Thứ Bảy, ngày 14 tháng 1 năm 2012

PGS.TS Nguyễn Văn Thụ: Có 1m vải đừng may váy cô dâu!

Phương pháp thu phí của Đinh La Thăng là điều không tưởng. Phí nếu thu thì đáng ra phải đánh phí… nhà quản lý. Nếu thu phí kiểu ông Thăng mà chống được ùn tắc thì tôi sẽ đi tù!- Bài trả lời phỏng vấn khá thẳng thắn và bức xúc của cựu Viện trưởng viện qui hoạch & quản lý GTVT Nguyễn Văn Thụ trên KH&ĐS
Nếu thu phí kiểu ông Thăng mà chống được ùn tắc thì tôi sẽ đi tù. Ảnh Trương Duy Nhất blog
Bộ Giao thông vận tải (GTVT) vừa đưa ra đề xuất thu phí lưu hành phương tiện cá nhân. Theo đó, xe máy sẽ phải đóng phí 500.000 – 1 triệu đồng/năm. Theo PGS.TS Nguyễn Văn Thụ, nguyên viện trưởng Viện Quy hoạch và Quản lý GTVT, việc thu phí này hoàn toàn không khả thi, chẳng khác nào “tấm vải có 1m đòi đi may bộ váy cưới cho cô dâu“.
          Hoàn toàn không khả thi
          – Thưa ông, Bộ GTVT vừa đưa ra đề xuất sẽ thu phí lưu hành phương tiện cá nhân. Quan điểm của ông thế nào về vấn đề này?
          – Tôi xin khẳng định là việc thu phí này không hề khả thi, đặc biệt là ở Hà Nội và TPHCM. Bộ trưởng nói rằng, mục đích thu phí lưu hành phương tiện này là nhằm làm giảm phương tiện cá nhân, lấy nguồn tiền đó để nâng cấp, cải tạo hệ thống giao thông, từ đó giảm ùn tắc. Tôi cho rằng, đó là điều không tưởng.
          – Vì sao ông lại cho là không tưởng?
- Bởi lẽ, trên thực tế, xe máy là phương tiện phổ biến nhất ở ta hiện nay. Với rất nhiều hộ gia đình, đó là chiếc cần câu cơm theo đúng nghĩa. Tôi đi công tác TPHCM, đến thăm một gia đình vợ chồng đều là công nhân, chỉ có một chiếc xe máy cà tàng ngày ngày vợ chồng chở nhau đi làm, tan ca chiều chồng tranh thủ đi chở xe ôm.
          Họ có cô con gái chừng 3 tuổi nhưng tìm mãi trong nhà ấy không có nổi một chiếc vỏ hộp sữa nào. Nếu tính ra, vợ chồng đó chỉ phải trả chưa đến 50.000đ tiền phí trong một tháng thì cũng không phải là quá lớn. Nhưng tiền đó có thể mua được khoảng chục hộp sữa tươi cho cháu bé cơ đấy! Khi cái ăn của người ta còn chật vật thì việc đẻ thêm một loại phí càng khiến cuộc sống của họ túng quẫn hơn. Nhưng khi Nhà nước bắt buộc thì họ phải tuân theo, còn có nhận được sự đồng thuận hay không lại là chuyện khác.
          Còn nữa, với những người có điều kiện, bỏ ra hàng trăm triệu để mua ô tô thì tiền phí dù có là mấy chục triệu cũng không thấm gì so với họ.
Nếu chống được ùn tắc, tôi sẽ đi tù!
          – Nói như thế thì rõ ràng phí này là hoàn toàn không phù hợp?
          – Không phù hợp quá đi chứ! Tôi đảm bảo dù có đóng phí cao hơn nữa thì người ta vẫn sẽ đi, vì nhu cầu bức thiết của cuộc sống, họ không còn lựa chọn nào khác.
          – Sao lại không còn lựa chọn khác? Người dân có thể đi bộ hoặc là đi xe bus cơ mà?
          – Nếu bạn đi với quãng đường dưới 5km có thể đi bộ được, nhưng cũng là bất khả kháng thôi. Còn đi xe bus à? Đến chính Bộ trưởng đưa ra yêu cầu mỗi cán bộ, nhân viên của Bộ phải đi làm ít nhất 1 lần/tuần bằng xe bus, thế rồi có thực hiện được đâu? Vì chất lượng chưa ổn: Xe bỏ bến, vào giờ cao điểm luôn phải chứa vượt số người quy định, phải chờ đợi dưới khói bụi, tắc đường… Trong trường hợp cần kíp phải đi nhanh thì xe bus không thể là lựa chọn. Còn với những người hành nghề xe ôm, người chở rau vào nội thành bán, không có xe máy nghĩa là cả gia đình họ bị đói. Do đó, tôi chắc chắn đề xuất này không hiệu quả.
          – Ông có bi quan quá không? Vì để đưa ra đề xuất này, người ta cũng phải nghiên cứu, có tính toán cụ thể chứ?
          – Tôi lấy danh dự là người có mấy chục năm giảng dạy, nghiên cứu về giao thông, tham gia lập nhiều dự án giao thông cho các đô thị ở Việt Nam để khẳng định điều đó. Các ông đưa ra đề xuất đó có dám cược không? Tôi sẵn sàng cược: Nếu việc thu phí lưu hành này hạn chế phương tiện cá nhân và chống được ùn tắc, tôi sẽ chịu mọi sự trừng phạt của pháp luật, kể cả đi tù.
          – Nhưng chẳng lẽ người ta lại không biết được điều đó?
          – Tôi nghĩ là họ biết.
          – Vậy tại sao họ vẫn đưa ra?
          – Có thể họ bắt chước nước ngoài, tưởng họ làm được thì mình cũng làm được. Thứ hai là có thể bí giải pháp thì đành phải đưa ra để cho mọi người và đặc biệt là Trung ương thấy rằng tôi rất cố gắng đấy chứ, năng động và sáng tạo đấy chứ? Còn giải pháp đó có hợp lý hay không thì không cần biết. Đã thấy có ai lên tiếng chịu trách nhiệm rằng nếu thu được phí mà còn ách tắc thì sẽ từ chức đâu? Bản chất giao thông của ta chẳng khác gì anh có 1m vải mà cứ đòi may cả chiếc váy cưới cho cô dâu. Đừng mong như thế! Tiếc là các nhà quản lý của ta vẫn đang nuôi tham vọng này.
          Phải đánh phí những ông quản lý
          – Theo Bộ trưởng, việc thu phí này nhằm đảm bảo công bằng xã hội, những người đi ô tô, xe máy phải nộp phí để cùng Nhà nước đầu tư tái tạo hạ tầng giao thông. Ý kiến của ông thế nào?
          – Tôi đồng tình là cần đảm bảo công bằng xã hội, ở đó người giàu cần phải chia sẻ với người nghèo. Thế nhưng, nói rằng việc thu phí này đảm bảo công bằng xã hội thì tôi không biết công bằng kiểu gì, ở đâu? Nếu công bằng thì phải thực hiện đồng loạt trên cả nước chứ, với cả người đi bộ, đi xe đạp nữa, vì anh cũng đi trên đường do Nhà nước xây dựng, cải tạo cơ mà!
          – Nhưng ở các thành phố lớn thì giao thông mới phức tạp, hay ùn tắc cơ mà?
          – Phức tạp, ùn tắc là do đâu? Do ông quản lý chứ. Nếu việc đánh phí nhằm vào những phương tiện gây ra ùn tắc thì tôi cho rằng phải đánh phí những ông quản lý trước tiên.
         – Đánh phí nhà quản lý?
          – Đúng vậy. Ở ta có kiểu không quản lý được thì cấm, không thì thu phí. Phí đẻ ra phí. Cuối cùng người dân vẫn gánh chịu nhiều nhất, trong khi trách nhiệm quản lý thì lại không rõ ràng. Đó là bất cập mà bao lâu rồi chưa khắc phục được.
          – Nếu giải pháp thu phí không khả thi thì để hạn chế được ùn tắc và giảm phương tiện cá nhân, theo ông cần phải làm gì?
          – Theo tôi, vào giờ cao điểm nên cấm tất cả xe taxi, xe rác thô sơ, đỗ xe dưới lòng đường, xe ô tô con. Đường khi đó chỉ dành cho xe buýt và xe máy. Phải nghiên cứu ách tắc từng nút, từng đường một, để đưa ra những giải pháp cụ thể. Việc thi công đường cần diễn ra ban đêm, ban ngày trả lại mặt đường cho người dân. Phải phát triển và nâng cao chất lượng xe bus. Khi đó mới hy vọng giảm được phần nào ùn tắc và phương tiện cá nhân.
          – Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện rất thẳng thắn này.
Vũ Thủy (thực hiện)
Theo KH&ĐS

Đằng sau mỗi chức quan

Tin nóng từ vụ đất đai Tiên Lãng:
  1. LUẬT SƯ HẢI GỬI THƯ CHO THỦ TƯỚNG
  2. LUẬT SƯ MINH BÀO CHỮA VỤ ĐOÀN VĂN VƯƠN
  3. TS NGUYỄN XUÂN DIỆN MỞ NGUỒN ĐÓNG GÓP
  4. ĐOÀN PHÓNG VIÊN TIẾP TỤC TỚI VINH QUANG
Xem chi tiết tại đây
Cháy ván cờ, một ông, hai ông, lại lòi ra ba ông quan nho nhỏ thừa tiền cá cược hàng tỷ đồng cho mỗi ván cờ. Bạc tỷ… đối với hàng triệu người vẫn đang mơ có được mức lương tối thiểu trên đất nước này, nghĩa là tổng cộng tiền công cho lao động của của hàng nghìn con người không ăn không tiêu suốt một tháng trời. Ẩn sau những ván cờ tiền tỷ ấy, của nổi của chìm lộ dần sau mỗi chức quan.

Của nổi, ấy là dinh thự, đất đai, vốn cổ phần, tiền bạc chu cấp cho người thân du học hoặc hưởng các dịch vụ y tế tiên tiến ngày càng nhiều ở nước ngoài. Của chìm, ấy chính là quyền lực của nhân dân được trao cho cơ quan nhà nước, tới tay nhà chức trách, quyền lực công nếu không được giám sát chặt chẽ có nguy cơ lén lút trở thành những lộc riêng.

Như cái kim trong túi lâu ngày rồi cũng lòi ra, thêm một vụ đánh cờ tiền tỷ là nguy cơ giảm đi một chút sự tôn trọng của nhân dân đối với bộ máy những người có chức quyền trên đất nước này. Mất niềm tin của dân, chính quyền có nguy cơ mất dần sự chính danh. Nhìn thẳng vào sự thật ấy, việc xây dựng một đội ngũ quan chức giỏi nghiệp vụ và đáng tin về đạo đức, đủ để dân chúng tôn trọng, thuộc về trách nhiệm không thể né tránh của Đảng cầm quyền. Người dân mong có những sức ép đủ mạnh để Đảng phải tự làm mới chính mình, trở thành một thể chế quy tụ những tinh hoa và giai tầng ưu tú có tài năng và đức độ lãnh đạo đất nước này.

Góp phần thực hiện điều ấy, càng không thể né tránh những cuộc cải cách thể chế căn bản tạo điều kiện cho người dân được tham gia rộng rãi hơn trong giám sát và ràng buộc trách nhiệm giải trình của những người giữ chức quyền. Những ván cờ tiền tỷ, của nổi của chìm, hy vọng cho đến một ngày đằng sau mỗi chức quan, ngoài bổng lộc, còn là thường trực một nỗi lo ngay ngáy làm thế nào để lấy được lòng dân.
Phạm Duy Nghĩa

Biện pháp hại dân

Mình bị viêm họng nằm bẹp ở nhà, thế mà bao nhiêu người email hỏi mình: Khi vụ nổ súng xảy ra ở đầm Cống Rộc, anh Vươn ở đâu? Khổ, mình chả biết nhiều hơn mọi người, cũng chí biết thông tin qua báo chí mà thôi.  Mệt lắm nhưng vẫn gắng ngồi dậy mày mò cả giờ mới tìm được bài ‘Ngôi nhà xảy ra nổ súng có thể nằm ngoài đất cưỡng chế‘ của VnExpress, trong đó có đoạn: “…trước hôm cưỡng chế, ông Vươn đã mang toàn bộ giấy tờ, văn bản tới nhà bạn ở trong xã ngủ. Sáng sớm, khi vụ cưỡng chế diễn ra, ông không có mặt ở khu đầm mà vẫn tới kêu với cơ quan chính quyền, Viện Kiểm sát. Khi tới Viện KSND thành phố thì ông bị bắt.”  Mừng cho anh Vươn, nhờ thế tội anh sẽ nhẹ hơn.
Đến khi đọc bài: Vụ cưỡng chế thu hồi khu đầm tại Hải Phòng: Tòa nhầm lẫn? mình đã không chịu nổi, tức điên lên. “Khi được hỏi tại sao căn nhà hai tầng của ông Đoàn Văn Quý tại khu đầm không nằm trong phần diện tích 19,3 ha mà huyện cưỡng chế thu hồi nhưng đã bị san phẳng, phải chăng huyện đã cưỡng chế nhầm, ông Hiền thừa nhận ngôi nhà bị phá sập nằm trong phần diện tích đầm chưa bị cưỡng chế nhưng là nơi chủ đầm tấn công lực lượng cưỡng chế. Theo ông Hiền, lúc đó căn nhà bị đập là “áp dụng các biện pháp…”. Ngồi một mình trong phòng mình đã gầm lên, nói địt mẹ!
Biện pháp gì vậy? Thà đang khi người ta chống cự, anh cho lính bắn một phát B40 đánh sập ngôi nhà, thì dù đó là hành động tàn ác nhưng còn hiểu được. Đằng này khi người ta đã bỏ trốn, vườn không nhà trống chẳng có ai, sao lại đánh sập nhà người ta đi? Một câu đó thôi đủ biết Chủ tịch huyện Tiên Lãng và quan quân của thằng này ( xin lỗi, không thể gọi hắn bằng ông) đã bất chấp pháp lý và đạo lý đến thế nào!
Càng thấy rõ hơn các biện pháp bất chấp pháp lý và đạo lý khi đọc bài Dư luận quanh vụ nổ súng ở Tiên Lãng, quan quân Chủ tịch huyện Tiên Lãng đã hành hạ vợ con anh Vươn như thế này đây: “Đến khi không bắt được Vươn thì quay lại bắt em dâu với vợ Vươn và đánh hai người đàn bà đấy. Xích chị ấy giong đi dọc đường, chửi câu nào là dùi cui ghè vào mồm câu ấy. Và như thế là lên gối đánh chị Hiền vợ anh Quý. Đấy là hành động trước công chúng rất là đông người, và giong đi dọc đường đi đến đâu là đánh đến đấy. Còn cái đứa trẻ con sau khi thấy mẹ nó bị bắt thì nó bắt đầu giằng giẹ, lủi chạy vào trong dân; nó chui vào trong bếp cũng lôi ra, rồi đánh đến khi lột quần áo ra thấy nó có thẻ học sinh“.
Bác Phan Hồng Giang email cho mình, nói theo NBChâu : ” Muốn làm mất thể diện của Chính quyền thì cũng khg thể làm tốt hơn mấy ông này !”. Chuyện đó đã rõ như ban ngày, khỏi phải nói. Các biện pháp hại dân của quan quân ông Chủ tịch huyện còn tàn bạo hơn các biện pháp hại dân thời ” Tắt đèn” của Ngô Tất Tố và “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan.
Mình nhớ thời phổ thông, không nhớ lớp mấy, khi phân tích ” Tắt đèn”, đến đoạn vợ chồng Nghị Quế bắt bé Tý con chị Dậu ăn cơm của chó, cô Giao đã ứa nước mắt, nói khi chúng nó coi người nông dân như con chó thì chính chúng nó không bằng con chó. Con chó còn biết thương đồng loại. Tưởng chuyện đó chỉ có ở thời phong kiến thối nát, ai dè ngày nay quan quân Chủ tịch huyện Tiên Lãng còn tàn bạo hơn cả vợ chồng Nghị Quế. Khốn thay.
Nguyễn Quang Lập
Nguồn: Quê Choa blog

Thứ Sáu, ngày 13 tháng 1 năm 2012

Hẹn nhau về Tiên Lãng làm bữa thịt chó

"Hai bên ký với nhau thế nào tôi không rõ, chỉ nghe hẹn nhau nay mai về Tiên Lãng làm bữa thịt chó… "Ông ĐOÀN XUÂN LĨNH, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban
Đoàn kết công giáo TP Hải Phòng, Hội thẩm nhân dân TAND TP Hải Phòng
Cuối giờ chiều qua, sau nhiều lần né tránh, cuối cùng UBND thành phố Hải Phòng cử Chánh văn phòng chủ trì họp báo. ( Lại Chánh các bác ạ)
Đàn cá này đang múa mép nhưng chắc không thoát lưới trời
Các phát ngôn sa lông của báo Nhân Dân điện tử, Web Chính phủ, Thông tấn xã Việt Nam tập trung ghi lại lời của Lãnh đạo thành phố, không lăn tăn, tuy nhiên cuối cùng cũng không thể không đề cập tới việc hàng loạt câu hỏi của các phòng viên đã không được UBND thành phố Hải Phòng giải quyết thỏa đáng. VTV còn lặp lại cái điều cũ mèm: dân đồng thuận (Dân đồng thuận việc xử lý hành vi dùng vũ khí chống đối của anh Vươn thì có lý, nếu nói đồng thuận việc cưỡng chế đất là nói liều đồng nghiệp ạ)
Các báo khác như Dân Trí, Thanh Niên, Diễn đàn Doanh nghiệp,…thì tập trung vào nội dung các nhà báo đã chất vấn UBND thành phố Hải Phòng, UBND huyện Tiên Lãng, Tòa án, Sở Tài nguyên môi trường về những cái sai, cả sự nhầm lẫn trong khi đập bỏ ngôi nhà không nằm trong diện cưỡng chết, trách nhiệm của thẩm phán Ngô Quang Anh..
Tựu trung, dù khôn ngoan họp báo cuối giờ để dễ đánh bài chuồn, nhưng cũng không thể né tránh được sự thật, là chính UBND thành phố Hải Phòng, UBND huyện Tiên Lãng, tòa án đều cố hết sức để tự bao biện, nhưng sự thật lại không cho họ có thể bao biện.
Các chuyên gia am tường về Luật đất đai đã khẳng định trên báo chí là việc cưỡng chế có rất nhiều cái sai: sai cả luật, sai cả việc tổ chức cưỡng chế nhầm, sai cả trình tử xét xử tranh chấp của tòa án, sai cả thái độ…sai hết.
Khoai Lang tập trung vào một chi tiết: Dư luận ồn ào, báo chí chất vấn về cái biên bản thỏa thuận giữa ông Đoàn Văn Vươn với UBND huyện Tiên Lãng, rằng, ông Vươn đồng ý rút đơn kiện huyện, huyện sẽ cho thuê lại. Việc đàm phán đi tới biên bản thỏa thuận này có sự chứng kiến của hai người: Ông Ngô Văn Anh thẩm phán  và ông Đoàn Xuân Lĩnh, hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng ( ông này là Phó chủ tịch Thường trực Ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hải Phòng). Thế nhưng tráo trở thay, tại cuộc họp báo, lãnh đạo Tòa án thành phố Hải Phòng lại nói, ông Ngô Văn Anh nhầm lẫn từ vụ kiện ông Vươn sang vụ kiện ông Luân, và không hề biết, không hề đứng ra hòa giải vụ tranh chấp nào có tên là Đoàn Văn Vươn. Dối trá đến mức ấy thì hết nói. Chính ông Ngô Văn Anh cũng không ngờ, hôm đó lại có ông hội thẩm Tòa án Hải Phòng ngồi đó, và ông này trong bản tường trình của mình đã nói rất rõ, thẩm phán Ngô Văn Anh ngồi ở giữa, chứng kiến cuộc hòa giải giữa UBND huyện Tiên Lãng và anh Đoàn Vươn, cùng ký với nhau về thỏa thuận. Sau khi dư luận lên tiếng, chê bai, phân tích, có lẽ ông Ngô Văn Anh hoảng, nay tìm cách chuồn, nhưng bản tường trình của hội thẩm Đoàn Văn Lĩnh đã vạch mặt gian trá của ông Ngô Văn Anh trước dư luận. Thẩm phán Anh giả vờ quên cuộc chủ trì hòa giải đế né sai phạm và cũng do ngượng vì sự kém cỏi của chuyên môn, nhưng e không quên bữa thịt chó?
Cuối bản tường tình, ông Đoàn Xuân Lĩnh còn thật thà ghi: Hai bên ký với nhau thế nào tôi không rõ, chỉ nghe hẹn nay mai về Tiên Lãng làm bữa thịt chó.
Vụ việc đi tới đâu, chưa rõ, nhưng bằng tinh thần làm việc của các nhà báo, bằng sự am tường của các chuyên gia, bằng sự giám sát của dư luận và cả hành vi dối trá, quanh co, lấp liếm nhưng chắc khó thành của ông Chánh văn phòng thành phố Hải Phòng, Tòa án Hải Phòng, UBND huyện Tiên Lãng, không khó để khẳng định sai phạm nghiêm trọng của các cấp chính quyền  trong việc cưỡng chết đất tại Tiên Lãng.
Tham khảo thêm: Ở đây Và đây nữa

Tiền lệ Tiên Lãng

Những tuyên bố từ phía chính quyền sau “Vụ án Cống Rộc” ở Tiên Lãng- Hải Phòng khiến dư luận không khỏi ngỡ ngàng. Cụ thể, người phát ngôn của chính quyền tuyên bố “Dứt khoát phải thu hồi” (diện tích đã cho nông dân Đoàn Văn Vươn thuê khi thời hạn thuê đã hết). Những tuyên bố này được khẳng định với tư cách “công bộc”, và nhân danh pháp luật.

Nhưng chính sự “nhân danh pháp luật” của các vị công bộc trong vụ án Cống Rộc đang đặt ra một “tiền lệ Tiên Lãng” cực kỳ nguy hiểm: Cứ hết thời hạn là chính quyền có quyền ra quyết định thu hồi, nhân danh pháp luật.

Ngày 27-9-1993, sau khi Luật Đất đai có hiệu lực, Chính phủ ban hành nghị định 64 quy định thời hạn giao đất 20 năm. Như vậy là chỉ hơn một năm nữa, tới 2013, sẽ có tới 1,2 triệu nông dân sẽ rơi vào “thân phận Đoàn Văn Vươn” khi Giấy chứng nhận QSDĐ chính thức hết hạn. Đến thời điểm này, chưa có một bộ ngành nào chính thức giải thích cho nông dân rõ: Họ sẽ tiếp tục được thuê đất, hay sẽ phải trả lại, để nhà nước chia lại như hồi 1993.

Năm 1993, người dân được giao đất theo hộ, theo từng nhân khẩu và theo hạn mức sào. Trung bình, mỗi hộ 2 khẩu thì được 2 sào, hộ 10 khẩu thì được 10 sào. Tại Hội thảo tổng kết 10 năm thi hành luật Đất đai, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên có vẻ rất “đau đầu” trước thực trạng “Sau 20 năm, bây giờ gia đình 10 người có khi chỉ còn 2 nhưng gia đình 2 người lại thành 10 rồi”. Ông đặt câu hỏi: “Hai người vẫn giữ 10 sào? Bây giờ điều tiết lại bằng cách gì? Chia lại ruộng đất à? Khó lắm, làm sao chia lại được bây giờ. Mà nếu đã chia lại thì liên tục sẽ chia lại vì dân số liên tục thay đổi”.

Nhưng “sự đau đầu” đáng chú ý nhất của người làm chính sách là câu hỏi “Ra cơ chế gì đây?”.
Bộ chủ quản đất đai đau đầu, chính nông dân cũng có những ý kiến rất khác nhau. Kết quả khảo sát hơn 8.000 hộ dân tại 9 tỉnh vừa được Tổng cục Quản lý đất đai công bố hồi đầu năm nay cho thấy: 38% số người được hỏi muốn chia lại đất và 55% số người được hỏi lại chỉ muốn giữ nguyên hiện trạng như hiện nay.

Những bất cập về “chiều dài 20 năm” được đề cập trên một tờ báo địa phương qua “tâm sự” của Chủ tịch UBND xã Diễn Hạnh (Diễn Châu- Nghệ An) Tăng Văn Thành: “Toàn xã hiện có khoảng 1.500 khẩu sinh sau thời điểm năm 1993 không được chia đất sản xuất, trong khi Diễn Hạnh là xã thuần nông, không có làng nghề hay việc khác để làm thêm. Rất bất cập là trong khi đó, nhiều hộ con cái đã thoát ly cả, chỉ còn hai ông bà già ở nhà nhưng vẫn không thu lại đất được. Bởi vậy, tình trạng luân chuyển, trao đổi hay thuê mướn đất trong nội bộ người dân là thực tế đang diễn ra một cách phổ biến”.

Một tờ báo khác, lại kể chuyện một “nông dân tiên tiến” tại Gia Lộc- Thanh Hoá, phải đi thuê mướn lại đất để có 27ha sản xuất “rau hàng hoá”. Cái thời hạn 20 năm khiến những người muốn đầu tư, đổ tiền vào làm giàu như anh chùn tay.

20 năm, đối với những người thiếu đất là quá dài. Nhưng lại quá ngắn đối với những nông dân thực sự muốn đổ tiền vào đất. Không ai biết được khi hết hạn thì nhà nước sẽ làm gì. Và câu hỏi “Cơ chế gì đây” của Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên cũng cho thấy ngay chính nhà nước giờ cũng chưa biết mình sẽ phải làm gì.

Theo Luật Đất đai, khi hết thời hạn thuê đất, nếu người sử dụng đất có nhu cầu tiếp tục sử dụng và trong quá trình sử dụng đất chấp hành đúng pháp luật về đất đai thì được Nhà nước giao đất đó để tiếp tục sử dụng. Nhưng quy định này đang giao cho chính quyền một thẩm quyền quá lớn: Quyền phán xét. Và “tiền lệ Tiên Lãng” đang cho thấy chính quyền hoàn toàn có thể thu hồi lại đất hết hạn thuê, theo luật, và có thể, hoặc không, xét cho thuê lại, sau khi đã thu hồi.

Hồi Quốc hội thảo luận luật Đất đai sửa đổi, TS Đặng Hùng Võ đã nêu ý kiến: Đầu tư cho nông nghiệp là một loại đầu tư có chu kỳ dài nếu muốn đầu tư đó mang lại năng suất và sản lượng rất cao. Bởi thời hạn sử dụng đất ngắn không thể khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp. Ông đề xuât: Có thể lựa chọn một trong hai cách xử lý thời hạn sử dụng đất: một là thời hạn sử dụng đất nông nghiệp là 99 năm; hai là xóa bỏ thời hạn sử dụng đất nông nghiệp. Tất nhiên, các nhà làm luật không nghe vì “có lý của riêng mình”. Và kết quả họ đã cho ra đời một bộ luật, cho đến nay, đã phải sửa đổi tới 3 lần. Hướng dẫn để có thể thực thi nó là khoảng 200 văn bản to nhỏ các loại. Ngay lãnh đạo Bộ chủ quản đất đai cũng từng thừa nhận “Không thể cập nhật hết được các văn bản hiệu lực”.
Đó là một bộ luật tồi.

Và sự tồi tệ nhất là ở chỗ ngay cả nhà nước cũng chưa biết phải làm sao khi thời hạn thuê đất, ấn định bằng một niên hạn có thời hạn để giữ đất thuộc “sở hữu toàn dân”- thực chất cũng là một hình thức sở hữu vô chủ, sẽ hết vào năm tới.
Đào Tuấn

Thứ Năm, ngày 12 tháng 1 năm 2012

Đặng Hùng Võ: Quyết định thu hồi đất ở Tiên Lãng trái luật

Nguyên Thứ trưởng Tài nguyên Môi trường Đặng Hùng Võ khẳng định, quyết định thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng (Hải Phòng) với gia đình đình ông Vươn vừa trái luật vừa trái đạo lý, cố tình tước bỏ quyền lợi của người dân.
- Dưới góc độ pháp lý, ông nhìn nhận thế nào về quyết định giao đất và thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng (Hải Phòng) đối với gia đình ông Đoàn Văn Vươn?
- Việc giao đất của UBND huyện Tiên Lãng là không đúng pháp luật. Cụ thể, thời gian hạn chế giao đất 14 năm là không đúng, mà phải là 20 năm và sau 20 năm vẫn tiếp tục được sử dụng nếu Nhà nước không có quyết định thu hồi đất. Huyện Tiên Lãng có những quyết định giao tới 20 ha, trong khi theo khung giao đất bãi bồi ven sông ven biển ở Quyết định 773 của Thủ tướng, diện tích tối đa là 10ha.
Việc ban hành Quyết định thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng cũng trái pháp luật. Khi giao bãi bồi ven sông, ven biển cho hộ gia đình cải tạo trở thành nơi nuôi trồng thủy sản thì công sức, mồ hôi của người dân đã đổ xuống trong quá trình lao động. Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi hết thời hạn sử dụng đất (của gia đình ông Vươn sớm nhất là 15/10/2013), đương nhiên được kéo dài sang thời hạn tiếp theo trừ những trường hợp bị Nhà nước thu hồi đất. Quốc hội sẽ xem xét quyết định vấn đề “hết thời hạn” này khi thông qua Luật đất đai mới trước năm 2013.
- Ông nghĩ sao trước khẳng định của Chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng rằng huyện không làm sai khi cưỡng chế thu hồi đất của dân?
- Nhiều cán bộ quản lý ở nhiều địa phương hay nói câu buông sõng: “Nhà nước thì thu hồi đất nào cũng được”. Đó là cái nhầm lẫn rất cơ bản. Nhà nước cũng phải thu hồi đất theo quy định của pháp luật. Chiểu theo pháp luật hiện hành về thời hạn sử dụng đất, chắc chắn là họ sai. Chiểu theo quy định về giải quyết thế nào khi đất nuôi trồng thủy sản hết thời hạn, chắc chắn họ cũng sai.
- Với kinh nghiệm nhiều năm làm công tác đất đai, theo ông việc thu hồi đất trái luật của huyện Tiên Lãng là do thiếu kiến thức pháp luật hay nguyên nhân nào khác?
- Trong vụ việc này, tòa yêu cầu hai bên thương thảo giải quyết, UBND huyện hứa sẽ tiếp tục giao đất nên người dân rút đơn. Các hộ dân thực hiện nhưng địa phương lại không giữ lời. Trong đơn gửi tòa, người dân nói ông Chủ tịch huyện khăng khăng không thực hiện cam kết.
Người dân đang sử dụng đất có hiệu quả thì không có lý do gì để thu hồi đất của người ta. Điều này thể hiện có cái gì lẩn khuất phía sau các quyết định thu hồi đất. UBND huyện Tiên Lãng cố tình tước bỏ quyền lợi của người dân trong khi hai bên đã thỏa thuận giải quyết thỏa đáng. Ở đây, nguy cơ là chính quyền có thể thấy vùng đất đó sau khi được cải tạo là quá màu mỡ và muốn chuyển đổi cho đối tượng khác.
Còn nếu đất được dùng vào dự án khác thì ngay trong quyết định thu hồi cũng phải nói đến chuyện bồi thường. Nhưng quyết định của UBND huyện Tiên Lãng không hề nói đến chuyện bồi thường mà thậm chí còn bắt người dân phải bàn giao toàn bộ mặt bằng kèm theo những công sức của dân cải tạo trước đây. Điều này không chỉ sai luật mà còn trái cả đạo lý.
- Để xảy ra vụ việc ngày 5/1, ngoài việc xử lý nghiêm những người nổ súng chống đối, theo ông, cần xem xét trách nhiệm của chính quyền địa phương thế nào?
- Hiện nay ít nhất 70% khiếu kiện của người dân liên quan đến đất đai. Người nông dân nghĩ rất giản đơn, nhiều khi không nghĩ hết nhẽ, hành động bột phát, thiếu kiềm chế. Do đó, chúng ta phải trân trọng công sức của người nông dân, không phải vì thấy cái lợi của việc thu hồi mà lấy đi công sức của họ, đẩy họ vào bước đường cùng để trở thành tội phạm, phải chống trả bằng việc vi phạm pháp luật hình sự. Từ vụ việc này có rất nhiều điều để nói và UBND TP Hải Phòng cũng không thể đứng ngoài cuộc
- Theo ông, cần rút ra bài học gì trong công tác quản lý, thu hồi đất đai sau vụ việc ở Tiên Lãng?
- Trong vụ Tiên Lãng, bài học lớn nhất là cơ quan quản lý, nhất là ở địa phương cần phải nghĩ rằng mình là đại diện cho quyền lợi chính đáng của người dân. Hãy đứng về cách nghĩ của dân chứ không phải cách nghĩ của một người làm lãnh đạo.
Trong tất cả trường hợp thực thi pháp luật, lãnh đạo phải hiểu rõ ngọn ngành về pháp luật, đừng hiểu sai cũng như cố tình hiểu sai. Áp dụng pháp luật không chỉ là lý mà còn là tình. Người ta đã bỏ công sức ra thì phải xem xét công lao của họ với mảnh đất đó, cần đánh giá cho đúng. Việc người ta làm từng ấy năm rồi mình thu lại, cứ cho là việc thu hồi có lý do chính đáng thì cũng phải cân nhắc có nên không? Đấy là câu chuyện mà chính quyền địa phương phải có trách nhiệm tính đến.
Hiện nay, nhiều địa phương khi thực hiện cưỡng chế thu hồi đất thường hay sử dụng lực lượng vũ trang. Điều này theo tôi không nên làm. Với dân, đừng nghĩ tới việc sử dụng sức mạnh sẽ hiệu quả hơn. Người dân đang muốn chủ động trên cơ sở lẽ phải của sự đồng thuận.
Nếu đặt mình ở vị trí lãnh đạo huyện Tiên Lãng, ông sẽ xử lý thế nào với vấn đề đất đai của gia đình ông Vươn?
- Nhiều địa phương đã đánh đồng giữa việc giao đất khai hoang và đất đã được cải tạo. Thế nên có tình trạng người dân đổ mồ hôi ra để khai hoang nhưng sau đó chính quyền lại coi đấy là đất ruộng bình thường, làm thiệt hại cho dân. Để động viên việc khai hoang, mở rộng diện tích, tôi cho rằng cần có chính sách đặc biệt hơn nữa để thừa nhận công sức của người dân, ít nhất chiếm 50% giá trị đất đai.
Vấn đề của ông Đoàn Văn Vươn theo tôi giải quyết đơn giản. Đất giao năm 1993 thì đến 2013 hết hạn, đất giao năm 1997 thì tới 2017 hết hạn. Còn về hạn mức diện tích, nếu đất giao vượt hạn mức quy định của Chính phủ, chốt diện tích 10ha của dân không phải nộp nghĩa vụ tài chính, và diện tích còn lại về nguyên tắc phải chuyển sang thuê đất. Trong tương lai, nếu Luật Đất đai bãi bỏ hạn điền thì lại cho diện tích đó trở lại như đất được Nhà nước giao.
Tiến Dũng thực hiện
Theo VnExpress

Vụ nổ súng ở Tiên Lãng có dấu hiệu cưỡng chế nhầm

Tôi không biết chính xác ngôi nhà anh Đoàn Văn Quý sử dụng có nằm trong diện tích cưỡng chế hay không”. Chủ tịch UBND xã Vinh Quang Lê Thanh Liêm (em ruột Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền) cho biết như vậy khi được đề nghị cung cấp thêm thông tin về vụ đặt mìn, nổ súng chống cưỡng chế làm 6 công an, bộ đội bị thương, hôm 5.1.
Ông này cũng từ chối cung cấp cho PV ranh giới khu đầm được UBND huyện Tiên Lãng bàn giao cho chính quyền địa phương quản lý sau khi cưỡng chế. Phải chăng, vụ cưỡng chế thu hồi đất có dấu hiệu thu hồi “nhầm” 21 ha đất nuôi trồng thủy sản khi quyết định thu hồi đất vẫn đang bị khiếu nại theo luật định?
Thu hồi 19,3 ha hay 40,3 ha?
Năm 1993, ông Quý được UBND huyện Tiên Lãng giao 21 ha đất lấn biển làm diện tích nuôi trồng thủy sản. Tới năm 1997, ông Vươn tiếp tục lấn biển được 19,3 ha đất, và được huyện ra quyết định mới giao thêm khu đất này. Với lý do hết thời hạn sử dụng đất, năm 2008, UBND huyện Tiên Lãng đã ban hành quyết định 460/QĐ- UB (QĐ 460) thu hồi 21 ha. Đến năm 2009, huyện ra thêm QĐ 461, thu hồi tiếp 19,3 ha đầm còn lại của gia ông đình Vươn.
Trong quá trình giải quyết khiếu nại tố cáo, UBND huyện Tiên Lãng chỉ giải quyết khiếu nại đối với QĐ 461. Vì thế, ông Vươn chưa thể hiếu nại hoặc khởi kiện ra tòa đối với QĐ 460 về việc thu hồi 21 ha. Trên cơ sở giải quyết QĐ 461, thu hồi 19,3 ha của UBND huyện Tiên Lãng, ông Vươn mới khởi kiện ra tòa. Dựa trên “Thỏa thuận” ngày 9.4.2010 nói trên, ông Vươn có đơn xin rút kháng cáo.
Vì thế, căn cứ vào phán quyết của cấp sơ thẩm, ngày 24.11.2011, Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền ký QĐ 3307/QĐ- UBND cưỡng chế thu hồi đất theo QĐ 461, thu hồi 19,3 ha đất giao ông Vươn sử dụng. Tại văn bản gửi UBND, Thành ủy TP.Hải Phòng ngày 7.1.2012, UBND huyện Tiên Lãng cũng vẫn chỉ báo cáo: “… UBND huyện Tiên Lãng đều yêu cầu ông Đoàn Văn Vươn thực hiện QĐ số 461/QĐ-UBND ngày 7.4.2009 về việc thu hồi diện tích đất giao nuôi trồng thủy sản đã hết thời hạn sử dụng”. Như vậy, bên cạnh việc chưa giải quyết việc khiếu nại đối với QĐ 460 về việc thu hồi đất 21 ha đất của ông Vươn thì UBND Tiên Lãng cũng chưa có QĐ cưỡng chế đối với khu đất này. Nhưng khi thực hiện, vẫn báo cáo ngày 7.1 khẳng định UBND huyện Tiên Lãng làm các thủ tục để thu hồi cả 40,3 ha đầm do gia đình anh Đoàn Văn Vươn đang sử dụng.
Tại họp báo chiều 5.1, ông Lê Văn Hiền đã tái khẳng định: UBND huyện Tiên Lãng tổ chức thu hồi cả 40,3 ha đầm nuôi trồng thủy sản của ông Vươn.
Vậy UBND huyện Tiên Lãng đã cưỡng chế thu hồi 19,3 ha hay cả 40,3 ha? Trong ghi nhận của tổ công tác cưỡng chế huyện Tiên Lãng, ngày 5.1, tổ công tác đã tiến hành đập bỏ ngôi nhà gia đình ông Đoàn Văn Quý (em trai ông Vươn) đang sở hữu trên diện tích khu đất đầm 21 ha chưa có QĐ cưỡng chế!
“Lờ” thỏa thuận ký với dân
Mới đây, sau vụ nổ súng chống người thi hành lệnh cưỡng chế, ông Ngô Ngọc Khánh, Chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng, đã ký báo cáo gửi UBND TP.Hải Phòng về “Quá trình thu hồi đầm vũ ông Đoàn Văn Vươn, công dân xã Bắc Hưng”. Báo cáo thống kê diện tích và quá trình giao đất cho ông Vươn sản xuất, việc ông Vươn khiếu nại quyết định thu hồi đất và sau đó khởi kiện ra tòa cùng cấp. Bị bác đơn khiếu kiện, ông Vươn có đơn kháng cáo và TAND TP.Hải Phòng đã thụ lý hồ sơ. Tại văn bản này, UBND huyện Tiên Lãng giải thích: “Do trước ngày mở phiên tòa phúc thẩm sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử, người kháng cáo (ông Vươn) đã rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, nên ngày 22.4.2010, TAND TP.Hải Phòng có quyết định đình chỉ xét xử vụ án hành chính”. Do đó, phán quyết của tòa sơ thẩm có hiệu lực kể từ ngày đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Tuyệt nhiên trong báo cáo của UBND huyện Tiên Lãng không đả động đến “Biên bản tạo điều kiện để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án” được lập ngày 9.4.2010, tại TAND Hải Phòng trước khi đình chỉ thủ tục phúc thẩm 13 ngày, giữa ông Đoàn Văn Vươn và ông Phạm Xuân Hoa (Trưởng phòng TN-MT Tiên Lãng) – người đại diện ủy quyền của UBND huyện Tiên Lãng. Biên bản (có đóng mộc của tòa) đã được các bên ký với sự xác nhận của thẩm phán Ngô Văn Anh và bà Nguyễn Thị Minh Phương, cán bộ TAND TP.Hải Phòng.
Khởi tố 6 bị canLiên quan đến vụ án nổ súng, đặt mìn chống người thi hành công vụ xảy ra ngày 5.1, hôm 10.1, VKSND TP.Hải Phòng đã phê chuẩn các quyết định khởi tố bị can đối với 6 trường hợp. Theo đó, khởi tố, bắt tạm giam chủ đầm Đoàn Văn Vươn và 3 người thân của ông này là ông Đoàn Văn Sịnh (SN 1957, anh ruột ông Vươn), Đoàn Văn Quý (SN 1966, em ruột ông Vươn, người trực tiếp nổ súng) và Đoàn Văn Vệ (cháu ruột ông Vươn) cùng về tội “Giết người”. Khởi tố bị can đối với Phạm Thị Báu (SN 1982, em dâu ông Vươn) và Nguyễn Thị Thương (SN 1970, vợ ông Vươn) về tội “Chống người thi hành công vụ”. Tuy nhiên, 2 trường hợp này được cho tại ngoại hầu tra. Riêng Đoàn Xuân Quỳnh (SN 1995, con trai ông Vươn) đang học THPT, Cơ quan CSĐT giao cho gia đình quản lý, sẽ xem xét sau.
Đặng Hồ – Quốc Tuấn
Theo Đất Việt

Thư mẹ viết từ Tiên Lãng

Hai con yêu dấu của mẹ, hai thằng con trai giỏi giang và thương nhớ của mẹ, niềm khát vọng của mẹ.
Mẹ biết, những ngày này các con sống không yên ổn. Khi cái tâm mình cắn xé thì gương mặt mình bạc nhược, thần thái mình suy sụp, ý nghĩ mình mông lung, lời mình nói tiền hậu bất nhất, mẹ biết các con ạ, mẹ thương các con, mẹ xót anh em con. Mẹ chỉ biết thở dài.
Ngày sinh các con, nhà mình nghèo lắm. Đất làng đầu bờ cuối bãi, ngước ra biển thấy trùng trùng sóng, chân sóng là bãi đất hoang, sú vẹt mọc còn không nổi huống chi lúa gạo. Bàn chân mẹ và bố ngày rét mướt cũng như mùa hạ nóng, cứ dúi xuống bùn hoang, nhặt từng bữa ăn, nhặt từng niềm vui, nhặt từng khát vọng để về chăm bẳm nuôi anh em con lớn lên. Ngày sinh chúng mày, bố mẹ gọi tên thằng cả là Hiền, thằng thứ là Liêm, gọi tên con trong sự khát vọng vô bờ. Chiều chiều, khi cánh cò chao cánh tìm chỗ ngủ là khi bố mẹ tất tả bước về, thắt ruột vì đói, hoa mắt vì mệt, nhưng chỉ cần nhìn thấy hai anh em con lon ton dắt nhau chạy ra ngõ làng đón mẹ cha là mẹ quên hết mọi sự mệt nhọc. Ôi, hai đứa con trai thiên thần của mẹ kìa, quần áo không đủ lành, chân đi chân đất, thương lắm các con ạ. Hạnh phúc nhường nào khi đi xa về, được xướng lên, gọi lên, kêu lên tên của hai con: Hiền ơi, Liêm ơi.
Từng ngày, từng tháng các con lớn lên, lớn lên, học hành, công tác, bố mẹ dõi theo từng ngày, từng tháng, từng năm. Miếng ăn ở nhà bớt hết lại cho các con. Bố mẹ mặc áo sờn vai cho các con lành lặn. Đêm bố mẹ co chân ủ vào rơm cho các con nằm chăn ấm. Tất cả là ao ước, là khát vọng, các con thành người, các con trưởng thành, các con làm đúng như bố mẹ các con khát khao: Lấy cái ĐỨC làm chính, lấy cái ĐẠO làm chính, lấy cái TẬN TÂM, TẬN HIẾN, TẬN HIẾU làm chính, thế mẹ mới yêu thương và tự hào gọi tên hai con là Lê Văn Hiền, Lê Văn Liêm.
Các con lớn lên ở làng này, hiểu vô cùng giọt mồ hôi nước mắt của bà con làng mình đã rơi xuống đất, đã thấm vào đất, đất là hồn vía, là cuộc đời, là vóc dáng, là cội nguồn tình yêu, hạnh phúc, đắng cay. Đất làng là nơi để sống, để yêu thương, đùm bọc nhau, cả khi đang sống và cả khi nằm xuống. Anh em con sinh ra từ đất, lớn lên từ đất, khôn lớn nhờ đất, đất là tất cả cuộc đời của người nông dân chúng ta.
Bố mẹ đã khóc nhiều về các con bao năm qua, vui cũng khóc, buồn cũng khóc.
Nhưng bây giờ thì nước mắt của mẹ là nước mắt đau đớn. Đau đớn vì anh em con hình như quên mình là người được lớn lên từ đất, quên mình là người của đất làng. Câu hát mẹ ru năm nào chắc các con cũng đã quên. Mùi đất bây giờ các con chắc đã quên, chỉ còn lại vấn vương mùi của những bàn tay đếm tiền và đầu óc toan tính. Các con nhìn người làng bây giờ như không còn như xưa, những người ruột rà, những người làng lấm lem, chân chất, các con đang nhìn xuống họ chứ không còn ánh mắt nhìn lên ngưỡng mộ, kính trọng của ngày xưa. Họ đang là nhân dân của các con, đồng bào của các con, và mẹ đã từng nghe họ dạ các con chứ không như ngày thơ bé, các con khoanh tay trước người làng kính cẩn.
Các con đã nhìn đất làng bằng ánh mắt của bọn thảo khấu, như muốn vò, muốn đào, muốn bới mang về ních đầy nhà, không còn ánh mắt của một người đã từng lớn lên ở đó, trưởng thành ở đó, thấm đẫm mồ hôi ở đó. Các con đã đạp trên đất, chà xát trên đất, không còn đi trên đất bằng những bước chân nâng niu.
Các con đang trượt dài trên đất làng mình, không còn liêm, không còn hiền, không còn là sự chân chất như bố mẹ, như bà con làng mình.
Các con đã xa làng, quay lưng với làng.
Nhưng các con ơi, làng là MẸ, đừng ai quay lưng với mẹ, đừng ai bỏ rơi mẹ, đừng ai phản bội mẹ.
Nhưng các con đã phản bội.
Các con đã bỏ rơi.
Các con đã quay lưng.
Mẹ muốn thu về trong bàn tay mình khát vọng về hai cái tên mà cả cuộc đời mẹ ước ao cho các con: Hiền- Liêm.
Nhưng mẹ vẫn giang rộng tay ra với các con, làng vẫn giang rộng tay ra với các con, dễ lắm con ạ, dễ lắm, chỉ cần ngủ xong đêm nay, ngày mai, mẹ lại ao ước thế, sáng mai anh em con lại dắt tay nhau lon ton chạy trên đường làng, nói với làng một câu thôi: Các con đã sai. Nói với gia đình chú Đoàn Văn Vươn một câu thôi: Các con đã sai.
Đất làng mệnh mông lắm. Bầu trời trên đầu các con cao rộng lắm. Biển trước mặt các con rộng dài lắm. Lòng bao dung của làng là vô tận. Hãy nghe mẹ. Hãy cho mẹ tự hào lần nữa. Hãy cho mẹ được gọi tên các con trong niềm vui cháy bỏng nếu các con nghe lời mẹ.
Hãy can đảm lên các con.
Mẹ đợi chúng mày.
Nguyễn Quang Vinh

Tiên Lãng ơi!..

Năm 1976, là sinh viên năm thứ ba ngành sử học của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi được nhà trường cử đi thực tập thực tế ở Tiên Lãng với đề tài “Trận càn Clode (quả chuông) của thực dân Pháp ở Tiên Lãng trong những năm kháng chiến chống Pháp”. Thầy giáo hướng dẫn là thầy Phùng Hữu Phú - người sau này làm đến chức Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban VHTT TƯ.

36 năm đã qua nhưng kỷ niệm về Tiên Lãng ngày nào vẫn mặn đặm và sâu sắc trong ký ức của tôi. Chúng tôi ở Nhà khách Huyện ủy và được phục vụ rất tận tình, chu đáo. Trong đời sinh viên và kể cả sau này khi đã là giáo viên, tôi đã được đến nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều người (đủ các “cấp bậc” người), nhưng có thể nói rằng hiếm có một nơi nào mà tôi được gặp (“tình cờ” chăng?) những người nông dân đôn hậu, dễ gần, tốt bụng và dịu dàng đến thế. Ở họ, rất ít thấy cái gồ ghề gai góc như nông dân miền Trung quê tôi; hầu như không có cái lườn lọc, quay quắt như những con người dẫu quen đi chân đất nhưng sống gần với “cận thị, cận giang”... Người Tiên Lãng là sự trộn lẫn hài hòa giữa cái mặn mòi phóng khoáng của biển cả, cái chất ngọt đằm say đắm của “địa linh” - nơi sản sinh, ươm trồng nên lá thuốc lào nổi tiếng khắp xa gần... Ai không biết nơi địa linh thì có sản vật, thắng cảnh đặc biệt, có nhân kiệt hào hoa,có nhiều người tử tế?

Chúng tôi có 3 sinh viên, được chị phục vụ nhà khách “cơm bưng nước rót” ngày ba bữa với nụ cười thường trực tươi tắn trên môi. Sinh viên mà được đối xử như thế, có lẽ tôi chưa thấy bao giờ. Một lần, thầy giáo hướng dẫn về thăm (kiểm tra). Chúng tôi kể cho thầy nghe về mọi sự gì cũng trôi chảy, thuận lợi; khoongkhis làm việc, tiếp xúc miễn bàn; ăn uống thì ngồi ở Hà Nội chỉ có nằm mơ (tính theo tiêu chuẩn bếp ăn tập thể của sinh viên); ước gì thực tập không phải 4 tuần mà lâu hơn nữa... Thầy Phú cười và nói một câu làm tôi nhớ mãi: “Hải Phòng nổi tiếng với bài hát về Những Xi Măng, Cầu Rào, Cầu Đất, Lạc Viên..., với thuốc lào Vĩnh Bảo - Tiên Lãng. Đó là những cái tên nhiều người biết. Nhưng, có một điều ít ai biết là người Tiên Lãng đã đẹp, dễ gần lại rộng lượng, bao dung...”

Chuyện đã 36 năm rồi, tôi chưa có dịp trở lại với miền đất ấy nhưng mỗi khi nghĩ đến, nhớ đến người và đất của những cô tiên phiêu lãng tuyệt vời là tự nhiên, một cảm giác ấm áp, biết ơn lại dậy đến, khó tả, bồi hồi...

Vậy mà... Bỗng đâu cả nước như sôi lên, bùng lên với vụ án chấn động liên quan đến chuyện thu hồi đất giống như ở Nọc Nạn năm nào: 6 chiến sĩ công an, bộ đội bị bắn, bị nổ mìn đến trọng thương - vụ việc nghiêm trọng chưa từng xảy ra trong lịch sử của 67 năm của Nước Việt Nam Mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo Nhân dân sáng lập nên, từ cái thời không còn anh Pha, chị Dậu.

Cái đau, cái quặn lòng và xót xa vô cùng chính là ở chỗ ấy. Người dân Tiên Lãng đánh bại cuộc càn quét quy mô của hàng trăm quân Pháp với đủ tàu bay, tàu bò ấy có tình yêu với quê hương, đất nước thiết tha. Những câu chuyện kể của rất nhiều người già trực tiếp tham gia trận càn năm nào cho tôi biết rõ điều ấy. Họ sẵn sàng hy sinh vì mảnh đất yêu thương - mảnh đất mà không ít khi, còn quý hơn cả mạng sống của chính mình. Chính vì cái lẽ giản dị mà thiêng ấy, chuyện đến bước đường cùng, người nông dân chân chất hôm nào bỗng dưng nổi dậy là điều phải tìm hiểu, nghĩ suy cặn kẽ, đủ đầy. Chẳng ai đồng tình với cách chống người thi hành công vụ - pháp luật sẽ trừng phạt nghiêm khắc mọi sự vi phạm. Tuy nhiên, tôi không thể nào không nghĩ và tin rằng chính cái cội nguồn của vấn đề mới là điều quan trọng nhất: Nếu không có lòng tham quá đáng của những ai đó có chức quyền; không có sự coi thường pháp luật, tự tung tự tác của những ông “vua” một cõi đến mức gây nên sự hoảng loạn, bức bối không thể kiềm chế nổi thì làm sao nên nỗi...

Chắc rằng, rất nhiều cơ quan và những người có trách nhiệm sẽ học hỏi từ bài học Tiên Lãng nhiều điều. Nhưng, chắc chắn vấn nạn liên quan đến đất đai là điều không thể không giải quyết theo nguyên tắc vì dân. Không một ai - dẫu có chức vụ cỡ nào có quyền coi thường luật pháp, coi thường lòng dân, coi việc dồn người dân đến bước đường cùng là chuyện “thường ngày”. Ôi, Tiên Lãng ơi!...
Tô Vĩnh Hà
Theo VHNA

Thứ Tư, ngày 11 tháng 1 năm 2012

Bắn vào Sheriff

Ngay những ngày đầu năm 2012 dư luận chứng kiến một vụ cưỡng chế thu hồi đất có hậu quả tai họa. Tại xã Bắc Hưng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, sáu công an và cán bộ thi hành cưỡng chế thu hồi đất ngày 5-1-2012 đã bị mìn tự tạo và súng săn của những người bị thu hồi đất làm trọng thương. Ngày 7-1-2012 Cơ quan cảnh sát điều tra Hải Hòng đã khởi tố vụ án “giết người và chống người thi hành công vụ” và đã bắt tạm giam 6 người.
Vụ này chắc sẽ còn được bàn luận nhiều và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến việc sửa đổi Luật Đất Đai.
Theo tác giả Quang Trung trên Đời Sống và Pháp Luật, anh Đoàn Văn Vươn, một người lính, một kỹ sư nông lâm, khi ra quân năm 1986, đã trở về địa phương lấn biển, tạo hành lang bảo vệ để lấy diện tích khai thác nuôi trồng thuỷ sản. Nhiều năm trời, Đoàn Văn Vươn cùng anh em họ hàng đã vật lộn với biển, bão tố và quần quật lao động đưa hơn 20.000 m3 đất, đá về để lấn, cải tạo biển thành đầm nuôi tôm, và nhờ đó gần 70 ha rừng vẹt ngăn sóng biển đã bám trụ thành công. Anh đã mất đứa con gái yêu 8 tuổi chính tại nơi đây. Vài dòng cuối của tác giả Quang Trung như báo hiệu điềm dữ: “Những việc anh làm có trời biết, đất biết. Còn việc đời và mất mát của anh, tôi cũng chỉ chia sẻ được phần nào. Bởi có những lúc, lòng người còn dậy sóng hơn biển cả. Đứng với anh trên con đê nơi có cống Rộc, phóng tầm mắt nhìn ra, ngút ngát một mầu xanh,  mầu xanh tươi từng thấm đẫm cả máu, mồ hôi và công sức. Phía xa hình như đang có một cơn giông…
Và cơn giông định mệnh đã đến ngày 5-1-2012.
Theo Người Lao Động, “năm 1994, một số hộ dân, trong đó có hộ ông Vươn, được UBND huyện Tiên Lãng giao đất để nuôi trồng thủy sản với thời hạn 14 năm. Hết thời hạn, UBND huyện ra quyết định thu hồi khu đầm này. Sau đó, các hộ dân đã khởi kiện ra TAND huyện Tiên Lãng yêu cầu hủy quyết định thu hồi diện tích đầm trên. Tháng 11-2009, TAND huyện mở phiên sơ thẩm, bác đơn khởi kiện của các hộ dân.
Các hộ dân này đã kháng cáo lên TAND TP Hải Phòng. Trong quá trình thụ lý vụ án, ngày 9-4-2010, thẩm phán Ngô Văn Anh đã lập “biên bản tạo điều kiện cho các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án” có đóng dấu của TAND TP Hải Phòng. Theo biên bản này, ông Đoàn Văn Vươn sẽ rút đơn kiện, còn UBND huyện Tiên Lãng đồng ý cho ông Vươn và các hộ dân tiếp tục thuê lại đầm. Tuy nhiên, vừa qua, UBND ra quyết định thu hồi đất của ông Vươn và tổ chức cưỡng chế vào ngày 5-1.”
Qua những thông tin trên có thể thấy anh Vươn đã khai hoang, lấn biển từ trước khi có Luật Đất Đai năm 1987 và khá lâu trước Luật đất đai 1993 và 2003.
Điều 5 của Luật 1993 này nêu rõ Nhà nước khuyến khích người sử dụng đất đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào các việc…khai hoang, vỡ hoá, lấn biển, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, đất cồn cát ven biển để mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và làm muối”. Điều 12 của Luật Đất Đai (2003) cũng khuyến kích tương tự về “khai hoang, phục hoá, lấn biển, đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước hoang hoá vào sử dụng”.
Như thế, lẽ ra chính quyền đã phải cấp quyền sử dụng lâu dài (20 năm, theo Điều 20 Luật 1993 hay Điều 67 Luật 2003) cho anh Vươn và những người như anh chứ không phải 14 năm vì giao 14 năm như thế là chính quyền đã vi phạm luật. Nếu đã giao 20 năm, thì đến 2014 mới đến hạn và ngay cả khi đó chính quyền cũng chỉ được thu hồi theo Điều 26 và 27 của Luật đó (hay Điều 39 của Luật Đất Đai 2003).
Có thể thấy trong vụ này cần làm rõ quyết định thu hồi đất do người dân lấn biển để nuôi trồng thủy sản liệu có đúng pháp luật hay không. Người dân, trong đó có anh Vươn, đã dùng các phương tiện pháp lý để kiện, để kháng án, và những việc này cũng phải làm rõ trước công luận.
Vấn đề mấu chốt ở đây là phải rạch ròi giữa đất công (do nhà nước hay một cộng đồng sở hữu) và đất tư (do cá nhân sở hữu).
Theo luật tự nhiên, đất hoang được ai khai phá là đất của người ấy. Người dân có thể sở hữu đất bằng cách khai khẩn đất vô chủ, mua hay nhận chuyển nhượng đất đã có chủ. Theo luật tự nhiên, đầm do người dân lấn biển để nuôi trồng thủy sản ở Bắc Hưng, Tiên Lãng phải thuộc sở hữu của họ.
Đáng tiếc từ 1987 đến nay Luật đất đai quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” ngược với luật tự nhiên mà luật pháp của hầu hết các nước (kể cả Việt Nam kia) đều chấp nhận việc phân định rạch ròi giữa đất công và đất tư.
Nhân vụ Tiên Lãng, đọc lại cuốn “Sự bí ẩn của tư bản” của De Soto – do tôi dịch và nghe nói đã chuyển cho các đại biểu Quốc Hội trước khi bàn và thông qua Luật Đất Đai 2003 (mà sau đó nhà xuất bản chính trị quốc gia đã xuất bản với tên “Sự bí ẩn của vốn” năm 2006) – và thấy rất đáng đọc lại nhất là Chương 5 “Những bài học bị bỏ sót về lịch sử Hoa Kỳ” (tr.113-162).
Trong chương này có tiểu mục mang tiêu đề “Bắn vào Sheriff” (tr.126-128), được NXB đổi lại thành “Bắn vào cảnh sát trưởng”, mà phần chính như sau:
Những người nhập cư đã bắt đầu vạch ranh giới, cày ruộng, xây nhà, chuyển nhượng đất, và thiết lập tín dụng trước xa việc chính phủ ban cho họ quyền làm như vậy. Bất chấp việc làm ăn táo bạo, dũng cảm của họ, tuy nhiên, nhiều nhà chức trách vẫn tin chắc rằng những người Mĩ mới này đã trắng trợn vi phạm luật và phải bị truy tố. Nhưng điều này đã không dễ làm. Thậm chí khi George Washington, người cha của Hoa Kì, đã cố đuổi những người đã chiếm đất trang trại của ông ở Virginia, luật sư của ông đã cảnh báo rằng “nếu ông thắng vụ kiện chống lại những người định cư trên đất của ông, thì chắc họ sẽ đốt nhà cửa và hàng rào của ông”.
Quan hệ giữa các bang khác và những người chiếm đất địa phương cũng bắt đầu nóng lên. Thậm chí trước Cách mạng, những người định cư từ Massachusetts đã bắt đầu định cư rồi ở Maine, vùng đất mà Massachusetts đòi ngay từ 1691. Lúc đầu, các chính trị gia Massachusetts đã chịu chấp nhận sự gia tăng những người chiếm đất ở vùng Maine xa xôi. Tuy nhiên, sau Cách mạng, với ngân khố trống rỗng và đồng tiền mất giá, các chính trị gia Massachusetts ngó tới vùng đất mênh mông của Maine như một nguồn thu nhập mới chủ yếu. Đột nhiên, những người chiếm đất ở Maine đã là trở ngại cho việc bán các lô đất lớn. Năm 1786, thống đốc ra một tuyên bố cấm chiếm đất ở Maine.
“Để làm yên lòng những người mua tiềm năng, Massachusetts đã chỉ định một uỷ ban để khảo sát và đòi “những kẻ chiếm đất” bất hợp pháp trả tiền. Hầu hết những người chiếm đất, tuy vậy, đã hoàn toàn từ chối di dời hoặc trả tiền đất. Thay cho việc thoả hiệp với những người chiếm đất, bang đã điều các sheriff để thực thi các thủ tục trục xuất hợp pháp, châm ngòi thùng thuốc nổ đã dẫn đến cái mà một sử gia đã mô tả như “cái gì đó giống một cuộc chiến tranh công khai”… Và khi một sheriff đã bị giết trong khi cố gắng trục xuất một người chiếm đất, ban hội thẩm đã từ chối kết án người được cho là kẻ giết người. Một phần như một kết quả của những hệ quả chính trị của sự thù địch giữa những người chiếm đất ở Maine, Massachusetts đã ưng thuận tư cách bang của Maine vào năm 1820.
De Soto, một người Peru, khi viết về lịch sử xử lý vấn đề sở hữu đất đai của Hoa Kỳ, đã phải thốt lên “Đối với một người thuộc thế giới thứ ba như tôi, bức tranh quá khứ này của người nước ngoài (Mỹ) thật quen thuộc đến kinh ngạc”.
Chúng ta cũng có thể học được nhiều từ cuốn sách của De Soto và từ lịch sử quản lý đất đai của bản thân cha ông chúng ta và cả từ chính quyền thuộc địa.
Nguyễn Quang A
Nguồn: Ba Sàm

Vụ án cống Rộc: Khi nông dân bị tước đoạt TLSX

Khi viết “bước đường cùng”, nhà văn Nguyễn Công Hoan “đẩy” nhân vật chính- Pha- vào thế bị bần cùng hóa, chẳng còn gì để mất. 83 năm trước đây, trong đời thật, anh em nhà Mười Chức, trong thế bước đường cùng, đã đổi 5 mạng sống của gia đình, trong đó có một con người thậm chí chưa kịp được sinh ra, để giữ đất, cũng là lẽ sinh tồn, trong vụ án đồng Nọc Nạn nổi tiếng, xảy ra vào năm 1028 tại Bạc Liêu.
Có lẽ, khi đặt mìn, cài bình gas, và xả súng tự chế vào nhà chức trách hôm 5-1, anh em nhà họ Đoàn có lẽ cũng ý thức được hậu quả mà hành vi của mình mang lại.
Nhưng vì sao cả Pha, cả anh em Mười Chức, và gần đây nhất là Đoàn Văn Vươn sẵn sàng đánh đổi với cái giá quá đắt đến như vậy?
Câu trả lời thực ra không khó.
Họ đã bị đẩy đến bước đường cùng. Như 300.000 hộ nông dân ở ĐBSH, 100.000 hộ nông dân ở vùng khó nghèo Đông Nam bộ và hàng trăm ngàn nông hộ khác trên khắp dải đất chữ S này.
Mất đất, có nghĩa là mất tư liệu sản xuất. Mất TLSX, đối với nông dân, là mất tất cả. Mất tất cả, có nghĩa chẳng còn gì để đổi ngoài mạng sống.
Có người cho đây là bất đắc dĩ. Bất đắc dĩ dẫn đến manh động, đến bạo lực. Nhưng trường hợp Đoàn Văn Vươn có lẽ sẽ rất oan khi cho đây chỉ là bất đắc dĩ.
“Năm 1980, cuộc chinh phục biển cả của Đoàn Văn Vươn bắt đầu bằng những gánh đất “quăng” xuống biển. “Có người bảo Vươn dại như con vích”. Có người thách đố Vươn. Người khác bảo anh mạo hiểm khi dám thách thức thần biển. Người đàn ông của đất Hải tần phòng thủ bấy giờ đã nói đầy tự tin: “Người thách đấu tôi không sợ. Chỉ sợ Trời thách đố tôi thôi“. Từng hạt đất bám trụ. Từng viên đá trơ gan. 20 năm qua, 20.000 m3 đất đá, đã được đổ ra biển để sú, vẹt có chỗ bám chân, để con tôm, con cá có chỗ sống, và để con người có kế sinh khai, có cái mà hy vọng. Và, với không biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, và có lẽ cả máu nữa, công việc tưởng chừng như dã tràng xe cát rút cục cũng đã giúp Đoàn Văn Vươn tạo lập một cơ ngơi 40ha đầm nuôi trồng thủy sản. Đoàn Văn Vươn sợ Trời. Nhưng xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Đây là những nét chính về Đoàn Văn Vươn và công cuộc trường trinh lấn biển của anh trong bài báo “Kỳ tài đất Tiên Lãng và cuộc chinh phục lời nguyền của biển”, được đăng tải trên Đời sống và Pháp luật 14 tháng trước khi Vươn và những người anh em của mình đặt mìn, nổ súng vào nhà chức trách để giữ đất.
Nhưng càng thắng Thiên, họ Đoàn càng nợ nần, càng lệ thuộc vào “tư liệu sản xuất”, vừa là sinh kế, vừa là món nợ vật chất có thể sẽ phải “di truyền” sang đời con cháu nếu họ Đoàn, một người nông dân, mất sạch tư liệu sản xuất.
Sự cùng quẫn trong hành vi manh động của họ Đoàn, càng cho thấy tính chất “bước đường cùng” trong thân phận của anh. Sự cùng quẫn cũng là câu trả lời việc một một quân nhân phục viên, một kỹ sư nông nghiệp, một người nông dân cả đời bán mặt cho đất, bán lưng cho giời, lại quyết liệt và bạo lực đến như vậy.
Tất cả mồ hôi công sức của Đoàn Văn Vươn và gia đình bị thu hồi khi thời hạn cho thuê 20 năm đã hết. 20 năm để có một sinh kế. Và 20 năm cũng là thời hạn tối đa mà Nhà nước cho thuê đất. Không phải là ngẫu nhiên mà Hội Nông dân không ít lần đề nghị Nhà nước sửa đổi Luật đất đai, giao quyền sử dụng lâu dài cho nông dân từ 20 năm lên 50-70 năm. Khi người nông dân đã phải nói “lên bờ (mất ruộng đất) chỉ có chết thôi, “lên bờ” không thể sống bằng cái gì được, nhà cửa không có”. Thì rõ ràng, chính quyền địa phương đã đẩy họ đến cái thế “phải quằn”.
Có hai kỷ lục về câu chuyện mất đất được nói đến trong thời gian gần đây. Ở Đà Nẵng, có trên 40.000 hộ nông dân bị mất đất do phải di dời, giải tỏa. Ở Bắc Ninh, một tỉnh có diện tích “nhỏ nhất nước”, sau 10 năm “trải thảm đỏ”, 3.000 ha đất nông nghiệp bị thu hồi. Việc “Cứ 5 hộ dân thì có 1 hộ mất đất canh tác”; “Có những thôn xóm mà 90-95% diện tích đất nông nghiệp bị “khai tử”", có lẽ cũng là một kỷ lục khác.
Website Hội Nông dân Việt Nam hồi đầu năm nay đã đưa ra các con số: Vùng ĐBSH có số hộ bị thu hồi lớn nhất với khoảng 300.000 hộ. Đông Nam bộ cũng khoảng trên 100.000 hộ. Hai địa phương có số hộ bị thu hồi đất lớn nhất là Hà Nội: 138.291 hộ và TP HCM: 52.094 hộ. “Theo cách tính toán khá chi li của Cục HTX-PTNT (Bộ NN – PTNT), mỗi ha đất thu hồi ảnh hưởng tới 10 lao động nông nghiệp. Như vậy, việc thu hồi đất nông nghiệp trong 5 năm đã làm đời sống của 2,5 triệu người bị lung lay”.
Mất đất, có nghĩa là mất tư liệu sản xuất. Mất tư liệu sản xuất là mất chiếc cần câu cơm. Có nghĩa là mất hết. Suy cho cùng, chết vì đói có khi còn khốn khổ hơn chết vì súng đạn. Đoàn Văn Vươn chỉ manh động hơn gần 500 ngàn nông hộ khác là anh và gia đình đã bị đẩy vào sự cùng quẫn, phải chịu, ở mức độ nặng nề hơn, lối đòi đất không khác gì tước đoạt.
Cuối bài báo đăng cách đây 14 tháng, nhà báo Quang Trung đã viết câu cuối, như một dự cảm đầy bất an “Phía xa hình như đang có một cơn dông”.
Đoàn Văn Vươn có thể thắng Thiên. Nhưng có lẽ anh không thể đo được độ nông sâu của lòng người, không thể lường hết được sự tàn nhẫn và trắng trợn.