Thứ Bảy, ngày 24 tháng 12 năm 2011

THƯ GỬI ANDRÉ MENRAS HỒ CƯƠNG QUYẾT

André & tác giả

Anh André thân quý,
Tôi viết bức thư gửi đến anh khi các cháu ngoại của tôi cùng mẹ của chúng đang ríu rít trang trí cây Noel. Ấy vậy mà lòng tôi nặng trĩu suy tư khi nghĩ đến các cháu nhỏ của anh ở Paris đang ngóng chờ anh.
Như Anh đã nói với chúng tôi, “Gia đình nhỏ của tôi và mẹ già gần 90 tuổi của tôi đang ở Pháp. Thật lòng tôi thấy mình có lỗi và như đang bỏ rơi họ vào dịp lễ quan trọng này. Tuy nhiên, khi nghĩ đến hoàn cảnh các gia đình đã bị mất chồng, mất con trai lớn, tài sản, bị ức hiếp tại vùng biển miền Trung, thì tôi lại nghĩ, cá nhân tôi và gia đình tôi cần phải hy sinh thêm một chút nữa. Bởi những hy sinh đó cũng không bằng những hy sinh lớn lao của họ. Nói một cách nào đó, họ cũng như chúng ta, họ xứng đáng hưởng một cuộc sống hạnh phúc và công bằng chứ”.
Và rồi, không sao gõ chữ trên bàn phím được nữa, trong tim tôi buốt nhói với lời bài hát mà Anh và nhạc sĩ Jean Pierre Pousset, em rể của Anh, gửi cho chúng tôi
“Ecoutez la triste complainte des veuves de Bình Châu
De celles de Lý Sơn
Elle assombrit le jour et déchire la nuit
Ecoutez-là, amis, et ne l’oubliez pas :
C’est la voix d’un Vietnam qui souffre et qui se bat.
Seule, seule, seule
Front plissé des longues nuits blanches,
Veuve de Lý Sơn, veuve de Bình Châu,
Seule, seule, seule ! ”.
[Hãy lắng nghe tiếng thở than sầu thảm của những góa phụ ở Bình Châu
Hay ở Lý Sơn
Khiến ngày u ám, đêm xé lòng
Đó là tiếng hồn Việt Nam đau xót và chiến đấu.
Hãy lắng nghe, bạn hỡi và đừng quên :
Đơn độc, đơn độc, đơn độc
Thức trắng đêm trường, nhíu nhăn vầng trán,
Góa phụ Lý Sơn, góa phụ Bình Châu
Đơn độc, đơn độc, đơn độc]
 Chính vì sự đơn độc đó mà Anh đã ở lại Việt Nam với chúng tôi mặc dầu “ Giáng Sinh đang đến gần, và cội rễ phương Tây của tôi khiến tôi buồn nhớ ông già Noel cũng như những người thân của mình” như Anh tâm sự.
Và rồi tôi hiểu ra rằng, đâu phải chỉ mấy ngày Giáng Sinh này, ngoài lần trở lại làm phim, trước tháng 6, Anh đã có 4 lần đi đến Bình Châu và Lý Sơn để khảo sát, có ở lại cả tháng tại đấy. Nhưng đâu chỉ có thế, để làm cuốn phim ấy, Anh đã mất 5 năm nghiên cứu tìm hiểu kỹ về lịch sử Việt Nam gắn với biển Đông, Luật Quốc tế biển và văn hóa của ngư dân Lý Sơn, Quảng Ngãi! Để rồi, trái tim Anh không chịu nổi điệp khúc “đơn độc, đơn độc, đơn độc” của những góa phụ Lý Sơn, góa phụ Bình Châu mà quyết dấn thân để làm vơi đi nỗi “đơn độc” của những người phụ nữ đau khổ đó.
Anh André ơi,
Trên đất nước của chúng ta, và như Anh viết, Anh “thật sự yêu mảnh đất này đến điên (dù mắt xanh mũi lõ). Trong chiến tranh, một phần cuộc đời của tôi đã gắn bó với đất nước này” thì chắc Anh vẫn nhớ, bức tượng nàng vọng phu đứng sừng sững gần vùng hiểm địa Chi Lăng, xứ Lạng, nơi đầu tiên gánh chịu vó ngựa xâm lược, là một biểu tượng thật bi tráng trong đời sống Việt Nam.
“Nàng vọng phu” không hề “đơn độc. đơn độc, đơn độc ”, người phụ nữ chờ chồng này không là người “cô phụ” vì tượng của nàng được dựng tại nơi “hình khe, thế núi gần xa, đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao” [Chinh phụ ngâm] của vùng trung du, nơi ông cha ta đã khắc họa bản lĩnh dân tộc trong hình hài của đất nước với 99 ngọn đồi sừng sững tượng trưng cho 99 con voi và ngọn đồi thứ 100 sụt lở, tượng trưng cho con voi bị chém cụt đầu vì đi ngược với cả đàn, quay mặt về hướng Bắc! Xuôi về phía nam một quãng là những lốt chân ngựa Thánh Gióng vẫn còn lại trên cánh đồng Quế Võ, Bắc Ninh cho đến hôm nay để nhắc nhở con cháu hôm nay cần giữ vững khí phách của ông cha qua truyền thuyết cậu bé làng Gióng “hiềm ba tuổi đã là quá muộn” để diệt giặc ngoại xâm phương Bắc.
Để tồn tại và giữ vững chủ quyền thiêng liêng của đất nước trong thế hiểm của một vùng địa-chính trị trứng chọi đá, từ thế hệ này sang thế hệ khác, những người vợ, người mẹ Việt Nam cắn răng tiễn chồng con ra trận và chịu đựng sự chia ly, nhưng họ không đơn độc. Không đơn độc vì cùng với họ, là cả một dân tộc gắn bó với nhau trong nghĩa khí của sự hy sinh vì tổ quốc. Nếu người ra trận tỏ rõ bản lĩnh của mình bằng việc khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Thát” hoặc trong lời ca hào hùng “đâu có giặc là ta cứ đi” thì người chờ chồng, chờ con cũng được nung nấu trong nghĩa khí cao cả đó. Họ không đơn độc là vì lẽ đó!
Thế còn, “những nhân vật trong phim là các cháu bé mồ côi cha, những bà vợ góa chồng ở đảo Lý Sơn và Bình Châu. Những lời nói, hành động và nỗ lực sống tồn tại của họ phản ánh nét độc đáo về văn hóa, tính dân tộc” theo lời Anh, vậy tại sao mà họ đơn độc? Không! Trong sâu thẳm của “nét độc đáo về văn hóa và tính dân tộc” ấy, làm sao mà họ đơn độc được! Đó chính là ẩn số mà những người có lương tri phải tìm cho ra. Và tôi hiểu, Anh làm bộ phim về họ cũng để cố gắng góp phần tìm cho ra lời giải của bài toán cuộc đời này phải thế không anh André? Chả lẽ “những bà vợ góa chồng ở đảo Lý Sơn và Bình Châu” cảm thấy “đơn độc” vì dân tộc không còn ở bên họ nữa sao. Tuyệt đối không! Cả dân tộc không bao giờ chịu chấp nhận sự đơn độc của họ. Chỉ có những ai mất lương tri mới chấp nhận điều ấy. Và vì thế Anh đã dấn than một cách say mê và không kém mạo hiểm vì có lẽ Anh cũng chưa lường được sự phức tạp và không kém phần bẩn thỉu của những toan tính. Thế rồi, bộ phim bị cấm bởi những lý lẽ mà càng nghĩ càng xấu hổ.
Xấu hổ cho chính mình, xấu hổ cho đất nước mà luật pháp đang bị biến dạng và bị chà đạp, xấu hổ cho thể diện quốc gia trước những ánh mắt của những người bạn đang cố tìm hiểu Việt Nam và những người đang quay lưng vì thất vọng. Đành phải nói lời cám ơn sự nhẫn nai để cố chờ đợi của Anh vì “Cho đến nay, không một ai đã có chút dũng cảm tối thiểu để ra mặt, chịu trách nhiệm về hành động phi pháp và thô bạo đó”.
Tim tôi như thắt lại khi đọc những lời Anh viết : “Ngày xưa, trong lao khám tù khắc nghiệt, chiếc radio của tôi vẫn được chuyền từ đất liền ra Côn Đảo và mang lại nguồn thông tin quý giá cho các bạn tù. Chiếc Radio đó nay nằm tại Bảo tàng Cách mạng Hà Nội. Tôi từng viết trên báo Thanh Niên, rằng, trong bất cứ hoàn cảnh nào, dẫu ngặt nghèo và tồi tệ đến đâu, cũng không ai có thể ngăn cấm được thông tin về cuộc sống và những trăn trở của ngư dân đảo Lý Sơn và Bình Châu”.
Cay đắng làm sao khi nhớ lại ngày ấy, ngày 20/7/1970 có hai người thanh niên Pháp đã phát truyền đơn khắp nơi trong thành phố, trèo lên tượng “thủy quân lục chiến” trên công trường Lam Sơn giữa Sài Gòn, tung cờ của Mặt trận Giải phóng trước toà Hạ Viện của Quốc hội Sài Gòn thời bấy giờ để phản đối sự có mặt của quân đội Mỹ đang “phạm tội tày trời đối với nhân dân Việt Nam”. Sau gần 3 năm bị tù đày, André Menras cùng với Jean Pierre Debris đi khắp nơi trên thế giới, tố cáo chế đô lao tù phi nhân ở Miền Nam để rồi 41 năm sau, chàng trai người Pháp ấy, nay mang thêm quốc tịch Việt vì “tình yêu thiêng liêng” với đất nước này lại “cảm thấy vô cùng đơn độc” trên chính quê hương thứ hai của Anh!
Không, anh André, Anh không đơn độc, hoặc đúng hơn, anh chỉ “cảm thấy vô cùng đơn độc” trước sự “vô cảm và vô trách nhiệm của ai đó” và rồi Anh cảm thấy đơn độc vì “không ai muốn chịu trách nhiệm và cố tình kéo dài thời gian chờ đợi cho đến khi tôi về nước luôn và từ bỏ ý định giới thiệu phim này tại Việt Nam” như Anh viết, chứ làm sao anh có thể “đơn độc” giữa những người có lương tri hiểu rất rõ ý nghĩa cao cả trong việc làm dũng cảm và kiên trì tột bậc của Anh? Họ hiểu được vì họ không vướng vào những ràng buộc của những toan tính. Họ hiểu được vì dòng máu Việt Nam bất khuất vẫn sục sôi trong huyết quản, luôn cảnh giác trước âm mưu đen tối chưa hề từ bỏ và vì vậy họ tỉnh táo trước những lừa mị.
Anh nhớ không, hình ảnh của Anh trong cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược, đi cùng với những trí thức yêu nước trong ngày đáng ghi nhớ ấy đã gây nên nỗi xúc động lớn trong lòng người dân, không chỉ những người xuống đường biểu tình tại thành phố Hồ Chí Minh cũng như những người yêu nước có mặt trên đường phố Hà Nội với tấm biển ngữ liên quan đến tên bộ phim của Anh : “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”. Đúng như Anh nói “không ai có quyền ngăn cấm tôi vì tình yêu thiêng liêng đó”!
Và, anh André ơi, lá thư viết vội để kịp gửi đến Anh ngày Giáng Sinh không chỉ với dòng chữ quen thuộc “Merry Christmas” mà còn với nỗi dằn vặt khôn nguôi trong sâu thẳm trái tim tôi : tại sao một người Pháp lại có thể có được một tình yêu mãnh liệt đến thế để quyết trở thành một người Việt Nam, để rồi người Việt Nam nói tiếng Việt chưa sỏi ấy lại quyết dấn thân trong những hành động cao cả và có ý nghĩa làm vậy trong lúc tôi, một người Việt Nam chính gốc, cũng từng cầm súng đánh thực dân Pháp, cũng mang danh là một trí thức biết liêm sỉ, lại chỉ biết động viên Anh bằng những dòng chữ muộn màng, nhạt nhẽo này.
Hành động dũng cảm và cao cả của Anh khiến tôi nhớ đến J.P.Sartre khi nhà triết học lớn, người đồng hương với Anh viết : “trí thức là người làm những việc chẳng ăn nhập gì đến họ, [s’occupe de ce qui ne le regarde pas]. Kỹ sư thì không lo xây cầu, thầy thuốc thì không lo khám bệnh, kinh tế gia thì không lo cộng trừ nhân chia với cái thống kê. Tại sao họ lại xớ rớ vào những chuyện không liên quan gì đến họ vậy, tại vì họ cho đó chính là chuyện của họ. Chuyện không phải là của họ mà họ thấy là của họ. Cái thấy đó làm họ trở thành trí thức.
Bằng suy nghĩ và hành động không mệt mỏi của Anh, tôi nhận ra gương mặt của người trí thức như Sartre nói. Và trong bức thư ngắn này, tôi chỉ muốn nói với Anh rằng, Anh không thể nghĩ là mình đơn độc khi thực hiện sứ mệnh cao cả của người trí thức. Nhiều người đang noi gương Anh, trong đó có người viết bức thư này. Cùng với lời chúc Giáng Sinh, tôi chân thành chúc Anh kiên trì và sáng suốt hơn nữa trong sứ mệnh của người trí thức vào lúc này như khuyến cáo của Các Mác : “cần phải bắt những trật tự đã cứng đờ phải nhảy múa lên bằng cách hát cho chúng nghe những âm điệu của chính bản thân chúng”!
Thân kính,
Tương Lai
tối ngày 23/12/2011

Lịch Hoàng Sa- Trường Sa

Một bộ lịch bàn tuyệt đẹp về Hoàng Sa- Trường Sa do bạn đọc Nguyễn Vũ Hoàng Anh gửi tặng. Đẹp từ màu sắc, bố cục hình ảnh, logo “cắt lưỡi bò” đến những trích dẫn đầy ý nghĩa dưới mỗi tờ lịch.
Tại sao không lấy bộ lịch bàn đẹp, ấn tượng và ý nghĩa này thay cho thói quen dùng những tập lịch bàn báo Nhân Dân, Quân đội nhân dân, tạp chí Cộng sản… đơn điệu, cũ rích và nhàm chán?



























Trương Duy Nhất

Thứ Sáu, ngày 23 tháng 12 năm 2011

Anh Ba Dũng cổ súy cho đổi mới ở Myanmar

Các ông bà: Kiệm - Dũng - Sein - Win

Trong khi Đảng và Nhà nước Việt Nam giương cờ 6 sao đón anh Bình thì anh Ba Dũng đi Myanmar. Tại đây, anh nói rất nhiều chuyện, trong đó có chuyện biển Đông. Nhưng tôi chú ý đặc biệt tới những chi tiết này:
“Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ vui mừng được trở lại thăm đất nước Myanmar; chúc mừng những thành tựu mọi mặt mà Myanmar đã đạt được trong đổi mới, hòa hợp dân tộc, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.” TTXVN
Tôi nhớ cách đây mấy năm, ông Vũ Quang Việt có viết thế này: ”Myanmar là thành viên của ASEAN nhưng hình như họ là một thành viên cô lập. Và có lẽ họ sẽ bỏ phiếu cho những người không cô lập họ. Ở vị thế chủ tịch ASEAN năm 2010, việc giúp Myanmar và Mỹ đạt tới những hiểu biết để hai bên từ bỏ chính sách đối nghịch sẽ làm tăng vai trò của Việt Nam trong việc xây dựng uy thế cho ASEAN. Và tất nhiên là lợi ích mang đến cho Việt Nam không phải là nhỏ.”
Myanmar hiện đang đổi thay nhanh đến chóng mặt. Hồi năm 2007, tôi đến Yangon và Naypyitaw trong không khí ngột ngạt hậu biến cố đường phố. Lúc bấy giờ, Myanmar như Việt Nam của một quá khứ xa lắc, ít nhất là thập niên 1980, với ảnh hưởng của Trung Quốc hiển hiện ở khắp nơi. Hàng Myanmar muốn xuất qua châu Âu, Mỹ, Nhật Bản… phải đi đường vòng, thay tên đổi họ. Hồi đó báo chí nhà nước Myanmar ngày nào cũng chửi đài VOA, BBC, RFA… Thế mà giờ đây họ đang chuyển mình nhanh chóng, đặc biệt là cởi mở hơn với phương Tây.
Liệu Việt Nam đã từng có một tác động nào đó trong tiến trình chuyển đổi ở Myanmar, theo cái phương cách mà Tiến sĩ Việt gợi ý ở trên? Những phát biểu của ông Dũng vừa rồi, trong chuyến thăm khôn khéo tới Naypyitaw, dường như gợi lên một mối liên hệ mơ hồ về điều đó.
Cũng có thể ông Dũng khôn khéo thừa nước thả câu để lấy điểm, trong khi mấy “đồng chí đối thủ” của ông đang nhắng lên với vụ đón tiếp Tập Cận Bình. Còn tôi thì quá hồ đồ.
Bonus: Em Thủ Thái này gợi tình quá. Có khi nào anh Ba Dũng xiêu lòng không nhỉ?
Đỗ Hùng
Nguồn: Mr.Do blog

Kính gởi..!


Nguồn: Quê Choa blog

Thứ Năm, ngày 22 tháng 12 năm 2011

Hãy thử đi VTV ơi!

Không hiểu do vô tình “bị đánh máy nhầm” hay do bọn xấu nước lạ cố tình mua chuộc, giật dây mà sự cố cờ Trung Quốc 6 sao lại ngang nhiên xuất hiện đến 2 lần ở Việt Nam. Lần đầu nằm chình ình trên VTV là đài truyền hình quốc gia, cái đài vừa rồi tự hạ xuống ngang hàng với đài dân tộc Choang ở Quảng Tây tự trị trong cầu truyền hình hữu nghị quái quỉ gì đó. Lần thứ hai càng nghiêm trọng hơn, xuất hiện hàng loạt trên tay các cháu thiếu nhi được tổ chức ra sân bay đón lãnh đạo của Trung Quốc sang thăm chính thức. Nghe nói đâu trước đây còn có một lần xuất hiện trong cuộc triển lãm gì đó ở Vũng Tàu.
Điều kỳ lạ là sau các sự cố sai sót ngoại giao trầm trọng ấy, phía Trung Quốc không hề có một chút khiếu nại hay khiển trách gì với Việt Nam. Không có một quốc gia nào trên thế giới mà không có  phản ứng khi lá cờ của mình bị nước bạn làm sai nhiều lần, đặc biệt nghiêm trọng là sai ngay trong lúc vẫy cờ đón tiếp lãnh đạo họ đang sang thăm chính thức.
Trung Quốc rộng lượng bao dung với đàn em Việt Nam chăng? Không. Họ không hề có một chút bao dung nào trước bất kỳ một sai sót nhỏ nhất nào của Việt Nam. Ngoại giao hay báo chí Việt Nam chỉ cần có một chút xíu chi tiết sai sót gì về họ là công hàm tới tấp gởi đến…
Thế tại sao sau nhiều lần làm nhục quốc thể của họ bằng cách làm sai cờ của họ mà họ vẫn im ru? Chuyện gì đây?
Để có câu trả lời chúng ta hãy làm phép thử, lúc tiễn họ Tập ra về chúng ta cho các em nhỏ ra sân bay vẫy cờ chỉ bốn ngôi sao thôi để xem họ phản ứng thế nào.
Hay là VTV cứ đưa lên hình cờ của họ chỉ có 4 sao thôi.
Hãy thử một cái đi VTV ơi!
Huỳnh Ngọc Chênh
Đón ông Bình, nhưng Việt Nam lại vẫy cờ 6 sao, muốn thể hiện một sự khách khí hoặc khinh miệt hay sao nhỉ?


Ảnh AFP (lấy theo Mr.Do blog)

BẢO ĐẢM êm ả!

Hoàn cầu Thời báo, một trong những cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nói rằng “Trung Quốc phải bảo đảm sự quá độ êm ả” (RFI, 20.12.2011) đối với việc chuyển giao quyền lực ở Bắc Triều Tiên sau cái chết của Kim Jong Il!
Trong lịch sử ngoại giao thế giới, đây là lần đầu tiên, một quốc gia khác tuyên bố không cần úp mở rằng quốc gia đó sẽ BẢO ĐẢM cho tình hình chính trị – xã hội của một nước khác! Xét về mặt ngôn từ thì đây là loại ngôn ngữ trịch thượng nhất, trắng trợn nhất, vi phạm đến nguyên tắc tối thiểu nhất của ứng xử quốc tế. Bởi ai cũng biết rõ rằng việc bảo đảm một điều gì đó đòi hỏi độ tin cậy ít nhất là 100%, còn lại, trong cuộc đời đầy bất tắc này, chẳng có ai có thể bảo đảm bất kỳ điều gì.
Hoàn cầu cũng nhấn mạnh rằng vì K.J. Un còn “tương đối trẻ” nên sự hậu thuẫn của phía Trung Quốc phải lớn hơn (gián tiếp nói rằng vì các quốc gia khác mưu toan nhiều hơn). Phải chăng tuyên bố trên khẳng định sự trắng trợn còn lớn hơn nữa: Lãnh đạo nước láng giềng càng trẻ, càng ngu dốt thì sự thao túng của thiên triều càng dễ dàng? Đọc những tuyên bố trên và “ngắm” khuôn mặt búng ra sữa của K.J. Un ai cũng cảm thấy xót xa cho 25 triệu người dân Bắc Triều Tiên đang bị đày đọa bởi hai tầng áp bức từ cả trong nước lẫn ngoại bang.
Đọc rồi lo rồi tự hỏi có còn nước nào, ở đâu đó (có thể là như Cu Ba đang để quốc tang 3 ngày cho K.J. Il chẳng hạn?) cũng bị thiên trước Đại Hán “bảo đảm” cho mọi đường đi, nước bước kể cả câu chữ, ngôn từ trước khi mở miệng? Ngạo mạn như Hoa Kỳ cũng chỉ dám tuyên bố là “có trách nhiệm lãnh đạo thế giới” chứ chưa khi nào dám mở mồm nói bảo đảm cho bất kỳ ai. Xem ra, lời răn dạy (đe dọa, cảnh cáo) của Trung Quốc không chỉ nhằm riêng vào Bắc Triều Tiên mà họ còn ngầm chỉ, ngầm dẫn – “định hướng dư luận” – rằng họ có quyền làm bất kỳ điều gì miễn là có lợi cho Trung Quốc.
Một khi Trung Quốc không cần che đậy tham vọng bá quyền Đại Hán cũng là lúc mà số phận của các quốc gia láng giềng bị đe dọa nghiêm trọng. Nếu không hiểu điều đó đồng nghĩa với tự sát. Không thể nào để xảy ra sự tự sát của cả một dân tộc. Thoát ra khỏi vòng kim cô của Trung Quốc đang là vấn đề lớn nhất của không ít nước trên thế giới. Hy vọng rằng trí thức và nhân dân của các nước châu Á, châu Phi hiểu rõ sự thật này. Còn với các chính quyền ư? Câu hỏi chưa thể trả lời!
Hà Văn Thịnh
Nguồn: Bauxite VN

Thứ Tư, ngày 21 tháng 12 năm 2011

Giáo dục về biển-đảo cho thế hệ trẻ (Bài 2: Trung Quốc)

TS Nguyễn Hồng Kiên
Vương Cẩm Tư người Cát Lâm, nay ở Bắc Kinh (tốt nghiệp nghiên cứu sinh Đại học Bắc Kinh ngành truyền thông điện ảnh, từng làm nhà báo, ca sĩ. Nay hoạt động tự do. Hội viên Hội Lịch sử Thế chiến 2 TQ, nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế) từng bày tỏ về chiến tranh biên giới Trung-Việt thế này:
 … hồi ở tuổi thiếu niên tôi nhận được sự giáo dục chủ nghĩa yêu nước chính tông và lây nhiễm chủ nghĩa anh hùng cách mạng, quen thuộc “Phong thái nhuốm máu” và “Vòng hoa dưới núi cao” [bài hát và tiểu thuyết Trung Quốc viết về chiến tranh 1979], từng cùng thày trò toàn trường nghe các anh hùng Lão Sơn [một ngọn núi ở Hà Giang, nơi Trung Quốc tấn công lấn chiếm đất Việt Nam] báo cáo chuyên đề tại Cung Văn hoá công nhân Đức Huệ, tôi lại còn hăng máu đòi ra tiền tuyến Việt Nam liều mạng với quốc gia này mà không ngại hy sinh, cho dù sức mình còn chưa xách nổi ngọn giáo có tua hồng“ (Xem thêmNgười Trung Quốc nghĩ gì về Việt Nam?)
Rõ ràng giáo dục-tuyên truyền LUÔN CÓ TÁC DỤNG RẤT LỚN trong thế hệ trẻ. Đặc biệt, khi đó là một nền giáo dục KHÔNG KHUYẾN KHÍCH LẬT LẠI VẤN ĐỀ CHÍNH THỐNG MÀ THÀY/CÔ DẠY.
Nhà cháu đã được một anh bạn ở Trung Quốc GIẢNG cho dư lày:
A.   Chế độ học phổ thông của TQ chia làm 3 cấp :
a) Cấp Tiểu học từ lớp 1 đến lớp 6 (tương đương Tiểu học của Việt  Nam),
b) Cấp Sơ trungtừ lớp 7 đến lớp 9 (tương đương THCS của Việt  Nam)
c) Cấp Cao trung từ Cao trung 1 đến Cao trung 3 (tương đương THPT của Việt  Nam)
B. Học sinh Trung Quốc bắt đầu học Địa lý từ học kỳ 1 năm lớp 7 (Học kỳ 1: Các khái niệm chung; Học kỳ 2: Địa lý Trung Quốc và các khu vực địa lý thế giới).
C. Học sinh Trung Quốc bắt đầu học Lịch sử từ học kỳ 1 năm lớp 7 đến hết học kỳ 2 năm Cao trung 3 (6 năm liên tục), mỗi năm đều học 2 kỳ, sách cũng được in thành hai tập cho mỗi năm, cụ thể như sau:

Bậc học

Lớp

Lịch sử

Học kỳ 1

Học kỳ 2

Sơ trung

Lớp 7

LS Trung Quốc

LS Trung Quốc

Lớp 8

LS Trung Quốc

LS Trung Quốc

Lớp 9

LS Thế giới

LS Thế giới

Cao trung

Cao trung 1

LS chuyên đề (gồm 2 phần: bắt buộc và tự chọn)

LS chuyên đề (gồm 2 phần: bắt buộc và tự chọn)

Cao trung 2

LS chuyên đề (gồm 2 phần: bắt buộc và tự chọn)

LS chuyên đề (gồm 2 phần: bắt buộc và tự chọn)

Cao trung 3

LS chuyên đề (gồm 2 phần: bắt buộc và tự chọn)

LS chuyên đề (gồm 2 phần: bắt buộc và tự chọn)

 D. Các lưu học sinh học tập tại Trung Quốc cũng phải học 1 môn bắt buộc là Khái quát đất nước Trung Quốc có giáo trình viết riêng. Bài 1 học về đất đai, khí hậu, tài nguyên và các khu vực hành chính.
E. Tập sách Tập bản đồ hành chính Trung Quốc, cũng giống như tập bản đồ hành chính của Việt Nam, trong đó phần khái quát chung có bản đồ trang 4-5 có vẽ khu vực Nam Hải thuộc vào lãnh hải của Trung Quốc.
Dưới đây là những bản đồ cơ bản trong các sách giáo khoa nói trên:

Bìa sách giáo khoa (SGK) ĐỊA LÝ LỚP 7, tập 2

Trang bìa 3 sách Địa Lý lớp 7, tập 2
Biên tập: Sở Nghiên cứu Tài liệu học tập; Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Tài liệu học tập môn Địa Lý -
Nhà xuất bản Giáo dục Nhân dân xuất bản, Cát Lâm, 2007, tái bản lần thứ 8.
Trang 3: Chương 6: Đại châu của chúng ta – Châu Á
Bản đồ 6.4: Bản đồ ranh giới địa lý châu Á (Chi tiết)
Trang 4: Chương 6: Đại châu của chúng ta – Châu Á

Bản đồ 6.5: Bản đồ địa hình châu Á (Chi tiết)
Trang 13: Chương 6: Đại châu của chúng ta – Châu Á
Bản đồ 6.17: Những khác biệt về ăn ở và trang phục ở các vùng khác nhau của châu Á (Chi tiết)
Trang 15: Chương 6: Đại châu của chúng ta – Châu Á
 
Bản đồ 6.18: Thu nhập bình quân đầu người của một số quốc gia châu Á năm 2003 (Đô la Mỹ)
Trang 27: Chương 7: Các quốc gia và vùng lãnh thổ lân bang của Trung Quốc
Bản đồ 7.19: Địa hình khu vực Đông Nam Á (chi tiết)
Trang 29: Chương 7: Các quốc gia và vùng lãnh thổ lân bang của Trung Quốc
Bản đồ 7.22: Phân bố nông sản chủ yếu của các quốc gia Đông Nam Á (chi tiết)
Trang 31: Chương 7: Các quốc gia và vùng lãnh thổ lân bang của Trung Quốc
Bản đồ 7.28: Phân bố sông ngòi và thành thị của bán đảo Trung Nam (Chú ý phần lãnh hải của Việt  Nam)
Bìa SGK LỊCH SỬ lớp 7, tập 2
Bìa 3: LỊCH SỬ lớp 7, tập 2
Biên tập: Sở Nghiên cứu Tài liệu học tập;
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Tài liệu học tập môn Lịch sử.
Nhà xuất bản Giáo dục Nhân dân xuất bản, Cát Lâm, 2010, tái bản lần thứ 8.
 

Trang 112: Học trình 3: Củng cố nhà nước đa sắc tộc thống nhất và nguy cơ xã hội;
Tạm dịch 1 đoạn về Nam Hải:
Giai đoạn đầu triều Thanh, cương vực đất nước ta phía tây vượt qua Thông Lĩnh, phía Tây Bắc đến hồ Ba Nhĩ Khách Thập, phía Bắc tiếp giáp Siberia, phía Đông Bắc đến dãy Ngoại Hưng An ở phía Bắc tỉnh Hắc Long Giang và đảo Sakhalin, phía Đông đến Thái Bình Dương, phía Đông Nam đến Đài Loan và các đảo thuộc quần đảo Điếu Ngư, phía Nam đến các đảo ở Nam Hải (footnote số 1 của sách: Các đảo ở Nam Hải, bao gồm bốn đảo lớn Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và Hoàng Nham, từ thời cổ đại chính là lãnh thổ của Trung Quốc. Hai triều Minh, Thanh gọi các đảo ở Nam Hải là “Vạn Lý Trường Sa” “Thiên Lý Thạch Đường”, thuộc quản lý của châu Vạn phủ Quỳnh Châu tỉnh Quảng Đông, trở thành quốc gia lớn nhất châu Á.
Bài 19: Củng cố nhà nước đa sắc tộc thống nhất
Bản đồ: Cương vực nhà Thanh năm 1820 (chi tiết)
(Chú ý phần lãnh hải)
Bìa sách KHÁI QUÁT ĐẤT NƯỚC TRUNG QUỐC
Tác giả: Vương Thuận Hồng-Nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh
Bìa 3: KHÁI QUÁT ĐẤT NƯỚC TRUNG QUỐC
Tác giả: Vương Thuận Hồng.
Nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh, Bắc Kinh, 2009, tái bản lần thứ 13.
Trang 7: Chương 1: Lãnh thổ Trung Quốc
Bản đồ trang 7 (chi tiết)
Trang 13: Chương 1: Lãnh thổ Trung Quốc
 
Bản đồ trang 13 (chi tiết)
Bìa sách TẬP BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TRUNG QUỐC
Tác giả: Đỗ Tú Vinh, Tấn Thục Loan
Nhà xuất bản Bản đồ Trung Quốc
Lời mở đầu
Trang 4-5: Các khu vực hành chính Trung Quốc

RÕ RÀNG, TQ có định hướng, ý đồ ẤN VÀO ĐẦU các thế hệ trẻ của nước họ về chủ quyền ở cái họ gọi là Nam hải (tức biển Đông của Việt  Nam)

Từ sách giáo khoa địa lý, lịch sử đến bản đồ hành chính… ĐỀU KHẲNG ĐỊNH ĐIỀU ĐÓ.

Khái quát đất nước Trung Quốc - môn học bắt buộc với lưu học sinh CŨNG KHẲNG ĐỊNH ĐƯỜNG CHỮ U trên biển.

Còn ở Việt  Nam, nhà cháu tìm khắp đến nay vẫn chưa có được 1 tấm bản đồ cho biết ranh giới lãnh hải của Việt  Nam ở biển Đông.
Có bác nào biết xin chỉ dùm !
Không được dạy, không tự khẳng định được thì đến nhà cháu còn phân vân chứ đừng nói các thế hệ trẻ.
ĐỂ ĐÒI LẠI ĐƯỢC HOÀNG SA, XIN HÃY KHẲNG ĐỊNH VỚI CON CHÁU ĐÓ LÀ BIỂN ĐẢO CỦA TỔ TIÊN ĐỂ LẠI !
Tác giả gởi cho HDTG