Thứ Bảy, ngày 10 tháng 12 năm 2011

Sức mạnh đồng thuận Việt Nam: Nhìn từ Hoàng Sa -Trường Sa (10/12/2007)

Nhân kỷ niệm 4 năm nổ ra các cuộc biểu tình tự phát đầu tiên của quần chúng tại hai thành phố Hà Nội và HCM chống Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa, xin đăng lại một bài báo hiếm hoi khi đó. Bài viết thể hiện lòng yêu nước, chống bá quyền Bắc Kinh, nhưng lại phải chịu sức ép ghê gớm từ những cá nhân nắm quyền sinh sát trong các cơ quan quản lý báo chí và cả Bộ Ngoại giao. Chỉ tới khi có ý kiến của ông cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh, tác giả bài viết và ông Tổng biên tập mới tạm tai qua nạn khỏi. Bài (gồm cả hai bức ảnh) đăng trên VietNamNet ngày 10/12/2007 nhưng sau khoảng sáu tiếng đồng hồ thì bị rút xuống. Ba Sàm
Cho dù nhiều giá trị có thể bị lẫn lộn, nhiều đường biên quốc gia mờ nhoà trong thời toàn cầu hoá thì lòng yêu nước sẽ và mãi là những giá trị trường tồn. Và mỗi khi chủ quyền dân tộc, sự toàn vẹn lãnh thổ đất nước bị xâm phạm, là lúc những người Việt, trong và ngoài nước, ở mọi thành phần, mọi lứa tuổi, bằng cách này hay cách khác đã lên tiếng!

Tình yêu nước và ý thức dân tộc không phải của riêng ai. Và mỗi người, khi mang trong mình dòng máu Việt, đã chọn cách không im lặng.

Trong hàng nghìn lá thư của độc giả trong và ngoài nước gửi về Tuần Việt Nam – VietNamNet những ngày qua, kể từ khi sự kiện Hoàng Sa – Trường Sa xảy ra, thấy gì?

Trên các diễn đàn mạng tràn ngập cờ Tổ quốc và những bài viết về Trường Sa, Hoàng Sa của cộng động mạng Việt Nam, thấy gì?

Trong cuộc biểu tình hoà bình của người dân hôm qua (8/12), thấy gì?
Chiến sĩ ở đảo Trường Sa (Ảnh: Phạm Tuấn)
Đó là lòng yêu nước cháy bỏng, sục sôi trong từng lời từng chữ. Là nỗi đau đớn khi chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc bị xâm phạm. Là sự đau đáu đến vận mệnh đất nước, ở ngay những người trẻ, mà những tưởng cuộc sống bộn bề lo toan và đề cao hưởng thụ cá nhân này đã làm phai nhoà.

Và sau mỗi dòng thư, đó còn là lời khẳng định ý sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc.

Không cần một lời hiệu triệu. Cũng chẳng cần những sự hô hào. Bạn và tôi, bất kể quá khứ hay chính kiến khác nhau, đã cùng nhìn về một hướng. Để nói lên rằng: Tình yêu với đất nước này, dân tộc này, ngôn ngữ này là vĩnh cửu. Để nói rằng: khi chủ quyền bị xâm phạm, mọi người Việt, dù đứng ở vị trí nào sẵn sàng đoàn kết một lòng vì sự tồn vong của dân tộc!

Trong những dòng thư tâm huyết gửi về, nhiều nhân sĩ, trí thức trong và ngoài nước thiết tha kêu gọi, hơn lúc nào hết, người Việt hãy cùng nhau đoàn kết một lòng vì lợi ích dân tộc. Chính những người Việt ở nước ngoài sẽ là những đại sứ góp phần vận động bạn bè thế giới hiểu và ủng hộ Việt Nam. Vượt qua những khác biệt và quá khứ, rất nhiều người đang âm thầm tự nhận lãnh sứ mệnh “bảo vệ Tổ quốc từ xa” như lời cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh nói về họ.

Chỉ người Việt Nam mới thương lấy nhau, mới thiết tha và sẵn sàng xả thân bảo vệ lợi ích dân tộc. Chân lý bất biến đó, phải qua nhiều trả giá đau đớn mới được vỡ lẽ.

Trong suốt thế kỷ XX đầy bão táp, đã chứng kiến bao nhiêu cuộc móc ngoặc, mặc cả và chia chác của các nước lớn trên lưng dân tộc nhỏ bé này?

Khi hai cuộc chiến tranh khốc liệt bước vào giai đoạn kết thúc, khi các bên đã ngồi vào bàn đàm phán cho một kết cục hoà bình thì phía hậu trường, những đồng minh tưởng như thân tín cũng bước vào cuộc mặc cả sau lưng chúng ta.
Trường Sa – đảo thuộc chủ quyền Việt Nam (Ảnh: Phạm Tuấn)
Đương nhiên, chẳng có gì là khó hiểu khi các nước lớn sẵn sàng hy sinh lợi ích của nước khác, vì lợi ích của chính mình. Lợi ích quốc gia đã biến những khẩu hiệu về tình đoàn kết thuỷ chung như nhất, những mỹ từ của đồng minh duy nhất, đồng minh truyền thống trở thành sáo rỗng.

Ngày nay, không còn dễ dàng cho một nước, cho dù quyền lực có lớn mạnh đến đâu có thể xâm lược các nước khác. Nhưng trong một thế giới toàn cầu hoá, khi chủ nghĩa nước lớn ngày càng có nhiều hình dạng mới, khi những hành động xâm phạm chủ quyền dân tộc ngày càng trở nên tinh vi hơn, sự nghiệp bảo vệ chủ quyền và độc lập toàn vẹn (về cả lãnh thổ cũng như về tinh thần) của một quốc gia nhỏ, yếu vì thế phải đối mặt với những khó khăn khôn lường.

Yếu thực lực thì luôn bị chèn ép, lấn lướt. Yếu thực lực đồng nghĩa với chấp nhận thiệt thòi trong mọi tranh chấp. Đó là thực tế hiển nhiên dù vô cùng cay đắng.

Một nhà lãnh đạo thuộc cấp cao nhất Việt Nam, khi nói về thực tế này, đã kết luận: Muốn thoát khỏi mọi uy hiếp, muốn phát triển được để tồn tại trong thế giới này, muốn bảo vệ được chủ quyền và độc lập dân tộc thực sự, toàn vẹn, nhất thiết dân tộc này phải phấn đấu bằng mọi giá thoát ra khỏi nỗi nhục nghèo, hèn.

Đất nước này phải mạnh lên!

Đột phá để phát triển, giải phóng mọi nguồn lực, trong đó có tiềm lực con người để thoát khỏi thân phận nghèo hèn, chính là sứ mệnh lịch sử của những thế hệ ngày hôm nay.

Hãy để sự kiện hôm nay, như lời giục giã đối với mọi người dân Việt lên đường cho cuộc dấn thân vĩ đại đó.

Minh Anh
Nguồn: Tuần Việt Nam
Theo Ba Sàm
Xem thêm:
Người biểu tình vẫy cờ và biểu ngữ bên ngoài Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội
Người biểu tình phản đối bên ngoài lãnh sự quán Trung Quốc ở TP HCM.
Bài viết trên báo Tuổi Trẻ ngày 10/12/2007 khi sự kiện xảy ra
Một tuần sau, trên tờ Sài Gòn Giải phóng của đảng tại TPHCM, một tiểu phẩm biếm ám chỉ những hành động bán nước, bán chủ quyền quốc gia và đủ thứ cũng lặng lẽ được lên trang

Tiếng thở dài của sự nghèo

Tháng 9-2010, khi dự án nhà thu nhập thấp đầu tiên của Hà Nội nhận hồ sơ, cư dân Thủ đô chứng kiến một sự lạ: Hàng đoàn ô tô xếp hàng rồng rắn đi đăng ký mua nhà. Thế rồi, chỉ có 316 căn hộ mà có đến hàng ngàn người nghèo đăng ký với tâm lý y hệt cảnh chiều chiều chờ kết quả sổ xố. Và tất nhiên, “cò” xuất hiện dày đặc”. Nghĩ khổ cho người nghèo. Đến căn nhà “mẻ kho” cũng còn bị tranh cướp.

Thế mà chỉ một năm sau, nhà thu nhập thấp đang đứng trước nguy cơ hạ giá, bán tháo khi hầu như không có người mua.

Ở Sài Đồng, 100 căn hộ được mở bán nhưng chỉ có 30 người…đăng ký. Ở Đặng Xá, chỉ lèo tèo vài người… đến chơi. Trong khi những người đã đăng ký ở dự án Xuân Mai đang bỏ của chạy lấy người.

Người nghèo, có lẽ không đủ tiền, không “giàu sĩ diện” để chê những “căn hộ bố thí”, dù vị trí các dự án nhà hoàn toàn không chút gì gọi là địa lợi, dù cơ chế xin- cho khiến cho việc mua được một căn nhà có thời điểm chẳng khác mấy với việc ăn xin. Đơn giản vì họ không có tiền.

Sự ế ẩm của những căn nhà, giá chỉ 12-14 triệu đồng/m2 hôm nay đang cho thấy cơn sốt nhà thu nhập thấp năm ngoái, thực chất cũng chỉ là câu chuyện của giới đầu cơ. Bởi không thể không nhắc lại lời Thứ trưởng xây dựng Nguyễn Trần Nam khi nói về giá nhà thu nhập thấp: “Nếu chỉ trông chờ vào đồng lương, đừng nghĩ đến chuyện mua nhà. Cỡ như Bộ trưởng, chúng tôi tính còn 40 năm mới mua được”. Bất động sản càng sốt lạnh, càng thấy giá nhà thu nhập thấp, bán diện chính sách, cho những đối tượng nghèo, là quá cao so với lương, với thu nhập, và cả với dũng khí đi vay tiền của họ.

Hàng triệu người nghèo đô thị đang không có nhà để ở trong khi vô số trong số 1.800 căn hộ thu nhập thấp (đã hoàn thành) đang để hoang là một thực tế nhẫn tâm và xúc phạm người nghèo.

Trong chỉ thị mới nhất về tăng cường quản lý thị trường bất động sản, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ngân hàng nhà nước phối hợp với Bộ Xây dựng có chính sách tín dụng phù hợp cho vay đầu tư các dự án phát triển nhà ở để bán, cho thuê phục vụ đối tượng thu nhập thấp, công nhân lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế; Và tín dụng cho các đối tượng có nhu cầu thực sự vay mua nhà để ở.

Tuy nhiên, phản ứng của thị trường tiêu cực và uể oải đến mức gần như bất động, ngay ở phân khúc nhà chính sách này.

Chẳng có gì là khó hiểu bởi ngay trong Chỉ thị cũng yêu cầu giám sát chặt chẽ để hạn chế việc cho các cá nhân vay kinh doanh bất động sản. Ở Việt Nam, việc phân biệt cá nhân vay mua nhà để ở và vay kinh doanh bất động sản là không thể.

Dẫu sao, sự đóng băng của thị trường trên tất cả các phân khúc đang làm cho giá nhà đất trở về với giá trị thật và mở ra cơ hội có nhà thực sự đối với người nghèo. Nếu, chắc chắn phải kèm theo vài chữ nếu, nếu nhà nước thực sự mở van tài chính để người nghèo có thể vay tiền. Nếu các doanh nghiệp bớt “ăn dày”. Gần đây, Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính vừa kiến nghị Thủ tướng có chính sách hỗ trợ cho chủ đầu tư, người dân để giảm giá bán tại các dự án nhà thu nhập thấp tới mức 30-40%. Có thể giảm đến 30-40%, cũng có nghĩa 30-40% vẫn chưa phải là giá đáy của những căn hộ chính sách.

Những người theo thuyết âm mưu cho rằng đây chỉ là kiến nghị nhằm cứu chính các nhà đầu tư tài chính- phần nhiều cũng rót vốn lớn vào các dự án BDS. Nhưng thà như vậy, để ít nhất còn được một cái lợi lớn hơn là người nghèo có chỗ chui ra chui vào.

Theo Đào Tuấn blog

Nỗi ám ảnh..thèm cơm

Hơn 60 năm về trước, khi giãi bày cùng quốc dân đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói những lời còn in sâu vào lòng bao thế hệ người Việt Nam : “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn , áo mặc, ai cũng được học hành”
Bao nhiêu công sức và cả không ít xương máu của hàng triệu người con dân nước Việt đã đổ ra vì những mục tiêu cao cả và cấp thiết ấy. Thành công là rất lớn, nhưng chưa thể coi là hoàn hảo. Đơn cử như mục tiêu tưởng chừng như thật giản dị, không quá xa vời : “đồng bào ta ai cũng có cơm ăn“…

… Đến hôm nay, tôi vẫn không thể nào quên gương mặt khắc khổ, đượm buồn của chị Huỳnh Thị Ly, một phụ nữ nông dân ở Thới Lai, Bến Tre – Nam Bộ. Hơn một tuần trước, tình cờ trong Chương trình quyên góp bò tặng nông dân nghèo “Lục lạc vàng” thấy VTV1 đưa hình ảnh chị cùng lời nói nhòa trong nước mắt : “Tui phải nhường cơm cho con ăn để nó không phải mang cái bụng lép kẹp đến trường, phần tui lúc nào cũng thèm cơm...”. Chị đâu có thèm cao lương mỹ vị , chả phượng, nem công gì – chị chỉ thèm cơm! ( Bỗng chợt nhớ câu ngạn ngữ độc đáo và chua chát mà nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã đúc kết trong Chuyện kể năm 2000 : “Ngon như cơm tù”! Cơm tù ai cũng biết thường được nấu bằng gạo hẩm, hôi mốc, nhưng với người tù suốt ngày lúc nào cũng đói thì thứ cơm ấy cũng trở thành món ngon nhất mà người tù nào cũng thèm có !).

Có ngạc nhiên không, khi ở đầu thập niên thứ hai của thế kỷ 21, giữa vựa lúa của xứ sở đứng thứ hai trên thế giới về lượng gạo xuất khẩu, có một người chân lấm tay bùn làm ra lúa gạo lại thường xuyên đói cơm và thèm cơm ?…

Xin đừng tự an ủi rằng chị Ly là trường hợp cá biệt. Với tỷ lệ đói nghèo trên dưới 15% số dân, số người ăn không đủ no chắc không hề ít. Dịp giáp hạt gần đây thôi đã có hàng trăm nghìn người dân chỉ riêng tỉnh Thanh bị đứt bữa. Dân nhiều nơi vùng sâu vùng xa còn phải lấy khoai sắn, thậm chí cả củ mài, củ ráy thay cơm. 80 em nhỏ Trường nội trú dân nuôi ở Suối Giàng, Yên Bái, theo blog Trần Đăng Tuấn, liệu có no không khi lúp xúp ngồi quanh một nồi cơm và một nồi canh rau cải suông lõng bõng nước ?!
Vì đâu nên nỗi ? Xin tạm mạo muội trả lời : Ở cấp độ “vi mô”, cấp độ từng cánhân, gia đình, – đó có thể là hậu quả của thiên tai, bão lũ hay hạn hán, của sâu bệnh, rầy nâu, hay mua nhầm phải giống lúa dởm, bón nhầm phân bón dởm lúc nào cũng dư thừa ngoài thị trường bát nháo. Có thể là do ruộng ít, hay tệ hơn, chẳng may bị thu hồi để làm khu công nghiệp, khu đô thị hay … sân golf 18, 36 lỗ gì đó. Có thể là hộ neo đơn, tàn tật, già yếu hay con đàn cháu đống , đẻ ra nhiều mà không đủ sức nuôi.Có thể là vào một ngày xui xẻo, thần hỏa hỏi thăm thiêu cháy cơ nghiệp hay tai nạn giao thông bỗng giáng xuống ai đó trong gia đình hoặc bất ngờ ai đó trong nhà lâm bạo bệnh – ung thư, bạch cầu, suy thận mãn… khiến ngay cả người vốn dư dả cũng phải tán gia bại sản mà lo chạy chữa trong tuyệt vọng. Có thể là trót sa vào cờ bạc, nghiện ngập hay đầu óc không được sáng láng, ít học, không biết toan tính làm ăn, làm ra 1 lại ăn hết 2, 3…

Mỗi cảnh đói nghèo hầu như mang nguồn gốc khác nhau, chỉ có sự buồn thảm và cùng quẫn là giống nhau. Hoạn nạn rơi vào ai, người ấy đành nai lưng chịu trận…

Ở cấp độ “vĩ mô”, dưới góc nhìn toàn xã hội, – cũng có không ít điều đáng nói. Những bất ổn kinh tế trên đại cục tác động xấu trực tiếp đến tham vọng xóa đói giảm nghèo mà lạm phát là thủ phạm dễ thấy nhất, một thứ thuế vô hình mà nghiệt ngã đánh vào mọi người dân. Giá các nhu yếu phẩm – từ gạo, rau, đậu, cá đến điện, xăng dầu, thuốc chữa bệnh, sữa cho trẻ em…- đều tăng theo tốc độ phi mã, mà lương, thu nhập thì hầu như dậm chân tại chỗ.( Thi sĩ Tản Đà nếu như sống lại lúc này, hoàn toàn có thể sẽ hài hước biến bài “Thề non nước” của mình thành “Thề lương giá” : Giá lương nặng một lời thề / Giá lên lên mãi, không về cùnglương !…). Các bà nội trợ đi chợ mỗi ngày tiếp nhận rõ hơn ai hết cái cảm giác “bị móc túi ” một cách từ từ, tuần này qua tuần khác. Những người vốn ví tiền đã lép như công nhân, sinh viên, người lao động tự do đang ở thuê nhà trọ tồi tàn, tạm bợ là những người chịu thua thiệt hơn cả trước “bài ca lạm phát” – đúng là “chó cắn áo rách” !…

Chỉ số lạm phát năm nay vào khoảng 18-20%, vào hàng “khủng” của thế giới, nhiều gấp 3 chỉ số tăng trưởng. Vậy là tăng trưởng chưa gắn với phát triển bền vững, người dân chưa thật sự được hưởng lợi từ sự tăng trưởng này.

Nhưng mà, đến lượt mình, lạm phát bắt nguồn từ đâu vậy ? Xin thưa : bắt nguồn từ các yếu kém thâm căn cố đế của cả nền kinh tế. Có thể liệt kê : đó là đầu tư công dàn trải, kém hiệu quả, hệ số ICOR ngày càng cao; tỉnh nào cũng xi măng lò đứng và nhà máy mía đường, cũng muốn có sân bay, bến cảng hoành tráng, xây xong không được đưa vào sử dụng. Rồi là các công ty, các tập đoàn kinh tế quốc doanh nắm giữ phần lớn nguồn vốn quý báu của xã hội – thường được gọi rất ấn tượng là các “quả đấm thép” (!) – không ít lần lại trót “đấm vỡ” két bạc nhà nước, khiến nó bị thất thoát hàng chục, hàng trăm ngàn tỷ đồng (!), một số tiền khổng lồ đủ để cấp vốn làm ăn cho hàng chục vạn hộ dân với hy vọng thoát nghèo. Rồi là quốc nạn tham nhũng làm mục ruỗng đất nước từ bên trong, thói quen lãng phí, chi tiêu công theo lối “nhà nghèo xài sang, vung tay quá trán”. Rồi là bội chi và thâm hụt ngân sách triền miên, là nhập siêu, đồng nội tệ liên tục mất giá so với các đồng ngoại tệ khiến các mặt hàng dính dáng đến nguồn nhập khẩu có thêm lý do thoải mái tăng giá…

Công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế (chủ yếu tập trung vào ba lĩnh vực : đầu tư, các doanh nghiệp nhà nước và hệ thống ngân hàng) vừa được khởi động rầm rộ, dưới một góc nhìn nào đó, nếu được tiến hành suôn sẻ, sẽ chính là cuộc “tổng công kích” cần kíp, căn cơ nhằm vào lãnh địa của đói nghèo và lạc hậu vẫn dai dẳng đeo bám chúng ta bấy lâu nay.

Cha ông ta từ xưa đã dạy : Nhiễu điều phủ lấy giá gương / Người trong mộtnước thì thương nhau cùng. Những cảnh đời, những số phận éo le, đượm buồn và đẫm nước mắt luôn gợi lòng trắc ẩn trong chúng ta, những người may mắn hơn. Những việc từ thiện làm ấm lòng người ngày càng lan tỏa, đơm hoa kết trái, phần nào giúp người nghèo thêm cứng cỏi vượt khó.

Nhưng xét cho tới cùng, chỉ những nỗ lực tổng thể, đồng bộ của chúng ta, – từ chính quyền , từ cả hệ thống chính trị cho đến từng người dân – trong xây dựng và phát triển một nền chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội lành mạnh, đầy nhân bản mới có thể là việc làm “từ thiện” toàn diện nhất, căn bản nhất ngõ hầu đem lại hy vọng đổi đời cho cả dân tộc thoát khỏi nghèo nàn, sao cho trên non sông gấm vóc mà cha ông ta để lại hôm nay ít ra không bao giờ còn ai phải chịu nỗi ám ảnh …thèm cơm./.

Phan Hồng Giang
Nguồn: Quê Choa blog

Phật ở đâu ?

Cả nhà tôi đi chùa Hương, bé Ớt nhà tôi 11 tuổi, một trẻ con thành thị điển hình chỉ biết gắn chặt với màn hình vi tính và những điệu nhảy hip-hop hiển nhiên ậm ạch khi vừa phải leo núi vừa chen chúc…
Bé hỏi luôn: “Mẹ ơi mình phải leo núi thế này để làm gì?”. Tôi trả lời không cần suy nghĩ: “Để đi lễ Phật con ạ”. 

Bé lại hỏi: “Phật ở đâu hả mẹ?”. Ngẫm nghĩ một lúc, tôi chọn câu trả lời cho có vẻ gần gũi một chút: “Phật trong tim mình con ạ. Khi con phải lựa chọn giữa hai việc tốt và xấu, mà con dám chọn việc tốt để làm, cho dù khó khăn, thì khi ấy con đã có Phật ở trong mình.” Bé Ớt vẫn không buông tha: “Phật ở trong tim mình rồi thì việc gì mình phải leo lên đây cho khổ hả mẹ?”

Câu hỏi của bé làm tôi suy nghĩ nhiều về hành động đi lễ chùa của mình. Tôi sẽ cầu gì khi chắp tay cúi mình trước tượng Phật? “Con cầu xin cho cả nhà con được khoẻ mạnh, hạnh phúc, ăn gia làm nên, các cháu ngoan, học giỏi, con viết được những tiểu thuyết hay...” – toàn những điều có lợi cho bản thân mình. Tôi nhìn ra những người đang chen chúc cúi đầu lầm rầm khấn vái xung quanh và tự hỏi: họ xin được hoá giải tội lỗi, thăng quan tiến chức, có nhiều tiền của, nhà lầu xe hơi, đi nước ngoài nước trong hay cầu cho kẻ thù khuynh gia bại sản??? 

Tôi lại hỏi mình: mình giảng giải cho con như thế về Phật, nhưng liệu mình có làm được như thế? Tại sao mình đi chùa Hương lễ Phật tới 2 lần? Với thời gian ấy, với chi phí ấy để đi lễ chùa, giá như mình bỏ ra để tặng, để chăm sóc cho một cháu bé mồ côi, cho một người già không nơi nương tựa, thì có hữu ích hơn không, tâm mình sẽ thanh thản, lòng mình thoả mãn hơn không?

Một lần, tôi vào miền Trung, cầy cục tìm vào tận nhà anh Lê Nuôi, người từng một thời là chồng của nghệ sỹ Lê Vân. Anh có một biệt thự tuyệt đẹp ven sông, và ngôi biệt thự này không bao giờ đóng cửa, bất cứ người nào dù quen biết anh hay người lạ, đều có thể vào nhà anh tá túc, ở chơi, thức ăn có trong tủ lạnh, tự nấu, tự ăn, ở rồi đi tự do như nhà mình. Có lẽ vì cái tình hiếm có đó của anh, mà ngôi biệt thự dù không có bảo vệ, dù mở cửa thông thoáng đêm ngày, nhưng không bao giờ mất trộm. 

Trong khuôn viên biệt thự, anh trưng bày nhiều tác phẩm nghệ thuật, nhiều đồ lưu niệm đẹp đẽ và giá trị, người nào đến ở, nếu thích có thể lấy đi để giữ làm của riêng, nhưng không được lấy đi bán. Cũng có người đến lấy đi, nhưng lại có người khác mang đến tặng anh những thứ khác, và ngôi biệt thự góc nào ta cũng có thể ngắm say sưa, vì những món đồ,  những điều đẹp đẽ ngự trị... 

Trò chuyện với Lê Nuôi, tôi thấy anh vô cùng bức xúc về chuyện có những nhà thờ, những chùa chiền giờ đây mọc lên trên khắp đất nước chúng ta, xây cao to đẹp đẽ với số tiền lên tới hàng chục tỷ mỗi ngôi chùa, nhưng tối đến thì lại khoá kỹ kín cổng cao tường, kẻ thất cơ lỡ vận không nhà không cửa chẳng vào được cửa Phật để tá túc, phải nằm ghé mái hiên lạnh lẽo bên ngoài! Vô lý lắm thay! Cửa chùa rộng mà lòng người lại hẹp!

Vậy thì Phật có ở chùa hay không?

Theo Bách Việt

Thứ Sáu, ngày 09 tháng 12 năm 2011

TÔI BỊ XẾP ĐẢNG VIÊN LOẠI 3 VÌ ĐI BIỂU TÌNH CHỐNG TRUNG QUỐC GÂY HẤN


Chắc là các chi bộ đảng khi cuối năm xếp loại đảng viên cũng làm như chúng tôi: bước thứ nhất là làm bản tự kiểm rồi đem ra bình xét ở tổ đảng, sau đó bước hai là bỏ phiếu ở chi bộ. Mỗi người bỏ phiếu cho các đảng viên trong chi bộ theo các loại:

– Đảng viên đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (gọi tắt là loại 1)
– Đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ (gọi tắt là loại 2)
– Đảng viên đủ tư cách, hoàn thành nhiệm vụ (gọi tắt là loại 3)
– Đảng viên không đủ tư cách, không hoàn thành nhiệm vụ (gọi tắt là loại 4)
Loại 1 – “Đảng viên đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” thì thường dành cho đảng viên là cán bộ lãnh đạo, còn lại đều loại 2 – “Đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ”, không có loại 3. Thông lệ nhiều năm đã thế.
Tuy nhiên năm nay đến bước hai, tôi chỉ được 10/18 bầu vào loại 2, còn lại là loại loại 3. Bí thư chi bộ gộp cả hai người vắng mặt để tính, thành ra tôi chỉ được 10/20, không đủ xếp vào loại 2 và tạm để trống, chờ đảng ủy cấp trên xem xét. Cũng có thể thấy đấy là điều đã định đoạt.
Kể ra nếu xét một cách chính xác – tức là đảng viên thực sự phải thể hiện vai trò tiên phong – thì xếp tôi vào loại 3, loại “thường thường bậc trung”, tôi cũng rất bằng lòng, vì xét thấy mình cũng chẳng có gì tiên phong cả. (Chỉ riêng cái chuyện trước cảnh nhà cầm quyền Trung Quốc luôn luôn sách nhiễu, bắn giết ngư dân, gây ra bao cảnh nghèo đói, mẹ góa con côi, lại còn hai lần cho tàu to xông thẳng vào vùng biển của Việt Nam mà cắt cáp tàu thăm dò dầu khí, rồi la lên là Việt Nam gây hấn, thì sự đóng góp của tôi với hai cuộc biểu tình là quá bé nhỏ. So với với những người đi biểu tình nhiều lần, so với những người bị bắt bớ, đánh đập, giam cầm, so với những bạn trẻ măng, những ông bà già, thì tôi còn rất đáng xấu hổ). Thế nhưng theo thông lệ lâu nay thì loại 3 là loại chỉ dành cho những người “có vấn đề” thực sự, thì tôi thấy bất công. Cũng giống như học sinh hiện nay, tuy đạo đức rất xuống cấp, ai cũng biết thế, nhưng khi xếp loại hạnh kiểm thì vẫn xếp vào loại “tốt” là chính, nếu hư vừa vừa thì xếp xuống loại “khá”. Loại trung bình chỉ dành cho học sinh hư, hỗn thực sự, tức là loại học sinh “cá biệt”, thường có trong “sổ đen”. Loại này rất hiếm.
Cho nên tôi phải hỏi lý do (hỏi thôi chứ biết ngay vì sao rồi) thì bí thư trả lời tại tôi đi biểu tình. Đi biểu tình là trái điều 6 trong 19 điều cấm của đảng viên, ông ấy giải thích thế.
Tôi nói rằng tôi đi biểu tình là phù hợp với quyền công dân đã được ghi trong hiến pháp (điều 69). Hơn nữa đây là biểu tình để phản đối hành động xâm phạm bờ cõi nước ta của nhà cầm quyền Trung Quốc, biểu tình để thể hiện quyết tâm chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam thì không thể là sai trái được. Chính Giám đốc công an Hà Nội Nguyễn Đức Nhanh cũng thừa nhận những cuộc biểu tình chống Trung Quốc trong tháng 7, 8 vừa qua là biểu tình yêu nước[1]. Và mới đây nhất, trước việc đại biểu Quốc hội hỏi về thái độ và chủ trương của Chính phủ về việc người dân biểu tình biểu thị lòng yêu nước, ngày 25-11-2001, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định Đảng và Chính phủ luôn trân trọng biểu dương, khen thưởng xứng đáng tất cả hoạt động, việc làm của người dân vì mục tiêu yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia[2]. Tôi cũng nhắc lại cả vế sau trong phát biểu của Thủ tướng: Chính phủ không hoan nghênh và buộc phải xử nghiêm với những động cơ, hành vi lợi dụng danh nghĩa yêu nước, bảo vệ chủ quyền để gây phương hại cho đất nước và xã hội. Tôi không có hành vi nào lợi dụng danh nghĩa yêu nước, bảo vệ chủ quyền để gây phương hại cho đất nước và xã hội. Công an đến cơ quan làm việc với tôi, chỉ để tìm hiểu sự việc và tâm tư của tôi, không hề bảo tôi có tội lỗi gì. Phòng tổ chức cán bộ và ông giám đốc nắm rõ điều này. Và theo tôi biết, tất cả những cuộc biểu tình chống Trung Quốc gây hấn vừa qua, cho đến lúc này, công an chưa tìm thấy bất kỳ ai lợi dụng lòng yêu nước để gây phương hại cho đất nước cả.
Tôi cũng khẳng định: Nếu những quy định đối với đảng viên làm tôi không thực hiện được tư cách công dân đối với Tổ quốc thì tôi buộc phải chọn tư cách làm người công dân. Tôi không thể vì mình là đảng viên mà khoanh tay để mặc quân cướp nước giày xéo Tổ quốc tôi, lăng nhục đồng bào tôi.
Rất tiếc là vì thời gian đã quá muộn, bí thư cho kết thúc cuộc họp cho nên tôi chỉ được phát biểu ngắn gọn như trên, không được trao đổi, tranh luận với ai. Vì vậy dưới đây tôi xin trao đổi thêm một số vấn đề thuộc về nhận thức “Những điều đảng viên không được làm” (thường gọi “19 điều cấm đảng viên”) trong Quy định số 115-QĐ/TW ngày 7-12-2007 của Bộ chính trị (gọi tắt là QĐ115) và Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 của Ban chấp hành Trung ương (gọi tắt là QĐ115), tức Quy định “Những điều đảng viên không được làm” sửa đổi, thay thế cho Quy định 115.
Điều 6 trong QĐ115 cấm đảng viên những việc sau: Tổ chức tham gia các hội trái quy định của pháp luật. Tổ chức, tham gia mít tinh, biểu tình khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép.
Như vậy QĐ115 không cấm hoàn toàn biểu tình mà chỉ cấm “khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép”. Và điều này thiết nghĩ đâu chỉ cấm riêng với đảng viên mà là đối với tất cả công dân nói chung, một khi chúng ta chủ trương “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”.
Tuy nhiên cái điều cấm này không thể áp dụng vì quyền biểu tình đã được hiến định (điều 69 của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) trong khi Luật biểu tình lại không có. Cho nên không một cơ quan nào dám/ có quyền cấp phép biểu tình cũng như dám/ có quyền từ chối việc cấp phép biểu tình. Cũng có nghĩa là người dân đi biểu tình không bị một hạn chế nào về vấn đề này như Giáo sư Hoàng Xuân Phú[3] và nhiều học giả khác đã phân tích.
Chắc là các nhà lãnh đạo Đảng cũng đã nhận ra điều bất cập này nên trong QĐ47 vừa ban hành thay thế cho QĐ115, điều 6 đã được viết lại như sau:
(Cấm) Tổ chức, tham gia các hội trái quy định của pháp luật; biểu tình tập trung đông người gây mất an ninh trật tự.
Như vậy chỉ cấm loại biểu tình gây mất an ninh trật tự. Điều này thì tất nhiên rồi, nước nào chả thế.
Thực tế những cuộc biểu tình chống Trung Quốc gây hấn vừa qua, theo quan sát của tôi, chưa có cuộc nào gây mất an ninh trật tự (trong khi có rất nhiều cuộc không phải biểu tình đã gây mất an ninh trật tự thì lại không được chấn chỉnh, xử lý nghiêm khắc). Chính Giám đốc công an Hà Nội Nguyễn Đức Nhanh cũng khẳng định những cuộc biểu tình chống Trung Quốc vừa qua chỉ có “một số trường hợp tràn xuống lòng đường, cản trở giao thông[4]” mà thôi.
Xin trở lại một chút câu chuyện của tôi đặt ra ban đầu. Tôi đâu có buồn vì bị xếp đảng viên loại 3. Như trên đã nói, nếu làm đảng viên – công dânmà không được quyền bảo vệ Tổ quốc thì tôi sẽ chọn làm người công dân thường để được bảo vệ Tổ quốc. Tôi chỉ buồn vì cảm thấy vận nước hiện nay trong cơn hiểm nghèo mà đa số đảng viên lại thờ ơ, thậm chí còn quy tội cho những người biết lo lắng hay làm một việc gì đó vì quốc gia xã tắc. Thực ra những quy định trên đối với đảng viên, như đã phân tích, cũng không ảnh hưởng nhiều lắm đến quyền và nghĩa vụ công dân, nhưng do nhận thức của nhiều cấp ủy và đảng viên hiện nay không đến nơi đến chốn đã làm cho đa số đảng viên co mình lại trước những vấn đề sống còn của đất nước. Tôi rất buồn khi nhiều đảng viên, nhất là những đảng viên giữ chức vụ, luôn tìm cách lảng tránh khi đề cập những vấn đề thuộc về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Họ lảng tránh bằng những chữ đôi khi nghe rất “mềm”. Ví dụ: “Đã có Đảng và Nhà nước lo”.(Khổ chưa, chính họ là đảng viên, lại còn đảng nào ở ngoài họ lo cho họ nữa!) Ví dụ: “Bổn phận của mình là làm tốt công việc mình được giao. Việc đại sự quốc gia là của các nhà lãnh đạo” (Hỡi ôi, chẳng lẽ ngày xưa các cụ dạy sai: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”). Nhiều người chỉ nói đến những chữ Trung Quốc, Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông là sợ hãi như phạm phải điều cấm, câu chuyện đang sôi nổi bỗng im bặt và buộc phải chuyển sang đề tài khác. Cứ đà này, chẳng mấy chốc sẽ là tình cảnh Quanh Hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê như câu thơ Chế Lan Viên. Và lòng yêu nước của người Việt Nam, cũng nói theo ý thơ của Chế Lan Viên, sẽ chỉ là rêu phong chuyện cũ!
Tuy nhiên, có lẽ cũng chưa phải tất cả đã đáng buồn. Quanh tôi và qua báo chí, tôi vẫn thấy nhiều người dấn thân, bất chấp những lực cản vô lý. Mới đây nhất là việc ông Andre Manras Hồ Cương Quyết, một người hai quốc tịch Pháp – Việt đã hoàn thành một bộ phim để lên án nhà cầm quyền Trung Quốc tàn ác với ngư dân Việt Nam. Và tôi cũng rất cảm động khi ngày 25-11-2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dõng dạc khẳng định trước Quốc hội về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như chủ quyền của Việt Nam đối với lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý trên Biển Đông nói chung. Thủ tướng nói vo, vô cùng mạch lạc, nhớ đến từng con số, sự kiện, và nói với tất cả sự trang nghiêm và xúc động. Tới đây hy vọng rằng sau mỗi sự kiện Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam thì không chỉ mỗi người phát ngôn Bộ Ngoại giao lên tiếng, không để lời phát ngôn đó bị lọt thỏm vào thinh không, không để nhà cầm quyền Trung Quốc cứ tùy tiện làm theo ý họ. Nhưng muốn thế phải rũ bỏ được những húy kỵ không biết bắt nguồn từ đâu đã nói trên.
Tái bút: Tôi chỉ muốn thông qua việc của tôi mà nêu một hiện tượng, một vấn đề xã hội để cùng nhận thức lại. Những việc, những người tôi nói đến trong bài tôi đâu chỉ thấy ở cơ quan tôi, mà thấy ở rất nhiều nơi. Cho nên hãy chỉ coi nó như những ví dụ mà thôi. Vì vậy các comments của quý vị độc giả xin không chĩa cụ thể vào chi bộ đảng cũng như đảng ủy nơi tôi đang sinh hoạt. Xin cảm ơn tất cả.
Đ.T.T

[1] Báo Pháp luật ngày 3-8-2011 dẫn lời ông Nguyễn Đức Nhanh: “Qua theo dõi, thấy các cuộc biểu tình này biểu thị thái độ yêu nước, phản đối Trung Quốc xâm lấn biển Đông. Khi tuần hành, đại bộ phận bà con chấp hành luật pháp nhưng cũng có một số trường hợp tràn xuống lòng đường, cản trở giao thông”. http://phapluattp.vn/2011080211294657p0c1013/cong-an-tp-ha-noi-khong-dan-ap-nguoi-bieu-tinh.htm
[2] Xem http://www.thanhnien.com.vn/pages/20111125/thu-tuong-nguyen-tan-dung-dam-bao-chu-quyen-tren-bien-dong.aspx.
[3] “Khi không (hoặc chưa) có luật nào quy định cụ thể hơn về việc biểu tình, thì có nghĩa là pháp luật không (hoặc chưa) có hạn chế nào cả, và công dân hoàn toàn có quyền biểu tình, như Hiến pháp cho phép”. Xem Hoàng Xuân Phú: Quyền biểu tình của công dân. http://www.pagewash.com/nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2fkhnaqvraunaabz.oybtfcbg.pbz/2011_08_20_nepuvir.ugzy
[4] Xem chú thích (1).
Nguồn: Nguyễn Xuân Diện

Hòa cả làng

Mấy năm gần đây cái gì đáng sợ đều có nguy cơ tăng cao. Lạm phát tăng cùng với giá điện giá xăng dầu tăng; tắc đường tăng cùng với nạn mãi lộ tăng, tai nạn giao thông tăng; ốm đau bệnh tật tăng cùng với thiếu y đức, thiếu giường bệnh tăng; bệnh thành tích trong giáo dục tăng cùng với học sinh bỏ học tăng… ôi vân vân tăng. Có một thứ đáng sợ nhất, nghe nói đến ai cũng rùng mình, đó là tội phạm đang tăng khủng khiếp. Chỉ trong năm 2011 đã có 75 ngàn vụ phạm tội các loại, nghe mà thất kinh.

Tình hình nguy cấp đến nỗi Bộ Chính trị phải ra một chỉ thị “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới” và lập một ban chỉ đạo do phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc làm trưởng ban. Phó thủ tướng nhấn mạnh: “nếu ở đâu tội phạm gia tăng thì phải xem xét vai trò trách nhiệm của lãnh đạo địa phương, bí thư, chủ tịch phải chịu trách nhiệm trước dân.” Rất hay, rất rõ ràng và thẳng thắn.

Việc qui trách nhiệm như vậy là để bỏ đi cái thói hễ có sự gì không hay lãnh đạo đều một mực kêu ca “người dân không có ý thức”. Chỉ có dân sai chứ lãnh đạo không sai. Hơn nữa, Phó thủ tướng cũng chỉ ra rằng “Băng nhóm xã hội đen hay tội phạm có tổ chức hoạt động thì thường có người bao che, cán bộ địa bàn bị tranh thủ, bị lợi dụng, tiếp tay cho tội phạm.” Đó là lý do vì sao tội phạm thả sức hoành hành, nếu được bảo kê của “ cán bộ địa bàn” sẽ không ai làm được gì tốt. Qui trách nhiệm như vậy kể như bắt đúng bệnh rồi đó.

Nhưng bắt đúng bệnh liệu có trị được bệnh không? Bởi vì tội phạm ngày nay liên quan rất chặt với tham nhũng, hoạt động của chúng cùng địa bàn, cùng đối tượng mà tham nhũng hoạt động.Thứ trưởng Bộ Công an Phạm Quý Ngọ cho biết “nổi lên hàng loạt vụ án trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, ngoại hối, lừa đảo tín dụng đen lớn. Hành vi phạm tội chủ yếu là lợi dụng chính sách hỗ trợ kích cầu của Chính phủ, chính sách hỗ trợ mua nông sản xuất khẩu để làm giả hợp đồng kinh tế, thông đồng cán bộ thoái hóa biến chất trong ngân hàng để rút tiền hoặc lập khống dự án, dùng cổ phiếu giả, giấy tờ giả để thế chấp vay tiền rồi chiếm đoạt…”. Như vậy loại tội phạm này từ tham nhũng mà ra, chúng là con đẻ của tham nhũng.

Để chống tham nhũng ta cũng qui trách nhiệm rất rõ ràng cho cán bộ địa phương, bằng cách giao cho chủ tịch tỉnh làm trưởng ban chống tham nhũng. Trong khi nạn tham nhũng đang hoành hành, từ đại nạn lên quốc nạn, nhưng chưa thấy ông trưởng ban chống tham nhũng nào bị kỉ luật cả. Đã thế việc “phát hiện” các vụ tham nhũng ngày càng ít đi. Nhiều địa phương trong nhiều năm không “phát hiện” được vụ tham nhũng nào(!) Không chống được ông bố tham làm sao chống được ông con tội phạm? Sợ rằng sau khi qui trách nhiệm cho bí thư, chủ tịch “các địa bàn” thì cũng như báo cáo chống tham nhũng, báo cáo tội phạm trên “ các địa bàn” bỗng nhiên giảm đi nhanh chóng, trong khi thực tế hoàn toàn ngược lại.

Vả chăng phòng chống tội phạm đâu chỉ trách nhiệm của bí thư, chủ tịch “ các địa bàn”, ngành dọc có an ninh và quốc phòng, ngành ngang có Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Bộ giáo dục.v.v Liệu có kỉ luật được không mấy ông bí thư, chủ tịch “ các địa bàn”? Giả sử kỉ luật được thì nói như chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: “ kỉ luật hết thì lấy ai mà làm việc.”?

Cho nên tư tưởng tốt, biện pháp hay và những nổ lực tiến công vào tội phạm là rất đáng khen, chỉ sợ không thắng nổi căn bệnh hòa cả làng đã ủ bệnh nhiều chục năm nay, giờ phát bệnh không cách gì chữa được.

Nguyễn Quang Lập

Nguồn: Quê Choa blog

Chớ rắp tâm xuyên tạc lịch sử!

Thời điểm chuyến thăm hữu nghị cấp nhà nước của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Campuchia tưởng không thể nào tốt hơn khi chính Thủ tướng Hun Sen vừa khẳng định phiên toà xét xử các thủ lĩnh Khmer Đỏ đang trưng bày “sự thật lịch sử” về Việt Nam.

Ngoài nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia, Quốc vương Norodom Sihamoni đã ra tận cửa xe ôtô để chào đón Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và mời ông đi lên bục danh dự.

Tài sản chung vô giá

Tại cuộc hội đàm, Quốc vương Sihamoni đã bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu của Việt Nam dành cho Campuchia trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thoát khỏi thảm hoạ diệt chủng, khôi phục và phát triển đất nước. Cả Tổng bí thư lẫn Quốc vương đều khẳng định quyết tâm củng cố và tăng cường hơn nữa mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài, coi đây là tài sản chung vô giá của hai dân tộc.

Tuyên bố chung về chuyến thăm hữu nghị cấp nhà nước khẳng định các nguyên tắc và phương hướng chỉ đạo quan hệ giữa hai nước trong thời gian tới. Hai nước sẽ tăng cường gặp gỡ tiếp xúc cấp cao; nhất trí lấy năm 2012 làm “năm hữu nghị Việt Nam – Campuchia” để kỷ niệm 45 năm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao.

Một trong năm phương hướng nhằm tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước trên tất cả các lĩnh vực là tiếp tục triển khai có hiệu quả các thoả thuận về quốc phòng, an ninh; tăng cường phối hợp, không cho phép bất cứ lực lượng chính trị, quân sự nào sử dụng lãnh thổ của nước này để chống lại nước kia; hai bên cũng phối hợp phòng chống các loại tội phạm xuyên quốc gia; hợp tác bảo vệ an ninh biên giới; duy trì cơ chế phối hợp tuần tra chung trên biển…

Chính phủ hai nước tăng cường chỉ đạo các bộ ngành, địa phương triển khai có hiệu quả các thoả thuận tại kỳ họp lần thứ 12 uỷ ban hỗn hợp (8.2011) và kết quả hội nghị xúc tiến đầu tư, thương mại trước đó (4.2011). Hiện có gần 100 dự án của các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào Campuchia, với mức vốn 2,2 tỉ USD. Năm 2010, thương mại song phương đạt 1,9 tỉ USD, ước tính năm nay đạt 2,4 tỉ USD. Hai bên đang tìm cách tăng kim ngạch lên 5 tỉ USD. Hai nước cũng thường xuyên trao đổi thông tin và phối hợp hoạt động tại các tổ chức quốc tế, khu vực và các diễn đàn đa phương, góp phần giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển.

Không thể xuyên tạc lịch sử

Việt Nam và Campuchia khẳng định tăng cường hợp tác giữa Việt Nam, Campuchia và Lào, xây dựng Tam giác phát triển thành khu vực hữu nghị, ổn định, an ninh và phát triển bền vững.

Theo người phát ngôn của Thủ tướng Campuchia, ông Ieng Sophallet, Thủ tướng Hun Sen đã bảo đảm với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng rằng vụ xét xử các thủ lĩnh Khmer Đỏ đang giúp người dân Campuchia hiểu rõ vai trò của Việt Nam chống lại chế độ Khmer Đỏ. Ông nói: “Vụ xử chế độ Polpot đang làm sáng tỏ sự giúp đỡ của Việt Nam dành cho Campuchia và rất công bằng”.

Phiên toà quốc tế xử Khmer Đỏ diễn ra hơn hai tuần, và đầu tuần này toà cho tiến hành hỏi cung nhân vật số 2 của Khmer Đỏ là lý thuyết gia Nuon Chea. Ông này đã không có một lời nào đụng đến vai trò của các thế lực đã ủng hộ Khmer Đỏ trong giai đoạn từ năm 1975 – 1979, cũng như không hề nói tới mối quan hệ quốc tế trước đó của Khmer Đỏ. Chấn động hơn hết, Nuon Chea đã phủ nhận mọi trách nhiệm của phe lũ và cho rằng “Việt Nam mới là thủ phạm”(?).

Lịch sử “những cánh đồng chết” chưa thể bị lãng quên một cách nhanh chóng như thế. Máu và nước mắt của hai dân tộc Việt và Khmer không phải là nước lã! Vẫn biết có thế lực đang “ngậm đắng nuốt cay” trước việc những đứa con đẻ của họ, các tội đồ của văn minh loài người bị lôi ra trước toà án lịch sử. Phá không được thì bôi nhọ và xuyên tạc. Dã tâm chia rẽ hai dân tộc Việt Nam – Campuchia, chia rẽ tình đoàn kết ASEAN trong nỗ lực xây dựng tinh thần tự cường khu vực nhất định không sớm thì muộn sẽ thất bại.

Quảng Trí
Nguồn: SGTT

Repondant à l’appel de André Menras


Cher André! André thân mến!

Tôi muốn được gọi anh theo cách thân mật này vì từ lâu anh đã trở thành thân thiết đối với nhiều người Việt Nam – trong đó có tôi – bởi anh giờ là đồng công dân của Tổ quốc Việt Nam thân yêu của chúng ta. Tôi xúc động bởi tiếng gọi “các đồng chí ơi” của anh đăng trên báo mạng BVN ngày hôm nay. Tiếng “đồng chí”, một biểu tượng thiêng liêng xúc động lòng người đối với những ai một thời đã xả thân vì sự sống còn của dân tộc, của đất nước như chúng tôi, hoặc vì lương tri và lý trí của loài người như thế hệ thanh niên “Ho Chi Minh” mà những thanh niên quốc tế như anh đã hãnh diện tự đặt tên cho thế hệ mình. Tiếng gọi “các đồng chí ơi” của anh sao mà tha thiết và chân thành đến thế, nó làm sống dậy và trả lại đầy đủ nội hàm đích thực của từ này mà nó hằng hàm chứa của một thời hào hùng và đầy nhiệt huyết ấy. Tiếng gọi “các đồng chí ơi” của anh không hề có mối quan hệ nào với chính bản thân của từ này trong giai đoạn hiện nay, bởi bây giờ người ta chỉ dùng từ ấy khi nghi thức bắt buộc, khi giận dữ với nhau, khi khinh bỉ nhau, hoặc khi châm biếm, mỉa mai nhau mà thôi!

André thân mến!

Có lẽ có đến hàng triệu và hàng triệu người Việt Nam – những người đã dành trọn tuổi thanh xuân của đời mình, hay một phần cơ thể và sức lực của mình, hàng triệu góa phụ và con côi đã phải chít trên đầu những vành khăn tang cho chồng, cho cha của họ đã ngã xuống, hay hàng triệu mái đầu bạc trắng của các ông cha, các bà mẹ anh hùng đã cống hiến cho Tổ quốc những giọt máu do mình dứt ruột sinh ra để giành lại nền độc lập và tự do cho dân tộc, để có được cuộc sống thanh bình của ngày hôm nay – chắc chắn cũng như anh, họ cũng cảm nhận được “cái tát nảy lửa vào niềm tin…”, những giọt nước mắt “lăn dài …” mà chẳng muốn kiềm lòng, những “…nỗi đau các thành quả của cuộc đấu tranh bị tịch thu của niềm hy vọng bị đánh cắp…”… Chắc chắn họ sẽ nghe tiếng kêu thống thiết của anh rằng: “Các đồng chí can trường của tôi ơi, các bạn hiện đang ở đâu? Làm sao các bạn có thể quên chúng ta từ đâu đến và chúng ta đang đi về đâu?”.

Điều đó đã từng một thời là nỗi đau, đồng thời cũng là sự nghiệp vẻ vang và niềm tự hào của dân tộc này, làm sao chúng tôi – trong đó có cả anh – có thể quên được hỡi André Menras? Dân tộc này đã từng nếm trải và chiêm nghiệm một cách thấm thía nỗi nhục mất nước và nỗi đau của một dân tộc nô lệ của hàng ngàn năm Bắc thuộc; đứng trước hiểm họa tồn vong, ký ức đắng cay và nhục nhã của một dân tộc mất nuớc, lý trí và tránh nhiệm trước tổ tiên và trước muôn đời con cháu về sau sẽ mách bảo cho dân tộc này phải biết mình là ai và sẽ đi đâu về đâu!

“Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Nếu cần thiết thì cả nam phụ lão ấu của dân tộc này – trong đó có anh, có tôi và cả con cháu của tôi – cũng phải lên đường để bảo vệ và giành lại sự tồn vong cho chính mình như đã bao lần dân tộc này đã buộc phải làm, đã tự chứng minh trong suốt tiến trình lịch sử của mình.

André thân mến!

Anh hoàn toàn không ngộ nhận về thực trạng đau lòng này! Kẻ thù của chúng ta không hề có lý!

Chúng ta đã nhẵn mặt kẻ thù thì làm sao có thể ngộ nhận được? Đi cướp nước người thì làm sao có lý được? Nhân dân thế giới sẽ đồng tình với sự nghiệp bảo vệ đất nước của chúng ta! Những người Trung Quốc chân chính và có lương tri cũng sẽ đồng tình với chúng ta!

Trong lịch sử đã có một thời một bộ phận của dân tộc ta – trong đó có những trí thức lỗi lạc như “Hiệp biện đại học sĩ” Phan Thanh Giản – cũng đã từng ngộ nhận về việc “Trung với vua là yêu nước, hay thuận lòng dân là yêu nước?”. Ông đã chọn “Trung với vua” để chứng tỏ lòng yêu nước. Trước thực tế phũ phàng của số phận đồng bào ông dưới ách thống trị của ngoại bang, ông đã bị lương tâm dày vò; ông đã tự trả giá cho sự ngộ nhận của mình trước lịch sử bằng chén thuốc độc. Các con của ông cũng đã phải rửa nỗi nhục cho sự “ngu trung” của cha mình bằng cách cùng nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống quân xâm lược. Lịch sử đã đặt câu hỏi và chính lịch sử đã giải đáp câu hỏi do mình đặt ra một cách rõ ràng, lẽ nào ngày nay chúng ta còn ngộ nhận? Lớp trí thức của dân tộc này lẽ nào cũng còn ngộ nhận để bị lịch sử ngàn đời nguyền rủa?

André thân mến!

Thế hệ con cháu chúng ta không hề bị ý thức hệ “ngu trung” ràng buộc. Con cháu chúng ta dù cho đã từng bị huyễn hoặc về một lý tưởng hoang đường, một lý tưởng mà người ta võ đoán là phải tiếp tục hy sinh nhiều thế hệ, dù phải hy sinh sự tồn vong của đất nước để có được lý tưởng đó, nhưng con cháu chúng ta chưa hề bị ràng buộc bởi một lời thề, hay một ân huệ nào của bất cứ ai ngoài cha ông của chúng để tin vào “16 chữ vàng” mà ai đó đã từng thề thốt với “người bạn tốt” để đổi lấy quyền lực thống trị, để “vinh thân phì gia” cho chính bản thân họ và nhóm lợi ích của họ. Chính sự mất tự do dưới ách thống trị của người trong nước, chính sự bất công xã hội, chính sự làm giàu nhanh chóng và lộ liễu của tầng lớp thống trị… sẽ giúp chúng nhanh chóng hiểu ra tương lai sẽ tồi tệ thế nào khi bị những “người bạn tốt” nô dịch; ký ức của dân tộc về hàng ngàn năm nô lệ và thực tế số phận thê thảm trước họa diệt chủng của các dân tộc ở Tây Tạng, Tân Cương hiện nay sẽ giúp chúng nhanh chóng hiểu ra sự thật.

Tôi tin tưởng vững chắc rằng chúng ta không “phải khóc thương cho một thời tuổi trẻ vẫn chưa lụi tàn …”; rằng chúng ta vẫn có thể “quên bẵng đi nỗi mệt nhọc hiển nhiên do tuổi tác”, dù rằng… “cái thời thanh niên “của chúng ta” giờ đây bừng sống lại trong hoàn cảnh đầy cản ngại…”.

Tôi tin tưởng rằng con cháu chúng ta mới là người chủ đích thực của đất nước này, rằng mỗi thế hệ đều có nghĩa vụ riêng của nó. Chắc chắn thế hệ thanh niên ngày nay sẽ hiểu ra sự thật của hiện tình đất nước, sẽ lên tiếng và sẽ có hành động thiết thực tương xứng với vai trò chủ nhân của đất nước mà lịch sử đã trao cho họ. Tôi tin tưởng vững chắc rằng hàng triệu và hàng triệu “đồng chí chân chính và đích thực” của chúng ta mà tôi đã kể trên, chắc chắn họ vẫn còn tỉnh táo và sẽ không khoanh tay ngồi nhìn; nếu vì sức yếu, tuổi già, tối thiểu họ cũng còn chỉ cho con cháu của họ hiểu được rằng chúng “hiện đang ở đâu, rằng chúng “từ đâu đến và … đang đi về đâu?”.

Hoàng Dzung
Nguồn: Bauxite VN

Lào tiếp tục hoãn xây dựng đập thủy điện Xayaburi

Các mối quan ngại của giới bảo vệ môi trường về tác hại tiềm tàng của đập thủy điện Xayaburi mà Lào muốn xây dựng trên dòng chính con sông rốt cuộc đã được bốn thành viên Ủy hội sông Mêkông lắng nghe.

Trong hội nghị diễn ra hôm nay 08/12/2011, ở cấp bộ trưởng tại Siem Reap, bốn nước Việt Nam, Lào, Cam Bốt và Thái Lan đã quyết định dời việc xây dựng con đập, chờ nghiên cứu kỹ lưỡng hơn về các ảnh hưởng của công trình.

Trong bản thông cáo được Ủy hội Sông Mêkông công bố sau cuộc họp, các nước thành viên cho biết là họ đã đồng ý là cần phải « nghiên cứu bổ sung về sự phát triển bền vững và quản lý dòng sông Mêkông, kể cả đối với các dự án thủy điện ». Bản thông cáo còn cho biết thêm là, chính quyền Nhật Bản sẽ được tiếp cận để giúp thực hiện việc nghiên cứu bổ sung.

Phát biểu về quyết định này, ông Lim Kean Hor, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi và Khí tượng Cam Bốt, chủ tịch hội nghị, đã lên tiếng hoan nghênh kết quả đạt được. Theo ông, sự kiện này đã phản ánh được quyết tâm làm việc với nhau của các nước thành viên Ủy hội. Theo ông, công trình nghiên cứu mới sẽ cung cấp « một bức tranh hoàn chỉnh hơn » về các vấn đề nẩy sinh từ việc xây đập.

Đây là lần thứ hai mà chính quyền Lào đã phải công khai lùi bước trước sức ép của các láng giềng, đặc biệt là Việt Nam và Cam Bốt. Hai quốc gia này rất lo ngại trước các tác hại mà đập Xayaburi có thể gây ra đối với môi trường và nhất là người dân sinh sống hai bên sông. Trong cuộc họp vào tháng tư vừa qua, ý định khởi công xây dựng đập của Vientiane đã từng bị bác bỏ, trước thái độ chống đối mãnh liệt của Việt Nam.

Theo giới phân tích, dự án đập thủy điện Xayaburi trên dòng chính sông Mêkông, khúc chảy qua miền đông bắc nước Lào, đã trở thành biểu tượng của các mối đe dọa nhắm vào dòng sông trong những năm tới đây. Các nhà bảo vệ môi trường tố cáo rằng, một khi được xây dựng, con đập sẽ là thảm hoạ cho 60 triệu người sống nhờ con sông. Một tập hợp nhiều tổ chức bảo vệ môi sinh, đứng đầu là tổ chức Sông ngòi Quốc tế - International Rivers - đã kêu gọi từ bỏ hoàn toàn các dự án xây đập trên sông Mêkông.

Trọng Nghĩa
Nguồn: RFI

Thứ Năm, ngày 08 tháng 12 năm 2011

Ngước nhìn Quốc hội

Phạm Đình Trọng
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về Quê Mẹ ruột đau chín chiều.
Ca dao
Quốc hội – Quyền lực của nhân dân
Với xã hội, quan chức Nhà nước được nhìn nhận ở vị trí quyền lực Nhà nước, ở hàm cấp trong hệ thống thang bậc công chức. Ông Phó Chủ tịch phường. Ông Chủ tịch huyện. Bà Vụ phó. Ông Viện trưởng. Bà Bộ trưởng. Ông Thủ tướng. Ông Chủ tịch nước… Đó là những quan chức thực sự, những người được Nhân dân trao cho quyền lực điều hành bộ máy Nhà nước phục vụ Nhân dân. Quan chức thực sự phải thực sự là công bộc của Dân. Quan chức là làm. Làm để phụng sự Dân.
Đại biểu Quốc hội, dù là Chủ tịch Quốc hội đi nữa, với xã hội, cũng không phải là quan chức. Đại biểu Quốc hội chỉ có một chức danh cao cả, một quyền lực lớn lao là Đại Biểu Nhân Dân. Cùng là Đại Biểu Nhân Dân thì không có đại biểu lớn, đại biểu nhỏ, đại biểu cấp trên, đại biểu cấp dưới. Chức danh trong Quốc hội chỉ để xác định vị trí, phạm vi trách nhiệm trong việc tổ chức, điều hành hoạt động của Quốc hội, không phải là thang bậc quan chức công quyền.
Quan chức Nhà nước được Nhân Dân trao cho quyền lực Nhà nước thì Đại biểu Quốc hội mang ý chí của Dân tạo ra hành lang pháp luật cho quyền lực đó hoạt động. Người Dân được làm mọi việc pháp luật không cấm thì Quyền lực Nhà nước chỉ được làm những việc pháp luật cho phép. Đại biểu Quốc hội thay mặt Dân giám sát chặt chẽ mọi việc làm của quyền lực Nhà nước trong phạm vi cho phép đó.
Quan chức là làm thì Đại biểu Quốc hội là nghe, nói và phán quyết. Người Dân phải được thực sự chọn ra, cử ra tiếng nói của Dân. Từ Nhân dân, từ cuộc sống trở thành Đại biểu của Dân mới gắn bó với Dân, gắn bó với cuộc sống phong phú của đất nước, mới biết lắng nghe Dân, lắng nghe tiếng nói của cuộc sống và đến nghị trường mới dám nói tiếng nói của Dân, nói tiếng nói của cuộc sống, phán quyết theo ý chí của Dân và theo đòi hỏi của cuộc sống.
Hơn thế nữa, Đại biểu Quốc hội còn phải đại biểu cho sự tiến bộ, đại biểu cho sự phát triển xã hội, đại biểu cho xu thế thời đại. Đại biểu Quốc hội không thể nói tiếng nói mòn cũ, trì trệ, lạc lõng của cuộc sống, không thể nói tiếng nói nhỏ nhen, cục bộ của nhóm lợi ích, càng không thể nói tiếng nói của quyền uy Nhà nước ngược ý chí Nhân Dân, ngược xu thế thời đại.
Xã hội phát triển cao là xã hội có sự phân công phân minh, rạch ròi, mỗi người chỉ có một vị trí trong xã hội, chỉ làm một việc của xã hội và phải làm việc có tính chuyên nghiệp cao. Một Nhà nước hướng về Dân, xác định rõ mục đích phục vụ Dân, là công bộc của Dân thì Nhà nước đó phải được tổ chức phân minh, rạch ròi, độc lập giữa ba nhánh quyền lực: Quyền lực Nhân Dân, Quyền lực Nhà nước, Quyền lực Pháp luật. Đó là ba nhánh Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Không thể vừa là quan chức hành pháp lại vừa là người lập pháp, tự tạo ra hành lang pháp luật để thoải mái tung hoành, rồi lại vừa là người giám sát sự tung hoành đó. Một người sắm ba vai như vậy thì vai nào cũng hời hợt, không đến nơi đến chốn, không thể tròn vai, không thể chuyên nghiệp, thậm chí chỉ là trò diễn, và điều tệ hại hơn là quyền lực không được giám sát, mặc sức lộng hành không có giới hạn và hoàn toàn vô trách nhiệm, người Dân không được bảo vệ trước sự lộng hành của quyền lực.
Quyền lực Nhà nước cai trị Dân và sự cai trị đó luôn luôn có xu thế lạm quyền. Quốc hội sinh ra là để giám sát và ngăn chặn sự lạm quyền đó. Vì thế Quốc hội phải thực sự của Dân. Người Dân phải được thực sự chọn ra, bầu ra Đại biểu Quốc hội. Đại biểu Quốc hội phải từ Nhân Dân, từ cuộc sống nóng bỏng sinh động chứ không thể từ quan chức, từ bộ máy hành chính quan liêu xa Dân diệu vợi, lạnh lùng vô cảm với cuộc sống người Dân. Chỉ khi đó Quốc hội mới thực sự là cơ quan quyền lực cao nhất của người Dân, người Dân mới được thực sự làm chủ đất nước thông qua Quốc hội. Chỉ khi đó Quốc hội mới mang vóc dáng Nhân Dân, khí phách Nhân Dân, mang hơi thở cuộc sống.
Một thực trạng: Quốc hội không mang vóc dáng Nhân Dân
Từ yêu cầu, đòi hỏi, từ sứ mệnh, trọng trách của Đại biểu Quốc hội như vậy chúng ta mới thấy Quốc hội của ta không hề có vóc dáng Nhân Dân, không hề mang khí phách Nhân Dân. Nhìn những gương mặt Đại biểu Quốc hội chúng ta thấy rõ Quốc hội từ khóa II đến khóa XIII chỉ là cơ quan Đảng, cơ quan Chính phủ mở rộng. Quốc hội sinh ra chỉ để tạo thêm cho Đảng Cộng sản, cho Nhà nước Cộng sản một cơ quan quyền lực cai trị Dân, áp đặt ý chí của đảng cầm quyền cho xã hội, hoàn toàn không phải là cơ quan quyền lực của Dân để ngăn chặn và giám sát sự lạm quyền của quyền lực Nhà nước!
Tính số tròn, dân số Việt Nam đến hôm nay là chín mươi triệu người, đảng viên cộng sản chỉ có ba triệu người, những người cộng sản chỉ chiếm hơn 3% dân số. Nhưng 500 Đại biểu Quốc hội khóa XIII của nhiệm kì 2011 – 2016 vừa bắt đầu, có tới 458 Đại biểu là đảng viên cộng sản. Hơn 3% dân số chiếm hơn 90% ghế trong Quốc hội! Một sự bất công ngang nhiên ở ngay cơ quan lập pháp, nơi xác lập kỷ cương, công bằng xã hội! Một sự coi thường Dân đến đau lòng, đến xấu hổ! Chỉ một con số khách quan đã chứng minh Quốc hội đó là Quốc hội của một đảng chứ đâu phải của toàn Dân! Toàn bộ thành viên cơ quan thực quyền cao nhất của Đảng Cộng sản là Bộ Chính trị và Ban Bí thư đều là Đại biểu Quốc hội. Ban Chấp hành Trung ương Đảng có 175 ủy viên chính thức thì 84 ủy viên Trung ương Đảng, một nửa Ban Chấp hành Trung ương Đảng tràn vào Quốc hội, chiếm ghế trong Quốc hội! Số người là công chức trong bộ máy hành pháp chiếm ghế Đại biểu Quốc hội, chiếm chỗ trong cơ quan lập pháp còn đông hơn nữa! Thành phần Quốc hội như vậy mà ông Tổng Thư kí Hội đồng bầu cử Quốc hội khóa XIII vẫn mạnh miệng tuyên bố: Thành phần cơ cấu Đại biểu Quốc hội phản ánh tính đại biểu rộng rãi cho các thành phần Nhân Dân! Trời ơi, Hội đồng bầu cử Quốc hội mà nói như vậy thì họ còn biết gì đến nỗi đau, nỗi tủi của Dân khi ngước nhìn Quốc hội, nhìn cơ quan quyền lực của Dân đã bị đánh tráo thành cơ quan quyền lực của Đảng!
Tính đại biểu rộng rãi cho các thành phần Nhân Dân chỉ là hình thức. Với tính hình thức đó, Quốc hội chỉ mang tính Mặt trận, là phiên bản của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc, nơi gặp gỡ vui vẻ của những người được trở thành Đại biểu và tiêu tốn quá nhiều tiền thuế của Dân nhưng không nói tiếng nói trung thực của cuộc sống, không nói tiếng nói khẩn thiết của Dân!
Quốc hội không còn là cơ quan quyền lực của Nhân Dân để Nhân Dân làm chủ đất nước, Quốc hội chỉ để hợp pháp hóa ý chí của đảng cầm quyền áp đặt cho xã hội, vì thế con số ít ỏi, tỉ lệ nhỏ nhoi người Dân có mặt trong Quốc hội không còn có vai trò thực sự của Đại biểu Quốc hội nữa mà chỉ mang tính tượng trưng để Quốc hội có đủ thành phần xã hội. Từ đó dẫn đến nhiều hệ lụy buồn.
Những đại biểu không đại biểu cho ai
Đại biểu Quốc hội mang bộ mặt quan chức bề trên không thể gần Dân, hiểu Dân, không thể là đại biểu của Dân. Chuyển vai, như một diễn viên chạy sô, lúc là quan chức nhà nước, lúc là Đại biểu của Dân nhưng không có lúc nào mang khuôn mặt Nhân Dân. Chuyển chỗ, lúc ở cơ quan quyền lực nhà nước, lúc ở cơ quan Quốc hội, không có lúc nào trở về cuộc sống của thân phận người Dân, không hiểu được cuộc sống thực lo toan của người Dân, không hiểu được cuộc sống thực sinh động của đất nước. Mang bộ mặt quan chức, mang tư duy quan chức đi tiếp xúc cử tri mà không lắng nghe Dân, chỉ ham ban phát những lời huấn thị, dạy bảo mòn cũ của bề trên với thần dân. Những chuyến đi về với Dân của những quan chức Đại biểu Quốc hội đó chỉ là một thủ tục chiếu lệ, một vai diễn nhạt nhòa. Đi mà không đến. Nhìn mà không thấy. Gặp gỡ, tiếp xúc mà ngàn trùng xa cách!
Không được cử ra, chọn ra người thực sự đại biểu cho mình, Người Dân chỉ còn là những robot cầm lá phiếu đi bầu cử dưới sự điều khiển của chiếc remote trong tay đảng cầm quyền, bỏ phiếu cho những người do Đảng cử. Vài người Dân ít ỏi được Đảng cử hoặc được Đảng cho phép ra ứng cử không cần là tinh hoa của Dân, không cần nói tiếng nói của Dân, chỉ cần có mặt để có “tính đại biểu rộng rãi cho các thành phần Nhân Dân”!
Ngay sau ngày đất nước thống nhất, một cô công nhân quét rác ở Sài Gòn đã được Đảng chọn cử làm Đại biểu Quốc hội. Thật là một hình ảnh lung linh về “tính đại biểu rộng rãi cho các thành phần Nhân Dân” trong Quốc hội! Thật là một minh chứng hùng hồn về chế độ xã hội chủ nghĩa dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư bản chủ nghĩa như lời véo von của bà Doan, Phó Chủ tịch nước! Còn những trí thức có tầm cao của trí tuệ và có sự lo toan của trách nhiệm công dân, nỗi lo toan đã vượt lên trên cái riêng để canh cánh với những vấn đề của Dân, của nước, những trí thức có kiến thức lập pháp, có tư duy độc lập, có sự đồng cảm với số phận đất nước, số phận Nhân Dân muốn mang nỗi trăn trở của cuộc sống, của Nhân Dân vào Quốc hội thì hãy nhìn tấm gương nhà khoa học Nguyễn Phúc Giác Hải và luật sư Lê Quốc Quân, những trí thức tự ứng cử Đại biểu Quốc hội liền bị đưa ra tổ dân phố cho những người lạ hoắc ở đâu đến tự nhận là cư dân trong tổ dân phố xưng xưng đấu tố, quyết liệt đặt điều bêu xấu mà người bị đấu tố không được nói lại! Để rồi người tự ứng cử ngoài dự kiến, ngoài đề cương kịch bản của Đảng liền bị Hội đồng bầu cử thẳng tay loại khỏi danh sách ứng cử!
Với cách đề cử, ứng cử đó, người ngay thẳng, có tâm, có tầm, ra ứng cử đường hoàng đã bị loại bỏ, số ghế ít ỏi trong Quốc hội dành cho người Dân trở thành cái đích đến cho những cuộc chạy đua như người ta vẫn ào ào chạy chức, chạy quyền, chạy án, chạy trường, chạy điểm, chạy bằng cấp, chạy chức danh và chạy vào Hội Nhà văn Việt Nam! Những cuộc chạy đua để “Quốc hội phản ánh tính đại biểu rộng rãi cho các thành phần Nhân Dân” đã đưa hai chị em ruột, hai chủ doanh nghiệp đình đám, cổ phiếu lớn, của cải nhiều, tiền bạc sẵn đều trở thành Đại biểu Quốc hội khóa XIII. Đại biểu chị, đại biểu em này có xứng đáng là Đại biểu của Dân không, xin hãy xem vai trò Đại biểu Quốc hội của họ.
Tại kỳ họp vừa qua trong phiên Quốc hội chất vấn Thủ tướng, khi các nghị sĩ đều hỏi Thủ tướng về những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống, của an nguy đất nước thì Đại biểu em đứng lên sau khi cao giọng tán tụng Chính phủ đã thực hiện rất tốt chống lạm phát và duy trì tăng trưởng liền đặt câu hỏi cũng chỉ để đề cao người được hỏi: “Xin hỏi Thủ tướng có định hướng gì và có lời khuyên gì cho doanh nghiệp chúng tôi nên đầu tư vào lĩnh vực nào?”. Một Đại biểu như vậy rõ ràng không đại biểu cho trí thức, không đại biểu cho công nhân, nông dân và cũng không thể đại biểu cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hẳn đều quá thất vọng với câu chất vấn Thủ tướng ở diễn đàn Quốc hội của đại biểu doanh nghiệp này. Không có doanh nghiệp nào phải trông chờ Thủ tướng định hướng, phải đợi Thủ tướng khuyên bảo mới biết phải đầu tư vào đâu! Là chủ một tập đoàn đầu tư, là chủ một khu công nghiệp lớn, phát đạt, ông chủ này từ lâu đã xác định rõ hướng làm ăn, đã thừa biết phải đầu tư vào đâu. Nhờ Thủ tướng định hướng, hỏi Thủ tướng chỗ đầu tư, câu hỏi không thật lòng lại vô cùng lạc lõng của ông chủ này chỉ để làm đẹp lòng Thủ tướng, lấy lòng Thủ tướng không đúng chỗ, không xứng với tư cách Đại biểu Quốc hội. Nhân Dân và các doanh nghiệp còn trông chờ gì vào vị Đại biểu mà tư cách công dân và tầm chính trị quá thấp này!
Còn Đại biểu chị thì từ cuộc đời riêng cho đến việc kinh doanh đầy đột biến bất thường và đều gắn bó, liên quan mật thiết, có quan hệ hôn nhân với một tội phạm đang bị công an truy nã. Thuở hàn vi, bà Đại biểu này đã dính líu đến vụ án chiếm đoạt “bí mật nhà nước” giúp cho nhà thầu nước ngoài trúng thầu một số công trình lớn của ngành điện lực. Vì có dính líu nên khi đã kết thúc điều tra vụ án rồi, bà vẫn bị cơ quan công an cấm xuất cảnh tới hai năm! Hết hạn cấm xuất cảnh, bà liền đi Mỹ mở hướng mới tìm vận hội. Năm năm thân gái xứ người, bà tìm được tấm chồng người Việt có quốc tịch Mỹ và cũng có tiền án đã phải vào nhà tù Mỹ nằm nhai bánh mì. Dẫn ông chồng người Mỹ gốc Việt có tiền án nhưng giàu có về Việt Nam bà bỗng trở thành chủ một tập đoàn kinh doanh. Bà chủ tập đoàn liền ký quyết định bổ nhiệm ông chồng quốc tịch Mỹ làm Tổng Giám đốc một công ty nhà đất trong tập đoàn của bà để ông Tổng Giám đốc có tiền án này có đất thi thố ngón nghề lừa đảo chiếm đoạt của đối tác làm ăn hơn hai trăm tỉ đồng rồi lặn một hơi về Mỹ và ông đang bị Bộ Công an Việt Nam truy nã.
Để bảo toàn vốn liếng làm ăn đã kha khá và vốn liếng xã hội còn quá nhỏ bé, để tiếp tục nuôi tham vọng trên thương trường và cả tham vọng trên chính trường, bà vội vã ra tòa li hôn với ông chồng lừa đảo và ông thẩm phán nhanh chóng kí giấy cho bà li hôn đã bị tòa án thi hành kỉ luật! Dù bà đã li hôn với ông chồng có tiền án bà dẫn từ Mỹ về, dù ông chồng đó có giúp bà trở thành bà chủ doanh nghiệp nhưng bà đã rước về cho đất nước một kẻ tội phạm, kẻ đã cuỗm mất của nhiều doanh nghiệp Việt Nam hơn hai trăm tỉ đồng. Vậy là bà đã góp phần làm nghèo đất nước, làm khốn đốn người Việt Nam đấy! Rõ ràng bà là một công dân không tròn trịa, có tiền sự, có tai tiếng, có dư luận không tốt, không tiêu biểu cho những phẩm chất cao quý của phụ nữ Việt Nam, cũng không tiêu biểu cho những doanh nhân Việt Nam làm giàu bằng tài năng và lòng tự hào dân tộc.
Bà về nước mới được ba năm. Thủ tục pháp lý, chỉ thủ tục pháp lý thôi, xác nhận bà chia tay ông chồng lừa đảo mới được ít ngày. Cũng phải nhìn nhận rằng cả về lương tâm và trách nhiệm bà không thể vô can trong tội phạm của chồng bà. Thế mà bà bỗng trở thành Đại biểu cho những người Dân Việt Nam lương thiện thì người Dân còn chút lòng tự trọng, còn gửi lòng tin vào Quốc hội phải có ý kiến và báo chí phải săm soi hành tung bất thường của bà là thường tình và cần thiết nữa. Đối phó với sự thường tình đó, tiếng nói đầu tiên ở Quốc hội của bà Đại biểu tai tiếng này là đòi Quốc hội phải có luật bảo vệ quyền riêng tư. Bà đòi hỏi luật bảo vệ quyền riêng tư của công dân chính là bà đòi hỏi Quốc hội phải ra luật bảo vệ những tai tiếng của riêng bà! Một xã hội hoàn thiện sau khi đã xây dựng đầy đủ luật pháp cho mọi hoạt động xã hội thì cũng cần có luật bảo vệ cuộc sống riêng của con người. Nhưng đất nước ta đang còn thiếu quá nhiều luật để đưa cuộc sống bề bộn, ngổn ngang vào kỷ cương mà bà Đại biểu Quốc hội nhiều tai tiếng vội vã đòi Quốc hội ra luật bảo vệ quyền riêng tư thì bà chỉ đại biểu cho riêng bà mà thôi!
Cuộc chạy đua để “Quốc hội phản ánh tính đại biểu rộng rãi cho các thành phần Nhân Dân” đã đưa một ông Bác sĩ không chuyên và háo danh trở thành Đại biểu Quốc hội khóa XIII. Bác sĩ không chuyên vì ông còn mải mê bon chen theo đuổi những cái danh ngoài nghề chữa bệnh của ông. Cái danh mà ông vênh váo trưng ra nhiều nhất và cũng bộc lộ rõ nhất sự bất tài của ông là cái danh nhà văn. Văn chương là lĩnh vực của cảm xúc và tài năng. Đọc ông không thấy năng lượng cảm xúc, chưa có văn, hoàn toàn vắng bóng tài năng, ít người đủ kiên nhẫn để đọc hết một “tác phẩm’ của ông. Viết như ông, người biết chữ và còn năng lực tư duy bình thường, ai cũng viết được nhưng không ai viết vì họ tự biết mình, còn ông thì không biết mình. Không có học vị Tiến sĩ ông cũng đấm ngực liền bốn đấm tự xưng liền bốn học vị: Tiến sĩ triết học đây! Tiến sĩ tâm lí học đây! Tiến sĩ xã hội học đây! Tiến sĩ y khoa đây! Xưng tới bốn học vị Tiến sĩ vẫn chưa đủ oai, ông còn nhân danh nhà văn đòi Quốc hội phải có luật nhà văn làm cho nhiều Đại biểu Quốc hội phải ngơ ngác hỏi lại ông: Cần có luật nhà văn để làm gì nhỉ? Lúc đó ông mới ngẩn ra: Tôi cũng không biết luật nhà văn để làm gì nữa!
Ông không biết cần có luật nhà văn để làm gì nhưng Nhân Dân biết. Ông đòi Quốc hội phải xây dựng luật nhà văn để ông có tiếng nói, để ông lấy oai, để ông kể công với các nhà văn và với công lao đó, ông quả xứng đáng là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam! Thật là một màn hài hước ở Quốc hội uy nghiêm và một nỗi đau của người Dân Việt Nam những năm tháng nhiều chuyện đau buồn này!
Cuộc chạy đua để “Quốc hội phản ánh tính đại biểu rộng rãi cho các thành phần Nhân Dân” đã đưa một nhân cách tầm thường, một kẻ trì trệ, lạc lõng với cuộc sống đất nước, lạc lõng với xu thế thời đại cũng trở thành Đại biểu Quốc hội khóa XIII. Không đồng cảm với Nhân Dân, không đau nỗi đau của người Dân, của cuộc sống thiếu dân chủ, đi ngược xu thế thời đại, kẻ lạc lõng đã đứng giữa Quốc hội xưng xưng đặt điều vu khống những người Dân xuống đường biểu tình bộc lộ ý chí bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ là: xâm hại quyền tự do đi lại, quyền mưu cầu hạnh phúc của người dân, xâm hại thu nhập chính đáng của những cửa hàng, xâm hại quyền được chăm sóc của công dân khi ốm đau, khi chuyển dạ sinh con, xâm hại hạnh phúc của công dân khi xe hoa không thể nhúc nhích vì tắc đường do biểu tình! Ông coi những cuộc biểu tình của người Dân khẳng định ý chí độc lập toàn vẹn lãnh thổ là sự ô danh. Nhâng nháo sỉ nhục Nhân Dân: Việt Nam chưa phải là siêu cường kinh tế để có thể đài thọ cho sự ô danh, rồi nhân danh Đại biểu Quốc hội ông đòi: “Tôi kính đề nghị loại bỏ luật lập hội và luật biểu tình khỏi danh sách dự án luật suốt nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII này!”.
Con người vượt lên trên thế giới động vật nhờ có tư duy. Có tư duy, con người có tư tưởng, có chính kiến, có thái độ chính trị và con người cũng có nhu cầu bộc lộ tư tưởng, chính kiến. Từng người bộc lộ tư tưởng, chính kiến bằng thái độ sống, bằng ngôn ngữ, bằng chữ viết, bằng báo chí, bằng tác phẩm nghệ thuật. Nhiều người cùng bộc lộ một tư tưởng, một chính kiến thì đó là biểu tình. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền biểu tình là những quyền cơ bản của con người, của công dân ở xã hội dân sự. Thời giặc giã đe dọa độc lập dân tộc, bảo vệ độc lập dân tộc là mệnh lệnh tối cao của Tổ quốc và của trái tim mỗi người Dân. Dồn sức cho cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc, người Dân sẵn sàng tự nguyện từ bỏ những quyền cơ bản của con người. Đất nước bình yên trở về cuộc sống dân sự thì những quyền phổ thông của con người phải được nhìn nhận, mọi công dân phải được khẳng định quyền con người của mình. Tất cả các bản Hiến pháp Việt Nam từ thời chiến tranh đến thời hòa bình đều ghi nhận quyền biểu tình của công dân Việt Nam. Hiến pháp 1992, điều 69 ghi: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật. Người Dân có quyền biểu tình theo quy định của pháp luật nhưng chưa có luật cho người Dân thực hiện quyền đó thì Quốc hội phải làm luật. Bác bỏ luật biểu tình là vi phạm Hiến pháp đó, thưa ông nghị Đại biểu cho Dân mà lại lớn tiếng sỉ nhục Dân.
Từ giữa thế kỷ XX, dân chủ đã trở thành xu thế, thành đòi hỏi bức thiết của xã hội loài người, dân chủ là một tiêu chí quyết định của xã hội văn minh, phát triển. Biểu tình là một ngôn ngữ của dân chủ. Người Dân bộc lộ thái độ, chính kiến với chính quyền bằng biểu tình là điều bình thường ở mọi đất nước có dân chủ. Đã sang thế kỉ XXI rồi mà vẫn bác bỏ luật biểu tình và vẫn dùng bạo lực trấn áp những người Dân biểu tình ôn hòa là một sự man rợ lạc lõng giữa thời đại văn minh. Đại biểu Quốc hội vu khống, lên án người Dân biểu tinh và bác bỏ luật biểu tình là một kẻ hủ lậu lạc lõng giữa thời đại dân chủ, văn minh, không thể chấp nhận ở một Quốc hội dân chủ, văn minh, chưa nói có thể suy luận xa hơn rằng muốn bác bỏ luật biểu tình dựa trên thực tế phản ứng với người dân biểu tình chống xâm lược biết đâu còn vì những mưu đồ chính trị liên quan đến chính kẻ thù xâm lược.
Trả lại Dân cơ quan quyền lực của Dân
Với thành phần Quốc hội hơn 90% là đảng viên của đảng cầm quyền, hơn 90% là quan chức chạy sô từ cơ quan hành pháp sang cơ quan lập pháp, với những Đại biểu Quốc hội như vừa điểm mặt ở trên, Quốc hội khóa XIII là một sự thụt lùi lớn so với những Quốc hội khóa trước. Quốc hội khóa XIII đã kéo dài thêm sự xa cách giữa Quốc hội với người Dân, kéo dài thêm cả sự xa cách giữa Quốc hội với thời đại. Quốc hội đó lại được giao trọng trách quá nặng nề, lớn lao: Sửa đổi Hiến pháp và xây dựng Luật biểu tình! Người Dân còn hy vọng gì, chờ đợi gì ở Hiến pháp sửa đổi, ở luật biểu tình, sản phẩm của Quốc hội đó!
Con người Hành pháp đã chiếm gần hết ghế ở cơ quan Lập pháp. Đến khi làm luật, Quốc hội lại giao luôn cho bên hành pháp soạn thảo luật. Ngành nào làm việc gì sẽ soạn luật về việc đó. Ngành Thông tin quản lý báo chí thì soạn luật báo chí. Ngành văn hóa quản lý xuất bản thì soạn luật xuất bản. Công an phải đối phó với biểu tình thì soạn luật biểu tình… Chỉ riêng điều này đã cho thấy một nghịch lý: Luật không phải để bảo đảm quyền của người Dân, không phải vì đòi hỏi của xã hội dân sự mà chỉ để tạo ra công cụ mềm cho cơ quan công quyền cai trị Dân. Vì thế hầu hết các luật đều giành phần dễ dãi, giành không gian rộng lớn, giành lợi lộc và giành cả quyền uy cho cơ quan công quyền, đẩy phần khó, phần chật chội, thiệt thòi cho người Dân.
Một bộ luật đúng đắn phải triển khai những bảo đảm cụ thể của cơ quan hành pháp để người Dân được thực hiện những quyền mà Hiến pháp cho họ và ngăn cấm cơ quan công quyền xâm phạm, hạn chế quyền đó của người Dân. Nhưng thực tế luật của Quốc hội ta lại cho phép cơ quan công quyền tước đoạt mất những quyền của người Dân đã được ghi trong Hiến pháp. Hiến pháp cho người Dân quyền tự do báo chí (Điều 69, Hiến pháp 1992) nhưng Luật Báo chí lại cấm báo chí tư nhân là đã tước đoạt quyền tự do báo chí của người Dân! Dân gian có câu: Hồn Trương Ba, da hàng thịt. Dù xác người này mang hồn người kia nhưng vẫn còn cái xác để nhận ra đó là ai. Cơ quan lập pháp của ta mang cả hồn và xác của hành pháp nên chính cơ quan lập pháp lại làm ra luật vi phạm Hiến pháp để cơ quan hành pháp mặc sức lộng hành, vô hiệu Hiến pháp!
Thực tế lại cho thấy, bộ máy công quyền của ta vô cùng cồng kềnh, quan liêu, vô cảm và lười nhác. Việc gì quản lý khó khăn, rắc rối, phức tạp thì cấm béng, thế là yên! Việc gì phiền phức, dây dưa mất thời gian lại có liên quan đến cơ quan khác, liền đóng ngay con dấu khắc sẵn hai chữ “Kính chuyển”, đẩy sang cơ quan khác, thế là xong! Những đơn thư oan ức, đau khổ viết bằng nước mắt và máu của người Dân kêu cứu cơ quan công quyền cứ chạy vòng quanh đèn cù từ cơ quan này sang cơ quan khác, từ trung ương đẩy về địa phương, từ địa phương lại đẩy lên trung ương, vòng quanh bất tận!
Hơn 90% Đại biểu Quốc hội lại là những quan chức công quyền thì Quốc hội vô cảm với thân phận người Dân, thì công quyền mặc sức lộng hành, thì người Dân bơ vơ, trần trụi trước sự lộng hành của quyền lực là đương nhiên. Những đơn thư viết bằng máu và nước mắt của người Dân gửi đến Quốc hội kêu cứu lại được các ông nghị, bà nghị lạnh lùng “Kính chuyển” như bên cơ quan công quyền. Người Dân thực hiện quyền biểu tình được ghi trong Hiến pháp để nói tiếng nói của lòng Dân Việt Nam trước việc giặc bành trướng ngang ngược xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, bắn giết dân lành Việt Nam. Cuộc biểu tình của tinh thần yêu nước đã bị công an hung hãn đàn áp, thẳng tay hành hung. Người biểu tình bị đánh đập thô bạo, bị đạp vào mặt, bị bắt giam phi pháp, bắt không cần lệnh, thích bắt ai thì bắt, bị tước đoạt tài sản. Hiến pháp 1992, điều 71 ghi rõ: Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Công an ngang nhiên chà đạp lên Hiến pháp, ngang nhiên đạp tới tấp vào mặt Dân, ngang nhiên bắt bớ, đánh đập Dân hết lần này đến lần khác trong thời gian dài nhưng 500 Đại biểu Quốc hội đều lặng thinh! Thế mà 500 ông nghị, bà nghị đó vẫn tự nhận và vẫn được xưng tụng là Đại biểu của Dân!
Một Quốc hội như vậy làm luật biểu tình và luật biểu tình lại do Bộ Công an, những người đã nhiều lần đàn áp, hành hung người biểu tình soạn thảo thì luật biểu tình rồi cũng chung số phận như luật báo chí mà thôi! Một Quốc hội như vậy đang hăm hở mang Hiến pháp 1992 ra viết lại thì tất cả các chương điều của Hiến pháp viết lại đều là điều 4 của Hiến pháp 1992 được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau mà thôi!
Hiến pháp là ghi nhận, là xác định cái bất biến của xã hội đầy biến động. Quyền lực của Nhân Dân là bất biến, là mãi mãi. Quyền lực của đảng phái, dù là đảng cầm quyền cũng chỉ nhất thời, cũng biến động với thời gian, với lịch sử. Điều 4 Hiến pháp 1992 là sự ngự trị của cái biến động ở vị trí của cái bất biến. Điều 4 Hiến pháp 1992 đã đưa quyền lực của đảng thay thế quyền lực Nhân Dân. Vì thế Quốc hội mới có gương mặt như Quốc hội khóa XIII!
Bao giờ Quốc hội mới thực sự là cơ quan quyền lực của Nhân Dân để người Dân được thực sự làm chủ đất nước mình, thực sự làm chủ cuộc đời mình? Ngước nhìn Quốc hội tôi lại có nỗi buồn như người con gái theo chồng xa quê nhìn về quê Mẹ, như nỗi buồn của người Việt phải bỏ nước vượt biên ra đi, từ chân trời tự do khắc khoải nhìn về quê Mẹ: Chiều chiều ra đứng ngõ sau / Trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều. Quê Mẹ ta đấy mà không còn của ta nữa, không còn mang hồn ta nữa! Buồn lắm! Đau lắm!
P. Đ. T.
Có lẽ khuyết điểm lớn nhất của bài viết này là tác giả đã viết với giọng quá trịnh trọng, nghiêm túc. Đối tượng mà bài viết đem ra mổ xẻ thuộc phạm vi quyền hạn của người dân, được ghi rõ trong Hiến pháp, nhưng kinh nghiệm cho thấy, có những thời điểm, sự phô diễn đối tượng một cách nghiêm trang quá  giống như các vở chính kịch  hình như không còn phải cách. Giá tác giả rút kinh nghiệm của văn học thế giới như trường hợp Cervantes, Rabelais… và nói đâu xa, chỉ học lấy dân gian thôi cũng có thể có những cách trình bày không đến nỗi phải “một lời là một vận vào” khiến chính công sức tâm huyết của mình cũng dễ làm cho mình sinh tai biến hoặc đột quỵ. Tin tức bạn bè trong giới gần đây tai biến đột quỵ quá cấp tập làm chính người chỉ biên tập bài của anh thôi mà vẫn cứ ngơm ngớp, rất sợ phải bỏ dở nửa chừng. Cũng may là tác giả còn sơ ý bỏ quên chưa đụng đến một gương mặt có thế nói là đặc sắc nhất nhì trong “Hội Nước” khoá XIII: gương mặt có một không hai của người sắm vai Chủ tịch với những cung cách điều hành mà nếu như Phan Châu Trinh sống lại thì hẳn ông sẽ viết được những câu còn hay hơn trong Tỉnh quốc hồn ca nhiều: “Còn như chuyện trò cười lớp giễu / Đại biểu này “đợi biểu” cho ai?”… Thôi thì tác giả quên đi, thế cũng là phúc lắm, nếu không e… bệnh viện sẽ còn chật chỗ! Xin để chúng ta cùng rút kinh nghiệm cho lần sau.
Nguyễn Huệ Chi
Nguồn: Bauxite VN

Ông Duyệt kể chuyện biểu tình

Chuyện lâu rồi, viết lại. Từ thời ông Phạm Thế Duyệt là ủy viên Thường vụ, Thường trực Bộ Chính trị ( có lẽ như chức danh Thường trực Ban Bí thư bây giờ).
Hồi ấy vừa xảy ra chuyện biểu tình ở Thái Bình rất nóng.
Mình thì đang làm phim tài liệu cho Thành phố Playcu 20 năm thành lập với tên phim rất chi là truyền hình Việt Nam ta: Dáng vóc Playcu. ( Hồi ấy, kẹt tiền nuôi vợ con lại thỉnh thoảng đi làm phim ca ngợi).
Mấy ông lãnh đạo Playcu cũng muốn có phát biểu của một bác càng to càng tốt khen mấy câu trong phim. Mình thì nghĩ, có ông to phát biểu, phát sóng càng dễ.
Mình gặp anh Nguyễn An Định ở báo Lao Động. Anh Định nói, ông Duyệt là bạn rượu của tao, để tao gọi, mày yên tâm, ông này làm to nhưng thân thiện cực kỳ, nhất là với anh em văn nghệ, báo chí.
Hôm đó mình và anh Thủy quay phim của Hãng phim truyện Việt Nam đến nhà ông Duyệt.
Mình nói với mấy cậu công an gác cổng, vào phỏng vấn anh Duyệt.
Cậu gác cổng điện cho ai đó rồi mở cửa.
Ông Duyệt bắt tay mình và anh Thủy. Mình nói, anh ạ, bọn em làm phim tài liệu về thành phố Playcu 20 năm thành lập, thành phố muốn một lãnh đạo Trung ương thật to phát biểu, em nhờ anh tí.
Ông Duyệt hiền hậu gật đầu. Mình nói qua mấy ý, ông Duyệt lại hiền hậu gật. Ông Duyệt ngồi trước máy quay, nói phát xong, không vấp từ nào.
Chương trình tán phét bắt đầu.
Mình hỏi, em nghe nói, vừa rồi dân Thái Bình biểu tình to, Trung ương cử anh xuống phải không ạ.
Ông Duyệt cười, nói đúng vậy. Hôm đó xe mình xuống, về tới đường làng thì dân vây chặt, đòi khiêng vứt xe mình xuống ruộng. Bảo vệ của mình giải thích, đây là xe của ủy viên Bộ Chính trị. Mình nghe ông cụ trợn mắt nói, Chủ tịch xã mà bọn tao còn bắt nhốt nữa là ông này. Mình thấy tình hình đúng là sôi sục. Mình mở cửa xuống xe. Đồng chí bảo vệ can ngăn, bác không được xuống với dân, nguy hiểm lắm. Mình nói, xuống với dân sao lại nguy hiểm. Mình xuống. Mình nói: Tôi là Phạm Thế Duyệt, ủy viên Bộ Chính trị. Tôi xuống với bà con, lắng nghe bà con đây. Ai đó hỏi, chắc không, ông xuống với bà con hay ông xuống hùa với tỉnh, với huyện chèn ép bà con. Mình nói, tôi xuống với bà con mà. Có ai đó nói, ông Duyệt nói vậy thì cho xe ông ấy đi.
Ông Duyệt tư lự: Mới nghe việc nhân dân biểu tình chống chính quyền thì có gì đó rất ghê, như phản động, nhưng về tới nơi, nghe bà con kể, mới hiểu, đúng là cán bộ xã, huyện, cán bộ thôn có một số rất cường hào. Bà con liệt kê không biết bao nhiêu thứ phải đóng nộp còn nhiều hơn cả thời phong kiến, không ai chịu nổi. Dân trồng lúa, trăm thứ bám vào hạt lúa, nộp như thế còn gì để sống. Thái độ đối với dân thì như cường hào, sai không nhận, lại tỏ ra hống hách, nghe rất buồn. Bà con không tin cán bộ. Đó là điều nghiêm trọng. Mình về, nắm tình hình của anh em cán bộ, nắm tâm tư bà con, chỉ ra một số định hướng, điều quan trọng là cái gì sai với dân phải nhận, dân biểu tình thì giải thích, ai thực sự quá khích, lợi dụng thì xử lý, dần dần rồi tình hình cũng ổn. Cán bộ sai phạm thì xử lý. Người dân nào quá khích, lợi dụng cũng xử lý. Cơ bản ổn. Đây cũng là bài học lớn cho công tác dân chủ ở cơ sở. Không thể xem nhẹ.
Mình hỏi, anh sợ không? Nghe nói anh cứ đi ào ào vào dân, lòng dân thì sôi sục lên như thế? Ông Duyệt cười, mình biết chứ, nếu mình biết chia sẻ, đồng cảm với sự sôi sục của bà con thì sợ gì. Lúc đó mà về, ra vẻ ủy viên Bộ Chính trị, sai ngành này ra tay, sai đơn vị kia ra tay, e dân vác ông Duyệt vứt xuống ruộng.
Ông Duyệt cho mình chai rượu. Mình nói, anh cho em chai khác. Ông Duyệt hỏi, sao thế, rượu này không ngon à? Mình nói, chai kia anh ạ, chai ấy đắt tiền hơn. Ông Duyệt cười. Các cậu sành nhỉ? Mình chỉ thích uống rượu quốc lủi như thời làm công nhân. Mình nói, bọn em uống làm gì, bí thì bán, lấy tiền nhậu bia hơi được nhiều bữa anh ạ. Ông Duyệt lại cười hiền hậu.
Nguyễn Quang Vinh