Thứ Bảy, ngày 03 tháng 12 năm 2011

Bác Hợp dạy 4 biết

Nguyễn Quang Vinh
Dân gian giờ gọi là bác Hợp, nhưng tên đầy đủ của bác là Lê Doãn Hợp, nguyên Bộ trưởng Bộ thông tin và Truyền thông.
Vừa rồi bác nghỉ công tác.
Bác Hợp từng có câu dạy viết lề phải như răng, lề trái như răng làm tụi em rất mệt
Vì bác mà tụi em nhìn nhau lung tung lang tang lên hết, người nói tụi em lề phải, người nói tụi em lề trái, người nói tụi em là dân viết lề phải sao lại xuất chữ như lề trái, người nói đích thị tụi em là lề trái sao lại viết lách giống mấy thằng lề phải, người lại nói tụi em viết lách sao vừa lề phải vừa lề trái. Cũng vì điều dạy ngày xưa của bác mà tụi em cãi nhau có, gây lộn nhau có, ném bát ném cốc chén vào nhau có, giận hờn lườm nguýt nhau có, mà toàn là anh em cả, tội lắm. Nói như dân quê bác Hợp, nghe “ nhọc” bác ạ.
Bác nghỉ, tụi em cũng đỡ nhọc.
Nhưng hôm nay, bác Hợp lại dạy nữa rồi.
Mà dạy những 4 biết cơ.
VNN hôm nay nói để dạy được 4 biết này, bác Hợp phải đúc kết ghê lắm nha, đúc kết toàn bộ kinh nghiệm sử dụng quản lý cán bộ của bác í, đúc kết về kinh nghiệm đánh giá năng lực, phẩm chất cán bộ từ cuộc đời bác í rút ra: Một cán bộ tốt là một cán bộ thực hành 4 biết (biết viết, biết nói, biết làm, biết điều)
Tụi em lại phải đọc lui đọc tới, đọc tới đọc lui, đọc từ 1 biết đến 4 biết rồi chắc ăn hơn, đọc ngược từ 4 biết lên 1 biết
Và…bật cười.
Bác Hợp ơi, nhờ 4 biết của bác mà tụi em mới phát hiện ra một điều rất đáng biết, là những điều bác dạy cần biết, thì ai cũng biết tuốt tuồn tuột rồi bác ạ, cũ lắm bác ạ, ABC lắm bác ạ. Làm người ai mà chẳng phải biết thế hả bác, huống chi là cán bộ. Chẳng lẽ chỉ có 4 biết mà đến cháu học sinh cũng đã biết từ lâu mà bác phải nhọc công đúc kết hả bác. Mần chi rứa cho nhọc hả bác.
Nước mình, tụi em nghĩ, may mắn chỉ có Bác Hồ kính yêu mới có thể đưa ra cho dân mình chữ nào cũng hay, đúc kết thành chữ THÁNH.
Bác nỏ mần được chuyện này đâu bác Hợp ạ.
Nhưng Cu Vinh hỏi nhỏ bác chút, điều dạy thứ 4 của bác í, là BIẾT ĐIỀU cụ thể nó là răng? Biết điều với dân hay biết điều với cấp trên? Ngày bác đương chức, bác dạy viết phải phân biệt lề phải, lề trái, lúc đó bác biết điều với cấp trên lắm bác hè?
Chúc bác Hợp sức khỏe, hạnh phúc.
Theo Nguyễn Quang Vinh blog

Cái sự biểu tình..

“Tại sao Việt Nam lại ủng hộ việc con người ta nói không thật nhỉ? Nói không thật thì liệu sống có thật được không? Một thể chế có thể vững chắc trên một nền tảng mà người dân không được trung thực không?”.
Cắm trại biểu tình tại quảng trường Tự do (Mỹ) 

Vì dốt về “chính chị chính em” nên mình chẳng hiểu cái sự dân chủ ấy nó có liên hệ mật thiết thế nào với việc giàu mạnh của một nước. Nhưng suốt hơn tháng qua, lang thang qua Dublin, rồi Washington, Montreal, Ottawa, Boston, New York... nơi nào mình cũng thấy biểu tình. Từ nhỏ đến to. Từ một người đơn lẻ hay vài chục người... đến hàng trăm hàng ngàn người như hôm nọ trên Quảng trường Tự do ở DC hay ở nhiều địa điểm khác nhau khắp thành phố New York...

Nhớ lại hơn chục năm trước mình ngạc nhiên vô cùng khi thấy hơn chục người Tây Tạng ngồi biểu tình đòi tự trị cho dân tộc họ. Hàng ngày trời trước Trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New York. Một vài tấm biển có khẩu hiệu, và im lìm ngồi. Vậy thôi. Xa xa có vài cảnh sát đứng. Cũng im lìm, thỉnh thoảng đi đi lại lại.

Tháng trước, ở Dublin, thấy đoàn người khá đông và dài biểu tình ở ngay trung tâm, trước trường Đại học Tổng hợp, đi trật tự, cờ biểu ngữ giương cao... phóng viên, nhà báo... đi theo phỏng vấn cũng trật tự.

Cách đây chừng tuần thì trước Tòa Quốc hội ở Montreal có một trung niên, đeo một biển trước bụng đi lại và biểu tình chỉ đại diện cho ý kiến nào đó của chính ông mà thôi.

Hôm mới đến Washington DC, thấy trước Tòa Bạch ốc, hàng trăm người biểu tình hết sức trật tự. Cờ quạt khẩu hiệu biểu ngữ giăng đầy. Cũng vụ việc dính dáng đến các nhà băng. Dân chúng phản đối vì Nhà nước cứ tài trợ giúp đỡ cho những tập đoàn lớn, những ông chủ nhà băng... chứ người dân không được quyền lợi gì... Đây là xu hướng chung của cả thế giới giai đoạn này. Rồi ra quảng trường Tự do, thấy lều bạt cắm đầy kín mít, những khẩu hiệu như “Chi tiền cho nhân dân, không cho chiến tranh” chẳng hạn chăng khắp nơi. Chỗ này thì thấy một phóng viên da màu đang phỏng vấn một vị trông có lẽ là Ấn Độ về việc tiền lương; trên kia, chỗ trung tâm thì thấy đang quay truyền hình trực tiếp một buổi đàm luận về vấn đề chính của cuộc biểu tình, có chừng năm vị đủ màu da sắc tộc đang hăng hái tranh luận; góc khác thì lại thấy ký giả tờ thời báo nào đó đang dí microphon vào một bà da đen hỏi việc điện, nước, nhà ở gì đó... Nhòm vào trong một số lều thì thấy áo quần giầy tất ngổn ngang cả, trông có vẻ các “biểu tình viên” đã ở lâu và cũng sẽ còn ở lâu tại đây. Có vẻ “trường kỳ” lắm. 
Khẩu hiệu kêu gọi thay vì chi tiền cho chiến tranh, hãy dành cho nhân dân nhiều hơn 

Còn ở Berlin thì thỉnh thoảng trước Đại sứ quán Trung Quốc lại có khoảng dăm chục người tụ họp phản đối nhà nước Trung Quốc đàn áp Pháp Luân Công, cũng như tuần trước ở Ottawa (hay là đâu đó vì gặp nhiều quá nên nhiều khi cũng không nhớ hết nổi).

Thế mới thấy cái sự biểu tình ở những nước này là rất bình thường. Bình thường cả đối với người dân và cả đối với chính phủ. Tôi không đồng ý thì tôi kiến nghị hay biểu tình. Cho đến khi nào yêu cầu của tôi, của chúng tôi được trả lời một cách thỏa đáng. Phía nhà nước chắc cũng không hẳn thích thú gì, nhưng biết đó là quyền công dân, phải tôn trọng điều đó, tôn trọng pháp luật. Người biểu tình chỉ cần thông báo ngày giờ nội dung... Nhà nước cho cảnh sát yểm trợ và đồng thời để giải quyết kịp thời nếu có những hành động quá khích. Như ở Đức, giữa đoàn biểu tình của Cánh Tả và của Phái Hữu nhiều khi quá đà thì cảnh sát lập tức có mặt ngay để giải quyết những vụ ẩu đả giữa hai bên. Chứ không phải cảnh sát hành hung người biểu tình.

Mình thì chỉ đơn giản nghĩ là khi đã đủ mạnh thì sợ quái gì thằng nào ý kiến. Nếu họ không hiểu ý đồ của mình thì giải thích cho họ hiểu, còn nếu mình thấy ý kiến họ hợp lý thì mình nên chuẩn theo.

Việc gì mà đàn áp. Bởi đàn áp, khi đã sử dụng đến vũ lực, có nghĩa là anh đã bất lực rồi. Đó là còn chưa kể đến những thủ đoạn đê hèn của khi sử dụng vũ lực nữa. Cứ đơn giản nghĩ đến một gia đình khi chồng mà đã “thượng cẳng chân hạ cẳng tay” với vợ thì thường đó chỉ là những anh chồng chỉ mạnh về hình hài thể xác mà thôi.

Hôm qua, giữa phố Wall là trung tâm tài chính không chỉ nổi tiếng của cả nước Mỹ mà của cả thế giới nữa mà mình thấy chật cứng. Hàng nghìn người rầm rộ chăng cờ, biểu ngữ... đòi phải chi tiền cho nhân dân nhiều hơn mà mà không cho chiến tranh. Đen, trắng, vàng... các màu da đều đồng lòng nhất trí. Dân chúng rầm rập hô vang khẩu hiệu “Peace for Protess” (Bình an cho chống đối, đại ý là việc biểu tình phải được diễn ra trong hòa bình, không đàn áp). Với vốn tiếng Anh còn rơi rớt lại từ cách đây ba chục năm khi đi học thì mình hiểu vậy vậy thôi. Thấy cảnh sát chỉ dẹp dẹp dân đừng có quá khích. Nhà báo, phóng viên đủ các đài báo... máy móc trang bị đến tận chân răng, phỏng vấn và truyền hình quay lia lịa. Tận trong “sào huyệt” thế này mà không thấy bị đàn áp nhỉ. Thế hóa ra họ không có truyền thống “xấu xa phải đậy lại” à? Quái, cái bọn tư bản này lạ thật! Hay vì chúng nó giàu và mạnh nên không sợ thằng nào cả nhỉ. Nó cho người dân nó được quyền nói hết ý nghĩ của họ, để giúp chúng nó sửa mình tốt hơn. Dân chủ này có “giả hiệu” không nhỉ. Hay là vì người dân được nói hết mà nước nó giàu mạnh hơn?

Ý nghĩ ấy cứ luẩn quẩn mãi trong đầu mình.

Lại rùng mình nghĩ đến thế này mà ở Việt Nam thì nhẹ cũng bị chửi bới, đạp vào mặt, nhốt vào tù ít nhất là vài ngày cho nếm mùi tù tội, còn nặng thì có giời mà biết được. Có thể cái thời mà “sự đi tù của tôi chỉ bằng tiếng “Ồ” của một nhà thơ lớn”, hay đi tù mà không có án, không biết vì sao mình đi tù hoặc cho chết chìm luôn về sinh mạng chính trị như biết bao người... đã không còn hoàn toàn ở hình thức như vậy nữa nhưng ai mà biết được những thằng “cớm chìm” làm gì người dân... Chúng cứ đi lẫn vào đoàn biểu tình rồi sinh sự chửi bới, khiêu khích rất thô bỉ. Bất cứ ai chỉ cần hó hé là có thể bị túm vào đồn và để có những thằng cha như tay trưởng đồn gì đó tuyên bố cho quân bắt ngay, làm như thể cái đồn cảnh sát là nhà hắn không bằng ấy. 
Biểu tình để nêu ý nguyện với chính quyền, quyền hiến định của người dân 

Cái sợ nhất là không được nói cái mình nghĩ, hay phải nói khác cái mình nghĩ. Yêu không được nói là yêu, ghét không được nói là ghét. Cái mà một nhà thơ có tiếng của Việt Nam đã phải trả giá bằng chính cuộc đời của ông. Tại sao Việt Nam lại ủng hộ việc con người ta nói không thật nhỉ? Nói không thật thì liệu sống có thật được không? Một thể chế có thể vững chắc trên một nền tảng mà người dân không được trung thực không? Là phụ nữ nông nổi, cạn nghĩ chỉ như cái “cơi đựng giầu” nên mình cứ nghĩ đơn giản rằng liệu một gia đình mà cả nhà vờ vịt, dối trá... với nhau thì đấy có còn là một gia đình được nữa không?

Đi giữa đoàn biểu tình ở New York hôm nay mà lại mong đến một ngày mình được hòa mình trong không khí biểu tình rầm rộ, hừng hực... mà an toàn thế này giữa lòng Việt Nam. Chống cái gì cũng được. Nhiều khi chỉ là phản đối những vụ như dự định xây năm cái cửa ô (để rồi lại phá đi) để chào mừng ngàn năm Thăng Long, hay hè đường cứ đào lên lấp xuống ở Bờ Hồ, hoặc giả vụ cụ rùa thập tử nhất sinh mà chờ mãi chưa thấy cơ quan hữu quan nào đả động... chẳng hạn.

Bởi như vậy là chính quyền Việt Nam đã đủ mạnh, đủ tự tin để dám nghe ý kiến trái chiều, chân thật của người dân.

Mình có được quyền hy vọng không nhỉ? 
Bài và ảnh: Hoài Thu, từ San Fransisco – Ngày 20-11-2011
Theo Nhịp cầu thế giới

Thứ Sáu, ngày 02 tháng 12 năm 2011

Tôi đã từng thờ ơ với Trường Sa, Hoàng Sa

Để tìm nguồn “góp đá”, thành viên lớp tôi nghĩ ra chương trình chiếu phim gây quỹ “Góp đá xây Trường Sa”.
Bằng mọi cách, tôi đã đăng lên các diễn đàn mạng như diễn đàn trường, diễn đàn sinh viên Đà Nẵng, Facebook, Yahoo!… kêu gọi mọi người mua phiếu xem phim ủng hộ Trường Sa.
Đó là trên mạng, còn ở trường chúng tôi đặt một chiếc bàn bán vé ủng hộ và băngrôn lớn ngay gần lối sinh viên hay đi qua để kêu gọi mọi người mua vé ủng hộ. Đến giờ nghỉ giữa tiết, mấy đứa lại phân công nhau lên các lớp hoặc những chỗ có sinh viên tụ tập đông để kêu gọi. Nhưng dường như điều mà đa số chúng tôi nhận được chỉ là những cái xua tay, lắc đầu trước những tấm phiếu ủng hộ chỉ 15.000 đồng/cặp.
Có bạn sinh viên nữ khi nghe tôi nói về “Góp đá xây Trường Sa” lại nhìn tôi với ánh mắt khó chịu như thể tôi là một kẻ lập dị. Có khi tôi lấy hết can đảm để bước vào, đứng giữa một lớp học xa lạ gần trăm sinh viên, cầm micrô kêu gọi nhưng tất cả chỉ cười ồ lên và buông lời trêu chọc, rồi rốt cục chẳng ai mua nổi một tấm vé.
Có nhiều bạn thường tham gia các hoạt động từ thiện, luôn nói hùng hồn về “từ thiện”, về “công tác xã hội” thì giờ đây… khi chúng tôi kêu gọi mua một tấm vé vì Trường Sa lại chỉ cười, nhún vai, lắc đầu rồi bỏ đi.
Về nhà, vào các diễn đàn mạng cứ hi vọng sẽ có rất đông người đặt vé, nhưng hoàn toàn trái ngược với sự tưởng tượng của tôi. Trên Facebook có những comment ngây ngô đáng nể: “Góp đá xây Trường Sa là sao hả bạn? Mình không hiểu?”, có người còn comment chế giễu.
Hôm sau, cô bạn cùng lớp tôi kể chuyện cô ấy mang vé đi bán với vẻ bức xúc lắm, vì mời phải mấy anh sinh viên năm 4 lại nhận được câu trả lời: “Tụi anh năm cuối rồi thời gian đâu mà đi xem phim?”. Nhưng khi cô bạn vừa quay đi, anh chàng đó liền quay sang nói với đám bạn: “Tối nay nhậu hè?”.
Thế nhưng, vẫn có những bạn trẻ rất đáng trân trọng. Khi bỗng dưng thấy “nick Facebook” của mình được mời tham gia một trang trên Facebook với cái tên: chương trình chiếu phim gây quỹ “Góp đá xây Trường Sa” do một cậu bạn sinh viên Bách khoa lập, tôi thấy lòng mình ấm hơn. Bạn ấy đã viết: “Dành một phút để đọc – Có thể bạn sẽ giúp cho Trường Sa mãi mãi là của chúng ta (…). Ủng hộ Trường Sa cùng bạn trẻ Việt trên khắp đất nước nào”.
Hay đơn giản chỉ là khi những tin nhắn kêu gọi trên Yahoo! của tôi được bạn này bạn kia chuyển tiếp đi khắp danh sách bạn bè của họ. Cứ thế nhân rộng ra… Điều đó khiến tôi tin tưởng hơn vào việc chúng tôi đang làm – một hành động thiết thực cho Tổ quốc mình.
Nhưng tôi cũng không thể phủ nhận một điều là chính mình trước đây cũng đã thờ ơ với Trường Sa, Hoàng Sa. Chỉ từ khi lớp tôi tổ chức chương trình này, từ khi được ngồi xem những đoạn phim tư liệu về Trường Sa mà lớp chiếu… Tôi lặng đi, trong lòng bỗng dậy lên một thứ xúc cảm kỳ lạ, tôi nổi da gà. Đó là một cảm giác trân trọng, biết ơn sự hi sinh của những chiến sĩ nơi đảo xa. Đau xót xen lẫn xấu hổ, xấu hổ cho sự vô cảm của mình. Có lẽ đó là giây phút mà điều gọi là “tinh thần dân tộc” trỗi dậy trong tôi.
Bài viết của tác giả Mai Hương dự thi “Cảm xúc Trường Sa”
Theo Tuổi Trẻ

Hoan hô Chú Ba, tới luôn Chú Ba !

Mấy bữa rày theo dõi trên TV và đọc Nhựt Báo,Tuần Báo, Blog (cả lề trái lẫn lề phải), nghe Radio trong và ngoài nước(VOV,BBC,VOA…) bài phát biểu của Chú Ba trước Quốc Hội,Tôi sướng và đã cái bụng quá Chú Ba !
Tôi sướng và đã vì mấy lý do sau Chú :
Thứ nhứt : đã lâu lắm rồi mới có một vị lãnh đạo cấp cao cỡ bự như Chú nói trúng cái ý Nhân dân về vấn đề Chủ quyền quốc gia (chủ quyền Hoàng Sa,Trường sa), về Tự do, dân chủ (Biểu tình và Luật biểu tình). Và như thế đã lâu lắm rồi (từ hồi thống nhất Đất Nước) Lòng Dân ý Đảng lại gặp nhau hoà làm một. Mà một khi Lòng Dân Ý Đảng là một thì chiện đòi lại Hoàng,Trường sa là chiện nhỏ ! Vụ Bauxit,Vinashin, khủng hoảng kinh tế, lạm phát v,v.. cũng là… chiện nhỏ luôn Chú Ba !
Thứ hai ( lý do nầy hơi bị “cá nhân” và “điạ phương chủ nghĩa” một chút à nghen ) : Tôi cũng như Chú và Chú Tư đều là dân Nam Bộ. Lâu nay nghe người ta nói cạnh nói khóe dân Nam Bộ mình hổng biết ăn nói và hổng làm được chiện gì nên hồn, toàn nói dóc… Tôi bực mình lắm Chú (mặc dầu hơn 20 năm nay làm Thủ tướng rồi Chủ Tịch Nước toàn là dân Nam Bộ mình không à). Họ còn dẫn ba cái vụ “lẻ tẻ” như chiện Chú Sáu nói “thức ngủ” ở bên Cu Ba… rồi chiện Chú Ba hứa chống Tham nhũng, chiện Vinashin phá sản…làm bằng. Bậy hết sức, họ đâu có chịu hiểu Chú Sáu. Ổng vốn giỏi nhưng là dân học tự nhiên (Cử nhân Toán à nghen) nên khả năng ăn nói trôi chảy văn hoa như dân học xã hội là điều hơi bị khó. Còn nữa, chiện Chú Ba chống Tham nhũng phải “trường kỳ” giống như ngày xưa mình Trường kỳ kháng chiến dzậy hổng thể ngày một ngày hai nói xong là xong cái rụp, vụ Vinashin cũng thế, nó phá sản là do “tình hình chung” cả Thế giới chứ Chú đâu có muốn đúng không ? Tụi Mẽo nó làm ăn kinh nghiệm cả đống thế mà gặp khủng hoảng kinh tế Thế giới một cái , mấy tập đoàn bự tổ chảng cỡ GM, Lehmann… còn sập cái một nữa là mình mới tập tọe mần ăn !
Nhiệm kỳ này Chú và Chú Tư Chủ tịch làm, 100 ngày qua hai Chú “hiệp đồng tác chiến” quá hay, có công có thủ, có cương có nhu, thiệt “Ngon lành cành Đào”. Chú Tư lo chiện “Ngoại trị” tới lui giao dịch đẹp hết sức, nâng các mối quan hệ với các nước xung quanh lên được bao nhiêu là tầm cao. Còn chiện “Nội trị” Chú làm cũng ngon lành hổng kém, bao nhiêu dũng tướng Chú chọn măt gởi Vàng nhiệm kỳ này hầu hết đều đáng đồng tiền bát gạo của Dân (trừ bà Đốc tờ Tiến bên Y tế) như Tướng Huệ,Tướng Thăng…Rồi bản thân Chú thân chinh“xuất trận“ đề nghị soạn Luật Biểu tình, trả lời chất vấn trước Nghị trường hay hết sức, làm cho các bác Nghị gật tới sái cổ luôn, bàn dân thiên hạ cũng được một phen lé mắt. Nhân dân thì nức lòng, Tôi cũng sướng cái bụng tự hào là dân Nam Bộ quá Chú. Phen này mấy cha “Sỹ phu” Bắc,Trung và …Tây kỳ phục Chú lăn như bi, hết ậm ọe châm chọc cạnh khóe. Trước nay mấy chả cứ bảo Chú “Cử nhân tại chức, chuyên tu” hổng có trình độ v,v…mà hổng chịu hiểu Chú vì hoàn cảnh Chiến tranh nên chiện học hành không được xuôi chèo mát mái như mọi người. Chứ Chú mà có điều kiện thì vài cái bằng Tiến sỹ là chuỵện nhỏ, nhằm nhò gì. Đó, cứ nhìn mấy đứa con Chú- Hai Nghị là Đốc tờ, ba Phương là Mát tờ, bằng của chúng đều do các Trường uy tín bên Âu,Mỹ cấp à nghen, chứ hổng phải như mấy cái bằng “Hữu nghị” thời XHCN bên Đông Âu hay “dỏm” như của Nghị Hồng và Ông Giám đốc một Sở ở Miền Bắc. Mà các con Chú chúng đều thừa hưởng từ Chú cái „gien“ thông minh xuất chúng chứ từ đâu ? Đặc biệt Dr.Hai Nghị mới 35 tuổi đã được đề bạt làm Thứ trưởng, giỏi chưa ? Lịch sử CHXHCN Việt Nam 66 năm nay chỉ có thời Chủ tịch Hồ Chí Minh lập nước và bây giờ mới có Bộ trưởng, Thứ trưởng trẻ cỡ đó…!
Thứ ba nữa những tuyên bố (hay trả lời chất vấn) của Chú làm cho mấy tờ báo lá cải ở Hải ngoại tịt luôn hết đường tuyên truyền lếu láo là Chú và Đảng ta thân Tàu, bị phụ thuộc vào Tàu…và trong tuyên bố Chú lại “ý nhị” nhắc tới VNCH làm cho những người ra đi từ chế độ cũ đang sống tại Hải ngoại cũng được an ủi . Chuyện hoà hợp hòa giải tưởng khó khăn bỗng trở nên đơn giản, ngon lành. “Trình” cỡ đó thì Tôi phục Chú quá trời Chú Ba !
Cái ngày Tôi đang còn nhỏ mặc quần xẻ đũng đi mẫu giáo ở Miền Bắc những năm 68-69 (hồi đó Chú cũng còn vận Quần xà lỏn ở trong chiến khu cầm Súng đuổi Mỹ, Ngụy chạy có cờ ). Cô Giáo có dạy một bài hát đến bây giờ Tôi vẫn nhớ: “Em yêu Chú Bộ đội bắn Mỹ tài ghê…”. 44 năm đã trôi qua, mấy hổm rày nghe Đài, đọc Báo thấy Chú lại là Chú Bộ Đội ngày xưa, sướng quá Chú Ba, yêu Chú quá Chú Ba…!
Hoan hô Chú Bộ Đội, hoan hô Chú Ba ! Tới luôn Chú, lịch sử và Nhân dân sẽ ghi nhớ những gì Chú đã nói sẽ làm !
Nguyễn Thanh Trang

Cá nóc, thuyền thúng và chó

Trong ngày Yingluck Shinawatra, Thủ tướng chân dài, váy ngắn nhất Châu Á có chuyến thăm Việt Nam thì ở một làng nghề Phú Yên, ngư dân đang say sưa với việc xuất khẩu 80 chiếc thuyền thúng. Địa chỉ nhận hàng, lẽ dĩ nhiên là Bangkok, nơi trận lụt lịch sử vẫn đang hoành hành. Tin này thoạt nghe như đùa. Là bởi sau (quả) cau, và cá nóc, đây là một trong những mặt hàng thu ngoại tệ có vẻ kỳ cục. Tin này cũng thuộc loại tin khó tin bởi người Thái không hài hước đến mức bỏ ngoại tệ nhập khẩu một phương tiện dùng bất đắc dĩ vài ngày mà người ta có thể tạo ra chỉ cần bằng mồ hôi.
10.000 một lượt qua "đường-sông". Ảnh Hà Nội ngày 13/7/2010
Có người cho đây là một sự nhanh nhạy của ngư dân, chính xác hơn là của các tư thương, được gợi ý từ trận lụt lịch sử năm 2008 ở Hà Nội. Nhưng thuyền thúng, cũng như cau, hay cá nóc sẽ là một trong những loại hàng hóa mang tính thời điểm, chỉ xuất được một lần duy nhất.
Đến đây, không thể không nhắc đến Đề án chế biến và xuất khẩu cá nóc được thực hiện hồi năm 2009. Đó là thời điểm, ở trong nước, cá nóc bị cấm đánh bắt, cấm mua bán, cấm…ăn. Do độc tính mà nó mang lại có hậu quả quá lớn mà cơ quan chức năng không thể chặc lưỡi như dân nhậu. Cần phải nói đây là đề án được Chính phủ chấp thuận, giao Bộ NN và PTNT tiến hành, với vốn đầu tư cỡ 3 triệu USD và kỳ vọng kim ngạch xuất khẩu đến 10 triệu USD vào 3 thị trường Nhật, Hàn, Trung.
Có cái gì đó tiểu nông, chụp giật, thâm hiểm và bất chấp trong việc đồng ý cho phép triển khai Đề án. Bởi nếu, như TQ chẳng hạn, xuất khẩu cá nóc vào Việt Nam, hẳn báo chí sẽ tạo ra được một scandal kiểu như “Đầu độc dân tộc”.
Đành hiểu đây là một cái chặc lưỡi thiếu “tính nhân loại”. Đứa nào ăn đứa đó phải chịu trách nhiệm với cái…khẩu phàm. Miễn đó không phải là dân Việt.
Nhưng chưa qua giai đoạn thí điểm, đề án đứt gánh do phía đối tác dường như cũng nhận ra đây là một loại hàng hóa nguy hiểm, giống chất độc hơn là một loại thực phẩm.
Còn chuyện cau, xảy ra vào năm 2006. Bấy giờ, cả miền trung lao vào trồng và xuất cau khô. Giá mỗi kg cau tươi bầy giờ được thương nhân TQ mua tại vườn với giá 14.000 đồng. 1 kg cau khô xuất khẩu có giá tới 3,9 USD. Một năm sau, nông dân phá cau hàng loạt khi thậm chí cái giá 1.400 đồng/kg còn không đủ thuê nhân công leo trèo. Và từ đó, người TQ cũng không thấy nói lại câu chuyện mua cau ăn trầu nữa.
Mới nói, việc xuất khẩu một loại hàng hóa, không thể theo lối đánh bạc, không thể nhắm mắt mà bất chấp tất cả.
Chuyện xuất khẩu thuyền thúng có thể ngay lập tức mang về vài chục ngàn USD, nhưng sẽ rất nguy hiểm khi tư duy xuất khẩu này cứ duy trì. Bởi, Thái Lan, hay bất cứ quốc gia nào khác, sẽ khó có một trận lụt lịch sử thứ hai nặng nề và kéo dài đến mức phải bỏ ngoại tệ ra để nhập cả “hạm đội thuyền thúng”.
Dường như ngoài tài nguyên, “mồ hôi trên mồ hôi dưới” của những người đàn bà, và giờ là thuyền thúng, nước Việt chẳng xuất khẩu được cái gì được làm bằng đầu. Chẳng tạo ra một loại hàng hóa gì ngoài những thứ có sẵn.
Ngày 27-11, một bản tin của BBC lấy tiêu đề: “Cảnh sát Thái cứu chó khỏi bàn nhậu Việt”. Tuy không nói rõ người Việt mua chó bằng tiền gì, nhưng chắc chắn không phải là tiền đồng. Đây là bản tin thứ tư của BBC về chuyện chó Thái, người Việt. Và nếu như một cơ quan truyền thông lớn vào loại hàng đầu thế giới như BBC đưa về chuyện chó thì rõ ràng, vấn đề không đơn thuần chỉ là chuyện buôn lậu, không đơn giản chỉ là câu chuyện “ăn thịt chó” của người Việt Nam. Vấn đề cả thế giới nhìn thấy là tư duy tiểu nông với một bản tính hám lợi đến bất chấp. Ở quốc gia là Phật giáo là quốc giáo như Thái Lan, người ta không những không ăn thịt chó mà còn lập quỹ 20 triệu bạt để giải cứu chúng khỏi những bàn nhậu Việt Nam.
Liệu có nên mặc kệ những tay buôn lậu chó mang ngoại tệ đi nhập chó lậu, một hoạt động mà cái giá của nó phải đổi bằng những tháng năm bóc lịch sau song sắt?
Liệu có nên mỉm cười, vỗ tay ngay cả khi ngư dân thu được ngoại tệ bằng việc xuất khẩu hàng hóa chỉ dùng một lần, chỉ xuất một lần, loại hàng hóa được chế tạo bằng chân tay to hơn là bằng cái đầu?
Đào Tuấn

Sài Gòn cái gì cũng sợ

Không hiểu vì sao nhiều việc ở nơi khác được nhưng Sài Gòn lại không. Không cho Chế Linh hát, cấm chiếu phim “Hoàng Sa- nỗi đau mất mát”, ngăn chặn biểu tình… Những chuyện “không và cấm” lặp đi lặp lại quá nhiều đến mức không thể không nghĩ: hay tư duy quản lý của bộ máy chính quyền TP HCM chưa được… giải phóng, hay “sức khỏe tư tưởng” của bộ máy thành phố này đang có vấn đề?

Hôm nghe Sài Gòn ngăn không cho Chế Linh hát tôi cứ thắc mắc mãi: vì sao Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng đều cho, nhưng Sài Gòn lại không?
          Tiếc. Ngồi với tôi và Đỗ Trung Quân trước đêm live show Tuấn Ngọc tại Đà Nẵng, Hồ Trung Tú bảo anh tiếc cho Chế Linh và tiếc cho cả… Sài Gòn. “Thành phố nào nhớ không em/ nơi chúng mình tìm phút êm đềm”,“Mưa mưa rơi từng đêm mưa triền miên trên đồn khuya/ lòng ai thương nhớ vô biên” phải được Chế Linh hát giữa Sài Gòn mới đúng là “sự trở lại”. Phải là một anh chàng với phong thái ung dung cùng chiếc áo vét vắt vai, đó mới đúng là hình ảnh Chế Linh. Chưa hát được giữa Sài Gòn, coi như Chế Linh chưa “trở lại”. Anh sốc đến mức phải nhập viện khi nghe tin Sài Gòn hủy show hát cũng vì lẽ này.
          Vì thế tiếc. Tiếc khi nghe Sài Gòn lắc đầu với Chế Linh. Lý do được đưa ra để từ chối live show Chế Linh là “chưa phù hợp trong tình hình thành phố hiện nay“. Không hiểu tình hình TP HCM có gì mà lại chưa phù hợp để Chế Linh hát, trong khi các địa phương khác đều gật đầu?
          Nếu chỉ là vấn đề thủ tục chưa đúng chưa đủ thì tại sao không hướng dẫn giúp đỡ anh hoàn tất? Nếu chỉ là khúc mắc (hoặc gian lận) thuế má tiền bạc từ bầu sô thì cứ trị ông bầu, phạt tiền nặng vào cho họ chừa, chứ sao lại ngăn không cho Chế Linh hát?
          Mấy đêm nhạc Tuấn Ngọc tại Đà Nẵng nghe đâu giấy phép cũng chưa đầy đủ, nhưng Đà Nẵng ứng xử khác. Họ biết, nhưng sẵn sàng cho qua vì thấy chẳng cần thiết rắc rối nhiêu khê gì ở việc hát hò này.
          Thậm chí tôi nghĩ đã đến lúc thả toang ra cho ai thích hát bài gì thì hát. Đến giờ mà vẫn còn kiểm duyệt từng danh mục bài hát thì quả là ấu trĩ. Anh có cấm cũng không cấm được, một cái bấm chuột lên mạng muốn nghe bài hát nào chẳng được. Vả lại bài hát nào không sống được ắt tự chết. Tôi không tin mấy bài hát lại có thể “chống đối lật đổ” được chế độ. Tôi không tin những khúc nhạc “trái luồng” kia lại có thể “ru ngủ lòng dân” được. Đến mấy bài hát mà cũng sợ, cũng phải ngăn chặn thì tôi e cái “sức khỏe tư tưởng” của chế độ có vấn đề.
          Hôm qua, thêm “Hoàng Sa- nỗi đau mất mát” bị cấm, cho dù chỉ là một cuộc chiếu ra mắt trong khuôn khổ một nhóm nhân sĩ thân hữu tại một quán cà phê. Một bộ phim tài liệu quí về cuộc sống ngư dân huyện đảo Lý Sơn và “thân phận Hoàng Sa” mà tôi nghĩ là nó cần được đem ra nhà hát lớn, đem vào chiếu cả trong hội trường Quốc hội, trong phủ Chủ tịch, trong văn phòng Chính phủ và trong hội trường Trung ương đảng.
          Khi còn đương nhiệm Chủ tịch nước, ông Nguyễn Minh Triết đã ủng hộ và động viên André Menras- Hồ Cương Quyết làm phim này. Vụ Thông tin báo chí bộ Ngoại giao cũng có những hỗ trợ, giúp đỡ tích cực đoàn làm phim. Thế nhưng khi công chiếu thì bị cấm. Cái cách ngăn cản không cho chiếu cũng rất mập mờ. Theo nhà thơ Đỗ Trung Quân, nguyên nhân được đưa ra từ các “nhà tư tưởng thành ủy” là vì bộ phim này “không có yếu tố đảng”.
          Thú thật, đến tôi cũng chả hiểu “yếu tố đảng” là cái quái gì và vì sao một cuốn phim tài liệu về ngư dân, về Lý Sơn, về Hoàng Sa như thế lại cần phải có “yếu tố đảng” để làm gì? Ông Lê Hiếu Đằng thì đã cố gắng tìm mọi cách liên hệ với những người có thẩm quyền của thành phố để hỏi lý do vì sao cấm nhưng tất cả đều tìm cách “trốn”.
          Tôi tin là bộ phim đó nếu đem ra Đà Nẵng, Hà Nội hoặc nhiều địa phương khác ắt sẽ được chiếu vô tư, chẳng ai ngăn cấm, chẳng ai đòi hỏi phải nhét cho nó cái “yếu tố đảng” làm gì.
          Vậy vì sao nó vẫn bị cấm tại TP HCM?
          Ngược lại chuyện biểu tình. Tại sao Hà Nội được mà TP HCM lại cấm? Cho dù sau này Hà Nội có cản ngăn, thậm chí đàn áp thô bạo, nhưng phải công nhân một thực tế là trước đó họ đã “cho phép” bằng cách không chặn, mà ngược lại chỉ tổ chức giữ an ninh và hướng cho các cuộc biểu tình không đi quá đà. Thậm chí, cả giàn lãnh đạo cao nhất của chính quyền thủ đô dám công khai mời nhóm nhân sĩ trí thức biểu tình đến đối thoại trực tiếp. Dù sau này đổ bể ra những vụ đàn áp thô bạo, nhưng phải thừa nhận rằng đã có lúc chính quyền Hà Nội dám đối thoại, dám chấp nhận cho dân biểu tình, thậm chí họ còn công khai nhìn nhận đó là hành vi yêu nước.
          Sài Gòn không có được điều này.
          Quay trở lại chuyện phim “Hoàng Sa- nỗi đau mất mát”, chính quyền đã làm gì để đến mức người dân phải hoảng hốt đến thế? Đến mức ông thợ dán được thuê vẽ áp phích cho buổi giới thiệu ra mắt phim với hàng chữ “Hoàng Sa là của Việt Nam” cũng hoảng sợ không dám làm. Cấm đoán đến mức để người dân hoảng sợ như thế thì nên gọi cái chính quyền ấy là ấu trĩ hay… Hít- le?
          Sài Gòn cái gì cũng sợ. Sợ biểu tình, sợ Chế Linh, đến cả cuốn phim tài liệu về dân nghèo ở một huyện đảo xa lắc không dính gì đến TP HCM cũng sợ. Sợ nên cấm, cản, ngăn. Cấm cản ngăn mãi, lặp lại trong quá nhiều chuyện khiến không thể không nghĩ: hay tư duy quản lý của bộ máy chính quyền TP HCM chưa được… giải phóng, hay “sức khỏe tư tưởng” của bộ máy thành phố này đang có vấn đề?

Chân dung hay “chân tướng” nhà văn? (kỳ 2)

Nhà thơ Nguyễn Bính, tham gia cách mạng từ 1947, về Hà nội năm 1954, làm báo tư nhân Trăm hoa từ năm 1956. Thời đó, báo của Nguyễn Bính là cái gai đối với các nhà lãnh đạo văn nghệ. Ông “cả gan” chê thơ Tố Hữu và Xuân Diệu :”Vì những sai lầm nghiêm trọng, cần phải xét lại toàn bộ giải thưởng văn học 1954-1955; đề nghị đưa tập thơ Việt Bắc xuống giải nhì. Loại tập thơ Ngôi sao và một số quyển không xứng đáng.”. Táo tợn  hơn nữa, Trăm Hoa còn “đề nghị bỏ lệ khai báo trong chính sách quản lý hộ khẩu”. Tất nhiên chỉ ra được vài số Trăm Hoa “chết yểu” .Tuy không xơi đòn nặng như Nhân Văn Giai phẩm nhưng Nguyễn Bính cũng phải rời Hà Nội về Nam định làm anh nhân viên ngoài biên chế dưới sự “quản lý chặt chẽ ” của Trưởng ty văn hóa, nhà văn Chu Văn. Trong thơ chân dung về nhà thơ tình số 1 VN này , Xuân Sách điểm có hai tác phẩm tiêu biểu Lỡ Bước Sang Ngang (1940), Giếng Thơi (1957) nhưng vẫn không quên “sự kiện báo Trăm Hoa” với tình cảm xót xa  :
 “Hai lần “lỡ bước sang ngang 
 Thương con bướm đậu trên dàn mồng tơi
 Trăm hoa thân rã cánh rời
 Thôi đành lấy đáy “giếng thơi” làm mồ.
Nhà thơ Tú Mỡ trước cách mạng đã từng “ngang ngạnh” trong “dòng nước ngược” :
“ Dứt cái mề đay quẳng xuống sông
Thôi thôi tôi cũng “méc-xì” ông…”
Vậy nhưng từ ngày theo kháng chiến thì “Tú mỡ” đã thành “Tú tóp” :
“ Một nắm xương khô cũng gọi mỡ
 Quanh năm múa bút để mua vui
 Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược
 Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi.”
Nhà thơ Quang Dũng tác giả “Tây tiến”- một trong số ít bài thơ hay nhất thế kỷ, năm 1957 phải đi chỉnh huấn trong vụ Nhân Văn Giai phẩm , từ đó ông sống rất nghèo ,lặng lẽ trong cương vị biên tập báo Văn Nghệ và sau là NXB Văn Học. Năm 1978, tôi cùng ăn cơm với ông tại nhà ăn tập thể  NXB Văn học, Quang Dũng cao to nên ăn rất khỏe lâu lâu lại thấy ông đứng lên đi xin thêm cơm. Bà Gái cấp dưỡng lúc đầu còn cho thêm cơm, sau chỉ cho … miếng cháy. Xuân Sách viết chân dung ông với lời lẽ xót thương và mến phục :
““Sông Mã xa rồi tây tiến ơi…”
 Về làm xiếc khỉ với đời thôi
 Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm
 Sống tạm cho qua một kiếp người.
 “Áo sờn thay chiếu anh về đất”
 Mây đầu ô trắng, Ba Vì xanh
 Gửi hồn theo mộng về tây tiến
 Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Nữ thi sĩ Anh Thơ (1921), được giải thưởng của Tự Lực Văn đoàn năm 1939 khi mới 18 tuổi, tác giả tập “ Bức tranh quê” (1941) . Đi cách mạng năm 1945 trở thành cán bộ phụ nữ và làm thơ cách mạng, đại loại như :
CON ĐÃ VỀ NƠI BÁC Ở NGÀY XƯA
 Bác về, mời cụ “Các Mác’’ về, trên núi đá
 Trong cả lòng hang, Bác tạc tượng người.
 Như tạc niềm tin cho con cháu đời đời
 Từ thẳm rừng sâu ngời lên chủ nghĩa.
Bởi thế, Xuân Sách có vẻ tiếc cho bà :
Ấy bức tranh quê đẹp một thời
 Má hồng đến quá nửa pha phôi
 Bên sông vải chín mùa tu hú
 Khắc khoải kêu chi suốt một đời.
Nhà văn Vũ Trọng Phụng, tiểu thuyết gia vào loại hàng đầu ở Việt Nam nhưng số phận tác phẩm của ông thật bi thảm. Năm 1957, ông Trương Tửu và Trần Thiếu Bảo (nhà in Minh Đức) tổ chức giỗ Vũ Trọng Phụng và tái bản “Số đỏ”. Có kẻ ỏn thót với Ủy viên Bộ chính trị Hoàng Văn Hoan là Vũ Trọng Phụng viết bài nói xấu ông ký ga , không may bố ông  “lãnh đạo cao cấp” này lại cũng làm nghề đó. Thế là một chiến dịch  triệt hạ Vũ Trọng Phụng được phát động. Ông bị quy là đệ tử của Freud, rồi ai đó moi trong thư viện ra bài báo của ông “Nhân sự chia rẽ giữa đệ tứ và đệ tam quốc tế, ta thử ngó lại cuộc cách mệnh cộng sản ở Nga từ lúc khỏi thủy cho đến ngày nay” in trên Đông Dương tạp chí số ra ngày 25/9/ 1937, ông bị quy là phần tử Trotskít. Từ đó Vũ Trọng Phụng coi như bị “khai trừ” khỏi văn đàn. Sau này khi tôi về NXB Văn Học, nhà phê bình văn học , Giám đốc Như Phong rỉ tai tôi :” Trong cuộc họp phê phán Vũ Trọng Phụng ở Thái Hà ấp toàn những nhà văn hàng đầu mà không một thằng nào dám mở mồm bênh Vũ Trọng Phụng lấy một câu…”. Mãi tới thời kỳ đổi mới, ông Lý Hải Châu, GĐ NXB Văn Học mới lần lượt tái bản tác phẩm của Vú Trọng Phụng. Khắc họa chân dung ông, Xuân Sách đầy lòng cảm phục :
“Đã đi qua một thời Giông tố,
Qua một thời “cơm thầy cơm cô”
Còn để lại những thằng “Xuân tóc đỏ”
Vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ”
Nhà văn Nam Cao , cha đẻ của Thị Nở, Chí Phèo, cán bộ cách mạng, từng phụ trách báo Cứu Quốc, hy sinh năm 1951 trên đường công tác thuế nông nghiệp ở khu III.Giả dụ ông còn sống như các nhà văn cùng thời khác , không hiểu có còn đứng vững trên lập trường cách mạng trong cơn “tai biến” “ Nhân Văn Giai Phẩm” như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài…không ? Xuân Sách viết về ông đầy ưu ái :
“Em còn đôi mắt ngây thơ
 Sống mòn mà vẫn đợi chờ tương lai
 Thương cho thị Nở ngày nay
 Kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo!
Nhà thơ, kịch tác gia Thế Lữ , tác giả của “Mấy vần thơ” (1935) trong có những bài nổi tiếng : Nhớ rừng, Tiếng trúc tuyệt vời, Tiếng sáo Thiên Thai, Vẻ đẹp thoáng qua, Bên sông đưa khách, Cây đàn muôn điệu và Giây phút chạnh lòng. Năm 1936, hoạt động kịch với Ban kịch Tinh Hoa, ban kịch Thế Lữ . Sau năm 1947, ông tham gia kháng chiến, năm 1957 được bầu làm Chủ tịch Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, hầu như không viết gì .
Xuân Sách tiếc cho ông đã quá sớm “về vườn bách thú”:
“ Với tiếng sáo Thiên Thai dìu dặt
Mở ra dòng thơ mới cho đời
Bỏ rừng già về vườn bách thú
Con hổ buồn lặng lẽ trút tàn hơi “
Nhà văn Bùi Hiển, nổi tiếng với truyện ngắn “Nằm vạ “ (1940), nhưng sau đó tham gia cách mạng quá sớm, không viết được gì nhiều, nổi bật là tập “Trong gió cát”. Năm 1958, ông viết truyện ngắn “Ngày công đầu tiên của cu Tí” để cổ vũ cho phong trào hợp tác xã. Truyện ngắn này được sử dụng trong giáo trình văn học phổ thông tại miền Bắc và cả nước Việt Nam trong nhiều năm. Những năm 1945-1960 ông là Chủ tịch Hội văn nghệ Nghệ An, sau đó suốt trong nhiều năm , ông công tác trong Hội nhà văn VN.Xuân Sách giễu cợt :
“ Sinh ra “ trong gió cát”
Đất Nghệ An khô cằn
Bao nhiêu năm “nằm vạ”
Trước cửa hội Nhà văn”
Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng tham gia cách mạng từ năm 1930, đại biểu quốc hội khóa 1, người sống mãi với…Hội nhà văn, sau cách mạng viết tiểu thuyết “Truyện anh Lục”,“Bốn năm sau”, “Sống mãi với Thủ đô” , vở kịch “ Lũy Hoa”…Xuân Sách khắc họa chân dung ông :
“ Anh chẳng còn “sống mãi
 Với Thủ đô” Lũy hoa
Để Những người ở lại
Bốn năm sau khóc òa…”
Trong các nhà văn “tiền chiến” đi theo cách mạng, người bị Xuân Sách “giễu cợt sâu cay” nhất có lẽ là nhà văn Kim Lân. Trước cách mạng, từ năm 1941, Kim Lân đã nổi tiếng về truyện ngắn “vợ nhặt”. Ông viết không nhiều, sau cách mạng ông viết “Làng” về nông thôn Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp, tuy nhiên, hai truyện “Ông lão hàng xóm” (1955) và “Con chó xấu xí” (1962) bị phê phán phi hiện thực xã hội chủ nghĩa .
“Nên danh nên giá ở làng
 Chết vì ông lão bên hàng xóm kia
 Làm thân con chó xá gì
 Phận đành xấu xí cũng vì miếng ăn.”
(Còn nữa)

Thứ Năm, ngày 01 tháng 12 năm 2011

Tôi sẽ tự “quản thúc” mình …

Chân đau, trời mưa khá to và nhân được tin nhắn “cúp điện rồi anh ơi!”. Tôi nằm nhà không lên Ami Art  nữa. Trước đấy những giả thiết được đặt ra như công an sẽ làm việc với Ban Giám đốc Văn Thánh nơi cà phê Ami thuê mặt bằng và sẽ bị cúp điện, cả hai đều tiếc thay …  đúng bóc chỉ trừ vụ thời tiết, trời đổ mưa to.
Bộ phim của André Menras về đồng bào của ông ở Lý Sơn [xin nhấn mạnh: Đồng bào! Ông là quốc tịch Việt] bị ngăn cấm đúng như ông Lê Hiếu Đằng  nói “rõ ràng đây là việc làm mờ ám, thiếu minh bạch của chính quyền Thành phố HCM…”.
Năm 2008, khi có dịp đến Hoa Kỳ, qua một người bạn, người thầy vong niên dịch giả Hoàng Ngọc Biên.Tôi được tiếp Bác sĩ Ngô Thế Vinh – tác giả  “Mekong những giòng sông nghẽn mạch “ một cuốn sách, công trình mà ông đã nghiên cứu từ nhiều năm qua. [Bằng tiền túi của mình] cuốn sách chỉ rõ mối nguy hiểm đe dọa môi trường sống từ những công trình thủy điện của Trung Quốc đe dọa không chỉ Việt Nam mà hầu như tất cả những quốc gia Nam Á dọc trên dòng sông này. Vài giáo sư mà tôi may mắn được họ biết đến tên, cũng gọi điện gửi gắm những lời tâm huyết  “Trung Quốc gửi sinh viên đi khắp thế giới nhằm chứng minh Hoàng Sa là của họ. Chúng ta dù chưa đòi lại được cũng cứ phải kêu lên cho quốc tế biết. Chúng ta im lặng mãi con cháu không biết, quốc tê không hay chỉ có lợi cho Trung Quốc mà thôi anh ạ!”.
Thú thật rằng, cái gã nhà thơ học hành kém cỏi, quanh năm chỉ thường thấy mặt ở những nơi “ăn chơi nhảy múa” ở Sài Gòn, ù ù cạc cạc về những vấn đề kinh tế – chính trị nhưng cũng kịp giật thót người nhận ra cái thông điệp ấy quan trọng đến nhường nào đối với vận mệnh của một đất nước. Họ là những trí thức ở xa nhưng đất đai tổ quốc bị mất mát là nỗi đau chung của người Việt. Tiếng sóng Biển Đông tự đời nào tưởng đã lãng quên lại đồng vọng trong lòng một gã chơi bời, ăn nhậu từ đấy…
Như con chiên ghẻ trở về. Nhưng nó chuốc lấy nỗi đe dọa từ chính nhà mình. Tôi không ngạc nhiên gì trước sự cấm cản của chính quyền, công an thành phố HCM. Hoa lệ đến thế, rực sáng đến thế nhưng cũng phù phiếm đến thế, tôi có thể đến bất cứ chỗ nào trong thành phố. Những quán nhậu vui vẻ lề đường, những Bar – Pub sang trọng. Những dạ hội chân dài – váy ngắn, tôi có thể vào những Web sex  mà chả cần vượt tường lửa. Không ai cấm cản tôi trừ ở… dưới mặt đường với những người trẻ tuổi có ý thức về chủ quyền xứ sở.Trừ những nơi như buổi chiếu phim về Hoàng Sa – đồng bào mình. Thành phố mà tôi sinh ra, lớn lên thay đổi nhiều về vật chất, cầu, đường, nhà cao tầng phồn hoa nhưng với tôi nó đã thành “ốc đảo” tự bao giờ. Nó  biến thành cô đơn với nhiều nơi bởi sự trì trệ, bảo thủ thậm chí cửa quyền của những người đang cầm nắm nó hôm nay. Nói thật khi nghe những đại biểu thay mặt người dân thành phố như ông nghị Hoàng Hữu Phước phát biểu  ở  diễn đàn quốc hội. sau những lời chê trách, biếm nhẽ ông của dư luận, trong tôi chỉ còn lại sự xấu hổ đến tận cùng. Những người như ông nghị Phước dường như là tiếng nói của … chính quyền thành phố chứ không phải của nhân dân thành phố nói riêng. Nếu không, hẳn ông không tránh khỏi những khiển trách. Nhưng những “ông nghị” kiểu ấy chưa từng bị khiển trách. Vẫn êm ấm trên chiếc ghế của mình. Tôi phải nghĩ thế nào đây?
Một người  bạn văn từ thuở còn trẻ âu lo cho tôi: “Sao bận tâm về chuyện thế sự mãi thế Q ơi! Đi xuyên Việt với tôi đi!”. Tôi hiểu rõ anh không đớn hèn nhưng anh đã mỏi mòn, cái mỏi mòn của những con người đành nuốt nước mắt vào trong. Mà đâu phải chỉ mình anh như thế. Nhưng tôi vẫn tôn trọng quan điểm sống riêng của mỗi người. Riêng mình, có lúc phải gạt phắt chai rượu. Gạt qua để mà tỉnh táo nhìn, nghe …
Bộ phim Hoàng Sa – Lý Sơn của André Hồ Cương Quyết không được chiếu vì “thiếu tính đảng”.  Nhưng nếu “Đường đến Thăng Long thành” được công chiếu vì “dư tính đảng” (!!!) không ai cấm đến. Tôi cũng sẽ tự “quản thúc” mình.
Xin thề!
Đỗ Trung Quân

Ôi, ông nghị Phước ơi !

Theo Thanhnien.com.vn, ngày 29-11-2011, trong cuộc tiếp xúc với cử tri Q.3 và Q.4 của tổ đại biểu Quốc hội (QH) TP.HCM – đơn vị bầu cử số 1, khi các cử tri yêu cầu ông Hoàng Hữu Phước giải thích rõ tại sao trên diễn đàn QH ông lại nói dân trí thấp nên không cần ban hành luật Biểu tình, ông nghị Phước liền biện bạch: “…Tôi nói là luật Biểu tình vẫn chưa nên ra. Đó là tôi không phải chống lại Hiến pháp. Là người đại biểu, tôi phải biết lo trước cái lo của người dân, coi dân như cha mẹ, cha mẹ bảo con bất hiếu thì con chịu” (!?). Kết thúc phát biểu, ông Phước khẳng định mình không tán thành luật Biểu tình là vì “mong muốn bảo vệ cha, bảo vệ mẹ” (!).
Hai tuần trước, ngày 17-11, ông nghị leo lẻo trước QH bằng cách nhỏ nhẹ nói với giọng sấm rền vang như ông tự sướng để đả phá biểu tình và chống lại việc Quốc hội ra luật biểu tình. Thế mà bây giờ trả lời chất vấn của cử tri ông lại biện bạch nào là “Tôi nói là luật Biểu tình vẫn chưa nên ra. Đó là tôi không phải chống lại Hiến pháp”, rồi thì là không tán thành luật Biểu tình vì “mong muốn bảo vệ cha, bảo vệ mẹ”. Và ông vuốt ve lấy lòng cử tri: “Là người đại biểu, tôi phải biết lo trước cái lo của người dân, coi dân như cha mẹ, cha mẹ bảo con bất hiếu thì con chịu”.
Ôi, ông nghị Phước ơi ! Hình như ông vẫn chưa tỉnh sau cái vụ lộng ngôn ở Quốc hội. Ông vẫn không chịu thừa nhận khiếm khuyết của mình, tệ hơn, ông lại đổ lỗi cho người khác. Ông bảo ông “lo trước cái lo của người dân, coi dân như cha mẹ, cha mẹ bảo con bất hiếu thì con chịu”. Thế nghĩa là ông làm đúng, chỉ có dân là sai, nếu không nói là ngu dưới con mắt ông. Bởi như ông đã nói ông lo trước cái lo của dân mà dân lại bảo ông bất hiếu thì chẳng phải dân ngu là gì ? Chuyện ông coi dân như cha, như mẹ nói ra chỉ tổ cho thiên hạ cười thêm. Ông vẫn chẳng xứng với cái mà ông tự sướng trên blog của mình: có tài có đức, có tâm. Cho nên ông chẳng thể làm con dân được đâu nói gì đến chuyện đại biểu cho lợi ích, cho tâm tư nguyện vọng của dân ?
Nhưng mà thôi, thưa ông, nếu là con dân như ông tự nhận, mong ông đừng thành nghịch tử và nhớ khắc sâu lời dạy của ông cha:
Cá không ăn muối cá ươn
Con không nghe cha mẹ trăm đường con hư
Có lẽ khi nghe những lời phát biểu trên của ông nghị Phước những cử tri Q.3, Q.4 tiếc cho lá phiếu của mình lắm lắm ?
30-11-2011
Nguyễn Duy Xuân

Lãnh đạo Tỉnh, bước đệm quan trọng tiến tới đội ngũ lãnh đạo cấp cao Trung Quốc

Bảy trong số chín Ủy viên Thường vụ Bộ chính trị và 14 trong 25 thành viên trong Bộ chính trị ĐCS Trung Quốc sẽ nghỉ hưu trong năm 2012 để nhường vị trí cho thế hệ trẻ hơn. Những ai sẽ là ứng cử viên triển vọng nhất? GS. Cheng Li, Giám đốc Trung tâm Trung Quốc (Mỹ) phân tích toàn diện về gia thế, trình độ, sự nghiệp, đặc điểm phe phái của 62 lãnh đạo tỉnh thành để tìm ra những ứng viên sáng giá nhất.

Trung Quốc sẽ trải qua một giai đoạn chuyển giao lãnh đạo quan trọng tại Đại hội Đại biểu Toàn Quốc lần thứ 18 của Đảng Cộng Sản Trung Quốc vào năm 2012. Những lãnh đạo cấp cao hiện nay, gồm Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Thủ tướng Ôn Gia Bảo, và Chủ tịch Quốc hội Ngô Bang Quốc, dự tính đều sẽ nghỉ hưu. Bộ chính trị và Ủy ban Thường trực của Bộ chính trị sẽ tái sắp xếp với một số lượng lớn các gương mặt mới. Những ai sẽ là ứng cử viên triển vọng nhất, góp mặt trong các cơ quan lãnh đạo tối cao này? Những đặc điểm cơ bản và tiêu chuẩn chủ yếu nào giúp cho sự thăng tiến của những khuôn mặt mới này? Liệu người ta có thể dự đoán trước được về đội ngũ lãnh đạo mới có khả năng hình thành và việc phân bổ quyền lực theo bè phái hay không? Thế hệ lãnh đạo mới sẽ thay đổi cách thức vận hành của đời sống chính trị Trung Quốc đến mức nào? Bài viết này nhằm mục đích giải đáp các câu hỏi trên và những vấn đề khác bằng việc nghiên cứu 62 lãnh đạo tỉnh – gồm các Bí thư tỉnh ủy và Tỉnh trưởng – của 31 đơn vị hành chính cấp tỉnh của Trung Quốc. Có rất ít nghi ngờ về việc các lãnh đạo tỉnh ngày hôm nay sẽ trở thành những người ra quyết sách của quốc gia trong tương lai. Người ta có thể trông đợi một cách hợp lý rằng nhóm những nhà lãnh đạo này sẽ điều hành đất nước đông dân nhất thế giới trong phần lớn thập kỷ này và xa hơn*.

Ở Trung Quốc, cũng như ở Mỹ, năm 2012 sẽ là năm bản lề đối với các chính trị gia. Kể từ năm 1977, Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thường xuyên tổ chức Đại hội Đảng Toàn quốc 5 năm một lần. Đại hội Đảng luôn là một cơ hội lớn để thay đổi nhân sự lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc. Đại hội Toàn quốc lần thứ 18 của ĐCSTQ, lên kế hoạch triệu tập vào mùa thu năm 2010, cũng không là ngoại lệ. Có 7 trong số 9 ủy viên của Ủy ban Thường trực Bộ chính trị, cơ quan ra quyết định cao nhất cả nước, dự tính sẽ nghỉ hưu. Trong Bộ chính trị gồm tổng số 25 thành viên, có ít nhất 14 nhà lãnh đạo sẽ nhường chỗ của mình cho các ứng cử viên trẻ hơn. Do vậy, những nhân vật chủ yếu chịu trách nhiệm về các vấn đề tư tưởng và chính trị, quản lý kinh tế và tài chính, chính sách đối ngoại và các hoạt động quân sự của đất nước sẽ bao gồm những gương mặt mới sau năm 2012[1].

Mặc dù việc thay đổi lãnh đạo quan trọng này ở Bắc Kinh dường như còn ở xa phía trước nhưng các chính trị gia Trung Quốc đã bắt đầu có hành động. Trung Quốc, dĩ nhiên, không có các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ như ở Mỹ. Việc tiến hành các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ của người Mỹ là một khái niệm xa lạ đối với các nhân vật chính trị tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH), nhưng cũng giống như “các cuộc đua giữa nhiệm kỳ” ở Mỹ được coi như một bước đệm quan trọng trước cuộc một bầu cử tổng thống sắp diễn ra, thì chiếc đồng hồ chính trị Trung Quốc cũng quay theo một nhịp điệu với sự tương đồng đáng kinh ngạc. Cuộc chiến giành quyền lực quyết liệt giữa các đối thủ nặng ký và các phe phái đi kèm với họ có xu hướng nóng lên ít nhất là hai năm trước “năm có sự thay đổi lãnh đạo quan trọng.”

Khoảng thời gian đặc biệt này là đặc trưng cơ bản của các quy tắc và điều lệ của ĐCSTQ được xây dựng gần đây, quy định các quan chức cấp cao (lãnh đạo tỉnh hoặc cao hơn) phải phục vụ ít nhất là hai năm trước khi có được sự đề bạt[2]. Các ứng viên theo đuổi vị trí ủy viên trong Ban chấp hành Trung ương (BCHTW) mới và Bộ chính trị mới phải định vị cẩn thận bản thân họ ngay từ bây giờ và trong những tháng sắp tới bằng cách nắm giữ các vị trí bước đệm trong nội bộ Đảng và chính phủ ở cấp lãnh đạo trung ương hoặc cấp tỉnh.

Vì vậy, việc phân tích những nhân vật nắm giữ những vị trí quan trọng này – đặc biệt những người mới được bổ nhiệm trong cuộc cải tổ nhân sự gần đây – có giá trị rất lớn đối với những người đang quan sát Trung Quốc. Một phân tích như vậy có thể giúp đạt được 4 mục tiêu quan trọng: 1) phát hiện đội ngũ lãnh đạo có khả năng góp mặt trong Bộ chính trị sắp tới; 2) nêu các đặc điểm chính trị và chuyên môn của những lãnh đạo cấp cao mới, kể cả những ngôi sao đang lên của thế hệ trẻ hơn; 3) đưa ra đánh giá về cán cân sức mạnh phe phái bên trong đội ngũ lãnh đạo Trung Quốc sau Đại hội Đảng 18; 4) dự đoán đường đi chính trị và định hướng chính sách của đất nước dưới sự điều hành của đội ngũ lãnh đạo mới.

Đây là bài đầu trong loạt bài phân tích về cuộc đua giành quyền lực giữa các chính trị gia Trung Quốc khi sắp bước vào giai đoạn chuyển tiếp lãnh đạo năm 2012. Loạt bài này nhằm mục đích nghiên cứu giới chóp bu quan trọng nhất, như các ban bệ trung ương ĐCSTQ, các bộ của Quốc vụ viện, các doanh nghiệp nhà nước lớn (SOEs), và quân đội. Bài phân tích này tập trung vào 62 lãnh đạo tỉnh hiện nay – Các bí thư Tỉnh ủy và Tỉnh trưởng (hoặc thị trưởng) – của 31 đơn vị hành chính cấp tỉnh của Trung Quốc[3]. Nó đưa đến một phân tích toàn diện dựa trên kinh nghiệm về gia thế tiểu sử, trình độ giáo dục, con đường sự nghiệp, và mạng lưới chính trị hay các đặc điểm phe phái của 62 lãnh đạo tỉnh cấp cao này. Ngoại trừ một số thông tin liên quan đến mối quan hệ người đỡ đầu-người được nâng đỡ, tiểu sử gia đình dựa trên những cuộc phỏng vấn của tác giả và các phương tiện truyền thông không chính thức của Trung Quốc, tất cả các dữ liệu được dẫn nguồn từ trang web của Hãng thông tấn Tân Hoa Xã do chính phủ điều hành[4].

62 lãnh đạo tỉnh này có thể được coi là nhóm quan trọng nhất cần quan sát trong cuộc đua giành quyền lực giữa kỳ đang diễn ra ở trong nước, vì lãnh đạo cấp tỉnh của Trung Quốc vừa là nơi bồi dưỡng đội ngũ lãnh đạo quốc gia vừa là chiến trường giữa các thế lực chính trị khác nhau. Sự chia rẽ phe phái quyền lực thể hiện khá rõ ở cấp tỉnh cũng như cấp quốc gia, và do vậy thu hút sự chú ý của chúng ta. Nhận diện những lãnh đạo tỉnh nào thăng tiến sự nghiệp thông qua Liên hiệp Thanh niên Cộng sản Trung Quốc (nền tảng quyền lực của Hồ Cẩm Đào), hay thuộc phái thái tử (những lãnh đạo có tiểu sử gia đình là quan chức cấp cao), hay là thành viên của “Nhóm Thượng Hải” (những lãnh đạo được bảo trợ bởi Giang Trạch Dân khi ông này lãnh đạo thành phố), là một trong những phương pháp tốt nhất để dự đoán về bối cảnh chính trị của Trung Quốc trong những năm tới.

Lãnh đạo Tỉnh: Bước đệm Quan trọng Tiến tới đội ngũ Lãnh đạo Cấp cao Trung Quốc

Các lãnh đạo tỉnh của Trung Quốc hiện nay có ảnh hưởng chính trị rất lớn trong việc điều hành đất nước với ba lý do chính. Thứ nhất, các tỉnh và thành phố tự trị mà các lãnh đạo này điều hành là những đơn vị kinh tế xã hội lớn. Người ta thường nói rằng, một tỉnh của Trung Quốc giống như một quốc gia ở Châu Âu. Quả thực, các tỉnh của Trung Quốc có dân số đông hơn nhiều so với các quốc gia Châu Âu. Ví dụ như, 5 tỉnh lớn nhất của Trung Quốc – Hà Nam, Sơn Đông, Tứ Xuyên, Quảng Đông và Giang Tô – đông dân hơn 5 quốc gia lớn nhất ở Tây Âu là Đức, Anh, Pháp, Ý và Tây Ban Nha[5]. Dân số hiện tại của Tỉnh Hà Nam là 99,7 triệu người và dự tính sẽ vượt qua con số 100 triệu vào tháng 7 năm 2010[6]. Ngoài Trung Quốc, chỉ có 10 quốc gia khác trên thế giới có dân số hơn 100 triệu người[7]. Ý nghĩa kinh tế của những tỉnh này cũng rất quan trọng. Ví dụ như, tổng GDP của Tỉnh Quảng Đông đã vượt ba “Con hổ Đông Á”: Xinhgapo, Đài Loan và Hồng Công. Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Đông gần đây cho rằng GDP của tỉnh sẽ vượt qua GDP của một “con hổ” khác, Hàn Quốc, trong vòng một thập kỷ[8]. Các lãnh đạo tỉnh của Trung Quốc, giống như các lãnh đạo cấp cao của các quốc gia Châu Âu và Các Con hổ Đông Á, không ngừng quan tâm đến sự phát triển kinh tế của khu vực và phải đối phó với những thách thức rất lớn như tình trạng thất nghiệp, công bằng trong phân phối, ổn định xã hội, chăm sóc sức khỏe và các nhu cầu phúc lợi của khu vực trong phạm vi quyền hạn của họ.

Thứ hai, bộ phận lãnh đạo tỉnh cấp cao ở Trung Quốc cũng là một lực lượng chính trị với những quyền hạn riêng của họ, đặc biệt vào thời kỳ khi chính quyền địa phương có quyền tự chủ nhiều hơn để thúc đẩy các lợi ích khu vực của họ. Mặc dù thường ở sau những cánh cửa đóng kín, họ không ngừng tham gia vào mạng lưới chính trị, vận động hành lanh chính sách và xây dựng các liên minh không chỉ giữa các lãnh đạo tỉnh với nhau mà còn với các giới chức trung ương. Không hề có sự ngẫu nhiên khi hai vụ khai trừ chính trị quan trọng nhất trong nội bộ ĐCSTQ hơn 15 năm trước lại xảy ra đối với hai ủy viên Bộ chính trị, những người mà lúc đó đồng thời kiêm vai trò lãnh đạo tỉnh là Bí thư Thành ủy Bắc Kinh Trần Hy Đồng (Chen Xitong) năm 1995 và Bí thư Thành ủy Thượng Hải Trần Lương Vũ (Chen Liangyu) năm 2006. Hai chủ tịch nước gần đây của CHNDTH là Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, đã có thể củng cố sức mạnh và quyền lực của họ ở chính quyền trung ương bằng cách loại bỏ hai đối thủ chính trị nặng ký ở cấp tỉnh này. Gần đây nhất, “các văn phòng liên lạc tại Bắc Kinh” (zhujingban) của các chính quyền địa phương và tỉnh, các nhóm vận động hành lang đặt ở khu vực, đã gia tăng nhanh chóng về số lượng. Tháng 1 năm 2010, chính quyền trung ương đã ban hành một quy định mới nhằm giảm về cơ bản số lượng được cho phép của các văn phòng đại diện cho lợi ích địa phương này và yêu cầu kiểm toán tài chính của các nhóm vận động hành lang còn lại ở cấp tỉnh và thành phố tự trị[9].

Thứ ba, và quan trọng nhất, vị trí lãnh đạo tỉnh là bước đệm cốt yếu nhất để tiến tới các chức vụ lãnh đạo đất nước cao nhất ở Trung Quốc thời hậu Đặng. Phần lớn các lãnh đạo cấp cao Trung Quốc ở giai đoạn này – Giang Trạch Dân và Chu Dung Cơ thuộc thế hệ thứ ba, Hồ Cẩm Đào và Ngô Bang Quốc thuộc thế hệ thứ tư, và Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường thuộc thế hệ thứ năm – tất cả đều giữ vai trò bí thư Tỉnh ủy hay thành ủy trước khi chuyển tới Bắc Kinh để đảm đương những chức vụ lãnh đạo quốc gia quan trọng nhất của đất nước. Trong số 9 thành viên Ủy ban Thường trực Bộ chính trị, tất cả trừ một người (Thủ tướng Ôn Gia Bảo) đã có kinh nghiệm trước đây ở cương vị lãnh đạo tỉnh. Tất cả sáu ngôi sao đang lên trong đội ngũ lãnh đạo – các ủy viên Bộ chính trị thuộc thế hệ thứ năm – gần đây hoặc hiện tại giữ cương vị lãnh đạo tỉnh[10]. Biểu đồ 1 thể hiện sự gia tăng đáng chú ý của các ủy viên Bộ chính trị với kinh nghiệm lãnh đạo tỉnh, từ 50% trong năm 1992 tới 59% trong năm 1997, 67% năm 2002, và 76% trong năm 2007. Đối với các lãnh đạo dân sự, kinh nghiệm lãnh đạo tỉnh gần như đã trở thành một điều kiện tiên quyết để tiến tới vị trí ủy viên trong Bộ chính trị.
Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Cheng Li, Giám đốc Trung tâm Trung Quốc John L. Thornton
Hằng Ngân, Tuấn Anh (dịch)
Đỗ Thủy (hiệu đính)
Theo  Nghiencuubiendong.vn
Bản gốc tiếng Anh:“China’s Midterm Jockeying: Gearing Up for 2012 – Part 1: Provincial Chiefs” nằm trong loạt bài của Cheng Li, Giám đốc Trung tâm Trung Quốc John L. Thornton, đăng trên Tạp chí “China Leadership Monitor” của Hoover Institution, Stanford University.

[1] Ví dụ, trong số 11 ủy viên của Quân ủy Trung ương (CMC), 8 người, bao gồm hai phó chủ tịch, được dự tính sẽ nghỉ hưu vào Đại hội Đảng 18.
[2] Văn kiện, “Các điều lệ về Tuyển chọn và Bổ nhiệm Lãnh đạo của Đảng và Chính phủ”, được phát hành bởi Ban Tổ chức ĐCSTQ vào tháng 7 năm 2002. Xem http://news.xinhuanet.com/ziliao/2003-01/18/content_695422_1.htm. Tuy nhiên, có ngoại lệ xảy ra. Ví dụ như, Tập Cận Bình giữ cương vị bí thư Thành ủy Thượng Hải chỉ trong 8 tháng trước khi được bổ nhiệm vào Ủy ban Thường trực Bộ chính trị năm 2007.
[3] Trung Quốc có 31 đơn vị hành chính cấp tỉnh, bao gồm 22 tỉnh, 5 khu vực tự trị và các thành phố trực thuộc chính quyền trung ương. Những khu vực tự trị này (Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, khu Ninh Hạ và Quảng Tây) và các chính quyền thành phố (Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân và Trùng Khánh ) ở địa vị cấp tỉnh. Nghiên cứu này xem ba bí thư Đảng bộ và chủ tịch (hoặc chủ tịch chính quyền của các khu vực tự trị hoặc thị trưởng các chính quyền thành phố ở địa vị cấp tỉnh) của 31 đơn vị thành chính cấp tỉnh như “các lãnh đạo tỉnh”.
[4] Xem http://www.xinhuanet.com. Thông tin về tiểu sử gia đình và các mối quan hệ người đỡ đầu – người được nâng đỡ của các lãnh đạo tỉnh dựa trên những cuộc phỏng vấn của tác giả ở Trung Quốc và những nguồn truyền thông trực tuyến không chính thức ở Trung Quốc, Hồng Công và nước ngoài.
[5] Để thảo luận thêm về điều này, đọc Cheng Li, “After Hu, Who?—China’s Provincial Leaders Await Promotion,”China Leadership Monitor, Số. 1 (Mùa đông 2002).
[6] Henan ribao (Henan Daily), January 11, 2010, p. 1. Những nước ngoại quốc có dân số hơn 100 triệu là Ấn Độ, Mỹ, Inđônêxia, Braxin, Pakixtan, Bănglađét, Nigiêria, Nga, Nhật và Mêhicô.
[7] Tlđd.
[8] Xem http://city.cctv.com/html/chengshijingji/88645f7c0d8c2c294837385a15b0fe9c.html.
[9] Xem Liaowang xinwen zhoukan (Outlook Newsweek), January 23, 2010.
[10] Năm người trong số họ —Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường, Lý Nguyên Triều, Uông Dương và Vương Kỳ Sơn — giành được các ghế của họ trong Bộ chính trị khi họ là bí thư Tỉnh ủy hoặc Thành ủy. Ngôi sao đang lên khác Bạc Hy lai, sau này là bộ trưởng thương mại, cũng có kinh nghiệm lãnh đạo làm Tỉnh trưởng tỉnh Liêu Ninh trong một vài năm và đã được bổ nhiệm làm bí thư Thành ủy Trùng Khánh sau Đại hội Đảng 17.