khốn khó, bố mất sớm, ông phải phụ giúp mẹ bán hàng rong kiếm sống. Vốn là người họ Đỗ nhưng sau đó được một người giàu có họ Bạch nhận làm con nuôi, cho ăn học nên ông đã đổi sang họ Bạch. Và cuộc đời của ông cũng bắt đầu thay đổi từ đây.
Lúc sinh thời, ông đã từng làm qua rất nhiều công việc khác nhau, từ vị trí ký lục cho một hãng buôn của người Pháp ở phố Tràng Tiền, làm cho một xưởng thuộc hãng thầu công chính rồi đến giám đốc công trình cầu Long Biên. Từ đây, sự nghiệp kinh doanh của ông mới thực sự bắt đầu. Sau những thành công bước đầu từ việc buôn gỗ, ông mở rộng kinh doanh sang các lĩnh vực khác như vận tải đường sông, khai thác mỏ, in ấn, … Trong lĩnh vực nào ông cũng gặt hái được nhiều thành công rực rỡ.
Nhắc đến Bạch Thái Bưởi thì không thể không nhắc đến một sự kiện cho đến nay, hầu như chưa có một doanh nhân nào của Việt Nam có thể làm được. Vào năm 1909, khi mới bước chân vào lĩnh vực vận tải đường sông. Lúc này, ông phải đối mặt với những đối thủ rất mạnh là các chủ tàu người Pháp và người Hoa. Khi mọi “chiêu thức” như nâng cao chất lượng, hạ giá vé, … đều không mang lại thành công thì ông nghĩ đến một thứ vũ khí mà cả người Pháp lẫn người Hoa đều không có: tinh thần dân tộc. Ông tin rằng khi kinh doanh trên tổ quốc mình, quanh đồng bào mình thì chắc chắn sẽ thắng lợi. Bạch Thái Bưởi bắt đầu kêu gọi về tình đồng bào, tinh thần tương thân tương ái. Cụ thể, ông cho treo một cái ống trên tàu, để ai thấy việc làm của ông là đáng khuyến khích thì bỏ tiền vào giúp cho chủ tàu giảm lỗ. Kết quả thật bất ngờ, hành khách dần bỏ tàu Pháp, Hoa để chuyển sang tàu Việt. Và ông đã sử dụng thành công tinh thần dân tộc như một vũ khí để chiến thắng đối thủ cạnh tranh của mình.
Ngày nay, khi mọi điều kiện đều có nhiều thuận lợi, kinh tế đã có những bước phát triển nhất định. Tại Việt Nam, nhiều lớp doanh nhân liên tiếp ra đời và đã có những thành công đáng tự hào. Không ít doanh nhân đủ khả năng mua du thuyền, máy bay riêng, thậm chí cũng đã có người sở hữu một tài sản khổng lồ lên đến hàng tỉ USD. Nhưng để làm được cái điều mà Bạch Thái Bưởi đã làm hơn 100 năm về trước thì dường như chưa có ai làm được. Nói cách khác, chưa có một doanh nhân nào đủ tầm, có khả năng khơi gợi tinh thần dân tộc và biến chúng thành nội lực để đi đến thành công.
Nhắc đến ý thức tự cường và lòng tự tôn dân tộc thì không thể không nhắc đến Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore hay Israel. Những thành tựu mà những quốc gia này có được ngày hôm nay là có sự đóng góp không nhỏ của một tinh thần dân tộc mạnh mẽ.
Mặc dù người dân Hàn Quốc, Nhật Bản có mức thu nhập rất cao so với Việt Nam, họ có thừa khả năng và xứng đáng sử dụng các sản phẩm tốt hơn, cao cấp hơn nhưng họ vẫn ưu tiên sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước hay ít nhất là những thương hiệu của quốc gia họ. Thói quen này đã trở thành một nét văn hóa không thể lẫn vào đâu được dù họ sinh sống ở bất kỳ đâu. Người Hàn Quốc, Nhật Bản từ chính khách, doanh nhân đến người tiêu dùng đều là những tấm gương sáng về tinh thần tự tôn dân tộc mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải ngưỡng mộ.
Quả thật, khi nhắc đến doanh nhân Hàn Quốc và Nhật Bản rồi nhìn lại một bộ phận doanh nhân mới nổi ở Việt Nam thường xuất hiện với những siêu xe hạng sang nhất nhì thế giới và danh sách những món hàng xa xỉ này vẫn liên tiếp được nhập về thì xem ra cũng cùng mang dòng máu Á Đông nhưng quan niệm và suy nghĩ của doanh nhân ở ta và họ lại rất khác nhau. Có thể thấy doanh nhân Việt chưa thể hiện sự tôn trọng cần thiết cho hàng Việt thì rất khó kêu gọi người tiêu dùng ưu tiên cho hàng Việt do chính họ làm ra?
Thiết nghĩ, đa số người Việt Nam hôm nay cũng đã hiểu được ít nhiều về điều này và họ sẽ vui vẻ ưu tiên cho hàng hóa Việt nếu biết khơi gợi tinh thần dân tộc đúng cách. Tất nhiên, trách nhiệm chính làm cho sức mạnh này bùng nổ và lan tỏa sẽ không là ai khác mà chính là giới doanh nhân.
Tinh thần tự tôn dân tộc là một vũ khí vô cùng quý giá của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam cũng vậy, dù trãi qua bao thăng trầm của lịch sử nhưng trong mỗi con người Việt Nam tinh thần ấy vẫn không ngừng tuôn chảy. Nếu những doanh nhân thế hệ hôm nay biết cách, có đủ tâm và tầm khơi gợi và phát huy cái tinh thần cao đẹp ấy thành nội lực cạnh tranh của mình thì chắc chắn tấm gương thành công sẽ không dừng lại chỉ với cái tên Bạch Thái Bưởi. Và khi đó, để thành công của mỗi doanh nhân gắn liền với tên gọi Việt Nam liệu đâu còn quá xa vời?

Tác giả gởi cho HDTG blog. Bạn đọc có thể xem blog tác giả tại đây.

Vì sao Trung Quốc sẽ không chinh phục được thế giới


Xue Xinran (Tiết Hân Nhiên 薛欣然), Daily Telegraph, 8-10-2011
Bản đồ đường lưỡi bò (ảnh nhỏ) của Trung Quốc đăng trên
 Nature ngày 2/9/2010. Ảnh chụp từ Nature
Người trẻ thì bất lực, người già thì kiệt sức, và giới hành chính thiếu sáng kiến chỉ biết hành dân là chính. Trung Quốc, một siêu cường ư? Trước tiên, nó cần phải trưởng thành cái đã, nhà văn nổi tiếng Xue Xinran nói vậy.
Liệu Trung Quốc (TQ) có thay thế địa vị siêu cường thế giới của Hoa Kỳ được không? Liệu TQ có thực sự sẵn sàng thống trị thế giới được không? Gần mười năm nay, trên những chuyến đi giới thiệu sách của mình khắp thế giới, đây là một đề tài tôi luôn luôn chắc mẩm sẽ bị độc giả chất vấn.
Tôi thông cảm vì sao người ta hỏi tôi. Tôi tên là Xinran, sinh ra tại Bắc Kinh năm 1958. Hiện nay tôi vừa là xướng ngôn viên Anh-Hoa vừa là nhà văn, và tôi sống ở London kể từ năm 1997, nơi mà tôi bắt đầu sự nghiệp bằng nghề quét dọn. Mặc dù chân tôi đứng cả trong hai nền văn hóa, nhưng mỗi lần độc giả hỏi tôi liệu những nỗi lo sợ của người phương Tây rằng quyền lực đang chuyển dịch một cách không nương nể về phương Đông là chính đáng hay không, tôi vẫn lúng túng khi tìm cách trả lời.
Trung Hoa là một con sư tử đang ngủ, Napoléon đã có lần cảnh báo. “Cứ để cho nó ngủ yên, vì khi nó thức dậy nó sẽ làm rung chuyển thế giới”.
Con sư tử thức dậy rồi và đang rống lớn
Gần hai thế kỷ sau, con sư tử này không những thức dậy mà còn đang rống lớn. Các công ty nước ngoài tại châu Á, hãng xưởng tại châu Phi, và thậm chí cả làng mạc tại Ý và những con phố tại Pháp cũng bị các doanh nhân khôn lanh của TQ chụp giựt. Tăng trưởng kinh tế có lẽ đã khựng lại tại các nước nằm vào trung tâm của cuộc khủng hoảng nợ nần trên thế giới, nhưng TQ vẫn là nước sản xuất hàng hóa ít ốn kém và là chủ nợ lớn nhất của Mỹ, khiến một viện nghiên cứu chính sách tại Washington gần đây đã tiên đoán đồng Nguyên (yuan) có thể giành lấy địa vị của đồng đôla như là một trữ kim chính của thế giới trong vòng 10 năm tới.
Trong khu tôi ở tạiLondonhiện nay, một loạt trường còn đưa ra các bài học tiếng Quan thoại cho trẻ em từ 3 tuổi.
Trước đây, khoảng năm 2008, báo Daily Telegraph đã tường thuật việc các “phụ huynh thành đạt” lũ lượt đi mướn các chị giữ trẻ biết nói tiếng Quan thoại nhằm “đầu tư cho tương lai con cái”. Nhìn vào đâu, hình như bạn cũng tiên cảm sự khống chế của TQ là tất yếu. Nhưng có đúng vậy không?
Ít ra cứ mỗi năm hai lần, tôi trở về TQ để cập nhật sự hiểu biết của mình về quê hương kỳ diệu đang thay đổi từng phút từng giờ. Là một nhà văn, tôi cố gắng đào xới những gì thực sự diễn ra đằng sau những siêu thị đồ sộ, những yết thị lóe lên chỉ số giao dịch của Thị trường Chứng khoán Luân đôn, cũng như thăm viếng các vùng quê, nơi cuộc sống thay đổi hơn bao giờ hết.
Đông đúc hơn năm 1997 rất nhiều
Chuyến đi TQ gần đây nhất của tôi diễn ra trong tháng Chín. Bắt đầu bằng 10 ngày bận rộn kinh khủng tại Bắc Kinh nơi mà chồng tôi, trong vai trò tư vấn cho Tổ hợp Xuất bản TQ (China Publishing Group), đang tham dự Hội chợ Sách quốc tế (International Book Fair). Trước đó tôi đã đi Nam Kinh để nghiên cứu tư liệu cho cuốn sách mới của mình về hậu quả của chính sách một-con của TQ, qua cái nhìn của thế hệ thứ nhất.
Rồi chúng tôi đi Thượng Hải, nơi mà cả hai vợ chồng tôi đều đến thuyết trình tại Đại học Fudan [Phúc Đán]. Phần lớn thời gian của chúng tôi đã bị tiêu phí trên đường đi, và lúc đó chúng tôi rất ước ao được ra khỏi dòng xe cộ nối đuôi nhau và những con phố đông đúc, tất cả đều chìm dưới mắt của những dãy nhà chọc trời dài bất tận, trong đó có hơn 16 triệu người cư ngụ.
Một người bạn đề nghị chúng tôi đi Tô Châu, “để có thể đi bộ và uống trà tại một vài vườn trà cổ xưa còn lại, như Làng Guhan chẳng hạn. Không xe hơi, không du khách”.
Trước khi rời quê hương để sang Anh Quốc vào năm 1997, thường thì tôi chỉ mất một giờ ngồi xe hơi trên đoạn đường thú vị này. Lần này chúng tôi phải mất đến 5 giờ và sau một bữa ăn trưa vội vã, người tài xế cảnh báo chúng tôi cần phải ra đi ngay – “nếu không, quí vị sẽ không trở lại Thượng Hải kịp giờ ăn tối, thậm chí theo tiêu chuẩn phương Tây”. (Người TQ ăn tối sớm hơn nhiều). Khi chúng tôi đến ngoại ô Thượng Hải và bắt đầu nhập vào đoàn xe cộ bò lúc nhúc, tất cả đều giành nhau để vào đườmg cao tốc (đài phát thanh sáng đó đã đưa tin số xe hơi tại TQ vừa mới lên tới 100 triệu chiếc, chỉ đứng sau con số 285 triệu chiếc của Mỹ), nhân cơ hội này tôi hỏi chuyện với người tài xế. Xem thử anh ta có tiết lộ điều gì liên quan tình hình của nước Trung Hoa hiện đại và liệu nó sẽ đi đâu về đâu?
Trạc ngoài 30, anh tài đã được làm cha và trước đó anh học lái xe trong quân đội. Nhiều thanh niên vùng quê cố gắng hết sức để vào quân đội, vì đây là cơ hội để có được một cuộc sống tốt đẹp hơn cha mẹ và ông bà của họ, những người đã lớn lên ở vùng quê nghèo khổ hoặc có vào sống ở thành thị thì cũng chỉ làm lao động chân tay ở tận đáy xã hội.
Tuy nhiên, mặc dù còn lâu anh ta mới vươn tới giới thượng lưu trong xã hội, nhưng cũng chưa hẳn là anh đang sống một cuộc đời mộc mạc, thiếu thốn: “Tài xế không có cơ may để làm nhiều tiền như các lãnh đạo chính trị và các bí thư tỉnh, nhưng chúng tôi cũng cần tiền như mọi người khác. Tất cả mọi người chỉ có tối đa một đứa con và vì thế chúng tôi muốn đáp ứng cho con mình những gì tốt đẹp nhất.
“Trường mầm non của con gái tôi không một mảy may nằm trong danh sách thượng thặng nhưng cũng tốn trên 10 nghìn Nhân dân tệ (tức 1.600 Mỹ kim) một năm. Cháu sẽ vào bậc tiểu học năm nay, và tôi cũng phải tốn cho cháu [gần 5.000 Mỹ kim] gọi là ‘phụ phí nhập học’ (entrance donation), một món quà bắt buộc phải đóng góp cho một trường rất trung bình”.
Khi tôi hỏi bao lâu anh mới gặp con gái một lần, anh cho biết, “Không ai có thì giờ cho gia đình, mọi người chỉ túi bụi kiếm tiền để lo cho con cái. Tôi lợi dụng mọi cơ hội để ngủ lấy sức cho ca tiếp theo”.
Tài xế chết đường
Chẳng ngạc nhiên chi: Anh cho tôi biết thường thường anh làm việc mỗi ngày 15 giờ và nhiều tài xế taxi Thượng Hải làm 18 tiếng mỗi ngày không nghỉ ngơi. “Nhiều tài xế tôi quen đã chết vì ngủ gục trên tay lái. Thật uổng mạng”.
Tôi đã gặp những nhân viên phục vụ tại các khách sạn ở Thượng Hải và Bắc Kinh, hầu hết đều trong lứa tuổi ngoài 20 một chút, họ cho tôi biết họ sẽ vui vẻ làm trên 12 tiếng một ngày, bảy ngày một tuần, không cần nghỉ lễ, nếu có thể kiếm thêm một ít tiền phụ trội. TQ đã trở thành một cỗ máy tạo ra của cải và cơ hội, nhưng liệu đất nước của những công nhân kiệt lực này có thể là một quốc gia một ngày nào đó sẽ lãnh đạo thế giới không?
Và thế hệ do chính sách một-con sản sinh thì sao? Nhiều thanh thiếu niên từ 40 đô thị lớn nhất đang sống trong thế giới ba-màn-ảnh (truyền hình, máy vi tính và điện thoại di động), mặc hàng hiệu toàn cầu, đi đây đi đó bằng vé hạng nhất, và mua nhà sắm xe cho một hay hai năm du học ở nước ngoài.
Đối với giới trẻ “siêu giàu” (superrich) này, giá cả không thành vấn đề đối với họ, có kẻ thậm chí bay đi bay về Hồng Kông chỉ để mua sắm nội trong một ngày.
Thật khó quan niệm nổi họ có thể trở thành thế hệ doanh gia tiếp theo của TQ, khi, khác với cha mẹ và ông bà họ, nhiều em chưa bao giờ đụng đến bếp núc và chỉ biết qua loa cách dọp dẹp chỗ ngủ của mình.
Mặc dù giới trẻ này có thể được đào tạo trong những trường tốt nhất, nhưng nhiều nhà phê bình cho rằng hệ thống giáo dục TQ – quá đặt nặng thi cử và học thuộc lòng – chỉ bóp nghẹt chứ không thể khuyến khích óc sáng tạo.
Thật vậy, kỳ thi vào các trường đại học TQ hiện nay, còn gọi là “gaokao” [cao khảo], có nguồn gốc từ một kỳ thi tuyển quan lại được triều đình đặt ra ở thế kỷ thứ VI, và theo Jiang Xueqin [Giang Tuyết Cầm], một nhà quản trị học đường (school administrator) được đào tạo ở Đại học Yale hiện làm việc tại Bắc Kinh, loại thi cử này dành ưu thế cho “ký ức tốt, khả năng phân tích và lý luận cao; nhưng không đòi hỏi óc tưởng tượng và tham vọng chất vấn giới thẩm quyền”.
TQ có thể được coi là có khả năng bắt chước tài tình, nhưng óc sáng chế của TQ thì nghèo nàn – TQ có tài làm hàng nhái của bất cứ sản phẩm nào do phương Tây sản xuất, khả năng này được chứng minh bằng vụ phát hiện gần đây 22 cửa hàng bán sản phẩm Apple giả hiệu tại Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam. Cách vận hành của những cửa hàng này có sức thuyết phục đến nỗi ngay cả nhân viên của họ cũng lầm tưởng rằng mình đang làm việc cho hãng Apple.
Trong một cách nào đó, có thể gọi khả năng này là thiên tài. Nhưng là một thiên tài lầm lạc.
Nếu TQ muốn khống chế các công nghiệp sáng tạo (creative industries) như TQ đã và đang khống chế các ngành chế tạo (manufacturing), TQ cần phải mượn một châm ngôn từ ngành tiếp thị của công ty Apple: “Suy nghĩ khác đi” (Think different).
Liu Jun [Lưu Quân], một doanh nhân vừa được vinh danh là một trong “50 cá nhân có óc sáng tạo nhất TQ”, nói rằng việc này cũng khó như chiến đấu để chiếm một ngọn đồi.
“Sở dĩ người TQ không có những công ty toàn cầu là vì chúng tôi không có một viễn kiến toàn cầu”, ông ta tuyên bố gần đây. “Các nhà thiết kế TQ chỉ nghĩ về sở thích của mình, chứ không mấy quan tâm đến sở thích của khách hàng. Đó là một vấn đề hết sức to lớn”.
Cơ cấu của các tập đoàn công nghiệp TQ vẫn còn rất cứng nhắc, và, theo Daniel Altman, một nhà tư vấn của Tố chức Cố vấn Phát triển toàn cầu Dalberg, các sáng kiến “phải được sàng lọc qua quá nhiều tầng lớp trong hệ thống tôn ti trật tự TQ đến nỗi chúng khó có thể tồn tại để lên đến chóp bu”. TQ còn một khoảng cách rất xa mới tiến đến trình độ của Mỹ trong khả năng nuôi dưỡng tinh thần kinh doanh”.
Chẳng có gì giống Mỹ
Hẳn nhiên, những tham vọng khống chế toàn cầu của các tập đoàn TQ là quá xa vời đối với đời sống của nông dân TQ, thành phần chiếm 70% dân số cả nước. Và nhiều tầng lớp thấp kém hơn trên nấc thang xã hội ngày càng trở nên phẫn nộ việc TQ đáp ứng nhu cầu vay nợ của Mỹ.
Như người tài xế của chúng tôi diễn tả: “Tại sao, trong khi người TQ tưới mồ hôi xuống đất đai của chúng ta, làm lụng vất vả ngày đêm, thì người Mỹ lại ung dung thoải mái, mang kính râm đi tắm nắng và tắm biển? Tại sao chúng ta phải giúp họ giải quyết các vấn đề tài chính của họ? Tôi không dám nói với anh ta rằng vào tháng Bảy năm nay, tổng số trái phiếu Mỹ mà TQ nắm giữ đã lên tới trị giá 1.173 nghìn tỉ rưỡi đôla Mỹ, nói cách khác Chính phủ Mỹ nợ mỗi công dân TQ 900 đôla. Tôi nghĩ rằng, là người dân TQ, chúng tôi biết núi nợ này đã được tích lũy như thế nào, bằng việc chúng tôi đã oằn lưng lao động cật lực qua nhiều năm, nhưng không mấy ai dám nói ra.
Lý do là, một phần vì hầu hết người dân TQ không hiểu được tầm mức nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ và một phần vì chúng tôi không quen chất vấn các vị lãnh đạo đất nước.
Larry Hsien Ping Lang, một người sinh ra ở Đài Loan và hiện là một Giáo sư môn Tài chính ở Đại học Hồng Kông, được nhiều người biết đến nhờ những bài phê bình của ông đối với nền kinh tế TQ. Vào đầu tháng này, ông cảnh báo rằng những lo ngại về tình hình kinh tế Mỹ đã bị thổi phồng, và rằng chính địa vị tài chính bấp bênh của TQ mới thực sự cần phải được đối phó.
“Nền kinh tế của chúng ta không được lành mạnh”, ông viết, “và công nghiệp chế tạo sẽ là điểm cuối của sự phát triển kinh tế TQ. Con số các công ty bị đóng cửa sẽ lên tới 30% hay 40% vì khu vực chế tạo đang gặp hai khó khăn. Một là, môi trường đầu tư nói chung đã bắt đầu thoái hóa và, hai là, TQ đang sản xuất dư dôi nghiêm trọng.
“Những khó khăn này đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng trong công nghiệp chế tạo và các nhà kinh doanh đã bắt đầu rút lui”.
Ông Lang cho rằng giá nhà tăng vọt tại TQ, được nuôi dưỡng do lượng tiền được bơm vào từ khu vực chế tạo, đang gây thêm bất ổn cho “nền kinh tế bong bóng” của TQ.
Và liệu kinh tế TQ có sắp bể bóng hay không? Ông Lang sợ rằng nó sắp. Theo ông, TQ cần phải giảm bớt tốc độ tăng trưởng kinh tế để hệ thống giáo dục và xã hội TQ có đủ thời gian theo kịp; để cải thiện cán cân chênh lệch giàu nghèo, và để có đủ thời gian cân nhắc những gì TQ cần đến nhằm tạo ra một tương lai vững mạnh.
Một quốc gia hỗn loạn
Sau nhiều năm nghiên cứu các vấn đề được tạo ra bởi một xã hội theo chính sách một-con, tôi không thể không đồng ý với Giáo sư Lang. Thật vậy, lắm lúc tôi có cảm tưởng quê hương tôi là một quốc gia đang hỗn loạn.
Lấy con số tử vong do tai nạn giao thông làm ví dụ. Trong 5 năm qua (2006-2010), trung bình mỗi năm có đến 76.000 người chết vì tai nạn giao thông tại TQ, chiếm hơn 80% tổng số người chết trong trong tất cả các tai nạn công nghiệp.
Kể từ năm 2001, tỷ số ly dị cũng tăng vọt. Tỷ số ly dị cao nhất của TQ là tại Bắc Kinh (39%), tiếp sau đó là Thượng Hải (38%).
Ngày nay, hơn nửa số vụ ly dị diễn ra trong lứa tuổi 20 và lứa tuổi 30, hầu hết nằm trong thế hệ thứ nhất của chính sách một-con.
Nhiều người trong thế hệ này thậm chí không muốn có con. Một số người không muốn mất vị trí của mình trong gia đình; một số người khác nói giản dị là họ không có đủ thì giờ để chăm sóc cho dù chỉ một đứa con.
Ít ra họ biết được khả năng giới hạn của mình. Trong 5 năm qua, có nhiều trường hợp tử vong vì trẻ em 2, 3 tuổi bị chết ngột trong xe. Tại sao? Tại vì cha mẹ chúng vì bận quá nhiều việc, giao con cho tài xế trông coi và những người này lại khóa cửa xe bít bùng khiến trẻ em thiếu dưỡng khí trong khi họ chạy đi lo các việc lặt vặt khác.
Thật là đau lòng, nhưng tai nạn vẫn cứ xảy ra.
TQ đang thay đổi từng phút từng giờ, nhưng đối với một số người, hậu quả là khó chấp nhận. Khi tôi đến thăm vài người bạn cũ ở Nam Kinh, những người này đã nhắc đến con cái mà lâu ngày họ không thấy mặt. Họ không hiểu được làm sao cuộc đời có thể tốt đẹp hơn trong khi cơ cấu gia đình đang biến mất.
Không ai nghi ngờ TQ đã tiến bộ trong 30 năm qua. Tôi không nghĩ ra một quốc gia nào trong lịch sử nhân loại có thể cải thiện được mức sống của 1,3 tỉ người trong một thời gian ngắn ngủi như vậy. Hầu hết ông bà chúng tôi từng chắt chiu dành dụm vài ba hạt đậu mỗi ngày để đẩy đưa gia đình cho qua nạn đói. Cha mẹ tôi thường phải xếp hàng hàng giờ để chờ mua một chai dầu ăn.
Nhưng liệu chúng tôi có thể thực sự trở thành siêu cường kế tiếp hay không? Liệu chúng tôi có khả năng tương tác với những nước phát triển nhất thế giới hay không khi nền kinh tế thị trường tự do của TQ chỉ được 30 năm tuổi?
Cho dù chúng tôi có trở thành một siêu cường đi nữa, thì liệu siêu cường đó có ngằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ trung ương hay không?
Liệu chúng tôi có mất bản sắc của mình – các giá trị gia đình và văn hóa của chúng tôi – cho đến khi chúng tôi không còn phân biệt được con rồng Tàu (như cách người TQ nghĩ về chính mình) và con sư tử Tàu (như người phương Tây đã ví chúng tôi)?
Hỡi Trung Quốc, con sư tử ngủ yên bây giờ đã thức dậy rồi, Người phải tìm cách mà lo cho nó ăn và nuôi nó sống.
Trở lại Thượng Hải, sau chuyến đi 10 giờ vất vả gian nan với chỉ một đoạn đường giữa Thượng Hải và Tô Châu, Toby, chồng tôi, đã than rằng: “Anh sẽ không bước lên ô tô tại TQ thêm một lần nữa”.
Anh nói vậy, nhưng cả hai chúng tôi đều biết rồi chúng tôi cũng đi xe hơi tại TQ. Đây là một đất nước có quá nhiều điều kỳ thú và nhiều màu sắc mà chúng tôi không thể từ bỏ và điều kỳ thú nhất là lịch sử của nó vẫn chưa được viết xong.
Xue Xinran (Tiết Hân Nhiên 薛欣然) là biên tập viên của đài BBC phần tiếng Trung.
Trần Ngọc Cư dịch

Thứ Tư, ngày 12 tháng 10 năm 2011

Cao Bằng: 2.000 tấn quặng “vượt biên” mỗi đêm

Vỹ Kỳ
Mỗi một chiếc xe chở quặng qua biên giới có trọng tải thiết kế ghi ngoài cánh cửa xe là 24 tấn. Thế nhưng, tổng trọng tải cân lần thứ hai (sau khi đã nhập quặng), tròm trèm 80 tấn, trừ “bì” xe, còn gần 60 tấn quặng. Đêm nay, điểm nhập hàng này có 30 xe cùng chở. Như thế, nội trong một đêm, gần 2.000 tấn quặng thô được tuồn sang Trung Quốc.
>> Khi thôn bản trở thành công trường
Đi ăn… “quặng bẩn”
Qua rất nhiều “cầu” móc nối, cuối cùng tôi cũng toại nguyện, được trở thành phụ xe chở quặng. Điểm “ăn hàng” này tại một mỏ sạch tên Nà Lũng (một công trường hợp pháp, có giấy phép khai thác…) thuộc loại lớn đang được khai thác ở cây số 12, xã Chu Trinh, thị xã Cao Bằng. Đây là trạm cân của công ty Khoáng sản xây dựng 30.4 (dân chở quặng thuê gọi tắt là 30.4). Tấm biển công ty chúng tôi nhìn thấy vào ban ngày là nhà máy luyện Gang (thuộc công ty Khoáng sản xây dựng 30.4), khác hoàn toàn với khung cảnh nhộn nhịp, tấp nập về đêm. Anh tài xế tên C. nói úp mở, rằng đêm nay tôi sẽ được đi ăn… quặng bẩn.
Bỏ qua con phố chính thắp điện neon lung linh của thị xã ven sông Bằng, chiếc xe gầm gừ lao vào màn đêm lạnh buốt, hướng theo đường quốc lộ 3 xuống huyện Thạch An. Đến cây số 12 (địa phận xã Chu Trinh), con đường trở nên lầy lội và chật hẹp vì rất nhiều xe tải lớn đỗ dừng một cách mất trật tự. C. cho hay: các xe đều phải qua một trạm cân, sau đó sang bãi quặng lấy hàng, rồi quay lại trạm cân này cân lại một lần nữa, rồi lên đường.
Thủ tục cân xe cuối cùng cũng xong. Gần một giờ đồng hồ sau, xe của tôi lộn trở lại con đường vừa đi, ra đến đường to, tiếp tục ngoặt phải theo hướng đi vào thị xã. Chừng vài trăm mét, C. ôm cua ngọt lịm đánh vào một khoảng tối sẫm. “Chịu khó tí nhé, đoạn này xóc lộn mật đấy!”
Chiếc xe cài số 1, ủn ỉn bò lên dốc đè theo vệt bánh xe trước. Chừng 15 phút sau, chúng tôi vượt qua được đoạn dốc, hai bên là những hố quặng sâu hoắm. Lên bãi đất trống, một công trường khai quặng rộng mênh mông, C. bỏ đi, lát sau quay lại đánh thẳng xe vào một điểm được rọi bằng một bóng đèn điện đỏ quạch. Dưới đêm đen, C. thành thục cắm thẳng đuôi xe hướng về phía chiếc máy xúc đã chờ sẵn. Những đống quặng sắt còn lẫn đất, khác hẳn với thứ quặng sạch ở Nguyên Bình.
Cuối cùng cũng xếp quặng xong. Chiếc xe ì ạch rời điểm mỏ, trở lại trạm cân ban nãy. C. giải thích: trạm cân này chỉ cân tối đa 80 tấn, xe nào vượt tải phải thuê máy xúc xúc vợi đi. Mỗi lần như thế phải bỏ tiền túi 200.000 đồng.
Tôi thắc mắc: “Đây có phải quặng lậu không?”C. cười: “Chở đêm chở hôm thế này không lậu thì sạch với ai?” “Nếu là quặng lậu sao lại qua hải quan làm thủ tục?” “Ông ngây thơ bỏ mẹ. Cân, kiểm đếm… chỉ nhằm mục đích hạch toán sao cho khớp hai đầu (bên mua – bên bán), còn chuyện ăn chia khắc họ tự tính thôi”. “Thủ tục hải quan gồm những gì?” “Giấy thông hành cho lái xe, một cái giấy kiểm dịch (dành cho… quặng).
21 giờ 45 phút, C. nhảy lên cabin nổ máy. Chiếc xe rì rì nhập vào đêm đen. Điểm đến của chúng tôi là cửa khẩu Tà Lùng, huyện Phục Hoà, cách thị xã Cao Bằng 67km, cách chỗ xe tôi lấy hàng tròn 80km.
2.000 tấn quặng thô “vượt biên” mỗi đêm
Một chiếc xe như chiếc xe chở quặng của C., trọng tải thiết kế ghi ngoài cánh cửa xe là 24 tấn. Thế nhưng, tổng trọng tải cân lần thứ hai (sau khi đã nhập quặng), xe C. tròm trèm 80 tấn, trừ “bì” xe, còn 60 tấn quặng. Đêm nay, điểm nhập hàng có 30 xe cùng chở. Như thế, nội trong một đêm, gần 2.000 tấn quặng thô được tuồn sang Trung Quốc.
Khu vực này có rất nhiều cửa khẩu lớn nhỏ dẫn sang Trung Quốc, ngoài ra còn rất nhiều “cửa khẩu” khác, đó là những con đường tiểu ngạch xé núi để tuồn hàng lậu sang Trung Quốc (trong đó phần lớn là quặng thô) mà chẳng ai kiểm đếm được.
Tuy nhiên, xe của chúng tôi cùng với nhiều xe chở quặng khác sẽ đường hoàng xuất cảnh qua cửa khẩu Tà Lùng – cửa khẩu lớn nhất của Cao Bằng. Theo lời C., sẽ có cán bộ hải quan làm thủ tục giấy tờ xuất cảnh, kiểm dịch hàng hoá, passport cho lái xe.
23 giờ. Đêm đã đặc quánh. C. siết chặt vôlăng, bắn thêm một điếu thuốc cho tỉnh ngủ. Chiếc xe chậm chạp leo dốc. Đèo Mã Phục trôi qua trong đêm bằng ngã ba, một hướng rẽ Trà Lĩnh, một hướng đi Trùng Khánh. Xe chúng tôi chạy thẳng. Đó là hướng đi về cửa khẩu Tà Lùng.
1 giờ 30 phút sáng, xe chúng tôi đến điểm tập kết an toàn. Có khoảng chục xe y hệt đã nằm sẵn, chúc đầu về phía cổng. Tất cả đều là xe chở quặng.
Khung cảnh rõ rệt hơn vào lúc 5 giờ sáng khi tôi tỉnh dậy để xác định phương hướng. Bãi đỗ có chừng trên hai chục xe. Tất cả các lái xe đều ngủ. Bãi đất trống rộng được xây tường bao, có một trạm cân duy nhất mang tên: Trạm cân điện tử 80 tấn, do HTX Chiến Công đầu tư. Đây sẽ là nơi cân lần cuối trước khi xe được phép qua cử khẩu Tà Lùng cách đó non cây số.
Đội xe chở quặng đêm 27.9 có 29 xe. Đây là đêm thứ tư liên tiếp trong tuần C. sẵn việc, chạy liền một lèo. Tuy nhiên, có những thời điểm nhiều quặng, một đêm có 50 xe chuyên chở.
Giá cước vận chuyển được trả 160.000 đồng/tấn. “Chủ quặng trừ chi phí dọc đường, bôi trơn cửa này cửa khác, tiền luật lá... Thế nên, dọc đường không bị công an, hải quan, hay biên phòng “hỏi thăm”. Mình chỉ việc lấy quặng rồi chở đến đây”, C. kể chuyện. Tính ra, một chuyến hàng, mỗi xe nhận gần 10 triệu tiền công, trừ chi phí dầu mỡ… còn lời chừng 5 – 6 triệu đồng.
Tôi thắc mắc: “Đây có phải quặng lậu không?” C. cười: “Chở đêm chở hôm thế này không lậu thì sạch với ai?” “Nếu là quặng lậu sao lại qua hải quan làm thủ tục?” “Ông ngây thơ bỏ mẹ. Cân, kiểm đếm… chỉ nhằm mục đích hạch toán sao cho khớp hai đầu (bên mua – bên bán), còn chuyện ăn chia khắc họ tự tính thôi”. “Thủ tục hải quan gồm những gì?” “Giấy thông hành cho lái xe, một cái giấy kiểm dịch (dành cho… quặng). Chỉ có lái xe được sang, phụ xe ngồi lại bên này. Sang đó, cân hàng xong là phải về luôn, vì Trung Quốc không cho lưu trú hay đi đâu cả. Với lại, không về nhanh thì bọn khác nó chen chân, mất việc”.
Đội xe chở quặng thuê ở Cao Bằng phần lớn là đội xe từ Thái Nguyên lên. Trong số những xe chở quặng từ mỏ Nà Lũng đêm 27.9, phần lớn là biển số xe 20. Khớp những biển số xe chúng tôi ghi lại ở địa điểm trạm cân 30.4, điểm “ăn quặng” tại mỏ sắt Nà Lũng, điểm tập kết tại trạm cân Tà Lùng… và cuốn sổ theo dõi xe ra, vào (tại phòng bảo vệ công ty 30.4 đêm 27.9.2011), tất cả đều trùng khớp. Những chiếc xe trên đều đang nằm ngủ dưới màn sương lạnh của vùng biên ải Tà Lùng, đợi đến giờ làm thủ tục.
Như thế, chỉ trong bốn ngày liên tiếp (khoảng từ 23 – 27.9), chỉ tính với 30 đầu xe, mỗi xe chở 60 tấn quặng thô, trong chưa đầy một tuần, ước tính Cao Bằng chảy máu cả chục ngàn tấn quặng sắt. Đó là chưa kể còn nhiều điểm tập kết quặng khác cũng tuồn quặng sang Trung Quốc mà chúng tôi chưa biết?!
Nguồn: SGTT