Thứ Bảy, ngày 18 tháng 2 năm 2012

Sự thách thức luật pháp và dư luận

Tôi thật bất ngờ, khi đọc trên mạng, thấy Tin Nóng sau đây:
“Chiều hôm qua ( 17/2) chị Hiền về bệnh viện thành phố Hải Phòng theo đứa con bị kẹp vào bánh xe hôm tết để chuẩn bị thủ tục phẫu thuật vì nghi bị nhiễm trùng, chị Thương thì lên huyện có công việc, lợi dụng thời điểm ngôi nhà lều không còn người, chúng nó đã đột nhập vào phá phách căn lều, đập nát cả bàn thờ, vứt cả di ảnh bố anh Vươn xuống hồ. Khi trở về, các chị đau đớn và phẫn uất nhìn thấy chỗ ở tạm của mình tan hoang.
Lá cờ Tổ quốc hàng ngày vẫn phấp phới bay, như là niềm cỗ vũ và an ủi gia đình họ Đoàn đi tới lẽ phải cũng bị chúng nó cướp đoạt. .. Chị Thương nói, chiều hôm qua, khi chị về huyện, thì số công an xã này vẫn đang trực tại trụ sở này, án ngữ ngay trước lối vào đầm hồ nhà chị. Chị có hỏi ai đã phá lều, phá bàn thờ nhà chị, tất cả đồng thanh: Không biết. Không biết. Không biết” (xem tại đây)
Qua những dòng tin này, kèm theo được minh chứng bởi nhiều bức ảnh chụp tại hiện trường quấy rối mới nhất, tôi càng thấy ái ngại những biện pháp có vẻ cương quyết, những lời hứa có vẻ cầu thị, những lời tự phê bình của cấp ủy, chính quyền Hải Phòng chỉ là một thứ phết nước sơn, hình thức ? Nghe họ hứa hẹn thì có vẻ “ngon lành”, nhưng khi làm thì chưa đâu vào đâu. Vậy là những quan chức ở xã Vinh Quang (có khi cả ở cấp huyện Tiên Lãng) rất cay cú trước sự thất bại không ngờ của một mưu đồ đen tối. Do sự cố ý trả thù rất tiểu nhân và vặt vãnh, sự an toàn của người dân vẫn còn rất nhiều bấp bênh. Qua đây, phải thấy rõ hành động này là biểu hiện lối sống tiểu nhân hèn hạ và vô chính phủ. Họ bất cần để ý đến những kết luận và chỉ đạo rất cụ thể của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Họ ngang nhiên đẩy sự việc đi đến chỗ ngày thêm phức tạp, mất ổn định, rắc rối.
Khi dư luận lên tiếng, thư ngỏ của công dân chuyển đến tận bàn làm việc của Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Thành, thành phố Hải Phòng đã thay ông Đỗ Trung Thoại đầy tai tiếng bằng ông Đan Đức Hiệp, làm tổ trưởng xử lý, đại diện UBND đi thực thi việc khắc phục hậu quả. Nhưng ông Đại tá Đỗ Hữu Ca, người đã ra lệnh điều cảnh sát cơ động đi cưỡng chế nhà ông Vươn ngày 5-1, người đã phát ngôn vô trách nhiệm, vô cảm và rất tùy tiện, bừa bãi thì vẫn ở cương vị chỉ huy các lực lượng “điều tra” làm rõ hậu sự. Thế thì, rõ ràng là ông Ca không những được cái quyền “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, mà còn vừa làm “huấn luyện viên trưởng”, đồng thời “trưởng ban tổ chức”. Nhiều quyền, quyền lớn, vẫn sinh ra nhiều cái lối làm quan liêu, lộng quyền và thách thức dư luận. Thể hiện rõ nhất là Đại Tá Đỗ Hữu Ca vẫn ngang nhiên tự tại, bất cần đến ai, xem thường pháp luật. Nhưng, trước diễn biến của sự việc nêu trên, có thể tạm luận giải hai khả năng, cũng là hai nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất: Nếu kẻ phá căn lều của bà Thương là người do chính quyền xã Vinh Quang sai khiến, thì càng thấy rõ sự lộ diện một nhóm lợi ích cùng với anh em họ Lê (Hiền-Liêm) và cả ông Bí thư Đảng ủy xã Phạm Đăng Hoan đã thành “cái dây” đầy quyền hành ở đây rồi. Ông này bị cách chức thì có ông khác lên, một hùa, một giuộc với nhau cả, đâu có ai hơn ai? “Người trước ngã, người sau tiến”, họ chẳng khác gì nhau. Một đội ngũ lãnh đạo cấp huyện và xã như thế, chắc chắn người dân ở đây bị oan khốc, khổ sở là điều dễ hiểu . Như vậy, chính quyền ở đây mất bản chất của chế độ từ lâu, họ không còn giữ được ý nghĩa của tiêu chí “của dân, vì dân, do dân” mà đã bộc lộ cái kiểu của chế độ độc tài“gia đình trị”.
Thứ hai: Nếu kẻ phá căn lều, vứt cả ảnh thờ của người ta xuống hồ, đập cả bát hương là sự trả thù các nhân gì đấy với gia đình ông Vươn, thì chẳng ai đi làm cái chuyện vặt vãnh như thế. Đây có thể là sự tỏ thái độ của anh em, bà con, phe cánh ông Chủ tịch Lê Thanh Liêm hoặc Bí thư Đảng ủy xã Phạm Đăng Hoan: “Mày làm cho ông Liêm, ông Hoan bị mất chức, bọn tao hết được nhờ, phá cho đã tay”. Họ cho là bà Vươn dựng lều, cắm cờ như thế là sự kích động, sự bêu riếu cho thiên hạ quay phim, chụp ảnh thêm bẻ mặt. Ý đồ hằn học, họ đã cho người phá.
Còn cái lối trả lời của công an xã Vinh Quang, cái kiểu 3 không: “Không biết, không nghe, không thấy” đã thành thứ bệnh trầm kha của lũ quan quyền ở xứ này, có khác nào cái lối nói năng của ông Chánh Khánh ở văn phòng UBND huyện Tiên Lãng đâu. Nếu hệ thống nắm quyền hành ở huyện, ở xã này chỉ lòng vòng trong dòng tộc, anh em nội-ngoại của những kẻ đã bị cách chức, thì rất đúng với sự đánh giá của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về thực trang yếu kém đáng lo ngại hiện nay của Đảng lãnh đạo ở cơ sở: “…đảng viên nhan nhãn, cộng sản rất ít”. Họ phá ngang như vậy là sự tỏ thái độ “không được ăn thì đạp đổ”, coi thường cả chính quyền, cả công an địa phương, kích động sự giải quyết hậu họa thêm phức tạp. Nghĩa là cái uy quyền của ông giám đốc Ca và chính quyền cấp trên chẳng là cái gì đối với họ.
Trước thông tin nóng với những bức ảnh gây phản cảm mạnh như vậy, hầu như ai cũng không chịu đựng nổi cái chất lượng và uy lực chính quyền ở xã Vinh Quang. Thôi thì cũng phải chịu khó chờ xem sự thể diễn biến sắp tới thế nào? Người dân có được bảo vệ không? Cái ác và kẻ xấu tiếp tục hoành hành thế nào? Công lý thắng được bao nhiêu? Sự phức tạp trong vụ Cống Rộc này có lẽ còn nhiều những “tấn trò đời”. Hãy đợi đấy, “thử xem con tạo xoay vần đến đâu”!
Bùi Văn Bồng
Một số hình ảnh tại hiện trường của nhà báo Nguyễn Quang Vinh:





Còn ai nhớ từng có một bản Nùng Cò Phường ?

Đầu tháng 01/1979, cả K22 khoa Lịch sử- Đại học Tổng hợp Hà Nội của nhà cháu đi thực tế Dân tộc học vùng dân tộc Nùng Phàn xình (Nùng Cháo) ở huyện Hải Yến (Lạng Sơn).
K22 của nhà cháu đông lắm, khoảng 150 người, phần lớn là các chú-các anh bộ đội về học tiếp sau khi tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi.
Tình hình biên giới Việt-Trung đã căng thẳng lắm. Cả khóa được phiên chế thành 1 đại đội, các lớp thành trung đội, tiểu đội. Vũ khí được phát đến từng người. Chủ yếu là K.50 băng đạn tròn, loại súng mà Hồng quân Liên Xô dùng trong Thế chiến Hai, nhưng cũng có cả đại liên, trung liên. Cả khóa/đại đội chiếm trọn một toa tàu hỏa vì lỉnh kỉnh đồ đạc và súng đạn.
Tàu hỏa đầu hơi nước ì ạch bò đi thị xã Lạng Sơn (này đã là thành phố thì phải), qua vùng Bắc Ninh-Bắc Giang- nơi sinh viên-cán bộ-viên chức từ Hà Nội lên đào giao thông hào-trận địa, lập “Phòng tuyến sông Cầu”.
Đến Lạng Sơn đã chiều, các chú-các anh rủ đi chợ Đồng Đăng nếm rượu miễn phí. Đi chưa được nửa chợ đã có người liêu xiêu. Nhà cháu chưa biết uống nên chỉ đi theo.
Đêm, thị xã Lạng Sơn vắng tanh vì dân đã được lệnh sơ tán hết. Ngoài bộ đội, chỉ có đại đội sinh viên chúng cháu. Đội chiếu bóng lưu động chiếu miễn vé một tập trong bộ phim nhiều tập “Chúng tôi có mặt trên từng cây số” của Bulgaria.
Về nằm chưa kịp yên giấc, cả đại đội choàng dậy, vơ lấy súng vì một chú bỗng hét toáng “Địch đến !”
Đến khổ, hóa ra ông ấy nói mơ, vẫn yên vị trên giường dù tất cả già-trẻ-trai-gái của đại đội đã bật dậy.
Một chú khác nhẹ nhàng đánh thức ông ấy: Dậy ngủ lại !
Sáng sớm, cả đại đội vác theo chăn màn, gạo muối, súng đạn, sách vở… đi bộ về xã Cao Lâu.
Bà con người Nùng Cháo ở bản Cò Phường rất vui khi thấy chúng cháu đến. Cả đại đội được chia thành các tổ 3 người về ở từng nhà đồng bào.
Dân bản sống khá sung túc. Theo tập tục đã thành danh xưng, nhà nào cũng có 1 chảo cháo trắng nấu ngày này qua ngày khác. Trẻ con chạy chơi chán về múc 1 bát húp. Người lớn làm nương về khát nước, múc 1 bát, húp… Nghĩa là đồng bào không bị đói gạo.
Nhà nào cũng có máy khâu, không “Singer” thì “Con bướm”, dưới xuôi còn lâu mới có thế.
Từ nhà ông Trưởng bản có đường dây loa truyền thanh đến mọi nhà. Cần thông báo gì, ông bấm nút nói vào mi-cờ-rô, cả bản biết ngay.
Hàng ngày, ngoài chuyện học hành là thực tế dân tộc học, chúng cháu được giao giúp dân đào hầm hào và vào rừng đào hầm cất đồ đề phòng giặc đến cướp phá.
Leo lên đỉnh núi, nhìn sang bên kia, thấy đặc những lính. Mấy trai bản giơ đấm, thách: – Giỏi cứ sang đây !
Tinh thần sẵn sàng chiến đấu rất cao, nhưng cuộc sống hàng ngày vẫn diễn ra như phải thế.
Hàng chiều, trên những thửa ruộng đã gặt, nam sinh viên đá bóng với trai bản.
Đêm đến, sinh viên và trai-gái bản vẫn hát với nhau bên những cụm súng gác đầu với nhau như chụm củi của đống lửa trại.
Và thật may cho đợt thực tế của chúng cháu, đúng dịp cô con gái của bác Chủ tịch xã người bản này đi lấy chồng. Thôi rồi là rượu!
Bấy giờ, giáo viên trẻ Nguyễn Ngọc Đào (nay là ĐBQH chuyên trách) vừa tốt nghiệp đại học ở Nga Xô về. Cậy đã rèn luyện nhiều năm ở xứ lạnh, uống rượu men là không đủ ‘đô’ nên ông thầy trẻ này mò vào tận chỗ nấu rượu, uống rượu nóng. Được 3 bát đã gọi trai bản ra đòi “đấu sức”. Vì ‘tội’ này, sau đó về Hà Nội, ông thầy trẻ phải viết kiểm điểm.
Anh lớp trưởng và bí thư chi bộ lớp nhà cháu cũng chả chịu kém. Hai ông đều say mèm nên bác Trưởng bản cho trai bản khiêng vào, xếp nằm riêng 2 giường, rồi đi lấy vôi bôi vào lòng bàn chân, bàn tay. Không ăn thua, bác ấy ra vườn bẻ mấy ngọn dong riềng giã nhỏ đem vào. (Mấy võ giã rượu này bấy giờ nhà cháu mới biết). Thoáng thấy bóng người, 2 ông cán bộ lớp cháu cùng ngỏng đầu dậy, đồng thanh chửi: “Tiên sư thằng chủ tịch xã !”:) ))
Sau khi tất cả các nam sinh viên đều đã gục, đến lượt nhà cháu bị ‘xử lý’. Vì trẻ nhất, lại có lý do chưa uống bao giờ nên nhà cháu thoát đến lúc ấy.
Cô dâu bưng đến 1 bát rượu đầy, quỳ trước mặt, bảo: – Tao đi lấy chồng, mày uống với tao 1 bát. Mày không uống, tao cứ quỳ ở đây !
Chết chưa? Đành ‘mặc cả’: – Anh chỉ uống với em thôi nhé !
Vừa nuốt chửng được bát rượu thì chú rể xuất hiện. Lại một bát nữa. Rồi 1 bát với bố cô dâu, 1 bát với mẹ cô dâu…
Và rồi nhà cháu chỉ còn đủ tỉnh táo để nhớ (đến bi zờ) là đã uống đến bát thứ 13. Sau đó không còn biết gì sất. (Sau đó, nhà cháu mới PHÁT HIỆN ra ‘gen uống rượu’ đã được ông-cha truyền qua máu :)  )
Đợt đi thực tế ấy kéo dài trên dưới nửa tháng.
Phải đến đâu quãng 22-23 Tết năm ấy (20-21/01/1979) chúng cháu mới về.
Tiễn nhau, đã thấy có đôi nam sinh viên-gái bản nháy nhau rẽ vào rừng.
Bà con ở bản hơi buồn: – Tưởng chúng mày ở đây ăn Tết luôn ?
 Mấy chú mau mồm, hứa: Về ăn Tết rồi chúng tao lại lên !
Thế rồi sau Tết, chưa hết tháng Giêng năm Kỷ Mùi, giặc bành trướng Bắc Kinh tràn sang.
Mặt trận Lạng Sơn
Thế rồi, đọc báo Nhân Dân, nhà cháu biết tin cái bản Cò Phường mà đại đội chúng cháu đã ở, đã học hỏi, đã uống rượu… ấy ĐÃ BỊ GIẶC XÓA SỔ theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
 QUÂN BÀNH TRƯỚNG TRUNG QUỐC ĐÃ ‘LÀM CỎ’ CẢ BẢN NGƯỜI NÙNG ẤY.
Uất nghẹn cho đến bây giờ !
Ở chỗ bản Cò Phường, liệu có ai dựng một bia biển như thế này?
Bây giờ, có tìm tóet mắt các loại bản đồ cũng chả thể nào thấy được địa danh bản Cò Phường nữa.
Bây giờ, nếu có tra Google bằng từ khóa “Hải Yến, Cao Lộc, Lạng Sơn” sẽ chả có được kết quả nào thỏa mãn. Chỉ toàn thấy tin: Mua bán nhà đất, vận chuyển hàng lậu-pháo lậuvận chuyển trái phép hê-rô-in…
Trang muabannhadat.com.vn quảng cáo
Bản đồ trực tuyến của Xã Hải Yến, Huyện Cao Lộ: bạn có thể truy cập vào trang chính để xem thông tin trên bản đồ của Xã Hải Yến, Huyện Cao Lộc với các tiện ích sau:
- Xem nhà bán, nhà cho thuê văn phòng ở Xã Hải Yến, Huyện Cao Lộc trực tiếp trên bản đồ.
- Xem vị trí và thông tin các dự án của Xã Hải Yến, Huyện Cao Lộc trực tiếp trên bản đồ online và vệ tinh
- Xem các doanh nghiệp BĐS trên bản đồ
- Xem ranh giới của Xã Hải Yến, Huyện Cao Lộc
- Đo khoảng cách từ 1 bất động sản tới các tiện ích khác trên bản đồ của Xã Hải Yến, Huyện Cao Lộc online
- Tìm đường đi giữa các vị trí và địa điểm của Xã Hải Yến, Huyện Cao Lộc
- Xem bản đồ vệ tinh online của Xã Hải Yến, Huyện Cao Lộc   
(http://muabannhadat.com.vn/ban-do/ban-do-Xa-Hai-Yen-Huyen-Cao-Loc-p6293-q390-t10/)
Bây giờ, ở tỉnh Lạng Sơn, ở huyện Cao Lộc và ở xã Hải Yến liệu còn bao nhiêu người BIẾT là đã từng có tồn tại một cái bản người Nùng có tên là Cò Phường ấy ? 
Bây giờ, trong đám hơn 150 người từ Hà Nội về (không ít đã là ông nọ bà kia) liệu còn bao nhiêu người NHỚ rằng đã từng học, ăn, ngủ, uống rượu… với đồng bào Nùng ở cái bản Cò Phường ấy ?
Đến năm ngoái năm kia, hồi giữa tháng 11/2010, nhà cháu đọc báo, thấy thông tin: Ở cái huyện Cao Lộc ấy đang có dự án xây dựng ‘Las Vegas châu Á’ . Thành phố casino đầu tiên ở Việt Nam ấy được đầu tư những 2 tỷ USD. (http://vneconomy.vn/20101117010134477P0C17/ra-mat-du-an-thanh-pho-casino-tai-lang-son.htm)
Rồi cuối tháng 1 năm nay, lại được/bị đọc tin huyện này hiện đang nằm trong “Vương quốc Nhân dân tệ” miền biên ải (http://vneconomy.vn/20120129114037490P0C9920/vuong-quoc-nhan-dan-te-mien-bien-ai.htm)
© Gốc Sậy

Thứ Sáu, ngày 17 tháng 2 năm 2012

Biên Giới Cứng, Biên Giới Mềm

Hôm 23-2-2009, Trung Quốc và Việt Nam làm lễ hoàn tất công trình Phân giới cắm mốc, kết thúc 8 năm triển khai trên thực địa, kết thúc những tranh cãi căng thẳng, kéo dài. Nhưng, những tranh chấp không chỉ diễn ra trong vòng 8 năm ấy. Biết bao câu chuyện xứng đáng ghi vào lịch sử kể từ khi hai nước ký Hiệp định tạm thời, 07-11-1991.
Cột mốc 836/2 ở thác Bản Giốc, tỉnh Cao Bằng được đổ móng bằng khối bê tông lớn. Ảnh: Lê Quang Nhật
Gió Chi Ma
Cho đến tận hôm nay, đường lên cửa khẩu Chi Ma, huyện Lộc Bình, Lạng Sơn, vẫn phải ngưng lại dở dang trước đường Biên 63m. Năm 1993, khi tỉnh Lạng Sơn cho rải đá, lực lượng vũ trang từ phía Ái Điểm, Trung Quốc, tràn sang ngăn cản, “bạn” cho rằng đấy là phần đất thuộc về Trung Quốc cho dù cột mốc 44 vẫn còn. Từ ngày 28-5 cho đến 11-6-1993, hàng trăm binh sĩ có vũ trang từ Ái Điểm tới, theo sau là 15 xe chở đá. Trong khi phía Việt Nam chưa kịp phản ứng, 2 xe “vượt biên” sang đổ đá chồng lên đoạn công nhân Việt Nam đang thi công. Ngay lập tức bộ đội Biên phòng, Hải quan, công nhân, đặc biệt là bà con nông dân Chi Ma xuất hiện. Họ rút.
Kể từ hôm đó, tổ cột mốc 44 được thành lập, 7 cán bộ Biên phòng có nhiệm vụ canh giữ cho mốc 44 trụ vững ở đúng vị trí mà nó đã đứng, kể từ sau Công ước Pháp-Thanh 1887 và 1895. Các anh phải túc trực 24/24, trong gió Chi Ma thổi bạc mặt; trong rét Chi Ma có khi xuống dưới độ Không; dưới một túp lều dựng bằng 6 cọc tre và những thùng giấy carton nằm sâu bên lãnh thổ Việt Nam 5m (vì bị ngăn cản không thể dựng nhà).
“Nhật ký” của tổ ghi nhận 32 sự kiện tiêu biểu xảy ra xung quanh mốc 44: một lần biên phòng Ái Điểm, Trung Quốc, cho dựng một nhà tạm lấn sang đất Việt Nam 2m; 22 lần lực lượng vũ trang Trung Quốc xâm nhập sâu vào đất Việt Nam từ 5-35m; 7 lần xâm canh; 1 lần lén chôn một bia đá sang đất Việt Nam 20m… Chiều 6-2-2009, chúng tôi có mặt ở Chi Ma, phía bên kia mốc 44 là một bức tường đá dày 1m cao 3m, bao bọc đồn Ái Điểm. Trên bức tường đó, sâu hoắm những lỗ châu mai, nhìn sang.
Thiếu tá Lục Văn Moong, người từng là đồn phó Chi Ma 4 năm, nói: “Có rất nhiều chuyện không được ghi chép, đó là những cục đá được ném sang từ phía bên kia lúc nửa đêm. Trận ‘đá kích’ cuối cùng xảy ra là vào năm 2003”. Theo thượng tá Nguyễn Anh Tuấn, phó chủ nhiệm chính trị Biên phòng tỉnh Lạng Sơn : “Anh em đã bám trụ trong điều kiện như thế suốt 15 năm, từ tháng 6-1993 đến tháng 1-2009. Khi viết đề nghị tặng huân chương Chiến công (hạng Ba) cho tổ cột mốc 44, có nhiều câu chuyện đã làm tôi khóc”.
Bản Giốc
Mãi cho tới ngày 14-1-2009, mốc 836 mới được cắm bên triền Bản Giốc. Thác Bản Giốc và cửa Bắc Luân cùng nằm chung trong một “gói đàm phán”, được phân giới sau cùng. Sông Quây Sơn chảy vào đất Việt ở cột mốc 67 (cũ) vòng qua các ngọn núi ở Trùng Khánh, Cao Bằng, khoảng 20km rồi chạy ra mốc 53 (cũ), thành con sông Biên giới dài 15km trước khi chảy sang Trung Quốc ở cột mốc 49 (cũ).
Giờ này, cánh đồng dưới chân Bản Giốc trơ rạ. Chưa tới mùa nước, thác chưa đầy như bức ảnh mà Võ An Ninh đã chụp. Nhưng, cảm giác về một Bản Giốc trọn vẹn vẫn nghèn nghẹn. Theo thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng : “Ta và Trung Quốc đã thoả thuận đường biên giới đi từ mốc 53 cũ, qua cồn Pò Thoong, đến điểm giữa của mặt thác chính”. Trong khoảng thời gian “gói Bản Giốc- Bắc Luân” đang đàm phán, Trung Quốc mấy lần định làm đường trên cồn Pò Thoong, mấy lần bị người dân Đàm Thủy đứng ra ngăn cản. Xưa nay, Pò Thoong vẫn nằm trong vùng quản lý của Biên phòng Việt Nam, người dân vẫn canh tác và lấy đá cát quanh đó. Trận “đá kích” sau cùng mà các cán bộ Biên phòng ghi nhận xảy ra là vào ngày 24-7-2007. Giờ đây, mốc đôi 835 đã được cắm thay thế cho mốc 53: 835/1 nằm bên bờ Trung Quốc của sông Quây Sơn; 835/2 nằm trên cồn, “ phần thuộc về Việt Nam bây giờ là ¼ cồn Pò Thoong ”.
Theo ông Vũ Dũng : “Ta và Trung Quốc nhất trí sẽ cùng hợp tác để phát triển tiềm năng du lịch, kinh tế tại khu vực thác Bản Giốc”. Cũng theo thỏa thuận ấy, thuyền du lịch có thể chở khách từ hai phía sang sát bờ của nhau ngắm thác, miễn là khách của bên này không lên bờ của phía bên kia. Từ xa, có cảm giác, Bản Giốc vẫn quay mặt về. Bên bờ Nam, một thung lũng mênh mông vừa có thể cấy cày vừa có chỗ cho khách tham quan hạ trại. Bên Trung Quốc, bờ sông dốc. Nhưng, nếu như phía Việt Nam chỉ có những lều lán tạm thì phía Trung Quốc, có nhà nghỉ Sơn Trang được xây khá hoành tráng trên một ngọn đồi. Có thể ngồi ở Sơn Trang mà ngắm cùng lúc cả thác cao và thác thấp. Nghe nói trong mấy ngày Tết, khách Việt Nam thăm thác cũng đông nhưng so với Trung Quốc thì không đáng kể. Hôm chúng tôi tới Bản Giốc, ngày 10 tháng Giêng, phía bờ Việt Nam vắng lặng trong khi phía Trung Quốc khách vẫn phải chờ để lên thuyền.
Biên Giới
Ngày 13-12-2008, hai nhóm phân giới Việt Nam và Trung Quốc đã đặt mốc 1224 vào đúng vị trí mốc 44. Nước mắt không thể cầm được trên gương mặt của các chiến sĩ Biên phòng Chi Ma. Các anh đã góp phần giữ được đường biên Hiệp ước 1999 đi cách nơi mà “Trung Quốc muốn” 63m. Tuy nhiên, đường phân giới mới vẫn cắt đi một phần thung ruộng cũ của 3 gia đình ở Chi Ma. Tại Hà Giang, 54 gia đình ở Lũng Cú cũng giao lại cho Trung Quốc 188 ha và nhận từ phía Trung Quốc 66 ha ở một khu vực khác. Trung tá đồn phó Lũng Cú Nông Minh Thạch nói: “Tất nhiên là bà con tâm tư nhưng chúng tôi động viên bà con tin vào Đảng và Nhà nước”. Đường biên giới mới cũng cắt ngang khu 13 nóc nhà của người dân Trung Quốc ở gần Lạng Sơn. Có tới 164 khu vực “có tranh chấp, hoặc có nhận thức khác nhau về hướng đi” như trường hợp của Lũng Cú và Chi Ma, rộng khoảng 227 km2. Sau đàm phán, “quy thuộc khoảng 114,9 km2 cho Việt Nam và khoảng 117,2 km2 cho Trung Quốc”. Phó thủ tướng phụ trách ngoại giao thời kỳ đàm phán Hiệp ước Biên giới, ông Nguyễn Mạnh Cầm, cho rằng: “Kết quả đó là thỏa đáng”.
Nhiều nước trên thế giới cho đến nay vẫn còn những đường biên tranh chấp, thậm chí tranh chấp biên giới vẫn xảy ra với cả những nước như Mỹ và Canada. Không phải chính quyền nào cũng đủ dũng cảm đương đầu với sự phán xét của lịch sử để đặt bút ký vào bản phân chia từng tấc đất của tiền nhân, bởi thương lượng thì phải có đi có lại. Tất nhiên, cho dù có một đường biên chưa phân, nhiều nước vẫn có thể giữ nguyên hiện trạng mà hòa bình chung sống. Họ không phải đối phó với một con sông bị nắn dòng chảy xói vào đất mình; Họ không có một đoạn đường ray, một con đường “vô tư” vòng sang rồi trở thành nơi tranh chấp; họ không gặp những chiến dịch mua râu ngô, mua móng trâu, mua mèo… Biên giới của họ, cả sông núi và lòng người, không gặp phải quá nhiều hiểm trở.
Biên giới đất liền Việt – Trung dài 1.406 km, nhưng: “thời Pháp-Thanh cắm mốc rất thưa; lời văn Công ước mô tả thì đơn giản, bản đồ tỷ lệ nhỏ, nhiều địa danh không thể hiện như bãi Tục Lãm, Tài Xẹc, Dậu Gót…”. Đường Biên giới Hiệp ước 1999, thay vì chỉ cắm 341 cột mốc như thời Pháp – Thanh, có hơn 1500 cột mốc chính và hơn 400 cột mốc phụ (tổng cộng 1971 cột mốc). Nơi nào đường Biên đi qua giữa sông thì mốc được cắm ở hai bờ; nơi nào đường phân giới có những khúc quanh thì cắm thêm mốc phụ.
Tại khu vực Cô Muông, Đàm Thủy, Cao Bằng, đôi bên cắm tới 26 mốc cho một đoạn núi dài chưa tới 2km. So với cột mốc thời Pháp-Thanh, cột mốc hiện nay làm bằng đá granit, có mốc nặng tới gần 1 tấn. Khi chúng tôi tới, mốc 836/2 ở thác Bản Giốc vẫn đang làm dở dang, nhờ thế mà nhìn thấy dàn móng bê tông mới được đổ vô cùng kiên cố.
Nhưng, sở dĩ qua bao nhiêu trắc trở Biên giới Công ước Pháp Thanh vẫn là nền tảng cho công trình đàm phán, phân giới, cắm mốc kéo dài suốt 17 năm qua ; bởi, ngoài những cột mốc thấp bé, vẹt mòn theo năm tháng, còn có những ngôi mộ của cha ông, những nương khoai, nương sắn của người dân hai nước. Cũng tại khu vực Đàm Thủy, ở thôn Lũng Phiăc, đồng tiền mà bà con người Tày, người Nùng vẫn dùng ở đây là Nhân Dân Tệ. Lừa ngựa từ Trung Quốc được dắt sang để thu mua quặng. Lũng Phiăc với hơn 1000 khẩu, có hơn 100 phụ nữ lấy chồng bên Trung Quốc. Dọc theo Biên giới, từ Phong Thổ tới Móng Cái, nhiều gia đình ở bên này có bà con, hoặc bạn bè thâm giao ở bên kia. “Đường biên” ấy không thể nào rành mạch phân chia như đá và bê tông cốt thép
Tất bật bên nồi thắng cố, mặt Mừng Thìn Pín đỏ au. Phiên “chợ cột mốc” mùng 8 Tết rất đông: người từ hương Giàng Vản, tỉnh Vân Nam sang; người từ xã Bạch Đích, huyện Yên Minh, Hà Giang, đến. Mốc 358 vừa mới cắm, nhà chợ xây chửa xong, giao thương đã bắt đầu nhộn nhịp. Theo thượng tá Dương Văn Thịnh, đồn trưởng Biên phòng Bạch Đích: “Trước phân giới cắm mốc, đôi bên vẫn căng thẳng”. Nay thì bà con đã có thể tới chợ. Nay, những nông dân như Mừng Thìn Pín đã có thể xây nhà và bưng nồi thắng cố lên đặt sát đường Biên. Một đường Biên giới mà cho tới năm 1991 vẫn phải rào dậu bằng mìn; một Biên giới mà cho tới trước tháng 1-2009, nhiều nơi bộ đội Biên phòng vẫn còn phải đứng canh cho người dân cày cấy… Khi đang ngồi viết những dòng này, tôi nhận được điện thoại từ Hà Giang, trung tá Thạch cho biết, những cây đào Lũng Cú đã đâm hoa, cho dù, ở Biên giới mùa này vẫn chưa hết những đợt gió lạnh tràn về từ phương Bắc.
Trong khi đó cột mốc 53 từ đời nhà Thanh chỉ đơn sơ.
Huy Đức
Osin Blog & Sài Gòn Tiếp Thị 23-2-2009

Chúng ta thấy gì từ Tiên Lãng ?

Luật Đất đai đã đưa người dân vào tình thế ” cá nằm trên thớt”, sẳn sàng bị nướng bất cứ lúc nào khi các quan tham ráp nhau bày trận nhậu. Trận nhậu hoành tráng Nông Trường Sông Hậu đã không xong,tốn biết bao năng lượng của nhân dân, và công sức của cán bộ các ban ngành. Trận nhậu ngon ở Tiên Lãng cuối cùng cũng bễ nghễ, bát đủa rơi vãi ngổn ngang, chẳng ai được miếng nào lại làm hao mòn uy tín của Nhà nước, mà dân thì được an ủi phần nào, nhờ khí thế của anh em ông Vươn, cho dù có cho là “manh động”.
Trước hết, không nên nhìn Tiên Lãng chỉ là một sự kiện, có mở đầu và có kết thúc. Phải nhìn Tiên Lãng với chiều sâu của nó: là một tiến trình có quy mô về không gian và thời gian. Không gian là khắp lãnh thổ, và thời gian là chưa hề có kết thúc, chừng nào nguyên nhân của mọi nguyên nhân chưa được thừa nhận và triệt tiêu.
Đại tướng Lê Đức Anh đã cảnh báo : “không khéo nó lan ra cả nước…”,  vậy thì cái gì sẽ lan ra ? Sự phản kháng của người dân?  Sự lạm quyền có hệ thống của cán bộ ? Sự mù mờ chồng chất của luật pháp được khai thác bởi quan tham ?  Không chỉ ở Tiên Lãng mới có sự cố gọi là “Tiên Lãng”, mà nó có thể xảy ra ở khắp nơi, những nơi có nạn lạm quyền và có tham nhũng hoành hành .
Theo lời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu, ta nhận ra ít nhất hai điều: chính sách về đất đai có 3 lần thay đổi, và cán bộ có hạn chế năng lực, hoặc quan liêu gì đó. Nhưng 3 lần thay đổi không chỉ áp dụng riêng ở Tiên Lãng, chỉ  có cán bộ ở đó bị hạn chế năng lực, chắc gì đã kém hơn cán bộ ở Phường,Xã, Tỉnh, Thành khác trong cả nước ?
Vụ Tiên Lãng và Nông trường Sông Hậu(NTSH) xứng đáng là điển hình ở hai phía. Phía nhà nước và phía người dân. Phía nhà nước có sự phối hợp của cấp dưới cấp trên, có hệ thống ban ngành chuyên môn đồng tình nhất loạt tham gia, với sự chỉ đạo tập trung, dĩ nhiên là của Đảng.
Bà Ngọc Sương(NS), GĐ NTSH, có một lý lịch cực đẹp. Ông Đoàn Văn Vươn (ĐVV) ở Tiên Lãng cũng có một lý lịch đẹp, cả hai, không có liên quan gì với “bọn xấu” nào đó, cũng hẳn là không bị ai lợi dụng, cũng không ai có sẵn trong người máu côn đồ manh động, mà thuần túy là chuyện làm ăn, lại làm ăn lương thiện của người “cày sâu cuốc bẫm”. Hoạt động của NTSH có tiếng vang cả nước, từng là điển hình. Ông ĐVV, tuy tiếng vang không lớn trong nước, nhưng là điểm sáng của tấm gương lao động, cần cù sáng tạo, đầy nghị lực và đạt thành quả hiếm có.
Tai họa đã ập đến hai người, ở hai nơi khác nhau và thời điểm khác nhau.
Bà NS với án 8 năm tù giam, kháng án lên tòa cấp trên bị bác bỏ. Có luồng gió ngược nào đó cứu vớt, cùng sự can thiệp của nhiều cán bộ lão thành, sau 4 năm gian truân, kiên trì chịu đựng và khiếu kiện, bà đã giành lại được một chút công bằng cùng với tấm thân tàn tạ móp méo và một tinh thần mỏi mệt, ê chề về một lẽ sống. Những người làm nên NTSH và những kẻ hiểu chuyện chỉ biết bùi ngùi và xót xa. Sự cố coi như đã xong, nhưng cụ Đồ Chiểu cho là chưa :
“Tiên rằng : đem bát nước đầy;
Đổ ngay xuống đất hốt rày sao xong ?”
Sự mất mát của một đời người là không thể phục hồi, sự mất mát của xã hội là kéo theo nhiều thế hệ, làm sao hốt lại ?
Ông  ĐVV, sau khi đi một đoạn đường tố tụng, thấy không làm gì được với cái lý của kẻ mạnh, mà mạnh của cả hệ thống, anh em bèn làm súng “hoa cải”, quyết liều một phen.Thà một phút huy hoàng… Cái tức khí trong chiến tranh, nhiều khi làm nên chiến công, nhưng ở đây,” chiến công “ nầy đưa anh em ông vào bóng tối. Vì hiển nhiên là tội “giết người” và “chống người thi hành công vụ”, không cần tính đến cái “công vụ” ấy ra sao ! (Trong thời bình, cái khí tiết chống cường quyền không hẳn kém  giá trị hơn chiến công trong thời chiến). Nay mai đây, anh em ông sẽ lãnh án. Chưa biết án thế nào, nhân dân hẳn là đang nhìn và theo dõi. Sự cố rồi cũng sẽ được giải quyết theo một cách nào đó, nhưng tiến trình tham nhũng và chống tham nhũng vẫn sẽ tiếp tục diễn ra chưa chấm dứt.
Hai cách phản ứng chống cường quyền của bà công dân NS và ông công dân ĐVV, ngoài hai cách đau thương ấy, thì còn cách nào khác tốt hơn ? Xin hỏi cả nước và xin lời tư vấn của Thủ tướng ? Có con đường nào khác không, thưa Thủ tướng ? Hay chỉ cúi đầu chịu đựng xem như là số phận làm cừu? Nếu nhân dân không dám chống cường quyền, thì “khí dân” đâu để chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước như truyền thống  bất khuất đã từng chứng minh ?, mà nghe đâu, chính Thủ tướng cũng đã có một dạo rất anh hùng ? Chúng ta không tán thành, không khuyến khích cho cái gọi là “manh động”, nhưng có loại “manh động mềm” tráo trở luật pháp, lộng giả thành chân, tiếp tục triển khai quyền lực, thì sao ? Hệ thống quan tham, manh động mềm ấy, NQ TW4 nói rõ, bàng bạc khắp cả nước, hay “hệ thống” anh em và vợ cùng con 2 ông ấy là nguy hiểm hơn ? Vụ án đang xem xét theo tính cách hình sự, đã nhóm màu chính trị, và thực sự là chính trị.
Đó là sự cân nhắc giữa ý chí của nhân dân và uy quyền của lãnh đạo, vốn đang được đồng hóa một cách nhầm lẫn với sự ổn định chính trị.
Thử thoát ra khỏi lòng yêu ghét, tâm lý phẫn nộ, tính mê man quyền lợi của đời thường, ta thấy gì từ sự cố Tiên Lãng và Nông trường Sông Hậu ? Cái Ác đã sinh ra từ sự lạc hậu và thiếu dân chủ. Cái lạc hậu đầy tai họa hiện nay chính là Luật đất đai. Ông Kim Ngọc đã từng bị trừng trị vì chống lại chủ trương Hợp Tác Hóa nông nghiệp, Và công thức lạc hậu nầy qua đó đã được bãi bỏ. Vì sao lại tái lập Hợp Tác Hóa nông nghiệp trên địa bàn cả nước, với khái niệm mông lung : “Đất đai là sở hửu của toàn dân”, để rồi không có người dân nào được làm chủ thật sự trên mảnh đất dù lớn dù bé của mình ? Chính là sự cướp giật trắng trợn, cái căn cơ nhất  là sự sống của toàn dân, từ đó hệ thống quan tham trở thành siêu Ban Chủ Nhiệm, thỏa sức tung hoành. Bên cạnh đó, người dân không có cơ chế dân chủ khả dĩ để đấu tranh đòi sự công bằng.” Bộ Công, Bộ Hình, Bộ Binh, Ba Bộ đồng tình…” đó là câu nói người xưa để lại. Chúng ta chưa có được dân chủ ở mức căn bản nhất, cho nên sự cố Tiên Lãng, nông trường Sông Hậu, bà Ngọc Sương, ông Đoàn Văn Vươn là những họa tiết rất ấn tượng trong lòng dân của một tiến trình chưa hề kết thúc.
Hạ Đình Nguyên
15/02/2012
Theo Người lót gạch

Một vài tình tiết bí mật trong cuộc chiến phản kích tự vệ với Việt Nam năm 1979 được tiết lộ trong tài liệu nội bộ

Trong các bài viết về cuộc chiến với Việt Nam, hiện đa số đều nói đến vai trò rất lớn của Đặng Tiểu Bình, đương nhiên, vì ông ta là Phó Chủ tịch Quân ủy khi đó, nhưng cuộc chiến với Việt Nam là quyết định tập thể của trung ương, chứ không phải chỉ có mỗi một mình ông Đặng. Đồng chí Trần Vân cũng có vai trò rất lớn khi đó. Ngày ấy tôi đang học cao trung, có cha làm trong Bộ Tuyên truyền Thị ủy, hàng ngày cũng được đọc các bản báo cáo chiến trận. Năm 1980, tôi được đọc một bản tư liệu nội bộ của trung ương, tổng kết về cuộc chiến lần này. Vẫn còn nhớ một vài nội dung như sau:

I. Cuộc chiến biên giới lần này là cuộc chiến với bên ngoài, lần đầu tiên không có Mao Chủ tịch kể từ ngày lập quốc
Chiến tranh biên giới liên quan đến đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, hết sức phức tạp, nhiều cuộc chiến biên giới kể từ ngày lập quốc đến nay đều dưới sự chỉ huy trực tiếp của Mao Chủ tịch, cho nên, [cuộc chiến lần này] trong tình trạng không có Mao Chủ tịch, liệu có thể vượt qua thử thách, giành được thắng lợi hay không, đây là vấn đề lớn mà rất nhiều người thời ấy đã phải trăn trở. Vì thế, phải làm cho tốt khâu chuẩn bị tư tưởng. Đồng thời, quân đội nhiều năm chưa đánh trận, sức chiến đấu chẳng còn được bao nhiêu, đó cũng là điều đáng nghi vấn.
II.  Phản ứng của Liên Xô là mấu chốt của vấn đề
Khi đó, “Hiệp ước Phòng thủ Chung Xô-Việt” vừa có hiệu lực. Theo qui định của Hiệp ước, đánh Việt Nam cũng có nghĩa là đánh Liên Xô, phía bên kia phải khai chiến với kẻ thù chung. Trung ương cho rằng sẽ có 4 khả năng về phản ứng của Liên Xô: Lăng mạ, dọa dẫm, xung đột quy mô nhỏ, chiến tranh hoặc xâm nhập biên giới quy mô lớn. Khi đó, hai phản ứng đầu được cho rằng chắc chắn là có, xác suất gây xung đột quy mô nhỏ cũng tồn tại, nhưng xác suất gây chiến tranh hoặc xâm nhập biên giới quy mô lớn là tương đối ít. Bởi vì Liên Xô nếu muốn xâm nhập quy mô lớn vào Trung Quốc, thì ở Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô, từ khâu ra nghị quyết cho đến khi hoàn thành việc chuẩn bị chiến tranh cũng phải mất tới nửa năm, tới lúc đó thì Trung Quốc đã rút quân từ lâu rồi (Liên Xô không phát triển chiến tranh với Trung Quốc vì Việt Nam, mà là muốn hoàn thành sự bao vây đối với Trung Quốc, Việt Nam là khu vực quan trọng nhất để họ tranh quyền tranh bá với Mỹ ở Thái Bình Dương, có tác dụng ngăn chặn, uy hiếp đối với cả Mỹ lẫn Trung Quốc).
Nhưng ý đồ chiến tranh của Liên Xô đối với Trung Quốc không rõ ràng lắm, cần phải quan sát một thời gian, đợi cho đến khi họ quan sát xong còn chưa đưa ra được kết luận, thì Trung Quốc đã rút quân mất rồi. Cho nên, vấn đề không phải là lớn lắm, nhưng phải đề cao cảnh giác, chuẩn bị tốt (hiện nay có những người nói không quân Trung Quốc chưa ra tay, là vì sợ MIG – 21 của Không quân Việt Nam, hoàn toàn là hồ đồ. Có những người phê phán Trung Quốc thà để cho chiến sĩ hy sinh nhiều, chứ không dám dùng tên lửa và máy bay. Tất cả những lời phẫn nộ giản đơn này thực sự là không cần thiết, chiến tranh kết hợp cả với chính trị, ngoại giao, không thể chỉ đơn độc dùng chiến tranh để nói về chiến tranh. Lúc đó chủ yếu là ngăn chặn chiến tranh leo thang, sợ Liên Xô có phản ứng quá nhạy cảm, cho nên ngay cả tên lửa cũng chưa sử dụng. Nếu thực sự có xảy ra xung đột Trung-Xô, thì không những mục đích trừng phạt Việt Nam không đạt được, mà trái lại còn bị sa vào hoàn cảnh chiến tranh nghiêm trọng, hai đầu thọ địch. Cho nên việc khống chế quy mô và tầng cấp chiến tranh là hoàn toàn cần thiết. Các vị ở Trung ương là những bậc lão thành cách mạng, đã kinh qua thử thách lâu dài, chẳng lẽ lại không có đủ kinh nghiệm như những cư dân mạng này?
III.  Cống hiến của Trần Vân trong cuộc chiến với Việt Nam
Mấy lần Hội nghị Trung ương trước cuộc chiến, ông [Trần Vân] tỏ ra rất hiểu tình hình bày binh bố trận, tình hình trang bị của quân đội Việt Nam, thậm chí còn rõ hơn cả vị chịu trách nhiệm chỉ huy chiến dịch của quân ta. Ông đưa ra rất nhiều kiến nghị về việc bày binh bố trận, phương án chiến dịch, tiến trình chiến tranh cho quân ta (lúc đó, ông chưa đảm nhận nhiệm vụ ở Quân ủy Trung ương), có thể nói, vai trò của Trần Vân trong toàn bộ cuộc chiến với Việt Nam là hết sức lớn, song đáng tiếc là đã bị chôn vùi trong lịch sử. Đặng Tiểu Bình không trực tiếp theo dõi tình hình chiến dịch, nhưng việc chọn tướng (Hứa Thế Hữu, Dương Đắc Chí), tuyên bố khai chiến và kết thúc chiến tranh thì chủ yếu là từ ông ta, ông ta theo dõi cả tiến trình chiến dịch, nhưng đưa ra những chỉ thị cụ thể thì không.
IV.  Phản ứng của Liên Xô
Khi cuộc chiến bắt đầu, Liên Xô bày tỏ khiển trách mạnh mẽ, đồng thời cảnh cáo Trung Quốc phải rút quân ngay lập tức. Khi cuộc chiến diễn ra đến ngày thứ 7, Liên Xô ra tuyên bố, nếu Trung Quốc rút quân ngay bây giờ thì còn kịp, nếu không sẽ phải đối mặt với những hậu quả nghiêm trọng không thể tránh khỏi. Trước tình hình này, Trung Quốc đã không có động thái gì, mà tiếp tục chuẩn bị tấn công Lạng Sơn, hòng thúc quân Việt Nam phải rút khỏi Campuchia, nhưng đáng tiếc là mục đích này đã không đạt được (cho nên sau đó chỉ tuyên truyền về các anh hùng chiến tranh, còn việc tuyên truyền về ý nghĩa của cuộc chiến đã bị giảm bớt).
Thực tế, một số nước Đông Nam Á tuy mồm thì nói phản đối hoặc hô hào nọ kia, nhưng trong bụng thì vẫn khoái chí khi thấy Việt Nam bị trừng phạt. Dĩ nhiên, nếu Trung Quốc chiếm Việt Nam, chắc sẽ khiến cho những nước này bị hoảng hốt, bởi những nước này cũng đang hết sức cảnh giác với Trung Quốc. Cùng lúc, Trung Quốc tăng cường viện trợ gấp rút cho Campuchia. Lúc này Trung – Mỹ vừa mới thiết lập bang giao, mối quan hệ hết sức mặn nồng, mọi người đã được công khai nghe Đài Tiếng nói Hoa Kỳ  –  “Voice of America”. Lúc đó, tôi nghe đài Mỹ nói, Trung Quốc vừa viện trợ cho Campuchia 24 chiếc xe tăng, Campuchia không biết sử dụng, thế là rơi vào tay quân đội Việt Nam.
V. Tình hình biên giới Trung-Xô
Khi cuộc chiến bắt đầu, cả hai phía khu vực biên giới Trung-Xô ở vùng Đông Bắc và Nội Mông đều căng thẳng cao độ, luôn trong trạng thái cảnh giới. Hai bên đều hết sức lo sợ đối phương đánh vào, kết quả là, phía Trung Quốc có những vùng đang tranh nhau mua hàng hóa, bỗng có người kêu lên “Liên Xô đánh vào rồi kìa!”, thế là cả đám người hoảng hốt bỏ chạy về nội địa, khiến cho phía Liên Xô và Mông Cổ cũng hoảng loạn theo, cho là Trung Quốc phân tán dân để chuẩn bị chiến tranh, kết quả, phía Liên Xô cũng tạo thành một cuộc đại lưu tán náo loạn, cố sức rút chạy về phía sau. Trung ương đã phê bình đảng ủy và chính quyền địa phương, nói rằng không được để “tiền tuyến thì đánh thắng trận, hậu phương thì làm trò cười cho thiên hạ”.
Kết cục, Liên Xô đã không tuân theo hiệp ước với Việt Nam, ngay cả xung đột quy mô nhỏ cũng không xảy ra.
Tác giả: Triệu Cấp Báo
Người dịch: Quốc Thanh
30-5-2011
Bản tiếng Việt © Gốc Sậy
Nguồn: Sina

Nhớ lại đêm 17 tháng 2 năm 1979

Đây là bản đầy đủ so với bản đăng trên BBC năm 2009, những câu chữ đỏ đậm là những câu bị BBC lược bỏ. Bài này đã đăng trên HDTG blog ngày này năm ngoái. Cho lên lại để những ai chưa biết thì đọc.
Ông Dương Danh Dy,
nhà nghiên cứu về Trung Quốc,
cựu lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu.
Tháng 9 năm 1977, tôi được lãnh đạo Bộ Ngoại giao Việt Nam cử sang làm Bí thư thứ nhất tại Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh, chuyên làm công tác nghiên cứu. Quan hệ hai nước Việt Trung, từ lúc tôi  ở trong nước đã xấu, lúc này càng xấu đi từng ngày:
Dòng “nạn kiều” dưới sự xúi bẩy kích động của nhà đương cục Trung Quốc vẫn lũ lượt kéo nhau rời khỏi Việt Nam, một phần về Trung Quốc một phần đi sang các nước khác. Lấy lý do cần có tiền để “nuôi nạn kiều” ngày 13/5/1978 lần đầu tiên nhà cầm quyền Trung Quốc tuyên bố cắt một phần viện trợ không hoàn lại đã ký cho Việt Nam và rút một bộ phận chuyên gia về nước.  Không lâu sau đó, ngày 3/7/1978 chính phủ Trung Quốc tuyên bố cắt hết viện trợ và rút hết chuyên gia đang làm việc tại Việt Nam về nước. (Cầu Thăng Long và nhiều công trình khác bị dở dang- sự kiện này không khác chuyện đã xảy ra giữa Liên Xô với Trung Quốc trước đó và không ngoài dự liệu của ta). Cùng với việc này là sự kiện: một số rất ít trong những công dân Trung Quốc năm 1966 gửi tiền giúp cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta nay gửi thư tới đòi với những lời lẽ khiếm nhã (kèm theo cả giấy chứng nhận của đại sứ quán ta ghi số tiền đã ủng hộ). Có lẽ tôi là một trong số mấy đồng chí công tác tại đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh được chứng kiến cả hai cảnh tượng: vui mừng cảm động vì nhân dân Trung Quốc anh em hết lòng giúp đỡ ủng hộ sự nghiệp chống Mỹ của dân tộc ta năm đó, và đau buồn vì lúc này có một bộ phận dù là rất nhỏ người Trung Quốc do bị nhà đương quyền tuyên truyền lừa bịp mà đã có hành động, lời nói không hay.
Xung đột biên giới trên đất liền, nhất là tại điểm nối ray trên đường sắt liên vận Hà Nội-Bằng Tường ngày càng tăng (có lúc có nơi đã xảy ra đổ máu) toàn bộ vụ, việc đều  do phía Trung Quốc cố tình gây ra.
Tháng 7 năm 1978 chúng tôi được phổ biến Nghị Quyết TW 4, tinh thần là phải thấu suốt quan điểm nắm vững cả hai nhiệm vụ vừa xây dựng kinh tế vừa tăng cường lực lượng quốc phòng, chuấn bị tốt và sẵn sàng chiến đấu.
Tháng 11 năm 1978 ta ký “hiệp ước hữu nghị và hợp tác” với Liên Xô.
Đến tháng 12 năm 1978 mọi chuẩn bị cho tình huống xấu nhất trong đại sứ quán đã làm xong. Sứ quán nhận được máy phát điện chạy xăng (và đã cho chạy thử), gạo nước, thực phẩm khô đã được tích trữ đầy đủ, đại sứ quán mấy nước anh em thân thiết cũng nhận được các đề nghị cụ thể khi bất trắc xẩy ra… Tôi được đồng chí đại sứ phân công đọc và lựa chọn các tài liệu lưu trữ quan trọng, cái phải gửi về nhà cái có thể hủy (nhờ đó biết thêm được nhiều điều trước đây trong quan hệ ngoại giao, kinh tế… giữa hai nước..)
Tháng 12 năm 1978 trong chuyến thăm mấy nước Đông Nam Á, trong một cuộc trả lời phỏng vấn, Đặng Tiểu Bình vừa hùng hổ vừa tức tối nói một câu không xứng đáng với tư cách của một người lãnh đạo một nước được coi là văn minh: “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học”(tôi không bao giờ có thể quên vẻ mặt lỗ mãng và lời nói “bạo đồ” đầy giọng tức tối của ông ta qua truyền hình trực tiếp và tiếng người phiên dịch sang tiếng Anh là “hooligan”- tức du côn, côn đồ)
Rồi ngày 22 tháng 12 năm 1978, Trung Quốc đơn phương ngừng vận chuyển hành khách xe lửa liên vận tới Việt Nam, rất nhiều cán bộ, sinh viên Việt Nam từ Liên Xô Đông Âu trở về bị đọng lại trong nhà khách sứ quán chờ đường hàng không và cuối cùng đến đầu tháng 1 năm 1979 đường bay Bắc Kinh Hà Nội cũng bị cắt.
Đầu tháng 1 năm 1979 quân đội ta bất ngờ phản công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng chỉ trong thời gian ngắn đã đập tan sức chống cự của bè lũ Polpot tiến vào giải phóng Phnom Penh. Đây cũng là điều mà Đặng Tiểu Bình không ngờ.  Lại một quả đắng khó nuốt nữa đối với nhà lãnh đạo Trung Quốc này (có dịp xin nói về cảnh cán bộ sứ quán và chuyên gia Trung Quốc tại Cămpuchia lúc đó đã rút chạy như thế nào, và một vị tướng của ta đã cố tình tiến chậm vào Phnom Penh để cho họ có thể đi thoát)
Cuối tháng 1 năm 1979 Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ, được Tổng thống Carter đón tiếp với nghi lễ rất cao, hai nước quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao, và không biết còn bàn bạc gì nữa? Trên đường về nước Đặng Tiểu Bình ghé qua Nhật Bản.
Trước những tình hình trên, một số anh em nghiên cứu chúng tôi đã khẳng định khá sớm: hai nước anh em thân thiết như răng với môi này không đánh nhau một trận không xong. Lý trí mách bảo như vậy, thậm chí còn mách bảo hơn nữa: Trung quốc đã từng gây cuộc chiến tranh biên giới với Ấn Độ và nhất là với Liên Xô và cả hai lần họ đều bất ngờ ra tay trước. Thế nhưng về mặt tình cảm (bây giờ nhìn lại thì còn có cả sự ngây thơ, cả tin nữa) vẫn hy vọng dù chỉ là chút ít thôi: quan hệ Việt Trung đã từng gắn bó, sâu nặng như vậy, họ không thể một sớm một chiều trở mặt được!) Không nói tới những khoản viện trợ to lớn có hiệu quả, những tình cảm thân thiết như anh em trước đây, mà ngay trong những giờ phút căng thẳng này, tôi vẫn không thể quên được những việc làm tốt hay tỏ ra biết điều của một số cán bộ Trung Quốc:
Năm 1977, Nhà máy dệt Vĩnh Phúc do Trung Quốc viện trợ cho ta, sau một hồi chạy thử vẫn không hiện đúng màu nhuộm cần thiết, một kỹ sư Trung Quốc đã bí mật cung cấp cho ta bí quyết. Khi các chuyên gia Trung Quốc khác thấy kết quả đó, không biết do ai chỉ đạo, họ đã “xử trí” anh một cách tàn bạo, anh bị đánh tới chết. Khi được thông báo tin tức này, chúng tôi vô cùng cảm phục tinh thần quốc tế và lương tâm kỹ thuật chân chính của anh.
Khi đoàn chuyên gia Trung Quốc thi công cầu Thăng Long bị cấp trên của họ điều về nước, một số đồng chí đã để lại khá nhiều bản vẽ, tài liệu kỹ thuật về chiếc cầu này cho ta. Tôi biết chiếc cầu Chương Dương do ta tự thiết kế thi công sau này đã dùng một số sắt thép do phía Trung Quốc đưa sang để dựng cầu Thăng Long, nhưng chưa rõ các nhà thiết kế cầu Chương Dương có được hưởng lợi gì từ những tài liệu mà mấy chuyên gia Trung Quốc do không đồng tình với cách làm sai trái của người lãnh đạo đã dũng cảm để lại cho chúng ta hay không?
Mặc dù khi truyền hình trực tiếp , Trung Quốc không thể cắt được câu nói lỗ mãng của Đặng Tiểu Bình: Việt Nam là côn đồ, nhưng báo chí chính thức ngày hôm sau của Trung Quốc đã cắt bỏ câu này khi đưa tin (chỉ còn đăng câu “phải dạy cho Việt Nam bài học” , nghĩa là đỡ tệ hơn, và như vậy có phải vẫn có người Trung Quốc còn chút lương tri?)
v.v…
Trong bối cảnh trên, cuộc chiến tranh biên giới đẫm máu ngày 17/2/1979 do nhà cầm quyền Trung Quốc – mà người chủ xướng là Đặng Tiểu Bình, phát động, về tổng thể không bất ngờ đối với chúng tôi, nhưng về thời gian cụ thể và nhất là về qui mô binh lực mà Trung Quốc sử dụng thì quả là không tính tới. Sau này những day dứt về dự báo không chính xác trên đã có phần giảm bớt, khi được biết có một số cán bộ trung cấp và một số đơn vị quân đội Trung Quốc chỉ sau khi đã tiến vào lãnh thổ nước ta rồi họ mới biết là phải đi đánh Việt Nam cũng như một số tin tức liên quan khác, chưa tiện nói bây giờ!
10 giờ tối ngày 17/2/79 (tức 9 giờ tối Việt Nam) tôi bật đài nghe tin của đài tiếng nói Việt Nam, không thấy có tin quan trọng nào liên quan đến hai nước, tôi chuyển đài khác nghe tin. Khoảng 10 giờ 30 phút đồng chí Trần Trung, tham tán đại biện lâm thời (thời gian này đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh về Việt Nam họp) đến đập mạnh vào cửa phòng tôi: Dy, lên phòng hạnh phúc họp ngay, Trung Quốc đánh ta rồi!
Ít phút sau, một số đồng chí có trách nhiệm đã có mặt đông đủ. Đồng chí Trần Trung phổ biến tình hình nhà vừa thông báo: sáng sớm ngày 17/2, bọn bành trướng Trung Quốc đã tấn công trên toàn tuyến biên giới trên đất liền (6 tỉnh của Việt Nam lúc đó) với qui mô 20 sư đoàn bộ binh. Hai sư đoàn chủ lực của ta cùng với bộ đội địa phương và anh chị em dân quân du kích đang anh dũng chống trả. Nhiệm vụ của chúng ta bây giờ là dịch ngay bản Tuyên Bố của chính phủ ta ra 3 tiếng Trung, Anh, Pháp để phục vụ cho cuộc họp báo quốc tế sẽ phải tổ chức và để thông báo càng rộng càng tốt cho một số nhân dân Trung Quốc biết rõ sự thực.
Bộ phận dịch tiếng Trung, dưới sự chỉ huy của anh Thái Hoàng – Bí thư thứ nhất, gồm hai đồng chí Hoàng Như Lý, bí thư thứ ba và Chu Công Phùng cán bộ phòng chính trị, đã dịch văn bản một cách “ngon lành”; đồng chí Lê Công Phụng, bí thư thứ ba phụ trách phần dịch tiếng Anh cũng không vất vả gì; riêng phần tiếng Pháp, đồng chí Minh, phiên dịch tiếng Pháp do mới ra trường không lâu, nên có đôi lúc tỏ ra luống cuốngtôi chủ động tới tra giúp một số từ mà đ/c quên mất giống (trong tiếng Pháp, các mạo từ, tính từ .. tùy theo danh từ là giống đực hay giống cái .. mà cách viết có khác).
Guồng máy dịch, in roneo, soát, sửa lại  bản in nhanh chóng chạy đều, mọi người làm việc không biết mệt với lòng căm giận bọn bành trướng. Thi thoảng mấy câu chửi bọn chúng như kìm nén không nổi lại khe khẽ bật ra từ vài đồng chí. Không căm tức uất hận sao được? Dù đã dự liệu nghiêm túc nhưng vẫn bất ngờ về thời gian (cùng một thời gian trên tuyến biên giới dài hơn 1000 km, lại chọn đúng ngày nghỉ) và qui mô (một lực lượng đông tới mấy chục vạn quân chính qui với nhiều xe tăng, đại bác và mấy chục vạn dân công phục vụ mà lại gọi là “đánh trả tự vệ”)
Khi chúng tôi hoàn thành công việc thì trời đã hửng sáng (đài BBC sau đó đã đưa tin, tối ngày 17/2/1979 toàn Đại sứ quán Việt Nam để sáng đèn). Những người ngoài 40, 50 chúng tôi sau một đêm vất vả không ngủ vẫn tỏ ra bình thường nhưng riêng hai đồng chí Phùng và Minh đang tuổi ăn tuổi ngủ, tuy được đồng chí Đặng Hữu – Bí thư thứ nhất, tiếp sâm, nhưng vẻ mặt sau một đêm căng thẳng đã lộ nét  mệt mỏi. Thương cảm vô cùng.
Tuy vậy, chúng tôi đã nhanh chóng bước vào ngày làm việc mới với tất cả sức mạnh tinh thần và lòng căm thù bọn bành trướng bá quyền, nước lớn.
Cuộc chiến tranh do nhà cầm quyền Bắc Kinh mà người chủ xướng là Đặng Tiểu Bình gây ra, kết thúc đã 30 năm.
Sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ, vì nghĩa lớn, chúng ta đã thực hiện  đúng lời cam kết: không nhắc lại chuyện cũ. Nhưng ở phía bên kia, một số kẻ không biết điều, vẫn thường xuyên, xuyên tạc sự thật lịch sử, rêu rao, tự cho là đã “giành thắng lợi”, là “chính nghĩa”, là “Việt Nam bài Hoa, Việt Nam chống Hoa, Việt Nam “xua đuổi nạn kiều”, Việt Nam xâm lược Cămpuchia” v.v.. Cho đến hôm nay, một số cuốn sách lịch sử, sách nghiên cứu, không ít bài thơ, truyện, ký…vẫn nhai lại những luận điệu trên dù hai nước đã bình thường hóa quan hệ được gần hai chục năm.
Tôi  nghỉ hưu đã được hơn mười năm nhưng do vẫn tiếp tục nghiên cứu về Trung Quốc, nên thỉnh thoảng vẫn có dịp gặp các bạn cũ công tác tại Bộ Ngoại Giao Trung Quốc trước đây cũng như nhiều học giả Trung Quốc. Không dưới một lần tôi đã thân tình và nghiêm túc nhắc họ: nếu các bạn chỉ nhận phần đúng trong những việc xảy ra trong thời gian trước đây, đổ hết lỗi cho cho người khác thì quan hệ Việt Trung dù ai đó có dùng những chữ vàng để tô vẽ cũng không thể nào xóa bỏ được những vết hằn lịch sử do người lãnh đạo của các bạn gây ra, quan hệ hai nước không thể nào phát triển tốt đẹp được, vì những hoài nghi lớn của nhân dân hai bên chưa được giải tỏa?
Mong rằng một số nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện nay nên nhớ chuyện sau: nếu không biết lời dặn của Chủ tịch Mao với đoàn cố vấn Trung Quốc khi sang giúp Việt nam thời kỳ chống Pháp: ‘tổ tiên chúng ta trước đây đã làm một số việc không phải với nhân dân Việt Nam, các anh sang giúp nước bạn lần này là để trả nợ cho cha ông’ và  nếu không thấy trong chuyến thăm Việt Nam lần đầu tiên sau khi hòa bình lập lại, Thủ Tướng Chu đã tới dâng hương tại đền thờ Hai Bà  thì chắc chắn những người Việt Nam thời đó không dễ quên được chuyện cũ để nhanh chóng, hòa hiếu với Trung Quốc như sau đó đâu?
Vết thương chung phải do cả hai bên cùng đồng tâm, thành ý chữa trị thì mới có thể lành hẳn.
Chúng ta không nói lại chuyện cũ là vì nghĩa lớn, chứ không phải vì chúng ta không có lý, không phải vì người Việt Nam sợ hãi hay chóng quên.
Dương Danh Dy
Theo Viet-Studies

Thứ Năm, ngày 16 tháng 2 năm 2012

Ngọn lửa Đồng Nọc Nạng

Hôm nay (16-2) kỷ niệm 84 năm ngày xảy ra sự kiện Đồng Nọc Nạng (16-2-1928 – 16-2-2012), là lễ giỗ của những người nông dân đã dám đứng lên chống áp bức bất công giành lại mảnh đất mà họ đã đổ xương máu gầy dựng.
Nhân viên khu di tích Nọc Nạng giới thiệu với khách tham quan về trận quyết tử của gia đình ông Mười Chức năm 1928 được tái hiện qua mô hình - Ảnh: Chí Quốc
Đó là câu chuyện đầy bi tráng về những người nông dân đứng lên chống áp bức, bất công để giành lại mảnh đất mà họ đã đổ xương máu gầy dựng. Chiều sắp tắt. Trước cửa khu di tích lịch sử Nọc Nạng (xã Phong Thạnh A, huyện Giá Rai, Bạc Liêu), có ba người khách phương xa vừa đến xin vào thắp nhang, viếng đền.
Họ là ba người của ba thế hệ: cụ Hai Long (83 tuổi), ông Lư Đình Một (45 tuổi, con rể cụ Hai Long) và em Lư Thanh Huệ (học sinh, 13 tuổi, con gái ông Một) ở thị trấn Hộ Phòng, huyện Giá Rai.
“Ngày 16-2 là lễ giỗ của những người nông dân đã dám đứng lên chống áp bức bất công giành lại mảnh đất mà họ đã đổ xương máu gầy dựng. Dù không quen biết nhưng năm nào cha con, ông cháu tôi có bận cách mấy cũng đến bày tỏ lòng kính trọng đối với bậc tiền nhân” – cụ Hai Long tâm sự.
Ngày đẫm máu và “phiên tòa nhân ái”
Ông Nguyễn Minh Chánh kể: “Năm 2004, khi tôi đang là tổng biên tập báo Bạc Liêu, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt sau khi đến thăm gia đình bà Nguyễn Thị Liễu (em gái ông Mười Chức) đã gọi tôi ra dặn dò riêng: “Chú ráng lo cho gia đình bà Liễu. Bà còn khó khăn lắm”. Sau bận đó bà Liễu đã được trợ cấp 600.000 đồng/tháng. Hai năm sau bà Liễu qua đời, thọ 96 tuổi”.
Không chỉ có ba thế hệ trong gia đình cụ Hai Long, hôm nay tròn 84 năm ngày xảy ra vụ án bi thảm Đồng Nọc Nạng, ngọn lửa vùng lên đấu tranh giành lấy nguồn sống, giành lấy thành quả lao động từ mồ hôi nước mắt của người nông dân thời thuộc Pháp vẫn cháy mãi trong lòng người dân Bạc Liêu.
Bà Nguyễn Thị Lựa (53 tuổi, thế hệ thứ ba của những người nông dân đã làm nên sự kiện Đồng Nọc Nạng) bồi hồi kể lại câu chuyện mà bà đã nghe được từ chính người bà cô của mình là Nguyễn Thị Liễu (em thứ 12 của ông Mười Chức)…
Cách nay hơn trăm năm, vùng đất Phong Thạnh A vẫn còn hoang vu, hùm beo, rắn rết đầy rẫy. Những lưu dân hiếm hoi vào đây khai khẩn phải chặt cây tràm, cây đước làm nọc cắm xuống sình lầy rồi gác nạng lên để quây chòi ở tạm tránh dã thú tấn công. Địa danh Nọc Nạng ra đời từ đó.
Trong số những người dân tới đây khai hoang lập nghiệp đầu tiên đó có cụ tổ của bà là thân sinh ra hương chánh Nguyễn Thành Luông. Đến năm 1908, cha ông Luông mất, để lại cho các con khoảng 4ha đất. Anh em ông Luông cùng chung sức kế tục công cuộc khai hoang…
Tổng hợp nguồn tư liệu do những thế hệ con cháu kể lại, người ta biết rằng đến năm 1913, tổng diện tích đất khai hoang của hương chánh Nguyễn Thành Luông đã lên tới 73ha. Để xác lập chủ quyền, anh em ông Luông đã mời Viện trắc địa đến đo vẽ và được cấp bản đồ thửa. Hương chánh Luông qua đời, con trai cả là Nguyễn Văn Toại thừa kế chủ quyền.
Sự việc bi thảm khởi nguồn vào năm 1917, khi một Hoa kiều giàu có ở Bạc Liêu là Bang Tắc (còn có tên là Mã Ngân) vì lòng tham đã đứng ra mua lại phần đất giáp ranh ông Toại do bà Nguyễn Thị Dương đứng bán, nhưng trong giấy tờ mua bán đã gian lận ghi trùm luôn đất của ông Toại. Tranh chấp nổ ra. Qua nhiều cấp phân xử, do Bang Tắc đút lót cho nhà chức trách nên phần thua thiệt luôn về gia đình ông Toại.
Đỉnh điểm của bi kịch xảy ra ngày 16-2-1928, khi hai viên cò Pháp là Bauzou và Tournier cùng nhiều lính mã tà từ Bạc Liêu đến tịch thu lúa gia đình ông Toại vừa thu hoạch.
Trước sự cướp bóc trắng trợn thành quả lao động của gia đình, anh em nhà ông Toại đã chống trả kịch liệt và hậu quả là bốn người em ông Toại là ông Mười Chức, Nhẫn, Nhịn, và bà Nghĩa (vợ ông Mười Chức) đang mang thai đã tử thương.
Về phía những người “cưỡng chế”, cò Tournier bị Mười Chức đâm thủng bụng khi y nã đạn vào ông, và viên cò đã chết sau đó.
Tòa đại hình Cần Thơ mở ngày thứ sáu 17-8-1928, do ông Dde Rozario ngồi ghế chánh thẩm đã tuyên một bản án mà theo tường thuật của nhà báo Lê Trung Nghĩa đăng trên Diễn đàn Đông Dương ngày 20-8-1928 và nhiều tờ báo bằng tiếng Pháp, bản tại Sài Gòn lúc đó là: “Tòa vào phòng để thảo luận bàn cãi rất lâu, sau đó trở ra tuyên một bản án mà không một bản án nào có thể công bằng và nhân ái hơn. Người đàn bà cao tuổi (vợ hương chánh Nguyễn Thành Luông) đứng lên từ hàng ghế ngồi mà bà đã ngồi từ thứ sáu để cảm ơn luật sư và các vị quan tòa người Pháp. Đôi mắt gần như mù lòa của bà ràn rụa nước mắt vì vui sướng. Những quy tắc ngặt nghèo về trật tự của tòa được bỏ qua, một đám đông dân chúng tràn vào phòng xử án trước sự ngạc nhiên của những người giữ trật tự”.
Những nông dân bị giam giữ trong vụ việc được trả tự do, mọi sự khiếu nại của nguyên đơn được đáp ứng.
Hình ảnh những người đã tham gia trận quyết tử với người Pháp năm 1928 được lưu giữ tại khu di tích Nọc Nạng - Ảnh: Chí Quốc
Phá án nhờ báo chí
Ông Nguyễn Minh Chánh, chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh Bạc Liêu, tâm sự: “Vụ án Đồng Nọc Nạng được đưa ra ánh sáng có công rất lớn của báo chí thời ấy, mà vai trò lớn nhất là của nhà báo Lê Trung Nghĩa”.
Ông Nghĩa sinh tại Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, vào Sài Gòn học và tốt nghiệp Trường sư phạm Sài Gòn. Đi dạy ba năm, ông bất mãn chế độ cai trị của Pháp và chuyển sang viết báo bằng tiếng Việt và tiếng Pháp. Ông cộng tác với Đông Pháp thời báo, Diễn đàn Đông Dương, Đuốc Nhà Nam
Khi xảy ra vụ án Đồng Nọc Nạng, ông Lê Trung Nghĩa đã về Bạc Liêu gặp gỡ các nhân chứng và có nhiều bài điều tra đăng trên các báo này, gây sự chú ý mạnh mẽ của công chúng và giới chức chính quyền.
Cách đây hơn hai năm, ông Nguyễn Minh Chánh cùng ông Nguyễn Trung Kiên (nguyên giám đốc Sở Văn hóa – thông tin tỉnh Bạc Liêu) trong quá trình tìm hiểu, bổ sung tư liệu về vụ án Đồng Nọc Nạng, đã may mắn được gặp bà Lê Liễu Sương (cháu gọi nhà báo Lê Trung Nghĩa là bác) cung cấp nhiều tư liệu quan trọng bằng tiếng Pháp được lưu trữ tại Thư viện Khoa học tổng hợp TP.HCM, trong đó có bài báo của ông Lê Trung Nghĩa tường thuật lại diễn biến phiên tòa xét xử vụ án do Tòa đại hình Cần Thơ tiến hành (đăng trên Diễn đàn Đông Dương, ra ngày 20-8-1928).
Các nguồn tin cũng nói rằng chính nhà báo Lê Trung Nghĩa đã tác động tới các luật sư để những người này hiểu rõ bản chất vụ việc và đứng ra bênh vực cho những người nông dân thấp cổ bé họng.
Kỷ niệm 84 năm sự kiện Đồng Nọc Nạng
Hôm nay (16-2), ban tổ chức lễ hội huyện Giá Rai long trọng tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 84 năm ngày xảy ra sự kiện Đồng Nọc Nạng (16-2-1928 – 16-2-2012).
Tại khu di tích lịch sử Nọc Nạng sẽ có các trò chơi dân gian như kéo co, thả diều, gánh nước về làng, thi đấu bóng chuyền, bóng đá tứ hùng và các hoạt động ôn lại truyền thống đấu tranh hào hùng của nông dân Giá Rai nói riêng, nông dân Bạc Liêu nói chung, góp phần giáo dục truyền thống và lòng yêu quê hương, đất nước của nhân dân và thế hệ trẻ.
NGỌC TRÂN
Tấn Đức- Chí Quốc- Minh Quốc