Thứ Bảy, ngày 12 tháng 11 năm 2011

Các cháu chỉ muốn đi học

Một bài viết cảm động của nhà báo Nicholas D. Kristof, báo The New York Times, về gương phấn đấu học của mấy chị em nhà nghèo ở Thủ Thừa. Thông điệp về giáo dục mà tác giả muốn nhắn nhủ tới chính phủ Mỹ nghe ra cũng bổ ích cho các quan nước ta. Vì tác giả không bỏ dấu tiếng Việt, nên mình chỉ ước đoán tên nhân vật trong bản dịch.
Nicholas D. Kristof
Phụng (giữa) với em trai Tiến, và em gái Hương. Ảnh của Nicholas D. Kristof/The New York Times
Đôi khi ta hiểu đất nước ta rõ hơn khi nhìn từ phương xa. Tôi chợt nghĩ vậy khi ghé thăm một căn chòi nhỏ ở vùng hẻo lánh thuộc Đồng bằng sông Cứu Long ở Việt Nam.
Những ngày trong tuần, gia đình nghèo khó này có chủ hộ là Đào Ngọc Phụng, một cô bé 14 tuổi thiếu ăn. Cô bé người nhỏ thó, chỉ cao 1,5 mét và nặng 44 kg.
Thế nhưng, nếu Phụng yếu ớt đến đau lòng, cháu lại mạnh mẽ đến đáng phục. Ta sẽ hiểu rõ những thách thức mà nước Mỹ đang đối mặt về khả năng cạnh tranh toàn cầu khi ta biết rằng Phụng ám ảnh về chuyện học hành đến độ mỗi ngày cháu để đồng hồ báo thức dậy lúc 3 giờ sáng.
Cháu khẽ khàng thức dậy để tránh làm mất giấc ngủ của em trai và em gái cùng ngủ chung giường, rồi cháu vừa nấu cơm bữa sáng vừa ôn bài.
Má cháu mất vì ung thư một năm trước, để lại cho gia đình món nợ tương đương 1.500 đô. Ba cháu, Đào Văn Hiệp, là thợ mộc, thương con và quyết tâm bằng mọi giá cho con đi học, nhưng ông lên thành phố đi làm để có thể trả nợ. Bởi vậy, trong tuần, Phụng như một bà mẹ độc thân chỉ mới học lớp chín.
Phụng đánh thức hai em, rồi sau khi ăn sáng cả ba chị em gò lưng đạp xe tới trường. Với Phụng, như vậy nghĩa là 90 phút đạp xe mỗi lượt. Cháu tới trường sớm 20 phút để khỏi bị trễ.
Học xong, ba chị em đi bắt cá để cái ăn bữa tối. Phụng tự đảm nhận những việc nặng trong nhà, như dọn rửa cầu tiêu, nhưng cháu không ngần ngại phạt em trai Tiến, 9 tuổi, và em gái Hương, 12 tuổi. Khi Tiến không nghe lời chị mà đi chơi với mấy bạn xấu, Phụng đánh em bằng roi.
Tuy nhiên, phần lớn cháu luôn dịu dàng, đặc biệt khi Tiến nhớ má. “Con cố gắng an ủi nó,” cháu kể, “nhưng rồi cả ba chị em ôm nhau khóc.”
Phụng ao ước học đại học và làm nghề kế toán. Đó là một giấc mơ gần như bất khả thi đối với một cô gái nhà quê, nhưng ở các nước Đông Á, người nghèo thường bù đắp cho túi tiền hạn hẹp của mình bằng nỗ lực cần mẫn đáng kinh ngạc và lòng tin gan lì cho rằng học vấn có thể thay đổi số phận. Nỗi ám ảnh say mê học hành là một di sản của Khổng giáo – một truyền thống 2.500 năm tôn sư trọng đạo, đề cao việc học và thi cử trọng tài năng. Đó là một lý do tại sao những nước Khổng giáo như Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam là những quốc gia đạt thành tích xuất sắc nhất thế giới về đấu tranh chống nghèo đói.
Phụng xin ba cho tiền học thêm toán và tiếng Anh. Ba cháu nhỏ nhẹ giải thích rằng tiền học – khoảng 40 đô mỗi năm – đắt quá không kham nổi.
(Với những ai muốn giúp đỡ Phụng, một quỹ hỗ trợ tên là Room to Read đã được lập để giúp cháu và những cháu gái hoàn cảnh tương tự; xem chi tiết trên blog của tôi, nytimes.com/ontheground, hoặc trên Facebook.com/Kristof.)
Tôi ước gì người Mỹ chúng ta có thể hấp thu phần nào lòng tôn trọng học vấn của cháu Phụng. Mỹ, từng là nước dẫn đầu thế giới về tỉ lệ đi học trung học và đại học, đã tụt hậu về cả hai mặt này kể từ thập niên 1970. Trong 27 nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) mà chúng ta có số liệu, Mỹ hiện nay xếp thứ 23 về tỉ lệ tốt nghiệp trung học.
Đành rằng trường ở Châu Á không khuyến khích sáng tạo, và các cháu gái Việt Nam đôi lúc bị coi như công dân hạng hai, phải nghỉ học để giúp gia đình. Nhưng giáo dục thường ưu tiên hàng đầu ở Đông Á, đối với tất cả mọi người từ nguyên thủ cho tới nông dân.
Giáo viên tại những trường có vấn đề ở Mỹ than phiền với tôi rằng phụ huynh ít khi đi họp. Ngược lại, ba của Phụng nghỉ một ngày làm, và dành một ngày lương trả tiền xe để đi họp phụ huynh.
“Nếu tôi nghỉ làm, tôi mất chút tiền,” ông nói. “Nhưng nếu con tôi chểnh mảng học hành, tụi nó mất hy vọng trong cuộc sống. Tôi muốn biết con mình học hành ra sao.”
“Tôi dặn con rằng tụi tôi không có đất đai để lại cho tụi nó khi tụi nó lớn lên,” ông nói tiếp. “Bởi vậy, cái duy nhất mà tôi có thể cho tụi nó học vấn.”
Bất chấp bao khác biệt giữa Việt Nam và Mỹ, có một sự thật chung thế này: cách tốt nhất để duy trì khả năng cạnh tranh của một quốc gia là gầy dựng vốn con người. Tôi ước gì người Mỹ chúng ta, đặc biệt là các chính khách, có thể học được từ cháu Phụng rằng sức mạnh lâu dài của chúng ta sẽ phụ thuộc ít hơn các hàng không mẫu hạm của chúng ta, mà nhiều hơn vào sự vững mạnh của các nhà trẻ của chúng ta, phụ thuộc ít hơn vào việc đổ tiền cho các vệ tinh do thám gián điệp, mà nhiều hơn vào việc tài trợ cho các trợ cấp Pell [trợ cấp liên bang của Bộ Giáo dục Mỹ dành cho sinh viên gia đình thu nhập thấp - N.D.].
Phụng hiểu điều này rõ hơn Quốc hội Mỹ. Hàng ngày, cháu giúp hai em làm bài tập trước, rồi làm bài của mình. Có khi tới 11 giờ đêm cháu mới đi ngủ, để rồi bốn tiếng sau lại thức dậy.
Chủ nhật, Phụng thường ngủ nướng. Cháu kể: “5 giờ con mới dậy.”
Bản tiếng Anh: Girls Just Want to Go to School, The New York Times, 10/11/2011.
Bản tiếng Việt: PVLH, Blog lên đông xuống đoài,

Ông già ozon và bà Bộ trưởng

Đào Tuấn
TS Nguyễn Văn Khải, người “xin chữa tay chân miệng miễn phí” cho những đứa trẻ đã giận dữ thực sự với ngành y tế Ninh Thuận. Khi liên hệ để tự nguyện giúp dân dập dịch, “ông già Ozon” nhận ngay một gáo nước lạnh khi ông giám đốc sở Y tế lạnh lùng nói đang bận họp.
“Chẳng lẽ cái cuộc họp của ông ta quan trọng hơn sinh mạng của hàng trăm đứa trẻ?… nếu ông Giám đốc Sở Y tế tỉnh Ninh Thuận coi việc tôi muốn cứu chữa cho dân như là “chào hàng” thì thật vô lương tâm” “- TS Khải nói.
Và Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến, khi bị báo chí truy dồn bên hành lang Quốc hội vẫn tiếp tục nói cứng rằng: Bộ Y tế sẽ công bố dịch nếu có thêm một tỉnh công bố dịch.
Tại sao cứ phải cố chấp và máy móc đến mức cứ phải “thêm một tỉnh” khi mà những khảo sát của Viện Pasteur Nha Trang tại 11 tỉnh miền Trung cho thấy hầu hết các tỉnh đã đủ điều kiện công bố dịch. Phát biểu trên Tuổi trẻ, Phó Viện trưởng Viên Quang Mai cho rằng: “Khi mức độ ca mắc bệnh tăng ít nhất gấp ba lần các năm trước đó, xuất hiện nhiều ca bệnh nặng, tử vong hơn trước là có thể công bố dịch. Chứ yêu cầu thêm “vượt khả năng ứng phó của ngành y tế địa phương” thì chung chung và quá trừu tượng, khó đánh giá, khó công bố dịch”.
“Ông già Ozon” không phải là Bộ trưởng, không phải là giám đốc sở y tế, cũng không khoác áo lương y, không bị ràng buộc bởi “Lời thề Hyppocrates”, nhưng từ vài tháng nay, ông bỏ tiền túi đi chữa bệnh cho bà con từ Bắc chí Nam. TS Khải từng cam kết nếu không chữa khỏi cho những đứa trẻ, chỉ bằng những chai nước muối điện đơn giản, ông cam kết sẽ ngồi tù. Rất đơn giản là ngoài sự quan tâm đối với đồng bào, ông không sợ trách nhiệm.
Đáng ra, người cam kết sẽ chặn được dịch, sẽ không để thêm bất kỳ một đứa trẻ nào nữa phải chết phải là bà Bộ trưởng, như chính trách nhiệm của Bộ Y tế. Còn nhớ vào ngày 25-10, trong tình trạng toàn quốc có 76.000 ca mắc bệnh tay chân miệng và 137 đứa trẻ chết vì bệnh, Bộ trưởng Bộ Y tế bất ngờ tuyên bố “Đã kiểm soát được dịch TCM”.
Sau lời tuyên bố của bà Bộ trưởng vừa đúng 10 ngày, hoàn toàn không bất ngờ, Ninh Thuận, địa phương đầu tiên trong cả nước công bố dịch tay chân miệng trên địa bàn.
Cần phải nhắc lại, trong chính cái ngày mà bà Tiến nhậm chức, số ca nhiễm bệnh mới chỉ là 30.700 và cũng mới chỉ có 81 gia đình tan tác vì mất con. Con số đó giờ đã lên tới Có kiểm soát được dịch hay không, có vượt khả năng ứng phó hay không, dường như tự những con số đã nói lên tất cả.
Có bậc từ mẫu nào lại có thể tính nhiều ít đối với những cái chết của những đứa trẻ? Và còn cần bao nhiêu đứa trẻ nữa phải chết thì Bộ Y tế mới thừa nhận “vượt khả năng ứng phó”?
Có lẽ không khó để lý giải vì sao ngành y tế và cá nhân bà Bộ trưởng lại sợ công bố dịch đến như vậy. Là bởi chính ngành y tế cũng không có thuốc đặc trị cho căn sợ trách nhiệm của mình. Họ thậm chí còn không đủ tính táo để cân nhắc xem điều gì đáng sợ hơn: Giữa việc thêm, không biết bao nhiêu mới dừng- những đứa trẻ sẽ phải chết, và một dòng trong báo cáo cuối năm, rằng đã để xảy ra dịch.
Trong Hải Thượng y tông tâm lĩnh, Hải Thượng Lãn Ông viết: Thấy bệnh khó, đáng lý phải nói thật rồi hết sức cứu chữa nhưng lại sợ mang tiếng là không biết thuốc, vả lại, chưa chắc đã thành công, mà đã như vậy thì không được hậu lợi, nên kiên quyết không chịu chữa đến nỗi người ta bó tay chịu chết, đó là tội bất nhân.
Nếu còn sống đến bây giờ, có lẽ ông phải thêm một điều trong y huấn cách ngôn: Không thể mang tính mạng người bệnh để so với bất cứ điều gì, nhất là những thứ chung chung như “ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội” hay những con số đẹp trong bản thành tích mỗi cuối năm.
Hôm qua, ở Phù Mỹ, Bình Định, hàng trăm người dân đã bao vây Trung tâm y tế huyện trước cái chết thê thảm của một đứa trẻ 10 tuổi được cho là chỉ “viêm họng”. Khi gia đình gọi cấp cứu vào lúc 5h sáng, nhân viên y tế thậm chí còn không ra khỏi phòng trực. Ngay cả khi gia đình xin chuyển viện, còn bị bác sĩ chửi mắng rằng: Viêm họng thì làm sao phải chuyển.
Hình như sự tận tụy đối với những lương y, những bậc vẫn vỗ ngực cho mình là “từ mẫu”, giờ đây đã trở nên quá xa xỉ, thậm chí đã tiệt chủng!

Tản mạn chuyện thời gian

Khuya nay (2 giờ sáng chủ nhật 6/11), hầu hết các khu vực Bắc Mỹ chấm dứt kỳ tiết kiệm giờ ban ngày trong mùa hè, và đổi ngược lại giờ bình thường. Vặn đồng hồ ngược lại 1 tiếng, tự nhiên cứ như mình lời được 1 giờ. Năm nào, dịp này báo chí cũng đặt câu hỏi “Bạn làm gì với 1 giờ dôi ra đó?”; câu trả lời phổ biến nhất vẫn là ngủ nướng sáng chủ nhật cho đã cơn. Năm nay, mình dùng giờ dư ra này lục lại mấy bài viết hồi xưa về chuyện thời gian để đưa lên blog hầu chuyện bà con cô bác.

Thời gian là gì?

Những xã hội nguyên thủy có thể đã sắp xếp cuộc sống của mình bằng những quan niệm đơn giản “trước” và “sau” tuần trăng, mùa, mặt trời mọc và mặt trời lặn. Đối với những xã hội tân tiến, khái niệm thời gian ngày càng phức tạp. Xuyên suốt tất cả những ý tưởng của chúng ta về thời gian là hai quan niệm tương phản nhau. Thứ nhất, thời gian là một đường thẳng gồm những sự kiện, phút, giờ, ngày, tháng, năm riêng biệt, mỗi đơn vị trôi qua trong một chuỗi nối tiếp nhau không bao giờ kết thúc. Thứ hai, thời gian là một vòng tròn, tuần hoàn đều đặn trong đó 60 phút trong một giờ, 24 giờ trong một ngày, 7 ngày trong một tuần v.v… cứ lặp đi lặp lại.

Theo thần thoại Hy Lạp, con Nhân sư, một quái vật mặt phụ nữ mình sư tử và có cánh chim, đã đố tất cả những du khách trên đường đến thành Thebes: “Sinh vật nào buổi sáng đi bốn chân, buổi trưa đi hai chân, và buổi chiều đi ba chân?” Ai không trả lời được đều bị nó ăn thịt. Tuy nhiên, Oedipus đã đáp đúng: “Con người”, và Nhân sư phải tự sát. Ông ta đã hiểu ra rằng câu đố này là một ẩn dụ về thời gian. Đi bốn chân là hình ảnh một đứa bé đang bò, hai chân là một người trưởng thành, và ba chân là một người già chống gậy. Chỉ cần nghĩ đến một chuỗi thời gian lâu dài hơn là giải được. Ông cũng hiểu rằng các kiểu định hướng thời gian được nén gọn bên trong câu đố này, và ngôn từ cho phép ta làm chuyện đó.

Khi tạo ra những công cụ nhân tạo để đo lường thời gian, chúng ta định hình kinh nghiệm của mình về thời gian. Ta có thể phân biệt giữa thời hạn và chuỗi nối tiếp, và bằng la bàn có thể phân định rạch ròi về thời gian thiên văn, thời gian để trái đất quay quanh mặt trời. Ta có thể nhìn nhận thời gian theo cách cố định như thế này dựa vào chuyển động của trái đất; hoặc có thể nhìn nhận thời gian theo kinh nghiệm chủ quan; trên một chiếc máy bay phản lực, vị trí của “con chim sắt” đôi khi thể hiện trên một bản đồ trái đất, dường như ta đang bò chậm như rùa đến đích.

Thánh Augustine từng nhận định rằng thời gian nếu xem như một hiện tượng chủ quan có thể rất khác so với thời gian nếu xem như một khái niệm trừu tượng. Nếu thời gian ở dạng trừu tượng, ta chẳng thể biết tương lai vì nó không ở đây, và cũng chẳng biết mặt mũi quá khứ là gì. Ta có thể có ký ức, có kỷ niệm, nhưng diễm xưa đã xa rồi còn đâu thấy nữa. Điều duy nhất hiện hữu là hiện tại, đó là con đường duy nhất về quá khứ và đến tương lai. Augustine viết: “Do đó, hiện tại có ba chiều: hiện tại của những chuyện quá khứ, hiện tại của những chuyện hiện tại và hiện tại của những chuyện tương lai”.

Những dị biệt văn hóa có liên quan đến thời gian

Như đã nói, thời gian có thể được xem như một đường thẳng gồm những sự kiện theo trình tự diễn ra với khoảng cách đều đặn. Hoặc cũng có thể xem thời gian như một vòng tuần hoàn, nén quá khứ, hiện tại và tương lai dựa theo những điểm tương đồng giữa chúng: bốn mùa và các nhịp điệu. Những ai theo quan điểm thứ nhất sẽ tuân thủ trình tự, bất cứ xáo trộn nào về trình tự sẽ khiến cho họ cảm thấy “long thể bất an”. Cứ thử chen ngang một hàng người xếp một quầy vé ở Anh chẳng hạn; lập tức bạn sẽ “lãnh đủ” những lời phản đối hoặc chí ít cũng là những ánh mắt bực tức như muốn nói “Đồ thiếu văn hóa!”. Ai cũng phải đợi đến lượt mình; trâu chậm uống nước đục, như vậy mới là “biết điều”. Tại Luân Đôn, nhà nghiên cứu văn hóa Fons Trompenaars đã từng thấy một hàng người đang đợi xe buýt thì trời mưa như trút nước. Tất cả đều tỉnh queo … đội mưa đứng đợi, bất chấp mình mẩy ướt nhẹp. Mặc dù mái che ở sát ngay đó nhưng không ai chạy vào núp mưa vì sợ mất chỗ. Họ thích hành động một cách đúng đắn hơn là có hành động đúng đắn. Ở Hà Lan, ta có thể là ông hoàng bà chúa, nhưng nếu đang giữ chỗ thứ 46 trong hàng người xếp trước quầy bán thịt mà ta bước lên đòi được phục vụ khi chỉ mới gọi đến số 12, thì coi như ta tự chuốc họa vào thân. Gấp gáp hả, rách việc; thứ tự là thứ tự. Đi từ A đến B theo đường thẳng với nỗ lực tối thiểu và đạt kết quả tối đa được xem là hiệu quả. Nhược điểm của lối tư duy này (phổ biến ở Tây Bắc Âu và Bắc Mỹ) là “đường thẳng” không phải luôn luôn tối ưu: nó không thấy được tính hiệu quả của những hoạt động được chia sẻ và những mối liên kết chéo.

Những người có quan điểm đồng bộ hóa thích làm nhiều việc song song, giống như một diễn viên xiếc tung hứng 6 quả bóng cùng lúc. Họ có một mục tiêu cuối cùng rõ ràng, nhưng có nhiều bước khác nhau và có thể hoán đổi cho nhau để đạt đến đích, thậm chí có thể “nhảy cóc”. Ngược lại, người thích theo trình tự vạch ra một con đường rõ ràng với những mốc thời gian để hoàn tất từng giai đoạn. Họ không muốn lịch trình bị xáo trộn bởi những biến cố bất ngờ. Trong cuốn Ngôn ngữ thầm lặng, nhà nghiên cứu Hall cho biết những nhà thương thảo người Nhật thường đề nghị giảm giá hoặc đưa ra điều khoản đòi ưu đãi sau khi các đối tác người Mỹ đã xác nhận đặt vé máy bay từ Tokyo về nước. Để tránh đảo lộn lịch làm việc, người Mỹ thường đành phải nhượng bộ những đòi hỏi của người Nhật.

Phong cách làm việc đồng bộ là điều khác thường đối với người thích trình tự. Trompenaars có lần mua vé máy bay tại một quầy ở Argentina; cô nhân viên vừa viết vé (rất chính xác) vừa nói chuyện điện thoại với một cô bạn và hết lời khen đứa con của người bạn. Người làm nhiều việc cùng một lúc có thể (hoàn toàn vô tình) xúc phạm những ai chỉ quen làm mỗi lúc một việc. Tương tự, người làm từng việc một có thể (hoàn toàn vô tình) xúc phạm những ai quen nhiều việc cùng một lúc. Sau chuyến đi Hà Lan để gặp xếp, lúc về nước, một giám đốc Hàn Quốc kể lại cú sốc và nỗi thất vọng của mình: “Ông ta đang nói chuyện điện thoại thì tôi bước vào. Ông ta chỉ giơ tay khẽ chào tôi, rồi rất bất lịch sự tiếp tục nói chuyện cứ như thể tôi không có trong văn phòng. Mãi đến năm phút sau, khi nói chuyện xong, ông ta mới đứng dậy chào tôi rất nồng nhiệt nhưng chẳng chân thành chút nào: ‘Chào Kim, hân hạnh được gặp anh’. Tôi thật không tin nổi.”

Đối với người đồng bộ, nếu không được chào hỏi tự nhiên và tức thời, thậm chí khi người kia đang bận điện thoại, thì coi như bị khi dễ. Nếu ta “trình tự hóa” các cảm xúc của mình và tạm trì hoãn biểu lộ chúng cho đến khi mọi việc khác được giải quyết xong, thì coi như ta không chân thành với họ. Ta cần phải chứng tỏ ta quý họ bằng cách dành thời gian cho họ, cho dù họ từ trên trời rơi xuống.

Người thuộc týp trình tự sắp đặt thời gian biểu rất chặt chẽ, sít sao. Thật là bất lịch sự nếu ta đến trễ dù chỉ vài phút vì lịch trình cả ngày làm việc sẽ bị ảnh hưởng. Thời gian được xem như một hàng hóa cần được dùng triệt để, và sự chậm trễ cướp mất của họ những giây phút quý báu trong một thế giới “thời gian là tiền bạc”.

Những nền văn hóa đồng bộ ít chú trọng đến việc đúng giờ; ở đó đúng giờ có nghĩa là có thể xê xích chút ít. Chẳng phải vì họ không biết thời gian tựa bóng câu qua cửa sổ, mà vì có nhiều giá trị văn hóa khác “cạnh tranh” với tính đúng giờ. Thường họ cần phải dành thời gian cho những người mà mình có quan hệ đặc biệt. Đang bù đầu với công việc mà mẹ, người yêu hay bạn bè thình lình xuất hiện, thì ta cũng ráng mà tươi cười trò chuyện, hỏi han. Công việc túi bụi không phải là cái cớ để “lơ đẹp” hay “hẹn lần khác”; bằng không, họ sẽ cảm thấy bị xúc phạm. Nhà nhân chủng học người Pháp Raymond Carroll kể về một cô gái Mỹ viết giấy nhắn cho người yêu Pháp: “Anh có thể cho em biết tối nay anh có muốn gặp em hay không? Nếu không, em sẽ có những kế hoạch khác.” Anh chàng người Pháp “quê độ”, vì theo anh ta, đã yêu nhau thì phải luôn dành thời gian cho nhau, không thể nào để thời gian biểu của cô chen vào mối quan hệ tình cảm của họ. Vì đủ thứ lý do như thế, giờ hẹn gặp có thể chỉ mang tính xấp xỉ trong những nền văn hóa đồng bộ. Biên độ thì mỗi nơi mỗi khác; ở các nước châu Âu La tinh có thể xê xích chừng 15 phút, còn ở Trung Đông và châu Phi có thể xê xích … một buổi hay một ngày. Vì hầu hết những người có cuộc hẹn đều có những hoạt động khác song song, nếu ta bắt họ phải đợi thì cũng chẳng phiền hà gì, và nếu ta đến trễ có khi lại hay, thuận tiện cho họ có thời gian cho những hoạt động chưa lên kế hoạch.

Ngay cả việc chuẩn bị tiệc tùng cũng bị ảnh hưởng bởi cách định hướng thời gian. Ở các nền văn hóa tuân thủ trình tự và đúng giờ, người ta thường chuẩn bị đúng chính xác lượng thức ăn cần dùng, và sửa soạn sao cho đồ ăn sẽ bị hư hoặc nguội lạnh nếu thực khách đến trễ. Ở các nền văn hóa đồng bộ, thức ăn thường được chuẩn bị dư thừa để phòng khi có thêm khách bất ngờ đến dự, và thức ăn phải là loại khó hư, hoặc được chế biến theo ý muốn của khách.

Thời gian có ý nghĩa không chỉ với từng cá nhân mà còn đối với các tập thể hay các nền văn hóa. Emile Durkheim, nhà xã hội học người Pháp, xem thời gian là một cấu trúc xã hội giúp cho những thành viên của một nền văn hóa phối hợp những hoạt động của mình. Điều này có những ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh kinh doanh. Thời gian hẹn gặp hay thời hạn hợp đồng đã được thỏa thuận có thể chỉ là xấp xỉ hoặc chính xác. Nếu ta được giao một công việc với thời hạn 1 tuần, thì cũng tùy xếp của mình thuộc nền văn hóa nào mà ta có thể hiểu 1 tuần là đúng 1 tuần phải làm xong, hay đó chỉ là khoảng thời gian gợi ý. Ngày giao hàng có thể lệch vài ngày so với ngày ghi trên hợp đồng, nhưng cũng có khi có điều khoản nghiêm khắc phạt hàng ngàn đô-la nếu chậm trễ một ngày.

Trích từ tập sách “Một góc nhìn kinh doanh“(trang 146-151), NXB Trẻ 2005. Bài gốc đăng trên tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, số đặc biệt Xuân Kỷ Mão 1999.

Theo Lên đông xuống đoài blog

Thứ Sáu, ngày 11 tháng 11 năm 2011

Lào kiên quyết xây đập thủy điện trên sông Mekong

Quốc Việt
Trong lúc người dân Châu Á đang cùng chống lũ lụt thì Lào là quốc gia âm thầm xây dựng đập thủy điện Xayaburi đã và đang vận động, tìm kiếm sự ủng hộ từ các quốc gia thuộc Ủy hội sông Mekong để xây dựng đập Xayaburi hợp pháp dựa trên báo cáo mới nhất của một Công ty Thụy Sĩ.
Giám đốc chương trình Đông Nam Á của Tổ chức Sông ngòi quốc tế (International River) nói chính phủ Lào đang vận động và tìm kiếm sự ủng hộ từ các nước thành viên của Ủy hội sông Mekong (MRC) để thông qua dự án đập thủy điện Xayaburi tại cuộc họp cấp Bộ trưởng sẽ diễn ra vào ngày 7/12 ở tỉnh Siem Reap của Campuchia.
Cuộc vận động và tìm kiếm sự ủng hộ nói trên đã bắt đầu sau khi chính phủ Lào có được một báo cáo của công ty Thụy Sĩ Poyry Energy AG cho rằng đập thủy điện Xayaburi không gây tác động đến môi trường, không gây hại đến người Lào, và những người dân của các nước láng giềng sống dựa vào sông Mekong.
Báo cáo này còn khuyến cáo nên được xây dựng đập vì mối quan tâm của các nước láng giềng về dự án đã được giải quyết.
Bản đồ chỉ vị trí sẽ xây đập thủy điện Xayaburi trên dòng Mekong
Giám đốc chương trình Đông Nam Á của Tổ chức Sông ngòi quốc tế bà Ame Trandem nói với RFA ngày 10/11 rằng báo cáo của công ty Poyry là một báo cáo thiếu khoa học và dựa vào phỏng đoán. Đó là một cơ sở không phù hợp để ra quyết định về đập Xayaburi.
Công ty Poyry tuyên bố rằng dự án phù hợp với hướng dẫn của Ủy hội sông Mekong, mặc dù danh sách trên 40 nghiên cứu khoa học và kỹ thuật chủ yếu vẫn cần phải được hoàn thành. Điều này sẽ cho thấy phần nào là vô trách nhiệm của chính phủ Lào và các quốc gia láng giềng nếu hỗ trợ đập Xayaburi dựa trên những tuyên bố sai lầm của báo cáo nói trên. Bà Ame Trandem nói:
“Trước đó cả Thái Lan, Campuchia và Việt Nam đều bày tỏ sự quan ngại sâu sắc về tác động của dự án. Chúng tôi đã có rất nhiều bằng chứng khẳng định rằng đập Xayaburi vẫn chưa thể khởi công lúc này vì sẽ làm ảnh hưởng đến đời sống của dân, tác động rất mạnh đến môi trường, làm giảm hệ sinh thái, nguồn tài nguyên cá…
Điều này chúng ta đều biết chính phủ Campuchia và Việt Nam từng lên tiếng yêu cầu Lào hoãn lại dự án trước đây và tôi tin rằng tại cuộc họp sắp tới chính phủ Campuchia và Việt Nam sẽ thể hiện đúng vai trò và trách nhiệm của mình liên quan đập Xayaburi.”

Chúng tôi đã có rất nhiều bằng chứng khẳng định rằng đập Xayaburi vẫn chưa thể khởi công lúc này vì sẽ làm ảnh hưởng đến đời sống của dân, tác động rất mạnh đến môi trường, làm giảm hệ sinh thái, nguồn tài nguyên cá…
Bà Ame Trandem
Theo tổ chức Sông ngòi quốc tế, hiện nay Lào đang tiến hành xây dựng đập Xayaburi, bất chấp sự cáo buộc chính phủ đang đơn phương phá vỡ Hiệp định Mekong năm 1995 giữa các quốc gia thuộc Ủy hội sông Mekong gồm Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam.
Bà Ame Trandem hy vọng tại cuộc họp cấp Bộ trưởng sắp tới, các quốc gia thành viên sẽ yêu cầu Lào gia hạn thêm thời gian tham vấn ít nhất 10 năm nhằm cung cấp thêm thông tin chi tiết về dự án trên trước khi đi đến quyết định chung.
Được biết, Dự án Xayaburi là một trong số 12 dự án đập thủy điện nằm trên dòng sông Mekong. Đập dự kiến dài 810 mét, cao 32 mét, công suất dự kiến 1.260 MW và hầu hết sản lượng điện của dự án trị giá 3,5 tỷ USD sẽ bán cho Thái Lan.
Nguồn: RFA
Xem thêm loạt bài về đập thủy điện Xayaburi trên HDTG
“Cất một tiếng nói cứu con sông Mẹ”
Mekong và cuộc chiến nguồn nước
Sông Mekong: Thách thức từ mất rừng và chuyển nước
Sóng thần trên dòng Mê Kông?
Đập Xayaburi: Bắt đầu cho kết thúc của dòng Mê Kông?
Mối đe dọa từ đập Xayaburi
Đập Xayaburi đánh bạc với sinh kế của hàng triệu người
Đập thủy điện Xayaburi và trách nhiệm xã hội

Chúng ta đang xẻ thịt Tổ quốc mình để sống

Ngô Minh
Cách đây vài ba năm, báo chí đưa tin làm tôi giật mình: Đến năm 2012, Việt Nam phải nhập than đá ! Thế mà đến năm 2011, nước ta đã phải nhập hàng nghìn tấn than đá từ nước ngoài. Ai cũng lo, ai cũng bức xúc. Ôi thuở ấu thơ tôi được các thầy dạy :” Việt Nam ta rừng vàng biển bạc”. Bây giờ thì sắp cạn rồi sao ? Nhìn lại đối mới từ năm 1986 đến nay, một thực trạng đau lòng đang diễn ra khắp nơi : Chúng ta đã khai thác, buôn bán tài nguyên quốc gia một cách ồ ạt, vô tội vạ. Dường như thu nhập GDP đất nước đều do buôn bán tài nguyên mà có, còn hàng hoá sản phẩm mang hàm lượng chất xám cao chiếm tỷ lệ không đáng kể. Nghĩa là từ “đổi mới” đến nay, chúng ta đang sống nhờ bán tài nguyên, chứ chẳng làm được thương hiệu gì bền vững có tầm cỡ thế giới cả. Nhìn qua Hồng Kông, Ma Cao,Singapore , Nhật Bản… mà thương cho đất nước mình. Người ta chẳng có nhiều tài nguyên khoáng sản, sao người ta giàu thế . Còn mình bán tài nguyên mà ăn, rồi con cháu vài thế hệ sau ăn không khí à ?
Tài nguyên quốc gia do mồ hôi xướng máu bao đời giành được gồm : trời, đất , núi, nước, rừng, biển, khoáng sản và môi trường. Trong hoà bình xây dựng 30 năm nay, do ấu trĩ trong nhận thức và non kém về quản lý, chúng ta tiếp tục tàn phá tài nguyên dữ dội hơn, nặng nề hơn . Hình thế núi sông Việt Nam đang thấy đổi từng ngày, đang bị cày xới nham nhở !
20 năm qua có rất nhiều “phong trào” bán tài nguyên để “làm ngân sách” xảy ra rầm rộ. Như khai thác gỗ rừng để xuất khẩu ồ ạt. Quốc doanh khai thác xuất khẩu, “hợp tác xã” khác thác xuất khẩu, tư nhân núp bóng nhà nước khai thác, xuất khẩu…Gỗ cứ kìn kìn từ rừng miền Trung, rừng Tây Nguyên đổ về các cảng biển. Các đầu nậu gỗ, những người cấp phép khai thác gỗ, cấp quota xuất khẩu gỗ giàu lên từng ngày một. Đến khi “ngộ ra”, ban hành lệnh cấm, thì rừng đã bị “ “bán ăn” gần hết. Thế là lại phải “làm dự án” trồng 5 triệu hec-ta rừng gần chục năm nay vẫn không thành .
Hết rừng rồi thì bán đất rừng. Hơn 300.000 héc ta rừng đầu nguồn đã bị các tỉnh bán cho doanh nhân Trung Quốc khai thác 50 năm. Nghĩa là 50 năm năm , chúng muốn biến mảnh đất rừng đó thành căn cứ quân sự, lô cốt, hầm ngầm.v.v… là quyền của họ. Hết nước rồi non nước ơi !
Bán hết rừng đến bán khoáng sản dầu thô, than đá, cát, quặng ti-tan, quang a-pa-tít, quặng vàng…Nghe thông tin báo chí về việc xuất khẩu than lậu ở Quảng Ninh mà choáng váng . Trữ lượng than của ta ở Quảng Ninh có được bao lăm mà hô hào thành tích “ khai thác và xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước”?; rồi quản lý yếu kém để cho hàng trăm công ty “ma” xuất khẩu than lậu một lúc hàng trăm tàu. Sao coi tài nguyên quốc gia “như vỏ hến” vậy ?
Người bán gỗ, bán than, thì có kẻ lại bán núi, bán đất ruộng làm giàu. Xem ra bán núi bán đất dễ giàu có hơn. Trong những chuyến đi thực tế ở vùng Đông Bác hay Thanh Hóa, Ninh Bình…, tôi thấy nhiều ngọn núi bị san bằng trơ trọi, để khai thác đá sản xuất xi măng, đá xây dựng. Bây gìờ tỉnh nào cũng hai ba nhà máy xi măng, hàng chục công trường khái thác đá hàng ngày ra sức san phá núi. Có tỉnh bán luôn cả ngọn núi cho nước ngoài làm xi măng, không chỉ bán phần dương mà còn bán cả phần âm tới 30 mét sâu, nghĩa là 50 năm sau, núi thành hồ ! Hình sông thế núi Việt Nam ngàn đời hũng vĩ , bây giờ đang bị xẻ thịt nham nhở. Liệu con cháu tương lai sẽ sống như thế nào, có còn hình dung ra nước non Việt tươi đẹp xưa nữa không, khi mà quanh chúng núi non bị gậm nhấm, thân thể Tổ Quốc ghẻ lở, xác xơ ?. Tài nguyên của mình, nước ngoài đến khai thác rồi chế biến thành sản phẩm xuất khẩu của họ, trong lúc hình hài non sông bị xâm hại. “Bán núi” để ăn như thế có đau núi quá không?
“Bán đất” mới là cuộc tỉ thí với tương lai khủng khiếp nhất. Tỉnh nào cũng có vài ba Khu công nghiêp, nhưng chẳng làm ra sản phẩm xuất khẩu nào có thương hiệu cả vì máy móc lạc hậu, bán trong nước cũng chẳng ai mua . Tỉnh nào cũng có ba bốm sân golf. Rồi dự án mở rộng đô thị lên gấp đôi gấp ba, dự án khu biệt thư, …đang làm cho đất nông nghiệp, đất trồng lúa trong cả nước, đất trồng cây ăn trái ở Nam Bộ đang thu hẹp với tốc độ chóng mặt. mỗi năm có từ 73.000- 120.000 ha đất nông nghiệp bị thu hồi, bịu chuyển đổi. Mở rộng đô thị thì đất ruộng thành đất thành phố, bán với giá cao hơn. Đua nhau mà ăn chia, lấn chiếm, đẩy nông dân ra khởi mảnh đất ngàn đời sinh sống của họ. Thế là khẩu hiệu của Cộng Sản “dân cày có ruộng” thành trò đùa lịch sử.
Vì mục tiêu tăng GDP, tăng thu ngân sách , các tỉnh đang thi nhau bán đất nông nghiệp một cách vô tội vạ . Mất đất, chỉ nông dân và nhà nước là thua thiệt. Ruộng mình đó, đất mình đó, bỗng nhiên bị mất trắng tay . Tiền đền bù giá bèo không đủ mua đất mới để xây nhà, nói chi đến làm ăn sinh sống
Hết bán rừng, than, ti-tan, đá, người ta con bán cả bo-xit Tây Nguyên, thứ mà cách đây mấy chục năm, khối Comicom ( Khối kinh tế các nước XHCN) đã ngăn không cho khai thác, họ sợ làm hư hỏng môi trường và văn hóa Tây Nguyên. Nhưng bây giờ thì bất cần tương lai Tây Nguyên , bất cần hàng ngàn trí thức tâm huyết với đất nước kịch liệt phản đối, họ vẫn khai thác. Nhưng, bọn người được quyền đầu tư khai thác ấy lại là bọn giặc truyền kiếp phương Bắc ngàn đời của Dân tộc ta mới đau, mới lo chứ.Chúng thâm hiểm lắm, người ơi. Chúng mang hàng ngàn người ( dân binh ?) vào Tây Nguyên, với kế hoạch làm chủ tây Nguyên của Việt nam. Các nhà chiến lược quân sự thường nói :” Ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương”. Chao ôi, từ việc bán tài nguyên đến “bán nước” chỉ còn một khoảng cách mong manh như sợi chỉ !
Nước là loại tài nguyên quý giá cũng đang bị xâm hại nghiêm trọng. Hiện nay tất cả các con sông đều “đang chết dần” vì ô nhiễm do chất thải công nghiệp, bệnh viện chưa qua xử lý đều thải trực tiếp ra sông. Mạch nước ngầm đang xuống thấp chưa từng có do khai vô tội vạ. Rồi “phong trào” phát triển thuỷ điện tùm lum làm cho mực nước ở đồng bằng giảm xuống. Đến cả sông Hồng cũng cạn trơ đi bộ qua được. Có tỉnh làm đến hàng chục nhà máy thuỷ điện. Được điện thì mất lúa vì đất đai khô cằn không có nước tưới, bị sa mạc hoá không trồng lúa, trồng màu được. Muốn phát điện thì mực nước tích ở hồ phải cao hơn mực nước chết. Ví dụ Hồ thuỷ điện Hoà Bình bình thường mực nước cao 115 mét. Mực nước chết cao 80 mét. Nghĩa là để có điện, phải tích nước cao hơn 80 mét. Cái lượng “nước chết” cao 80 mét ấy chứa hàng tỷ mét khối không thể đổ về những cánh đồng lúa được, thì ruộng khô hạn là phải ! Mùa lũ, nhà máy điện xả lũ để bảo vệ đập, thế là không chỉ xóm làng mà cả xá cũng ngập chìm trong nước. Làm thủy điện vô tội vạ cũng là một cách “ăn tài nguyên nước” qua dự án đầu tư. Không “ăn” dự án thì các quan huyện, quan tỉnh, quan trung ương tiền đâu mà làm nhà lầu, mua xe hơi, sống cuộc sống giàu sang phú quý, cho con đi học các trường nổi tiêngs thế giới như Ha-vớt, Sóc-bon ?
Chúng tôi khẩn thiết đề nghị Chính phủ và chính quyền các địa phương phải có một chiến lược khai thác tài nguyên lâu dài và chỉ đạo thực hiện thật quyết liệt mới mong không bắn đại bác vào tương lai. Chúng tôi đề nghị :
– Kiểm kê lại tài nguyên đất nước để có kế hoạch bảo vệ. Quy hoạch chi tiết ngay các vùng đất nông nghiệp lâu dài, vùng núi non hung vĩ, và cấm tiệt việc khai thác bừa bãi.
– Phải dừng ngay các dự án khai thác Bo-xít Tây Nguyên vì với sự án này, người Trung Quốc không cần bo-xít , cái mà họ cần là địa bàn Tây Nguyên, đó là điều mà nhiều trí thức lớn đã phân tích, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã có thư cảnh báo. Phải thu hồi các diện tích đất rừng bị bán cho nước ngoài, dù phải bồi thường hợp đồng , vì chúng đang đe dọa đến vận mạng, sự sống còn của đất nước.
-Hạn chế tối đa, kiểm tra chặt chẽ các dự án đầu tư FDI vào lĩnh vực khai thác tài nguyên ( như xi măng, quặng ti tan, và các loại khoáng vật khác ) , khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực có hàm lượng chất xám cao như công nghệ thông tin, sản xuất hàng tiêu dùng. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài để làm giàu cho đất nước. Chúng ta phải hướng nền kinh tế theo cách làm của Nhật Bản, Singapor , Hồng Kong, những nước ít tài nguyên nhưng biết cách làm giàu bằng trí tuệ.
Ôi, giá mà tiếng kêu của tôi đến được tai những người đang cầm vận mệnh đất nước trong tay .
N.M
Nguồn: Ngô Minh blog

Gian, tham, ngu, ác, mắc câu, ‘giãy chết’?

Trần Minh Thảo
Chuyên gia tư vấn kinh tế Nguyễn xuân Nghĩa đặt câu hỏi: Hiệp định xuyên Thái Bình Dương một vòng đai vây quanh Trung Quốc?
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific partnership-TPP) là dự định của khoảng 14 quốc gia quanh Thái Bình Dương, trong đó 3 nước sáng lập là Chile, Newzealand, Singapore; nước tiếp theo là Brunei; 5 nước xin gia nhập tiếp là Hoa Kỳ, Úc, Việt Nam, Peru, Malaysia; 5 quốc gia quan sát viên có khả năng xin gia nhập chính thức kỳ này là Canada, Nhật, Hàn quốc, Đài Loan, Philippines. Điểm lại, Trung Hoa là nước đứng ngoài. Hoa kỳ vào sau nhưng lại chủ động thúc đẩy hình thành khối kinh tế này trong Hội nghị APEC tới đây (12-13/11/2011).
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa nói, Hiệp ước kinh tế tự do (bỏ hàng rào thuế quan) không có Trung Quốc tham gia vì các quốc gia tham dự không công nhận hệ thống kinh tế quốc doanh của Trung Quốc là kinh tế thị trường tự do.
Việt Nam sẽ gặp thử thách và sẽ là cơ hội… chứng tỏ được mình. Để được gia nhập Hiệp ước này thì Việt Nam phải từ bỏ kinh tế quốc doanh, phải thoát ly sự lệ thuộc kinh tế Trung Quốc. Nếu không muốn hay không được tham gia Hiệp ước này hẳn chứng tỏ đảng, nhà nước Việt Nam còn muốn giữ chặt hệ thống kinh tế quốc doanh vì đặc quyền, đặc lợi và tự nguyện đời đời nương bóng Trung Hoa anh em. Đó là việc ‘chờ xem’ trong vài ngày tới.
TPP là vòng vây kinh tế đối với Trung Quốc và cả Việt Nam, nếu…
Ngoài vòng đai ‘đối tác xuyên Thái Bình Dương’ sắp hình thành, nhiều nhà nghiên cứu quốc tế cũng cho rằng thế giới đã hình thành một vành đai địa chính trị ngăn chặn hiểm họa bành trướng Bắc Kinh có mắt xích yếu là ViệtNam, Lào, Campuchia, Miến Điện,Pakistan…
Từ câu hỏi của ông Nguyễn Xuân Nghĩa, ta lại có câu hỏi tiếp: Tại sao loài người tiến bộ, yêu chuộng hòa bình lại có nhu cầu về một ‘vòng đai’ bao vây chủ nghĩa bành trướng Đại Hán?
Trong nhiều cách lý giải, tôi thấy cách sau đây là gần với sự thật và rất am hiểu ‘văn hóa chính trị Đại Hán’: do chủ nghĩa ấy GIAN,THAM, NGU, ÁC.
Ai gian, ngu, tham, ác? Dân tộc Hán không ngu mà cũng không tham. Dân tộc Hán thuộc loại văn minh sớm nhất của nhân loại, thông minh, cần cù, yêu chuộng hòa bình. Chính ‘quyền lực cai trị kiểu chủ tớ’ truyền thống bành trướng Đại Hán mới gian, ngu, tham, ác. Đã gian lại ngu, tham, ác nên thường mắc câu, tự chui vào bẫy và bị người dân trong nước, nhân loại oán ghét, tẩy chay.
Để chứng minh tập đoàn thống trị Đại Hán ‘Gian, Tham, Ngu, Ác, mắc câu, đang giãy chết’ thì cần một công trình nghiên cứu khoa học sâu rộng. Là người Việt bình thường, tôi thử lý giải ‘GIAN, NGU, THAM, ÁC, MẮC CÂU,GIÃY CHẾT’ của chủ nghĩa bành trướng đại Hán theo cách bình dân Việt.
Hoa Kỳ nợ Việt Nam những gì?
Năm 1972, Tổng thống Hoa kỳ Richard Nixon thăm Trung Quốc. Nixon, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai đồng thuận với nhau những gì vẫn còn nhiều điều chưa công khai. Sau chuyến thăm ấy người Mỹ rút quân khỏi ViệtNammột cách an toàn. Đến năm 1974, Bắc Kinh đưa quân đánh chiếm Hoàng Sa của ViệtNamdo Việt Nam Cộng hòa quản lý. VNCH nói Hoa Kỳ phản bội vì tàu chiến Hạm đội 7 đang trong khu vực mà không can thiệp giúp đồng minh VNCH.
Tháng 1 năm 1979, Đặng Tiểu Bình được Tổng thống Hoa kỳ Jimmy Carter hứa hẹn những gì chưa rõ thì đến tháng 2/1979 Trung Quốc xua quân qua biên giới ‘dạy cho ViệtNammột bài học’. Sau lần Trung Quốc ‘dạy ViệtNammột bài học’ ấy thì khối xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng dẫn đến vỡ tan.
Hoa Kỳ đã dùng miếng mồi ViệtNamcâu nhử con ác thú Trung Nam Hải vừa ngu vừa tham cắn câu (cũng như dùngAfghanistanlàm mồi nhử Liên Xô). Con ác thú mắc câu góp phần làm tan rã hệ thống chủ nghĩa xã hội mà chính nó, ngày nay đang giẫy giụa. Con ác thú bành trướng vừa ngu vừa tham giãy giụa tìm đường thoát, dân tộc Trung Hoa và nhân loại được, mất những gì?
Dư luận quốc tế cũng đang bàn tán việc Thủ tướng LB Nga V. Putin đưa ra mồi nhử ‘liên minh Âu Á’ với Trung Nam Hải. Có thể trong cơn bĩ cực, thế lực bành trướng Đại Hán do ngu và tham lại mắc câu người Nga.
Không có dân tộc nào ngu, chỉ có bọn cầm quyền tham lam nên bị người ta cho mắc câu, nuốt không vào, khạc không ra làm cho đất nước lâm cảnh khốn đốn.
Quả thật do gian, tham, ngu, ác chủ nghĩa bành trướng bị đối phương lừa đã nuốt miếng mồi Hoàng Sa, Trường sa, Biển Đông của ViệtNamnhưng nuốt không vào, khạc ra cũng chẳng được. Nuốt không vào, khạc không ra nên bày trò bài bây: ‘gác tranh chấp cùng khai thác’. Tưởng là kế sách dụ hoặc được người hóa ra lại tự chứng tỏ bản thân lâm thế lỡ cắn câu, mắc xương ngang cổ, thế giãy chết, bị loài người ghét bỏ. Gỡ bỏ cục xương mắc ngang cổ của chủ nghĩa bành trướng là việc của dân tộc Trung Hoa.
Việt Nam đòi nợ thế nào?
Thời gian qua đã có nhiều học giả, nhà nghiên cứu ViệtNamtrình bày kế sách phát triển đất nước. Hiểu theo cách nào đó là kế sách buộc Hoa Kỳ ‘trả nợ’, có trách nhiệm hỗ trợ Việt Nam giữ vững độc lập, chủ quyền, phát triển bền vững, giàu mạnh. Đó là kế sách đổi mới lần hai, là kế sách thoát Hán. Trước mắt là tham gia hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership- TPP) bằng cách thỏa mãn các điều kiện về kinh tế thị trường tự do, không liên quan gì đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.
Nước nhỏ, nghèo yếu, quyền lực cai trị lại tham lam, ngu hèn thì dễ bị nước lớn dùng làm mồi câu trong các thủ đoạn bang giao quốc tế. Đã thấy ra rồi thì nên xử sự có tư cách , không nên học thói ‘Chí Phèo’ làm mất thể diện quốc gia, lòng tự trọng, phẩm giá dân tộc, làm lỡ thời cơ của đất nước.
Nhân thời cơ thuận lợi, bọn bành trướng đang ‘mắc xương’, ‘giãy chết’, quyền lực cai trị nên chứng tỏ với dân ý chí độc lập, tự chủ, đồng hành với thế giới văn minh, sớm đưa đất nước thoát khỏi họa chìm thuyền cùng ‘chủ nghĩa bành trướng gian tham ngu ác’.
Đó là lòng dân.
T.M.T.
Nguồn: Bauxite VN

“Quần chúng tự phát”, cái gai trong thực thi dân chủ

Mặc Lâm
Quần chúng tự phát là nhóm từ đã có từ lâu trong các vụ đàn áo tôn giáo, đặc biệt là Công giáo nay đã xuất hiện trở lại trên báo Hà Nội Mới. Liệu hành động này nói lên điều gì đối với nền dân chủ tại Việt Nam?
Mặc Lâm phỏng vấn luật gia Lê Hiếu Đằng để tìm câu trả lời sau đây.
Mặc Lâm: Mới đây báo Hà Nội Mới bình luận việc hàng trăm quần chúng tự phát đã tràn vào đập phá nhà thờ Thái Hà do bức xúc việc nhà thờ đòi lại đất bệnh viện Đống Đa. Ông có cho rằng với truyền thống hiền hòa của dân tộc thì những quần chúng mà báo Hà Nội Mới gọi là tự phát này có phải là tự phát hay không?
Ô. Lê Hiếu Đằng: Tôi nhớ trước đây cái vụ Bát Nhã ở Lâm Đồng – Bảo Lộc cũng có một tình hình tương tự. Về mặt tôn giáo tôi không biết sự việc nó như thế nào nhưng tôi cho trách nhiệm của nhà nước là phải giữ gìn an ninh trật tự, thành ra nếu quả thật là quần chúng tự phát nhưng vào nhà thờ để mà làm như vậy thì trách nhiệm của nhà nước là phải dẹp chứ không thể để người ta làm như vậy được.
Nếu xảy ra đụng độ giữa giáo dân và số người tự phát đó thì tình hình sẽ phức tạp hơn. Tôi cho trong việc này đã tạo ra một số hoài nghi trong quần chúng là nhà nước dàn dựng. Việc này tôi thấy không nên, nó làm cho uy tín của chính quyền Hà Nội sẽ bị giảm sút.
Ô. Lê Hiếu Đằng
Thật ra tranh chấp giữa nhà thờ và nhà nước về vấn đề đất đai hiện nay đang còn tồn tại. Về nguyên tắc tôi biết ngay tại thành phố Hồ Chí Minh những cái gì mà mượn những gì phải trả lại vẫn còn nhiều. Theo trình bày của mấy vị linh mục Thái Hà thì đó là đất của nhà thờ và bây giờ biến thành bệnh viện hay cái gì đó thì tôi không biết rõ nhưng việc gọi là quần chúng tự phát với hàng trăm người vào đó thì lẽ ra công an phải can thiệp.
Bởi vì nếu xảy ra đụng độ giữa giáo dân và số người tự phát đó thì tình hình sẽ phức tạp hơn. Tôi cho trong việc này đã tạo ra một số hoài nghi trong quần chúng là nhà nước dàn dựng. Việc này tôi thấy không nên nó làm cho uy tín của chính quyền Hà Nội sẽ bị giảm sút.
Người ta đặt vấn đề tại sao biểu tình yêu nước, lý do rất là chính đáng thì anh lại dẹp? Anh dùng những biện pháp mạnh, anh huy động cả một lực lượng công an cảnh sát chìm nổi rất hùng hậu để đàn áp, dẹp biểu tình. Trong khi việc này cần sự thương lượng, đối thoại để tìm giải pháp thì anh lại dùng quần chúng tự phát để giải quyết? Tôi cho là việc làm này đứng về mặt quản lý nhà nước là không có trách nhiệm.
Vai trò của Ban tôn giáo chính phủ?
Mặc Lâm: Là người từng giữ chức Phó chủ tịch UBMTTQ thành phố ông nhận thấy vai trò của Ban tôn giáo Chính phủ có thực sự là gạch nối giữa chính quyền và tôn giáo hay không, và nếu chưa thì phải cải tổ như thế nào để giảm bớt căng thẳng giữa nhiều giáo hội và nhà nước như trong thời gian vừa qua?
Ô. Lê Hiếu Đằng: Đúng là vai trò của Ban Tôn giáo Chính phủ là phải hiểu hết những vấn đề của tôn giáo và phải thật sự khách quan trong việc đó để có tiếng nói có sức thuyết phục.
Nếu Ban Tôn giáo Chính phủ cũng đứng về mặt quản lý nhà nước để có những biện pháp này kia thì tôi cho là người ta không cần phải dựa vào Ban Tôn giáo Chính phủ nữa.
Tôi nhớ trường hợp trên Bảo Lộc cũng vậy, Ban Tôn giáo Chính phủ không có vai trò gì cả. Thành ra tôi cho rằng đã là Ban Tôn giáo Chính phủ thì anh phải khách quan, phải nhìn nhận vấn đề một cách trung thực chứ không phải vì anh là Ban Tôn giáo Chính phủ mà anh đứng về phía nhà nước, hay là anh bị vô hiệu hóa, hoặc anh thờ ơ không có ý kiến gì cả thì như vậy sẽ rất là tai hại và vai trò của Ban Tôn giáo Chính phủ sẽ rất hình thức không có ý nghĩa thực tiễn gì.
Mặc Lâm: Cho tới nay nhiều người bị bắt và giam giữ quá thời hạn quy định của luật cho phép mà thân nhân của họ không biết tin tức cũng như sự sống chết của họ điển hình như trường hợp của blogger Điếu Cày. Dưới quan điểm của một luật gia thì việc này có thể chấp nhận hay không và nếu không thì điều gì khiến ông quan ngại nhất?
Ô. Lê Hiếu Đằng: Tôi cho rằng việc bảo vệ quyền công dân là vấn đề rất lớn hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói nếu chúng ta có độc lập mà nhân dân không có tự do hạnh phúc thì cái độc lập đó không có ý nghĩa gì. Vì vậy khi chúng ta độc lập rồi thì các quyền tự do dân chủ của người dân phải được tôn trọng theo luật pháp.
Tôi phản đối bất cứ những ai bị bắt quá luật định, bị bắt không được xử một cách công khai minh bạch thì chính bản thân nhà nước lại vi phạm luật pháp thì điều này không thể chấp nhận được. Trường hợp anh Điếu Cầy hay bất cứ người nào cũng vậy thôi, bản thân tôi phản đối và tôi đề nghị chính quyền phải hết sức minh bạch và công khai trong việc bắt bớ giam giữ công dân.
Nếu họ có tội thật sự thì phải công khai minh bạch, tội đó là tội gì, bằng chứng ra sao? Còn nếu không thì phải thả họ ngay theo đúng quy định của luật pháp. Với tư cách quản lý nhà nước mà lại vi phạm luật pháp thì không chấp nhận được.
Tranh luận dân chủ: tại sao lại sợ?
Mặc Lâm: Ông đã tiếp xúc với nhiều người, nhiều giới và chia sẻ nguyện vọng cũng như ý kiến trái chiều của họ. Ông đánh giá thế nào về những ý kiến khác nhau đôi khi gay gắt này?
Ô. Lê Hiếu Đằng: Tôi nhớ trong một nghị quyết của Bộ Chính Trị trước đây có nói rằng trong xã hội thì vấn đề có những ý kiến khác nhau thì đây là việc tự nhiên, không có gì nghiêm trọng cả và phải tôn trọng những ý kiến khác nhau đó.
Tôi nghĩ trong xã hội dân chủ thì phải vậy. Nếu chúng ta chỉ một chiều, chúng ta nói một cách không thật, không có ý kiến phản biện của người dân, nhất là giới trí thức thì xã hội như vậy sẽ đi đến độc đoán mà chúng ta thường nói trở thành một nhà nước toàn trị.
Trong một nghị quyết của Bộ Chính Trị trước đây có nói rằng trong xã hội thì vấn đề có những ý kiến khác nhau thì đây là việc tự nhiên, không có gì nghiêm trọng cả và phải tôn trọng những ý kiến khác nhau đó. Tôi nghĩ trong xã hội dân chủ thì phải vậy.
Ô. Lê Hiếu Đằng
Vì vậy chính vì có nhiều ý kiến khác nhau, có phản biện xã hội và tạo nên xã hội công dân hiện nay là yêu cầu hết sức lớn của Việt Nam. Giữa nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự mới có sự giám sát để đi đến một nhà nước thật sự dân chủ.
Nếu chúng ta không có ý kiến đa chiều, ý kiến phản biện xã hội thì nhà nước sẽ trở thành độc đoán và các quyền tự do dân chủ của người dân sẽ bị hạn chế.
Vì vậy hiện nay nhân dịp sửa đổi hiến pháp nhiều trí thức trong nước cũng đặt vấn đề chính hiến pháp năm 1946 là hiến pháp rất tiến bộ vì đã tôn trọng tự do dân chủ của người dân và chúng ta cần nghiên cứu vì một số điều khoản trong hiến pháp mà hiện nay vẫn còn phù hợp, vẫn còn sức sống để tạo nên một xã hội dân chủ thật sự.
Một sự đồng thuận trong xã hội thật sự chứ không phải đồng thuận một cách giả tạo, một chiều như một số trường hợp hiện nay.
Ai trói tay, ai bịt miệng

Mặc Lâm: Thưa ông để tiếp tục câu chuyện về dân chủ hôm nay xin được nêu câu hỏi với ông, hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng hiến pháp năm 1946 là bản hiến pháp dân chủ nhất, điều này có ý nghĩa như thế nào thưa ông?
Ô. Lê Hiếu Đằng: Hiện nay nhân dịp sửa đổi hiến pháp nhiều trí thức trong nước cũng đặt vấn đề chính hiến pháp năm 1946 là hiến pháp rất tiến bộ vì đã tôn trọng tự do dân chủ của người dân và chúng ta cần nghiên cứu vì một số điều khoản trong hiến pháp mà hiện nay vẫn còn phù hợp, vẫn còn sức sống để tạo nên một xã hội dân chủ thật sự.
Một sự đồng thuận trong xã hội thật sự chứ không phải đồng thuận một cách giả tạo, một chiều như một số trường hợp hiện nay.

Mặc Lâm: Là một luật gia chắc ông cũng đồng ý rằng có quá nhiều luật được ghi trong hiến pháp nhưng thiếu văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện, như luật biểu tình chẳng hạn. Hay có văn bản nhưng lại sai lệch nội dung một cách nguy hiểm. Đây có phải là sự trì hoãn cố tình của các cơ quan trách nhiệm nhằm bảo vệ quyền lợi hay lợi ích nhóm của họ hay không thưa ông?
Ô. Lê Hiếu Đằng: Tôi cho rằng hiến pháp là văn bản cao nhất do đó nếu có văn bản hướng dẫn, hay văn bản dưới luật thì phải tôn trọng những điều khoản trong hiến pháp. Có trường hợp văn bản hướng dẫn lại đi ngược lại cái tinh thần của hiến pháp, của các bộ luật cơ bản.
Những văn bản dưới luật là cần thiết nhưng tôi nghĩ nên hạn chế bởi vì đôi lúc nó đi ngược lại hiến pháp và các bộ luật cơ bản.
Một số bộ luật cơ bản đã ghi rất cụ thể rồi, ví dụ tôi nói vấn đề biểu tình, đây là cái quyền của người dân, bây giờ chúng ta phải cần có luật để thể chế hóa, cụ thể thêm về luật biểu tình thì rất cần thiết thì mới đáp ứng được yêu cầu của người dân.
Hiện nay trào lưu dân chủ tiến bộ trên thế giới người dân Việt Nam người ta cũng hiểu rất nhiều bởi vì các phương tiện Internet, những thông tin rất phong phú và người dân thấy rằng nó là khuynh hướng không thể nào đi ngược lại.
Ô. Lê Hiếu Đằng
Trong khi đó thì Quốc hội lại có những cái luật vớ vẩn như luật nhà văn, trong khi một số luật mà quốc hội đặt vấn đề như luật Trưng cầu dân ý, Luật biểu tình và một số luật cần thiết khác thì lại không làm.
Tôi cho là những văn bản nào đi ngược lại với hiến pháp thì người dân có quyền tự mình áp dụng những điều khoản đã quy định trong các luật cơ bản. Còn những văn bản hướng dẫn dưới luật mà đi ngược lại hiến pháp thì chính nhà nước và chính phủ đã vi phạm những văn bản cao nhất tức là bộ luật cơ bản.

Mặc Lâm: Theo ông thì cách cảm nhận và ý thức dân chủ trong dân chúng nói chung và cán bộ đảng viên nói riêng có theo định hướng của đảng hay họ ý thức theo cách riêng?
Ô. Lê Hiếu Đằng: Tôi cho rằng hiện nay trào lưu dân chủ tiến bộ trên thế giới người dân Việt Nam người ta cũng hiểu rất nhiều bởi vì các phương tiện Internet, những thông tin rất phong phú và người dân thấy rằng nó là khuynh hướng không thể nào đi ngược lại.
Nếu đổi mới về kinh tế mà không đổi mới chính trị để có xã hội dân chủ thì nó sẽ đi đến chỗ kinh tế khó phát triển nhưng mà những lợi ích thì lại thuộc về các nhóm, vào tay các cá nhân chứ nó không đem lại lợi ích cho quần chúng.
Ví dụ bây giờ nhà nước đang chủ trương tái cơ cấu hệ thống ngân hàng nhưng thật ra chính những ngân hàng nó làm ẩu, nợ xấu tràn ngập bây giờ lại lấy tiền dân để giải cứu ngân hàng đó thì rất vô lý. Nó tương tự như trường hợp ở Mỹ.
Tôi tiếp xúc rất nhiều tầng lớp, người ta thấy rằng vấn đề sinh tử, sống còn hiện nay là dân chủ và tiếng nói của người dân sẽ quyết định vì quốc hội, các tổ chức mặt trận tổ quốc, các đoàn thể hiện nay còn rất hình thức.
Tôi tham dự rất nhiều cuộc họp thì thấy bản thân Đảng cộng sản Việt Nam cũng đánh giá vai trò hiện nay là hình thức. Điều này sẽ tạo nên bầu không khí mất dân chủ và người dân người ta thấy rằng không thể yên tâm sống trong một xã hội không được luật pháp bảo hộ.
Mặc Lâm: Theo nhận xét của ông thì người dân hiện nay có cho rằng việc trực tiếp tranh luận hay phản biện một vấn đề gì đó với một ông chủ tịch Xã hay Phường là quyền mà họ được hiến pháp bảo vệ hay không?
Ô. Lê Hiếu Đằng: Thật ra họ có ý thức về việc đó nhưng bây giờ trong xã hội Việt Nam có một vấn đề lớn là họ sợ. Họ sợ bởi vì đã có những trường hợp không biết lý do gì mà họ bị bắt, bị đe dọa, thậm chí con cái họ bị uy hiếp.
Có những người đi biểu tình vừa rồi thì bị đối xử như vậy thành ra vấn đề là họ rất muốn nhưng không dám. Chẳng hạn chung quanh vấn đề ruộng đất, đất đai là vấn đề rất lớn. Họ muốn đấu tranh để bảo vệ những quyền lợi của họ nhưng lại không dám.
Nếu trong một xã hội tôn trọng những cái quyền của người dân thật sự thì sẽ có những người đứng ra để mà đấu tranh phản biện lại với chính quyền, và tôi cho cái chuyện này là nên, miễn họ đấu tranh trong vòng trật tự, không làm xã hội rối loạn, không có những hành động quá khích thì như vậy chính quyền phải tôn trọng và xem đó là thước đo lòng dân đối với chủ trương chính sách của nhà nước chứ không nên xem đó như là một việc cấm kỵ.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.

Video: Giáo dân Thái Hà, Hà Nội yêu cầu Nhà nước trả lại tu viện
M.L.
Nguồn: RFA 

Thứ Năm, ngày 10 tháng 11 năm 2011

Trung Quốc và sự chuyển hướng mới tại Đông Á

Các quốc gia láng giềng của Trung Quốc rất lo sợ trước thái độ của Bắc Kinh. Một số nước như Việt Nam đã tiến gần về phía Hoa Kỳ… Và thế là Trung Quốc phải đối mặt trước bấy nhiêu quốc gia cùng đồng lòng chống lại mình. Đó là cơn ác mộng tệ hại nhất của nước này. Bắc Kinh đã quá tự phụ !
LND : Xin phép được giới thiệu bài phỏng vấn giáo sư Christopher R.Hughes bằng tiếng Pháp mang tựa đề « Về một sự chuyển hướng mới tại Đông Á » được đăng trên số chuyên đề « Một thế kỷ Trung Hoa » do báo Le Monde vừa phát hành. Giáo sư Christopher R.Hughes đang giảng dạy tại London School of Economics and Political Science, đã từng điều hành Trung tâm Nghiên cứu châu Á của trường từ 2002 đến 2005. Đây là trường đại học danh tiếng ở Anh, trong số các cựu sinh viên và giáo sư của trường đã có đến 16 người đoạt giải Nobel, 35 người trở thành nguyên thủ quốc gia.

Le Monde : Liệu Trung Quốc có một « chiến lược tầm cỡ » đối với phần còn lại của thế giới hay không ?

Christopher R. Hughes : Nhiều người cho rằng Trung Quốc không có « chiến lược tầm cỡ » nào, và tôi luôn ngạc nhiên vì họ lại nghĩ thế. Chắc chắn là Trung Quốc có tầm nhìn dài hạn, và đảng Cộng sản nước này luôn có tư duy chiến lược. Các nhà lãnh đạo trình bày tư duy chiến lược của họ vào mỗi dịp đại hội đảng. Hồ Cẩm Đào đã làm như thế trước đại hội đảng lần thứ 17, vào năm 2007.

Có ba mục tiêu được nêu rõ. Trước hết là vấn đề phát triển kinh tế Trung Quốc, vốn được quan tâm nhiều nhất. Thứ hai là vấn đề thống nhất quốc gia, có liên quan đến Đài Loan. Thứ ba là chống lại bá quyền, từ chối một thế giới đơn cực – trước kia là sự bành trướng của Liên Xô, còn bây giờ là Hoa Kỳ. Cũng là điều thú vị khi các mục tiêu này không hề thay đổi từ nhiều năm qua, trong khi vẫn thích ứng với những biến đổi trên thế giới.

Trong thập niên 80, Trung Quốc còn rất nghèo, nên khuyến khích đầu tư nội địa. Ngày nay thì ngược lại. Kể từ thập niên 90 và với việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng mạnh cho đến nỗi chưa bao giờ mối quan hệ với thế giới bên ngoài lại chặt chẽ đến thế. Các liên hệ này làm nảy sinh ra các vấn đề khác về chính sách ngoại giao : chính sách cung ứng nguyên vật liệu, chính sách đối với châu Phi, các vấn đề an ninh…

L.M. : Việc gia nhập WTO vào năm 2001 có nằm trong chiến lược này không ?

C.R.H. : Đây là một giai đoạn hết sức quan trọng, đánh dấu quá trình toàn cầu hóa của Trung Quốc. Từ khi trở thành thành viên WTO, Trung Quốc đã chuyển đổi từ một nền kinh tế công nghiệp nhẹ thành một nền kinh tế công nghiệp nặng. Đầu tư nước ngoài ồ ạt đổ vào, và Trung Quốc trở thành công xưởng thế giới. Tiêu thụ năng lượng ngay lập tức tăng cao, và ngay từ năm 2003, Bắc Kinh bắt đầu gặp vấn đề về nguồn cung năng lượng. Cũng trong giai đoạn này mà các công ty quốc doanh trong lãnh vực năng lượng đạt được quyền lực về chính trị.

Cộng đồng kinh doanh quốc tế thực sự tỉnh thức vào lúc này, vì trước đó họ chưa nhìn ra được các cơ hội làm ăn ở Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo Bắc Kinh đã thảo ra chiến lược « lối ra của Trung Quốc » ngay trước khi gia nhập WTO. Họ biết rằng tiền bạc sẽ tràn ngập, sẽ phải xuất khẩu rất nhiều và đầu tư ra nước ngoài.

L.M. : Theo lý thuyết của nhà chính trị học Mỹ John Mearsheimer, thì quốc gia mạnh nhất trong khu vực trước hết phải tìm cách thống trị khu vực, rồi mới tìm cách thống trị toàn bộ hệ thống quốc tế. Đây có phải là điều mà Trung Quốc đang làm ?

C.R.H. : Đối với Mearsheimer, các Nhà nước không thực sự có chọn lựa, hệ thống quốc tế thúc đẩy họ phải làm như thế. Càng hùng cường hơn thì thì người ta càng phải bảo đảm lợi ích và vòng xoáy ảnh hưởng, dẫn đến những cuộc xung đột không thể tránh khỏi với các cường quốc khác.

Điều này khá đúng, vì nhà cầm quyền Trung Quốc không muốn xung đột, nhất là đối với Hoa Kỳ. Đặng Tiểu Bình đã hoàn chỉnh chiến lược « tranh thủ thời gian và che giấu năng lực », vẫn đang được áp dụng.

Nhưng, như Mearsheimer đã nói, không phải lúc nào bạn cũng là người quyết định dấn thân vào xung đột. Trung Quốc cảm thấy yếu thế về nguồn cung năng lượng, do vấn đề eo biển Malacca, nên phải củng cố quốc phòng ở đây. Thế nhưng việc bảo vệ một nước này có thể cấu thành mối hăm dọa đối với một nước khác. Khi Mỹ, Nhật hay các nước ASEAN thấy Trung Quốc tăng cường năng lực quốc phòng, họ cảm thấy bị đe dọa. Vì thế dẫn đến tình trạng « tiến thoái lưỡng nan về an ninh » cổ điển, mỗi nước đều lo củng cố sức mạnh quốc phòng của mình.

L.M. : Có thể định ra một mốc thời gian cho sự chuyển biến này không ?

C.R.H. : Cho đến năm 2008, Trung Quốc vẫn theo một chính sách ngoại giao « mềm » mà không tạo ra kẻ thù, và họ đã xoay sở rất giỏi. Nhưng năm 2008 đã làm thay đổi tất cả. Một sự xoay chiều về tâm lý đã diễn ra ở Bắc Kinh, và rất khó duy trì chính sách thực dụng, không đối kháng trên đây. Tại sao lại là năm 2008 ? Có một loạt các sự kiện đã xảy ra.

Vào tháng Ba diễn ra cuộc bầu cử tại Đài Loan, rồi đến cuộc nổi dậy ở Tây Tạng, tiếp theo là sự căng thẳng xung quanh Thế vận hội Bắc Kinh, hành trình rước đuốc Olympic (đã bị phản đối dữ dội tại nhiều nước), làm xuất hiện một thế hệ thanh niên Trung Quốc phẫn nộ. Các thanh niên này chưa hề biết đến vụ thảm sát Thiên An Môn. Họ thấy đất nước họ đang cất cánh, người ta làm cho họ mơ một giấc mơ đại cường, Thế vận hội Bắc Kinh sẽ khiến Trung Quốc trở thành trung tâm của thế giới…Rồi bỗng nhiên lại bùng nổ phong trào chống đối Thế vận này tại nhiều nước. Lần đầu tiên, dọc theo lộ trình ngọn lửa Olympic, người ta thấy các thanh niên Trung Quốc sống ở nước ngoài đấu tranh ủng hộ Bắc Kinh. Bên cạnh đó là trận động đất ở Tứ Xuyên và các phát hiện về những trường học xây dựng ẩu, rồi vụ sữa nhiễm melamine khiến nạn tham nhũng bị lôi ra ánh sáng. Tất cả được lan rộng trên internet - và đây lại là một nhân tố khác.

Các sự kiện của năm 2008, được tô đậm thêm bằng cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ, dẫn đến một tình hình khác thường. Các lãnh đạo Trung Quốc vốn được xem là đại diện của quốc gia, bảo vệ quyền lợi dân tộc, bỗng bị mất thể diện khi tỏ ra bất lực trong việc bảo vệ trẻ em, trước một thế hệ đang rất cao vọng và tự hào.

Vì vậy mà những tiếng nói của giới quân sự và những người theo chủ nghĩa dân tộc bèn nổi lên : tại sao phải chịu nhục ? Tại sao lại đem tiền đi cho người Mỹ, thay vì đi mua 200 chiếc hàng không mẫu hạm ? Tại sao không thay đổi lãnh đạo ?

Bỗng chốc, do đảng chưa bao giờ dùng đến con đường chuyển đổi theo hướng dân chủ, nên cách duy nhất là lắng tai nghe các tiếng nói cứng rắn ấy. Đây có thể là cách giải thích cho thái độ kiên quyết đòi hỏi chủ quyền của Bắc Kinh trước Tokyo, hay tại Biển Đông.

L.M. : Từ lúc đó, Trung Quốc khẳng định mình nhiều hơn trên trường quốc tế ?

C.R.H. : Với cuộc khủng hoảng tài chính, Trung Quốc đã nhập cuộc nhiều hơn trong các hồ sơ quan trọng về tài chính và tiền tệ. Chẳng hạn như việc thay đổi tỉ lệ đồng đô ra trong rổ ngoại hối dự trữ, đưa ra nhiều yêu sách hơn trong hệ thống kinh tế quốc tế, hội nhập vào nhóm các nền kinh tế mới nổi BRIC. Rồi đến cuộc đối đầu trong thương lượng về môi trường ở Copenhague vào tháng 12/2009, thái độ khinh thường ông Obama…Tất cả nhằm gởi đi một thông điệp : « Đừng có đánh giá thấp chúng tôi ! ».

L.M. : Thông điệp này liệu đã được tăng cường thêm bằng việc sử dụng đến quyền lực mềm ?

C.R.H. : Mục tiêu của việc thành lập các Viện Khổng tử và trải rộng mạng lưới truyền thông Trung Quốc ở nước ngoài, là nhằm cải thiện hình ảnh của Bắc Kinh, phá vỡ sự độc quyền phương Tây về truyền thông đại chúng. Người Trung Quốc rất sốc trước việc thể hiện vấn đề Tây Tạng ; xử lý vấn đề nhân quyền của báo chí phương Tây, và muốn đưa ra phiên bản của mình.

Bắc Kinh không muốn bị xem như một mối đe dọa, muốn thay đổi cách nhìn của người ngoại quốc đối với Trung Quốc. Nay thì trong các hội nghị quốc tế về nhân quyền, ở những nơi mà chúng tôi có bốn đại biểu, thì Trung Quốc gởi đến những ba chục người, và họ được đào tạo chu đáo.

L.M. : Trọng lượng của phe dân tộc chủ nghĩa trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc như thế nào ?

C.R.H. : Đây là một nhân tố quan trọng, tuy người ta thường có xu hướng coi nhẹ. Trong số ba mục tiêu của đảng đã nêu ở trên, có một mục tiêu là về kinh tế, hai mục tiêu còn lại đều mang tính dân tộc chủ nghĩa. Vấn đề này chạm đến trái tim của người dân Trung Quốc, được khuyến khích bởi lịch sử và cung cách giáo dục về lịch sử như thế này : « Bổn phận thiêng liêng của chúng ta là thống nhất đất nước, và chúng ta có quan hệ đối kháng với bá quyền phương Tây ». Đảng lợi dụng điều này để củng cố tính chính đáng của mình, bên cạnh công cuộc phát triển kinh tế.

Năm 1989, sau phong trào phản kháng Thiên An Môn vốn diễn ra trên cái nền cuộc khủng hoảng kinh tế nặng nề ở Trung Quốc, đảng đã theo định hướng nặng tính dân tộc chủ nghĩa. Người ta đã dựng dậy Khổng Tử, tái thúc đẩy việc giáo dục lòng ái quốc. Các thành công về kinh tế hiện nay sẽ tăng cường hay làm giảm bớt chủ nghĩa dân tộc? Theo tôi, thì sẽ tăng cường, vì các thành tựu to lớn mà người Trung Quốc đạt được, khiến họ đặc biệt là giới trẻ, xem nước mình là một đại cường.

L.M. : Trung Quốc được coi như một cường quốc chủ trương giữ nguyên trạng, hơn là muốn thay đổi thế giới. Ông nghĩ sao ?

C.R.H. : Việc đòi lấy lại quần đảo Senkaku từ tay Nhật Bản phải chăng là nguyên trạng ? Ý định thống nhất với Đài Loan cũng là nguyên trạng chăng ? Còn việc muốn kiểm soát Biển Đông thì sao ?

Nếu Bắc Kinh muốn duy trì nguyên trạng trên cơ sở một sự cân bằng quyền lực, nghĩa là một dạng địa chính trị hồi thế kỷ 19, thì chắc là sẽ có, và khuynh hướng hiện nay là đang có một sự chuyển hướng mới ở Đông Á. Hoặc liệu Bắc Kinh có chịu chấp nhận thực tế là thế giới từ Đệ nhị Thế chiến đến nay đã thay đổi, rằng có những phương cách để chia sẻ vấn đề chủ quyền lãnh thổ, rằng có những mối quan ngại chính đáng về nhân quyền, về các quy tắc quốc tế và vấn đề an ninh ? Trung Quốc phải đuổi kịp với thế giới như nó đang hiện hữu, chứ không phải là cái thế giới của thế kỷ 19.

L.M. : Thế nào là sự chuyển hướng mới ở Đông Á?

C.R.H. : Từ năm 2008, Trung Quốc đã quấy nhiễu các nước láng giềng rất nhiều, qua các hành động gây áp lực lên Nhật Bản, Việt Nam, và cũng vì chính sách đối với Bắc Triều Tiên nữa. Kết quả là liên minh Nhật – Mỹ đang yếu đi, bỗng được củng cố. Ngay cả Nhật Bản và Hàn Quốc vốn ghét nhau, nay cũng đề cập đến việc tập trận quân sự chung. Việt Nam thì tiến gần về phía Hoa Kỳ và khuyến khích Mỹ nên tích cực hơn tại Biển Đông. Ấn Độ và các nước ASEAN cũng rất lo sợ trước thái độ của Bắc Kinh.

Một lần nữa, Hoa Kỳ lại được mời gọi tại một khu vực mà ông George W. Bush do quá bận rộn ở Trung Đông, đã bỏ rơi, mở ra cánh cửa cho Trung Quốc bước vào. Cùng với ông Obama, bà Hillary Clinton đã coi việc quay lại vùng Viễn Đông trên lãnh vực ngoại giao và quân sự, là một trong những ưu tiên của Mỹ. Và thế là Trung Quốc phải đối mặt trước bấy nhiêu quốc gia cùng đồng lòng chống lại mình. Đó là cơn ác mộng tệ hại nhất của nước này. Bắc Kinh đã quá tự phụ !

L.M. : Quan hệ Mỹ - Trung liệu có thể kế tục quan hệ Mỹ - Liên Xô trước đây, như là trụ cột của hệ thống quốc tế ?

C.R.H. : Liên Xô ít linh hoạt hơn nhiều, nặng về ý thức hệ hơn Trung Quốc nhiều. Tôi không nghĩ là sẽ có một cuộc chiến tranh lạnh trực diện giữa hai cường quốc quân sự là Trung Quốc và Hoa Kỳ. Có các tình thế bị quan hệ kinh tế làm ảnh hưởng, và đã từng xảy ra qua cuộc khủng hoảng tài chính do mất cân bằng thương mại giữa hai nước. Nhưng Washington và Bắc Kinh đã thiết lập một cơ chế đối thoại.

Câu hỏi đúng ra là : phần còn lại của thế giới sẽ xoay sở thế nào ? Ngay cả Liên hiệp châu Âu cũng chưa có ý kiến gì, mà châu Âu vốn là người phải trả giá đắt cho việc mất thăng bằng cán cân thương mại Trung – Mỹ, vì đô la xuống giá và đồng euro lên giá. Liên hiệp châu Âu cần phải đi những nước cờ năng động hơn, nhưng đương nhiên, vì châu Âu là châu Âu, nên đã không làm thế.

Như vậy chúng ta đã có một thế giới lưỡng cực, nhưng tôi không cho là lưỡng cực này lại trải rộng ra địa hạt quân sự. Nhất là vì Trung Quốc có rất ít bạn hữu, ngoài Bắc Triều Tiên ra, trong khi Liên Xô cũ có rất nhiều đồng minh trên khắp thế giới. Vì vậy mà Bắc Kinh phải sử dụng quyền lực mềm. Các quốc gia đang ve vãn sức mạnh kinh tế khổng lồ của Trung Quốc vẫn hướng về Hoa Kỳ để được bảo đảm trong vấn đề an ninh.
Nguồn: Thụy My RFI

Y Kẹo, thị Tấm

Đào Tuấn

Tấm sai người đào một cái hố, bảo con Cám tụt xuống rồi sai người đem nước sôi giội vào con Cám, con Cám chết còng queo dưới hố. Tấm đem xác con Cám làm mắm gửi cho dì ghẻ, nói là quà của con gái mụ gửi biếu. Mẹ con Cám tưởng là quà của con thật, lấy làm sung sướng, ngày nào mụ cũng giở mắm ra ăn, khen lấy khen để.

Một con quạ bén hơi, bay đến đậu trên nóc nhà, nhìn xuống kêu:

Ngon gì mà ngon, mẹ ăn thịt con, có còn xin miếng.

Mụ chửi bới quạ, xua đuổi con quạ bay đi. Đến ngày mắm gần hết, nhòm vào chĩnh, mụ mới nhìn thấy đầu lâu con mình…, uất lên, ngã vật xuống đất mà chết.”

Đây là đoạn kết của truyện Tấm Cám chính thống. Và gần đây được những người biên soạn SGK cắt bỏ bớt đoạn đem xác làm mắm gửi mẹ ăn. Có lẽ, vì đó là một hành vi quá thú tính, quá dã man, một tội ác ghê rợ, trong phần kết tàn khốc, của một trong những câu chuyện nổi tiếng mà không một người Việt nào không biết, không được học qua.

Nhân câu chuyện SGK sửa đoạn kết chuyện “Tấm cám”, trên một diễn đàn pháp luật, một câu hỏi được đặt ra: Cô tấm đã phạm tội gì? Câu trả lời là Tấm đã phạm tội giết người theo điều 93 BLHS với các tình tiết tăng nặng: i) Thực hiện tội phạm một cách man dợ và q)Vì động cơ đê hèn”. Có lẽ một cái án tử cho “thị Tấm” vẫn còn là quá nhẹ nhàng.

Tất nhiên, không thể dùng luật hình sự để truy cứu một hành vi trong văn học. Cũng như không thể dùng đạo đức hiện tại để xem lại quan niệm đạo đức của ngày xưa. Nhưng còn đúng hơn khi cái ác thì ở đâu, đời nào, cũng đáng phải bị lên án như nhau.

Một thạc sĩ ĐH Paris 7 viết trên VietNamNet: Tôi có đem câu chuyện Tấm Cám kể cho một người bạn Pháp, đến đoạn kết thúc, cô bạn Pháp hỏi tôi là khi còn bé nghe chuyện này tôi có ngủ được không?

Chắc chẳng có dân tộc nào lại có những câu chuyện ghê rợn đến như vậy để kể trước lúc bọn trẻ con đi ngủ.

Dân gian muốn cái ác phải bị diệt trừ tận gốc. Điều đó đúng. Nhưng không thể diệt trừ một cái ác bằng một tội ác ghê rợn hơn, khiến những đứa trẻ “được giáo dục” mất ngủ vì quá ghê sợ.

Bởi vậy, câu hỏi đặt ra hôm nay, thực ra cũng đã được đặt ra từ hàng chục năm trước- không phải là có nên sửa đoạn kết của câu chuyện hay không, mà phải là “Có nên để tồn tại cái ác, sự tàn nhẫn dã man trong SKG, loại sách vẫn được coi là mực thước giáo dục nhân cách con người từ khi họ còn là những tờ giấy trắng?”.

Sự tàn bạo không phải là ở cái chết, mà là cái cách giết chết. Cái ác có ngay trong hành vi giết người, nhưng sự phi nhân tính và sự ghê rợn của tội ác lại ở những hành vi sau đó, khi cô Tấm dịu hiền băm xác người làm mắm gửi về, nhấn mạnh là cho mẹ cô- dù đó là mẹ ghẻ.

Một Giáo sư- Viện trưởng đã bảo vệ cái kết độc ác này, khi phê phán việc bỏ nó trong SGK, rằng: Người đọc không thấy được hả hê cõi lòng khi thấy cái ác không bị trừng trị một cách thích đáng nhất.

Trong thời điểm xảy ra tranh cãi “Tấm cám”, trên facebook, Nickname “Kẹo mút chơi bời” đã post một đoạn tin sau: “Tin buồn! Chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin cụ già 60 tuổi đêm qua chúng tôi đâm xe máy, đã củ tỏi hồi 17h07. Anh em phang lô đề nhiệt tình đi, lão sinh năm 1953”. Không có tí stress nào khi đâm chết người. Chỉ thấy sự hả hê, khoái trá. Thái độ mà nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên gọi là sự hồn nhiên độc ác.

Sự hả hê này chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy ở những người sáng tạo ra đoạn kết tội ác trong câu chuyện Tấm cám và, một phần nào đó, ở những người đọc nó.

“Sự kiện Kẹo mút” còn tàn bạo ở chỗ trong rất nhiều status, y thản nhiên, và hả hê, rằng: Nhẹ cả người (khi nạn nhân chết) chứ lão sống thì khổ bọn tao. Sẽ có rất nhiều người thừa nhận đây là một thứ tâm lý xã hội chung với vô số những ví dụ.

CA Yên Bái đã triệu tập “Kẹo mút”. Câu hỏi đầu tiên, giờ đây chắc chắn là “Có học chuyện Tấm cám trong SGK không?” (Thay vì “Có chơi games online không)

Rất dễ hiểu: Chúng ta hắt mực tàu lên giấy trắng chúng ta sẽ phải nhận lại bức tranh đen đúa- những sản phẩm phi nhân tính.Tấm sai người đào một cái hố, bảo con Cám tụt xuống rồi sai người đem nước sôi giội vào con Cám, con Cám chết còng queo dưới hố. Tấm đem xác con Cám làm mắm gửi cho dì ghẻ, nói là quà của con gái mụ gửi biếu. Mẹ con Cám tưởng là quà của con thật, lấy làm sung sướng, ngày nào mụ cũng giở mắm ra ăn, khen lấy khen để.

Một con quạ bén hơi, bay đến đậu trên nóc nhà, nhìn xuống kêu:

Ngon gì mà ngon, mẹ ăn thịt con, có còn xin miếng.

Mụ chửi bới quạ, xua đuổi con quạ bay đi. Đến ngày mắm gần hết, nhòm vào chĩnh, mụ mới nhìn thấy đầu lâu con mình…, uất lên, ngã vật xuống đất mà chết.”

Đây là đoạn kết của truyện Tấm Cám chính thống. Và gần đây được những người biên soạn SGK cắt bỏ bớt đoạn đem xác làm mắm gửi mẹ ăn. Có lẽ, vì đó là một hành vi quá thú tính, quá dã man, một tội ác ghê rợ, trong phần kết tàn khốc, của một trong những câu chuyện nổi tiếng mà không một người Việt nào không biết, không được học qua.

Nhân câu chuyện SGK sửa đoạn kết chuyện “Tấm cám”, trên một diễn đàn pháp luật, một câu hỏi được đặt ra: Cô tấm đã phạm tội gì? Câu trả lời là Tấm đã phạm tội giết người theo điều 93 BLHS với các tình tiết tăng nặng: i) Thực hiện tội phạm một cách man dợ và q)Vì động cơ đê hèn”. Có lẽ một cái án tử cho “thị Tấm” vẫn còn là quá nhẹ nhàng.

Tất nhiên, không thể dùng luật hình sự để truy cứu một hành vi trong văn học. Cũng như không thể dùng đạo đức hiện tại để xem lại quan niệm đạo đức của ngày xưa. Nhưng còn đúng hơn khi cái ác thì ở đâu, đời nào, cũng đáng phải bị lên án như nhau.

Một thạc sĩ ĐH Paris 7 viết trên VietNamNet: Tôi có đem câu chuyện Tấm Cám kể cho một người bạn Pháp, đến đoạn kết thúc, cô bạn Pháp hỏi tôi là khi còn bé nghe chuyện này tôi có ngủ được không?

Chắc chẳng có dân tộc nào lại có những câu chuyện ghê rợn đến như vậy để kể trước lúc bọn trẻ con đi ngủ.

Dân gian muốn cái ác phải bị diệt trừ tận gốc. Điều đó đúng. Nhưng không thể diệt trừ một cái ác bằng một tội ác ghê rợn hơn, khiến những đứa trẻ “được giáo dục” mất ngủ vì quá ghê sợ.

Bởi vậy, câu hỏi đặt ra hôm nay, thực ra cũng đã được đặt ra từ hàng chục năm trước- không phải là có nên sửa đoạn kết của câu chuyện hay không, mà phải là “Có nên để tồn tại cái ác, sự tàn nhẫn dã man trong SKG, loại sách vẫn được coi là mực thước giáo dục nhân cách con người từ khi họ còn là những tờ giấy trắng?”.

Sự tàn bạo không phải là ở cái chết, mà là cái cách giết chết. Cái ác có ngay trong hành vi giết người, nhưng sự phi nhân tính và sự ghê rợn của tội ác lại ở những hành vi sau đó, khi cô Tấm dịu hiền băm xác người làm mắm gửi về, nhấn mạnh là cho mẹ cô- dù đó là mẹ ghẻ.

Một Giáo sư- Viện trưởng đã bảo vệ cái kết độc ác này, khi phê phán việc bỏ nó trong SGK, rằng: Người đọc không thấy được hả hê cõi lòng khi thấy cái ác không bị trừng trị một cách thích đáng nhất.

Trong thời điểm xảy ra tranh cãi “Tấm cám”, trên facebook, Nickname “Kẹo mút chơi bời” đã post một đoạn tin sau: “Tin buồn! Chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin cụ già 60 tuổi đêm qua chúng tôi đâm xe máy, đã củ tỏi hồi 17h07. Anh em phang lô đề nhiệt tình đi, lão sinh năm 1953”. Không có tí stress nào khi đâm chết người. Chỉ thấy sự hả hê, khoái trá. Thái độ mà nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên gọi là sự hồn nhiên độc ác.

Sự hả hê này chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy ở những người sáng tạo ra đoạn kết tội ác trong câu chuyện Tấm cám và, một phần nào đó, ở những người đọc nó.

“Sự kiện Kẹo mút” còn tàn bạo ở chỗ trong rất nhiều status, y thản nhiên, và hả hê, rằng: Nhẹ cả người (khi nạn nhân chết) chứ lão sống thì khổ bọn tao. Sẽ có rất nhiều người thừa nhận đây là một thứ tâm lý xã hội chung với vô số những ví dụ.

CA Yên Bái đã triệu tập “Kẹo mút”. Câu hỏi đầu tiên, giờ đây chắc chắn là “Có học chuyện Tấm cám trong SGK không?” (Thay vì “Có chơi games online không)

Rất dễ hiểu: Chúng ta hắt mực tàu lên giấy trắng chúng ta sẽ phải nhận lại bức tranh đen đúa- những sản phẩm phi nhân tính

Theo Đào Tuấn blog

Thứ Tư, ngày 09 tháng 11 năm 2011

Sửa luật để tư nhân tham gia làm báo?

Phan Lợi
CEO của Tập đoàn FPT, ông Trương Đình Anh, vừa xác nhận trên báo chí là FPT đã hoàn tất thỏa thuận hợp tác, đầu tư vào tạp chí Thế giới vi tính (PC World Vietnam).
Thông tin cho biết hiện toàn bộ nhân sự của tạp chí này đã được chuyển sang làm việc tại trụ sở một công ty con của FPT.
Được biết Thế giới vi tính là tạp chí trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, phát hành bốn ấn phẩm giấy và hai website với nội dung chủ yếu về công nghệ thông tin và viễn thông. Nội dung hợp tác giữa FPT và Thế giới vi tính sẽ dưới hình thức Thế giới vi tính đảm nhiệm nội dung, còn FPT phụ trách hoạt động kinh doanh của tờ báo như quảng cáo, phát hành…
CEO của FPT cho hay trước đó họ đã tham gia đầu tư phát triển kinh doanh vào một tờ báo điện tử trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ là VnExpress. Thông tin được công bố nói rằng chín tháng đầu năm 2011, doanh thu quảng cáo từ VnExpress đạt 167 tỉ đồng, bằng 79% kế hoạch năm. Ông Trương Đình Anh cũng cho biết FPT đang tiếp tục tìm kiếm cơ hội tham gia đầu tư, hợp tác với nhiều tạp chí khác nhằm phát triển những lợi thế hiện tại của tập đoàn.
Ai cũng biết FPT hiện là một công ty cổ phần với đa chủ sở hữu, trong đó Nhà nước chiếm tỉ lệ không đáng kể. Vào cuối tháng 10 vừa qua, Công ty Orchid Fund Private Limited của Singapore đã chi trên 216 tỉ đồng để mua hơn 4,3 triệu cổ phiếu FPT, đưa số cổ phiếu họ sở hữu lên tới trên 15 triệu, tương đương 6,94% số cổ phiếu đang lưu hành của FPT.
Trong khi đó, quy định tại Luật Báo chí hiện hành thì DN (nhất là tư nhân, cổ phần) không được phép xuất bản báo chí, không được đứng vai trò “cơ quan chủ quản báo chí”.
Chính vì lẽ đó, việc đầu tư của FPT phải chuyển hướng sang hợp tác. Tương tự thế, sự tham gia của các DN vào lĩnh vực truyền hình cũng đều dưới dạng hợp tác với đài nhà nước, trong đó tiêu biểu là sự tham gia của Công ty AVG vào khâu truyền dẫn phát sóng (sẽ bắt đầu từ ngày 11-11).
Dĩ nhiên cái “được” khi có sự tham gia của DN vào lĩnh vực báo chí có thể “đo đếm” rất rõ, đặc biệt là khía cạnh kinh tế. Hiệu quả về khía cạnh lan tỏa thông tin cũng rõ rệt trong bối cảnh nguồn lực của cơ quan chủ quản (Nhà nước hoặc tổ chức xã hội) đầu tư cho báo chí còn rất hạn chế.
Song cũng chính từ sự hợp tác này khiến những DN khác hoạt động cùng lĩnh vực không thể không lo ngại: Liệu nội dung báo chí có “thiên vị” đối tác đầu tư, trong bối cảnh cạnh tranh thị trường bình đẳng, thị giá cổ phiếu của DN bị tác động rất lớn từ phía báo chí…?
Những lý do này đòi hỏi Luật Báo chí sửa đổi phải sớm có mặt trong chương trình xây dựng luật chính thức!