Thứ Bảy, ngày 28 tháng 1 năm 2012

Đổi mới: Lòng thương dân mạnh hơn nỗi sợ

Đổi mới thành công khi những lãnh đạo ở cơ sở theo sát nhịp sống và mạnh dạn hành động vì dân.
Công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam những năm 1986 có điểm đặc biệt cơ bản so với một số quốc gia chuyển đổi khác. Đó là cuộc đổi mới “từ dưới lên” thay vì “từ trên xuống”.
Nhà nghiên cứu Trần Việt Phương trao đổi với VietNamNet: “Nhiều quốc gia việc phát triển từ dưới lên bị trấn áp nhưng ở Việt Nam thì không. Dần dần những người lãnh đạo cao nhất cũng nhận thức lại, khi từ dưới lên và từ trên xuống gặp nhau, lãnh đạo đóng dấu đỏ cho phép những sáng kiến của cơ sở. Đó là sự hình thành của chính sách đổi mới.”
Chờ đợi mua chất đốt ở phường 17, quận 5, TP.HCM (ảnh chụp tháng 10-1984). Ảnh tư liệu báo Tuổi Trẻ
Những sáng kiến của cơ sở và sự hậu thuẫn của những người lãnh đạo cao nhất cho những sáng kiến đó đều là những quyết định “phá rào” dũng cảm, khi “hàng rào” chính là luật pháp của nhà nước, quy định của chính phủ và cả những húy kỵ thiêng liêng của CNXH.
Nhiều trường hợp, đa số các cấp đều nhận thấy sự bất hợp lý trong cơ chế quản lý kinh tế nhưng vì “sợ nguyên tắc” nên không ai dám khởi đầu. Tác giả Đặng Phong viết trong cuốn “Phá rào trong kinh tế vào đêm trước Đổi Mới”: “Thực ra thì lòng vả cũng như lòng sung. Nhưng cả huyện lẫn thành phố đều….: Sợ cấp trên. Thế là cả nước ở trong tình trạng vừa đói vừa sợ: xã sợ huyện, huyện sợ tỉnh thành, tỉnh thành sợ TW, TW thì sợ nguyên tắc và cũng sợ lẫn nhau.”
Những người đã vượt qua nỗi sợ hãi ấy chính là những người “anh hùng” của công cuộc “Đổi mới”. Tác giả Đặng Phong đã kể lại nhiều anh hùng  như vậy trong cuốn sách của ông.
“Sợ thì mặc bà con nông dân chết đói à?”
Tấm gương tiêu biểu được biết tới nhiều nhất chính là “ông khoán hộ”, nguyên Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc Kim Ngọc. Sinh năm 1917 trong một gia đình nông dân nghèo ở Vĩnh Phúc, đến năm 1958, quay trở lại làm Bí thư tỉnh ủy ở chính quê hương mình, vì thế, ông thấu hiểu hoàn cảnh nông thôn Vĩnh Phúc.
Càng thấu hiểu, Kim Ngọc càng thấy bức xúc trước năng suất lao động quá thấp của mô hình hợp tác hóa nông nghiệp. Chính trong một lần xuống ruộng gặt cùng bà con như thế, ông Kim Ngọc đã nghe Chủ nhiệm HTX của thôn Đại Phúc kiến nghị: “Phải khoán cho người lao động thì họ mới làm tốt được”
Kim Ngọc chợt nhận ra ánh sáng ở cuối đường hầm, ông hỏi dồn vị chủ nhiệm: “Ông có dám làm thế không?” Khi vị chủ nhiệm còn ngập ngừng thì ông đã nói: “Ông sợ là phải, nhưng nếu tôi sợ, ông sợ, mọi người đều sợ thì cứ để mặc cho bà con nông dân chết đói à?”
Quyết định 69 của Tỉnh Vĩnh Phúc cho phép Khoán nông nghiệp do Kim Ngọc khởi xướng năm 1966 đã khiến ông Bí thư bị mang tiếng là mất lập trường giai cấp, đi theo CNTB. Nhưng quyết định công khai thách thức “phép Vua” ấy của ông sau này đã được lịch sử ghi nhận là đột phá sáng tạo đầu tiên của quá trình đổi mới nông nghiệp.
Một nhà lãnh đạo khác đã đi tiên phong trong mặt trận phá rào là Bí thư tỉnh ủy Long An Nguyễn Văn Chính. Thời bao cấp, việc ấn định giá nhà nước đã gây biết bao khó khăn cho các hoạt động kinh tế. An Giang không phải là ngoại lệ, giá cả không vận động theo quy luật cung cầu đã khiến cho tỉnh chìm sâu vào khủng hoảng cuối những năm 1970.
Ông Nguyễn Văn Chính đã làm chuyện tày trời khi năm 1977, phá bỏ cơ chế giá áp đặt của nhà nước và áp dụng giá thỏa thuận theo thị trường. Ngày đó, giá cả không chỉ là chuyện kinh tế mà còn là “lập trường”, là “tính Đảng”, vì thế, có người đã hỏi ông Chính rằng ông có biết sợ không khi làm những chuyện liều lĩnh như vậy.
Ông Kim Ngọc tháp tùng Bác Hồ đi thăm và trò chuyện với bà con nông dân. Ảnh: Tiền Phong
Vị Bí thư tỉnh ủy ấy đã trả lời: “Có chứ, tôi không to gan như các anh tưởng đâu. Tôi sợ lắm chứ. Nhưng trong nhiều cái đáng sợ, tôi sợ nhất là nếu cứ để cho tiếp tục khủng hoảng như thế này thì dân chết, mà Đảng cũng chết. Tôi sợ cái đó nhất, nên tôi phải nghĩ ra cách tránh.”
Sau này, “lệ Làng” bãi bỏ giá bao cấp và tem phiếu ở Long An đã trở thành cơ sở thực tiễn để TW tổng kết và tiến tới việc bỏ hoàn toàn cơ chế quan liêu đó.
“…chị đi tù thì tôi sẽ mang cơm nuôi chị…”
Đổi mới đã thành công không chỉ nhờ bản lĩnh của những lãnh đạo cấp cơ sở mà còn bởi những người lãnh đạo cấp cao nhất cũng mạnh dạn “bật đèn xanh”, bảo lãnh cho những phát kiến hợp lý dù chưa hợp pháp ấy.
Người lãnh đạo tiêu biểu cho việc đỡ đầu mọi nỗ lực đổi mới là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.
Một câu chuyện điển hình là vào năm 1979, Thủ tướng Võ Văn Kiệt trăn trở làm sao có đủ gạo ăn cho người dân TP Hồ Chí Minh. Cơ chế khi ấy rất cứng nhắc: Bộ Lương thực có trách nhiệm cung cấp gạo cho thành phố nhưng chưa bao giờ cung cấp đủ và kịp thời. Sở Lương thực thì không được phép mua với giá thị trường. Dân đồng bằng sông Cửu Long thì không chịu bán với giá nghĩa vụ. Thành phố có tiền để mua với giá thỏa thuận thì không được mua.
Ông Võ Văn Kiệt khi ấy là Bí thư Thành ủy đã triệu tập cuộc họp tại nhà riêng để tìm cách tháo gỡ. Giải pháp được đưa ra là Thành phố xuất tiền cho cá nhân bà Ba Thi (khi ấy là phó Giám đốc Sở Lương thực), xuống các tỉnh mua gạo với giá thỏa thuận. Bà Ba Thi khác gì tư thương nên người ta gọi đùa Tổ mua gạo tư của bà là “Tổ buôn lậu gạo”.
Bà Ba Thi nói với Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt: “Làm cách này thì chúng tôi làm được nhưng nếu TW biết là đi tù đó.” Ông Sáu Dân vừa cười vừa nói: “Nếu do việc này mà anh chị đi tù thì tôi sẽ mang cơm nuôi chị…”
Chủ trương khoán nông nghiệp cũng là ý tưởng được nhiều lãnh đạo cao nhất hậu thuẫn. Cho dù việc khoán ở Vĩnh Phúc năm 1966 của Kim Ngọc bị phê phán nhưng sau đó, thí điểm khoán ở Hải Phòng từ năm 1977 lại được hậu thuẫn. Từ cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng với lời khuyên: “Các đồng chí cứ mạnh dạn tìm tòi. Tìm tòi thì có thể sai. Có sai thì sửa…” tới lời thúc giục của cố Tổng bí thư Lê Duẩn: “Tôi đồng ý! Làm ngay! Làm ngay! Không phải hỏi ai nữa! Cứ làm ngay đi.”
Người ủng hộ khoán với những lời lẽ mạnh mẽ nhất chính là Ủy viên Bộ Chính Trị Võ Chí Công, ông khảng khái: “Khoán là đúng quá rồi! Các đồng chí đừng sợ chi hết. Nếu khoán có làm cho trời sập thì tôi cũng sẽ xin chịu trách nhiệm cùng các đồng chí…”
Không có những người lãnh đạo dám cùng chịu trách nhiệm và bảo vệ cho cấp dưới như thế, làm sao mô hình khoán ở xã Kiến An nhỏ bé có thể lan tới huyện Đồ Sơn, tới khắp thành phố Hải Phòng rồi tỏa ra nữa trên khắp đất nước Việt Nam.
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt
Đổi mới và điều luyến tiếc
Lịch sử công bằng, đã trả lại đúng công lao và vinh danh những con người thực sự thương dân, đã dũng cảm và sẵn sàng trả giá để mang lại ấm no cho dân.
“Thương dân thì dân thương lại”, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng nói vậy và lịch sử đã diễn ra đúng như vậy. Tác giả Đặng Phong đã viết về những hình ảnh thật cảm động về tình thương của dân dành cho những người anh hùng đổi mới:
“Hôm tiễn Kim Ngọc từ văn phòng tỉnh ủy về nhà riêng (để nghỉ hưu), có rất đông nông dân trong tỉnh. Không ít người trong số họ vừa đi vừa kéo vạt áo lau nước mắt…”
“Có lần bà Ba Thi làm việc vất vả quá bị bệnh, phải vào nằm viện. Thật là kỳ lạ, nhân dân cả Thành phố đồn đại, họ biết tin bà nằm viện, họ tới thăm đông lắm. Đó chỉ là những người mua gạo, nhưng họ cảm tấm lòng của bà, họ đem quà bánh tới, săn sóc bà, có người đến ngồi bên giường bóp chân bóp tay cho bà…”
Quá trình Đổi mới và lịch sử Việt Nam mãi mãi ghi dấu hình ảnh của họ, những người lãnh đạo ở cơ sở mạnh dạn “phá rào”, những người lãnh đạo cao nhất dám tự nhận thức lại để gỡ đi “hàng rào” cũ và cả đội ngũ những nhà tư vấn dám nói thẳng, nói thật.
Họ, những đảng viên ưu tú đại diện cho Đảng đã cùng với nhân dân Việt Nam làm nên cuộc Đổi mới hơn 25 năm trước. Họ đã chứng minh, khi Đảng biết lắng nghe dân, biết sửa chữa những sai lầm, Đảng sẽ giành được trọn vẹn sự tin yêu của dân. Khi đó Đảng thực sự trở thành Đảng của dân tộc.
Điều luyến tiếc đọng lại là: giá như có thêm nhiều hơn nữa những con người như họ thì cuộc Đổi mới đã có thể diễn ra nhanh hơn, mạnh hơn và sớm hơn…
Đó cũng là tâm sự của nhà nghiên cứu Trần Việt Phương với VietNamNet: “Hóa ra cái mới bao giờ cũng có độ trễ, bao giờ cũng phải sau một thời gian mới phát huy được tác dụng. Ở đâu cũng có độ trễ thôi nhưng ở ta lâu quá, thời gian tranh tối tranh sáng lâu quá, cái mới ló dần dần ra rồi mãi mới hình thành.”
Khánh Duy
* Bài viết trên Tuần Việt Nam, đã đăng trên Haydanhthoigian ngày này cách đây 2 năm.

Từ LỆ làng nghĩ đến LUẬT nước


Hàng năm, vào ngày mồng 5 Tết, làng tôi lại thực hiện lệ khám đàng. Đàng ở đây nghĩa là đường làng. Khi tôi lên năm, lên sáu tuổi, cứ mỗi khi khám đàng là tôi lại lon ton chạy đi xem. Một đoàn khám đàng được thành lập bao gồm một số cụ bô lão, đại diện chính quyền thôn và đại diện thanh niên.
Sự kiện Tiên Lãng, gia đình anh Đoàn Văn Vươn hôm mùng 1 tết còn lại thế này
Đi đầu đoàn khám đàng là một bô lão, tay xách một chiếc chiêng đồng, vừa đi vừa đánh ba tiếng một. Sau đó là hai thanh niên đi ở hai mép đường làng bằng đất hoặc được lát gạch và trên tay họ giữ chung một chiếc sào tre. Độ dài của chiếc sào tre này chính là chiều rộng của đường làng cộng với hai phần đất lưu không ở hai bên đường làng. Đi sau hai thanh niên giữ sào để “cầm cân nẩy mực” là một vài cụ bô lão và đại diện của chính quyền thôn. Sau cùng là những thanh niên khoẻ mạnh mang theo cuốc xẻng, búa tạ và dao chặt cây.
Đoàn khám đàng đi chậm rãi từ đầu làng đến cuối làng. Hễ một trong hai đầu cây sào tre chạm vào bất cứ một vật cản nào thì đều bị xử lý như cổng ngõ, tường nhà, chuồng trâu bò, lợn gà, cây cối và những thứ khác. Khi một đầu sào chạm vào những thứ nói trên thì nghĩa là chủ sở hữu của thứ đó đã vi phạm lệ làng. Nghĩa là họ đã chiếm dụng phần đất lưu không của làng để phục vụ lợi ích cá nhân của họ. Và lệ làng là: hễ một trong hai đầu cây sào chạm vào tường thì phá tường, chạm vào cổng ngõ thì dỡ cổng ngõ, chạm vào chuồng trâu thì dẹp chuồng châu, chạm vào cây thì chặt cây…
Lệ khám đàng này có từ bao giờ tôi không biết. Nhưng cho đến bây giờ, giữa những năm của thế kỷ 21, lệ khám đàng vẫn được thực hiện một cách nghiêm minh. Có một hai lần tôi chứng kiến người có cái cổng ngõ hay chuồng trâu bò xây lấn vào phần đất quy định của làng bị phá dỡ đã gây sự, chống đối lại đoàn khám đàng. Nhưng cuối cùng những người đó cũng phải tuân theo lệ làng và phải xin lỗi làng về hành động của mình.
Cây sào tre để đo đường làng và phần đất lưu không hai bên đường cũng có từ lâu lắm rồi. Mỗi năm, sau ngày khám đàng, cây sào tre đó lại được gác dưới mái đình để dùng vào năm tiếp theo.
Có lần tôi định kiếm tìm cái văn bản liên quan đến lệ khám đàng nhưng không tìm được. Những người già làng tôi đã trên dưới 90 tuổi nói trước kia có lẽ cũng có văn bản đó nhưng cả đời họ chưa bao giờ nhìn thấy. Làng cũng không có toà án, không có công an…Thế nhưng, lệ khám đàng cùng với nhiều lệ khác của làng đã ăn sâu vào máu thịt những người làng qua nhiều thế hệ và trở thành một văn hoá sống.
Những người làng cố tình vi phạm hay chống đối những lệ đó sẽ cảm thấy xấu hổ và không được cộng đồng chấp nhận. Một cộng đồng sống có luật, có lệ vì những lợi ích của cộng đồng đó giống như một môi trường trong sạch làm cho những vi khuẩn gây bệnh ít có khả năng phát triển.
Từ lệ khám đàng của làng mình, tôi lại chạnh lòng nghĩ đến luật của đất nước. Chúng ta đã và đang chứng kiến một đời sống thiếu luật pháp một cách trầm trọng. Tôi chỉ xin lấy một ví dụ đơn giản về việc người ta ngang nhiên lần chiếm đất công và tìm mọi cách sở hữu hoá tài sản của nhân dân, của nhà nước. Có những công trình quốc gia quan trọng như mở một con đường chẳng hạn mà chỉ cần một gia đình không chịu di dời, chúng ta cũng chịu bó tay đến cả vài năm.
Ngay mấy năm trở lại đây, nạn lấn chiếm hồ nước ở Hà Nội một cách trắng trợn mà báo chí lên tiếng bao nhiêu năm bây giờ mới có một vài hành động ngăn cản việc lấn chiếm đó.
Tại sao chúng ta có một lực lượng hùng hậu để giám sát và bắt buộc người dân thực hiện luật pháp của đất nước như công an, kiểm sát, toà án và nhiều tổ chức nhà nước và xã hội khác mà người dân vẫn cứ coi thường pháp luật như vậy. Điều hổ thẹn và đầy nguy cơ đối với việc xây dựng một xã hội văn minh và văn hoá là những người vi phạm luật pháp không hề cảm thấy xấu hổ và ân hận về hành vi phạm pháp của mình.
Cách đây mấy năm, qua truyền hình, người dân chứng kiến một cán bộ mắc tội tham nhũng sau khi bị tuyên án thì nhìn những người đến dự phiên toà và nhìn các nhà báo và nhoẻn miệng cười. Cái cười ấy là cái cười vô lương tâm và vô học.
Và tại sao trong khi đó những người nông dân ở một làng đang sống một cuộc sống còn nhiều thiếu thốn và ít được học hành lại có thể sống một cuộc sống đầy ý thức, trách nhiệm và tôn trọng luật lệ của cộng đồng như vậy?
Tôi thiết nghĩ, hầu hết mỗi chúng ta đều đã có câu trả lời chính xác.
Nguyễn Quang Thiều
* Bài viết cũ đã đăng trên HDTG blog cách đây 3 năm.

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 1 năm 2012

Đổi Mới: nhóm tư vấn và tinh thần dân chủ

Giờ đây, đa số đều cho rằng câu chuyện đổi mới những năm 86 đã cũ và là lẽ đương nhiên. Nhưng đặt trong bối cảnh chính trị và tư duy thời điểm ấy mới thấy đó là một bước ngoặt lớn. Hàng chục năm tư duy theo lối nhà nước kiểm soát nay có những dấu hiệu bước sang mô hình kinh tế thị trường là không đơn giản, đặc biệt khi sự thay đổi đó động chạm tới những nền tảng lý luận truyền thống về CNXH.

Đổi mới, như đã phân tích, bắt nguồn từ sự nhận thức lại những vấn đề cơ bản của cố TBT Trường Chinh. Nhưng, để từ nhận thức đổi mới khái quát được thành chủ trương, đường lối đòi hỏi phải có đội ngũ tư vấn và một môi trường dân chủ nội bộ.
Các bà nội trợ chờ mua gạo tại cửa hàng lương thực phường 10, quận 5, TP.HCM (ảnh chụp ngày 15-10-1983) - Ảnh tư liệu báo Tuổi Trẻ
Bài học nhóm tư vấn

Ông Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng, kể lại: "lúc đó TBT Trường Chinh có một trợ lý là anh Hà Nghiệp, một người có trình độ nghiên cứu và thẳng thắn. Chính anh Hà Nghiệp đề xuất với TBT mời nhóm cố vấn lại để báo cáo và trình bày. Tất cả đều là chuyên gia nghiên cứu, chỉ có một thứ trưởng, nên không bị vướng vào chuyện chức quyền."

Nhóm nghiên cứu là tập hợp những người có lý luận, thực tiễn và tư duy mới như Hà Nghiệp, Nguyễn Thiệu, Lê Văn Viện, Võ Đại Lược, Trần Đức Nguyên, Đào Xuân Sâm, Trần Nhâm, Dương Phú Hiệp, Lê Xuân Tùng... Cố TBT trực tiếp tham gia và chỉ đạo nhóm.

Trong cuốn "Tư duy kinh tế Việt Nam", tác giả Đặng Phong đã trích lời ông Trần Nhâm, nguyên trợ lý TBT Trường Chinh: "Suốt 4 năm tồn tại, (từ tháng 12 năm 1982 tới tháng 12 năm 1986), nhóm nghiên cứu đã sinh hoạt thường xuyên, đều kỳ, làm việc tận tụy, hết mình, để nghiên cứu, phân tích, gợi mở một số vấn đề lý luận và thực tiễn Việt Nam, giúp đồng chí Trường Chinh nắm vững và hiểu rõ cội nguồn để từ đó hình thành tư duy đổi mới của ông."

Nhóm tư vấn đã không chỉ giúp cố TBT Trường Chinh nhận thức đúng nhiều vấn đề kinh tế xã hội mà ông băn khoăn, mà còn trực tiếp soạn thảo nhiều văn bản quan trọng để cố TBT phát biểu tại Hội nghị TW cũng như các cuộc họp ở Bộ Chính trị.

Thời điểm trước Đại hội VI năm 1986, TBT Trường Chinh không hài lòng với Báo cáo chính trị do tổ biên tập Văn kiện Đại hội đang soạn thảo và đề nghị viết lại. 3 thành viên của nhóm tư vấn có "tư duy mới" là Hà Nghiệp, Trần Đức Nguyên và Lê Văn Viện đã được bổ sung vào Tổ biên tập.

Ông Trần Đức Nguyên, kể lại: "Tôi chịu trách nhiệm viết quan điểm thứ ba trong ba quan điểm đổi mới là đổi mới cơ chế quản lý: từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế vận dụng quan hệ hàng hóa tiền tệ gắn với thị trường. Lúc đó chưa dám dùng hẳn chữ "cơ chế thị trường" đâu mà dùng chữ "cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN. Đó là một trong ba điểm quan trọng nhất của đổi mới những năm 1986."

Chính những nhà nghiên cứu trong nhóm tư vấn đã góp phần quan trọng định hình tư duy đổi mới, tạo ra quan điểm, đường lối, chiến lược cho công cuộc đổi mới. Để làm được điều ấy, họ cũng phải vất vả đương đầu với các quan điểm bảo thủ.

Nhà nghiên cứu Trần Việt Phương nhớ lại: "Còn có cả một cuộc đấu giữa các chuyên gia, giữa các chuyên gia có đầu óc nghiên cứu, đổi mới và những "chuyên gia" khác cơ hội, giáo điều, bảo thủ. May mắn là cuối cùng nhóm chuyên gia có tư duy đổi mới đã chiến thắng."

Cố TBT Trường Chinh sau này đã nhìn nhận: việc hình thành một nhóm nghiên cứu với tư duy khái quát và năng lực phân tích mạnh là kinh nghiệm quan trọng mà các nhà lãnh đạo nên duy trì và tận dụng.

Trung tướng Đặng Quốc Bảo kết luận: "Bản chất của chiến lược là năng lực làm chủ không gian và thời gian, muốn làm được điều ấy cần kiến thức uyên bác, mà kiến thức của một người không bao giờ đủ được, nên muốn làm chủ cần một hệ thống tư vấn. Trong lịch sử cổ kim, người nào làm chủ đất nước khôn ngoan cũng phải có hệ thống tư vấn."
Cố TBT Trường Chinh xem một số đề án xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh (9/2/1978). Ảnh: TTXVN
Dân chủ nội bộ

Không chỉ có nhóm nghiên cứu cho cố TBT Trường Chinh, trước áp lực đòi hỏi của thực tế những năm trước đổi mới cũng như sau đó, nhiều nhóm chuyên gia khác đã ra đời.

Ông Đặng Phong viết: "Đây là thời kỳ trăm hoa đua nở của các tổ chức, các nhóm nghiên cứu, các Bộ cũng có, các tỉnh và thành phố cũng có... Chỉ đạo các nhóm chuyên gia đó là một vị lãnh đạo của Chính phủ hoặc của Đảng, phương pháp làm việc là tự do ngôn luận, không áp đặt trước những định hướng... "

Sở dĩ, những nhóm nghiên cứu có đất phát triển và nở rộ một phần nhờ tinh thần dân chủ lên cao vào giai đoạn đó.

Ông Trần Đức Nguyên kể lại: "Khi đồng chí Trường Chinh chuẩn bị các bài phát biểu ở Hội nghị TW, đưa ra các quan điểm mới, ông bao cũng chuẩn bị rất kỹ càng, cả tình hình và lập luận. Bao giờ, ông cũng sang làm việc trước với TBT Lê Duẩn và cả Thủ tướng Phạm Văn Đồng trên tinh thần tôn trọng. Lúc bấy giờ có điểm rất hay là ai có quan điểm đều đưa ra nói thẳng và tranh luận rõ ràng trong Bộ Chính trị, không khí thảo luận sôi nổi và hăng hái lắm."

Không khí cởi mở, dân chủ ấy đã tạo ra sự đa dạng, phong phú và sức sống cho hoạt động tư duy kinh tế, những ý kiến thẳng thắn, thậm chí trái ngược hoàn toàn với quan điểm truyền thống đều được đem ra trao đổi, nghiên cứu, thảo luận.

Trung tướng Đặng Quốc Bảo kể về những góp ý rất thẳng thắn của ông với cố TBT: "Tôi đã nói rằng nhân loại không có một con đường nào khác ngoài kinh tế thị trường. Nhân loại đã trải quan 6 thiên niên kỷ dậm chân tại chỗ của văn minh nông nghiệp do nền văn minh ấy là nền kinh tế tự cung tự cấp, làm ra của cải chỉ để sinh tồn.

Khi chuyển sang văn minh công nghiệp, nền kinh tế thị trường ra đời là động lực của sự phát triển. Nhưng những người Cộng sản chúng ta đã để cho nền kinh tế trở về thời tự cung tự cấp, nên bây giờ phải chuyển trở lại kinh tế thị trường.

Nếu Đảng Cộng sản không chơi con bài kinh tế thị trường thì không có cách gì phát triển hết, đó là cứu cánh duy nhất. Và TBT Trường Chinh đã tán thành với những luận điểm đó."

Việc tạo ra bầu không khí thừa nhận những ý kiến khác nhau, cùng thảo luận, tranh luận là sự thúc đẩy và động lực to lớn cho đổi mới. Sức sống trong tư duy thổi luồng sinh khí tạo ra sức sống cho nền kinh tế nói riêng và toàn xã hội nói chung.

Ông Trần Đức Nguyên kết luận: "Người lãnh đạo vì dân vì nước, biết sử dụng chuyên gia nhưng đồng thời không khí dân chủ nội bộ cũng rất quan trọng, có như thế thì mới có đổi mới được."

Khánh Duy
Kỳ 3: Đổi mới: Lòng thương dân mạnh hơn nỗi sợ
* Bài viết trên Tuần Việt Nam, đã đăng trên Haydanhthoigian ngày này cách đây 2 năm.

Sâu mọt và giòi bọ

Chuyện như đùa nhưng lại là sự thật trăm phần trăm. Một tờ báo nọ có đăng bài nhàn đàm về tham nhũng.

Sau khi báo ra, Tổng biên tập liền nhận được thư và điện thoại trước thì dọa nạt, sau nhũn nhặn xin góp ý về những cặp từ cần thay. Cuối cùng thì mọi ý kiến đều toát lên ý sau đây: gọi bọn tham nhũng là sâu mọt thì được chứ ví họ như giòi bọ là quá lời!

Những phản hồi trên chỉ có thể từ chính những kẻ tham nhũng. Bởi vì với bất cứ người dân bình thường nào, khi nhắc đến bọn tham nhũng, cũng cạn từ tục để chửi, để ép, để ví von với chúng. Giòi bọ, so với tham nhũng, đã là gì!

Xem ra sâu mọt và giòi bọ thì cũng cùng đục khoét, ăn bám, phá hoại, làm nhũng nhiễu thân chủ mà thôi.

Nhưng sâu mọt nghe không tởm, không bẩn bằng giòi bọ.

Tham nhũng mà cũng vẫn còn biết tự ái kia đấy. Thực ra lũ này cũng có lý khi đòi được đối xử nhẹ tay. Bởi vì:
  • Thứ nhất: Chúng là những kẻ đạo mạo, ăn mặc vào loại tươm tất, nhiều kẻ không thiếu những từ văn hoa khi nói với người khác.
  • Thứ hai: Tuy tham nhũng nhưng chúng luôn luôn cho mọi người cảm giác đang cống hiến sức lực, trí tuệ cho sự nghiệp.
  • Thứ ba: Chúng toàn chén những thứ thơm tho, béo bổ, quý hiếm... thuộc hàng cao lương mỹ vị. Tham nhũng mà phải ăn cơm bụi, cơm bình dân thì có họa điên!
  • Thứ tư: Chúng chỉ gặm, khoét những chỗ mọt mục, những chỗ sơ hở...
  • Cuối cùng là chúng không bao giờ làm cho kho công quỹ hết nhẵn mà thường bớt lại cái vỏ rỗng bên ngoài. Với 5 đặc tính nổi trội trên, lẽ nào lại ví chúng như giòi bọ, là loại chỉ đục những xác chết. Tôi đồng ý với đề nghị của tầng lớp tham nhũng.
Nào ngờ ý kiến của tôi vừa được nêu ra thì một con ruồi xanh óng ánh như viên minh châu đáp xuống trước mặt, dùng chân chặn ngòi bút. Tôi hất ra, nó lại xông vào, ghì chặt lấy. Mãi sau tôi mới giải mã được hành động ấy. Hóa ra nó không muốn con nó bị ô danh bị đem ra ví với bọn tham nhũng. Giòi bọ là giòi bọ không thể "như" tham nhũng được. Giòi bọ dù sao vẫn có ích... chẳng hạn làm sạch môi trường, có thể làm mồi câu cá. Chứ tham nhũng thì chỉ thuần túy phá hoại bôi bẩn.

Xét ra nguyện vọng của con ruồi đáng xem xét hơn nguyện vọng của các tham nhũng gia.

Nhà văn Tạ Duy Anh

* Bài này đã đăng cách đây 2 năm trên Haydanhthoigian.

Thứ Năm, ngày 26 tháng 1 năm 2012

Đổi Mới: Lắng nghe, phản tỉnh và nhận thức lại

Mọi quá trình đổi mới đều bắt đầu từ nhận thức phải đổi mới, mọi nhận thức đều bắt đầu từ những người dám nói và những người dám lắng nghe. Sự chuyển biến từ một nhà lãnh đạo hết sức “cứng” từng chỉ đạo Cải cách ruộng đất, phản đối quyết liệt chủ trương khoán hộ đến tác giả của Đổi Mới để lại những bài học vẫn còn nguyên giá trị tới hôm nay.

LTS: Trong 80 năm qua, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã dẫn dắt dân tộc trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, đạt được nhiều vinh quang và những thành tựu to lớn. Tuy vậy, cũng có những khúc quanh khi Đảng mắc phải sai lầm, nhưng bằng nỗ lực của mình cũng như sự giúp sức của toàn dân tộc, Đảng luôn tự đổi mới và điều chỉnh để vượt lên.

Lần đổi mới mang tính chiến lược, then chốt nhất gần đây là ở Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986. Sự thay đổi lịch sử ấy vẫn để lại những bài học còn nguyên giá trị tới ngày nay.


—–

Bước chuẩn bị đầu tiên của mọi quá trình đổi mới thành công là “Nhận thức”: phải giúp lãnh đạo và người khác “nhận ra nhu cầu của đổi mới và tầm quan trọng của việc gấp rút hành động.” Đó là quan điểm của John Kotter, giáo sư trường kinh doanh Harvard, chuyên gia hàng đầu về nghiên cứu quá trình thay đổi và đổi mới trong các loại hình tổ chức.
Đồng chí Trường Chinh (bìa phải) thăm hỏi, chúc tết và lắng nghe ý kiến của CBCNV Nhà máy dệt Thành Công – nơi “xé rào” đột phá về công nghiệp – nhân dịp đồng chí vào thăm và làm việc với TP.HCM từ 16 đến 23-1-1985 (ảnh chụp ngày 18-1-1985). Ảnh: TTO
Quá trình Đổi mới ở Việt Nam được khởi đầu bởi cố TBT Trường Chinh, chính ông là người đã đặt nền móng và đề ra chủ trương Đổi mới ở Đại hội VI, năm 1986.

Điều thú vị, như nhận xét của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong bài viết: “Trường Chinh – Tổng Bí thư của Đổi Mới” tháng 1/2007 là “Chủ biên của Đổi Mới lại là một người được coi là hết sức “cứng” như đồng chí Trường Chinh”

Để hiểu rõ hơn về quá trình cố TBT đã nhận thấy “tầm quan trọng của việc gấp rút hành động” và quá trình những người khác đã giúp ông “nhận ra nhu cầu của đổi mới” như thế nào, chúng tôi đã tìm gặp Trung tướng Đặng Quốc Bảo, nguyên Ủy viên TW Đảng, là em chú bác với TBT Trường Chinh.

Từ lắng nghe…

Ông Đặng Quốc Bảo năm nay đã 82 tuổi nhưng vẫn sang sảng kể lại những ký ức về cố TBT: “TBT Trường Chinh là con người có cái tâm biết lắng nghe. Trước Đổi Mới, chúng tôi đã nói với ông rất thẳng thắn thế này: Tôi không thể tưởng tượng được khi anh đi thăm các địa phương, mười vạn người xếp hàng để đón anh. Họ phải rải bèo hoa dâu để đón anh, nhà trí thức phải mượn bánh chưng để trang trí.

Như thế, anh yên trí rằng cuộc sống nó khác mà không thấy rằng cuộc sống đến đáy rồi, nhân dân không thể sống nổi nữa rồi.

Anh phải lắng nghe những người góp ý thẳng thắn với chúng ta, người có thông tin hơn chúng ta, nghe cả kẻ thù của chúng ta và những người chửi chúng ta. Ở đó mới có tiếng nói đích thực từ nhân dân, nếu chỉ nghe báo cáo cấp ủy thì chỗ nào cũng tốt hết.

Điều tốt nhất và hay nhất ở Trường Chinh là ông đồng ý lắng nghe và khi nghe xong rồi ông thấy tình hình rất nghiêm trọng.”

Ông Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng, cũng đồng quan điểm về cái tâm thực sự biết lắng nghe của cố TBT Trường Chinh: “Anh Trường Chinh từng nói với chúng tôi: Tôi mời các đồng chí tới đây chủ yếu để nghe các đồng chí, các đồng chí thông cảm là tuổi cao nên tôi nhờ thư ký ghi hộ. Nhưng đến khi bọn tôi phát biểu, anh Trường Chinh vẫn giở sổ ra cặm cụi ghi và không bao giờ cắt ngang người khác. Ý thức tôn trọng người khác rất rõ.”

… tới phản tỉnh…

Tình hình những năm 84, 85 trước Đổi Mới thực sự nghiêm trọng. Tác giả Đặng Phong đã mô tả nó trong cuốn sách “Tư duy kinh tế Việt Nam”: “Lương danh nghĩa của cán bộ và công nhân viên chức chỉ đủ sống trong khoảng 1 tuần đến 10 ngày… Ngân sách thâm thủng, lạm phát tăng, do đó giá lại tăng. Cái vòng luẩn quẩn đó ngày càng tăng tốc.”

Tuy nhiên, tình trạng “làm thì láo, báo cáo thì hay” quá phổ biến tới mức đôi khi lãnh đạo bị “che mắt” và không thấu hiểu hết thực tiễn ở dưới. Những đồng chí và cộng sự xung quanh cố TBT đã có công rất lớn trong việc thông tin cho ông cũng như đưa ông xuống cơ sở để nắm bắt được tình hình thực tế. Từ đầu năm 1985, ông đã đi khảo sát tại Nghĩa Bình, Quảng Nam-Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, An Giang, Đồng Tháp…
Tác giả Đặng Phong (bìa trái) cùng các trí thức trẻ của Viện Kinh tế VN từ Hà Nội lên Thái Nguyên xin đất trồng khoai mì thời “đêm trước” đổi mới. Ảnh tư liệu báo Tuổi Trẻ
Ông Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng, trao đổi với chúng tôi: “Có nhiều người tác động vào tư duy của cố TBT Trường Chinh khiến ông đổi mới trong đó có thể kể đến cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, cố TBT Nguyễn Văn Linh, anh Chín Cần (Nguyễn Văn Chính – Nguyên Bí thư tỉnh ủy Long An), anh Sáu Hơn (Nguyễn Văn Hơn, bí thư tỉnh ủy An Giang)… Họ đều là những người chủ chốt nên khi làm việc họ luôn trình bày quan điểm và hơn thế nữa, họ mời anh Trường Chinh tới dự trực tiếp những cuộc gặp với cơ sở, nghe cơ sở nói lên những bức xúc của họ…”

Chính những cuộc khảo sát xuống địa phương, gặp gỡ với cơ sở và lắng nghe ý kiến chuyên gia đã khiến TBT Trường Chinh phản tỉnh. Ông nhận ra trong một thời gian khá dài, nhiều thông tin đã bị bưng bít và nhiều lý luận chính thống đã đổ vỡ trước thực tiễn cuộc sống đa chiều. Các đồng sự đã dẫn Trường Chinh về tận quê ông, Nam Định để cố TBT nghe chính những người bà con của mình nói về sự tính cấp thiết tột cùng phải đổi mới. Đó là những “giọt nước tràn ly” khiến ông thực sự “lột xác” trở thành “vị tổng bí thư của Đổi mới”.

Thực tế khi cố TBT Trường Chinh về thăm quê cũng như các địa phương khác đều đã chứng minh: khoán hộ là hình thức hiệu quả vượt trội so với hợp tác hóa. 95% đất ruộng thuộc HTX chỉ làm ra 50% thu nhập, trong khi, 5% đất phần trăm của nông dân làm ra tới 45%.

Tác giả Đặng Phong viết trong cuốn sách của mình một ví dụ sinh động và điển hình về sự phản tỉnh của TBT Trường Chinh. “Người ta đưa ông đến thăm một chuồng trại nuôi lợn của hợp tác xã, chuồng trại rất khang trang, con nào cũng béo tốt… Ông rất mừng khi thấy có hợp tác xã làm tốt như thế… Nhưng sau đó có người thầm báo với ông rằng trước khi ông đến, người ta đã xuống những hộ gia đình cá thể nào có con lợn béo nhất thì mượn đưa về chuồng hợp tác xã để giới thiệu với chủ tịch. Ông rất bực dọc. Nhưng câu chuyện như thế đã góp phần làm ông chợt tỉnh.”

…và nhận thức lại

Từ phản tỉnh, cố TBT Trường Chinh đã nhận thức lại hàng loạt những sai lầm đề căn bản về lý luận của kinh tế kế hoạch và tập thể hóa. Từ đó, quan điểm của ông thay đổi hoàn toàn và những bài phát biểu mang tính đổi mới của ông tại các hội nghị TW luôn được hoan nghênh nhiệt liệt, vì đã đánh trúng vào mong mỏi và nguyện vọng của đại đa số nhân dân.

Việc cố TBT Trường Chinh có quan điểm đổi mới có sức thuyết phục to lớn trong Đảng bởi uy tín và công lao của ông đã được thừa nhận, và trước đó, ông vốn được coi là người tuân thủ các nguyên tắc của CNXH rất “cứng”.

Ông Trần Đức Nguyên giải thích tại sạo những người lãnh đạo thời ấy lại dễ sửa sai và nhận thức lại: “Những người lãnh đạo chủ chốt có ý thức vì dân, vì nước rất sâu đậm. Cả cuộc đời hoạt động của họ vì dân vì nước, trước đây phạm sai lầm là do quan điểm, nhận thức chứ hoàn toàn không có lợi ích riêng tư cho nên họ rất dễ tiếp thu.”
Đồng chí Trường Chinh đọc báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ VI của Đảng tháng 12-1986.
Ảnh: sggp.org.vn
Cố TBT Trường Chinh là một người như thế. Ông đã từng là Trưởng ban chỉ đạo cuộc Cải cách ruộng rất những năm 1953-1954, sau đó nhận ra sai lầm, ông từ chức và trực tiếp chỉ đạo chiến dịch sửa sai. Những năm 1968, ông cũng là người phê phán gay gắt mô hình khoán ở Vĩnh Phúc của Kim Ngọc, nhưng rồi ông đã thay đổi quan điểm để trở thành “Tổng bí thư của đổi mới” như lời cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

GS Trần Nhâm, trợ lý của cố TBT từng kể với VietNamNet: “Một ngày trước khi ông mất ông còn nói với tôi về chuyện Vĩnh Phúc. Tôi có hỏi “sao lúc bấy giờ Bác lại làm to chuyện như vậy?”. Ông điềm tĩnh trả lời tôi rằng, có lẽ lúc bấy giờ nhận thức của mình không bắt kịp với tình hình thực tế, hơn nữa vấn đề nghe báo cáo, nắm thông tin không chính xác.”

Theo lý luận của John Kotter thì mọi quá trình đổi mới đều bắt đầu từ nhận thức phải đổi mới, mọi nhận thức đều bắt đầu từ những người dám nói và những người dám lắng nghe. Điểm khởi đầu ấy đã đúng với công cuộc Đổi Mới của Việt Nam năm 1986.

Trung tướng Đặng Quốc Bảo kết luận: “Có cái tâm biết lắng nghe nên chọn lọc được những cái đúng, biết ai nói đúng. Đổi mới là công lao của xã hội, không phải của bất kỳ một cá nhân nào, nhưng đổi mới không thành hiện thực nếu lãnh tụ không thực sự lắng nghe xã hội. TBT Trường Chinh đã làm điều đó và chính ông là người đã châm bó đuốc đổi mới.”

Tác giả: KHÁNH DUY
Kỳ 2: Đổi mới: nhóm tư vấn và tinh thần dân chủ
* Bài viết trên Tuần Việt Nam, đã đăng trên Haydanhthoigian ngày này cách đây 2 năm.

“GỬI BILL GATE VÀ TRỜI XANH” - Một thông điệp văn hóa thời kỹ trị

Paul Allen và Bill Gates – ngày 19 tháng 10 năm 1981

Không có những thi ảnh lộng lẫy, những ẩn dụ thanh tao hay những phép tu từ cầu kỳ, tinh xảo. “Gửi Bin-Ghết và trời xanh” là lời tự sự của một chàng thi sĩ nông dân, đại diện cho nền văn hóa nông canh phương Đông, với Binll Gate, chàng hiệp sĩ IT (Information Techlonogi) hiển hách, đại diện cho nền văn minh kỹ trị Tây phương. Xuất phát từ ý hướng này, quả nhiên Nguyễn Anh Nông đã chọn được cái sườn tự sự – trữ tình khá vững trãi cho trường ca của mình.
Bin Ghết- đó là theo cách gọi thân thiện của người nông dân quê tôi.
Bin Ghết- chứ không phải Biu-ghết hay Biu-ghết-tơ (Bill Ghate)
Lời đề từ như ngầm giao ước với chủ thể tiếp nhận rằng: các vị đừng tầm cầu ở đây những biểu tượng, huyền hoặc, cũng sẽ không có những thượng tầng ý tưởng to tát, cao siêu, không có những phép tu từ cầu kỳ , tinh xảo…mà giản dị chỉ là lời tự sự của một bác nông thuần phác. Trong một cuộc tự sự văn hóa, nhà thơ-nông canh có những gì để nói, phải chăng là chuyện “con cá –lá rau”, về cái không gian thân thiện ngập tràn cỏ cây hoa lá? Chính vì đã chọn được giọng điệu đậm chất khẩu ngữ Pha-mờ (famer), trên nền trữ tình dân gian đặc trưng châu thổ bắc bộ, nên tác giả cứ thỏa sức thung dung, nhẩn nha, túc tắc, như một bác nông dân khề khà nhả khói thuốc lào bên bát nước chè xanh kể lại chuyện trong làng, ngoài xóm. Ở đây, nhà thơ cũng nhẩn nha dạo chơi qua cánh đồng thi ca, khi “bắt bướm” lúc “hái hoa”. Tiện đâu bàn đó, chẳng nệ gì đến cấu tứ, khúc thức, đoạn, chương. Tuy nhiên, có lẽ dưới ánh mặt trời này, chẳng có cái gì tồn tại, mà không hàm chứa chút nghĩa lý. Giản dị có sự hiền minh của giản dị. Khát vọng về cái đẹp, cái thiện và hòa bình thì vị học giả cũng bình đẳng với kẻ không biết chữ. Dường như chính bản thân sự rườm rà về ý tứ, luộm thuộm về câu từ kia mới tạo nên sức mạnh của thông điệp..
Bin Ghết)
Cậu khoẻ không?
Tớ với cậu chưa gặp nhau
Nhưng tớ biết cậu
Rõ ràng đó không phải thứ ngôn ngữ giao tế, phát ra từ những bộ Comple hồ cứng, nức mùi băng phiến.Cũng không phải thứ ngôn ngữ trưởng giả đại ngôn, cầu kỳ và thiếu vắng sự thành thật. Đó chính là ngôn ngữ của đời sống, thứ ngôn ngữ chân mộc thơm mùi hoa lá cỏ cây và ấm áp tình bằng hữu. Với thứ ngôn ngữ này nhà thơ đã vượt qua mọi khác biệt, tước bỏ mọi giao đãi tầm thường, để ngài tỷ phú và bác nông dân tương giao như chỗ bạn bè thanh khí. Họ đã cởi lòng để bộc bạch tất cả mọi nỗi niềm:
Tớ khâm phục cách cậu nói và làm việc
Tớ ngưỡng mộ cách cậu sử dụng tiền
và sự kiêu hãnh đến hồn nhiên cũng đậm chất …nông dân.

Tất nhiên cậu học tớ cách làm thơ, thì cũng còn lâu
Nếu thơ tớ mà đổi ra đô la, vàng, bạc, kim cương
Thì trái đất nặng thêm nhiều trọng lực
Sau màn chào hỏi bộc trực và hồn nhiên, là câu chuyện lan man “từ trong nhà ra ngoài ngõ” đậm chất khẩu ngữ, với đặc trưng phi tuyến tính, phi khúc triết, phởn phơ, tự tại, nghĩ sao nói vậy, tiện đâu bàn đấy..Song quan trọng là họ đã nói lên được những điều cần nói.
Cách nói có thể mộc mạc, thô sơ, song ngẫm ra, mới thấy nhìn đâu cũng thấy những vấn đề mang hơi thở thời đại. Là kí ức lịch sử, với những vết thương vừa liền miệng.
Nỗi đau chồng nỗi đau
Căm giận và thù hận
Ôi, cái ngày hôm qua?
Là những dự cảm xót xa về chiến tranh và hòa bình, với hình ảnh Chim Câu bị vây khốn trong nanh vuốt của con mèo mặt Hổ, khi lại lâm nguy giữa ngùn ngụt khói giếng dầu.
mặt trời sặc sụa nhỏ những giọt nước mắt- a -xít xuống các châu lục.
Chim câu đang vừa bay vừa khóc…
Là những tự vấn bản thể mà phàm đã là con người mấy ai không có lúc tự hỏi mình:
Tớ là ai? Đến tớ cũng… phân vân?
Một làn mây hờ hững, phiêu bồng?
Một làn gió vô tư và ngỗ nghịch?
Một bông cúc xanh?
Một đoá hoa hồng?
Trong vô thức sáng tạo, nhà thơ đã bộc lộ căn cước văn hóa của dân tộc, qua cái phân vân bản thể ấy, đã hé lộ cội nguồn văn hóa Việt, nơi tam giáo đồng nguyên, nơi Phật đà quan niệm, sự hiện hữu của mỗi cá nhân chẳng qua là sự kết tập trùng trùng duyên khởi của dòng sinh lực vô cùng, đang chuyển lưu trong vũ trụ. “Ta là ai?” đó không phải là một câu hỏi bi quan, mà một tự vấn xao xuyến nỗi niềm bản thể. Tự vấn để tin mến yêu cuộc sống này hơn.
Trịnh Công Sơn cũng từng tự hỏi:
“Ta là ai, mà yêu quá cuộc đời này?”.
Thì đây nhà thơ đã hồn nhiên bộc bạch:
Bin Ghết này, mình nói thật:
Chúng – mình – là – hạt – cát – biết – yêu đương.
Vâng! ẩn dụ hạt cát –con người tuy không mới. Tố Hữu ví “mỗi chúng ta như những hạt cát lộng lẫy của Đảng”, Trịnh Công Sơn cũng so sánh phận người với Cát bụi rong chơi, ở đây tác giả đã đóng góp một ý mới: Hạt cát biết yêu đương. Hay quá, một hạt cát biết yêu thương có thể sẽ dẫn đến những vị hiền giả, còn một hạt cát biết yêu đương thì khiến cuộc sống nảy lộc mãi không thôi.Màn tự vấn vân còn tiếp tục đâu đó, xem lẫn với cảm thức thiên nhiên. Như một màn trữ tình ngoại đề đầy hứng khởi. Tác giả, mặc sức chồng chất vào thi phẩm hằng hà những: Kiến, Cóc, Muỗi, Còng Gió, Cỏ, Hoa… Cứ thung thăng, lãng đãng như gió thổi mây bay như thế, nhưng ngẫm ra không phải không có những ngẫu luận chạm đến tầm « tạo vật huyền đồng » của Lão-Trang.
Bọc hổ phách tái tạo sự hồi sinh kỳ diệu chỉ có trời đất biết
Mây trắng thủơ hồng hoang hội tụ để hoài thai?
Biết đâu tao với mi cùng chung nguồn gốc?
Cùng sinh ra từ vụ nổ Big- bang?
Ở đây, rõ ràng nhà thơ đã rất có ý thức để thi ca biểu hiện sự hòa nhập trọn vẹn trong mối tương giao giữa con người và vạn vật.
Chọn hình thức, độc thoại thô mộc dạng này, quả nhiên tác giả đã biết lượng sức. Bởi nếu không. đương nhiên, trong một cuộc đối thoại văn hóa, nó sẽ đòi hỏi một vốn văn hóa-lịch sử-triêt học khá uyên thâm, mới có thể đáp ứng . Tuy nhiên, « thái quá thường bất cập », việc lạm dụng khẩu ngữ và phát triển quá nhiều mà « trữ tình ngoại đề » cùng với các ngẫu luận đầy « ngẫu hứng » kiểu như khúc IV, khúc tự bạch chất phác của anh chàng tiểu nông nhẽ ra với :
Bin Ghết ơi!
Tớ
thân cò
phận vạc…
Bước thấp bước cao
Bước hư bước thực .
………………………..
…đến.. Vụng và vụng về tay ngoắc vào tay
Lấn ba lấn bấn trăm mối tơ vò .
Trong khoảng 20 câu thơ liên tuc, như thế đã khá đủ. Nếu không chuyển ý, ít ra cũng phải thay đổi cách tạo hình. Nhưng không, liền tiếp vẫn là màn “trữ tình ngoại đề”, xối xả như “đại liên bắn phá tung thâm” với khoảng gần trăm câu dạng:
……………………………………………
Cây phượng lên đồng, cây mai đỏm dáng?
Bảng la bảng lảng sương chiều giăng giăng
Thung tha thung thăng mấy chàng ế vợ
Tở ma tở mở mai mối được mùa
Tua la tua lua thợ kèn thợ trống
Đi bộ đánh võng mấy chàng thất tình
Lình xà lình xình dây cà dây muống .
………………………………………
Mặc dù có thể vẫn có sự nhất quán thi pháp, ở đây là sự tiếp biến thi pháp vần vè dân gian. Đương nhiên điều này ít nhiều cũng sẽ phục vụ cho màn tự bạch-tiểu nông-kia. Song, có lẽ “thuốc bổ dù uống nhiều cũng shock’. Ngôn ngữ thi ca nói như Roman Jacobson là “ngôn ngữ trong chức năng thẩm mỹ của nó”. Nói để nói cái gì với ai đơn thuần, là chức năng thông tin. Nhưng, nói để nói cái gì với ai bằng lời nói đẹp, là chức năng thẩm mỹ. Chức năng thẩm mỹ lộng lẫy che phủ chức năng thông tin đó là thi ca. Cầm bằng, ngược lại thi ca sẽ bị đẩy lùi, thế chỗ nó là thể loại vần vè hoặc khẩu ngữ dân gian. Ở đây, dường như, khẩu ngữ không được sử dụng như một thủ pháp mà như một quan niệm nhất quán về ngôn ngữ thi ca. Ở một số thi đoạn giàu tính thơ hơn cả như: Miền tuyết bỏng; Phân thân…tiếc thay, dường như lại chẳng liên lạc gì mấy, đến cuộc thoại của nhà thơ với Bin-Ghết và trời xanh. Sự ngẫu hứng có khi cũng khiến tác giả “bỏ quên” nguyên tắc hoán dụ, phép tu từ thiết cốt trong sườn tự sự-trữ tình này. Đối thoại (hay độc thoại) với Bill Ghate ở đây, về mặt thi pháp, cũng tương tự như cuộc đối thoại của Krishna với Ajruna trong Chí Tôn Ca đâu chỉ đơn giản là cuộc trò chuyện giữa một gã đánh xe với chàng dũng sĩ hoặc với ý hướng tương tự Con Quạ cũng chỉ là biểu tượng cho cái vĩnh cửu để Edgar Poe bộc bạch những triết luận về cuộc nhân sinh. Ở đây, Nếu chỉ là ngài tỷ phú IT Bill Ghate chứ không phải là một biểu tượng của nền văn minh kỹ trị, thì có lẽ đâu cần phải dài lời đến thế. Tuy nhiên, việc sa đà vào các màn “trữ tình ngoại đề” đầy ngẫu hứng kia. Khiến nhà thơ, rời xa cái sườn tự sự trữ tình với cuộc đối thoại văn hóa Đông –Tây ngầm định kia mà sa vào mô tả chi tiết vụn vặt trong đời sống trữ tình của cái Tôi cụ thể. Như:
Bin Ghết(Bill Gates)
Chẳng nhẽ cậu không thường xuyên vào google để tìm tên mình? …………….
hoặc:
Bin Ghết
Bà lão của hai cậu con trai tớ đêm nay ngủ một mình
Không chỉ đêm nay mà gần 20 năm nay ( gần như thôi nhé) đêm nào cũng thế
………………………………………………………………………………………
Khó có thể nói, những điều này không ít nhiều phục vụ cho ý hướng trường ca. Song, điều cần bàn là, việc cụ tượng hóa các biểu tượng văn hóa giàu tính khát quát, phải chăng không ít nhiều khiến cho trường ca vuột khỏi tầm vóc phải có của mình? Và phải chăng, chính sự phóng túng trong ngôn ngữ và cấu trúc đã khiến cho những ưu điểm mà có người nhận xét là::
cách tư duy táo bạo
ngôn ngữ trào lộng- nghiêm túc trong mối quan hệ xã hội…
đã bị giảm thiểu đi rất nhiều.
Tuy nhiên. Xét từ bình diện văn hóa, với các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba vào cuối thế kỷ 20, đặc biệt cách mạng viễn thông – tin học (télématique), sử dụng điện tử thay thế con người xử lý những thông số, giải phóng trí óc, tự động hóa sản xuất. Từ đó đẻ ra nền văn minh kỹ trị, con người bị “máy móc hóa”, coi sức mạnh công nghệ là thống soái.Tuy nhiên, tính chất vật chất – máy móc, mạnh mẽ, quyết liệt của nó, đã khiến cho nền văn minh này tha hóa trong sự ngạo mạn của khoa học tự nhiên với những hệ lụy thật khủng khiếp như: chiến tranh, ác bệnh, thảm họa thiên nhiên, Ô nhiễm môi trường…Mặt khác, nó cũng khiến cho con người bị hoen gỉ tâm hồn trong tư thế của những Robot đã được lập trình. Nhà thơ với trực giác ngôn ngữ và tri giác lịch sử, văn hóa vô cùng mẫn cảm, nói như Breton là người tiền trạm của tương lai. Đã “rung chuông” báo thức nhân loại bằng những thi phẩm của mình. Tuy khó có thể nói, đây là một trường ca trọn vẹn xét từ ý nghĩa thể loại. Song, rõ ràng chỉ với cảm thức thời đại mãnh liệt đến thế nào, mới có thể khiến nhà thơ ngồi vào bàn để sáng tạo nên bức thông điệp “gửi Bin-Ghết và trời xanh” đầy ý nghĩa. Và phải chăng, đây không phải là một nỗ lực đáng ghi nhận trên hành trình xa thẳm của một thi nhân./.
Trần Sáng
Sưu tầm

Thứ Tư, ngày 25 tháng 1 năm 2012

GỌI TÊN TRÍ THỨC

Bài phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Huệ Chi chia sẻ với SVVN về tư cách của trí thức, và sứ mệnh của trí thức trong sự nghiệp đưa đất nước ngày một cường thịnh. Bài này đã đăng trên HDTG blog cách đây 3 năm, nhân sự việc GS Ngô Bảo Châu trả lời phỏng vấn về đề tài này với nhiều bàn luận, xin đưa lên lại để mọi người tham khảo.
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi là người
chủ biên trang web Bauxite Việt Nam
GỌI TÊN TRÍ THỨC
Thưa GS, trong hình dung của GS, thế nào là một trí thức?
GS Nguyễn Huệ Chi: Theo tôi nghĩ, trí thức được hiểu theo hai phương diện: Một là học vấn tổng quát để hiểu về mọi phương diện của cuộc sống, chứ không chỉ bó hẹp trong chuyên môn thuần tuý. Nếu như chỉ là nhà chuyên môn sâu thuần tuý, suốt đời chỉ nhìn vào cái “khe hẹp” ấy thì không được coi là trí thức.
Mà anh có học vấn chung để nhìn cuộc đời trên tư thế của một người độc lập. Thứ hai, anh phải có một nhân cách làm chỗ tựa cho học vấn ấy phát huy, để giúp ích cho đời. Đó chính là hai phương diện quan trọng để nhận diện một trí thức.
Nhưng chưa phải ai cũng biết được rành rọt những đóng góp và vai trò của anh trí thức trong một xã hội?
GS Nguyễn Huệ Chi: Vốn trong thiên bẩm – người được gọi là trí thức đã có chức năng là phản biện xã hội. Cho nên ở cơ chế của một xã hội dân chủ, giới trí thức có thể làm được nhiều việc. Nguyên lý của xã hội là tạo cho người dân được quyền phát ngôn, được tự do suy nghĩ, góp phần làm cho xã hội năng động…
Anh trí thức phải là người đầu đàn để làm những việc đó một cách tốt nhất. Nhưng trong những xã hội độc tài xưa kia, thì người trí thức đứng ở một cự ly nhất định với trung tâm quyền lực. Khoảng cách ấy đủ để cho anh có được cái nhìn tương đối tỉnh táo, nhìn vào thế giới quyền lực, dõi mắt theo thế giới ấy, và lên tiếng khi nó “có vấn đề” ảnh hưởng đến xã hội, đến sự dân chủ.
Và với sự hiểu biết sau khi nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, GS thấy tiếng nói của giới trí thức trong những xã hội xưa thế nào?
GS Nguyễn Huệ Chi: Ở xã hội phong kiến ngày xưa, giới trí thức Nho học được răn dạy rằng: Khi mình không làm được những thứ theo ý mình với mục đích làm xã hội tốt đẹp hơn, thì mình phải làm một việc để thể hiện khí phách và phẩm tiết của người trí thức là rút lui.
Mặc dù vẫn được trọng dụng, nhưng đề xuất chém lộng thần không được nghe, thì Chu Văn An cáo quan, treo mũ, từ biệt kinh thành về núi Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương) ở ẩn.
Xin nhắc lại, đấy là người trí thức trong những cơ chế xã hội xưa kia. Đó là một xã hội độc tài, độc tôn, lấy ông vua làm trung tâm. Hễ ông vua tốt thì xã hội thịnh, ông vua xấu thì xã hội suy. Còn trí thức ngày nay, khi xã hội chúng ta đã phát triển theo mô hình mới rồi, không phải là xã hội cũ nữa, thì rõ ràng vai trò của giới trí thức hiện nay phải tích cực hơn so với những trí thức trong xã hội cũ.
 KHÔNG “MŨ NI CHE TAI”
Hiểu thế nào về sự “tích cực hơn”, thưa GS?
GS Nguyễn Huệ Chi: Tích cực hơn có nghĩa là anh không được làm những điều nhũng thoái. Anh đóng vai trò phản biện xã hội, lên tiếng khi có những vấn đề khẩn bách ảnh hưởng đến sinh mệnh của cả dân tộc, của cả đất nước, hoặc là của cả một bộ phận nào đấy ở trong dân tộc này.
Hoặc có nguy cơ làm cho con đường đi của đất nước có thể rơi vào một khó khăn nào đấy. Người trí thức phải biết hy sinh lợi ích của bản thân mình, kiên trì với những chính kiến của mình để đóng góp những điều có ích cho đất nước, cho dân tộc.
Người trí thức chân chính phải vì lợi ích lớn của dân tộc, của đất nước, hay của một bộ phận dân chúng nào đấy. Trong một thời đại được gọi là dân chủ, một bộ phận dân chúng nào đấy mà đang có nguy cơ mất sự sống an ổn thì người trí thức cũng không được thờ ơ.
Là một nhà nghiên cứu, theo GS, trí thức ngày xưa và trí thức ngày nay, có gì khác nhau?
GS Nguyễn Huệ Chi: Trí thức ngày xưa có thể lui về vườn để trở thành một người sống ẩn dật, hái củi, làm thơ. Nhưng người trí thức ngày nay, với trách nhiệm xã hội giao phó, không cho phép như thế. Vấn đề yếu kém của nền giáo dục hiện nay chẳng hạn, đó là một vấn đề, theo tôi, đang ở tình thế ngàn cân treo sợi tóc với dân tộc ta.
Nếu người trí thức không lên tiếng thì đã vô tình trùm “mũ ni che tai”, và đó là thái độ không phải của một trí thức. Anh phải biết kiên trì theo đuổi chính kiến hy sinh lợi ích cá nhân. Đó là điểm khác biệt giữa trí thức ngày xưa và trí thức ngày nay.
Trí thức là tầng lớp tinh hoa của một dân tộc, vậy đóng góp của họ phải thể hiện như thê nào?
GS Nguyễn Huệ Chi: Đương nhiên, anh giỏi về chuyên môn, cắm cúi trong chuyên môn thì đó là một đóng góp rất tốt về mặt tri thức trong một ngành nào đấy. Nhưng những người đó không được hiểu theo kiểu những trí thức có trách nhiệm dẫn đạo xã hội, hay là bộ phận tinh hoa của xã hội.
Nhóm tinh hoa ấy bao giờ cũng tạo ra những định hướng có tầm để xã hội phát triển. Xã hội mà thiếu những định hướng tầm xa như thế thì sẽ khó có hướng để phát triển. Xã hội chỉ được tạo nên bởi những nhóm quyền lực, hoặc nhóm lợi ích thì luôn luôn bị chi phối bởi những lợi ích và quyền lợi khác nhau.
Phải là người đứng ở cự ly phía ngoài để nhìn vào quyền lực, nhìn vào các nhóm lợi ích và tìm ra hướng đi cho xã hội, thì lúc đó xã hội mới phát triển đúng hướng được. Vai trò, sự đóng góp của người trí thức thể hiện ở chỗ đó.
 PHẨM CÁCH QUAN TRỌNG CỦA NGƯỜI TRÍ THỨC
Trong các phẩm cách của người trí thức, theo GS, phẩm cách nào là quan trọng nhất?
GS Nguyễn Huệ Chi: Người trí thức bao giờ cũng có mấy phẩm cách sau:
Thứ nhất , phải có sự tự do trong tư tưởng – đó là một phẩm cách hàng đầu. Bởi vì nếu anh để tư tưởng bị khuất phục bởi một thứ giáo điều nào đấy, thì không bao giờ anh có sự sáng tạo được, và cách nghĩ của anh sẽ méo mó, thiên lệch, thậm chí là thấp hèn.
Thứ hai, là sự độc lập đối với quyền lực. Quyền lực đương nhiên là chúng ta phải tôn trọng, vì quyền lực là đại diện cho chỗ đứng cao nhất của một bộ phận đang điều khiển đất nước. Nhưng phải luôn luôn có một sự độc lập để tỉnh táo nhận biết đâu là chỗ đúng, chỗ sai, để nhận thấy những khiếm khuyết, chỗ nào không khiếm khuyết của xã hội.
Một xã hội không bao giờ có những con người tuyệt đối tốt, tuyệt đối hoàn hảo, mà họ dù ở cương vị nào cũng chỉ là những con người thôi. Mà đã là người thì bao giờ cũng có những mặt được, mặt hạn chế, nhất là trong xã hội hôm nay người ta luôn bị chi phối bởi nhiều nhóm lợi ích, sau mỗi con người là những nhóm lợi ích khác nhau.
Do vậy, con người thường không hoàn hảo, do đó càng đòi hỏi người trí thức phải có sự độc lập suy nghĩ để tìm ra cái hay, cái đúng, cái sai, cái xấu… Và việc tìm ra cái hay, cái đúng, cái sai, cái xấu… này để phục vụ lợi ích tối thượng của đất nước, chứ không phải là của những nhóm quyền lực khác. Tóm lại, người trí thức phải đứng ở chỗ đứng khách quan nhất.
Như tinh thần trao đổi trên đây của GS, thì chưa hẳn người có học hàm học vị đã được gọi là Trí Thức?
GS Nguyễn Huệ Chi: (Cười lớn) Theo tôi, xã hội ngày nay nhất thiết phải có những chức danh, học vị cho người trí thức. Chẳng biết có phải vì lý do đó mà có nhiều GS, TS, thậm chí có cả những ông đi mua bằng ở nước ngoài về để trở thành Viện sĩ, mà thực chất đó cái bằng Viện sĩ đó chỉ có mấy trăm USD thôi (Cười buồn).
Nhưng không phải cứ gắn vào một cái mác là GS, TS, hay Viện sĩ thì đã được gọi là trí thức, mà trí thức là phải xét ở phương diện anh có thực hiện được chức năng và phẩm cách của một trí thức hay không. Và trong những bước ngoặt, bước gấp khúc của đất nước thì anh đứng ở chỗ nào, anh bỏ quên lợi ích của cá nhân anh vì đất nước hay chỉ là vì “vinh thân phì gia” của bản thân.
Tôi không bao giờ xét trí thức ở mấy chữ phía ngoài. Tôi thấy những người không gắn học vị gì cả nhưng tư cách trí thức hết sức đàng hoàng, như nhà văn Nguyên Ngọc chẳng hạn, anh ấy không có học vị học hàm nào cả, nhưng anh ấy là trí thức 100%, xứng đáng là trí thức ưu tú; hay như nhà văn Phạm Toàn có học vấn cực kỳ cao, nhưng anh ấy không gắn với bất cứ cái danh vị nào cả.
GS thấy thế nào khi mà hiện nay, có những người có chức danh GS, học vị tiến sĩ… nhưng lại mang danh đó để đi quảng bá các sản phẩm như đồ uống, dược phẩm…, và xem đó như là một việc mưu sinh? Như thế họ đã thể hiện đúng vai trò của một trí thức chưa?
GS Nguyễn Huệ Chi: Xã hội hiện nay đang theo hướng kinh tế thị trường, phải bán sản phẩm, phải kinh doanh để sống… Do vậy, anh trí thức cố nhiên cũng phải bị chi phối bởi quy luật ấy. Cho nên có những người mang danh là GS, TS nhưng đi quảng cáo cho những món hàng nào đó.
Tôi nghĩ, chúng ta nên thông cảm cho họ, vì thực chất họ cũng đang đi mưu sinh, việc này cũng chẳng khác là mấy so với mấy cô gái xinh đẹp đứng ra làm PG(promotion girl) vậy thôi. Những người ấy đáng thông cảm hơn là đáng chê bai, nhưng tuy nhiên, đấy không phải là hành vi của người thuộc tầng lớp trí thức, mà đó chỉ là hành vi của người đang mưu sinh mà thôi.
Xin cảm ơn GS!
Lê Ngọc Sơn (thực hiện)
Nguồn: Báo Sinh viên Việt nam