Thứ Bảy, ngày 22 tháng 10 năm 2011

Một trăm bao gạo vì sự nghiệp giáo dục

Trần Văn Thọ
Một trăm bao gạo (kome-hyappyo) là câu chuyện ở Nhật cách đây gần 140 năm nhưng có ý nghĩa mang tính thời sự rất lớn đối với ta hiện nay.
Chuyện kể rằng trong buổi giao thời giữa thời đại Edo và chính quyền Minh Trị, vào năm 1868, phiên Nagaoka (thuộc tỉnh Niigata hiện nay, phiên tương đương với tỉnh, năm 1871 đổi thành tỉnh) gặp khó khăn, nhất là thiếu lương thực. Một phiên lân cận thương tình mới đem tặng 100 bao gạo (mỗi bao tương đương 60 ký). Vũ sĩ của phiên Nagaoka rất vui mừng, phấn khởi vì sẽ được ăn no, được ăn cơm không độn với ngô khoai. Tuy nhiên, Kobayashi Torasaburo, Đại tham sự (chức vụ tương đương với phó chủ tịch tỉnh ngày nay), quyết định không chia gạo cho vũ sĩ mà đem bán lấy tiền lo tu sửa trường ốc, xây thêm truờng học mới. Thấy nhiều vũ sĩ tỏ vẻ bất bình, thất vọng, ông đã thuyết phục, giải thích như sau: “Một trăm bao gạo chia nhau ăn sẽ hết ngay, chi bằng ta dùng vào việc chấn hưng giáo dục, trong tương lai ta sẽ có cả vạn, cả triệu bao gạo”. Nhờ chính sách sáng suốt thắt lưng buộc bụng vì giáo dục nầy (những người chịu thiệt thòi trước mắt là đám vũ sĩ nhưng dân chúng được hưởng dịch vụ giáo dục), số trẻ em trong phiên Nagaoka được đi học nhiều hẵn lên, nhiều người sau đó thành tài đóng góp đắc lực vào việc dựng nước thời Minh Trị. Trong số những người được giáo dục từ 100 bao gạo có Watanabe Renkichi sau đó học lên bậc cao hơn ở Tokyo và đi du học ở Đức, trở thành trợ lý đắc lực cho Thủ tướng đầu tiên của Nhật Ito Hirofumi trong việc soạn thảo ra hiến pháp đầu tiên (ban hành năm 1889) của nước nầy.
Câu chuyện 100 bao gạo của phiên Nagaoka nổi tiếng, điển hình nhưng không phải là trường hợp cá biệt nếu xét từ chính sách, phương châm chung về giáo dục ở Nhật thời đó. Thời Edo có khoảng 360 phiên, hầu như phiên nào cũng chú trọng giáo dục. Nhờ vậy, thời Minh Trị duy tân thừa hưởng được một di sản quý giá là trình độ dân trí rất cao. Nhiều nghiên cứu cho thấy, vào thời đầu Minh Trị, trình độ giáo dục, dân trí của Nhật gần như tương đương với nhiều nước tiên tiến Âu Mỹ. Đó là một trong những nhân tố làm thành công công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hoá của Nhật.
Việt Nam ta từ lâu có chiến lược xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhưng nhìn chung chưa thấy chiến lược đó được thể hiện trên thực tế. Ngược lại giáo dục từ nhiều năm nay vẫn còn là vấn đề nhức nhối của xã hội. Nhiều địa phương học sinh tiểu học chỉ được học một buổi vì thiếu trường ốc. Thầy cô giáo không sống được bằng tiền lương gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội làm giảm chất lượng giáo dục và làm ảnh hưởng trầm trọng đến quan hệ thầy trò, quan hệ nhà trường với phụ huynh vốn có truyền thống cao quý. Ta có thể đặt ra câu hỏi lớn sau: Nhà nước ở trung ương và địa phương đã làm hết mình vì sự nghiệp giáo dục chưa? Có phải tăng học phí là biện pháp duy nhất để cải thiện tình hình giáo dục hiện nay?
Cũng như nhiều ý kiến đã phát biểu, tôi nghĩ rằng nhà nước phải đảm trách việc thực hiện phổ cập giáo dục ít nhất ở các bậc tiểu học và trung học cơ sở, tạo điều kiện cho mọi cháu ở lứa tuổi được đi học miễn phí ở các bậc học nầy. Các bậc học nầy thuộc giáo dục cơ bản, phải được thực hiện triệt để mới nâng cao được mặt bằng dân trí và đây cũng là một trong những nơi mà công bằng xã hội được cụ thể hóa dễ nhất. Do đó nhà nước phải có trách nhiệm và chỉ có nhà nước mới có thể đảm trách sự nghiệp nầy.
Tôi đề nghị nhà nước đưa ra một cam kết, một kế họach cụ thể và bằng mọi cách phải thực hiện cho bằng được như sau: (1) Trong vòng 3 hoặc 4 năm, cải thiện hòan tòan giáo dục bậc mẫu giáo và tiểu học theo hướng học sinh được học trọn ngày, phụ huynh không phải đóng góp một khoản nào và lương thầy cô giáo được tăng lên tới mức đủ sống (và có để dành) theo tiêu chuẩn trung bình của xã hội, và các thầy cô giáo nầy không được phép dạy thêm. (2) Trong vòng 3 năm tiếp theo, nghĩa là 6 hoặc 7 năm kể từ thời điểm hiện nay, thực hiện kế họach tương tự đối với bậc trung học cơ sở.
Làm sao để có đủ ngân sách cho các kế họach nầy? Đề nghị nhà nước, trung ương và địa phương, xem xét một cách nghiêm túc một số điểm sau:
Thứ nhất, mổ xẻ cơ cấu chi tiêu của ngân sách giáo dục và điều chỉnh lại cho hợp lý. Đã có một số nghiên cứu, tính tóan cho thấy ngân sách giáo dục của Việt Nam không nhỏ, tỉ lệ của giáo dục trong tổng ngân sách hoặc trong tổng sản phẩm trong nước (GDP) còn cao hơn nhiều nước khác. Vậy thì ngân sách giáo dục của ta chủ yếu được dùng vào việc gì? Có thể cắt đi hoặc giảm những khoản không cần thiết không?
Thứ hai, mổ xẻ cơ cấu chi tiêu ngân sách nói chung xem có thể tiết kiệm chi tiêu ở những hạng mục khác để dành nguồn tài chánh nhiều hơn cho giáo dục không. Chúng ta đều biết đầu tư cơ bản của nhà nước hằng năm thất thoát hàng nghìn tỉ đồng. Báo chí thỉnh thoảng đưa tin về sự tiêu xài hoang phí (xây trụ sở hoàng tráng, đi xe đắt tiền, chiêu đãi vượt mức bình thường, v.v..) của một số lãnh đạo địa phương. Rất nhiều cơ quan trung ương và địa phương tổ chức linh đình đón nhận huân chương, bằng khen, v..v.. Những khoản chi tiêu như thế nầy hoàn toàn có thể tiết kiệm được.
Thứ ba, sau khi nhà nước đã làm hết sức mình về hai điểm nói trên mà vẫn không đủ ngân sách cho giáo dục thì mới vận động thêm trong dân qua hình thức thu thêm thuế. Có thể ban hành một sắc thuế tiêu thụ đặc biệt mà người phụ đảm là những người tiêu xài sang trong xã hội. Chẳng hạn một bữa ăn trên 150.000 đồng cho một người sẽ chịu thêm 10% thuế tiêu thụ đặc biệt dành cho giáo dục.
Tóm lại, nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện phổ cập giáo dục cơ bản miễn phí. Nếu phải thắt lưng buộc bụng vì sự nghiệp giáo dục thì người đi đầu phải là nhà nước./.
Bài đã đăng trên báo Thanh Niên ngày 27/7/2007, Tuần Việt Nam ngày 12/12/2007.
Trích từ
Trần Văn Thọ, Việt Nam từ năm 2011: Vượt lên sự nghiệt ngã của thời gian, NXB Tri thức, 2011. Hay sách “Những vấn đề giáo dục hiện nay: Quan niệm và giải pháp” - NXB Tri thức, tháng 11/2007.

Thứ Sáu, ngày 21 tháng 10 năm 2011

Một bước đầu cho việc phá sản của tuyên truyền Trung Quốc về đường lưỡi bò


Tập san khoa học “Nature” khẳng định lập trường:

Ban biên tập sẽ dành quyền đặt vấn đề đối với đường lưỡi bò,

không cho phép đem tuyên truyền chính trị vào báo cáo khoa học.

Nguyễn Đăng Hưng

Mới hôm qua (19/10/2011) tờ báo khoa học danh giá vào bật nhất thế giới “Nature” trongmột bài xã luận chính thức đã khẳn định lập trường :
Về các tranh chấp các quốc tế khác, lập trường của tập san Nature là các nhà khoa học nên dựa vào khoa học. Các tác giả nên cố gắng phi chính trị hóa những bài báo cànhnhiều càng tốt, bằng cách tránh những nhận xét mang tích kích động, những phát biểu gây hấn, và những bản đồ còn trong vòng tranh cãi. Trong trường hợp không loại bỏ được những điều đó (chẳng hạn như một nghiên cứu về tài nguyên quốc gia cần xem xét đến một hải đảo nào đó) thì bản đồ đó nên được ghi chú rằng “còn trong vòng tranh cãi” hoặc ghi rõ một ý nghĩa như vậy. Trong các bài báo trên tập san Nature, nếu tác giả không tự ý làm, ban biên tập dành cái quyền chèn vào những ghi chú như thế. Tránh tranh cãi, các nhà nghiên cứu có thể giữ cho khoa học khỏi bị lây nhiễm bởi chính trị, giữ cánh cửa hợp tác khoa học rộng mở, có lợi cho những nghiên cứu của họ”.
Sau đây là nguyên văn tiếng Anh
“With regard to this and other international disputes, Nature takes the position that scientists should stick to the science. Authors should try to depoliticize their articles as much as possible by avoiding inflammatory remarks, contentious statements and controversial map designations. If such things can’t be avoided, for example if a study of a country’s resources requires taking account of whether a certain island belongs to it, the map should be marked as ‘under dispute’ or something to that effect. In papers in Nature, editors reserve the right to insert such a label if authors fail to do so. By avoiding controversy, researchers who keep politics from contaminating their science will keep the doors of collaboration open, and their studies will benefit”.
Bài xã luận còn thẳng thừng chỉ trích chính quyền Trung Quốc như sau:
“Một xu hướng đáng ngại đang xuất hiện, đó là các nhà khoa học Trung Quốc lồng bản đồ đường lưỡi bò vào những bài báo khoa học của họ, với hàm ý nói rằng vùng biển bao bọc bởi 9 đường đứt đoạn là lãnh hải của Trung Quốc. Các nhà khoa học và công dân của các nước lân cận cảm thấy họ bị chọc tức bởi bản đồ đó. Có thể hiểu được sự tức giận của họ, bởi vì những bản đồ đó phần lớn chẳng có liên quan gì đến chủ đề bài báo mà các nhà khoa học Trung Quốc công bố. Việc lồng bản đồ đường lưỡi bò vào bài báo không phải là một phát biểu khoa học – đó là một phát biểu chính trị, và hình như các nhà khoa học Trung Quốc làm việc này theo chỉ thị của Chính phủ Trung Quốc. Đó là một yêu sách về chủ quyền lãnh thổ, và yêu sách này xuất hiện không đúng chỗ”.
Một tờ báo khoa học danh giá vào bậc nhất trên thế gới đã khẳng định quản điểm một cách đanh thép như vậy thì chúng ta có thể nói ra hôm nay là chiến dịch phản đối đường lưởi bò của trí thức chuyên gia trong và ngoài nước khởi độn từ đâu năm đã đem lại thắng lợi có tính quyết định. Ít ra trên bình diện khoa học, trên báo chí khoa học quốc tế âm mưu đen tối chiếm biển Đông Nam Á của Trung Quốc đang ở trên đường phá sản.
Trong một bài báo cùng ngày, biên tập viên David Cyranoski, đã nhắc đến việc đã nhận thư của “…Một nhóm gồm 57 nhà khoa học, kỹ sư và chuyên gia gốc Việt… phàn nàn về sự việc Nature in bản đồ đó. Lá thư than phiền rằng Chính phủ Trung Quốc đã dùng thủ đoạn cửa sau, và biện luận rằng Chính phủ Trung Quốc đã dùng các tập san khoa học như là phương tiện để hợp thức hóa bản đồ một chiều và thiếu khách quan”, nhắc đến các phản ứng của các chuyên gia trí thức Việt Nam từ Việt Nam, Canada, Phần Lan và nhiều nước khác… cho đồng chủ biên tập san Climatic Change với nội dung phản đối tương tự.
Bài báo cũng công khai cho quốc tế biết rõ ý kiến khách quan của các trí thức Việt Vam khi trực tiếp tiếp xúc với họ:
Họ vẽ một đường chung quanh biển Nam Trung Hoa và những hòn đảo trong vùng biển đó, mặc dù vùng biển này không có liên quan gì đến chủ đề của bài báo” (Phạm Quang Tuấn, một giáo sư hóa học thuộc Đại học New South Wales)
“Việc công bố bản đồ [đường lưỡi bò] thể hiện một sự lạm dụng khoa học” (Nguyễn Văn Tuấn, giáo sư y khoa của Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan).
So với phản ứng của tạp chí Science gần đây, sau khi nhận thư phản đối của chuyên gia trí thức người Việt, chỉ ra “ghi chú” của ban biên tập với nội dung khá bàn quan:
“Độc giả có thể đã hiểu sai, Science không đứng về bên nào trong tranh chấp chủ quyền, tạp chí sẽ kiểm tra lại quy trình nhận bài liên quan bản đồ để tránh dính các vụ tranh chấp”,
tạp chí Nature, tiếng tăm và uy tín hơn nhiều, đã đứng hẳn về phía lẻ phải, tính trung thực và tinh thần tôn trọng luật pháp.
Phải nói đây là điểm son của tạp chí khoa học xuất bản tại Anh.
Phải nói đây là thành quả đáng khích lệ, niềm vui xứng đáng của người Việt Nam, của trí thức chuyên gia Việt Nam, đã chung vai sát cánh, đấu tranh không ngừng nghĩ vì tiền đồ của dân tộc.
Khi chúng ta có chính nghĩa, khi chúng ta nắm vững luật pháp quốc tế, tính khách quan vô tư của khoa học, chúng ta sẽ đi đến chiến thắng dù kẻ tham lam bá quyền có thế lực đến đâu chăng nữa.
Xin chúc mừng các nhân sỹ, các đồng nghiệp, các bằng hữu đã quen lâu rồi, hay mới bước vào trận tuyến, từ nhiều nơi trên quả địa cầu, đã góp sức cho thắng lợi ban đầu này.
Sài Gòn ngày 20/10/2011
Nguyễn Đăng Hưng

Phụ lục: Hai bài báo mới nhất trên NATURE

Những câu chữ tức giận trên biển Đông Nam Á

(Angry words over East Asian seas)

Tác giả: David Cyranoski
Người dịch: Nguyễn Văn Tuấn
Nature 20/10/2011
Xung đột trên biển. Tranh chấp biên giới. Đó không phải là những địa hạt thông thường của khoa học. Nhưng các nhà nghiên cứu và tập san khoa học đang bị giật kéo vào những tranh cãi nẩy lửa giữa Trung Quốc và các nước láng giềng. Những cuộc đối đầu liên quan đến những con tàu nghiên cứu đang làm tình hình căng thẳng hơn trong vùng, trong khi Chính phủ Trung Quốc bị tố cáo là đã sử dụng các ấn phẩm khoa học để đẩy mạnh những yêu sách đầy tham vọng của họ về lãnh thổ.
Tham vọng tăng cường khai thác biển của Trung Quốc không phải là điều bí mật. Kế hoạch ngũ niên lần thứ 12 (dự trù trong thời gian 2011 đến 2015) của Trung Quốc đã được thông qua vào tháng Ba năm nay. Kế hoạch này đề cập đến tầm quan trọng của kinh tế biển. Báo cáo Phát triển Biển của Trung Quốc ước lượng rằng kĩ nghệ biển, tính luôn cả khai thác dầu khí ngoài khơi, hải sản và kĩ nghệ đóng tàu, sẽ đem về cho Trung Quốc 830 tỉ USD vào năm 2020. Mới tháng trước, Zhang Jixian, người đứng đầu của Viện Điền thổ và Bản đồ của Trung Quốc, tuyên bố rằng Trung Quốc sẽ dốc nỗ lực để vẽ cái mà y gọi là “ba triệu kílômét vuông lãnh hải”, một khu vực rộng hơn những gì các nước láng giềng trước đây xem là lãnh thổ của Trung Quốc. Dự án bản đồ được sự hỗ trợ bởi vệ tinh đồ (sẽ được khởi động vào tháng 12) và tàu ngầm Jiaolong (dự kiến có khả năng lặn sâu 7,000 m dưới biển vào năm tới) [1]. Nếu tàu lặn này thành công như dự kiến, Trung Quốc sẽ tạo nên kỉ lục về độ sâu tàu ngầm có thể lặn, vượt qua một cường quốc biển hiện nay là Nhật.
Trung Quốc còn ngày càng tỏ ra quyết đoán trong vấn đề biên giới. Trung Quốc xem Đài Loan là một phần của lãnh thổ Trung Quốc, nhưng Đài Loan thì tự xem mình là độc lập với Trung Quốc. Nhật, Trung Quốc và Đài Loan tất cả đều xem quần đảo Điếu Ngư (không có người cư trú) là của họ. Những xung đột dữ dội nhất xảy ra ở Biển Đông (Trung Quốc gọi là Nam Hải), nơi mà Trung Quốc đòi chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (là nơi cư trú của rùa, hải âu, và vài người lính Trung Quốc), một quần đảo với hơn 700 đảo nhỏ, cùng với vùng biển rộng lớn bao trùm chung quanh. Việt Nam, Malaysia, Đài Loan, Brunei và Philippines tất cả đều lí giải rằng đó là những đảo nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của họ, và vùng này được Liên hiệp quốc công nhận. Những tranh chấp này kéo dài trong nhiều thập niên, nhưng báo cáo về trữ lượng dầu hỏa ước tính từ 1.6 đến 21.3 tỉ thùng và nguồn khoáng sản đáng kể đang làm gia tăng sự tranh chấp.

Bởi vì thăm dò tài nguyên thường đi song song với nghiên cứu, các nhà khoa học cảm thấy mình là những người đứng hàng đầu trong những cuộc tranh chấp. Tháng Sáu vừa qua, Việt Nam tố cáo tàu cá Trung Quốc đã cắt dây cáp tàu của PetroVietnam đang thăm dò dầu khí. Ngày 26/9, Nhật ra lệnh một tàu khảo sát của Trung Quốc phải rời khỏi đặc vùng kinh tế chung quanh hòn đảo Điếu Ngư mà Nhật xem là lãnh thổ của họ.
Cuộc chiến còn lan tràn sang những trang giấy của các tập san khoa học. Các nhà phê bình cho rằng các nhà khoa học Trung Quốc cố ý gửi một thông điệp ra thế giới là việc Trung Quốc làm chủ vùng biển Đông Nam Á như là một việc đã rồi, bằng cách dùng các bản đồ phục vụ cho chủ trương bành trướng hải phận. Chẳng hạn như trong một bài tổng quan về tác động của thay đổi khí hậu đến nguồn nước và nông nghiệp (công bố trên Nature vào năm 2010 [2]) có in một bản đồ với một bản đồ biển kèm theo, hàm ý nói rằng phần lớn vùng biển Đông Nam Á là của Trung Quốc.
Tháng rồi, một nhóm gồm 57 nhà khoa học, kĩ sư và chuyên gia gốc Việt gửi một lá thư đến tập san Nature phàn nàn về sự việc Nature in bản đồ đó. Lá thư than phiền rằng Chính phủ Trung Quốc đã dùng “thủ đoạn cửa sau”, và biện luận rằng Chính phủ Trung Quốc đã dùng các tập san khoa học như là phương tiện để hợp thức hóa bản đồ một chiều và thiếu khách quan. Một bản đồ tương tự xuất hiện trong một bài tổng quan trên Science [3] cũng nhận được những phê bình như thế. Science hồi đáp bằng một Ghi chú của Chủ bút (Editor’s Note) [4], cho rằng tập san không có lập trường liên quan đến những tranh chấp về chủ quyền, nhưng tập san cũng đang kiểm tra lại qui trình công bố bản đồ để đảm bảo rằng trong tương lai Science không muốn hiểu lầm là ủng hộ hay không ủng hộ một quan điểm nào trong những tranh chấp liên quan đến pháp lí.
Trong khi đó, Michael Oppenheimer thuộc Đại học Princeton (đồng chủ biên tập san Climatic Change) đã nhận được cả đống điện thư kể từ tháng Sáu khi tập san này công bố một bài báo khoa học với đường lưỡi bò hơn 4 năm trước đây [5]. Tác giả các điện thư này là các nhà khoa học từ Việt Nam, Phần Lan, Canada, và nhiều nước khác. Họ yêu cầu tập san phải chỉnh sửa bản đồ. Tuy nhiên, Oppenheimer cho biết những tranh luận về lãnh thổ như thế này, thường mang tính chính trị cao độ, không phải là câu hỏi mà tập san của ông muốn đương đầu với.
Một số nhà khoa học Việt Nam khác mà Nature liên lạc phần lớn đều tức giận bởi những trường hợp mà họ xem là sử dụng bản đồ đường lưỡi bò một cách vô lí. Phạm Quang Tuấn, một giáo sư hóa học thuộc Đại học New South Wales, nói “Họ vẽ một đường chung quanh biển Nam Trung Hoa và những hòn đảo trong vùng biển đó, mặc dù vùng biển này không có liên quan gì đến chủ đề của bài báo“.
Không ai rõ lí do tại sao các nhà khoa học Trung Quốc lồng cái bản đồ còn trong vòng tranh cãi đó vào những bài báo khoa học của họ. Nhưng qua trao đổi email với tác giả, Oppenheimer quyết định rằng những bản đồ đó quả thật không có liên quan gì đến kết luận của bài báo, và đề nghị tác giả chính là Xuemei Shao của Viện Nghiên cứu Địa lí và Tài nguyên thiên nhiên ở Bắc Kinh chỉnh sửa. Shao từ chối, và giải thích trong một email rằng ông ta lồng bản đồ đó vào bài báo là do yêu cầu của Chính phủ Trung Quốc.
Jingyun Fang, một chuyên gia về biến đổi khí hậu thuộc Đại học Bắc Kinh, và cũng là đồng tác giả bài tổng quan trên Nature, cho biết ông ta lồng bản đồ đó vào bởi vì ông ta phải tuân theo luật pháp của Trung Quốc (tức phải in bản đồ đường lưỡi bò). Khi chúng tôi (Nature) liên lạc Fang, Shao và 4 tác giả của những bài báo khác có in bản đồ đường lưỡi bò, tất cả đều không trả lời.
Cuối cùng thì Science, Nature và Climatic Change quyết định không xóa bỏ những bản đồ mang tính xúc phạm đó. Nhưng Nguyễn Văn Tuấn, một giáo sư y khoa của Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan ở Sydney, người đã gửi thư phàn nàn đến các tổng biên tập về bản đồ đường lưỡi bò, nói rằng việc xuất hiện của những bản đồ đó trên các tập san khoa học nên được xem là dữ liệu khoa học trước khi công bố. Ông nói: “việc công bố bản đồ [đường lưỡi bò] thể hiện một sự lạm dụng khoa học“.
Tham khảo:
[1] Nature 476, 10-11 (2011).
[2] Piao, S. et al. Nature 467, 43-51 (2010).
[3] Peng, X. Science 333, 581-587 (2011).
[4] Bradford, M. Science 333, 1824 (2011).
[5] Liang, E. et al. Climatic Change 79, 403-432 (2006).
*****

Vùng hoang (Uncharted territory)

Tác giả: David Cyranoski

Người dịch: Nguyễn Văn Tuấn
Nature 20/10/2011
Các bản đồ chính trị có mục đích mưu cầu lãnh thổ không có vị trí trong các bài báo khoa học. Các nhà nghiên cứu nên giữ mối liên hệ thân mật với nhau bằng cách phi chính trị hóa các công trình của họ.
Muhammad Ali quan sát rằng những cuộc chiến giữa các quốc gia là để thay đổi bản đồ. Và, ông ta là người biết chiến đấu như thế nào. Ấy thế mà có nhiều cách tinh vi khác để thay đổi bản đồ. Hãy lấy trường hợp biển Nam Hải (tức biển Đông theo cách gọi của chúng ta – chú thích NVT) làm ví dụ: các quan chức Trung Quốc khăng khăng cho rằng phần lớn lãnh hải vùng biển này thuộc về Trung Quốc, và các bản đồ của Trung Quốc có xu hướng lồng những đường đứt đoạn để thể hiện quan điểm đó. Thế nhưng quan điểm của Trung Quốc không được bất cứ một tổ chức quốc tế nào công nhận. Tất cả các nước láng giềng cũng đều không công nhận bản đồ 9 đường đứt đoạn đó của Trung Quốc.
Sự việc đó có liên quan gì đến khoa học và tập san Nature? Không liên quan gì cả – ngoại trừ những tranh chấp về lãnh thổ, kể cả tranh chấp trên vùng biển Nam Hải, đang lan tràn trên những trang giấy của các tập san khoa học như Nature. Một xu hướng đáng ngại đang xuất hiện, đó là các nhà khoa học Trung Quốc lồng bản đồ đường lưỡi bò vào những bài báo khoa học của họ, với hàm ý nói rằng vùng biển bao bọc bởi 9 đường đứt đoạn là lãnh hải của Trung Quốc (Xem bài “Những câu chữ tức giận trên biển Đông“). Các nhà khoa học và công dân của các nước lân cận cảm thấy họ bị chọc tức bởi bản đồ đó. Có thể hiểu được sự tức giận của họ, bởi vì những bản đồ đó phần lớn chẳng có liên quan gì đến chủ đề bài báo mà các nhà khoa học Trung Quốc công bố. Việc lồng bản đồ đường lưỡi bò vào bài báo không phải là một phát biểu khoa học – đó là một phát biểu chính trị, và hình như các nhà khoa học Trung Quốc làm việc này theo chỉ thị của Chính phủ Trung Quốc. Đó là một yêu sách về chủ quyền lãnh thổ, và yêu sách này xuất hiện không đúng chỗ.
Khi nghiên cứu khoa học và chính trị pha trộn nhau, khoa học nên là một công cụ ngoại giao, chứ không phải công cụ cho xâm lấn lãnh thổ. Hợp tác khoa học vẫn có thể nẩy nở ngay cả trong môi trường chính trị thiếu thân thiện. Càng ngày càng có nhiều nhà khoa học Đài Loan hợp tác với các đồng nghiệp trong lục địa Trung Quốc, cho dù Bắc Kinh và Đài Bắc vẫn tiếp tục có những bất đồng ý kiến cơ bản về mối liên hệ đôi bên. Theo số liệu của Lou-Chuang Lee, người đứng đầu Hội đồng Khoa học Đài Loan, số bài báo khoa học hợp tác giữa các nhà khoa học Đài Loan và lục địa Trung Quốc tăng từ 521 bài vào năm 2005 lên 1,207 trong năm qua.
Những hợp tác như thế có hiệu quả xây dựng nền tảng cho việc nhận thức về những lợi ích chung giữa đôi bên, và hi vọng rằng sẽ hóa giải những khác biệt về chính trị. Ít ra, những hợp tác như thế giúp kiềm chế những gây hấn.
Vậy mà chính trị vẫn thường tìm ngõ ngách để xâm nhập vào khoa học. Một ví dụ là tháng Tám vừa qua, Ann-Shyn Chiang, giám đốc Trung tâm nghiên cứu thần kinh của Đại học Quốc gia Tsing Hua (National Tsing Hua University) ở Hsinchu, Đài Loan, ngạc nhiên khi nhận được thư của vị đồng nghiệp Yi Rao, một nhà khoa học thần kinh thuộc Đại học Bắc Kinh, đề nghị Chiang ghi tên quốc gia là “Taiwan, Trung Quốc” (thay vì Taiwan). Chiang cho Rao biết rằng hoặc là dùng “Taiwan” hay “Taiwan ROC” (tức Republic of Trung Quốc), hoặc Rao không đứng tên tác giả của bài báo. Cuối cùng thì hai người cũng đi đến một thỏa thuận. Họ đồng ý dùng chữ “Taiwan, Republic of Trung Quốc”. Những tranh chấp trên vùng biển Nam Hải, với tiềm năng tài nguyên và ý nghĩa địa chính trị của nó, sẽ khó mà giải quyết một cách dễ dàng.
Liên quan đến vấn này và các tranh chấp các quốc tế khác, quan điểm của tập san Nature là các nhà khoa học nên dựa vào khoa học. Các tác giả nên cố gắng phi chính trị hóa những bài báo, bằng cách tránh những nhận xét mang tích kích động, những phát biểu gây gỗ, và những bản đồ còn trong vòng tranh cãi. Trong trường hợp không loại bỏ được những điều đó (chẳng hạn như một nghiên cứu về tài nguyên quốc gia cần xem xét đến một hải đảo nào đó) thì bản đồ đó nên được ghi chú rằng “under dispute” ( tức “còn trong vòng tranh cãi”) hoặc một mô tả có ý nghĩa tương tự. Trong các bài báo trên tập san Nature, các biên tập có quyền lồng vào những ghi chú như thế, nếu tác giả không ghi chú. Tránh tranh cãi, các nhà nghiên cứu có thể giữ cho khoa học khỏi bị lây nhiễm bởi chính trị, và giữ cánh cửa hợp tác khoa học rộng mở, và những nghiên cứu của họ có ích. Hơn thế nữa, các nhà nghiên cứu cũng có thể giúp xoa dịu những căng thẳng chính trị, chỉ ra con đường đôi bên cùng có lợi và làm một công việc ngoại giao có ý nghĩa.
Các nhà khoa học, dù xuất phát từ phía nào, cũng có nhiều lợi ích chung. Nhiều nhà khoa học trên thế giới bị làm cho bất ổn có thể hiểu sâu sắc phát biểu đó. Thật là vô duyên nếu tình đoàn kết này bị làm xói mòn qua những động thái chính trị và tranh chấp lãnh thổ chẳng có liên quan gì đến khoa học.
Xem thêm bài viết về sự kiện này trên trang của TS Lê Văn Út tại đây
Chú thích: Nature là một tạp chí tổng quát, có thể nhận đăng bài trong tất cả các lĩnh vực. Và tạp chí này chỉ nhận đăng những kết quả mang tính khám phá, những phát minh lớn. Những người có bài đăng trên tạp chí này, cũng như Science, thường có cơ hội nhận được giải thưởng cao trong khoa học (ngày hôm qua tôi được biết Viện Hàn Lâm Phần Lan đã yêu trong hội đồng khoa học của họ làm một so sánh về số lượng bài đăng của Phần Lan trên hai tạp chí Science và Nature với các nước trong khu vực Bắc Âu). Chỉ số trích dẫn, impact factor, của Nature hiện tại là 36.104, xếp thứ 6 trong 7170 tạp chí của ISI (cao hơn Science 5 bậc).

Chi tiết về vụ giết ông Gaddafi

Tin tức do các đài truyền hình tiếng Ả Rập nói xác Đại tá Muammar Gaddafi được chuyển về Misrata sau khi ông ‘bị giết khi tìm cách trốn khỏi Sirte’.
Tin nóng
Người ta nói đây là ống cống nơi Gaddafi trốn trước khi
bị bắt
Đài Al-Jazeera đưa tin rằng xác ông Gaddafi được để trong một giáo đường Hồi giáo tại Misrata.

Còn đài Al-Arabiyya nói xác ông cũng ở Misrata nhưng tại một trung tâm thương mại ở khu Souq Tawansa.

Các lãnh đạo Hội đồng Chuyển tiếp Quốc gia (NTC) nay cầm quyền ở Libya xác nhận ông Gaddafi bị giết “khi tìm cách chạy khỏi Sirte”.

Sirte là thành phố quê hương của ông và là nơi các cuộc tấn công của phe NTC thời gian qua đã phá vỡ tuyến phòng thủ của những người còn trung thành với chế độ Gaddafi.

Đợt tấn công được tăng cường mạnh sáng thứ Năm giờ địa phương.


Các đài truyền hình khu vực cũng chiếu hình ảnh xác ông Gaddafi đẫm máu bị kéo trên đường phố Sirte trước khi được chuyển về Misrata.

BBC News cũng trích các đài truyền hình địa phương từ Libya cho rằng một trong số con trai ông Gaddafi là Mustasim “cũng bị giết”.

“Xin đừng bắn”

Con trai khác của ông là Saif Al-Islam thì được cho là “đã vào đoàn xe chạy trốn khỏi Sirte”.

Tin từ phía NTC cũng cho hay một chiến binh của họ “tìm thấy ông Gaddafi trốn trong một cái ống cống bằng bê tông và van xin đừng bắn”.

Dòng chữ Ả Rập trên bờ cống viết: “Đây là nơi Gaddafi, con chuột cống…Thượng Đế thật vĩ đại”.

Người chiến binh này nay khoe có khẩu súng ngắn bọc vàng nói là “lấy từ ông Gaddafi”.

Tin tức chính thức của lãnh đạo NTC nói ông Gaddafi “chết vì các vết thương ở chân”.

Bộ trưởng Thông tin của chính phủ NTC chỉ xác nhận “Ông ta đã bị các binh sỹ tiêu diệt trong một cuộc tấn công. Có người quay phim về việc này”.

Nhưng hiện chưa rõ cụ thể ai đã bắn ông ta.

Một người đàn ông xưng là nhân chứng cho BBC hay ông thấy Đại tá Gaddafi “bị bắt bằng súng 9mm vào phần bụng lúc 12:30 giờ, theo giờ địa phương”.

Hình chiếu xác ông bị dân chúng kéo trên đường phố “bị lột áo và thương tích nặng”.

Đến chập tối 20/10 giờ địa phương, người dân và các chiến binh ủng hộ NTC vẫn tiếp tục ăn mừng tại Libya trong lúc các hãng tin quốc tế liên tục chạy tin về các diễn biến quanh cái chết của ông Gaddafi.
Khẩu súng bọc vàng của Gaddafi


Là người lãnh đạo Libya hơn 42 năm trước khi bị lật đổ, ông đã bị lật đổ hồi tháng Tám và bị Tòa án Hình sự Quốc tế truy nã ông.

Khối quân sự Nato chủ trì trận không kích các mục tiêu của phe Gaddafi ở Libya trong nhiều tháng nay, cho hay đã tấn công từ trên không vào hai chiếc xe của quân đội Gaddafi ở gần Sirte vào buổi sáng thứ Năm 20/10.

Các hãng thông tấn trích người dân Libya cho rằng họ chỉ thực sự thấy cơ hội về một nước Libya mới sau khi ông Gaddafi bị bắt hoặc giết.

Sau Thủ tướng Anh, David Cameron lên tiếng chúc mừng người dân Libya, đến lượt Tổng thư ký LHQ, ông Ban Ki-moon lên tiếng nói về nhu cầu “tái thiết Libya trong tinh thần đầy hy vọng” của người dân Libya.

Theo BBC

Thứ Năm, ngày 20 tháng 10 năm 2011

Chính sách Biển Đông của Việt Nam và Trung Quốc

Nhà nghiên cứu duy nhất của Việt Nam tại hội thảo Biển Đông ở Manila phân tích những thay đổi gần đây trong chính sách Biển Đông của Trung Quốc và Việt Nam.

Lê Quỳnh
Tiến sĩ Trần Trường Thủy, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông tại Học viện Ngoại giao Việt Nam ở Hà Nội, nhấn mạnh chính sách của Trung Quốc mang tính “thử và đẩy”, dựa trên phản ứng của các nước.
Ông cũng cho phóng viên BBC đến dự hội thảo Manila cuối tuần qua biết về những điều chỉnh mới nhất trong lập trường của Việt Nam.
Tiến sĩ Trần Trường Thủy: Từ khi ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 giữa Trung Quốc và Asean, Trung Quốc đã thi hành chính sách gây cảm tình (charm offensive) để thu phục nhân tâm các nước Asean theo chiến lược láng giềng tốt.
Nhưng hai, ba năm gần đây, Trung Quốc có điều chỉnh vì họ mạnh lên và cũng vì nhân tố chính trị nội bộ. Tình hình nóng lên, ví dụ việc cấm đánh bắt cá, ngăn tàu khảo sát. Trung Quốc công khai hóa đường lưỡi bò không chỉ về ngoại giao, trên giấy tờ mà cả trên thực tế là thi hành kiểm soát theo phạm vi đường lưỡi bò. Họ tăng cường các biện pháp đơn phương như cấm đánh bắt cá, công bố dự án đầu tư thăm dò dầu khí 30 tỷ đôla, đầu tư dàn khoan nước sâu. Mà những vùng nước sâu ở Biển Đông chắc chắn không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Hải Nam.
Các bước đi của Trung Quốc mang tính thử và đẩy. Họ điều chỉnh chính sách và xem phản ứng các nước thế nào. Nếu thuận thì đẩy tiếp, nếu bị phản ứng thì điều chỉnh. Sau Diễn đàn An ninh khu vực (ARF) 17, khi Ngoại trưởng Mỹ Clinton can thiệp vào vấn đề Biển Đông, Trung Quốc phản ứng mạnh một thời gian nhưng sau đó cũng điều chỉnh lại cho mềm mỏng hơn.
Điều chỉnh một giai đoạn ngắn, nhưng các sự kiện sau đó cho thấy Trung Quốc cứng rắn trở lại như vụ cắt cáp và các vụ việc về tàu cá, dầu khí khác. Đến khi gặp phản ứng của các nước liên quan và của cộng đồng quốc tế, TQ lại tiếp tục điều chỉnh. Trong hai, ba tháng gần đây, đã ít sự kiện xảy ra hơn. Trung Quốc đồng ý ký với Asean bản hướng dẫn thực thi DOC [tháng Bảy 2011], hay cũng không có nhiều thông tin Trung Quốc bắt giữ ngư dân, hay có hành động cản phá trực tiếp hoạt động dầu khí của các nước khác như trước đây, tất nhiên là họ vẫn có phản đối ngoại giao và bài viết cứng rắn của báo chí.
BBC: Như vậy phải chăng Thỏa thuận vừa ký giữa Việt Nam và Trung Quốc về vấn đề trên biển có thể đặt trong bối cảnh Trung Quốc điều chỉnh chính sách cho mềm hơn sau khi bị phản ứng các nước?
Nếu so với các quan điểm trước đây thì Trung Quốc cũng có một số điều chỉnh. Thỏa thuận Sáu điểm về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển cho thấy hai bên cam kết giải quyết các tranh chấp bằng đàm phán thương lượng, dựa trên luật pháp quốc tế, có tính đến yếu tố lịch sử và quan tâm của các bên. Nếu xem kỹ điểm thứ ba sẽ thấy Trung Quốc có điều chỉnh . Tức là những tranh chấp chỉ giữa Việt Nam và Trung Quốc thì đàm phán hai nước. Nhưng những vấn đề liên quan các nước khác, phải đàm phán với các nước đó. Đây là điểm mà Việt Nam rất kiên định và như thế các nước Asean mới an tâm.
Đó cũng có thể nói là bước tiến của Trung Quốc vì từ trước đến giờ, Trung Quốc chỉ kiên quyết đàm phán song phương kể cả những vấn đề có tranh chấp nhiều nước.
Có những điểm tích cực khác như hai nước thỏa thuận tham vấn Trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ một năm hai lần và khi cần thiết, tức là khi có căng thẳng cũng có cơ chế để giải quyết tức thì. Bổ trợ cho cơ chế ấy là thiết lập đường dây nóng. Cơ chế mà Trung Quốc và Việt Nam có được, nếu tôi không nhầm thì là lần đầu tiên ở cả châu Á. Năm ngoái có va chạm trên biển giữa Nhật và Trung Quốc liên quan đến bắt giữ thuyền trưởng tàu cá . Một trong những nhân tố làm leo thang căng thẳng là giữa Trung Quốc và Nhật Bản không có cơ chế nói chuyện trực tiếp với nhau khi cần thiết.
Việc ký kết thỏa thuận thể hiện hai nước cam kết giải quyết vấn đề một cách hòa bình và muốn cho thế giới thấy có tiến bộ trong quá trình đàm phán Biển Đông.
BBC:Trong bài phát biểu, anh nói chính sách Biển Đông của Việt Nam cũng có những điều chỉnh. Anh có thể cho biết rõ hơn?
Chính sách của Việt Nam có những cái bất biến, nhưng cũng có những điều chỉnh. Ví dụ, chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa là bất biến.
Về quan điểm đối với các vùng biển, Việt Nam có chủ quyền đối với các vùng nội thủy và lãnh hải tính từ đường cơ sở, và có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa, cả đoạn 200 hải lý và đoạn kéo dài như các báo cáo ranh giới ngoài của riêng Việt Nam và báo cáo chung giữa Việt Nam và Malaysia.
Liên quan quy chế pháp lý của các vị trí (hình thái địa chất) ở Hoàng Sa, Trường Sa, qua các báo cáo ranh giới ngoài, nhiều học giả kết luận là Việt Nam không coi các vị trí ở Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo và do đó không có các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, mà chỉ có tối đa 12 hải lý lãnh hải. Đây là bước điều chỉnh trong quan điểm của Việt Nam đối với các vùng biển và cũng phù hợp với Công ước LHQ về luật biển 1982. Thực tế, các vị trí nói chung ở Hoàng Sa, Trường Sa đa số không có đời sống kinh tế riêng, nên theo Công ước luật biển, thì chúng không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Hầu như mọi nước Asean ven Biển Đông đều thống nhất với quan điểm này. Nó tạo thành lập trường chung của Asean – tất nhiên khác với lập trường của Trung Quốc.
BBC:Sau bài thuyết trình của anh, một chuyên gia Trung Quốc, đại sứ Trần Sỹ Cầu đứng lên phản bác một số điểm. Anh nghĩ thế nào?
Dĩ nhiên cái nhìn của Trung Quốc thì khác. Họ xem mình có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa và có quyền theo đường lưỡi bò, nên mọi hành động của các nước trong đường lưỡi bò vi phạm quyền của Trung Quốc.
Phản ứng của ông đại sứ cũng là quan điểm công khai của chính phủ khi họ không công nhận Hoàng Sa có tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hay họ cho rằng Trung Quốc không muốn mở rộng vùng tranh chấp. Nhưng nếu đọc các văn bản, công hàm, tuyên bố của Trung Quốc gần đây, có thể thấy họ muốn tối đa hóa khu vực tranh chấp khi xem các vị trí Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo, và có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Như thế, tranh chấp từ các đảo sẽ mở rộng ra rất lớn.
Bài trình bày của tôi cho thấy Trung Quốc muốn mở rộng khu vực tranh chấp trên cả đường lưỡi bò. Nhưng đường lưỡi bò không có giá trị pháp lý, như trong các thảo luận ở Hội thảo này, tất cả đại biểu đều không hiểu đường lưỡi bò là gì.
Nguồn: BBC

Điếu cày cứu A#


Hiệu Minh
Bạn muốn đường thông thoáng vì có người trông có vẻ hơi bặm trợn nhưng được việc khi dẹp đường hay muốn bị kẹt xe vì đợi người có bằng cấp tiến sỹ tới xin xỏ người đi đường là hãy hành xử có văn hóa trong giao thông?
Trong lúc ông Bộ trưởng La Thăng đang đau đầu vì vấn nạn giao thông tắc nghẽn tại Hà nội, chưa tìm ra lối thoát, thì một thanh niên phường Trương Định đã “tự xử” bằng cách dùng điếu cày dẹp đường, bắt người đi đường tuân theo luật lệ.
Anh la hét, đuổi đánh những người cố tình vi phạm đi ngược chiều. Nhiều người sợ “đầu gấu” nên đã tránh xa, hoặc quay ngược đầu xe, chạy trốn.
Ngày 17/10, clip “Phân làn bằng điếu cày” dài 95 giây được tung lên mạng, thành hot trong mấy ngày. Chàng thanh niên nhiều lần chứng kiến cảnh tượng chen lấn của những người tham gia giao thông, dẫn đến ùn tắc “nên anh ấy mới mang điếu cày ra dẹp đường”, tác giả clip cho hay.
Video đã thu hút hàng chục nghìn lượt truy cập cùng nhiều ý kiến. Người đồng tình cho rằng, trong bối cảnh giao thông hỗn loạn, ý thức dân kém, thì đó là việc nên làm. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng hành động này là thiếu văn hóa, hành xử kiểu luật rừng.
Lúc đầu mới xem, nhiều người nghĩ là anh chàng này dẹp đường cho ô tô của nhà anh ta. Hóa ra, anh làm một cách tự nguyện. Thấy bất bình, chẳng đặng ngồi yên.
Nhiều người thay đổi ý kiến và cảm phục dù đó là hành động hơi hướng…côn đồ. Anh chỉ dọa thôi, chưa đánh ai, mà chỉ choảng điếu cày vào yên xe. Trông anh vung vẩy như Triệu Tử Long giữa trận mạc. Dân đi ngược chiều được một phen bạt vía.
Điếu cày nổi tiếng thế giới. Ảnh vui internet
Lấy độc trị độc như các cụ thường nói. So với những hành xử vô văn hóa trong giao thông, mạnh ai nấy chen, sẵn sàng lấn sang lề trái, thì việc trên rất được. Cảnh sát giao thông có dùi cui trong tay chắc không hiệu quả như thanh niên này.
Sau vụ này, đảm bảo chiếc điếu cày Việt Nam thành thương hiệu quốc tế. Nghe nói Putin và Bush chỉ đủ tiền mua một cái ở phường Trương Định. Không tin xem ảnh bên.
Trong giao thông, người đi đường phải tôn trọng luật, không lấn vạch, tuyệt đối tuân theo tín hiệu, nếu không sẽ xảy ra tắc nghẽn, và nguy hiểm đến tính mạng.
Vì thế, phạt vi phạm giao thông phải rất nghiêm minh và không có chuyện xuê xoa, bỏ qua, xin xỏ. Phạm luật là phạt và cần phạt rất nặng.
Người dân ý thức kém, cảnh sát giao thông ăn hối lộ, qui hoạch và kiến trúc đô thị bị phá vỡ, không có tầm nhìn xa, giao thông ngày càng tệ hại và dường như những nhà quản lý đang bó tay com.
Trong trường hợp này, điếu cày thay dùi cui chấn chỉnh giao thông lại vô cùng hiệu quả, vung cái điếu lên mà hàng ngàn người theo lệnh, đi đúng lề phải.
Mấy hôm nay ông Bộ trưởng La Thăng có rất nhiều sáng kiến chống ùn tắc giao thông như cấm xe máy, thiêu hủy xe đua, rồi quyết vi hành xe bus, kể cả bắt cán bộ giao thông đi xe bus làm gương, và mới đây cấm luôn cán bộ ngành đi chơi golf.
Để xử lý giao thông tắc nghẽn ở các thành phố lớn thì chính quyền cần mạnh tay và cương quyết, đôi lúc phải trấn áp mới xong việc.
Trong lúc đợi bác La Thăng tìm ra chính sách hợp lý hay vi hành, phải chăng anh thanh niên và chiếc điếu cày là cứu cánh cho Bộ Giao thông.
Nghe nói hôm ấy xong việc rồi anh lại vào quán và ngâm thơ sang sảng
 Anh bắn bi thuốc lào
Nhớ bờ môi em. Ảnh internet
Điếu reo lên sòng sọc
Cơn say vào tận óc
Và anh nhớ đến em.
Anh nhớ bờ môi em
Ngọt ngào như hơi thuốc.
Nhớ dáng em thân thuộc
Mảnh mai như điếu cày.
 
Nhớ làn tóc em bay
Mờ ảo như hơi khói.
Tiếng nói em xa vợi
Sôi nổi như nõ reo.
 
Anh sẽ luôn mang theo
Cái điếu cày bên cạnh
Để lúc nào kẹt xe
Là anh ra phân làn :) :) :)
Cua Times.

Thứ Tư, ngày 19 tháng 10 năm 2011

Lào: căng thẳng dưới bóng người khổng lồ

Bá Nha
Chính phủ Lào từ chối các điều kiện “cho thợ Trung Quốc vào định cư luôn tại chỗ” do Bắc Kinh đưa ra về dự án xây một cây cầu trên tuyến đường cao tốc nối Lào và Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc. Xứ sở Triệu Voi đang nỗ lực để bớt phụ thuộc vào Trung Quốc, tăng cường tìm kiếm đầu tư từ Hàn Quốc và các nước khác.


Con đường không dẫn tới đâu

Giữa tháng 9.2011, con đường hai làn xe nối thành phố Nan (Thái Lan) với tỉnh Oudomxay (Tây Bắc Lào) được khánh thành. Đáng nói là con đường này không dẫn tới đâu cả. Vì chiếc cầu nối con đường này vào quốc lộ của Lào vẫn chưa được xây, do Lào và Trung Quốc vẫn chưa dàn xếp được bất đồng nêu trên.

Tại khu vực lẽ ra là một cây cầu bề thế do Trung Quốc đầu tư xây dựng, người ta chỉ thấy dòng sông vắng lặng và người dân địa phương đang lưới cá. Không thấy máy móc hay nhân công xây cầu.

Đổi lại dự án xây cầu trị giá 35 triệu USD từ nguồn vốn vay ưu đãi, tổng công ty Cầu đường Trung Quốc đã yêu cầu Lào cho định cư lao động Trung Quốc với số lượng lớn. Đề xuất này gây căng thẳng cho mối quan hệ Trung Quốc – Lào. Đó là chưa kể một điều kiện khác: Trung Quốc được phép xây dựng một khu casino ở Oudomxay nhắm đến du khách và cộng đồng người Hoa đến định cư tại đây.

Từ mấy năm nay, Lào chủ trương tự do hoá nền kinh tế, cho phép các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng đất và nguồn lao động, để xây dựng cơ sở hạ tầng, thúc đẩy giao thương. Nhưng Lào cương quyết dừng cấp phép các dự án đầu tư casino vì quan ngại chúng gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội.

Không chỉ tắc ở dự án xây cầu, một dự án đường sắt cao tốc trị giá 7 tỉ USD nối Trung Quốc và các nước ASIAN cũng đang gặp trở ngại tại Boten – khu vực biên giới Lào – Trung Quốc.

Dự án này trắc trở vì làn sóng công nhân và hàng hoá Trung Quốc đổ bộ vào Boten, kéo theo một loạt vụ án mạng liên quan đến bài bạc. Sau đó, Chính phủ Lào đã phải lập tức đóng cửa một casino tại thị trấn biên giới.

Trong chuyến thăm Bắc Kinh mới đây của Chủ tịch Lào Choummaly Saygnasone, Trung Quốc đã trấn an rằng “các dự án đầu tư của Trung Quốc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Lào”. Nhưng việc Trung Quốc gia tăng sức mạnh quân sự và gây hấn trên Biển Đông thời gian qua đã khiến Lào bắt đầu cảm thấy “căng thẳng dưới cái bóng của người khổng lồ”. Các nhà quan sát đánh giá việc Lào cương quyết tỏ rõ thái độ là một lời nhắc nhở Bắc Kinh về tham vọng địa chính trị của họ.

Trung Quốc đang là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ nhì tại Lào (sau Việt Nam), với số vốn đầu tư 2,71 tỉ USD trong 397 dự án tại Lào năm ngoái. Phần lớn đầu tư của Trung Quốc trong các lĩnh vực thuỷ điện và khai thác mỏ. 300.000 công nhân Trung Quốc hiện đang định cư tại Lào, là nguy cơ gây bất ổn xã hội cho nước này.
Nghiêng về đầu tư của Hàn Quốc và các nước

Thủ tướng Lào Thongsing Thammavong cho biết Hàn Quốc đang tăng cường đầu tư, giao thương, cho vay và viện trợ không hoàn lại đối với Lào. Ngày càng nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư tại Lào trong các lĩnh vực từ nông nghiệp, lâm nghiệp đến ngân hàng và thương mại. Xe Hàn Quốc đang trở nên phổ biến tại Lào.

Hàn Quốc đã giúp Lào mở cửa thị trường chứng khoán đầu tiên vào tháng 1.2011 với hai công ty niêm yết. Sở Giao dịch chứng khoán Hàn Quốc phối hợp với ngân hàng Trung ương Lào điều hành sàn giao dịch.

Hàn Quốc đang là nhà đầu tư lớn thứ tư tại Lào (sau Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan), với tổng giá trị đầu tư 631 triệu USD từ năm 1995 – 2011. Kim ngạch song phương giữa Lào và Hàn Quốc đạt 132 triệu USD.

Chính phủ Lào đánh giá cao việc Hàn Quốc giúp phát triển nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, công nghệ, tài chính ngân hàng, và phát triển kinh tế dựa trên cơ chế thị trường. Từ năm 1995, tổng giá trị viện trợ không hoàn lại từ Hàn Quốc sang Lào đã lên tới 48,3 triệu USD. Quan trọng hơn, với Viêng Chăn, đầu tư của Hàn Quốc cũng như Việt Nam hay Thái Lan không có mặt trái đáng lo ngại như Trung Quốc.
Nguồn:
SGTT, ASIA SENTINEL, ASIA NEWS NETWORK

Xã hội câm lặng


Hy Văn
Khi bàn đến lý tưởng sống, tôi đã từng nói  trong bài Bối rối vì thiếu lập trường về dân chủ. Nhưng sống theo lý tưởng vẫn là cái gì đó rất xa lạ với xã hội hôm nay. Thử tìm kiếm lý do, gặng mãi tôi mới tìm được một đáp án: đó chính là quan điểm các giá trị xã hội đang làm ù lỳ sức sống của một dân tộc vốn có lòng yêu nước mãnh liệt. Chỉ có hệ thống quan điểm giá trị mới làm nên một xã hội tốt đẹp hay tồi tệ.
Giá trị và chuẩn mực
Quan điểm giá trị là gì? Hiểu một cách sơ đẳng đó là những ước định về đạo đức, vật chất, tinh thần, quyền, nghĩa vụ,… được cấu thành làm mục đích sống, lao động và hưởng thụ. Quan điểm giá trị có tính chất chi phối, định hướng tất cả hoạt động hàng ngày của mỗi chúng ta. Cấu trúc của xã hội được hình thành thông qua các quan điểm giá trị nhưng hệ thống hóa thông qua thể chế chính trị. Văn hóa ViệtNamhay bất cứ nước nào trên thế giới chẳng qua là sản phẩm của sự tích tụ của các quan điểm giá trị theo thời gian. Quan điểm giá trị làm nên các tác phẩm hội họa, thơ ca, kiến trúc, tín ngưỡng và tôn giáo,… Khởi nguồn của một nền văn minh chính là khi những giá trị có tính chất đột phá được cộng đồng nuôi dưỡng và thống nhất gìn giữ, lực lượng đứng đầu cộng đồng này có vai trò dẫn dắt và phát huy sức mạnh để giúp dân tộc đó đạt đến bến bờ vinh quang. Đế chế La Mã được gây dựng trên quan điểm các giá trị cộng hòa; đế chế Trung Hoa là sự phát huy sức mạnh của các giá trị thống nhất; đế chế Nhật lấy trọng tâm từ sức mạnh của các giá trị kỷ luật; đế chế Mỹ được gây dựng trên sức mạnh của các giá trị tự do,… Và trong sự không ngừng của dòng chảy lịch sử, đặc biệt là sự giao thoa văn hóa mạnh mẽ như hiện nay, các quan điểm mang tính chất bảo thủ và khép kín chỉ làm cho dân tộc đó tiến nhanh về bóng đêm nô lệ.
Hệ thống quan điểm giá trị mà dân chúng nước ta lấy làm phương châm sống không gì khác đó chính là: sự ổn định. Sự ổn định được giới lãnh đạo nêu ra như là kinh nghiệm nội chiến liên miên trong lịch sử, còn dân chúng lấy sự ổn định vì tâm lý ngại va chạm cọ xát, thiếu bản lĩnh để khẳng định mình. Vì sự ổn định mà tay có thể bịt mắt, miệng luôn ậm ờ, tai vì thế cũng chả buồn nghe ngóng xem điều hay lẽ phải. Đó là một xã hội câm lặng.
Điểm thiếu lớn nhất của xã hội ta lại là sống không có chuẩn mực. Chuẩn mực thực ra chính là nguyên tắc sống và hoạt động của mỗi cá nhân, tổ chức hay xã hội. Bấy lâu nay nhìn chung xã hội ta chỉ có luật pháp và quyền lực thực thi chứ chưa có một hệ thống chuẩn mực được quy định bởi chính bản thân mỗi cá nhân, được cá nhân chấp hành mà không phải chịu bất cứ sự ràng buộc nào cả. Việc thiếu chuẩn mực không những thể hiện mỗi chúng ta chưa trưởng thành về mặt tư duy và đạo đức mà còn tạo nên một vòng kim cô ngăn ngừa mọi sự đấu tranh chống áp bức.
Hai vấn đề giá trị ổn định và không chuẩn mực đi đêm, kết hợp với nhau làm cho đất nước ta nghèo hèn đi. Tôi lấy một ví dụ: một ông bạn quan bị vợ cắm sừng, một ngày xấu trời ông nhìn thấy vợ ngủ với sếp của mình, ông ta nổi khùng lên nhưng suy đi tính lại dấu nhẹm chuyện đi. Nguyên cớ là: ông ta sợ người ngoài cười chê hay nói trắng ra là sỹ diện ảo, ông ta sợ ảnh hưởng đến đường quan lộ như vậy là hèn nhát, ông ta nghĩ nếu làm bung ra sẽ không tốt cho con cái thì đó là lừa dối… Tất cả lý do không những cho ta thấy quan điểm ổn định đã làm thoái hóa dạo đức xã hội; vì thiếu chuẩn mực nên khi gặp chuyện khó khăn ông ta chọn giải pháp thoái lui. Đó chỉ là trường hợp nhỏ, chứ bây giờ giả sử có chiến tranh mà vẫn suy nghĩ đắn đo vậy thì liệu ông ta cầm súng chiến đấu có bắn được quân thù hay không? Vậy cho nên  nếu có ai lo lắng quốc gia đang ngày một lâm vong cũng chẳng phải là thừa.
Chí khí độc lập
Tình trạng quan điểm giá trị xã hội chống lại xu thế thời đại hiện được dân chúng mặc nhiên thừa nhận không khác gì một bản “khế ước” chôn vùi mọi dự án triển vọng nay mai. Có nhiều nhà thơ, nhà văn hay kiến trúc sư cứ đổ lỗi mãi cho hệ thống chính trị, cách hưởng thụ của xã hội làm cho họ không có được tác phẩm kiệt xuất. Nói như vậy là bao biện, là tự khẳng định cái yếu kém của mình nhưng lại không dám thừa nhận điều đó. Sản phẩm văn hóa hay, nghệ thuật độc đáo chỉ đạt được khi tác giả đó có một quan điểm giá trị đặc biệt, vượt lên khỏi mọi sự ràng buộc mang tính ước lệ xung quanh và đặc biệt phải có chí khí độc lập. Có chí khí độc lập thì sức sống, sức sáng tạo của mỗi con người mới được phát huy. Và đó cũng là cách duy nhất để khẳng định mình, khẳng định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia trong thời đại mở.
Độc lập cá nhân ở một phạm trù lớn hơn so với tự do cá nhân, vì muốn có được tự do thì không chắc chắn tự bản thân anh làm ra, có khi được ban tặng, còn độc lập cá nhân nhất thiết anh phải tự tạo ra. Sống, làm việc theo quan điểm giá trị, chuẩn mực mới có thể đạt và duy trì được thành quả này. Bấy lâu nay nhiều bậc trí thức tỏ ra khá đắg cay và bất lực cho xã hội ViệtNam, một mặt sống trong chế độ cưc quyền, mặt khác lại luôn cảm thấy mình cô đơn và lạc lõng vì tiếng nói đấu tranh, cải cách giáo dục không được xã hội hưởng ứng. Họ đổ lỗi cho “nước Việt mình nó vậy”, đó là vì họ rong ruổi phần ngọn, trong khi phần gốc: gây dựng quan điểm giá trị bị xem thường. Muốn có dân chúng theo mình, chính quyền lắng nghe thì phải khai sáng cho họ. Có lẽ từ khai sáng khi dịch sang tiếng Việt mang hơi hướng trịch thượng, nên người ta ngại dùng, ngại làm. Nếu ai còn nhìn nhận như vậy tôi mong rằng họ thay đổi ngay. Khai sáng đó là sự chia sẻ các quan điểm giá trị cho những người xung quanh nhằm phá hủy những thành trì hủ hậu, giúp mỗi cá nhân đạt đến cái đích sống độc lập và có chí khí.
Trong chế độ chuyên quyền, giới cầm quyền sợ nhất chính là dân chúng sống có chí khí độc lập, họ thường áp đặt quan điểm: tự do dân chủ có thể gây ra bạo loạn, mâu thuẫn, ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc. Đó là sự lừa dối trắng trợn, vì khi cá nhân độc lập hay trưởng thành về nhận thức thì bản thân họ cân nhắc rất kỹ mọi vấn đề liên quan đến tương lai của họ. Thay vì chính quyền phải luôn lo lắng thay dân chúng, hãy để dân chúng tự lo lắng thay chính quyền về các quyết định của họ. Thay vì khống chế dân chúng trong một cái rọ, hãy để dân chúng tự xây dựng một ngôi nhà có các giá trị sống và chuẩn mực tốt đẹp. Một ngôi nhà vững bền như vậy thì có gì mà còn phải  lo lắng về sự đoàn kết của một dân tộc biết vươn vai đứng dậy.
Văn minh chờ đón
Một quốc gia văn minh thì sự bắt đầu là cái học. Bấy lâu nay, học hành và tri thức luôn cản bước những suy tư, hành động và việc làm của chúng ta. Dù có hoài bão lớn đến đâu, tri thức mà không có thì chắc chắn chả làm được gì. Cái sự bất lực thường đưa chúng ta hướng ngoại, ỷ thế bên ngoài để gìn giữ nền độc lập, trạng thái độc lập mà nội lực luôn yếu kém sẽ nhanh chóng  phụ thuộc. Mới đây chúng ta thấy ông Nguyễn Phú Trọng sang Bắc Kinh diện kiến lãnh đạo Bắc Kinh mà cảm thấy tủi hổ, ngài lãnh đạo của một đất nước chín mươi triệu dân đưa hai tay nồng ấm, đối lại chỉ là một bàn tay lạnh toát từ ông Hồ Cẩm Đào. Chẳng những vị thế của chúng ta thật là thấp hèn trong mắt của lãnh đạo Trung Quốc, mà dân tộc ta cũng dễ bị thế giới cười chê. Nhưng khách quan mà nhìn nhận, với sự lệ thuộc hệ tư tưởng mấy nghìn năm nay (do điều kiện khách quan và cả chủ quan), chúng ta khó có thể có được nhiều hơn thế từ một dân tộc vốn cho mình cái quyền trịch thượng, đàn anh. Chúng ta muốn yên thân để phát triển theo cách riêng của mình, nhưng họ vẫn không coi trọng, vậy chúng ta nên làm gì. Chỉ có cách xóa bỏ sự ổn định mang tính chất cưỡng ép và tự sướng bấy lâu nay mà thay đổi lại các quan điểm giá trị, tự ta tạo niềm hứng khởi và nguồn lực từ tri thức, nhiệt huyết cho ta. Chỉ có sự dấn thân, sự hy sinh gạt bỏ những giá trị không đáng, mở đường cho tự do, độc lập vững bền. Đó là văn minh, cái đích của quan điểm giá trị sống!
Nguồn: Bauxite VN