Thứ Bảy, ngày 26 tháng 11 năm 2011

Từ Chế Linh đến Mỹ Linh

Chế Linh, một giọng ca rất mùi của miền Nam Việt Nam trong thời chiến tranh, vừa có chuyến trở về hát trên quê hương sau 30 năm xa cách.
Nhưng chuyến lưu diễn của anh gặp nhiều trắc trở vì về đến nơi mới vỡ lẽ có chỗ anh được hát, chỗ không. Anh muốn gặp gỡ báo chí để tâm tình cũng bị cấm. Sau hai đêm diễn ở Hà Nội với bầu sô thay đổi, buổi hát ở Sài Gòn bị huỷ vào giờ chót.
Ca sĩ trong và ngoài nước hát cho khán giả ở hai bên bờ Thái Bình Dương bây giờ lẽ ra phải là chuyện thường tình.
Gần hai chục năm trước chuyện này đã gây ồn ào khi Thanh Lan được qua Mỹ hát làm bùng lên làn sóng biểu tình phản đối vì cho rằng đó là kế hoạch tuyên truyền của Hà Nội khiến mấy sô bị huỷ. Cuối cùng cô lên truyền hình rưng rưng rơi lệ và quyết định xin ở lại Mỹ.
Thế là Thanh Lan được hoan nghênh.
Với quan hệ Mỹ-Việt phát triển, ca sĩ trong ngoài nước đi ra đi vào cũng tăng theo nhịp trao đổi thương mại giữa hai quốc gia.
Nhiều diva Việt Nam đã xuất hiện trên sân khấu hải ngoại trong hơn thập niên qua: Hồng Nhung, Thanh Lam, Mỹ Linh, Quang Dũng, rồi Phương Thanh, Quang Linh, Ngọc Lễ, Phương Thảo, Mỹ Tâm, Đức Tuấn và nhiều giọng ca khác.
Qua Mỹ hát, ca sĩ trong nước kết hôn với Việt kiều đã có Lam Trường, Quang Dũng, Thu Phương, Bằng Kiều, Đàm Vĩnh Hưng, Thu Hà, Trần Thu Hà.
Ngược lại, nghệ sĩ về Việt Nam hát cũng nhiều: Hương Lan, Phi Nhung, Tuấn Vũ, Giao Linh, Thanh Tuyền, Lệ Thu, Sơn Tuyền, Tuấn Ngọc, Trịnh Nam Sơn, Mạnh Đình, Quang Lê, Ý Lan, Minh Tuyết…
Nhạc sĩ Phạm Duy trở về sống tuổi già và đã có chứng minh nhân dân, hộ khẩu. Nhưng phần lớn gia tài âm nhạc của ông vẫn chưa được mở ra cho hát. Duy Quang, Đức Huy, Ái Vân, Elvis Phương đã mua được nhà với sổ đỏ, sổ hồng trong tay.

Nhộn nhịp hoạt động văn nghệ

Ca sĩ trong nước sang Mỹ hát nay chẳng còn bị biểu tình. Ngoại trừ Mr. Đàm hai năm trước ra vẻ thách đố cộng đồng thì không tránh khỏi.
Từ hải ngoại về nay tuy dễ hơn nhưng còn khó khăn về quan điểm và phải đối đầu với một rừng luật, chưa kể lệnh miệng của quan chức nhà nước.
Cuối tháng 10 vừa qua Chế Linh về Hà Nội hát. Giữa tháng 11, San Jose đón Mỹ Linh, Quang Dũng qua tham gia văn nghệ cùng nhiều ca sĩ hải ngoại.
Chương trình “Hát cho tình yêu 8” hôm 13-11 ở Center for the Performing Arts kín khán giả, hơn 2 nghìn. Đông quá làm MC Nguyễn Ngọc Ngạn ngạc nhiên: Kinh tế xuống. Việc làm không có. Nhà chưa bán được. Sao khán giả San Jose đi coi văn nghệ đông thế này?
Tất cả là vì tên tuổi ca sĩ.
Người thích Khánh Hà, Ý Lan, kẻ mê Tuấn Ngọc, Nguyên Khang. Có khán giả muốn xem Quang Dũng, Mỹ Linh. Có người thích nghe Ngọc Anh, Diễm Liên, Thanh Hà. Chín danh ca cho một chương trình, cộng thêm MC Nguyễn Ngọc Ngạn nữa là đủ 10 văn nghệ sĩ nổi danh.
Khán giả đi đông cũng vì chiều Chủ Nhật. Tổ chức vào thứ Bảy coi chừng ế chỏng vì tiệm neo vẫn mở, lại hay có cưới xin, hội hè đình đám. Giá vé từ 25 đến 150 đô, bằng sô Chế Linh trong nước với giá tương đương từ 500 nghìn đến 3 triệu đồng.
Văn nghệ có nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn và Kỳ Duyên làm MC thì vui giống như sô ca nhạc hài Saturday Night Live (SNL) trên kênh NBC vào mỗi khuya thứ Bảy.
Hôm nay Kỳ Duyên vắng mặt. Cô bận dẫn chương trình cho sô “Chế Linh: 30 năm hội ngộ” trong nước. Không có Kỳ Duyên bên cạnh, nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn cũng chọc cười khán giả tới bến.
Ca sĩ hát hay hay không tùy sở thích khán giả. Tôi chú ý đến giọng ca từ trong nước vì nghe CD nhiều nhưng ít có dịp coi trên sân khấu. Sự kiện ban tổ chức để Quang Dũng, Mỹ Linh xuất hiện vào phần cuối chương trình cho thấy hai giọng ca từ phương xa được nhiều người yêu thích.
Quang Dũng đi đôi với dòng nhạc Diệu Hương. Hôm nay anh chỉ hát “Phiến đá sầu”, ngoài ra là “Mắt biếc” của Ngô Thụy Miên, “Khi người yêu tôi khóc” của Trần Thiện Thanh, “Yêu là chết ở trong lòng một ít” của Phạm Duy thể hiện được làn hơi phong phú qua những bài hát đa dạng, tuy đôi khi kéo dài làn hơn không cần thiết.
“Hạ trắng” của Trịnh Công Sơn theo phong cách mới, nhanh và dồn dập có lẽ không hợp với ý nhạc sĩ sáng tác.
Cũng như Mỹ Linh với “Ru ta ngậm ngùi” không được khoan thai mà thường uốn mình, chùn gối lấy hơi “hét” lên. Có lẽ tôi đã quen nghe Khánh Ly trình bày nhạc Trịnh một cách thong dong, thả chữ nhẹ nhàng dù nốt nhạc có cao vời vợi.
Mỹ Linh trong áo dài trắng điểm những đóa sen hồng hát “Lá đổ muôn chiều” của Đoàn Chuẩn và Từ Linh. “Một mình” của Thanh Tùng là bài tủ với ban nhạc khi đó chỉ còn tiếng dương cầm và vĩ cầm đệm theo nghe thấm từng lời ca.

Còn nhiều vấn đề

Theo nhận xét riêng, xuyên suốt chương trình tiếng trống và bass thường quá lớn át hẳn giọng hát. Hay vì một số ca sĩ nay đã yếu giọng nên cần tiếng trống để che đi?
MC Nguyễn Ngọc Ngạn có giải thích dí dỏm rằng: “Nhạc thính phòng là nhạc dành cho những người thính tai”. Quả thật ban nhạc quá đông, 8 nhạc công, trổi lên nghe tiếng thùng thùng nhiều hơn, ít khi làm nổi bật tiếng dương cầm của Hoàng Thi Thi hay tiếng vĩ cầm, tiếng sáo và giọng hát là những nét chính của nhạc thính phòng.
Mỹ Linh hát hai bài tiếng Anh. Bài thứ nhất là “One moment in time” mà tháng trước cô đã trình bày trong một chương trình văn nghệ cũng ở San Jose.
Hát xong bài này, khi Mỹ Linh sửa soạn một bài nữa cũng của Whitney Houston thì MC Nguyễn Ngọc Ngạn bước ra, đề nghị cô hát “Mùa thu không trở lại” của Phạm Duy có được không? Cô nói vì muốn cám ơn khán giả nên cô hát thêm một ca khúc tiếng Anh của ca sĩ Mỹ nổi tiếng này. Hát song Mỹ Linh phát biểu: “I’m like a bird. I’m free” – Tôi như một con chim. Tôi được tự do.
Nghe Mỹ Linh hát nhạc Whitney Houston tôi thắc mắc không biết có vi phạm tác quyền không? Có thể MC đã nhận ra chuyện này phạm luật nên đã đề nghị cô hát nhạc Việt chăng?
Không chỉ nhạc Mỹ, tôi cũng tự hỏi ngay cả đối với nhạc sĩ Việt có ca khúc được hát ở San Jose hôm nay, hay trong bất cứ một chương trình ca nhạc thương mại nào, ban tổ chức có trả tiền tác quyền cho họ không? Ở Mỹ không nên đùa với tác quyền vì có thể bị kiện ra toà.
Trong nước mấy tuần qua cũng ồn ào chuyện tác quyền và sô của Chế Linh bị huỷ. Nhạc sĩ Phó Ðức Phương của Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc nói vì chưa trả tiền tác quyền trong sô trước ở Hà Nội, khoảng 90 triệu đồng. Sở Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh đưa lí do “chưa phù hợp với tình hình thành phố hiện nay” nên sô bị huỷ.
Chi thu tài chánh, trả thuế, trả tiền bản quyền trước đây còn nói không hiểu, nay đã vào guồng rồi thì người tổ chức dù ở Mỹ hay ở Việt Nam cứ theo luật sở tại mà thực hành. Quyết định về sô Chế Linh “chưa phù hợp” là mơ hồ, như những chuyện nhà nước hay cho là “nhạy cảm”.
Cũng chuyện tác quyền, trong buổi văn nghệ ở San Jose hôm 13/11 người soát vé không cho tôi mang máy chụp hình vào rạp và giải thích đó là yêu cầu của người tổ chức vì chương trình có copyright – bảo vệ tác quyền. Tôi đã phản đối. Trước giờ đi coi văn nghệ ở đây không có chuyện cấm đem máy vào rạp.
Cấm. Nhưng khán giả dùng I-Phone chụp hình ca sĩ trên sân khấu. Có người mang cả I-Pad ra quay.
Nếu ban tổ chức muốn cấm thì cần ghi rõ trên tờ quảng cáo, trên vé và áp dụng đồng đều. Sô Vân Sơn đã có lần làm thế.
Bầu sô không nên ra lệnh miệng để tuỳ tiện áp dụng. Như kiểu Việt Nam.
Bùi Văn Phú
Tác giả hiện dạy học và là một nhà báo tự do sống ở vùng Vịnh San Francisco. Bài viết phản ánh quan điểm riêng của ông.
Theo BBC

Ba đồng một mớ mộng mơ

Khi bước qua cái cửa xiêu của căn nhà xiêu, khi mắt chị còn chưa quen với cái không gian tối tăm bên trong nhà, cái mà chị nhìn rõ nhất là ánh mắt sáng quắc của thằng bé. Nó nằm cong queo trên giường, héo như một đứa trẻ lên năm. Xương nó nhô ra mẩu nào cũng bén ngót. Miệng liên tục đớp không khí, nước dãi ri rỉ chảy ra bên khóe môi sần sùi, thằng bé nối một sợi nhìn bền dai vào chị, hút chị đến ngồi với nó. Và từ đó, nó không buông tay chị ra nữa. Cứ níu lấy, cứ ghì chặt, mắt ầng ậc nước, cổ họng phát ra những âm thanh gru gru vô nghĩa… thằng bé tỏ ra quyến luyến không rời.

Bà mẹ xoắn quần ống cao ống thấp, chân rơi ra những mảng bùn khô, nói thằng nhỏ đã hai mươi mấy tuổi rồi, bà không nhớ rõ vì có nghĩa gì đâu, nó bao nhiêu tuổi thì mãi mãi như đứa trẻ như vầy thôi. Chị bỗng có cảm giác cách nắm tay này, cách nhìn da diết này là của một chàng trai. Máu mơ mộng trỗi dậy.

Nên chị nán thêm chút nữa trong khi những tình nguyện viên khác trong nhóm công tác xã hội đã lên xe ngồi chờ. Chị muốn biết thằng bé sẽ nói gì với chị. Cái sự chị sắp đi khiến nó kích động dữ dội, cơ thể co giật, mặt méo xệch, miệng há to và nước dãi chảy ra ròng ròng. Nó đang cố nói. Chị cố đợi một âm thanh khác với những tiếng gru gru tuyệt vọng. Chị ghé tai vào gần, rồi gần hơn nữa, đến nỗi tai chị gần như chạm môi nó.

Và nó nói bật thành tiếng. Bằng tất cả tinh lực.

Chị ra xe, quệt nước mắt chị gượng đùa, trời đất, tưởng đâu nó mê mình. Đùa, vì chị không mơ mộng đến vậy, chị mong nó nói “Ở chơi!”, nhưng suốt buổi ngồi với thằng bé, thấy nó nhìn mình khi dịu dàng khi rát bỏng, làm những cử chỉ khi trìu mến khi riết róng, chị không bao giờ tưởng tượng là nó nói “TIỀN!”.

Có người nghe chuyện nói đáng đời, ai biểu lãng mạn chi.

Nhớ hồi mới lấy chồng, chị mua tặng mẹ chồng ở quê cái nồi cơm điện. Mẹ đem cất vì “nấu cái này không có cơm cháy với nước cơm cho tụi nhỏ chan…”. Tặng mẹ mấy bộ đồ bà cũng khổ sở phân trần, “màu sáng quá má ra vườn sợ dính mủ chuối…”. Chị mua truyện tranh đem về cho bầy em, tụi nó háo hức cầm lên rồi hỏi bằng giọng háo hức hơn nữa, “chị hai có mua bánh mì không?”. Cứ trớt quớt vậy. Mỗi lần nhìn bình hoa vải chị mang về mẹ lấy túi ni lông bọc lại cho khỏi bụi, cho nó đỡ chói lên đơn độc giữa căn nhà vách lá, chị có chút mắc cỡ. Giờ thì chị chỉ mua đường, nước mắm… và chắc chắn chúng được hồ hởi đón nhận. Đôi lần chị thấy hơi cay đắng, đời người sao chỉ quẩn quanh với những thứ tầm thường bột ngọt, xà bông…

Trước hôm mẹ chồng qua đời, bà viết cái thư. Chị vừa đọc vừa khóc. Thư chỉ dặn chuyện tiền nong, đất đai. Lời cuối cùng, như chị vẫn thường quen đọc ở đâu đó, rằng “mẹ để lại muôn vàn tình yêu thương cho các con”, thì mẹ chồng chị viết “bỏ lỗi cho má, vì má mót được có nhiêu đó, chia cho tụi con hơi khó…”. Chị biết là mẹ thương con theo kiểu của mẹ, biết đâu còn nhiều hơn những bà mẹ kia, nhưng vẫn hơi bẽ bàng.

Biết là đời giờ ô trọc, nhưng chị thích mua vé đi tàu mơ mộng, không hay giờ tàu đó cũng chở vịt, gà… mất rồi. Lảo đảo xuống tàu mới biết tại mình hay tưởng mà ra nông nỗi. Có lần chồng chị dúi tiền vào túi kêu vợ đi mua kem dưỡng da tay. Chị sướng suốt buổi chiều, miệng tủm tỉm cười bâng quơ không đừng được. Sau đó anh còn khiến chị ràn rụa nước mắt khi bảo “nhìn cái tay nhăn nheo đi nhào trộn thức ăn là thấy hết ham, thấy mất ngon rồi…”

Chị ngồi ngắm mãi bàn tay, nghĩ, người ta nói yêu nó một câu thì có mất gì đâu. “Tôi xin người cứ gian dối, cho tôi tưởng người cũng yêu tôi…”, câu hát đã có thời chị ghét, sao giờ thấy đúng ý mình.

Nguyễn Ngọc Tư

"Đột phá"?

Các Bộ trưởng mới đều thừa nhận những yếu kém của cơ quan mình.
"Nhà nước làm đúng việc của nhà nước, không làm lẫn việc của doanh nghiệp và xã hội dân sự, Nhà nước phải minh bạch về mọi hoạt động của mình và có các quy định bắt buộc các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội dân sự cũng phải minh bạch. Đấy là nét tích cực có thể rút ra từ vài cuộc chất vấn các bộ trưởng lần này" - Nhận xét của chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang A.

Các đại biểu quốc hội đã đặt ra rất nhiều câu hỏi cho Bộ trưởng Bộ Tài Chính Vương Đình Huệ trong buổi chất vấn ngày 24/11/2011.

Các câu hỏi xoay quanh 3 nhóm vấn đề: điều hành giá; quản lý tài chính công, nợ công; các vấn đề liên quan đến chống thất thu thuế và vấn đề hỗ trợ cho các doanh nghiệp. Nhìn chung Bộ trưởng trả lời rõ ràng, rành mạch và khá thuyết phục.

Xét về tỷ lệ thời gian cho chất vấn và trả lời chất vấn, thì có vẻ vấn đề điều hành, quản lý giá điện, xăng dầu chiếm ưu thế so với hai nhóm vấn đề còn lại. Thực ra, trong một nước có nền kinh tế thị trường, thì hai vấn đề sau mới chính là vấn đề chính, còn vấn đề điều hành giá chỉ là vấn đề phụ, không thể sánh nổi với vấn đề ngân sách, thu-chi của chính phủ và nợ công (vì đấy mới là việc chính của Quốc Hội và Bộ Tài chính). Thế nên còn phải phấn đấu nhiều để nước ta đạt được tư cách nền kinh tế thị trường!

Chất lượng của phiên chất vấn có lẽ 1/3 phụ thuộc vào người hỏi, 1/3 phụ thuộc vào người điều hành phiên chất vấn, và 1/3 vào người trả lời (tỷ lệ 1/3 chỉ mang tính tượng trưng để dễ hình dung).

Câu hỏi nêu ra mà không đúng hoặc có chất lượng kém (như đề xuất trần lãi suất cho vay thay cho trần lãi suất huy động, mà cả hai đều sai) thì chất vấn khó có thể chất lượng cao. Đáng tiếc vẫn còn nhiều câu hỏi như vậy.

Xét ở khía cạnh chất lượng của người trả lời chất vấn, các bộ trưởng mới, như các Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài Chính và Thống đốc ngân hàng nhà nước có vẻ nhỉnh hơn. Khi hỏi về các giải pháp “đột phá” họ đều nhận ra sự yếu kém của bản thân cơ quan mình, của các cơ quan quản lý nhà nước, của những người thi hành công vụ, sự thiếu minh bạch...

Bộ trưởng Bộ Tài Chính cho rằng “giải pháp của mọi giải pháp” trong lĩnh vực (điều hành giá xăng dầu, điện, nước…[mà theo tôi không chỉ trong các lĩnh vực này]) là “vấn đề minh bạch và công khai”. Minh bạch và công khai sẽ giúp giảm bớt tham nhũng và tăng lòng tin, những thứ ảnh hưởng rất sâu sắc đến sự phát triển lành mạnh của đất nước.

Nhà nước làm đúng việc của nhà nước, không làm lẫn việc của doanh nghiệp và xã hội dân sự, Nhà nước phải minh bạch về mọi hoạt động của mình và có các quy định bắt buộc các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội dân sự cũng phải minh bạch. Đấy là nét tích cực có thể rút ra từ vài cuộc chất vấn các bộ trưởng lần này. Nếu họ làm được như nhận thức và lời hứa của họ, thì còn tốt hơn nữa cho sự phát triển của đất nước.

Nguyễn Quang A
Theo KH& ĐS

Sài Gòn đẹp lắm ! Sài Gòn ơi ! Sài Gòn ơi ![ *]

Muốn sống, định cư, tìm cơ hội làm việc, kinh doanh thì vào Sài Gòn .

Muốn sáng tạo nghệ thuật thì …tìm chỗ khác . Chỗ nào thì tôi không biết nhưng Sài Gòn hôm nay khó có chỗ cho sáng tạo. Tôi – một người sinh ra , lớn lên và chắc chắn đi đâu cũng về lại Sài Gòn thấy mình đủ can đảm để nhận định điều ấy .

Có nghịch lý chăng khi Sài Gòn từng là nơi tiếp nhận nhanh nhất, sớm nhất những trào lưu triết học, nghệ thuật, văn chương, hội họa, âm nhạc của thế giới ? Nhưng đấy là chuyện xưa rồi.

Hôm nay, Sài Gòn vẫn đúng với vế đầu : Muốn sống, muốn định cư, muốn tìm cơ hội kinh doanh , kinh tế…Còn là nơi tiếp nhận những trào lưu sáng tạo e không đúng nữa. Thế những trường hợp này thì lý giải ra sao : Rất nhiều những nhạc sĩ Hà Nội thành danh hơn nữa ở Sài Gòn như Trần Tiến , Dương Thụ , Phú Quang vv…Rất nhiều những con ngừoi từng bị ruồng bỏ như Hoàng Hưng tác giả tập thơ “Ngựa biển”, người bị tù 4 năm chỉ vì trong tay có một tập thơ của Trần Dần hay Hoàng Cầm chi đấy , Ngọc Tân sau cuộc vướt biên bất thành, vẫn được đón nhận ở Sài Gòn ? Những họa sĩ tài danh Lưu Công Nhân, Bùi Quang Ngọc…Những nhà thơ như Phan Vũ vân vân và vân vân đều có mặt ở Sài Gòn ? Xin nói ngay đấy là những trường hợp để sống .

Công dân mới nhất, gần nhất chưa tròn 1 năm định cư ở Sài Gòn chính là nhà văn Nguyễn Quang Lập .Anh là người mà sự nghiệp, tên tuổi được tạo dựng từ nhiều nơi . Nay chỉ về Sài Gòn sống và làm việc.

Trở lại với sự sáng tạo. Câu chuyện được nghe kể lại rằng trong buổi tiệc trước khi tiễn những nhà văn của Hội Nhà Văn Thành Phố ra Hà Nội dự đại hội Nhà văn Việt Nam với vé máy bay và 1 triệu đồng bỏ túi tiêu vặt, ông Ba Đua – Phó bí thư thường trực Thành ủy, người phụ trách tư tưởng của Thành phố Hồ Chí Minh, ân cần gửi đi thông điệp đại ý: “Thành ủy rất quan tâm tới các nhà văn của thành phố. Hà Nội đã có rất nhiều tác phẩm thơ ca, âm nhạc . Hy vọng rằng các đồng chí sẽ có nhiều tác phẩm hay, đặc biệt là về Thành phố Hồ Chí Minh của chúng ta …” Thông điệp gửi gắm không có gì sai . Nó chỉ…chưa đúng thôi. Dư luận – trà dư tửu hậu của một vài nhà văn sau đó là: “ Thành ủy, Tuyên giáo, ông Ba Đua đừng chỉ đạo hay can thiệp vào việc sáng tác của chúng tôi là Sài Gòn sẽ có tác phẩm hay ngay thôi…” . Tuy vậy , thông điệp của ông Phó bí thư thường trực vẫn được tiếp nhận và thực hiện từ những nhà thơ, nhạc sĩ vốn nếu không chỉ đạo thì…không sáng tác được. Vẫn có những ca khúc về Sài Gòn nhưng “nghèo”thay, cũng chỉ loanh quanh với hình ảnh quen thuộc Bến Nhà Rồng và êm ái hơn tí là lác đác điểm xuyết hình ảnh vài hàng me xanh, có yêu đương tí chút và…hết. Tác phẩm vẫn có, nhưng tác phẩm ấy không sống nổi trong đời sống âm nhạc hàng ngày, nó chỉ có mặt trên truyền hình những dịp giỗ chạp, kỷ niệm gì đấy.

Thử đi tìm lời lý giải xa xôi hơn cho vấn đề “sáng tạo nghệ thuật” của Sài Gòn . Đấy là thành phố có một lịch sử đặc biệt cho những vấn đề đối đầu trong quá khứ , có “ ân oán “ giữa nhiều lực lượng văn hóa nghệ thuật .[ Ở đây không bàn đến lĩnh vực báo chí ]. Nếu thập niên 70 Sài Gòn có phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe” của sinh viên học sinh mà đa số sẽ là thành phần lãnh đạo âm nhạc của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay . Thì cũng có ngay bên cạnh nó phong trào “Du ca” mà nổi bật là nhạc sĩ Phạm Duy .Bên này hát , bên kia cũng hát; bên này nói về đồng bào dân tộc , bên kia cũng hát về quê hương đất nước chiến tranh…Họ mặc nhiên xem nhau là đối thủ trong lĩnh vực tư tưởng và chủ nghĩa. Đấy chỉ là một ví dụ trong nhiều ví dụ của Sài Gòn khi chưa thống nhất . Khi Hà Nội thực hiện chương trình “Nửa thế kỷ âm nhạc việt nam” vào thập niên 90, thì tên tác giả và tác phẩm được đề nghị có trong chương trình ca khúc “ Về miền trung – Bà mẹ Gio Linh” đã gây tranh cãi, đặc biệt ở Hội nhạc sĩ Thành phố khi ấy.[ Nhạc sĩ Phạm Duy thời điểm ấy cũng còn ở nước ngoài.] Kết quả , “ Nửa thế kỷ âm nhạc Việt Nam” không có tên cây cổ thụ Phạm Duy. Ngay chính nhiều ca khúc của Trịnh Công Sơn cũng trở thành đề tài thuyết trình ở các cơ sở Đoàn khi đã được cải biên theo tinh thần phê phán, châm biếm của một nhạc sĩ phong trào những năm đầu thống nhất. Sài Gòn có những vấn đề lịch sử để lại mà khó thể hòa hợp trong chỉ một thập niên.

Nhưng hôm nay đã là 37 năm. Lịch sử u buồn đã trôi xa. Nhiều ca sĩ Việt Nam bay trình diễn ở Hoa Kỳ như cơm bữa .Nhạc sĩ Phạm Duy đã về định cư tại xứ sở, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời cũng đã có tên đường . Nhưng vẫn còn đây đó chỗ này chỗ nọ những cái đầu còn đậm “ ân oán” cũ. Trường hợp Chế Linh , người về muộn hơn nhiều ca sĩ hải ngoại khác, dù có chút trục trặc ở Hà nội nhưng rồi vẫn có thể trình diễn.” Ông hoàng nhạc sến “vẫn không suôn sẻ khi chương trình trở về đất cũ Sài Gòn. Hãy tạm gác ở đây những chiêu, trò những mánh lới, thủ đoạn thường có và ngày càng lắt léo của giới bầu sô – show – biz.-Những chiêu trò để bán vé hay làm “ sập tiệm” lẫn nhau . Câu chuyện Chế Linh dường như còn ẩn chứa những vấn đề “ khó nói “ trên văn bản . Khó nói đến nỗi văn bản chính thức của Sở văn hóa – thông tin Thành phố chỉ ghi: “Chưa phù hợp với điều kiện của thành phố”. Cái cụm từ có vẻ dễ hiểu nhưng lại không dễ hiểu vì nó…mù mờ ? Câu hỏi đặt ra là: “ Nếu chưa phù hợp – thì chưa phù hợp điều gì với thành phố ? “ và “ Đến khi nào thì phù hợp ?” Câu hỏi vẫn còn nguyên đấy. Chuyện văn hóa ở Sài Gòn là chuyện quản lý và chỉ đạo, dù nơi khác cũng thế. Nhưng Sài Gòn còn những vấn đề khác cho dù 37 năm đất nước đã hòa bình, thống nhất.

Vậy thì hãy chọn Sài Gòn nếu ai muốn kinh doanh, tìm cơ hội học hành,làm giàu và để sống.

Còn muốn tìm môi trường sáng tạo hay đổi mới nghệ thuật – cá nhân tôi xin nói thật:

Quên đi !

Đỗ Trung Quân

Nguồn: Quê choa blog

…………………

[ * ] Một lời nhạc của ns Y Vân

Thứ Sáu, ngày 25 tháng 11 năm 2011

Thủ tướng: Luật biểu tình đảm bảo quyền tự do, dân chủ

10h sáng nay, sau phần trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đăng đàn trình bày báo cáo kinh tế – xã hội. Trong đó có 11 câu gửi Thủ tướng. Đề cập đến các vấn đề nóng như chủ quyền biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa, hỗ trợ ngư dân, làm luật biểu tình, khai thác khoáng sản. Dưới đây là phần ghi nhanh trả lời của Thủ tướng và toàn văn báo cáo giải trình trước Quốc hội.
Thủ tướng trả lời:
Về chủ trương của Chính phủ bảo đảm chủ quyền ở Biển Đông, bảo đảm ngư dân đánh bắt cá:
Quán triệt đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia của Đảng và Nhà nước ta và trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển 1982 LHQ, Tuyên bố ứng xử của các bên liên quan ở Biển Đông – DOC đã ký giữa ASEAN và Trung Quốc, căn cứ vào thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên mà ta và Trung Quốc ký mới đây trong chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc.
Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam
Căn cứ chủ trương, đường lối nguyên tắc nêu trên, chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền đối với 4 loại vấn đề trên Biển Đông như sau:
Thứ nhất, đàm phán với Trung Quốc để phân định ranh giới vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Trong Vịnh Bắc Bộ, sau nhiều năm đàm phán, ta và Trung Quốcđã đạt được thỏa thuận, phân định ranh giới năm 2000. Còn vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, nếu theo Công ước Luật biển 1982, thềm lục địa của chúng ta chồng lấn với  đảo Hải Nam của Trung Quốc. Từ năm 2006, hai bên đã tiến hành đàm phán. Mãi đến 2009, hai bên quyết định tạm dừng vì lập trường của hai bên rất khác xa nhau. Đến đầu 2010, hai bên thỏa thuận nên tiến hành đàm phán những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển. Sau nhiều vòng đàm phán, như tôi trình bày, nguyên tắc đó đã được hai bên ký kết trong dịp Tổng bí thư thăm Trung Quốc.
Trên nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển này, thì vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ là quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Vì vậy, hai nước cùng nhau đàm phán để phấn định ranh giới vùng biển này trên cơ sở Công ước Luật Biển, trên cơ sở DOC, trên cơ sở các nguyên tắc đã thỏa thuận để có một giải pháp hợp lý mà hai bên có thể chấp nhận được. Chúng ta đang thúc đẩy cùng Trung Quốc xúc tiến đàm phán giải quyết phân định này. Cũng xin nói thêm, trong khi chưa phân định, trên thực tế, với chừng mực khác nhau, hai bên cũng đã tự hình thành vùng quản lý của mình trên cơ sở đường trung tuyến. Cũng trên cơ sở này, chúng ta có đối thoại với Trung Quốc đảm bảo an ninh an toàn cho khai thác nghề cá của đồng bào chúng ta.
Thứ hai, chúng ta phải giải quyết khẳng định chủ quyền, đó là vấn đề quần đảo Hoàng Sa. Thưa các vị đại biểu, Việt Nam khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta đã làm chủ thực sự, ít nhất là từ thế kỷ 17, chúng ta làm chủ khi hai quần đảo này chưa có bất kỳ một quốc gia nào. Và chúng ta đã làm chủ trên thực tế và liên tục, hòa bình, nhưng đối với Hoàng Sa, năm 1956, Trung Quốc đã đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo. Năm 1974,Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài gòn, tức chính quyền VN cộng hòa, chính quyền đã lên án việc làm này và đề nghị LHQ can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam lúc đó cũng đã ra tuyên bố khẳng định hành vi chiếm đóng này. Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta có đủ căn cứ pháp lý và lịch sử để khẳng định điều này. Nhưng chúng ta chủ trương đàm phán, giải quyết, đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình. Chủ trương này của chúng ta phù hợp Hiến chương LHQ, Công ước luật biển, Tuyên bố DOC.
Thứ ba, quần đảo Trường Sa, năm 1975, giải phóng, thống nhất tổ quốc, hải quân chúng ta đã tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa đó là đảo Trường Sa, đảo Song Tử Tây, đảo Sinh Tồn, đảo Niêm Yết, đảo Sơn Ca. 5 đảo này do quân đội của chính quyền Sài gòn, chính quyền miền Nam cộng hòa quản lý, chúng ta tiếp quản. Sau đó với chủ quyền của chúng ta, chúng ta tiếp tục mở rộng thêm lên 21 đảo….Ngoài ra chúng ta còn xây dựng thêm 15 nhà giàn ở khu vực bãi Tư Chính để khẳng định chủ quyền của VN ở vùng biển này, thuộc 200 hải lí vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN. Trong khi đó, ở quần đảo Trường Sa này, Trung Quốc đã chiếm 7 đảo đá ngầm, Đài Loan chiếm 1 đảo nổi, Philippines chiếm 5 đảo, Malaisia, Brunei đòi chủ quyền trên vùng biển nhưng không giữ đảo nào.
Như vậy, trên quần đảo Trường Sa, Việt Nam là quốc gia có số đảo đang đóng giữ nhiều nhất so với các quốc gia, các bên có đòi hỏi chủ quyền, cũng là quốc gia duy nhất có cư dân đang làm ăn sinh sống trên một số đảo mà ta đang nắm giữ với 21 hộ, 80 khẩu, với 6 khẩu sinh ra và lớn lên ở các đảo này.
Chủ trương của chúng ta đối với thực hiện chủ quyền ở quần đảo Trường Sa như thế nào? Tôi muốn nói rõ chủ trương nghiêm túc thực hiện Công ước Luật Biển, Tuyên bố DOC và các nguyên tắc thỏa thuận mới đây đã ký kết giữa VN và TQ.
Cụ thể, thứ nhất, trước hết ta yêu cầu các bên giữ nguyên trạng, không làm phức tạp thêm, ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định ở khu vực.
Nâng cấp hạ tầng biển đảo, hỗ trợ ngư dân
Thứ hai, chúng ta tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng kinh tế – xã hội – kĩ thuật, cơ sở vật chất ở các nơi ta đang nắm giữ: đường sá, điện nước, trạm xá, trường học, nước để cải thiện đời sống, tăng cường khả năng tự vệ của quân dân ở quần đảo này.
Thứ ba, chúng ta có cơ chế chính sách, hiện đã có, Chính phủ đang yêu cầu sơ kết, đánh giá lại cơ chế chính sách hỗ trợ đồng bào ta khai thác thủy hải sản, vận tải biển trong khu vực này, khuyến khích hỗ trợ bà con ta làm ăn sinh sống và thực hiện chủ quyền trên vùng biển Trường Sa này.
Thứ 4, liên quan cam kết quốc tế, chúng ta nghiêm túc thực hiện và yêu cầu các bên liên quan nghiêm túc thực hiện theo đúng Công ước Luật biển 1982 và Tuyên bố DOC, đảm bảo tự do, hàng hải ở Biển Đông, hòa bình và an ninh trật tự, tự do ở Biển Đông. Đây là mong muốn và lợi ích của các bên liên quan, không chỉ của Việt Nam. Biển Đông là tuyến đường vận tải hàng hóa từ Đông sang Tây, chiếm từ 50-60% tổng lượng hàng hóa  vận tải từ Đông sang Tây.
Lập trường của chúng ta, báo cáo các vị đại biểu, được ủng hộ của quốc tế, gần đây nhất tại Hội nghị cấp cap ở ASEAN và ASEAN với các đối tác.
4. Chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền của chúng ta trong phạm vi 200 hải lý thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam theo Công ước Luật Biển 1982. Chúng ta đã và sẽ tiếp tục khẳng định chủ quyền, quản lý, thực hiện chủ quyền ngày càng đầy đủ và và hiệu quả hơn.
Phải làm Luật biểu tình
Ý kiến thứ ba về căn cứ đề nghị xây dựng Luật Biểu tình, thái độ, chủ trương của Chính phủ khi dân bày tỏ lòng yêu nước.
Căn cứ mà Chính phủ đề nghị QH đưa vào chương trình xây dựng Luật biểu tình, có mấy căn cứ Chính phủ thảo luận, đề nghị:
Thứ nhất, thực hiện Hiến pháp. Hiến pháp điều 69 quy định công dân được quyền biểu tình theo pháp luật. Nhưng chúng ta chưa có luật biểu tình. Như vậy chúng ta nên bắt tay nghiên cứu xây dựng luật biểu tình. Tôi muốn nói ngắn gọn là căn cứ thực hiện Hiến pháp.
Thứ hai, trên thực tế, các vị đại biểu Quốc hội ngồi đây đều chắc thấy rõ một thực tế trong cuộc sống của chúng ta đã có nhiều cuộc đồng bào ta tụ tập đông người, biểu tình, bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị với chính quyền. Có thực tế như thế. Nhưng chúng ta chưa có luật để quản lý, điều chỉnh vấn đề này. Do đó, cũng khó cho người dân khi thực hiện quyền mà được Hiến pháp quy định và cũng khó cho quản lý của chính quyền. Đã khó như vậy sẽ nảy sinh những lúng túng trong quản lý, từ đó xuất hiện những biểu hiện mất an ninh trật tự, đã xuất hiện những việc lợi dụng để kích động xuyên tạc gây phương hại xã hội.
Thứ ba, trước thực trạng như thế, Chính phủ đã có báo cáo kiến nghị với Quốc hội khóa trước, Quốc hội khóa trước đã ban hành nghị định để quản lý, điều chỉnh hiện tượng này. Chính phủ đã ban hành nghị định số 38 để quản lý, điều chỉnh hiện tượng này nhưng Nghị định của chính phủ hiệu lực thấp chưa đáp ứng yêu cầu, tầm vóc như hiến pháp quy định và cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế cuộc sống đang đặt ra.
Chính phủ mới thấy phải kiến nghị đưa vào chương trình xây dựng luật để chúng ta có bộ luật, một luật biểu tình. Luật đó phù hợp Hiến pháp, phù hợp đặc điểm lịch sử, văn hóa, điều kiện cụ thể của Việt Nam cũng như thông lệ quốc tế và đảm bảo quyền tự do dân chủ của người dân theo đúng quy định của hiến pháp và pháp luật, đồng thời luật đó có yêu cầu ngăn chặn những việc làm, hành vi gây xâm hại an ninh trật tự, lợi ích của xã hội, nhân dân.
Với tinh thần đó, chúng tôi đề nghị Quốc hội xem xét ý kiến của Chính phủ.
Đại biểu muốn hỏi về thái độ và chủ trương của Chính phủ về việc người dân biểu thị lòng yêu nước, chủ quyền. Chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước và chính phủ là luôn trân trọng, biểu dương, khen thưởng xứng đáng đối với tất cả hoạt động, việc làm của mọi người dân thực sự vì mục tiêu yêu nước, thực sự vì mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia. Những hoạt động vì mục tiêu, mục đích đó đều được hoan nghênh và khen thưởng thích đáng. Nhưng đồng thời cũng không hoan nghênh và buộc phải xử nghiêm theo pháp luật với những hoạt động, hành vi với động cơ lợi dụng danh nghĩa lòng yêu nước, lợi dụng danh nghĩa bảo vệ chủ quyền để thực hiện mục tiêu, mục đích gây phương hại cho đất nước và xã hội. Tôi nghĩ với chủ trương nhất quán như vậy, đồng chí đồng bào cử tri cả nước sẽ ủng hộ.
Kiểm soát xuất khẩu khoáng sản ngay từ dự án
Về quản lý khai thác khoáng sản trái phép, làm ô nhiễm môi trường, gây mất trật tự an toàn xã hội, xuất khẩu khoáng sản thô, tôi xin báo cáo mấy vấn đề sau đây:
Khoáng sản là tài nguyên quý hiếm, không tái tạo, phải có trách nhiệm giữ gìn, khai thác, sử dụng hiệu quả cao nhất. Vừa qua, ta điều tra, thăm dò khoáng sản của đất nước, xây dựng nhiều quy hoạch để khai thác, sử dụng khoáng sản cho phát triển kinh tế – xã hội. Việc khai thác khoáng sản cũng đạt nhiều kết quả. Chúng tôi nghiêm túc nhìn nhận, từ quy hoạch đến khai thác, chế biến khoáng sản có nhiều bất cập, hạn chế yếu kém như đại biểu quốc hội, dư luận, đồng bào đã nêu. Chính phủ vừa qua có thảo luận riêng về vấn đề này, từ đó chỉ đạo mấy giải pháp lớn:
1.   Yêu cầu chính quyền các địa phương, cơ quan chức năng tập trung chỉ đạo, ngăn chặn bằng được việc khai thác khoáng sản tự do, không phép, trái phép làm ô nhiễm môi trường, mất an ninh trật tự, gây bức xúc hiện nay. Không thể nói việc khai thác khoáng sản đó trên địa bàn đó mà chính quyền không biết.
2.   Chủ trương tạm dừng cấp phép khai thác khoáng sản mới. Rà soát ngay các dự án đang khai thác, dự án đang khai thác nào gây ô nhiễm môi trường, dự án nào đang khai thác gây hư hỏng đường sá, mất an ninh trật tự, phải dừng ngay. Rà soát đi liền với rà soát, bổ sung quy hoạch, để quy hoạch theo hướng khai thác sâu, chế biến sâu, có hiệu quả cao nhất.
3.   Kiểm soát việc xuất khẩu khoáng sản, quặng ngay từ các dự án, chứ không phải kiểm soát ở cửa khẩu mới chặn. Trái phép phải đình hoãn, làm đúng giấy phép nhưng thấy xuất khẩu không có lợi, để dành cho chế biến sâu hơn thì cũng có giải pháp thích hợp để dừng lại. Hoan nghênh Bộ Công thương đã có quyết định dừng xuất khẩu ở mỏ Quý Sa, Lào Cai.
4.   Việc cấp phép mới phải đi kèm dự án khả thi đã được cấp có thẩm quyền thẩm định: về hiệu quả kinh tế theo hướng chế biến sâu, thẩm định về môi trường, công nghệ, thực sự đảm bảo hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường, an ninh trật tự.
Ngoài ra Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính tăng ngân sách để khảo sát, điều tra, nghiên cứu về khoáng sản của nước ta. Theo đồng chí Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải báo cáo ta mới thăm dò 50% đất liền của ta về khoáng sanr. Phải thêm kinh phí thăm dò để biết ta có gì, bao nhiêu, chất lượng, trữ lượng để có chiến lược phù hợp.
Ngoài ra chúng tôi yêu cầu và tập trung xây dựng chiến lược khoáng sản theo kết luận của Bộ Chính trị, ban hành sớm nghị định để thực hiện Luật Khoáng sản mà Quốc hội vừa thông qua.
HDTG tổng hợp theo Vietnamnet/Vneconomy/Cổng thông tin Chính phủ

Dân trí và Dân biểu Sài Gòn

Sự kiện dân biểu Sài Gòn Hoàng Hữu Phước phát biểu về luật biểu tình tại Quốc hội gợi tôi nhớ đến một trường hợp dân biểu Sài Gòn khác khi Quốc hội khóa 13 khai mạc vào tháng Tám vừa qua.
Đại biểu Hoàng Hữu Phước và đại biểu Đỗ Văn Đương (phải) từng có những phát ngôn gây tranh luận
Ông Đỗ Văn Đương – dân biểu Sài gòn, được Thời báo Kinh tế Việt Nam trích dẫn phát biểu rằng “Tôi không nghĩ lạm phát ở nước ta cao nhất khu vực…Theo tôi phải xem lại chỗ này”.
“Tôi đi các nước thấy giá tiêu dùng đắt đỏ, một đĩa rau muống xào ở Thượng Hải tới 200 nghìn, nhưng ở Việt Nam chỉ mấy chục. Trong nước tôi đi chợ rau muống ở đô thị có thể 5.000 đồng/mớ, đi xuống vùng nông thôn chỉ 2.000, xuống nữa có khi rẻ hơn.”
“Tôi thấy gần đây giá cả giảm, giá sắt thép giảm hơn, nhà thu nhập thấp ít người mua hơn, đề ra nhà thu nhập cho người trung bình, tới đây có lẽ là nhà thu nhập cao. Rất nhiều hàng hóa của mình được giảm giá, đồng tiền của mình về Việt Nam được tự do, có giá trị”.
“Cần xem lại đánh giá chỉ tiêu lạm phát này xem có đúng không, theo tôi không phải là cao nhất”, dân biểu Đương nói thêm.
Việc ông nghị Đương lẫn lộn khái niệm sức mua so sánh tương đương (PPP) với so sánh giá tuyệt đối giữa Sài Gòn và Thượng Hải và khái niệm lạm phát, cũng có thể là một tương đồng thú vị với việc ông nghị Phước lẫn lộn nực cười khái niệm biểu tình với chống chính phủ, việc “dân trí thấp” với việc hạn chế quyền cơ bản trong Hiến pháp.
“Tại sao tại một thành phố như Sài Gòn, có nền tảng pháp quyền và dân chủ đại nghị bén rễ hàng trăm năm vào dân trí và mạch sống xã hội, lại có những dân biểu như thế này là đại diện”
Hai ví dụ này gợi ra một câu hỏi. Tại sao tại một thành phố như Sài Gòn, có nền tảng Pháp quyền và dân chủ đại nghị bén rễ hàng trăm năm vào dân trí và mạch sống xã hội, lại có những dân biểu như thế này là đại diện?
Về lịch sử hình thành, Sài Gòn rất khác biệt với Hà Nội. Khi người Pháp chiếm Gia Định năm 1859, Nam Kỳ, không như Bắc Kỳ sau này thành xứ bảo hộ, là xứ thuộc địa trực trị bởi người Pháp, và nền móng cơ bản về quản lý xã hội và pháp quyền kiểu phương Tây đã được thực thi ở đây, thúc đẩy sự phát triển dân trí cho một lượng dân cư đa sắc tộc, dễ dàng đón nhận cái mới hơn.
Khi người Pháp rút, Sài gòn là thủ đô của liên tiếp “Đệ Nhất Cộng hòa”, tức thời Ngô Đình Diệm và “Đệ Nhị Cộng hòa”, tức thời Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, với tâm quyền phân lập, chế độ dân chủ nghị viện, với trưng cầu ý dân, biểu tình, vận động tranh cử đảng phái trở thành mạch chính trong dân trí và đời sống chính trị miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ.
Sau năm 1975, những định chế chính là Hội đồng Nhân Dân, Mặt trận Tổ Quốc, thay thế chế độ dân chủ nghị viện trước kia.
Tuy nhiên dân trí và dân biểu Sài Gòn vẫn còn những hiện tượng nổi bật, đại diện cho những người Việt Minh Kháng chiến chống Pháp và những trí thức miền Nam tham gia Mặt trận Giải phóng Dân Tộc chống Mỹ sau này.
Đó là Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, người đã nắm giữ vai trò Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, người, tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP. HCM năm 1988, có bài phát biểu gây tiếng vang, với nội dung “Dân chủ không thể có bằng sự ban ơn.”
Nhiều năm gần đây ở thời kỳ đổi mới, còn đâu đó đọng lại hình ảnh ông nghị Khoa, đại biểu Đặng Văn Khoa, tại các cuộc họp Hội Đồng Nhân Dân TP HCM, người có biệt danh “ông hội đồng”, “khẩu đại bác”, nhờ chất vấn sắc bén và những bằng chứng xác thực là các hồ sơ, mô hình minh họa phanh phui các vụ việc tiêu cực, tham nhũng.
Thử lý giải
“Cơ chế hiệp thương để chọn lựa ứng cử viên, thực chất là một quá trình thỏa thuận kín và từ trước các chỉ tiêu phân bổ về danh sách ứng cử giữa các lực lượng, tầng lớp, tín ngưỡng, tổ chức chính trị và tổ chức xã hội.”
Có lẽ nếu thử lý giải qua loa thì có thể như thế này.
Cơ chế hiệp thương để chọn lựa ứng cử viên, thực chất là một quá trình thỏa thuận kín và từ trước các chỉ tiêu phân bổ về danh sách ứng cử giữa các lực lượng, tầng lớp, tín ngưỡng, tổ chức chính trị và tổ chức xã hội.
Ví dụ dân biểu Đương, ngành Kiếm sát thuộc khối Nội chính, nếu được cơ quan đồng ý cho ra ứng cử và được “chấm”, thì có thể phân bổ về một tỉnh/quận/huyện sao cho sự pha trộn có suy tính giữa các ứng viên trong đơn vị bầu cử, đủ để lý lịch ứng cử viên được “chấm” đó nổi bật, cộng thêm sự “định hướng” cho người đi bầu cử của đơn vị tổ chức bầu cử, đảm bảo khả năng trúng cử cao.
Có lẽ tương tự như vậy với dân biểu Phước, khi có định hướng tăng lượng dân biểu là doanh nghiệp, ngoài Đảng cho Quốc hội khóa 13.
Có điều, sẽ hiểu được khi dân biểu như đại diện thuộc khối Nội chính Đương phát biểu về vấn đề kinh tế vĩ mô như lạm phát mà ông chưa am hiểu lắm. Và sẽ là ngây thơ khi hy vọng dân biểu Đương phát biểu đóng góp để giảm đi tình trạng “án tại hồ sơ” của ngành Tòa Án Kiểm Sát.
Tuy nhiên sẽ là xấu hổ nếu chấp nhận dân biểu Phước, thay vì phát biểu đóng góp cải thiện tình trạng mất đi lợi thế so sánh của nền kinh tế Sài Gòn, lại phát biểu một cách “vĩ cuồng” về luật biểu tình, làm đại diện cho khối doanh nghiệp kinh doanh của Sài Gòn trong Quốc hội.
Nguyễn Kỳ Xuân
Tác giả hiện đang sống và làm việc tại Tp. HCM. Bài viết thể hiện cách hành văn và quan điểm riêng của tác giả.
Nguồn: BBC

Miến Điện thông qua luật biểu tình

Trong khi ở Việt Nam vẫn còn tranh cãi với nhau là nên hay không nên có luật biểu tình, thì tại Miến Điện, Quốc hội nước này vừa thông qua luật cho phép người dân biểu tình ôn hòa, tiến thêm một bước trên con đường dân chủ hóa.
Công chúng đứng xem các nhà sư ở tu viện Maha Mya Muni, Mandalay biểu tình phản kháng ngày 15/11/2011.
Hôm nay, 24/11/2011, Quốc hội Miến Điện đã thông qua Luật biểu tình, cho phép người dân kể từ nay được biểu tình ôn hòa. Luật này quy định là những người biểu tình phải báo cho chính quyền trước 5 ngày và không được phép tập hợp trước các trụ sở chính phủ, trường học, bệnh viện và các tòa đại sứ. Theo lời một dân biểu Miến Điện được hãng tin AFP trích dẫn hôm nay, một điều khoản cấm người biểu tình hô khẩu hiệu cuối cùng đã bị bác.
Luật Biểu tình hiện còn chờ được Tổng thống Thein Sein ký phê chuẩn để có hiệu lực. Theo nhận định của trang thông tin của người Miến Điện lưu vong Tiếng nói Dân chủ Miến Điện (DVB), nếu luật này được ban hành, như vậy là lần đầu tiên từ một thế kỷ qua tại Miến Điện, các cuộc biểu tình được hợp pháp hóa.
Cho tới nay, rất hiếm khi xảy ra biểu tình ở Miến Điện và phần lớn các cuộc biểu tình đều bị đàn áp. Vào tháng trước, nhiều người đã bị bắt giữ ở Miến Điện trong một cuộc tập hợp của nông dân có đất đai bị trưng thu. Tuy nhiên, vào tuần trước, 5 nhà sư đã biểu tình suốt hai ngày để đòi trả tự do cho toàn bộ tù chính trị, nhưng lực lượng an ninh đã không can thiệp.
Phải trở ngược đến năm 2007 mới thấy có những cuộc biểu tình lớn ở Miến Điện. Vào năm đó, các cuộc biểu tình, do các nhà sư Miến Điện chủ xướng, đã thu hút đến 100.000 người trên đường phố Rangoon, tạo thành một phong trào phản kháng lớn nhất kể từ khi giới tướng lãnh lên nắm quyền năm 1988. Phong trào đã bị chính quyền quân sự Miến Điện dìm trong biển máu, khiến ít nhất 31 người thiệt mạng.
Tháng ba vừa qua, tập đoàn quân sự đã chuyển giao quyền lực cho một chính phủ gọi là « dân sự », nhưng thực tế vẫn do quân đội kiểm soát. Tuy vậy, chính quyền mới trong những tháng gần đây đã có liên tiếp nhiều hành động theo hướng dân chủ hóa chính trị, có lẽ để nhằm phá vỡ thế bị cô lập trên trường quốc tế.
Ngoài quyền tự do biểu tình, cách đây một tháng, người dân Miến Điện cũng đã bắt đầu được hưởng quyền tự do công đoàn và tự do đình công, những quyền mà họ đã bị tước đoạt từ nửa thế kỷ qua. Việc kiểm duyệt báo chí cũng đã được giảm nhẹ. Thậm chí, chính quyền Miến Điện, vì muốn tuân theo « ý nguyện của nhân dân », đã không ngần ngại đình chỉ một công trình đập thủy điện do Trung Quốc tài trợ và xây dựng, mà không sợ làm mích lòng đồng minh Bắc Kinh.
Bên cạnh đó, giới lãnh đạo mới của Miến Điện đã bắt đầu đối thoại trực tìếp với nhà đối lập Aung San Suu Kyi và cho phép đảng của bà, Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ, được đăng ký hoạt động trở lại. Là một người đã từng ngồi tù và quản thúc tại gia nhiều năm, nay bà Aung San Suu Kyi có thể sẽ ra tranh chức dân biểu trong cuộc bầu cử Quốc hội một phần.
Những nỗ lực dân chủ hóa nói trên đã được quốc tế nhìn nhận, cụ thể qua việc Miến Điện sẽ được giao giữ chức chủ tịch luân phiên ASEAN vào năm 2014. Về phía Hoa Kỳ, Tổng thống Mỹ Obama quyết định gởi Ngoại trưởng Hillary Clinton đến thăm Miến Điện vào đầu tháng 12 tới để khuyến khích chính quyền nước này tiếp tục cải tổ chính trị. Đây sẽ là lần đầu tiên một người đứng đầu ngành ngoại giao của Hoa Kỳ đến thăm Miến Điện từ nửa thế kỷ qua. Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon cũng sẽ đến Miến Điện trong những ngày tới.
Nhật Bản còn đi xa hơn khi hôm nay loan báo sẽ cử các quan chức đến Miến Điện vào tuần tới để bàn về việc tái lập viện trợ phát triển cho nước này, vốn đã bị đình chỉ vào năm 2003, do việc bà Aung San Suu Kyi bị bắt giam.
Tuy nhiên, hiện giờ, cánh cửa của quốc tế vẫn chưa thật sự rộng mở đối với Miến Điện, vì một trong những đòi hỏi chủ yếu của các nước phương Tây là trả tự do cho toàn bộ tù chính trị vẫn chưa được đáp ứng.
Thanh Phương
Nguồn: RFI

Luật để cho ai?

Nếu như nỗ lực đưa ra dự thảo Luật Nhà văn dẫn đến câu hỏi “Luật để làm gì?” thì những cố gắng loại bỏ dự thảo Luật Biểu tình của một đại biểu Quốc hội vào tuần trước đưa chúng ta đến với câu hỏi “Luật để cho ai?”
Nếu thường xem phim hình sự Mỹ, chắc người xem sẽ nhớ ngay đến chuyện lúc nào trước khi bắt ai, cảnh sát đều đọc như máy: “Anh có quyền giữ im lặng. [Nhưng nếu anh từ bỏ quyền này] Bất kỳ điều gì anh nói hay làm có thể sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa…”. Có lẽ ai cũng từng có lúc thắc mắc vì sao cảnh sát nói thế làm gì cho thêm rắc rối, không lẽ họ không muốn kẻ tình nghi nhanh chóng khai hết mọi sự? Vì sao lại tự trói buộc mình vào một tình huống gây khó cho chính họ?
Đó là bởi luật lệ nước Mỹ (và luật của nhiều nước khác) quy định như thế, cảnh sát phải làm theo. Còn vì sao phải quy định như thế là bởi một trong nhũng tu chính án của Hiến pháp Hoa Kỳ không cho phép ép buộc một người tự khai để chống lại mình. Ép buộc thì không được (để tránh trường hợp bức cung, tra tấn buộc tù nhân nhận tội) nhưng tự thú thì đương nhiên là chuyện bình thường.
Đến đây, chắc mọi người cũng thấy rõ luật, đặc biệt là bộ luật gốc, tức Hiến pháp, không phải dành cho chính quyền – luật nhằm bảo vệ công lý, tạo ra sự công bằng xã hội và luật là công cụ để người dân bảo vệ các quyền hiến định của họ. Một số ít người vẫn nhầm tưởng luật nhằm kiểm soát xã hội.
Vì vậy, trước khi trả lời câu hỏi, Luật Biểu tình có cần thiết không trong ý nghĩa bảo vệ công lý, chúng ta nên đặt câu hỏi vì sao các bản Hiến pháp nước ta - cho đến bản Hiến pháp mới nhất đều ghi rõ công dân có quyền biểu tình (Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật – Điều 69, Hiến pháp 1992)?
Có thể trả lời câu hỏi này bằng nhiều cách. Đơn giản nhất thì cho rằng đó là các quyền cơ bản của con người trong một xã hội văn minh. Ở một mức cao hơn thì giải thích biểu tình đâu phải đơn thuần là chống lại Chính phủ như một số ít người hiểu nhầm, biểu tình là để người dân bày tỏ thái độ và thái độ đó có thể là phản đối, có thể là ủng hộ, có thể là nhắm đến Chính quyền nhưng cũng có thể nhắm tới hàng loạt đối tượng khác.
Nhưng thực chất vấn đề không nằm ở đó, không dừng lại ở những khái niệm nhất thời. Hiến pháp được xem là một khế ước cao nhất của tất cả mọi người trong một đất nước, cùng thỏa thuận cách thức sống chung với nhau như một xã hội thống nhất nên Hiến pháp cũng là công cụ để giúp kiểm soát, ngăn chận sự lạm quyền trong mọi thời điểm tương lai.
Người dân trao cho những người cầm quyền nhiều quyền lực để thực thi nhiệm vụ nhưng đồng thời họ cũng giữ cho mình những công cụ để tước đi quyền lực ấy nếu người cầm quyền lạm dụng quyền lực để làm điều xấu có hại cho người dân. Những công cụ ấy rất đa dạng, ở góc độ cá nhân là những luật lệ chặt chẽ mà ý nghĩa là nhằm bảo vệ công lý cho từng cá nhân như nói ở trên, ở góc độ xã hội là sự phân công quyền lực để dùng quyền lực giám sát quyền lực. Và ở góc độ tập thể chính là quyền biểu tình như quy định trong Hiến pháp.
Nếu nhìn từ góc độ người lãnh đạo, với một bộ máy nhà nước khổng lồ, nhu cầu có những cơ chế, những thủ tục, những quy trình để kiểm soát cấp dưới khỏi làm bậy, khỏi lạm quyền, khỏi đi chệnh những đường lối chính sách mà mình vạch ra là rất lớn. Trao cho xã hội những công cụ như luật lệ, trong đó có Luật Biểu tình, là nhằm mục đích đó. Giả định một tình huống, lãnh đạo một địa phương nào đó lạm dụng quyền lực chiếm đất của người dân trái phép, lại có đủ thủ đoạn để chặn đứng những nỗ lực đương đầu của người dân như khiếu nại, tố cáo, kiện ra tòa… Lúc đó, biểu tình là cách tốt nhất để người dân ở nơi đó gởi thông điệp của họ đến thẳng chính quyền cấp cao hơn để biết và giải quyết triệt để.
Thật ra, để trả lời cho vị đại biểu tuần trước ra trước Quốc hội phát biểu bác bỏ nhu cầu cần có dự luật biểu tình thì đơn giản hơn nhiều. Biểu tình là một trong những quyền của công dân ghi trong Hiến pháp. Chừng nào Hiến pháp còn ghi điều đó thì nhiệm vụ của các đại biểu lập pháp như ông là phải cụ thể hóa quyền đó thành một đạo luật cụ thể. Nói chờ dân trí cao hơn mới có thể ban hành Luật Biểu tình là một cách nói vi hiến không thể chấp nhận ở một đại biểu Quốc hội.
Nguyễn Vạn Phú
Nguồn: Nguyễn Vạn Phú blog

Thứ Năm, ngày 24 tháng 11 năm 2011

Biểu tình ở Ai Cập: Không thể xem thường lòng dân

Được khích lệ từ thành công cách đây chín tháng, người dân Ai Cập đã phản ứng mạnh mẽ hơn khi giới quân sự trì hoãn chuyển giao quyền lực. Đám đông ở quảng trường Tahrir gửi đi một thông điệp rõ ràng: công luận Ai Cập hậu khởi nghĩa không thể bị coi thường.
Thông điệp này được chính phủ dân sự Ai Cập nhận thức rất rõ, dẫn đến cuộc từ chức của nội các vào đêm 21.11. Việc chính phủ từ chức là mất mát lớn nhất ảnh hưởng đến thẩm quyền của Hội đồng tối cao các lực lượng vũ trang (CSFA), cơ quan quyền lực thực sự tại Ai Cập từ sau khi ông Mubarak bị lật đổ.
Một người biểu tình cũng là tu sĩ, cầu nguyện trong khi những người khác tháo chạy do cảnh sát ném lựu đạn cay vào đám đông trong cuộc đụng độ trên con đường dẫn tới bộ Nội vụ, gần quảng trường Tahrir ở Cairo ngày 22.11.2011.
Hậu duệ của Mubarak
Mặc dù nhà độc tài đã ra đi nhưng hệ thống chính trị mà ông ta dựng nên cùng các đồng minh chính trị trung thành vẫn còn tại vị. Với giới chỉ trích, CSFA là biểu tượng của sự tiếp nối chế độ Mubarak mà không cần có mặt của ông. Sự giận dữ trước đây với Mubarak, nay chuyển qua những người kế nhiệm. Nhân vật chủ chốt trong lực lượng quân đội là thống chế Mohammed Tantawi, chủ tịch CSFA, 76 tuổi. Ông là người ngoan cố và độc tài giống như người chủ mà ông phục vụ trong gần hai thập kỷ. Hoặc giám đốc cơ quan tình báo hiện tại, Murad Muwafi, được ông Mubarak trọng dụng suốt mười năm qua và bổ nhiệm vào vị trí này trong những ngày nắm quyền cuối cùng.
Khi nhà độc tài sụp đổ, người Ai Cập hy vọng luật khẩn cấp do ông Mubarak ban hành nhiều năm qua sẽ được dỡ bỏ. CSFA lúc đầu hứa hẹn, nhưng vẫn duy trì tình trạng khẩn cấp đến tháng 6. Về lý thuyết, ông Tantawi và các đồng nghiệp chỉ có mỗi trách nhiệm hướng Ai Cập trải qua giai đoạn chuyển đổi để tiến đến nền dân chủ. Một lộ trình đã được đặt ra để quân đội chuyển giao quyền lực: sau khi một quốc hội mới được thành lập sẽ là một cuộc bầu cử tổng thống. Tuy nhiên, thời gian biểu để thực hiện kế hoạch trên không được rõ ràng. Thống chế Tatanwi ban đầu nói quân đội chỉ cầm quyền trong sáu tháng, nhưng qua thời hạn đó vẫn không có gì tiến triển. CSFA tuyên bố dời thời điểm bầu cử sang năm 2013, thay vì tổ chức vào giữa năm tới. Nhiều người Ai Cập lo ngại quân đội sẽ không chịu bàn giao quyền lực, họ đòi bầu cử tổng thống phải diễn ra trong tháng 4.2012.
Quân đội Ai Cập có ba lợi ích cốt lõi cần phải bảo vệ: bảo đảm những lãnh đạo của mình sẽ không rơi vào kết cục như ông Mubarak, che chắn những lợi ích kinh tế của quân đội, từ các nhà máy sản xuất vũ khí đến các nhà máy sản xuất hàng gia dụng, đảm bảo vị thế và đặc quyền quân sự. Rời bỏ quyền lực mà không có sự bảo đảm nào sẽ khiến những lợi ích này bị phơi bày và tổn thương.
Không thể làm ngơ ý dân
Tuần trước, CSFA đã đề xuất trong hiến pháp mới phải có điều khoản quy định ngân sách quốc phòng là một bí mật và không phải chịu sự giám sát, đồng thời hội đồng này phải được quyền phủ quyết trong việc soạn thảo hiến pháp. Khi đó, những tướng lĩnh nghĩ rằng dân chúng sẽ không phản ứng mạnh. Trong bốn ngày diễn ra biểu tình, có thể thấy cánh quân đội đã để mất lòng dân. 33 người thiệt mạng trong bốn ngày nhưng không làm sờn lòng người biểu tình. Ở quảng trường Tahrir tại trung tâm thủ đô Cairo có khoảng 20.000 người tụ tập. Tại thành phố cảng Ismailia ở gần kênh đào Suez, cảnh sát được huy động để đối phó với 4.000 người biểu tình. Hơn 5.000 người cũng bao vây trụ sở chính của cơ quan an ninh của thành phố duyên hải Alexandria. Người Ai Cập không chỉ nói mà đã hành động và thể hiện cảm xúc của mình trên đường phố. Cho đến nay, nơi duy nhất mà họ có thể cất tiếng nói của mình chính là ở đường phố.
Thay vì chịu đựng những người biểu tình đang hừng hực tinh thần phản kháng thì lực lượng an ninh, dưới sự chỉ huy của bộ Nội vụ, đã bắn hơi cay và đạn cao su vào dòng người đang quá khích. Một số bản tin nói rằng cảnh sát đã bắn cả đạn thật. Tưởng rằng có thể khống chế, nhưng CSFA chỉ thổi thêm gió vào ngọn lửa giận dữ của người dân. Mặc dù tình hình bất ổn nhưng cuộc bầu cử quốc hội vào đầu tuần tới sẽ vẫn phải diễn ra theo kế hoạch. Việc trì hoãn chỉ khiến công chúng thêm phẫn nộ, chọc giận phong trào Huynh đệ Hồi giáo có tầm ảnh hưởng lớn và các đảng chính trị khác đòi phải thực hiện quá trình chuyển đổi. Quyền lực của quốc hội bị hạn chế trong chức năng soạn thảo hiến pháp và giữ vai trò lập pháp, quân đội vẫn được quyền điều hành của tổng thống bằng việc chỉ định thủ tướng và nội các. Tuy nhiên quốc hội mang một trọng trách mà CSFA không thể làm ngơ: sự thống nhất. “Chúng ta không thể đánh giá thấp sự phân tán rất lớn giữa các phe phái chính trị khiến quân đội có thể làm những gì họ muốn trong vài tuần qua”, nhà phân tích người Ai Cập Khalil Al Anani thuộc đại học Durham (Anh) nhận định.
Cảnh Toàn
Theo SGTT/TELEGRAPH, BBC, REUTERS

Bộ trưởng Thăng, Điếu cày và phóng lợn

Cách đây chưa lâu, dư luận mạng ồn ào bàn tán sau khi clip “quần đùi đỏ dùng điếu cày giải quyết ùn tắc giao thông”. Rất nhiều người đã vỗ tay, dù đây là hành vi có màu sắc bạo lực. Đôi khi, chỉ vì những nỗi bức xúc thường ngày, trong trường hợp này là chuyện ùn tắc, người ta dễ thông cảm cho ….những cái điếu cày.
Đại biểu Thuyền hỏi: "Bộ trưởng cho biết khi nào bớt ùn tắc?". Bộ trưởng Thăng đáp: "Tôi chưa thể khẳng định".
Hôm qua, tai nạn giao thông- hoàn toàn không ngẫu nhiên, trở thành chủ đề chất vấn chính tại Quốc hội, dù rất ngẫu nhiên, chỉ ngay trước ngày Bộ trưởng Đinh La Thăng đăng đàn, trong một ngày 22-11, cả nước đã xảy ra 50 vụ TNGT, làm 41 người chết và 53 người bị thương. Chính Bộ trưởng Thăng đã dẫn số liệu có tới 11.929 đã chết vì tai nạn. 9.290 người khác bị thương trong chỉ một năm để: “So sánh với thảm hoạ sóng thần tại Nhật Bản” khi mà “Số người chết bằng 75%, số người bị thương bằng 156%”.
Bây giờ, tai nạn nhiều và ám ảnh đến mức không ngày nào là không có những dòng tin tang tóc, đẫm máu về tai nạn, và cái chết. Và Bộ trưởng có lý khi coi đó là một thảm họa, thậm chí một quốc nạn.
Kể từ khi Bridget Driscoll, một phụ nữ người Anh, được ghi nhận là nạn nhân đầu tiên chết vì tai nạn giao thông vào ngày 17-8- 1896, số người chết ngày càng nhiều. Ở Việt Nam, sau con số kỷ lục hơn 14.000 người chết vào năm 2007, 4 năm gần đây, năm nào số người chết cũng trên dưới 11.000 người. Hậu quả do TNGT xảy ra cũng ngày càng nặng. Nếu như năm 1995, cứ 2,8 vụ tai nạn mới làm tử vong 1 người thì đến năm 2010 chỉ với 1,2 vụ tai nạn giao thông đã có 1 người tử vong.
Lựa chọn của Bộ trưởng Đinh La Thăng, một bộ trưởng Bộ Giao thông, khi tuyên chiến với tai nạn giao thông, và ùn tắc giao thông, vì thế, là một lựa chọn đúng và chắc chắn sẽ được nhân dân ủng hộ, dù đáng lẽ đó phải được hiểu là trách nhiệm của Bộ trưởng.
Nhưng cái mà cử tri mà nhân dân cả nước quan tâm là Bộ trưởng sẽ làm thế nào để giảm sự tang tóc trong mỗi gia đình?
Một trong những đột phá của Bộ trưởng là về vấn đề hạ tầng giao thông. Bởi không phải ngẫu nhiên mà TNGT, và gắn liền với những con số thống kê rợn tóc gáy về số người chết, số người bị thương, tập chung chủ yếu ở các nước đang phát triển, nơi mà hạ tầng giao thông vừa thiếu, vừa yếu. Không khó để tìm ra câu trả lời ấn tượng nhất trong vô số những câu hô khẩu hiệu, trích nghị quyết: Sẽ kiên quyết thay thế các nhà thầu, các tư vấn giám sát, đặc biệt các BQL không đạt yêu cầu.
Có lẽ, đột phá- nếu có; biện pháp- nếu có, điểm nhấn- nếu có, ghi dấu ấn- nếu có, chính là việc ông sẽ rất sẵn sàng, rất quyết liệt- theo ngôn ngữ của báo chí là- “chém tướng”, mà sự kiện “Sân bay Đà Nẵng” hay “Sài Gòn- Trung Lương” là những ví dụ điển hình.
Tại Lễ phát động “Thập kỷ hành động vì an toàn giao thông đường bộ toàn cầu 2011 – 2020” của Liên Hợp Quốc tại Việt Nam hôm 11-5, một PV đã đặt câu hỏi với Bộ trưởng Bộ GTVT, lúc đó là ông Hồ Nghĩa Dũng: “…đến bao giờ thì mọi người mới hết ám ảnh về TNGT, đặc biệt là TNGT thảm khốc?”. Ông Dũng trả lời “Đến bao giờ người Nam mới hết ám ảnh về TNGT thì tôi không thể trả lời được”.
Hôm qua, Bộ trưởng Thăng cũng tỏ ra xuất sắc không kém khi ông trả lời “Tôi chưa thể hứa bao giờ hết tắc đường”. Nhưng chí ít, ông cũng hơn Bộ trưởng Dũng ở việc ông dám hứa, dám mạnh dạn đề ra chỉ tiêu sẽ giảm 5-10% số vụ tai nạn trong nhiệm kỳ Bộ trưởng. Dù có rất nhiều nghi hoặc trong việc phân định đây là một quyết định dũng cảm của một bộ trưởng dám nghĩ, dám làm, hoặc biểu hiện sự non nớt của một tân chính trị gia lần đầu “đi thi”- như chính Bộ trưởng Thăng nói thì dẫu sao, ông cũng đã làm điều mà những vị bộ trưởng “khôn ngoan” trước đây không bao giờ hứa hẹn.
Bản tin tối của VTV đã rất “thâm hiểm” khi đưa thông tin chỉ trong hai tiếng “đi thi”, ông đã hô kiên quyết đến 10 lần, nhưng cũng 11 lần dùng từ “thông cảm”.
Cũng cần phải nói thêm, giảm tai nạn, và nhất là giảm ùn tắc, hoàn toàn không đơn giản chỉ là việc trảm, hay dùng điếu cày. Bởi kiên quyết mà dùng điếu cày hay phóng lợn thì rất khó để thông cảm.
Đào Tuấn