Thứ Bảy, ngày 17 tháng 12 năm 2011

Xướng ca và vô loại

Từ ngàn xưa ông cha ta đã khá khắc khe với giới ca kỹ đến nỗi cụm từ “xướng ca vô loài” nghiễm nhiên trở thành thước đo đạo đức cho một nghề nghiệp đã và đang phát triển mạnh mẽ trong sinh hoạt văn hóa văn nghệ Việt Nam từ nhiều thập niên qua.
Phải ghi chính xác: Cầu truyền hình Việt Nam- Nam Ninh ( Quảng Tây- Trung Quốc)
Nếu người ca sĩ thời hiện đại nổi tiếng với giọng ca trời cho và chịu sống bình thường như mọi công dân khác trong xã hội thì có lẽ cụm từ “xướng ca vô loài” sẽ dần mai một. Nhưng hình như cái cốt, cái hồn của cụm từ này từ ngàn xưa đã như một lời nguyền không chịu buông tha cho giới ca hát. Những phát ngôn nhố nhăng, rẻ tiền và vô văn hóa của không ít ca nhạc sĩ đã làm dư luận sững sờ. Những scandal gây chú ý đã và đang góp phần làm cho khán thính giả theo dõi các show trong tâm trạng vừa háo hức, vừa khinh bỉ lại vừa tiếc rẻ cho bản thân người ca, nhạc sĩ được họ yêu thích nhất.
Câu chuyện về “xướng ca vô loài” đã bắt đầu từ lâu lắm. Tại Việt Nam ngay dưới thời phong kiến, xướng ca vô loài được định nghĩa theo một cái nhìn khác hơn ngày nay bởi sự thay đổi vai diễn của người nghệ sĩ. Theo Toan Ánh thì “vô loài” liên quan tới quan niệm “vô luân” của người xưa như sau:
Xã hội ta xưa quan niệm lũ xướng ca vô loài là một tầng lớp vô luân. Họ bị coi là vô luân không phải vì họ sa đọa, chính sự sống của họ cũng không phải là sa đọa, mà chỉ vì những vai trò của họ đóng khi xướng hát: họ bị coi là vô luân ở đây vì người con có thể đóng một vai vua và người cha đóng vai bày tôi quỳ lạy, anh em ruột có thể đóng đôi vợ chồng, và vợ chồng lại có thể đóng vai mẹ con hoặc cha con… Tất cả cái vô luân là ở đây, ở đấy luân thường đã không còn nữa, mặc dầu chỉ trong những lúc trình diễn.” (Toan Ánh, Phong tục Việt Nam, Khai Trí, 1969, tr. 429).
Người xưa nhìn sân khấu dưới nhãn quan đạo đức của thời họ sống khó thể nói là khắc khe hay không. Giá trị đạo đức thời phong kiến có thể không phù hợp với cung cách sống hiện đại nhưng cái gốc lõi của vấn đề là sự nhìn thấy mầm mống mục ruỗng từ những điều khó thấy nhất.
Không thể đánh đồng việc trình diễn, ca hát là hành động thiểu năng đạo đức mà phải nhìn chúng ở một góc sáng hơn trong đó rất nhiều bài học luân lý được đưa lên sâu khấu góp phần tạo lập trật tự đạo đức xã hội qua nhiều thời kỳ.
Tiếc thay, đôi khi sân khấu cũng là nơi giúp cho cụm từ “xướng ca vô loài” sống lại nếu nội dung của buổi diễn hoàn toàn đi ngược với sự thật mà nó muốn chuyển tải. Thí dụ này lộ rõ trong buổi trình diễn trên cầu truyền hình giao lưu Việt-Trung mang tiêu đề “Láng giềng gần” diễn ra vào tối ngày Thứ Tư 14/12.
Báo chí đưa tin “Cầu truyền hình trực tiếp Giao lưu Việt – Trung: Láng giềng gần” giữa hai điểm cầu Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội và trường quay của Đài Truyền hình Quảng Tây (Trung Quốc) đã diễn ra lúc 20 giờ ngày 14-12. Chương trình được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV1, VTV4 và VTV6 và Đài Truyền hình Quảng Tây.
“Láng giềng gần” bị chỉ trích vì nhiều lẽ, trong đó có việc hai đối tác không ngang tầm với nhau do đó Việt Nam bị xem ngang hàng với một tỉnh của Trung Quốc.
Việc thứ hai làm người ta giận dữ trong khi phía Việt Nam cười vui trên sân khấu ca tụng tình hữu nghị thắm thiết thì Hoàn Cầu Thời báo, một cơ quan ngôn luận bán chính thức của Đảng cộng sản Trung Quốc lại đòi đập cho Việt nam và các nước tại Biển Đông vỡ mặt để chứng tỏ sức mạnh Trung Quốc.
Bài viết của thiếu tướng La Viện, một nhân vật cao cấp đương nhiệm không thể xem là dư luận của những người không chính thức trong hệ thống cầm quyền Trung Quốc. Từ mấu chốt này, đáng lẽ Việt Nam phải thức tỉnh, hoặc nếu đã tỉnh rồi thì phải trung thực với dân, đừng tiếp tục mụ mị họ qua chương trình vô duyên và thiếu đạo đức như “Láng giềng gần”.
Trở lại với “xướng ca vô loài”, “Láng giềng gần” có phải là một chương trình điển hình cho cụm từ này hay không?
Người quan tâm có thể đi xa hơn trong các điển tích Trung Quốc để tìm chút manh mối. Xin trích lại nguyên văn của tác giả Thu Thủy về nguồn gốc của “xướng ca vô loài” như sau:
Theo sử cổ của Trung-Hoa thì Nhà Thương (1766-1402 trước Công-Nguyên) về sau đổi thành Nhà Ân (1401-1123 trước Công-Nguyên) với vị vua cuối cùng là Trụ-Vương bị một bộ-tộc khác là nhà Châu, một nước chư-hầu, lật-đổ sau 643 năm trị-vì thiên-hạ. Dĩ nhiên, con dân Nhà Thương (Ân) phải ôm một mối hận nhà tan, và mối nhục mất nước, trong khi đó thì nhóm đàn bà con gái trong làng ca nhi của Nhà Thương, vì miếng ăn, manh áo, cùng nhau tụ-tập ở các tửu-điếm bên sông Tần-Hoài, dùng lời ca, tiếng hát của mình để phục-vụ cho quan-quân và người của chế-độ mới, tức là người của bộ-tộc Nhà Châu mà quên đi nổi nhục mất nước, nhà tan của mình. Làng ca-nhi nầy của Nhà Thương đã làm ô-nhục cho đất nước họ, một mối nhục muôn đời không gội rửa được, có lẽ vì thế mà người của Nhà Thương đã loại bỏ loại người hành-nghề xướng ca nầy ra ngoài lề xã-hội sinh-hoạt của họ. Việc làm ô-nhục của giới ca-nhi nầy đã bị người đời mỉa-mai, khinh-bỉ. Gần 2 ngàn năm sau, đến đời Nhà Đường (618-907 sau Công-Nguyên), ông Đỗ-Mục, một thi-sĩ tài-danh cùng thời với Lý-Thương-Ẩn (?), đã phải viết lên bài thơ Bạc Tần-Hoài, được Lệ-Thần Trần-Trọng Kim dịch như sau:
Khói lồng nước bóng trăng lồng cát
Bến Tần-Hoài thuyền sát tữu-gia
Gái ca đâu nghĩ nước nhà
Cách sông vẫn hát khúc ca Hậu-đình
2 câu nguyên văn của bài thơ trên luôn được người đời nhắc-nhở như sau:
Thương-nữ bất tri vong-quốc hận
Cách-giang do xướng Hậu-Đình-Hoa
Hậu-quả việc làm của nhóm Thương-nữ xướng-ca như đã nói trên đã khiến cho người đời khinh-bỉ và không liệt họ vào bất cứ một loại ngành-nghề nào trong xã-hội, có lẽ vì thế nên mới có câu:”Xướng ca vô loại”, không chỉ ở bên Tàu mà ngay cả ở Việt-Nam. Mãi cho đến đầu hậu bán thế kỹ thứ 20, nghề-nghiệp nầy mới bắt đầu chập-chững có chổ đứng trong xã-hội Việt-Nam, nhưng cũng còn phải chịu rất nhiều khó-khăn.
Nhà Thương bị mất nước, ca-nhi Nhà Thương đi hát để phục-vụ cho kẻ cướp nước là Nhà Châu nên bị người đời nguyền-rủa và tạo nên thành-kiến là Xướng ca vô loại, mãi cho đến ngày nay đã hơn 3 ngàn năm mà bia miệng vẫn còn…
Việt Nam tuy chưa chính thức mất như câu chuyện của Nhà Thương nhưng thế đứng mấp mé bên bờ vực sẽ mất vào tay Trung Quốc không thể không nhìn thấy. Nếu kết án các thành viên trong buổi diễn như Thanh Lam, Tùng Dương, Lê Anh Dũng, nhóm Năm Dòng Kẻ cùng với hai MC nổi tiếng Diễm Quỳnh, Hữu Bằng đáng được xem là những nghệ sĩ thiểu năng trí tuệ điển hình cho xướng ca vô loài cũng không quá đáng. Tuy nhiên xét về mặt tổ chức và đưa chương trình này lên trong vị trí trang trọng của một kênh truyền hình quốc gia thì những kẻ đề nghị lẫn xét duyệt quả là vừa thiểu năng trí tuệ vừa vô loại đối với chủ quyền đất nước.
“Xướng ca vô loài” trong ngữ cảnh này trở thành nhỏ bé và đáng được tha thứ. Vô loại trong ứng xử trước manh tâm xâm lược mới quan trọng và đáng được báo động hơn. Thời nào cũng có Lê Chiêu Thống, nhưng nhiều và trơ tráo như hiện nay thì câu hỏi gây sốc nhất là: “Có phải do tiền nhân không tích tụ đạo đức đầy đủ cho con cháu hay chăng?”
Gây sốc nhưng vẫn chưa đủ mạnh để đánh động dư luận, nhất là những ai đang vỗ tay cho cái chương trình vô loại này.
Mặc Lâm
Nguồn: Quê choa blog

Trở lại “giấc mơ bay”

Ngay tại cuộc họp nóng diễn ra sau vụ cháy tòa nhà EVN, lãnh đạo TP Hà Nội đã bày tỏ nhu cầu về “giấc mơ bay” với loại phương tiện chữa cháy hiện đại là máy bay trực thăng.
Xét về mặt thực tế, nhu cầu này là bức thiết, khi mà thủ đô đã có nhiều tòa nhà có số tầng vượt mức 20, mức mà loại xe thang hiện đại nhất có thể với tới và nguồn kinh phí chi trả cho nhu cầu phòng, chữa cháy đã lên mức cao có thể.
Trước đó hồi năm 2007, khi trận cháy rừng tại các tỉnh Tây Bắc (Lào Cai, Điện Biên) xóa sổ nhiều hecta rừng đầu nguồn, trong bối cảnh địa hình chia cắt, sườn núi dốc đứng, lãnh đạo Chính phủ muốn thị sát phải xài đến máy bay, các lực lượng phòng, chống cháy rừng Tây Bắc cũng bày tỏ “giấc mơ” về loại phương tiện chữa cháy mang tên trực thăng.
Hằng năm, mỗi khi các trận lũ “lịch sử” chia cắt miền Trung, lãnh đạo các địa phương đều bày tỏ nhu cầu về loại phương tiện có thể ứng cứu ngay lập tức đối với các vùng bị lũ cô lập là máy bay trực thăng…
Vậy tại sao một loại phương tiện giao thông đơn giản, rất phổ biến trên thế giới, lại chỉ là “giấc mơ” xa vời đối với những tổ chức, cá nhân đang có nhu cầu rất bức thiết và có khả năng chi trả?
Thật ra hiện không có quy định nào cấm đoán về việc mua máy bay trực thăng, song việc được bay trên bầu trời quả là vấn đề cực kỳ nan giải bởi ngoài những lý do kỹ thuật (ví dụ vị trí đậu đỗ trong đô thị…) thì việc quản lý bầu trời hiện vẫn là độc quyền của quân đội. Đơn cử, cách đây chưa lâu, chính Bộ Công an từng đề xuất một dự án cảnh sát 113 sử dụng máy bay trực thăng, song đã không thể thực hiện. Ngay cả những cá nhân đã bỏ tiền sở hữu máy bay, để có được giấy phép lưu hành thì không ai có thể tự mình lo được, mà đều phải “khoán” cho các công ty dịch vụ. Thậm chí chuyện về hai cá nhân ở Tây Ninh tự mày mò chế tạo máy bay, dù đã có ý kiến của Thủ tướng, sau rồi chật vật mãi cũng không được bay thử…
Điểm qua các ví dụ trên để thấy nhu cầu bay dân sự hiện ngày càng bức thiết, đòi hỏi một cách thức quản lý cởi mở và nhân bản hơn. Đảm bảo an ninh, quốc phòng là chủ trương đúng, song không thể vì lý do này mà hạn chế các nhu cầu dân sinh chính đáng khác như chữa cháy, khí tượng, nông lâm nghiệp, địa chất…
Ngày nào nhận thức về vấn đề này chưa thay đổi thì sau mỗi vụ cháy, sau mỗi trận lụt, được bay trên bầu trời vẫn chỉ là… giấc mơ!
Phan Lợi
Nguồn: Bút Lông site

Giọt nước mắt của lề phải

Trong suy nghĩ của nhiều người ngoài ngành, qua phản ánh của phim ảnh, nghề báo đẹp như được một phủ lớp hào quang.
Nhà báo được tiếp xúc với số lượng người cực lớn, trong đó có nhiều quan chức cao cấp, văn nghệ sĩ nổi tiếng. Nhà báo có thể “dồn” một ông cốp tới lúc phải đắng họng, có thể vạch trần những âm mưu xấu xa, có thể bá vai bá cổ một nhà văn chụp ảnh, hay ôm hoa đứng bên các nghệ sĩ. Nhà báo có xu hướng là người quảng giao, rất hiểu biết, nói chuyện hay ho, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, giữa biết đủ ngóc ngách của xã hội. Nhà báo có xu hướng thông minh, hài hước, dũng cảm, biết chụp ảnh. Nghề báo là nghề đầy vinh quang và có cả sự phiêu lưu mạo hiểm…
Đó là suy nghĩ của nhiều người ngoài ngành về nghề báo và nhà báo. Tất nhiên, không phải 100% ý kiến đánh giá đều như vậy. Ở thái cực kia, người ta lại nghĩ nhà báo Việt Nam là cái lũ đầu rỗng, nỏ mồm chém gió và nói phét, đã thế lại đểu, chỉ giỏi vặt tiền doanh nghiệp, nói tục chửi bậy kinh khiếp mà viết lách thì không bài nào sạch lỗi.
Người ta cũng có thể nghĩ nhà báo Việt Nam là một lũ cừu, cứ sểnh ra là viết sai, viết láo, viết không có lợi cho tình hình chung, làm phương hại tới quan hệ giữa Việt Nam và một quốc gia nào đó.
Người ta còn nghĩ nhà báo Việt Nam là một bọn bồi bút, bọn lưỡi gỗ tuyên truyền phản dân hại nước, ngậm miệng ăn tiền. Không đếm được có bao nhiêu lời mạt sát “lề phải” trên mạng: “não nhẵn”, “óc phẳng”, “hèn hạ”, “ngu xuẩn”, “vô lương tâm”…
Tuy nhiên, không thể tóm gọn diện mạo của cả làng báo Việt Nam trong một vài tính từ tích cực hay tiêu cực nào. Vì họ có tất cả những gương mặt ấy, khía cạnh ấy. Và dù thế nào đi nữa, trong đội ngũ các chiến sĩ trên mặt trận văn hóa-tư tưởng (cách gọi khác của từ “đàn cừu”), vẫn luôn có những nhà báo lề phải ngày đêm lặng lẽ mang những gì tốt đẹp nhất mình có thể tìm được đến cho độc giả.
Tôi kính phục họ – những nhà báo trung thực, giấu sự phản kháng vào trong thầm lặng. Thật tiếc là, dẫu vô cùng muốn viết về họ, nhưng ngay cả lúc này, tôi vẫn cứ phải giấu tên các nhà báo ấy, để họ ở yên trong trận tuyến của họ – vì lẽ mọi lời nói ám chỉ đến họ đều có thể trở thành thông tin chỉ điểm.
 “Nhưng chúng ta không thể bỏ mặc thế giới này…”
Họ trước hết là những người rất thông minh, sắc sảo. Và chúng ta đều hiểu là, một người có đầu óc thông minh, sắc sảo, biết xét đoán và biết phản biện, sẽ không bao giờ chấp nhận sự định hướng, lừa mị, bưng bít. Không thể che mắt họ bằng lối nhồi sọ của thế kỷ trước.
Họ cũng “phản động” chẳng kém bất kỳ nhà báo tự do, blogger lề trái nào. Nhưng trong hoàn cảnh của họ, họ không thể thoải mái viết bài phê phán, chỉ trích rồi đưa lên mạng tùy thích. Họ im lặng, cố gắng mang đến cho độc giả những thông tin tốt nhất có thể có được, thông qua một lối diễn đạt nhẹ nhàng nhất, và chỉ thầm ước mong: rồi độc giả sẽ hiểu.
Không có họ, ai là người đưa những thông tin đầu tiên về đại dự án bauxite 2009 ở Tây Nguyên ra công luận?
Không có họ, ai đưa những phát ngôn “đỉnh cao trí tuệ” trong chính trường Việt Nam lên mặt báo? Ai ghi lại những câu nói “bất hủ”, phản ánh trình độ (ít nhất là khả năng tư duy logic, khả năng diễn đạt) đáng báo động của một bộ phận không nhỏ quan chức nước nhà?
Không có họ, ai phản ánh về những vụ dân thường chết trong đồn công an một cách bí hiểm? Cho dù nhiều sự việc đau lòng như thế có thể chẳng đi về đâu, nhưng ít nhất, cũng nhờ có họ mà chuyện đã được đưa ra công luận.
Không có họ, ai viết về mãi lộ? về lũ lụt, tai nạn, tiền cứu trợ bị bớt xén hay hàng cứu trợ toàn bột giặt? về những tai nạn thảm khốc – cho thấy một xã hội đầy rủi ro, tỷ lệ tử chắc chắn là cao hơn mức 6/1.000 người dân/năm rất nhiều? về những bê bối trong trường học, bệnh viện? về một Vinashin vỡ nợ? Tất nhiên, việc báo chí viết về Vinashin hay các bê bối tương tự rất có thể chỉ là kết quả của những đấu đá nội bộ “trên thiên đình”, trong đó báo chí được sử dụng làm công cụ, vũ khí để bắn giết nhau, nhà báo chỉ là những con tốt mà thôi. Nhưng dù sao thì lũ tốt đen ấy cũng đã làm được công việc đưa một phần sự thật ra ánh sáng.
Cũng có những lúc lề trái và lề phải “phối hợp tác chiến” một cách rất hoàn hảo. Hình ảnh những người dân đi đầu trong đoàn biểu tình mùa hè năm 2011, giương cao tờ báo Thanh Niên với hàng chữ nổi bật trên trang nhất: “Không chủ trương trấn áp người biểu tình yêu nước”, có đủ nói lên sự ủng hộ ngấm ngầm của lề phải cho lề trái chăng? Tôi nhớ ở đâu đó, một độc giả bình luận: “Báo Thanh Niên đã góp sức để người dân thể hiện lòng yêu nước một cách an toàn – và quý báo cũng… an toàn!”.
Họ cũng ra đi. Ra đi nhiều lắm. Cứ sau mỗi vụ tờ báo nào đó bị xử lý, rất có thể là lại có hàng loạt người “bay”. Nhất là với cái thứ văn hóa đổ vấy của người Việt Nam, khi một loạt bài được “trên” biểu dương, thì lãnh đạo tòa báo hưởng, mà khi loạt bài bị “đánh” thì chỉ có thằng đánh máy, con sửa mo-rát là chết, mà lại là chết trong âm thầm, không ai hay biết.
Cũng nhiều người tự động bỏ đi, vì chán ngán, vì bế tắc. Một trong những người ấy đã gửi tôi một dòng tin nhắn mà không bao giờ tôi quên được: “Nhưng chúng ta không thể bỏ mặc thế giới này cho những kẻ mà ta khinh bỉ”. (1)
"Ký giả đi ăn mày". Nguồn: "Hồi ký không tên" của Lý Quý Chung
 Vì nhân dân
Năm 2009, trong một bài về “Chuyện làm báo ở Sài Gòn trước 1975”, tôi đã viết: “… nghề báo thì bao giờ cũng vậy, là niềm vui, là nỗi buồn, là lòng nhiệt tình của tuổi trẻ và cả những giọt nước mắt”. Đó thực chất là điều tôi muốn nói về báo chí Việt Nam sau năm 1975. Tôi không biết trong cuộc chiến thầm lặng chống lại sự bưng bít, bóc trần cái xấu, thúc đẩy sự minh bạch, bao nhiêu nhà báo đã lau nước mắt.
Chiều 2/8/2011. Ngày ấy, ở Hà Nội diễn ra hai sự kiện: phiên xử phúc thẩm TS. Luật Cù Huy Hà Vũ và cuộc họp giao ban báo chí của Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, với nội dung thông báo kết quả điều tra vụ “đạp mặt người biểu tình”.
Cảm giác “lạnh người” khi nghe tin ấy: Bộ Công an tổ chức họp báo ngay tại Thành ủy Hà Nội (giữa trung tâm thủ đô) để thông báo kết quả điều tra, và trước đó, tin đồn ít nhiều rằng đã có những cuộc tiếp xúc, điều đình giữa công an và người biểu tình bị đạp mặt – anh Nguyễn Chí Đức. Chúng tôi đều hiểu rằng, không có lý gì mà công an tự tin đến thế. Chắc là sẽ có một diễn biến gì đó…
3 giờ chiều, từ ngoài đường, tôi gọi điện cho bạn (vừa ở cuộc họp báo ra):
- Tình hình sao rồi mày?
- Xong rồi. Họ bảo tay Đức chống đối, ngồi bệt xuống đất, nên công an phải khiêng lên xe đưa về đồn. Ông Đức cũng bảo không bị ai đánh, viết tường trình nói rõ thế rồi.
- Còn cái clip kia?
- Không xác định được có phải là giả không.
- Thế bây giờ mày định…?
- Thì về viết bài, có thế nào viết như thế chứ còn định gì. So what? (thế thì sao)
So what cái cục cứt! – chưa bao giờ tôi thô lỗ như thế trên điện thoại di động. – Mày định thế nào? Mày muốn cứ thế mà tương vào bài à? Mày không hỏi Chí Đức lấy một câu à?
- Mày muốn gì? Có giỏi thì mày viết đi, viết xem có đăng được không?
Hai người chửi nhau một trận nảy lửa trên điện thoại.
- Đừng có vô lý thế. Mày phải hiểu là không thể khác được. Trong trường hợp này tao chỉ có thể làm hết sức mình là phản ánh lại đúng sự việc qua lời của công an, và sẽ ghi rõ là “theo kết luận điều tra”. Thông tin được chừng nào tới người đọc tốt chừng ấy. Mày viết theo kiểu đa chiều, lấy ý kiến Chí Đức, xem có đăng được không? Sao cáu kỉnh vô lý thế? Có phải lỗi của tao không?
Đến lượt tôi ngồi bệt xuống đất, tay run bắn lên vì giận. Phải, chính tôi mới là kẻ vô lý. Tại sao tôi lại gầm lên trên điện thoại, lại văng tục với bạn tôi – nhà báo mà tôi nể phục, quý trọng, nhà báo mà tôi vẫn thường yêu mến bảo: “Như John Lennon và Paul McCartney, hai ta song kiếm hợp bích”. Tại sao tôi lại nói bạn như thế, trong khi cả hai đều hiểu ai là những kẻ phải chịu trách nhiệm về tất cả chuyện này.
Bất cứ người làm báo chuyên nghiệp nào cũng hiểu quá rõ rằng, “trung thực, khách quan, công bằng” là các nguyên tắc đạo đức hàng đầu; và nếu ở một nền truyền thông đa chiều như phương Tây, thì sau khi dự một cuộc họp báo của cơ quan công an như thế, việc tiếp theo phóng viên phải làm là phỏng vấn “phía bên kia”, tức là nạn nhân Nguyễn Chí Đức, để xem anh có ý kiến như thế nào, có thực anh đã viết tường trình khẳng định mình không bị đạp mặt hay không.
Nhưng báo chí nước mình nó khác, khác ghê lắm. Mà chẳng riêng báo chí, nói chung là cái nước mình nó khác. Video clip ghi lại hình ảnh vụ đạp mặt không được thừa nhận một cách thản nhiên. Cuộc họp báo của cơ quan công an, tổ chức tại Thành ủy Hà Nội, không có mặt Nguyễn Chí Đức, cũng không mời bất cứ một ai trong số những người đã ký kiến nghị đề nghị xử lý nghiêm vụ đạp mặt công dân. Kết luận chỉ hàm ý đơn giản là Nguyễn Chí Đức ăn vạ. Hỡi ôi, cả một hệ thống xông vào vùi dập một công dân! Và chúng tôi đã chẳng thể làm gì để bảo vệ công dân ấy.
Nhưng bạn tôi nói đúng. Chúng tôi không làm khác được. Trong một nền báo chí được định hướng chặt chẽ, sát sao. Trong một nền truyền thông nơi “quyền bình luận” của nhà báo bị triệt tiêu sạch sẽ – đừng hỏi vì sao báo chí (lề phải) Việt Nam bao năm qua không có nổi một cây viết bình luận cho ra hồn; phóng viên, nhà báo đâu có cái quyền ấy; nó là quyền của lực lượng “chống âm mưu diễn biến hòa bình” kia. Trong một nền truyền thông nơi báo chí bị coi như công cụ, nhà báo không khác gì con chó, khi nào bảo sủa thì sủa, bảo im thì im. Thì người làm báo phải lựa chọn. Hoặc là im lặng để cố gắng đưa được thông tin tới bạn đọc chừng nào tốt chừng ấy. Hoặc ra đi.
Và trong cuộc chiến lặng thầm đưa thông tin tới bạn đọc, nhiều nhà báo chỉ còn biết gạt nước mắt, thở dài mỗi khi bị hiểu nhầm, bị nghe chửi (oan) là “lưỡi gỗ”, “chó lợn”, “ngu xuẩn”… Đôi khi, họ làm tôi nhớ đến một câu hát buồn:
Many times I’ve been alone,
and many times I’ve cried.
Many ways you’ve never known,
but many ways I’ve tried…” (2)
 Ngước mắt nhìn trời…
Năm 2011 khép lại bằng một vài sự kiện, trong đó có chuyến về nước của GS. Trịnh Xuân Thuận, nhà vật lý thiên văn người Mỹ gốc Việt. Một trong những nhà báo thầm lặng mà tôi cũng rất yêu mến, khi tôi hỏi “có theo sự kiện này không”, đã trả lời: “Khi thất vọng với mặt đất thì là lúc nên nhìn lên trời”.
Dẫu là một câu nói đùa, nhưng nó đúng. Nhìn lên trời cũng là một cách để bớt ức chế với mặt đất. Nếu không ngước mắt nhìn trời, họ – những nhà báo vẫn cố gắng bám trụ với nghề, chấp nhận cay đắng, chấp nhận sự định hướng của một lực lượng mà năng lực truyền thông hẳn nhiên là thua xa họ – sẽ không chịu nổi bao nhiêu bụi bặm, rác rưởi.
Thôi thì chúng ta có thể hy vọng rằng, mọi việc được làm trên thế giới này đã được tiến hành bằng hy vọng.
Đoan Trang
 Ghi chú:
1. Tiểu thuyết “Suối nguồn” (The Fountainhead, 1943) của Ayn Rand.
2. Ca khúc “Con đường dài và khúc khuỷu” (The Long and Winding Road, 1970) của “The Beatles”.
3. “Everything that is done in the world is done by hope” (Martin Luther).

Việt Nam – tỉnh thứ 24 của Trung Quốc?

Thủ đô Hoa Kỳ không có ghế trong quốc hội vì lý do sợ các đại biểu thiên vị, dù hơn 600.000 dân đóng thuế đầy đủ. Bầu cử Tổng thống thì dân DC thờ ơ vì không có đại cử tri để bầu.
Dân chúng than “Taxation without Representation – đóng thuế è cổ mà bị bịt miệng” ngay cả trên biển xe hơi.  Ở xứ này, người đóng thuế có quyền lên tiếng, khi cần họ thay cả chính phủ, riêng DC thì không thể.
Nước Mỹ có 50 tiểu bang, cờ thiết kế có 50 ngôi sao, gọi là xứ cờ hoa (Hoa Kỳ) là vì thế. Riêng Washington DC được gọi là District (huyện DC) of Columbia mà không có chữ tiểu bang (state) đi kèm, không có ngôi sao nào đại diện trên lá cờ.
Hôm trước xem chương trình H2 (History channel 2) của Mỹ, có một phỏng vấn về DC và vấn đề rắc rối trên.
Câu hỏi là, nếu Hoa Kỳ được thêm một bang thứ 51, thì ông/bà chọn nơi nào, ý phóng viên muốn hướng người được hỏi nên chọn DC.
Bốn người nghĩ ngợi một hồi và trả lời: Thái Lan, Philippines, Costa Rica, Taiwan (Đài Loan). Không ai chọn Việt Nam, may quá.
Qua chuyện này có thể đoán, việc dạy địa lý của Hoa Kỳ có nhiều lỗ hổng, học sinh không biết có những bang nào và nằm ở đâu.
Hoặc đó là thái độ sô vanh nước lớn của dân chúng xứ này, bất kỳ nước nào cũng có thể thành một bang của Hoa Kỳ, nếu muốn.
Câu chuyện này không liên quan đến tin về cầu truyền hình giao lưu Việt-Trung mang tiêu đề “Láng giềng gần” diễn ra tối thứ 4 (14-12), nhưng thái độ sô vanh lại giống nhau.
Tin cho hay, những MC nổi tiếng như Diễm Quỳnh, Hữu Bằng và vài ca sỹ gạo cội Thanh Lam, Tùng Dương đã góp phần làm nên một sự kiện văn hóa “trong không khí thắm tình hữu nghị” như báo chí lề phải mô tả.
Chỉ có báo lề trái than rằng, trời ơi, thế là hết cho tộc Việt.
Bởi vì đài TH Trung ương Việt Nam (VTV), đại diện cho một quốc gia, lại phối hợp với một đài  truyền hình địa phương của tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), nối Thủ đô Hà Nội và thị trấn Nam Ninh trong một sự kiện tầm văn hóa giữa hai quốc gia.
Hơn 1,3 tỷ người Trung Quốc tại 22 tỉnh lục địa và đảo Đài Loan xem chương trình này có lẽ cho rằng Việt Nam là một tỉnh của Trung Quốc, nói chi đến 6 tỷ người khác trên hành tinh. Dân Việt cũng không nằm trong số ngoại lệ.
Xâm lược phương Bắc thời xưa thường dùng lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) để đánh Việt Nam, khi thắng, khi thua, nhưng chưa bao giờ thống trị được Việt Nam, dù trải qua hàng nghìn năm.
Thời nay dùng nhất Quảng (Quảng Tây - một tỉnh nghèo) và thêm VTV “tay trong” là đủ biến xứ mình thành một tỉnh của Trung Quốc, mà không cần tốn bất kỳ một viên đạn nào.
Cũng giống như dân Mỹ nói về bang thứ 51 của Hoa Kỳ, vài thập kỷ nữa thôi, khi hỏi dân Bắc Kinh về tỉnh thứ 24, nhiều người không ngần ngại nói rằng, đó là 越 南 – Việt Nam.
Lỗi lầm ngoại giao ở tầm quốc tế này do dân trí thấp, do xem phim Tầu quá nhiều, hay do tâm, tầm văn hóa và hiểu biết lịch sử của những tác giả cầu truyền hình “Láng giềng gần”.
Xin bạn đọc phán xét hộ.
Hiệu Minh. 15-11-2011

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 12 năm 2011

Này hỡi ông Trần Bình Minh….

Tôi chỉ gặp  ông đúng một lần, chỉ một lần không hơn, hình như năm 1996 thì phải, khi ông là trưởng ban thời sự VTV1, tôi có chút việc cơ quan đến gặp ông. Tôi nhớ khi tôi xưng danh ông đã nhìn tôi như nhìn một cục cứt, và tất nhiên việc cơ quan giao cho tôi liên hệ với ông cũng bị vứt vào sọt rác.
Tất nhiên tôi không hề giận ông, cả tỉ người coi tôi như cục cứt chứ riêng gì ông đâu( Trí thức là cục cứt mà, hi hi). Vả, với tư  cách con trai ông Trần Lâm, thần tượng của tôi, thì việc ông không biết tôi là ai và khi biết thì coi tôi như cục cứt cũng là chuyện bình thường, nếu giận tôi là thằng ngu xuẩn. Tư bấy đến nay ngồi đâu tôi cũng khen ông, so với Lại văn Sâm- người cùng thời TKX với ông- thì ông hơn hẳn một cái đầu. Thú thực  tôi mừng thầm khi nghe tin ông lên chức tổng giám đốc, hi vọng nhờ thế mà VTV bớt nhà quê đi, chỉ mong bớt nhà quê đi thôi chứ hy vọng khá hơn thì không dám.
Ngay cả khi nghe thiên hạ chửi ông vụ cho phát  phóng sự biểu tình, mạt sát những trí thức danh giá của nước này khi họ tham gia biểu tình; vụ ông ( dự định) quyết định cho phát sóng phim Lý Công Uẩnđường tới thành Thăng Long, tôi cũng không hề giận ông. Những việc như thế không phải mình ông quyết được.  Suy cho cùng ông chỉ là một con tốt rẻ rúng trong chính trường bạc nhược và nông nổi, ở đấy chữ CHÍNH bị thủ tiêu, khắp bốn bề ngập ngụa mỗi chữ THAM, ông biết thừa  khỏi cần phải nói nhiều.
Chỉ trách ông trong việc ông có thể làm, và bổn phận một con dân nước Việt ông phải làm, nhưng ông đã nhắm mắt làm ngơ. Ấy là chương trình cầu truyền hình trực tiếp về tình hữu nghị Viêt- Trung tối 14/ 12 vừa rồi. Tất nhiên ông thừa biết đây là trò chơi đaọ đức giả, chứ hữu nghị cái gì! Ông cũng thừa biết tờ Hoàn Cầu- một phụ san của tờ Nhân Dân Nhật báo – tiếng nói chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc- đã đặt ra các câu hỏi thăm dò về cái gọi là “tình hữu nghị” với Việt Nam, với các  câu hỏi Việt Nam là “vong ân bội nghĩa”, “xâm chiếm Biển Đông”, “hiếu chiến”, “nham hiểm”, v.v
Ok. Đạo đức giả thì đạo đức giả ( nửa thế kỉ nay chúng ta đã quen xơi món này rồi), nhưng quốc thể là quốc thể. Một đài trung ương VN không thể giao lưu đồng đẳng với một đài tỉnh lẻ TQ ấy là tỉnh Nam Ninh. Nhà báo Huy Đức ( Ông này thì ông biết quá rồi còn gì) đã bình luận: “Giao lưu với đài Nam Ninh sao không dùng đài truyền hình Hà Nội mà lại dùng đài truyền hình Quốc gia, theo nguyên tắc ngoại giao đối đẳng. Việt Nam  đâu đã thành một tỉnh ( của TQ)?)”.
Cái này thì đến đứa con nít còn biết, sao Trần Bình Minh không biết nhỉ? Ông biết chứ, người rắp tâm làm chính trị từ tuổi 25 sao mà không biết. Có điều ông theo chủ thuyết Mackeno, kệ mẹ, cái gì trên bảo thì ta làm, vấn đề là cái ghế chứ không phải là Tổ quốc.
Nếu vậy thì đó là thứ  chính trị Mackeno, chính trị Oẳn- Tà- Roằn, trước sau gì cũng bị nhân dân phỉ nhổ, này hỡi ông Trần Bình Minh.
Nguyễn Quang Lập

Giáo dục về biển-đảo cho thế hệ trẻ (Bài 1: Việt Nam)

TS Nguyễn Hồng Kiên
SÁNG 25/11/2011, trên diễn đàn Quốc hội,  Thủ tướng  Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu:
… chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền trên Biển Đông là vấn đề phải giải quyết và khẳng định chủ quyền của chúng ta trong phạm vi 200 hải lý thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật Biển năm 1982. Chúng ta đã và sẽ tiếp tục khẳng định chủ quyền để quản lý thực hiện chủ quyền ngày càng đầy đủ hơn, hiện quả hơn đối với vùng biển này.
07:30 (GMT+7) thứ Hai, 28/11/2011, báo Tuổi trẻ có ngay bài Giải pháp đòi lại Hoàng Sa
Các tác giả NGUYỄN THÁI LINH – LÊ MINH PHIẾU – LÊ VĨNH TRƯƠNG (Quỹ Nghiên cứu biển Đông) đưa ra 03 giải pháp:
1- Xác lập chủ quyền
2- Đấu tranh ngoại giao
3- Lập cơ quan chuyên trách
Nhà cháu rất đồng tình với đề xuất trong giải pháp thứ ba:
“… các kinh nghiệm về đấu tranh, kiến thức về đàm phán, pháp luật, lịch sử cũng cần được học tập và ứng dụng một cách lâu dài.
Nhà nước cần phổ biến thông tin một cách sâu rộng trong toàn dân và kiều bào để có sự hậu thuẫn cao nhất cho sự nghiệp lớn này.
Nhân dân ta thông hiểu đầy đủ thì mới gia tăng sức mạnh của ngoại giao nhân dân và tác động mạnh mẽ đến nhân dân Trung Quốc và Hoa kiều trên toàn thế giới.
11:13 thứ Tư 30/11/2011 nhà báo Hải Hà tổng hợp cả 1 bài dài: “Đòi lại chủ quyền Hoàng Sa bằng cách nào? ”
Riêng nhà cháu, CHO ĐẾN NAY vẫn rất băn khoăn về chuyện giáo dục về chủ quyền biển đảo cho các thế hệ trẻ. Không hiểu chúng ta đã và đang dạy như thế nào trong các cấp học.
Không có thông tin về việc bộ tài liệu ấy đã làm xong chưa. Nhưng thứ Bẩy, 10/09/2011 (TỨC HƠN 1 NĂM SAU) báo Dân trí  của TW Hội khuyến học có bài: “Quảng Ngãi: Giáo dục học đường về biển, đảo” đưa thông tin:chiều ngày 9/9, ông Thái Văn Đồng – giám đốc Sở GD-ĐT Quảng Ngãi cho biết: “Ngoài nội dung do Bộ GD-ĐT biên soạn, ngành giáo dục Quảng Ngãi tích cực biên soạn bổ sung nội dung liên quan đến đảo Lý Sơn, đặc biệt là những hoạt động như lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, lịch sử về chặng đường các hùng binh tuân lệnh triều đình nhà Nguyễn ra khơi bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa”. 
Báo Thanh niên hôm 10/12/2011 có đến 2 bài liên quan đến phổ biến thông tin về biển-đảo
1- Bác Thanh Thảo “Chào buổi sáng” ngay trang bìa: Hoàng Sa và bài giảng điện tử. Nhà cháu KHOÁI đoạn:”Chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa là một vấn đề lớn, cần được đưa vào sách giáo khoa môn lịch sử và địa lý để giảng dạy chính thức trong các trường phổ thông. Trong khi chờ sự điều chỉnh của sách giáo khoa (SGK), rất cần đưa ngay đề tài Hoàng Sa vào các bài giảng ngoại khóa, học thêm, sinh hoạt Đoàn, Đội tại trường. Để học sinh ở nhiều cấp học phổ thông, ở nhiều lứa tuổi được tiếp thu một cách tốt nhất, phong phú và sinh động nhất bài học về Hoàng Sa như một bài học về lòng yêu nước, nên thiết kế những giáo án, bài giảng điện tử phù hợp với từng cấp học. “
2- Trang 15 lại có bài của bác Nguyên Phong giới thiệu sách: Ra mắt sách “Việt Nam và biển Đông. Nhà cháu buồn 05 phút, vì SÁCH gì mà có vỏn vẻn 40 trang ?
Thế rồi, nhà cháu quyết ngồi gõ entry này, dù từng muốn chuẩn bị kỹ hơn về tư liệu.
“Lăn tăn” về chuyện giáo dục về chủ quyền biển đảo cho các thế hệ trẻ TÌNH CỜ tái sinh từ chuyện  nhặt được một cuốn sách giáo khoa Lịch sử lớp Tám trên chuyến xe về Hải Phòng ăn cưới một chú em, từ hôm 22/10/2011.
Nội dung cuốn SGK Lịch sử ấy có 2 phần
Phần một: Lịch sử Cận đại và Hiện đại (từ giữa thế kỷ XVI đến năm 1945)
(Nhà cháu giờ mới biết là SGK đã đưa cả ảnh/tranh biếm vào để tăng phần sinh động. Ví dụ, bài 10 “Trung Quốc giữa thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX” có hình 42: Các nước đế quốc xâu xé “cái bánh ngọt” Trung Quốc
 Vui phết nhờ?)
Phần hai: Lịch sử Việt  Nam từ năm 1858 đến năm 1918.
Cuối bài 25 “Kháng chiến lan rộng ra toàn quốc (1873-1884) có  một câu hỏi và bài tập khá HAY:
– Tại sao nói từ năm 1858 đến năm 1884 là quá trình triều đình Huế đi từ đầu hàng từng bước đến đầu hàng toàn bộ trước quân xâm lược ?
TUY NHIÊN, kẹp trong cuốn SGK này là 2 tập tài liệu in photocopy trên giấy khổ A4.
Một, là văn bản số 8080 của Sở GD&ĐT Hà Nội gửi các phòng  GD&ĐT quận – huyện – thị xã – các trường trực thuộc, v/v triển khai cuộc thi tìm hiểu “Huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển”
Hai, là “Đề cương Tuyên truyền kỷ niệm 50 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (25/10/1961 – 25/10/2011)
Cái tập tài liệu thứ hai này mới có nhiều điều đáng nói:
1- Trước hết là về cỡ chữ. Không phải là được photocopy thu nhỏ, mà tài liệu tuyên truyền này được đánh bằng font size 7 hoặc 8 (bình thường là 14)
Mới đầu, chưa đeo cái kính lão lên, nhà cháu lại tưởng đây là 1 tập “PHAO”.
Hóa ra BTC cũng ‘sâu sát’ và hiểu/chiều các cháu ghê.

Khi scane, nhà cháu đã phải đặt thước tỷ lệ, y như khi chụp ảnh hiện vật khảo cổ vậy.
Nội dung tập tài liệu tuyên truyền này có 2 phần:
Phần thứ nhất: Quá trình hình thành và phát triển đường  Hồ Chí Minh trên biển (1961-1975)
Phần này lại mắc đúng bệnh của SGK Lịch sử là dài dòng, quá nhiều số liệu, thông tin quá chi tiết.
Tuy nhiên có 1 đoạn đáng chú ý ở trang 2: “Tỉnh  Trà Vinh thành lập 1 khung cán bộ để đưa thuyền ra bắc, do đồng chí Hồ Văn In (Bảy Thắng) làm thuyền trưởng, đồng chí Nguyễn  Thanh Lồng (Hai Tranh) là chính trị viên;
ngày 3 tháng 8 năm 1961 thuyền xuất phát, ra tới  Nha Trang gặp bão, sóng to, gió lớn thuyền trôi dạt sang Ma Cao (Trung Quốc) sau đó đi trở lại hướng  Tây  Nam;
ngày 15 tháng 8 năm 1961, thuyền bị Bộ đội Biên phòng Trung Quốc giữ và đưa về Du Hải- Quảng  Châu;
ngày 16 tháng 8 năm 1961 đại diện Đại sứ quán Việt Nam đón và đưa anh em về Hà Nội, còn thuyền thì Bạn cho Tàu Nam Hải 136 chở sang bàn giao cho Ty Thủy sản Hải Phòng“
Phần thứ hai: Phát huy truyền thống Đường mòn HCM trên biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, viết thế này:
Cũng trong năm 1978, tình hình trên các vùng biển, đảo phía Bắc đã nảy sinh những vấn đề mới, nhằm củng cố thế trận phòng thủ trên biển, đảo phía Bắc, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân chủ trương tăng cường lực lượng và hệ thống cộng sự phòng thủ trên các đảo dọc tuyến Đông Bắc, trọng tâm là đảo Bạch Long Vĩ và đảo Vạn Hoa…
Cuối năm 1987, đầu năm 1988, tình hình trên vùng biển đảo Trường Sa trở nên căng thẳng và phức tạp; thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị và mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, toàn Quân chủng tập trung cao nhất mọi lực lượng để triển khai xây dựng và bảo vệ vững chắc các đảo đã xác định trong kế hoạch 3 năm (1988-1990). Trong giai đoạn này, cùng với Lữ đoàn 125, có các tàu của Vùng 4, Hải đội 384 (Cục Hậu cần), Lữ đoàn 171 và Lữ đoàn 649 (Tổng cục Hậu cần) tham gia vận chuyển cho Trường Sa. Với tinh thần “Tất cả vì Trường Sa thân yêu“, cán bộ, chiến sỹ trên các tàu vận tải đã chạy đua với thời gian, vượt qua mọi hiểm nguy, sóng gió, khảo sát, thăm dò, vận tải và chốt giữ đảo, cùng các lực lượng trong Quân chủng tăng cường asc mạnh phòng thủ trên các đảo chìm, đảo nổi.
Năm 1988, các lực lượng vận tải quân sự trong Quân chủng vận chuyển chiến đấu với khối lượng tăng gần gấp 7 lần so với năm 1987. Các lực lượng vận tải đã huy động hết khả năng, phương tiện, kết hợp với phương tiện của đơn vị bạn và của Nhà nước hoàn thành kế hoạch vận chuyển 46.300 tấn hàng phục vụ cho chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu. 129.453 tấn hàng phục vụ cho sinh hoạt thường xuyên, đạt khối lượng vận chuyển 44.438.686 tấn (trong đó Lữ đoàn 125 đã huy động 318 lần chuyến tàu, vận chuyển 22.564 tấn).
Tổng kết đợt hoạt động CQ-88 (năm 1988), Quân chủng có 4 tập thể và 6 các nhân được tuyên dương Danh hiệu Anh hùng LLVTND, trong đó, lực lượng vận tải quân sự có 3 tập thể: Tàu HQ505, HQ931 (Lữ đoàn 125), tàu HQ671 (Vùng 4) và 2 cá nhân là đồng chí Vũ Huy Lễ (thuyền trưởng tàu HQ505), đồng chí Vũ Phi Trừ (thuyền trưởng tàu HQ604) được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND.“
Chẳng thấy ĐỊCH ở đâu. Chẳng biết cụ thể là THẰNG NÀO đã gây “căng thẳng và phức tạp”.
Phải tra trên internet nhà cháu mới biết các  AHLLVT Vũ Phi Trừ, Vũ Huy Lễ cùng các con tàu HQ-604 và HQ-505 là nhân vật chính trong sự kiện được biết đến với tên gọi CQ-88 (Chủ quyền-88).
Hải chiến Trường Sa 1988 là tên gọi của cuộc chiến trên biển Đông năm 1988 khi Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Hoa đưa quân chiếm đóng một số đảo, đảo chìm, bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa và Hải quân Nhân dân Việt Nam đưa quân ra bảo vệ, đánh trả và cuộc chiến nổ ra vào ngày 14 tháng 3 năm 1988. Kết quả thắng lợi thuộc về Trung Quốc, phía Việt Nam mất 3 tàu vận tải của hải quân Việt Nam, 64 thủy binh Việt Nam đã hy sinh và quan trọng hơn cả là kể từ đó Trung Quốc đã chiếm đóng thêm một số lãnh thổ mà Việt Nam luôn cho là chủ quyền của mình.” (http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%A3i_chi%E1%BA%BFn_Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_Sa_1988)
Vậy nhưng ở phần “Phát huy truyền thống đường HCM trên biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc trong tình hình mới” lại có NHẬN ĐỊNH CỰC KỲ KHÓ HIỂU:
“Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường; hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, các nước lớn vẫn sẽ chi phối các quan hệ quốc tế, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, khủng bố, bất ổn chính trị-xã hội vẫn diễn ra ở nhiều nơi; tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, biển đảo ngày càng gay gắt; ASEAN tuy còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong khu vực.
Những thành tựu, kinh nghiệm của công cuộc đổi mới đã tạo ra cho đất nước ta thế và lực mới, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước. TUY VẬY, CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TIẾP TỤC THỰC HIỆN ÂM MƯU “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH“, GÂY BẠO LOẠN LẬT ĐỔ, SỬ DỤNG CÁC CHIÊU BÀI “DÂN CHỦ”, “NHÂN QUYỀN”, HÒNG LÀM THAY ĐỔI CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA. Nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền biển đảo, thềm lục địa của Tổ quốc và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên các vùng biển, đảo đặt ra những yêu cầu mới.“
Và trong 6 BIỆN PHÁP được đề ra, có:
“Tổ chức quán triệt, giáo dục cho các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo có nhận thức đúng vị trí. vai trò, tầm quan trọng của biển, đảo; tình hình tranh chấp, những tác động và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế biển, đảo và quốc phòng-an ninh, tình hình hiện nay trên biển Đông. NÂNG CAO HIỂU BIẾT PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BIỂN; ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC VÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, TĂNG CƯỜNG CẢNH GIÁC, SẴN SÀNG ĐẬP TAN MỌI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, BẢO VỆ VỮNG CHẮC CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO, THỀM LỤC ĐỊA CỦA TỔ QUỐC, GIỮ VỮNG MÔI TRƯỜNG HÒA BÌNH, ỔN ĐỊNH TRÊN CÁC VÙNG BIỂN, ĐẢO“
CUỐI CÙNG, cả 05 câu hỏi của Cuộc thi tìm hiểu “Huyền thoại đường HCM trên biển” của Đoàn TNCS HCM tổ  chức CHỈ là:
1/ Bạn cho biết về ngày truyền thống đường HCM trên biển; những bến, bãi của đường HCM mà lịch sử đã ghi nhận, đó là những bến, bãi nào, ở đâu?
2/ Ý nghĩa, tầm quan trọng của đường HCM trên biển đối với cuộc kháng chiến chông Mỹ cứu nước?
3/ Những thành tích cơ bản của Đoàn tàu không số trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước?
4/ Hãy cho biết về người thuyền trưởng của Đoàn tàu không số đã được đặt tên cho 1 hòn đảo của nước ta hiện nay? Hãy nêu 1 trong những chiến công của thuyền trưởng đó?
5/ Bạn có suy nghĩ gì về những con người, những chiến công và con đường huyền thoại trên biển mang tên lãnh tụ HCM? (bài viết không quá 2.000 từ)
Chẳng thấy “Ôn cố tri tân” gì hết.
Nhà cháu thấy cái chuyện  ĐỊCH-TA trong tài liệu hướng dẫn cuộc thi này sao TÙ MÙ quá thế.
Thậm chí, chả biết đâu mà lần. Chỉ thấy ĐÂU ĐÂU CŨNG CÓ “CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH”.
Cho dù thế nào cũng phải xác định rõ ràng cho các thế hệ trẻ. Người lớn ai lại thả con cháu mình ra một môi trường “tứ đầu thọ địch” thì chúng sống làm sao?
Muốn vậy phải làm ngay từ việc giáo dục về biển-đảo.
Lịch sử HÀO HÙNG về Đường Hồ Chí Minh trên biển, VỚI ĐẦY ĐỦ TẤT CẢ CÁC THÔNG TIN, ĐÁNH GIÁ  CHÂN THỰC VÀ KHOA HỌC nên được đưa vào chương trình tại các trường phổ thông.
Nhà cháu cũng nhất trí với BBT báo Đại Đoàn kết “Đưa sự kiện Hoàng Sa vào sách giáo khoa
Nhà cháu cũng nghĩ như bác Thanh Thảo: Từ những phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước Quốc hội vừa rồi, có thể thấy lập trường rất rõ ràng, quang minh chính đại của nước ta về chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa. Bây giờ chính là lúc phải bằng rất nhiều cách để đưa ý thức chủ quyền về Hoàng Sa tới các thế hệ trẻ, đặc biệt là học sinh.
(MỜI CHỜ ĐỌC PHẦN HAI: TRUNG QUỐC GIÁO DỤC VỀ BIỂN ĐẢO)
Tác giả gởi cho HDTG.