Thứ Bảy, ngày 19 tháng 11 năm 2011

Xót đau cho nghị sĩ nước mình!

Hà Văn Thịnh
Đọc thông tin về đại biểu QH Hoàng Hữu Phước mà đau và chán đến tận cổ. Làm sao có thể có một nghị sĩ vừa kém cỏi về kiến thức lại vừa ngông nghênh khinh dân – thậm chí đã vi hiến khi ngang nhiên chống lại Hiến pháp?
Chẳng hiểu ông Nghị Phước học từ đâu mà nói rằng cuộc biểu tình đầu tiên của loài người là  ở Ấn Độ, năm 1913? Nói như thế có nghĩa là ông chả biết cái quái gì về hai từ cách mạng. Mọi cuộc cách mạng trên thế giới đều bắt đầu từ bạo lực vũ trang hoặc biểu tình. Những cuộc biểu tình sớm nhất  đã xảy ra từ thời La Mã cổ đại khi những người bình dân (plebs) đấu tranh chống lại quý tộc, kết quả là giai cấp quý tộc phải nhượng bộ, chấp nhận cho bình dân có 5 đại biểu (trong tổng số 10) tham gia vào Hội đồng soạn thảo Bộ luật 12 bảng đồng suốt 2 năm và chính thức ban hành năm 449 B.C. Gần đây, nếu tìm dẫn chứng thì có vô số, chỉ xin dẫn ra một cuốn sách giáo khoa viết về biểu tình năm 1848. Sách giáo khoa Lịch sử thế giới cận đại, H. 1998, trang 133 viết: “Chính phủ (Pháp) ra lệnh cấm “bữa tiệc” của những người đòi cải cách tuyển cử định tổ chức vào ngày 22.2 (1848 – HVT). Quần chúng trả lời lệnh đó bằng thái độ kiên quyết đấu tranh, tiến hành một cuộc BIỂU TÌNH (chúng tôi nhấn mạnh – HVT) lớn tại Paris… Nhiều cuộc xung đột nổ ra giữa cảnh sát, binh lính với những người BIỂU TÌNH”.
Chuyện thứ hai chứng tỏ ông nghị Phước đã ngộ nhận về kiến thức sơ đẳng là ở chỗ ông cho rằng cuộc biểu tình đầu tiên ở Mỹ là những năm 60 của thế kỷ trước khi nhân dân Mỹ “chống lại chính phủ Kennedy đã đẩy mạnh cuộc chiến tranh Việt Nam, rồi phát triển mạnh mẽ thành các cuộc biểu tình chống Chính phủ Mỹ liên tục từ năm 1960 đến 1975”(sic – !) Đọc đến đây tôi buộc phải tự hỏi rằng phải chăng vì là “nghị” nên ông muốn nói gì cứ nói, kệ xác lũ dân đen? Nghị Phước quên mất cha ông ta dạy là biết thì thưa thốt không biết thì dựa cột? Xin thưa với ông nghị Phước: 1, TT J.F. Kennedy nhậm chức ngày 20.1.1961 – có nghĩa là nếu có biểu tình năm 1960 thì chẳng có liên quan gì đến J.F.K.; 2, chính J.F.K là người không muốn đẩy mạnh chiến tranh Việt Nam nên mới bị chết tức tưởi. Một trong những minh chứng rõ nhất SGK Lịch sử lớp 12 ghi rõ trước khi J.F.K chết, số lượng cố vấn Mỹ ở miền Nam chỉ có 1.100 nhưng sau khi ông ta chết (22.11.1963) con số đó đã tăng gấp 10 lần (!); 3, Nghị Phước đã xúc phạm toàn thể nhân dân Việt Nam bằng sự phỉ báng không thể tha thứ khi ông nói những lời xưng xưng vô bằng cứ rằng những người biểu tình chống lại đường lưỡi bò của Trung Quốc bị người dân kẹt xe nguyền rủa (?); rằng không cần biết đến Hiến pháp hay Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo phải soạn Luật Biểu tình và, ông cũng đã phạm tội vu khống vì chẳng có cuộc biểu tình yêu nước nào gây kẹt xe, để đến nỗi bị người dân nguyền rủa cả !? Xin hỏi thẳng, ông “nhận hợp đồng” với ai mà nói vậy? Là đại biểu QH nếu còn có một phần nghìn liêm sỉ thì nên khai cho rõ ra thưa ông, bởi nói cho ngay, có kẹt chính là do lực lượng an ninh gây ra đó. Ông nên nhớ trong những ngày sôi bỏng ấy thử hỏi ai mà không theo dói hình ảnh những cuộc biểu tình. Người biểu tình đã diễu hành rất trật tự, có một cuộc biểu tình nào cản trở một đám cưới nào hay không?
Và, căn cứ vào đâu để nghị Phước khẳng định rằng “đa số công dân sẽ không ủng hộ Luật biểu tình vì bản chất dễ bị tổn thương và dễ bị lợi dụng gây ra biến loạn”. Nhà nước ta là của dân, vì dân sao lại sợ dân biểu tình yêu nước? Lạm dụng hay bị lợi dụng là chỉ có sai bét bè be, không phải nhà nước của dân mới sợ chứ đã là nhà nước của dân, do dân, vì dân thì làm sao phải sợ?
Một người không nắm được kiến thức cơ bản về chính trị thì không thể đủ tư cách để bàn về chuyện lớn nhất – quan trọng nhất là lập pháp. Thiết nghĩ rằng sau chuyện ông Nghị Hồng với Luật nhà văn “chẳng biết đưa ra để làm chi”; ông nghị Phước vi hiến ngang nhiên như thế, Quốc hội cần phải có chế tài nghiêm khắc với nghị sĩ nước ta kẻo đa số dân chúng bây giờ đều có tri thức hơn ông sẽ coi thường Quốc hội chúng ta, lại còn xấu mặt với thế giới. Hơn nữa, nếu cứ ưa chi nói nấy thì người dân bình thường ít hiểu biết ở vùng sâu vùng xa sẽ trở nên hoang mang và đau xót lắm. Càng đau đớn hơn khi chợt nhận ra rằng nếu nghị sĩ mà cứ như hai ông này thì dân tộc ta không lầm than, không tụt hậu mới thật là chuyện lạ!
Huế, 18.11.2011.
H.V.T.
Nguồn: Bauxite VN

BAO GIỜ VỀ SÀI GÒN

Phan Vũ
Ngày lại ngày,
Đêm từng đêm.
Nhịp đập con tim như mõ canh,
Luôn báo điều bất ổn.
Từng hạt thời gian,
Gom góp cho hạn kỳ rơi rớt.
Một cái gì rách nát, tan hoang!
Một cái gì đau xót, phũ phàng!
Một câu hỏi trong vòng lửa…
Bao giờ về Sài Gòn,
Em sẽ tìm lại hàng me,
Màu xanh non một đêm cây trổ lá,
Đường đến trường tiếng cười rộn rã,
Nắng vừa lên,
Tà áo gió bay…

* * *

Chuyện kể từ mùa nước đổ,
U Minh, một đêm trở gió,
Xào xạc hàng tràm,
Xuồng ba lá trôi theo rạch nhỏ…
-: “Ơi! Giã biệt xóm làng…”
Lời nào não hơn câu Vọng Cổ,
Nhưng đầu sông vang dội khúc quân hành:
-: “Gió hỡi gió! Reo lên đi!
Ta ra đi mài thanh gươm chính khí
..”(1)
Từ mùa thu năm ấy,
Tháng chín hai mươi ba,
Câu hát mài gươm thành câu hát tiễn…
Cuộc tiễn quân, chín khúc sông dài,
Trên bến nước, những vòng tay kết lại,
Kẻ ở, người đi,
Vội vội lời hẹn ước….
-: “Hai năm! Hai năm! ”
Hai năm trở lại quê nhà!
Có nghĩa gì đâu!
Chỉ hai mùa lá!
Những con tàu xuôi ra biển cả,
Bến đợi ngóng mong khắc khoải từng ngày…
Đã hai lần tràm thay lá,
Hai con lũ đã đổ xuống đồng,
Rao rao gió chướng hai mùa lúa.
Ô hay! Đàn ong bay đâu bỏ hoang tổ mật?
Sân chim không tụ hội,
Mỏi mắt dõi theo những cánh cò!
Bao giờ về Sài Gòn?
Nhớ phố chợ xưa Bà Chiểu,
Mới ngày nào vang tiếng hát Lên Đàng,
Mà che dù
Một vòng tròn bóng mát đuổi theo em..
Hai năm qua rồi!
Khúc vịnh uốn quanh,
Ghe thương hồ khuất dạng,
Câu hò vọng.
Chạnh lòng người đứng trên cầu;
-: “Hò ơ..Ngày đi tóc mẹ chưa lên trắng.
Nếp trán chưa nhăn, má chửa gầy…
 (2)Nhớ thuyền ai khẳm lúa chở chiều về bến,
Người trai thương mẹ hát dài theo dòng kênh.
Hai năm qua rồi!
Trái chín nẫu không người leo hái,
Tiếng rụng vườn khuya dội ngang lồng ngực,
Thắt con tim,
Giật mình, ngỡ bước chân trở lại…
Hai mươi năm đằng đẵng mặt trời đen.
Miền châu thổ, dù nắng, dù mưa,
Đường qua xóm đìu hiu, quạnh quẽ,
Thoáng bóng người lầm lũi đi về,
Những giọt buồn bờ mi đọng lại…
Bên ngưỡng cửa, mẹ tượng hình,
Như mong ngóng nghìn năm…

* * *

Bao giờ về Sài Gòn?
Em sẽ nằm đợi tiếng rao đêm,
Vào giấc ngủ,
-: “Ai đậu xanh, bột khoai, bún tàu,
Nước dừa, đường cát…”
Căn phòng lộng gió mùa Đông Bắc.
Cửa sổ mở, dành ngóng phương Nam.
Xin cho cánh nhạn chao nghiêng,
Sao chân trời giăng giăng hoài mây xám?
Xin cho chút nắng chiều tan,
Nhớ khôn nguôi một cánh mai vàng,
Dẫu nơi đây mùa xuân, đào khoe sắc thắm!
Vết chém xẻ dọc con sông,
Giữa thân thể dựng hàng rào phân địa,
Hình hài non sông lỗ chỗ đạn bom.
Một nơi nào, dáng thu vàng sắc lá,
Tiếng ầu ơ trong toạ độ mịt mù,
Mảnh gang lạnh ghim trên cánh cửa,
Một nơi nào mật nắng óng tơ vàng,
Những hình ma vật vờ trước ngõ,
Họng súng đen ngòm dõi bước chân,
Áo trắng học trò loang máu đỏ!

* * *

-:“ Bao giờ về Sài Gòn ?
Em sẽ ăn sầu riêng, măng cụt,
Em sẽ ra cảng ngắm những con tàu,
Và gặp lại dòng sông…”
Từng giọt máu, từng chén cơm,
Từng tiếng kêu đất, kêu trời,
Những đốt tay tím bầm, rã rượi,
Câu hỏi có số đếm bảy ngàn hơn…
Nhưng thời gian đã tới kỳ vội vã.
Đàn chim non kịp lớn khôn
Những đứa con, dầu gái hay trai,
Tự bào thai, tự sơ sinh,
Đều đăng ký cho ngày mai giải mã
Lời giải cuối cùng là sự hiến dâng…
Dốc núi, bờ ghềnh những bước chân hối hả,
Đoàn quân xuất kích trước bình minh,
Tuổi hai mươi vào trận,
Sấm sét rền theo bước quân hành,
Một mùa xuân ào ào bão lửa,
Thiêu rụi mọi tàn dư cố thủ,
Như triều dâng, sóng vỗ,
Tráng khúc Tháng Tư thành lịch sử !
Người lính trẻ giữa ngã tư thành phố.
Nước mắt rưng rưng câu hát vỡ oà:
-: “Sài Gòn ơi! Ta đã về đây!”

* * *


-: “Bao giờ về Sài gòn?
Em sẽ có mảnh vườn trồng thật nhiều hoa,
Nhớ hồi đó, giữa rừng tràm,
Anh bẻ nhành lá tặng em,
Như chùm hoa trao duyên ngày cưới
…”
Vợ tôi không bao giờ có mảnh vườn.
Cũng chưa kịp gặp lại dòng sông,
Ngày về vừa nhận mặt đường quen,
Đã ngã trên hè phố
Một trái tim thương tật bẩm sinh,
Nhịp đập vừa đủ cho cuộc dấn thân,
Ba mươi năm dài dặc.
Ngày về không nằm đợi tiếng rao đêm,
Chiếc bình đựng mớ than tro,
Cảnh chùa qui gửi,
Trên nóc phố cờ bay phất phới…
Dẫu sao vợ tôi cũng đã có ngày trở lại !
Bao bàn chân vừa leo qua ngọn núi.
Đành nằm trong mộ đá,
Giữa rừng hoang,
Có người ngã xuống ngay cửa ngõ,
Bên kia sông, ánh sáng thành đô rực rỡ…

* * *


-: “ Bao giờ về Sài Gòn? ”
-: “ Bao giờ về Sài Gòn? ”
-: “ Bao giờ về Sài gòn? ”
Câu hỏi cũng là của những người đứng đó!
Trên gò nổi của cánh đồng bưng mênh mang,
Nơi ngọn cao đám rừng tối lá,
Những đôi mắt đêm hướng về vầng sáng chân trời,
Với hận thù, với yêu thương,
Âu lo và hy vọng…
Họ là những người lính của chiến thắng Tầm Vu,
Đã chặn tàu giặc trên sông Vàm Cỏ,
Từ Miền Đông xuống Miền Tây,
Trên mảnh đất bốn mươi năm không ngưng tiếng súng,
Một đời cha, một đời con tiếp nối nhau vào trận,
Những chiến khu hình thành trên ruộng lúa, vườn dừa,
Lập thế bủa vây,
Cho một thiêng liêng cuối cùng,
Lời thệ ước của đời chiến sĩ.
- : “ Ta sẽ dàn quân giữa nội đô, diệt thù từ sào huyệt,
Giành lại một tình yêu, một thành phố!”
Tôi mải miết trên các ngả đường,
Kiếm tìm dấu tích, cuộc tấn công Mậu Thân, năm ấy,
Nhiều đồng đội không trở về căn cứ…
Ai nằm lại đó?
Ở một ngã bảy, ngã năm,
Một đường vòng bùng binh,
Có phải anh là chàng trai đất mũi Cà Mau,
Vườn dừa Bến Tre, Sóc Trang hay Hà Tiên xóm biển?
Sài Gòn là quê chung cho tất cả,
Anh nằm đây trong tình nghĩa mẹ cha…
Ai nằm lại đó?
Bên luống hoa công viên,
Ngã rẽ vào hẻm nhỏ,
Có phải quê anh Thanh Hoá, Thái Bình.
Vượt Trường Sơn
Áo lính y nguyên màu lá cỏ,
Bao lạ lẫm với anh trên đường phố,
Những nóc cao hơn núi ngọn đã trèo qua?
Có một câu hát trong bản Tình Ca
-: “Khi cất lên tiếng ca gửi về người yêu phương xa…”
Nhạc sĩ ra đi khi Hà Nội lên đèn.
Đã trở vê nơi đây,
Ngày xưa ôm đàn hát khúc đầu tiên…
Hôm nay, nhận phần hy sinh liệt sĩ…
Ai nằm lại đó ?
Vết máu khô mưa nắng sói mòn,
Bao người không tên,
Cũng có tên người thành tên phố,
-: Bao giờ về Sài Gòn?”
Âm hồi còn vang vọng với thời gian
Những người ngã xuống từ khởi chiến,
Cùng một nỗi niềm
Như người vừa ngã xuống trận hôm qua!!
-: “Bao giờ về Sài Gòn?”
Câu hỏi theo chiều dài, tưởng niệm:
Như còn đâu đây, tiếng hú gọi đồng hoang
Của những người mở cõi
Lưỡi phảng phát ngang thân cỏ dại!
Từ mầm lúa sinh sôi,
Một chòm xóm, một dòng sông,
Miền quê hương rộng dài bờ bãi,
Một lớp người cởi mở,
Nồng nàn tình yêu xứ xở.
Niềm kiêu hãnh xả thân gìn giữ!
--:“ Bao giờ có một Sài Gòn,
Ngang tầm với những hiến dâng?”
Câu hỏi hôm nay cho người thành phố!

PHAN VŨ
( 1996 -2011)

(1) ca khúc của Nguyễn Ngọc Bạch
( 2) thơ của Đoàn Giỏi.

Tranh chấp Biển Đông: Trung Quốc dọa trừng phạt kinh tế các láng giềng

Thanh Hà
Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo (phải) và Tổng thống Philippines Benigno Aquino
Xã luận của tờ Hoàn Cầu Thời Báo số ra ngày 18/11/2011 cảnh báo các nước láng giềng châu Á  về nguy cơ bị Trung Quốc trừng phạt kinh tế nếu các nước đó được Mỹ yểm trợ  trong cuộc đọ sức với Bắc Kinh tranh chấp chủ quyền trên biển Hoa Nam (tức Biển Đông).
Lời cảnh báo trên đây được đưa ra đúng vào lúc bế mạc thượng đỉnh ASEAN lần thứ 19 tại Bali. Hoàn cầu Thời báo đe dọa « Bất kỳ một cuốc gia nào muốn trở thành quân cờ của Mỹ sẽ mất đi cơ hội gặt hái những thành quả kinh tế của Trung Quốc ». Trung Quốc là nền kinh tế thứ nhì trên thế giới. Còn ASEAN là một trong những đối tác thương mại quan trọng của Bắc Kinh. Thặng dư thương mại hiện nghiêng về phía ASEAN chủ yếu nhờ vào xuất khẩu nguyên, nhiên liệu cho Trung Quốc.
AFP nhắc lại, căng thẳng đang gia tăng tại khu vực Biển Đông, nơi đang có tranh chấp chủ quyền trên biển giữa nhiều quốc gia trong Đông Nam Á với Trung Quốc. Hồ sơ Biển Đông là trọng tâm của Thượng đỉnh ASEAN vừa khép lại hôm nay (18/11/2011) cũng là một trong những chủ đề chính của Thượng đỉnh các nước Đông Á. Tuy nhiên Trung Quốc không chủ trương đề cập đến vấn đề nhậy cảm này tại thượng đỉnh Đông Á với sự hiện diện lần đầu tiên của Hoa Kỳ. Bắc Kinh luôn đòi giải quyết vấn đề Biển Đông bằng đối thoại song phương.
Về phần mình tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Trung Quốc cho rằng : « Đưa quá nhiều các vấn đề chính trị và an ninh ra thảo luận tại Thượng đỉnh Đông Á, đặc biệt là khi có liên quan đến các vụ tranh chấp, sẽ không có lợi cho bất kỳ một kế hoạch hợp tác nào ». Trái lại điều này có nguy cơ dẫn đến tình trạng « căng thẳng trong khu vực leo thang ».
Lập trường của báo chí Trung Quốc đã được chính thủ tướng Ôn Gia Bảo xác định lại. Đến Bali để chuẩn bị dự Thượng đỉnh Đông Á lần thứ 6, ông tuyên bố: « Các lực lượng từ bên ngoài không nên viện bất kỳ một lý do nào để can thiệp » vào tranh chấp chủ quyền ở khu vực Biển Đông. Đây là một hồ sơ đã kéo dài nhiều năm và phải được các bên liên quan giải quyết bằng các con đường đối thoại « hữu nghị và trực tiếp ».
Theo giới phân tích, thông điệp này của lãnh đạo Trung Quốc nhắm trực tiếp vào Hoa Kỳ sau khi tổng thống Mỹ vào sáng nay đã nhấn mạnh rằng Thượng đỉnh Đông Á phải là nơi để các bên cùng làm việc trên rất nhiều các hồ sơ, chẳng hạn như là vấn đề liên quan đến an ninh trên biển và hồ sơ chống phổ biến vũ khí hạt nhân.
Theo RFI

Thứ Sáu, ngày 18 tháng 11 năm 2011

Vì sao châu Á cần có Hoa Kỳ?

LS Vũ Đức Khanh
Có giả thuyết cho rằng độ ít năm nữa một liên minh quân sự mới sẽ hình thành tại Thái Bình Dương có tên là Tổ Chức Phòng Thủ Châu Á -Thái Bình Dương gọi tắt là APTO (Asia-Pacific Treaty Organization). Đây là một Liên minh An ninh Quốc phòng Thái Bình Dương.
Và theo giả thuyết đó thì chỉ vài ngày trước đây, tranh chấp biên giới trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc đã nổ ra một cuộc giao tranh quân sự vô tiền khoáng hậu, một trường hợp điển hình.
Hiện nay họ đang chơi trò chơi đổ lỗi cho nhau như “Ai đã khai pháo đầu tiên?”.
Nhưng vấn đề đã vượt xa hơn việc đi tìm ai có lỗi. Đối với APTO, câu hỏi quan trọng là ai đã khai pháo đầu tiên và lý do tại sao, và những gì xảy ra tiếp theo đó? Cũng giống như NATO, các thành viên của APTO đang bị ràng buộc phải tiếp cứu để bảo vệ đồng minh của họ.
Nhưng liệu họ có tới cứu đồng minh của họ không?
Khởi đầu của một liên minh mới
Tương tự khối NATO về phương diện hình thành và hoạt động, APTO được hình thành để đáp ứng các đe dọa khủng bố và hải tặc. Khởi thủy là một liên minh không chính thức giữa các quốc gia đồng minh truyền thống của Hoa Kỳ như Úc, Nhật, Đại Hàn, Thái Lan và Philippines, nhóm này mau chóng mở rộng bao gồm cả Miến Điện, Indonesia, Mã Lai, Tân Tây Lan và Việt Nam.
Mục tiêu của liên minh này là thống nhất và tăng cường khả năng phòng thủ, với hy vọng sẽ đem lại ổn định và an ninh cho Thái Bình Dương.
Khối mười quốc gia đó được các quốc gia Brunei, Chile, Ấn Độ, Singapore, và dĩ nhiên cả Hoa Kỳ, tham gia với tư cách thành viên không chính thức, trong khi chính Hoa Kỳ giúp đỡ hình thành APTO.
Trung Quốc đã bày tỏ không chấp nhận khối APTO, mà Trung Quốc cho là sự nối dài chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Mặc dù vậy, Trung Quốc không dám tấn công các thành viên của APTO, vì biết rõ rằng không bị khiêu khích mà tấn công có thể sẽ đưa tới một cuộc chiến tranh không cần thiết với Hoa Kỳ.
Cuộc hội đàm viễn liên giả tưởng hiện nay của các lãnh đạo APTO là một hoạt động tìm hiểu dữ kiện hơn là chuẩn bị chiến tranh. Ngôn từ chuyên môn trong minh ước phòng thủ nói rằng các thành viên không bị đòi hỏi trợ giúp Việt Nam nếu thấy Việt Nam tấn công trước.
Và họ sẽ có lý do vững chãi để cùng nhau tránh chiến tranh vì Hoa Kỳ không sẵn sàng gửi quân tới như các thành viên chính thức.
Chỉ mới vừa phục hồi sau cuộc khủng hoảng kinh tế, và với ngân sách quốc phòng bị giảm thiểu một cách đáng kể, nhân dân và Quốc Hội Hoa Kỳ ít có ý định tham gia một cuộc chiến khác. Mặc dù Hoa Kỳ thường xuyên tuyên bố rằng tương lai của mình gắn chặt với Thái Bình Dương.
Nhưng nếu không có Hoa Kỳ tham gia với tư cách thành viên chính thức thì mọi liên minh quân sự đều chỉ là hình thức và sẽ thất bại chăng?
Nền tảng của một liên minh thành công
Câu hỏi đó không sai. NATO thành công vì Chiến Tranh Lạnh là cuộc một chiến phần lớn xảy ra giữa Hoa Kỳ và Liên Xô. Và Hoa Kỳ với quyết tâm đánh gục Liên Xô, cùng với chiến lược chạy đua vũ trang làm cho Liên Xô kiệt quệ về kinh tế đã đưa NATO tới thành công.
Trái lại APTO sẽ không được hình thành trong cùng một hoàn cảnh. Bất cứ cuộc xung đột nào trong tương lai cũng sẽ không xảy ra giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc mà giữa Trung Quốc và các quốc gia lân bang.
Có thể nói Hoa Kỳ theo đuổi một chính sách đối ngoại không can thiệp vào công việc của các lân quốc của Trung Quốc.
Biết vậy, thì thử hỏi Hoa Kỳ nên đóng vai trò gì và nên làm gì trong một liên minh quân sự như APTO?
Rõ ràng là để cho APTO thành công, Hoa Kỳ phải đảm nhiệm vai trò lãnh đạo, và Hoa Kỳ chỉ lãnh đạo khi mà sự thành công của liên minh đó là cần thiết cho sự thành công của mục tiêu của Hoa Kỳ. Nói một cách giản dị, APTO phải được cấu trúc quanh nhu cầu của Hoa Kỳ.
Bất hạnh thay, một tổ chức như thế đã tồn tại trong quá khứ và đã thất bại, đó là Liên Phòng Đông Nam Á, SEATO. Do đó APTO không thể chỉ là bản sao chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Nó phải được thiết kế nhằm giải quyết những nhu cầu của các quốc gia Thái Bình Dương thành viên.
Hoa Kỳ đã phản ánh các quan ngại của một số quốc gia Đông Nam Á về sự bành trướng của Trung Quốc bằng cách tổ chức để các quốc gia đó tiếp tục tham gia các cuộc tập trận chung và tiếp cận vũ khí của Hoa Kỳ.
Vả lại, Hoa Kỳ trong nhiều dịp cả công khai lẫn hội kín đã tuyên bố hy vọng Trung Quốc sẽ trở thành một đối tác chiến lược và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế dưới hình thức đại loại như Hội nghị Thượng đỉnh G-2 Hoa Kỳ-Trung Quốc.
Cho dù trong tương lai Hoa Kỳ có trở thành một thành viên chính thức, thì để thành công, APTO phải hoạt động với Trung Quốc, làm cầu nối giữa Trung Quốc và các quốc gia lân bang. Hoa Kỳ chẳng được lợi gì nếu APTO chỉ đẩy Trung Quốc đi xa; và trong hoàn cảnh như thế, Hoa Kỳ không có lý do để trở thành một thành viên thường trực của tổ chức này.
Nếu APTO thành hình trong tương lai thì nó phải được thiết kế để xây dựng mối quan hệ giữa các quốc gia chứ không phải cắt đứt các mối quan hệ đó.
Tóm lại, không đối đầu với Trung Quốc, đáp ứng nhu cầu của các quốc gia thành viên, đồng thời mang lại quyền lợi cho Hoa Kỳ là ba yếu tố để APTO thành công.
Tác giả hiện sống tại Ottawa, Canada. Bài được đăng trên trang Asia Sentinel. Bản tiếng Việt của Luật gia Nguyễn Trường Tâm ở Hoa Kỳ lược dịch dưới sự đồng ý của tác giả. Bài đăng trên BBC.

“Học Bác phải đến nơi, đến chốn!”

Phan Lợi
Bên lề phiên thảo luận về chương trình xây dựng pháp luật hôm qua, đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc đã phát biểu như vậy về một vài ý kiến đòi tước bỏ dự án Luật Biểu tình ra khỏi chương trình.
Cụ thể, theo nhà sử học Dương Trung Quốc ngay từ năm 1919, Nguyễn Ái Quốc và các đồng sự đã nêu ra yêu sách về quyền biểu tình cho nhân dân ta. Hai tuần sau khi giành được độc lập, Hồ Chủ tịch đã ra sắc lệnh về quyền biểu tình của người dân, đồng thời khẳng định rõ đó là quyền cơ bản cần thiết phải có để đảm bảo quyền dân chủ cho người dân. Đến Hiến pháp 1946, quyền này được cụ thể hoá bằng khái niệm tự do hội họp, trong đó nội hàm về quyền biểu tình. Hiến pháp 1959 lại một lần nữa khẳng định quyền này…
Sở dĩ nhà sử học phải nhắc lại từng sự kiện, từng con số nói trên là bởi có đại biểu viện dẫn tư tưỏng của Bác Hồ, viện dẫn lịch sử nhưng lại sai lệch. Còn với nhà sử học, các viện dẫn này lại chứng minh một cách rõ ràng rằng dân chủ là một hệ tư tưởng xuyên suốt, có hệ thống trong cuộc đời hoạt động Cách mạng của Bác Hồ, không ai có thể bẻ ngược.
Thế nhưng dù cho trung ương, Bộ Chính trị yêu cầu, mới đây còn nâng tầm thành một cuộc vận động lớn cho toàn thể đảng viên, các cấp uỷ học tập và làm theo tư tưởng vĩ đại đó của Người, một số người vẫn “vô tư” như không biết điều đó.
Đáng nói ở chỗ, việc cần thiết có luật này hay không không phải là đề tài gây tranh cãi, mà đáng bàn nhất là làm luật này như thế nào, bởi sáng kiến luật này đâu phải tự dưng mà có, nó được đề xuất bởi chính người đứng đầu Chính phủ: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Ai cũng biết, chịu trách nhiệm điều hành, quản lý xã hội trước toàn thể quốc dân, đồng bào chính là Chính phủ, cơ quan hành pháp cao nhất. Cơ quan ấy không chỉ làm nhiệm vụ bảo đảm cho các quyền công dân được thực thi trên thực tế, mà còn phải luôn cập nhật, đánh giá tình hình và đề xuất các giải pháp tốt nhất để quản lý xã hội. Chính vì thế có Luật Biểu tình còn là nhu cầu rất lớn của Chính phủ để có thêm công cụ quản lý xã hội, thực chất là giúp thêm cho Chính phủ, trong khi các “nguy cơ” mà ai đó nói ra khi có luật này hoàn toàn là sự cảm tính, thiếu các dữ kiện cần thiết để chứng minh.
Do đó, lời nhận xét đích đáng của nhà sử học Dương Trung Quốc, thiết nghĩ rất cần thiết cho những ai luôn miệng nói học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Toàn văn hai bài phát biểu của ông Hoàng Hữu Phước và ông Dương Trung Quốc


Hoàng Hữu Phước – TP Hồ Chí Minh
          Kính thưa Quốc hội.
          Tôi kính đề nghị Quốc hội loại bỏ Luật lập hội và Luật biểu tình khỏi danh sách dự án luật suốt nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII này vì những lý do như sau:
          Thứ nhất, về Luật lập hội, ở Việt Nam Mặt trận Tổ quốc được thành lập năm 1977 trên cơ sở thống nhất ba tổ chức: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam – Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ, hòa bình Việt Nam.
          Hiện nay Mặt trận Tổ quốc có 44 tổ chức thành viên, nếu xếp theo các loại hình tổ chức như đoàn thể chính trị, tôn giáo, từ thiện, xã hội và nghề nghiệp thì có đến 22 hội đoàn trong nhóm nghề nghiệp: từ Hội luật gia, Hội nhà báo đến Hiệp hội sản xuất kinh doanh của người tàn tật, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập v.v… Nếu như vẫn còn thiếu các hội nghề nghiệp khác mới xuất hiện do sự phát triển của xã hội thì có thể thành lập mới cùng trong quy mô rộng khắp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
          Nếu Luật lập hội là để tạo nên các đối thủ bên ngoài hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vô hiệu hóa, tiến đến xóa sổ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vậy Luật lập hội có cần không?
          Nếu Luật lập hội là để tạo nên các hội mới nằm bên trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như 44 thành viên hiện hữu để làm phong phú hơn tổ chức hùng mạnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vậy Luật lập hội có cần không?
          Thứ hai, về Luật biểu tình. Kể từ khi có cuộc biểu tình đầu tiên trong lịch sử loài người năm 1913 do Gandhi tổ chức nhằm phản đối Chính phủ Vương quốc Đại Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan áp bức nhân dân Ấn Độ . Mãi cho đến những năm 60 của thế kỷ trước từ ngữ “biểu tình” mới xuất hiện ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ bắt đầu từ việc chống lại Chính phủ Kennedy đã đẩy mạnh cuộc chiến tranh Việt Nam, rồi phát triển mạnh mẽ thành các cuộc biểu tình chống Chính phủ Mỹ liên tục từ năm 1960 đến 1975, thậm chí tiếp tục ngay cả sau khi Hoa Kỳ thất bại tháo chạy khỏi Việt Nam, biểu tình chống Chính phủ Mỹ đã từ Mỹ lan ra toàn thế giới. Điều nhất thiết phải khẳng định ở đây là ngay từ khởi thủy và cho tới tận ngày nay biểu tình là để chống lại Chính phủ nước mình hoặc chống lại một chủ trương của Chính phủ nước mình, khi 1 triệu người dân Mỹ đổ về Thủ đô Washington tháng 9 năm 2009 họ chống lại Tổng thống Obama, gọi ông là kẻ có dã tâm, biến Hoa Kỳ thành quốc gia xã hội chủ nghĩa, bày ra kế sách bảo hiểm y tế vì người nghèo, biểu tình chưa là hình thức bày tỏ chính kiến chống lại một nước khác ngay cả khi nước đó đang xâm lược nước mình. Cuộc tập hợp khổng lồ tại quảng trường đỏ là để bao quân đoàn Liên Xô tiến thẳng ra chiến trường chiến đấu chống Đức quốc xã và chống bọn nha gian. Để phản đối sự xâm lược của nước khác tiến hành chống lại nước mình chỉ có gia nhập quân đội, dồn tài sản cá nhân cho Bộ Quốc phòng mới là hành động duy nhất, cần thiết. Điều cần làm rõ ở đây là trong tiếng Anh biểu tình, tức là Demonstration luôn để chống Chính phủ nước mình hay một chủ trương của Chính phủ nước mình, còn tập hợp đông người để bày tỏ sự ủng hộ nước mình hay ủng hộ một chủ trương của Chính phủ nước mình, gián tiếp biểu thị sự không đồng tình đối với Chính phủ nước khác thì đó là đức tin hoặc cuộc tuần hành biểu dương lực lượng.
          Như vậy, Việt Nam có cần cho cuộc biểu tình chống Chính phủ Việt Nam hay không, chống các chủ trương, chính sách, đạo luật của Chính phủ Việt Nam hay không. Nếu không cần tại sao lại đưa dự án Luật biểu tình, nói rồi nói mãi như thể nó là khuôn vàng, thước ngọc để đo chiều cao, chiều rộng, chiều dài, chiều sâu của cái gọi là tự do dân chủ. Như vậy, cái Việt Nam cần có thể là những quy định về đức tin, về tuần hành đông người. Nhưng liệu Quốc hội có nên dành ra 2 năm và bao tiền của của nhân dân để soạn ra dự án Luật đức tin hay Luật tuần hành hay không. Khi đi ngang qua vài cuộc tập hợp đông người gần đây Thành phố Hồ Chí Minh chống đường lưỡi bò tôi đã nghe những người bị kẹt xe lớn tiếng nguyền rủa, thóa mạ, văng tục đầy đe dọa những người đang tập hợp mà ta gọi là biểu tình ấy. Sự giận dữ này có thể sẽ biến thành gây hấn, bạo loạn, đánh nhau giữa vài nhóm người biểu tình và chống biểu tình, chưa kể những cuộc tập hợp đông người ngoài trời ấy có xâm hại quyền tự do đi lại của người dân, xâm hại quyền tự do mưu cầu hạnh phúc của người dân, buôn gánh bán bưng, đoan chính, tự trọng kiếm từng đồng tiền nhỏ chứ quyết tâm không làm hành khất, xâm hại thu nhập chính đáng của những cửa hàng hoạt động kinh doanh hợp pháp tại khu vực bị phong tỏa do biểu tình, xâm hại quyền được chăm sóc của công dân khi đau ốm hay khi chuyển dạ sinh con mà xe cứu thương không để đến được hay xâm hại hạnh phúc của công dân khi xe hoa của họ không thể nhúc nhích được trên đường vì tắc đường.
          Liệu cái gọi là quyền biểu tình ấy có lớn hơn quyền được kiếm sống của người dân, quyền được ra đời của con cái của người dân, quyền được sử dụng công lộ của người dân, quyền được mưu cầu hạnh phúc của người dân. Câu hỏi được đặt ra ở đây là dự án Luật biểu tình đã tham vấn ý kiến, nguyện vọng của cử tri, công dân là người cao tuổi, cựu kháng chiến, cựu chiến binh, anh hùng các lực lượng vũ trang, anh hùng lao động, tập thể nông dân, tập thể quân đội, công an, những chiến sỹ biên phòng đang trấn giữ biên cương của tổ quốc và hải đảo quốc gia, những nhà tu hành chân chính hay chỉ vì một nhóm nhỏ vài chục, vài trăm sinh viên, học sinh, những người chưa là những công dân có thu nhập, có việc làm. Đa số công dân sẽ không ủng hộ Luật biểu tình vì bản chất dễ bị tổn thương và dễ bị lợi dụng gây ra biến loạn.
          Có ý nói rằng ở nước ngoài người ta biểu tình đàng hoàng nên ở Việt Nam cũng sẽ làm được. Ở Việt Nam hiện nay đã 100% đội mũ bảo hiểm khi đi bằng xe máy chưa, có chấm dứt chen lấn ở nơi công cộng chưa, có tham gia giao thông đúng luật chưa. Đó là chưa kể ở đất nước có nền văn học hoàng kim, mặt trời không bao giờ lặn trên cương thổ vương quốc Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan, cuộc biểu tình tháng 8 vừa qua tại Luân Đôn và lan ra một số thành phố lớn khác đã biến thành bạo loạn, cướp bóc, đốt nhà, làm ô danh đất nước. Cuộc biểu tình chiếm phố Wall suốt 2 tháng nay tại NewYork và hơn 20 thành phố lớn ở Mỹ vừa bị cảnh sát ra tay dẹp do tình trạng bẩn thỉu, mất vệ sinh, ẩu đả, trộm cắp và hiếp dâm xảy ra tại các nơi biểu tình làm ô danh nước Mỹ. Việt Nam chưa phải là siêu cường kinh tế để có thể đài thọ cho một sự ô danh. Đây là ý kiến của tôi mong được sự ủng hộ của Quốc hội. Xin cảm ơn.
 
                   Dương Trung Quốc – Đồng Nai
          Kính thưa Quốc hội,
          Tôi nhận thức diễn đàn Quốc hội là nơi để các đại biểu với tinh thần trách nhiệm và nhận thức của mình để phát biểu ý kiến nhằm trao đổi, nhằm thuyết phục hướng tới sự đồng thuận trong những quyết định chung của Quốc hội. Vì thế, tôi muốn trao đổi ý kiến của một số đại biểu cho rằng Luật Biểu tình là chưa cần thiết.
          Ở Quốc hội, đã đề cập đến vấn đề gì cần nghiên cứu đến nơi đến chốn, đưa ra những bằng chứng lịch sử dở dang, ngộ nhận hết sức nguy hiểm. Biểu tình đâu chỉ bắt đầu có từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, chúng ta đang được hưởng ngày Quốc tế lao động là thành quả của cuộc đấu tranh của những người lao động ở Chicago từ những thế kỷ trước. Chúng ta tự hào trong lịch sử cách mạng Việt Nam, cuộc biểu tình ngày 1/5/1958, hạt nhân lãnh đạo là những người Cộng sản tập hợp lực lượng quần chúng đấu tranh đòi tự do, cơm áo hòa bình và ủng hộ Chính phủ Mặt trận nhân dân. Như thế biểu tình có từ nguồn gốc xa xưa, nhận thức nó như thế nào ở góc độ của một Nhà nước, của người cầm quyền. Tôi thấy cần nhắc lại bản Sắc lệnh 31 ban hành 11 ngày sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải thích trong bản Sắc lệnh nội hàm của chữ “biểu tình” để chúng ta thấy được phải nhận thức nó từ hai chiều. Văn bản này viết rằng “công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú đi lại trong nước và ra nước ngoài”, đúng là trong Hiến pháp năm 1946 không có chữ “biểu tình”. Nhưng trong Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành trước đó đã giải thích: “xét vì tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ dân chủ cộng hòa, nhưng trong tình thế đặc biệt hiện thời cần phải xem xét kiểm soát những cuộc biểu tình để tránh những sự bất trắc có thể ảnh hưởng đáng tiếc đến việc nội trị hay ngoại giao nên ra Sắc lệnh này”, tức là Sắc lệnh về biểu tình.
          Như thế ta phải nhìn biểu tình cả hai cách của nó, đó là một quyền cơ bản của người dân, đồng thời đó là một công cụ hành pháp, công cụ lập pháp pháp luật để mà thực thi quyền hành pháp. Nếu không chúng ta chỉ nhìn một mặt thì chúng ta chỉ nhìn thấy mặt hỗn loạn của nó thôi. Chúng ta biết rằng cho đến bản Hiến pháp năm 1959 thì chữ “biểu tình” đã được đưa vào trong chính văn, ở Chương III của Hiến pháp năm 1959 khi bàn về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Điều 25 khi đề cập đến quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình thì thuật ngữ “biểu tình” đã trở thành một chính văn của luật cơ bản. Như thế nó không phải vì xa lạ cả, chúng ta thấy tất cả trong thực tiễn lịch sử những cuộc biểu tình ấy có thể phát huy cả hai mặt, đứng từ lợi ích chính trị của một thể chế chúng ta thấy cuộc biểu tình chống chính quyền Sài Gòn của phong trào, đặc biệt ở đô thị đã tác động tích cực vào quá trình của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chúng ta thấy những cuộc biểu tình ở miền Bắc là ủng hộ các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước. Còn chữ “mít tinh” cũng chỉ là biến dạng của ngôn ngữ. Nếu chúng ta nhìn vào hiện tượng ngay gần đây gắn liền với thời kỳ đổi mới khi những hiện tượng diễn ra ở tỉnh Thái Bình nơi từng có truyền thống của tiếng trống Tiền Hải. Nếu quan niệm đơn giản như chúng ta, như đại biểu Phước ở Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có cách dẹp bỏ nhưng chính lúc đó các nhà lãnh đạo sáng suốt của Đảng đã trực tiếp đi vào tận tâm bão tìm hiểu thì thấy hai mặt của vấn đề có những yếu tố kích động nhưng cũng có những yếu tố thực tế, có vấn đề trong bộ máy lãnh đạo cầm quyền, vì vậy dẫn đến điều chỉnh một cách thích hợp.
          Bây giờ chúng ta đang chứng kiến những sự kiện trong quá trình hội nhập thế giới, việc biểu tỏ thái độ của người dân là cần thiết, nó có nhiều diễn đạt khác nhau, nhiều hình thức khác nhau, việc tụ tập đông người mà thực chất là biểu tình, ta nói đúng tên của nó. Chính bởi vì không có luật nên mới dẫn đến tình trạng hỗn loạn. Tôi không tán thành các đại biểu Quốc hội cứ nhân danh nhân dân. Tại diễn đàn Quốc hội chúng ta hãy nhân danh cá nhân mình thôi, trừ khi chúng ta có sự ủy nhiệm, hoặc có điều tra định lượng để nói rằng người dân phản đối, người dân băn khoăn trước định lượng đó, nó dẫn đến tiêu cực xã hội. Nhưng người ta rất mong muốn rằng những tình cảm, cách thể hiện đó đúng lúc, đúng chỗ, nói cách khác là có luật. Luật biểu tình là một công cụ để chúng ta điều chỉnh, chúng ta bảo đảm những yếu tố tích cực của nó và chúng ta bảo đảm quyền của người dân, thóa mạ những người biểu tình như thế chúng ta đi ngược lại những tuyên bố chính thức của nhà nước, đó là những người yêu nước, cách biểu thị của họ không thích hợp trong hoàn cảnh này vì chúng ta chưa có luật. Không phải tự nhiên mà Thủ tướng Chính phủ cũng đã rất chủ động đề cập đến việc đề nghị đưa vào chương trình luật pháp của chúng ta về biểu tình. Tôi nghĩ Quốc hội chúng ta hết sức thận trọng. Phát biểu như thế là xúc phạm đến chính người dân. Chính vì thế càng thấy chúng ta cần phải có Luật biểu tình càng sớm càng tốt. Đương nhiên đây là luật rất nhạy cảm, khó khăn, chúng ta phải có lộ trình thích hợp, thận trọng, nhưng không vì thế mà phủ nhận để biến chúng ta thành một ốc đảo dị thường trong thế giới hiện nay. Xin cảm ơn Quốc hội.
Nguồn: biên bản ghi từ trang web quốc hội

Thứ Năm, ngày 17 tháng 11 năm 2011

Tranh luận gay gắt dự án Luật Biểu tình

Nguyên Thảo
Dù được đích danh Thủ tướng đề nghị đưa vào chương trình, song dự án Luật Biểu tình đã vấp phải phản ứng khá mạnh từ không ít đại biểu  tại phiên thảo luận của Quốc hội sáng 17/11.
Tuy nhiên, ý kiến trái chiều cũng không kém phần sắc bén.
Hành lang Quốc hội trong giờ nghỉ giải lao rộn ràng hỏi đáp, bàn luận liên quan đến dự án luật mới chỉ nằm trong chương trình chuẩn bị này.
Đề nghị loại bỏ
Ngay câu đầu tiên của bài phát biểu, đại biểu Hoàng Hữu Phước (Tp.HCM) đã “đề nghị Quốc hội loại bỏ Luật Lập hội và Luật biểu tình khỏi danh sách dự án luật suốt nhiệm kỳ Quốc hội khóa 13 này”.
Lấy ví dụ từ cuộc biểu tình đầu tiên trong lịch sử loài người năm 1913 do Gandhi tổ chức nhằm phản đối Chính phủ Vương quốc Anh áp bức nhân dân Ấn Độ, đại biểu Phước cho rằng: “Điều nhất thiết phải khẳng định ở đây là ngay từ khởi thủy và cho tới tận ngày nay, biểu tình là để chống lại chính phủ nước mình hoặc chống lại một chủ trương của chính phủ nước mình”.
“Như vậy, Việt Nam có cần cho biểu tình chống Chính phủ Việt Nam hay không, chống các chủ trương, chính sách, đạo luật của Chính phủ Việt Nam hay không? Nếu không cần, tại sao lại đưa vào dự án Luật Biểu tình, như thể nó là khuôn vàng, thước ngọc để đo chiều cao, chiều rộng, chiều dài, chiều sâu của cái gọi là tự do dân chủ”, ông Phước nói tiếp.
Dẫn ra hàng loạt ảnh hưởng tiêu cực từ các nhóm biểu tình, ông Phước đặt vấn đề, liệu “cái gọi là quyền biểu tình ấy có lớn hơn quyền được kiếm sống của người dân, quyền được ra đời của con cái của người dân, quyền được sử dụng công lộ của người dân, quyền được mưu cầu hạnh phúc của người dân?”.
Đại biểu Phước cũng khẳng định, đa số công dân sẽ không ủng hộ Luật Biểu tình, vì bản chất dễ bị tổn thương và dễ bị lợi dụng gây ra biến loạn.
Với lập luận là cuộc biểu tình tháng 8 vừa qua tại Luân Đôn và lan ra một số thành phố lớn khác đã biến thành “bạo loạn, cướp bóc, đốt nhà, làm ô danh đất nước”, cuộc biểu tình chiếm phố Wall đã “làm ô danh” nước Mỹ, ông Phước nhấn mạnh: “Việt Nam chưa phải là siêu cường kinh tế để có thể đài thọ cho một sự ô danh!”.
Cùng quan điểm chưa cần thiết phải có luật biểu tình, một số vị đại biểu khác tán thành với ý kiến của đại biểu Phước.
Nên có càng sớm càng tốt
Gần hết 7 phút phát biểu của đại biểu Phước, đại biểu Dương Trung Quốc nhấn nút đăng ký phát biểu.
Ông nói: “Tôi muốn trao đổi ý kiến của một số đại biểu cho rằng Luật Biểu tình là chưa cần thiết. Ở Quốc hội, đã đề cập đến vấn đề gì cần nghiên cứu đến nơi đến chốn, đưa ra những bằng chứng lịch sử dở dang, ngộ nhận là hết sức nguy hiểm”.
Sau câu vào đề, đại biểu Quốc khẳng định, chúng ta đang được hưởng Ngày Quốc tế lao động là thành quả của cuộc đấu tranh của những người lao động ở Chicago (Mỹ) từ những thế kỷ trước. Chúng ta tự hào rằng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, hạt nhân lãnh đạo là những người cộng sản biết tập hợp lực lượng quần chúng đấu tranh đòi tự do, cơm áo, hòa bình…
Nhắc lại bản sắc lệnh số 31, ban hành chỉ 11 ngày sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, ông Quốc cho biết chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải thích trong bản sắc lệnh nội hàm của chữ “biểu tình”, để “chúng ta thấy được phải nhận thức nó từ hai chiều”.
Văn bản này viết rằng “công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú đi lại trong nước và ra nước ngoài”.
“Đúng là trong Hiến pháp năm 1946 không có chữ “biểu tình”. Nhưng trong sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành trước đó đã giải thích, “xét vì tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ dân chủ cộng hòa, nhưng trong tình thế đặc biệt hiện thời cần phải xem xét kiểm soát những cuộc biểu tình để tránh những sự bất trắc có thể ảnh hưởng đáng tiếc đến việc nội trị hay ngoại giao nên ra sắc lệnh này”, tức là sắc lệnh về biểu tình”, đại biểu Quốc phân tích.
“Nhìn biểu tình theo cả hai cách thì đó là một quyền cơ bản của người dân, đồng thời đó là một công cụ hành pháp, công cụ lập pháp để mà thực thi quyền hành pháp, còn nếu chỉ nhìn một mặt thì chỉ nhìn thấy mặt hỗn loạn của nó thôi”, đại biểu Quốc nói.
Thêm một lần lấy ví dụ từ hiện tượng diễn ra ở tỉnh Thái Bình, ông Quốc cho rằng, nếu quan niệm đơn giản như đại biểu Phước thì chỉ có cách dẹp bỏ. Nhưng chính lúc đó các nhà lãnh đạo sáng suốt của Đảng đã trực tiếp đi vào tận tâm bão tìm hiểu, thì thấy hai mặt của vấn đề có những yếu tố kích động, nhưng cũng có những yếu tố thực tế, có vấn đề trong bộ máy lãnh đạo cầm quyền, vì vậy dẫn đến sự điều chỉnh một cách thích hợp.
Cũng theo vị đại biểu này thì việc biểu tỏ thái độ của người dân là cần thiết, có nhiều hình thức khác nhau, việc tụ tập đông người – mà thực chất là biểu tình – chính bởi vì không có luật nên mới dẫn đến tình trạng hỗn loạn.
Ông Quốc cũng thẳng thắn bày tỏ quan điểm không tán thành lạm dụng việc nhân danh nhân dân. “Tại diễn đàn Quốc hội, chúng ta hãy nhân danh cá nhân mình thôi, trừ khi chúng ta có sự ủy nhiệm, hoặc có điều tra định lượng để nói rằng người dân phản đối, người dân băn khoăn trước định lượng đó, nó dẫn đến tiêu cực xã hội”.
Theo phân tích của đại biểu Quốc, thì không phải tự nhiên mà Thủ tướng Chính phủ cũng đã rất chủ động đề cập đến việc đề nghị đưa vào chương trình lập pháp dự án Luật Biểu tình.
“Chúng ta cần phải có Luật Biểu tình càng sớm càng tốt. Đương nhiên đây là luật rất nhạy cảm, khó khăn, chúng ta phải có lộ trình thích hợp, thận trọng, nhưng không vì thế mà phủ nhận để biến chúng ta thành một ốc đảo trong thế giới hiện nay”, đại biểu Quốc kết thúc khi thời gian phát biểu cũng vừa hết.
Phát biểu sau đó, cả đại biểu Đặng Ngọc Nghĩa (Thừa Thiên – Huế) và đại biểu Nguyễn Thanh Tùng (Bình Định) đều “đồng tình như ý kiến của đại biểu Phước”.
“Đưa Luật Biểu tình này vào trong thời điểm này, theo tôi nghĩ là chưa phù hợp và phải cân nhắc hết sức kỹ lưỡng”, ông Nghĩa phát biểu.
“Tôi không phản đối Luật biểu tình nhưng cần phải tính toán thời điểm nào ban hành cho nó phù hợp và trước mắt tôi đề nghị chưa đưa luật này vào trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội trong nhiệm kỳ khóa 13″, đại biểu Tùng nói.
Theo VnEconomy

Lương dạy cả năm không bằng ‘phong bì’ 20/11?

Mẫn Chi
Như thành thông lệ, ở các thành phố lớn việc các phụ huynh rỉ tai nhau sẽ “phong bì” bao nhiêu vào ngày 20/11 cho thầy cô đã trở thành một thứ “lót tay”, “bôi trơn” không thể thiếu.
Việc tặng quà thầy cô ngày 20/11 làm không ít phụ huynh đau đầu. Giúp cho con biết được ý nghĩa thiêng liêng của ngày này từ đó có thái độ tôn trọng thầy cô, đó mới là món quà quý giá mà các thầy cô muốn đón nhận nhất
Những năm trước, cứ đến ngày 20/11 các bậc phụ huynh lại tất bật chuẩn bị cho con mình những bó hoa tươi thắm dâng tặng thầy cô. Tuy nhiên, trong đời sống kinh tế thị trường hối hả hiện nay, những đạo lý đẹp đó dần bị thay thế cho một thứ cực kỳ tiện lợi, đó là “phong bì”.
Phong bì càng dày, thầy cô càng nhớ lâu?
Mới có con học lớp 5, vậy mà những ngày này chị Minh (Nghĩa Tân, Hà Nội) đang rất hối hả chuẩn bị những món quà thật độc để tặng các thầy cô. Để mua được những món quà ưng ý tặng cho thầy cô, chị Minh phải nghiên cứu từ rất lâu về sở thích của từng người. Bao nhiêu thầy cô là bấy nhiêu những món quà khác nhau, trong những món quà đó không thể thiếu cái phong bì. Nếu tính sơ sơ thì với quà và phong bì cho các thầy cô đã ngốn của chị Minh gần 4 triệu đồng. “Một lớp đông học sinh như thế những ngày này ai chả có quà cho cô. Nếu không có món quà thật đặt biệt, kèm theo cái phong bì không thể “từ chối” liệu cô có nhớ tới con mình. Với lại năm nay con mình học cuối cấp, không như thế liệu điểm có cao(?)”- chị Minh cho biết.
Cũng như chị Minh, với phương châm “Muốn sang thì bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy” gia đình chị Thảo (Phố Huế, Hà Nội) cũng đang bắt đầu chiến dịch “chăm sóc” thầy cô nhân ngày này mặc dù con chị đứa lớn học lớp 4 đứa nhỏ mới học lớp 1. Việc tới thăm nhà thầy cô, biếu quà… tất cả cứ lần lượt từ thầy cô chủ nhiệm cho tới các cô dạy Nhạc, Tiếng Anh…, ai ai cũng có phần. Với cô chủ nhiệm, phong bì xoàng nhất cũng phải 500 nghìn. Theo lý giải của chị Thảo: “Vì con mình đang học lớp vỡ lòng, lớp này cực kỳ quan trọng trong sự phát triển sau này của các cháu. Mình cố gắng tạo ấn tượng tốt với cô cho còn mình được chú ý”.
Tiền phong bì bằng tiền lương dạy cả năm
Với số tiền mà chị Minh hay chị Thảo bỏ ra để “tri ân” các thầy cô nhân ngày lễ Hiến chương mới thấy, số tiền mà các thầy cô nhận được nhân ngày này quả là không nhỏ. Một giáo viên tên Y. tiết lộ, trước chị dạy hợp đồng cho một trường làng ở Chúc Sơn, sau khi vay mượn được hơn 100 triệu để “làm quà”, chị đã được chuyển ra một trường tiểu học ở quận Đống Đa (Hà Nội). Vậy mà sau một năm dạy, số tiền mà phụ huynh phong bì cho chị vào những ngày như 8/3, 20/10, Rằm trung Thu, 20/11, Tết Dương lịch, Âm lịch,… còn hơn cả lương giảng dạy của chị trong cả năm và hơn nữa chị đã trang trải hết nợ nần. Cứ đà này theo chị Y. sang năm chị có thể mua được xe máy xịn.
Khác hẳn với không khí nô nức của các phụ huynh cùng các thầy cô ở những thành phố lớn, ở ngoại thành hay những vùng thôn quê phụ huynh ở đây vẫn “lặng như tờ”. Cô T. giáo viên ở Chương Mỹ (Hà Nội) chia sẻ, thường thì phụ huynh ở đây không bao giờ lễ tết thầy cô bằng phong bì. Dạy trường làng, có khi học sinh nửa lớp là có họ hàng với cô giáo thì có ai dám nhận phong bì của phụ huynh. “Mặc dù giáo viên trường mình còn rất nghèo nhưng không nhận phong bì, mình cảm thấy tâm hồn rất thanh thản. Chỉ mong những ai đã sang sông thì nên nhớ tới người chèo đò. Đó là điều mà mình mong muốn nhất”- chị T tâm sự.
Ngày nhà giáo Việt Nam là ngày để các thế hệ học trò tri ân người thầy, người cô đã dìu dắt mình, đã trang bị cho mình những kiến thức cơ bản để bước vào đời. Tưởng nhờ và có những món quà nho nhỏ kính tặng thầy cô là điều nên làm. Nhưng nếu lạm dụng để hy vọng thầy cô thiên vị cho con em mình thì phải suy nghĩ lại. Suy cho cùng, ngày 20/11 vẫn là ngày của tình thầy – trò. Giúp cho con biết được ý nghĩa thiêng liêng của ngày này, là các đấng sinh thành đã dạy con một nét văn hóa đẹp. Đừng để cho thế hệ tương lai học thói quen sử dụng “văn hóa phong bì” như một phương tiện giải quyết tất cả mối quan hệ.

Theo VNN

Rùng mình những cánh đồng ngập đỉa vì đầu nậu bỏ đi

Bắc Lưu tổng hợp
Người dân ồ ạt rủ nhau đi bắt đỉa, gom về bán cho đầu nậu. Tuy nhiên, sau đó, các đầu nậu bỏ đi rất nhanh, để lại những cánh đồng đầy đỉa.
Chỉ cần đặt tay xuống nước, đỉa đến bâu đầy
Gom đỉa thả ao rồi biến mất
Theo báo Tiền phong cho biết, các chủ vựa đỉa chuyển đi rất nhanh. Chủ vựa thu mua đỉa Kim Anh (vợ một người Trung Quốc – PV) ở ấp Chánh 1, Tân Xuân, Hóc Môn, TP.HCM hiện đã chuyển địa bàn, cơ sở thu gom không còn hoạt động. Anh Thành, một thợ xây cho biết: “Cách đây gần một tháng, cơ sở này hoạt động rất mạnh, chủ yếu về đêm. Nhiều người chạy xe máy chở theo từng bao tải đỉa về cho chủ vựa. Có bao nhiêu mua hết bấy nhiêu”.
Ngoài ra căn nhà số 42/4D tổ 1 ấp Chánh 1, trước kia là nơi thu gom đỉa, nằm ngay cạnh cánh đồng lớn gần ba ngàn mét vuông. Nhưng “Đùng một cái, họ chuyển đi đâu mất. Để lại cánh đồng đầy đỉa. Đỉa mén bằng đầu đũa đầy rẫy. Khiếp nhất là đỉa trâu, to và dài như ngón tay giữa người lớn. Hôm rồi tui mang cây xà beng ra đồng rửa, vừa thả xuống kéo lên phát là lúc nhúc đỉa bám vào. Về sau không dám bén mảng tới đó nữa”, anh Thành cho biết thêm.
Một người dân khác ở Hóc Môn nói: “Nghe một số người đi thu gom bảo họ chuyển về quận Bình Tân, tiếp tục thu mua đỉa. Chuyển đi cũng mừng nhưng giờ cánh đồng này đỉa phát khiếp. Lúc trời mưa nước ngập đỉa còn bò lên bờ. Nước rút đi đỉa bò lổm ngổm trên sân nhà. Lũ trẻ con không biết, lấy đá chọi nát bét rồi hốt vất xuống hồ, vài bữa sau chúng lại sinh sôi thêm”.
Trước đó, ở các huyện Hóc Môn, Củ Chi (TP.HCM), Tây Ninh, và các tỉnh phía Bắc rộ lên tình trạng người dân đua nhau đổ ra đồng bắt đỉa, gom về bán cho đầu nậu. Mỗi ký đỉa bán với giá 80-150 ngàn đồng. Thấy lợi, nhiều hộ dân ở Tây Ninh còn nuôi đỉa ngay trong ao hồ để mang bán.
Chị Lụa ở huyện Kinh Môn (Hải Dương) cho biết, thương lái về tận nơi mua với giá 10.000 đồng/con. “Tôi nghe nói họ bán đỉa sang Trung Quốc để làm thuốc. Mỗi ngày lội đồng cũng bắt được hơn chục con, kiếm thêm chút ít cho các cháu ăn học”.
Trong khi đó, báo Dân Việt, dẫn lời chị Thuỷ ở quận Hồng Bàng, TP.Hải Phòng – người chuyên thu mua đỉa theo như đăng ký trên mạng: “Tôi có rất nhiều đối tác ở Trung Quốc, đã từ khá lâu rồi họ muốn nhờ tôi làm đầu mối thu mua đỉa ở Việt Nam để cung cấp cho họ, số lượng không hạn chế, càng nhiều càng tốt, điều quan trọng là cung cấp ổn định, tuy nhiên tối thiểu mỗi lần cấp phải được 300-400kg đỉa đã sao khô. Đợt trước, tôi có liên lạc với một số người trong miền Nam, họ hứa sẽ cung cấp số lượng lớn nhưng đến thời điểm này vẫn chưa làm được”.
Tai họa môi trường?
Khi phong trào thu mua đỉa đang rầm rộ, trả lời phỏng vấn báo chí, GS. Đặng Huy Huỳnh, Chủ tịch Hội động vật học Việt Nam từng lo ngại việc người dân thu mua đỉa trên diện rộng sẽ dẫn tới tình trạng nông dân thấy lợi trước mắt lại thi nhau nuôi đỉa để bán, rồi khi các thương nhân Trung Quốc không thu mua nữa sẽ gây ra ra hậu quả lớn.
Ông phân tích: “Đỉa là loài rất dễ sinh sôi nảy nở trong mọi điều kiện. Đặc biệt, ở những vùng đồng ruộng chiêm trũng. Trong khi đó, để tiêu diệt con đỉa rất khó, ngay cả việc đốt cháy, nếu không cháy hết còn sót lại một vài tế bào, gặp điều kiện thuận lợi cũng có thể phát triển thành một con đỉa bình thường”. Đặc biệt, khi người dân đua nhau nuôi đỉa thì không thể kiểm soát được đỉa tràn ra môi trường, trở thành tai họa, giống như hiện tượng nuôi ốc bươu vàng, chuột hải ly, rùa tai đỏ…
TS Bùi Quang Tề, nguyên Viện trưởng Viên Nuôi trồng Thủy sản trên Tienphong.vn đồng quan điểm. Ông cho rằng, việc nuôi đỉa, nếu không kiểm soát được hoặc trong điều kiện thương lái không thu mua nữa có thể dẫn đến việc đỉa tràn lan ra ngoài. Đây là loại động vật ký sinh giả, sống nhờ việc hút máu các động vật có xương sống. Nếu đỉa tràn ra ngoài môi trường tự nhiên, phát triển sinh sôi, hút máu và tiêu diệt các loài động vật khác, có thể dẫn đến mất cân bằng sinh thái.
Bên cạnh đó, giống như muỗi anopheles, đỉa còn là loài vật trung gian, khi ký sinh ở người hoặc động vật có bệnh, đỉa sẽ truyền mầm bệnh đến người hoặc động vật bị nó hút máu. Vì vậy, việc nuôi đỉa, nếu không kiểm soát được còn có nguy cơ gây hại cho người và gia súc.
Theo Bee