Thứ Bảy, ngày 03 tháng 3 năm 2012

Sao em trông đám này giông giống mấy con tép nhà anh Vươn..

Điều gì làm một quốc gia trở nên giàu có?[1]

Nếu bạn là lãnh đạo và bạn muốn đất nước trở nên giàu có hơn thì bạn phải làm gì? Theo ý kiến của Daron Acemoglu, nhà kinh tế được Huy chương Clark từ Học viện công nghệ Massachusetts (MIT)[2] có một giải pháp đơn giản: đó là bầu cử tự do
Chúng ta (nước Mỹ-ND) là những người giàu có, những người giàu, đã phát triển. Trong khi hầu hết phần còn lại của thế giới – Châu Phi, Nam Á và Nam Mỹ, những người Somali, Bolivia và Bangladesh– là những người nghèo. Thế giới đã luôn bị chia tách thành người giàu và người nghèo, những người khỏe mạnh và ốm yếu, những người no đủ và đói ăn. Tuy nhiên, tầm mức của sự bất bình đẳng giữa các quốc gia như ngày nay là chưa từng xảy ra: tính trung bình, một người Mỹ giàu gấp 10 lần một người Guatemala, giàu hơn 20 lần so với một người Bắc Triều tiên và hơn 40 lần so với một người sống ở Mali, Ethiopia, Congo hay Sierra Leone.
Câu hỏi mà các nhà khoa học xã hội đã vật lộn hàng thế kỷ mà không giải đáp thành công là: tại sao lại như vậy? Nhưng lẽ ra câu hỏi cần được đặt ra là: làm cách nào để thay đổi điều đó? Bởi vì sự bất bình đẳng không phải đã được quyết định từ trước. Một quốc gia không giống một đứa trẻ – nó không được sinh ra đã giàu hay nghèo. Chính là chính phủ của nó đã làm quốc gia đó trở nên như thế.
Vào giữa thế kỷ 18, nhà khoa học chính trị người Pháp là Montesquieu đã đưa ra một cách giải thích vô cùng đơn giản về sự bất bình đẳng giữa các quốc gia: người dân ở xứ nóng vốn đã lười từ trong bản chất. Một số người khác cũng đưa ra cách giải thích của mình, chẳng hạn: Đạo đức trong công việc của người theo đạo Tin lành có lẽ là động lực chính cho thành công của những nền kinh tế tư bản theo như quan điểm của Max Weber? Hoặc có lẽ những nước giàu nhất là những quốc gia trước đó là thuộc địa của Anh? Hoặc có thể chỉ đơn giản như quốc gia đó có phần đông dân số là hậu duệ của người châu Âu? Vấn đề đối với tất cả các lý thuyết này là trong khi nó rất phù hợp với một số các trường hợp cụ thể, các trường hợp khác lại chứng tỏ nó hoàn toàn không đúng.
Điều đó cũng đúng với những lý thuyết hiện đang được truyền bá. Chẳng hạn nhà kinh tế Jeffrey Sachs, giám đốc Viện Địa Cầu ở Đại học Columbia (Earth Institute, Columbia University), đã gán sự thành công tương đối của những quốc gia cho địa lý và khí hậu. Theo ông, ở những vùng nghèo nhất thế giới, đất đai bạc màu ở những vùng nhiệt đới làm cho canh tác nông nghiệp trở nên khó khăn. Khí hậu ở đây đã kích thích bệnh tật, đặc biệt là sốt rét. Nếu chúng ta có thể sửa chữa những vấn đề đó, dạy người dân ở những vùng này các kỹ thuật canh tác tốt hơn, loại trừ bệnh sốt rét hoặc ít nhất trang bị cho họ thuốc artemisinin (một loại thuốc chống sốt rét hiệu quả-ND) để chống lại căn bệnh chết người này thì chúng ta có thể loại trừ được nghèo đói. Hoặc tốt hơn nữa, có lẽ chúng ta nên di chuyển những người này đi nơi khác và từ bỏ những vùng đất khắc nghiệt của họ.
Jared Diamond, nhà sinh học nổi tiếng và là tác giả của những quyển sách bán rất chạy có cách lý giải khác: cội nguồn của sự bất bình đẳng trên thế giới bắt nguồn từ lịch sử thuần hóa những loài thực vật, động vật và tiến bộ công nghệ. Trong câu chuyện của Diamond, những nền văn hóa đầu tiên học được cách trồng trọt cũng là những người đầu tiên đã học được cách làm sao để sử dụng cái cày và sau đó cũng là những người đầu tiên chấp nhận các công nghệ khác, là động lực của mọi thành công về kinh tế[3]. Nếu như vậy thì có lẽ giải pháp cho sự bất bình đẳng trên thế giới nằm ở công nghệ – nối kết các nước đang phát triển bằng Internet và điện thoại di động.
Trong khi Sachs và Diamond đã đưa ra một cái nhìn sâu sắc vào một số khía cạnh của nghèo đói, họ cũng chia sẻ một số điểm chung với Montesquieu và những lý thuyết đã nói ở trên: họ đã bỏ qua động cơ (incentives). Con người cần động cơ để đầu tư và trở nên giàu có hơn. Họ cần biết là nếu họ làm việc chăm chỉ, họ có thể làm ra tiền và thực sự giữ được những đồng tiền đó. Chìa khóa để đảm bảo những động cơ đó là những thể chế tốt – luật pháp, an ninh và hệ thống chính quyền, tạo ra các cơ hội để con người có thể đổi mới và thành công. Đó chính là cái quyết định sự phân hóa giàu-nghèo – chứ không phải là địa lý, khí hậu, công nghệ, bệnh tật hay chủng tộc.
Một cách đơn giản: hãy sửa chữa các cơ chế khuyến khích động cơ và bạn sẽ xóa được nghèo đói, và nếu bạn muốn sửa chữa thể chế, bạn phải sửa chữa chính quyền.
Làm sao chúng ta biết được là các thể chế là là lý do chính dẫn tới sự giàu có và nghèo đói của các quốc gia? Hãy bắt đầu bằng Nogales, một thành phố bị chia đôi bởi biên giới Mexico và Mỹ. Không có sự khác biệt về địa lý giữa 2 phần của Nogales. Thời tiết giống nhau, gió giống nhau, đất cũng giống nhau. Các loại bệnh tật thông thường trong khu vực với cùng địa lý và khí hậu này là giống nhau, cũng như chủng tộc, văn hóa và nền tảng ngôn ngữ của các cư dân. Bằng suy luận logic, cả 2 nửa thành phố phải có tình trạng kinh tế giống nhau.
Nhưng hiện tại chúng lại hoàn toàn khác xa nhau.
Một bên của biên giới, ở hạt Santa Cruz, bang Arizona (Mỹ), thu nhập trung bình của một người là 30.000 USD/năm. Chỉ cách đó vài mét bên phía Mexico là 10.000USD/năm. Một bên, hầu hết các trẻ vị thành niên học ở trường trung học công và đa số người trưởng thành tốt nghiệp trung học (lớp 12-ND). Bên kia, chỉ một số ít cư dân học tới trung học và hầu như không có ai học đại học. Người dân phía Arizona có sức khỏe tương đối tốt và có bảo hiểm y tế Medicare cho những người trên 65 tuổi. Họ không cần quan tâm tới hiệu quả của mạng lưới đường sá, điện, dịch vụ điện thoại, hệ thống nước thải và hệ thống y tế công cộng. Tất cả những điều này lại không có bên kia biên giới Mexico. Ở đó, đường sá thì xấu, tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao, dịch vụ điện thoại và điện thì giá cao và không ổn định.
Sự khác biệt quan trọng nhất ở phía bắc của biên giới (phía Mỹ-ND) là họ có hệ thống luật pháp, luật lệ và các dịch vụ đáng tin cậy của chính phủ – họ có thể tiến hành các hoạt động hàng ngày và đi làm mà không sợ hãi cho cuộc sống, sự an toàn hoặc tài sản của mình. Bên kia, những cư dân phía Mexico có một thể chế đã giúp kéo dài tội ác, hối lộ và thiếu an ninh.
Nogales có thể là ví dụ hiển nhiên nhất, nhưng không phải là duy nhất. Hãy nhìn Singapore,  một vùng đất bạc màu vùng nhiệt đới đã trở nên một quốc gia giàu có nhất ở Châu Á sau khi chế độ thực dân Anh mang tới quyền tư hữu và khuyến khích ngoại thương. Hoặc Trung Quốc, nơi hàng thập kỷ trì trệ và đói kém đã bị đảo ngược chỉ sau khi Đặng Tiểu Bình bắt đầu áp dụng quyền sở hữu tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp và sau đó trong công nghiệp. Hoặc ở Botswana, nền kinh tế của nó đã vận hành rất tốt trong 40 năm qua nhờ ờ thể chế bộ lạc mạnh và những lãnh đạo dân cử thời kỳ đầu đã có tầm nhìn xa trông rộng, trong khi phần còn lại của Châu Phi vẫn đang tàn tạ.
Giờ chúng ta hãy xem các quốc gia đã thất bại về kinh tế và chính trị. Bạn có thể bắt đầu ở Sierra Leone, nơi hiện nay các thể chế chính phủ hoạt động rất tồi nhưng lại dồi dào kim cương đã cung cấp nguồn lực cho nội chiến, xung đột và tham nhũng đến mức không thể kiểm soát được. Hoặc ở Bắc Triều Tiên, nơi các điều kiện về địa lý, chủng tộc và văn hóa rất tương đồng với quốc gia tư bản ở phía nam, nhưng lại nghèo hơn gấp 10 lần. Hoặc ở Ai Cập, tuy từng là cái nôi của một trong những nền văn minh lớn nhất thế giới nhưng kinh tế vẫn trì trệ kéo dài từ thời kỳ thực dân bởi đế chế Ottomans và sau đó là các nước Châu Âu tới hiện tại. Sau khi giành được độc lập tình hình còn trở nên tồi tệ hơn bởi chính phủ đã hạn chế mọi hoạt động kinh tế và thị trường. Trên thực tế, lý thuyết về vai trò của thể chế trong phát triển có thể được sử dụng để soi sáng vào các hình mẫu của sự bất bình đẳng ở nhiều phần của thế giới.
Nếu chúng ta biết tại sao các quốc gia nghèo, câu hỏi đặt ra là nước Mỹ có thể làm gì để giúp đỡ họ? Việc áp đặt các thể chế từ bên ngoài luôn bị giới hạn. Các kinh nghiệm của Mỹ mới đây ở Afghanistan and Iraq chứng minh điều đó. Nhưng chúng ta không vô dụng và trong nhiều trường hợp, có thể làm nhiều điều có ích. Thậm chí trong cả những chế độ áp bức nhất, người dân cũng sẵn sàng đứng lên đối đầu với bạo chúa nếu có cơ hội.  Chúng ta đã thấy điều đó mới đây ở Iran và vài năm trước đây ở Ukraine trong cuộc Cách mạng Cam.
Nước Mỹ không được giữ một vai trò thụ động trong việc khuyến khích sự thay đổi. Chính sách ngoại giao của Mỹ cần trừng phạt các chế độ độc tài thông qua các biện pháp ngoại giao và cấm vận thương mại. Việc giúp đỡ những chế độ độc tài bởi vì chúng hỗ trợ các mục tiêu ngoại giao ngắn hạn của Mỹ như sự ủng hộ ngầm với chế độ độc tài quân sự của Muhammad Zia-ul-Haq ở Pakistan vào đầu những năm 70 hay các thỏa thuận trái phép với chế độ tham nhũng của Mobutu ở Congo từ năm 1965-1997 cần chấm dứt. Lý do là vì những hậu quả dài hạn của nó rất tồi tệ – bần cùng hóa toàn bộ người dân, làm trẻ em bị đói và suy dinh dưỡng, đẩy những thanh niên bất mãn về phía chủ nghĩa khủng bố. Mỹ cần thúc đẩy những quốc gia như Pakistan, Georgia, Saudi Arabia, Nigeria và vô số các quốc gia ở Châu Phi trở nên minh bạch hơn, cởi mở hơn, nhiều dân chủ hơn bất chấp việc họ đang là đồng minh ngắn hạn của Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố.
Ở mức độ vi mô, chúng ta có thể giúp đỡ các công dân nước ngoài bằng cách giáo dục và trang bị cho họ những phương pháp hiện đại để đứng lên đấu tranh, nhất là Internet và thậm chí các công nghệ mã hóa cùng điện thoại di động để vượt qua tường lửa cùng sự kiểm duyệt của các chế độ chuyên chế như Trung Quốc và Iran, vì họ sợ quyền lực của thông tin.
Đương nhiên việc xóa bỏ sự bất bình đẳng trên qui mô toàn cầu, điều đã kéo dài cả thiên niên kỷ và hiện đang mở rộng ở tầm mức chưa từng có trong hơn 1 thế kỷ nay là không hề dễ dàng. Tuy nhiên, bằng việc thừa nhận rằng nguyên nhân chính của nghèo đói là do sự thất bại của chính phủ và thể chế, chúng ta có cơ hội để đảo ngược tình thế. 
Daron Acemoglu

[1] Daron Acemoglu, What Makes a Nation Rich? One Economist’s Big Answer, Esquire, November 18, 2009.
[2] Huy chương John Bates Clark là giải thưởng danh giá nhất do Hiệp hội Kinh tế Mỹ trao 2 năm một lần cho những nhà kinh tế tuổi dưới 40, có những đóng góp có ý nghĩa cho kiến thức kinh tế (ND).
[3] Có thể tham khảo một quyển sách của Jared Diamond đã được dịch ra tiếng Việt: Súng, vi trùng và thép: định mệnh của các xã hội loài người. Hà Nội, NXB Tri thức, 2007 (ND).
Theo Viet-studies

Bài diễn văn giả định của một Tổng Bí Thư tưởng tượng

Tự do tư tưởng là đặc ân to lớn nhất mà Tạo Hóa đã ban cho con người, trong đó có ước mơ và hy vọng. Mỗi cá nhân, gia đình và xã hội mất đi hy vọng sẽ không có tương lai. Tôi thường cho phép mình nương náu vào một góc nào đó để suy nghĩ, như một lối thoát tạm thời khỏi bối cảnh mà tự do dường như bị tước đoạt trong mọi ngõ ngách của đời sống. Tôi chia sẻ cảm xúc với nhân vật Ngư Ông (trong Ngư Ông và Biển Cả của Hemingway), đơn độc với cuộc chiến đấu giữa biển khơi mà không hề mất đi hy vọng, vì rằng: “Tư duy là hạnh phúc”. Tôi viễn vông và tản mạn, chọn kịch bản và vai diễn nầy để nói lên điều suy nghĩ của mình, về một cung đường cần phải đi qua để bắt đầu cuộc hành trình tiến về tự do và phát triển… Xin lỗi tất cả bạn đọc, dưới đây chỉ là bài diễn văn giả định, hoàn toàn không có thật, của một công dân muốn diễn đạt ý kiến của mình, với động cơ xây dựng. Có điều gì gây xúc phạm, xin thứ lỗi cho.
Hạ Đình Nguyên
(09/02/2012)
BÀI DIỄN VĂN GIẢ ĐỊNH
CỦA MỘT TỔNG BÍ THƯ TƯỞNG TƯỢNG
  • Thưa đ/c Chủ tịch Nước,
  • Thưa đ/c Chủ tịch Quốc Hội,
  • Thưa các đồng chí,
  • Thưa quý vị đại biểu,
Thay mặt Bộ Chính Trị Trung ương Đảng, với tư cách là Tổng Bí Thư, tôi xin chúc sức khỏe đến tất cả các vị.
Hôm nay, chúng ta có mặt ở đây, tại hội trường này, với tư cách là đại diện cho bộ máy lãnh đạo cao nhất của quốc gia Việt Nam, có trách nhiệm trả lời một câu hỏi lớn.
89,6 triệu đồng bào đang hỏi chúng ta: Đảng CSVN, với tư cách là một chính đảng duy nhất, nắm quyền lãnh đạo trực tiếp và toàn diện Quốc gia, với 36 năm Độc lập, có còn đủ khả năng và tầm nhìn để giữ vững được nền Độc lập và xây dựng một nước VN Dân chủ và Thịnh vượng, trong thời điểm nhiều biến động của tình hình khu vực và thế giới hiện nay không? Và trong mỗi chúng ta, có tự đặt ra cho mình câu hỏi nầy không ?
Tôi tin là có.
Dù câu trả lời như thế nào, khẳng định hoặc là hoài nghi, thì nhất thiết, phải là sự trả lời đầy đủ trách nhiệm, với sự trung thực, phản ánh chính xác nhân cách của mỗi chúng ta, và tư cách của một đảng viên Đảng cầm quyền!
Chúng ta đang ngồi đây, tập thể này, là tượng trưng cho sức mạnh của Quốc gia VN. Nói tượng trưng, vì sức mạnh đó, đích thực nằm trong nhân dân, là tất cả công dân cụ thể trên toàn thể lãnh thổ hình chữ S nầy, cùng với con em họ đang ở trong guồng máy, và người VN ở ngoài lãnh thổ, với tinh thần thấm nhuần truyền thống và văn hóa dân tộc có sẵn của 4000 năm lịch sử, cùng với sự tiếp cận không ngừng về nhận thức và văn minh của thời đại.
Chúng ta có trách nhiệm với sức mạnh nầy.
Đất Nước VN ở một vị trí địa lý đặc biệt.
Nền chính trị của chúng ta cũng đặc biệt.
Tình thế của Thời đại đòi hỏi chúng ta phải thông minh, cởi mở và có bước đi chính xác, không để mất năng lượng của quốc gia, không cho phép chúng ta thức dậy muộn màng, hãnh tiến và hưởng thụ.
Phần lớn, các vị đến đây bằng máy bay, số rất ít bằng ô tô, chắc chắn không ai đến đây bằng xe đò. Đúng không ? Tất cả quý vị đều ăn mặc tươm tất, văn minh gấp nhiều lần so với các đại biểu đi dự hội nghị TW ở Tân Trào cách đây hơn nửa thế kỷ. Tôi biết, đa số chúng ta, trong đó có tôi, đều có nhà cửa khang trang, có đầy đủ tiện nghi cho gia đình, và còn có thể hơn thế nữa. Và hơn như thế rất, rất nhiều ! Quý vị cũng có con cái, phần lớn đi học nước ngoài, ở các nước có nền văn hóa, văn minh cao hơn chúng ta, xem như 99% là các nước Tư bản, mà có người trong chúng ta đang ngồi đây, vẫn thường nói, đó là nơi mà chủ nghĩa tư bản đang giẫy chết. Tôi biết, dù đồng lương tượng trưng của chúng ta không bao nhiêu, nhưng thu nhập thực tế thì cao hơn nhiều, hơn rất nhiều, bằng cách nào đó, và bằng nhiều cách, rất nhiều cách “khôn ngoan” và tinh vi…Như thế, chúng ta có thể nói gì với nhân dân ? Vì có nhiều điều không thật. Nhân dân cười to trong bụng khi nghe chúng ta nói về hai chữ “trong sạch”, “vững mạnh”!
Về phương diện tinh thần, với tư cách là một Quốc gia độc lập, tuy các chỉ tiêu xếp hạng, theo tiêu chí LHQ, là thấp, rất thấp, về kinh tế, về giáo dục, về thông tin, về dân chủ, nhân quyền, về nhiều chỉ tiêu khác nữa… Nhưng tiếng nói của chúng ta vẫn vang lên một cách bình đẳng ở các diễn đàn Quốc tế. Các cấp lãnh đạo, kể cả các ban ngành của chúng ta đều ngồi ngang hàng với các cấp tương đương của các nước lớn. Tiếng nói đó cũng được chú ý, được lắng nghe, cũng được tôn trọng. Có vị đi về, nói với tôi, là rất hãnh diện, VN ta ngày nay đang nở mày nở mặt với năm châu bốn biển, không như ngày nào gian khổ trong lao tù, trong rừng sâu, nước độc của giai đoạn chiến tranh vệ quốc. Nhưng ngược lại, cũng có vị nói rằng rất áy náy, rất xấu hổ, thậm chí vô cùng xấu hổ trong lòng, về những kém cỏi và lạc hậu không đáng có, so với một số quốc gia khác trong khu vực với thời gian ngắn hơn nhiều, đã làm nên những bước phát triển ngoạn mục. Sự hãnh diện lẫn xấu hổ đó đều xuất phát từ lòng yêu nước của chúng ta thôi. Phải không, thưa các vị? Có chắc là như vậy? Dù sao, đó vẫn là vinh dự lớn lao cho chúng ta ngày hôm nay, vì vinh dự đó, các thế hệ Cách Mạng Tiền Phong của chúng ta chưa có được, bởi còn phải đang nằm rừng, lội suối?
Nhưng tôi nghĩ không ai trong chúng ta phủ nhận được sự thật rằng, tất cả những gì chúng ta có hôm nay, về vật chất và tinh thần, kể cả những cảm xúc áy náy và xấu hổ kia, đều gắn liền với xương và máu của nhiều thế hệ trước, của nhân dân, của cả 100 năm đấu tranh vô cùng gian khổ.
Chúng ta không thể nào quên được điều đó.
Chúng ta không theo chủ nghĩa ngợi ca sự khổ hạnh, theo cách hình thức khoa trương và mị dân, nhưng đích thật, chúng ta xem những hy sinh đó là thiêng liêng. Quên điều nầy là đồng nghĩa với phản bội. Quên không chỉ có nghĩa là không nhớ, mà còn có nghĩa là không làm theo, hoặc làm trái lại với những khát vọng mà vì đó các thế hệ thanh niên, hàng hàng lớp lớp đã hy sinh. Đó là khát vọng Độc Lập-Dân Chủ-Thịnh Vượng của dân tộc.
Quá khứ đó là truyền thống yêu nước cho phép chúng ta tự hào, xứng đáng tự hào, và nó đã chứng minh qua trường kỳ kháng chiến với ba cuộc chiến tranh liên tiếp với các đối thủ có tầm vóc thế giới: Pháp thực dân, Mỹ đế quốc và TQ bành trướng. Thế giới đã hiểu và khâm phục lòng yêu Nước, yêu Độc Lập của nhân dân ta mạnh mẽ và kiên trì như thế nào? Điều đó cũng chứng tỏ về một khả năng và bản lĩnh vươn lên của một dân tộc kiên cường và thông minh.
Và hôm nay đây, chúng ta thấy gì nơi bản thân chúng ta, trong trái tim chúng ta, trước câu hỏi lớn mà nhân dân đã nêu ra?
Thưa các đồng chí, thưa quý vị,
Độc lập đã đạt, và sau 36 năm, ta đã làm gì? Chúng ta có phải là thế hệ góp phần làm nên, hay là thế hệ hưởng thành quả? Câu trả lời là cả hai. Nhưng có lẽ là phần hưởng thì nhiều hơn, hoặc là quá nhiều, mà phần làm thì không tương xứng? Đôi khi, tưởng chừng như có đứa con hư, bán gia sản của ông cha để tiêu xài phung phí, ăn chơi tới bến? Nói như vậy, có phần quá đáng chăng? Rất mong là như thế! Nếu Độc lập chỉ để cho một lớp người phồn vinh và toan tính chuyện chia chác, nối ngôi nhau nhau quyền và lợi ở xứ sở nầy, thì lớp lớp người đã nằm xuống, đương nhiên là không thể trồi dậy từ các nghĩa trang hay nơi nào đó, trong rừng núi, đồng bằng, sông lạch hay biển cả, nhưng những người còn sống và cả nhân dân sẽ nghĩ sao? Trên thế giới ngày nay, chỉ còn một nước Bắc Triều Tiên thôi, không tính tới các bộ lạc xa xôi, mới có cách hành xử bội bạc, không dân chủ và thiếu trí tuệ như thế kia!
Trở lại câu hỏi lớn mà nhân dân đã nêu ra.
Nhà ái quốc có tầm nhìn vượt thời gian Phan Chu Trinh đã nhắc nhở ta những điều gì? Có dân trí, dân sinh, dân chủ mới giữ được Độc lập dân tộc. Ba mươi sáu năm độc lập và trực tiếp cầm quyền, Đảng ta đã làm gì với 3 yêu cầu cực kỳ quan trọng nói trên mặc dù chúng ta luôn hô to khẩu hiệu Do Dân, Vì Dân, mà thật sự thì như thế nào?
Chúng ta có thể liệt kê được nhiều thành tích lớn lao, nhưng là theo cách “cả vú lấp miệng em”. Lấy cái được che chắn cái không được, cái trước mắt che cái lâu dài, cái phù phiếm che cái căn cơ, cái hưởng thụ che lấp sự hy sinh âm thầm và đau khổ, cái thiểu số che lấp cái đa số, nói không thật thay cho dối trá, cái ác nở rộ thay cho lòng nhân ái, gian dối thủ đoạn thay cho công bằng, lương thiện…
Các vị Thủ trưởng hãy phản biện đi.
Tôi lắng nghe. Tôi mong muốn, và nhân dân cũng thế, rất mong muốn ai đó trong chúng ta ngồi đây, có thể nói lên điều ngược lại, mà có sự thuyết phục để làm cho trái tim chúng ta và nhân dân cả nước bừng tĩnh, hân hoan như một ngày hội lớn, nhìn chúng ta với con mắt tin yêu và kính trọng?
Nhưng tôi biết, trước hết các vị sẽ kể một số thành tích, nhận một số khuyết điểm và một ít hạn chế năng lực theo công thức khiêm tốn mà Đảng đã dạy, đã cũ và rất sáo mòn, sau đó sẽ nói nhiều về các nguyên nhân khách quan, rút ra nhiều bài học kinh nghiệm, cuối cùng là hứa hẹn rằng sẽ nghiêm túc khắc phục, những điều mà thâm tâm biết rõ là không khắc phục được, hoặc không muốn khắc phục. Nếu cần và lắm lúc, ta nhắc lại lời của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh để tỏ rõ ta đã rất thấm nhuần tư tưởng và tâm huyết của Người. Chúng ta biết rõ, lời nói, hành động xuất phát từ sự suy nghĩ chân thực, mới có sức thuyết phục người nghe. Ngược lại, lời nói chỉ như gió thổi trên đồng trống, vu vơ!
Tôi biết cái lỗi không ở duy nhất nơi các vị Thủ trưởng, cũng không phải của cả đơn vị, từ cấp trên xuống đến cán bộ, nhân viên. Không ở một ai, nên có thể là tất cả. Mà tất cả, lại là không ai hết. Cái lỗi nầy do ai gây nên đây ? Nếu có trách các vị, thì chỉ một lỗi nhỏ thôi, nhưng lại rất căn bản. Đó là sự thiếu dũng cảm. Hình như điều nầy có hầu hết ở chúng ta ? Không phải đức tính dũng cảm trước sự sống chết trong chiến tranh, mà là dũng khí vượt qua chính mình, về nỗi đam mê quyền lợi của cá nhân và của phe nhóm trong hệ thống bộ máy đầy lỗi, đang là vấn đề nổi cộm nhất hiện nay. Và cũng có phần do một loại tri thức có tính máy móc, giáo điều, ràng buộc, như con ngựa bị che bờm, chỉ biết đi về một hướng theo chiếc roi của ai đó ngồi trên lưng. Các vị có dám đứng lên phản biện trước BCT không, về một sự thật nào đó ? Nếu không hợp khẩu vị BCT, chắc chắn các vị sẽ mất chức. Tại sao gọi là khẩu vị ? Vì BCT tự do, không nằm trong một luật định nào cả, nó gói gọn trong một nhóm gồm mười mấy con người ấy thôi. Không tạm gọi là khẩu vị thì gọi là gì ?
Dám nói và chấp nhận sự mất chức, xem chức nhẹ tợ lông hồng, đó là phẩm chất làm quan thanh liêm của một số người làm quan đời xưa, nhưng nay đó là phẩm chất của thời đại và có giá trị phổ quát. Dân chúng đòi hỏi và yêu quý điều nầy, và rất cần điều nầy. Làm quan mà không có phẩm chất làm quan thì tệ hơn dân thường, vì dân thường không thể gây tai họa lớn cho Quốc gia, bởi sự ràng buộc của luật pháp, đạo đức xã hội và thân phận làm dân.
Tôi sẽ lần lượt nói về ba việc mà tôi cho là cần nói lúc nầy, là Kinh Tế, Giáo Dục và Tư Tưởng, cùng với khái niệm về một vài từ ngữ cần xác định lại cho rõ thêm.
Tôi e rằng ngồi lâu sẽ làm giảm sức khỏe của quý vị, làm mất nhiều thời gian, vì quý vị cần phải trở về để lo việc công, hay việc riêng tư cấp bách nào đó đang chờ đợi. Tôi xin nói rất vắn tắt.
Về kinh tế, có lẽ ai cũng biết, nó đã và đang bị phá sản một cách có hệ thống. Nó đang rơi tự do. Nó làm tan hoang cái vốn liếng của hơn hai mươi năm tích lũy được, kể từ khi đổi mới một mảng, (chuyển từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường), do sức lao động tay chân và lao động trí óc, trước hết của người nông dân, sau đó là nhiều thành phần khác, bởi sự làm việc rất kiên trì và rất chân thực mà có được. Nó đã làm cạn kiệt các tài nguyên thiên nhiên mà ông cha nhiều đời giữ gìn và giao lại. Nó cũng làm nhẵn túi vốn vay và vốn viện trợ của các quốc gia khác. Vốn vay mượn đó giờ đây là một của nợ khổng lồ cho trẻ con 10 tuổi trở xuống và những đứa bé mà mẹ chúng nó sẽ sinh ra sau nầy phải trả, trả bằng cách nào chưa ai biết được, là nai lưng đi làm thuê, làm mướn công khai, làm thuê trá hình hay là một kiểu nô lệ mới ?
Bù lại, chúng ta đang có được gì ? Một số dinh thự, cao ốc (một số do nước ngoài đầu tư và làm chủ), đường sá, cầu cống, các trụ sở của Ủy ban các cấp, của Đảng ủy các cấp, khá hiện đại, hoành tráng có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Những biệt thự, nhà thờ Tộc nguy nga, thời thượng… Những chuyến đi lại vi vu trong nước, ngoài nước, những hoạt cảnh ăn chơi kín hở…Các Tập đoàn, các Tổng Công ty Nhà nước, các Ngân Hàng…, ai cũng biết rồi, đó là những nhà ảo thuật đại tài, biến “Có” thành “Không”, không kém gì Tề Thiên Đại Thánh…Cuối năm 2011, tổng kết tạm, có trên dưới 50.000 doanh nghiệp phá sản, số chết lâm sàng, đang và sẽ, chưa thể biết là bao nhiêu ! Đời sống nhân dân đang được “nâng lên một bước” đi về hướng khó khăn và cơ cực. Cướp bóc, giết người, các loại đạo tặc đang tự phát phát triển mạnh hơn vạn lần biểu tình, sinh hoạt văn hóa xuống cấp và nhếch nhác chưa từng có…Đặc biệt, tham nhũng tung hoành đến hoa mắt. Kinh tế đã thế, vốn liếng tinh thần, tài sản văn hóa của dân tộc còn lại gì để làm sức mạnh, làm động lực cho cuộc vươn lên ? Thanh niên Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore có niềm tự hào và động cơ mạnh mẽ cho cuộc tranh đua, một bộ phận Thanh niên TQ đang nuôi mộng bá chủ. Thanh niên ta thì bơ vơ, không nhìn thấy mục tiêu, chi nghe toàn là từ ngữ mơ hồ, bóng bẩy. Một bức tranh xã hội loang lổ, không có lấy một mảng xanh cho dịu mắt… Chúng ta không thể đổ lỗi toàn bộ cho sự suy thoái kinh tế toàn cầu, nhẹ nhàng như “nắng mưa là chuyện của trời…” giống một câu ca trong tình yêu nam nữ.
Có ý kiến cho rằng, hệ thống kinh tế của chúng ta là một hệ thống bóc lột, móc túi người dân với nhiều loại kỹ năng thiện xảo, biết ăn mày quá khứ, vừa biết ăn hớt tương lai. Thuế cho nhà nước, đã đành, còn “thuế”,”phí”… cho quan chức các cấp, các cấp của nhiều ban ngành, trong mọi giao dịch của nhân dân, từ giao dịch hành chánh đến chuyện làm ăn, nhà ở . “Đất đai là sở hữu của toàn dân” là mệnh đề gốc của tham nhũng quy mô lớn và đều khắp non sông đất nước. Vốn vay và vốn ODA là “suối nguồn tươi trẻ” của mùa xuân tham nhũng. Tất cả để nuôi bộ máy cầm quyền, phục vụ sự ổn định của nền cai trị cho vững vàng hơn. Chúng ta luôn luôn biết ơn Quân Đội, Công An, Cảnh Sát, tất cả là con em của nhân dân, ngày và đêm theo nghĩa cụ thể, đã giữ gìn biên cương Tổ quốc và an ninh trật tự xã hội, âm thầm xây dựng trận địa chiến đấu và sẵn sàng thực hiện mọi mệnh lệnh của chúng ta, vâng, chúng ta đang ngồi đây, dù bất cứ tình huống nào, họ cũng chịu đựng và không có lỗi, họ luôn sẵn sàng xả thân với trách nhiệm thiêng liêng của mình.
Ai chịu trách nhiệm về hậu quả kinh tế nầy ? Dĩ nhiên, hậu quả thì toàn dân chịu rồi, còn trách nhiệm thì ai ? Không ai cả.! Nếu vậy, là chính tôi, Tổng bí thư Đảng cầm quyền ! Đúng thế, mọi thắng lợi vẽ vang đều do Đảng, thì thất bại chẳng lẽ do ai khác ?
Tôi không muốn gây stress (bức xúc) cho quý vị, nếu có, thì cũng đành chịu, không biết làm sao hơn!
Tôi chuyển sang Giáo dục mong rằng nó nhẹ nhàng chăng ?
Về Giáo dục. Thảm hại về kinh tế không phải là tuyệt vọng không lối thoát, dù rằng, cuộc chạy đua của thời đại là cực kỳ khó khăn. Bởi mọi sự đều do con người làm nên. Con người phá hoại được, thì con người xây dựng được. Cho nên, quan trọng hơn hết, vẫn là giáo dục, đào tạo con người. Nhưng con người không chỉ là con trai con gái của những ai đó, mà phải là đông đảo, cả thế hệ, nhiều thế hệ, con cái của cả dân tộc nầy.
Cố chủ tịch HCM nói: “sự nghiệp trăm năm trồng người”. Tôi e rằng như thế là hơi lâu, mà thậm chí có thể lâu hơn nữa, đến nỗi không biết bao giờ, nếu là “trồng con người xã hội chủ nghĩa”!. Nếu chỉ nói về trồng loại con người bình thường, không cao cả gì lắm, nhưng có thực, theo cách nhìn và tính toán trên cơ sở thực tế một số nước của các nhà nghiên cứu, chu kỳ cho một thế hệ, được giáo dục một cách đúng mực trong một hệ thống giáo dục tiến bộ, đến lúc trưởng thành và phục vụ xã hội một cách hiệu quả, để nâng xã hội lên bước phát triển , là 25 năm. Người ta cho như thế là quá lâu. Nếu có sự tiếp nối và nuôi dưỡng không đứt đoạn, cùng với sự nhạy bén thời cơ, thời gian đó đó sẽ được rút ngắn hơn. Nói một cách có nhân nhượng, chỉ tính từ ngày Độc lập đến nay là 36 năm, có thể nói luôn là 40 năm, vì hơn 3 năm nữa không mong gì có một sự đột phá, là chúng ta đã tiêu pha hào phóng hơn một chu kỳ, chưa tới nửa thế kỷ (!), với nhiều cơ hội đã vụt qua, liệu 25 năm tới đây, ta có hy vọng gì về một thế hệ mới đầy nhiệt huyết, đứng lên từ sự đổ đốn hôm nay ?
Chúng ta có thể nói gì về nền Giáo dục đang diễn ra ? Ai trong quý vị có thể đứng lên biện hộ cho mặt tích cực của nó ? Cái không được là quá nhiều, không lẽ đem so sánh với những năm chiến tranh ? Tuy nhiên, nền giáo dục trong chiến tranh đã đóng góp được rất nhiều cho chiến tranh, trong tình huống vừa dạy, vừa học vừa chiến đấu. Nhưng 36 năm hòa bình, độc lập, nền giáo dục hình như không đổi khác, không chuyển hướng, nó y một khung sườn chỉ đạo, với kiểu tư duy cực kỳ lạc hậu. Tại sao chúng ta có thể “vững vàng” và “kiên trì” với công thức của thời kỳ đã qua, đến thế ? Có thực sự là ta trung thành với chủ nghĩa Mác không ? Có khi ta chỉ giả vờ trung thành ở bên ngoài, còn cốt lõi thì đã khác. Mà hà tất phải trung thành với quá khứ một cách vô lối ? Sự giả vờ là không đem lại “chính danh”, mà tất yếu biến thành “bá đạo”. Tại sao ta không trung thành với tương lai? Nền Giáo dục của chúng ta đã làm hỏng tự căn cơ những giá trị chuẩn mực đạo đức tinh thần của dân tộc, nói gì đến giá trị thời đại đang ở tầm cao hơn ? Một vị bộ trưởng Bộ Giáo dục, khi thôi chức còn níu kéo gian dối 5-7000 đô la, gọi là học bổng để học tiếng Anh ở nước ngoài. Có một Oshin trong sách không làm như thế ! Không phải là tất cả, nhưng thí dụ nầy là biểu trưng cho sự thối đến nát về nhiều phương diện, từ nhân cách, đến năng lực, đến hệ thống. Tất nhiên chúng ta cũng có một số bông hoa đã nở tuyệt đẹp trong khu rừng nhân dân, nhưng do nổ lực cá nhân, do mưa do nắng của trời đất, do học tập bốn phương mà có, chứ nào phải do nền giáo dục của chúng ta. Nhưng những niềm tin và hy vọng đó của nhân dân về lớp người trẻ này có cơ may để phát huy khả năng, đóng góp một cách xứng đáng hay bị hoài phí một cách lặng lẽ ?
Theo cách thức đang vận hành như hiện nay, nền kinh tế và nền giáo dục đang lộ rõ con đường lao xuống dốc; cũng may còn có những tiếng kêu gào thống thiết, lại rất tiếc, chúng ta vờ như không nghe!
Thưa quý vị,
Thưa quý vị đảng viên, đại biểu quyền lực và trí tuệ của Quốc Gia đang ngồi đây, chúng ta có bi quan không ? Việt Nam đã từng trãi qua nhiều giai đoạn đêm tối, nhưng dân tộc Việt Nam chưa từng bi quan. Kinh tế với từng kế hoạch 5 năm đúng hướng thì phát triển, nhưng Giáo Dục lạc hướng thì thời gian đòì hỏi gấp bội lần, tối thiểu là lũy thừa 5.
Trong giai đoạn lịch sử tồi tệ nhất, Phan Chu Trinh đã kêu gào chấn hưng Dân Khí, nhằm gây nên sức mạnh tinh thần của nhân dân, mà tinh thần đó, chúng ta ngồi đây cũng là đại biểu nốt, hôm nay có thấy một chút hùng khí dấy lên trong lòng hay không, cho một cuộc chấn hưng, thay cho cuộc giành giật “bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình” của các tập thể phe nhóm, và không phải của dân tộc ? Nếu lợi quyền nầy là của dân tộc, chúng ta thấy cái hùng khí ấy đang có sẵn trong nhân dân. Về kinh tế, Dân sinh, chúng ta cho rằng tham nhũng đã là nguyên nhân chính làm nó kiệt quệ, nhưng cơ chế nào đã cho phép, tạo điều kiện cho tham nhũng phát sinh, phát triển đến mức nầy ? Do đó, không thể không nói đến Dân chủ. Chỉ có dân chủ mới cứu vớt được thôi. Không thể tránh né, hoặc giải thích huê dạng để che lấp, theo cách “dân chủ gấp vạn lần hơn” mà người có hiểu biết thì không muốn nghe nữa, người thiếu hiểu biết thì không biết đó là cái gì ! Mà cơ hồ, người nói ấy thì cũng không biết mình nói gì ! Nhân dân VN có đáng bị giam hãm mãi trong bi kịch khốn khổ nầy không ?
Có một nguyên thủ Quốc gia của một nước lớn nói: “tất cả chúng ta đều là con người bình thường”, ý nói không ai là “thần thánh”, dù ở vai trò cao nhất trong xã hội. Còn tôi, TBT, xin xác định mình là một người thường, còn lại 13 vị trong BCT, có ai là thần thánh không ? Chắc chắn không ai dám nhận. Tập thể những con người bình thường có thể trở thành tập thể thần thánh không ? Cũng không thể ! dứt khoát là như vậy. Nhưng cơ chế đã biến nó thành một tập thể thần thánh, vì nó ở trên đầu mọi thứ luật pháp Quốc gia. Loại tập thể thần thánh nầy đã trãi qua thực nghiệm ở phạm vi nhiều quốc gia. Tập thể ấy, nhiều lần bị tóm thu vào tay một kẻ tham vọng nhất, để rồi người ấy trở thành kẻ giết người, giết cả những người thần thánh và không thần thánh. Tình huống thứ hai, tập thể ấy, tròng trành dao động cơ học, trong một canh bạc quyết liệt, hiếm có ở đời thường.
Thưa quý vị,
Tất cả chúng ta ở đây, không ai giống như thế, và không ai muốn như thế.
Chúng ta là con dân của một đất nước có một nền văn hiến lâu đời, dân tộc chúng ta trãi qua nhiều đau khổ, yêu hòa bình và lòng nhân hậu tiềm tàng.
Nhưng giặc ngoại xâm đã bao phen, từng đẩy chúng ta vào tình cảnh cam go, buộc chúng ta phải phản kháng và phản kháng quyết liệt.
Nhưng sau đó, chúng ta vẫn là con người bình thường, nên không thể có một tập thể thần thánh, vì thế, nhân dân chúng ta, mà trước hết là chính chúng ta, cần đến một cơ chế dân chủ, để nó kiềm chế bản năng tham lam vô hạn trong chúng ta, tránh cho chúng ta không thành con quỷ dữ. Làm sao mà chỉnh đốn Đảng chỉ với vũ khí phê bình và tự giác, khi mà vũ khí ấy chỉ dùng bằng đạn mã tử, có tiếng nổ vang nhưng không hề hấn gì ai ?
Chúng ta muốn cho nhân dân cơm no áo ấm, muốn cho đất nước phát triển, chúng ta cần một lộ trình để xây dựng một nền dân chủ hợp lý và tiến bộ.
Nền dân chủ đó, chúng ta chưa cần phải sáng tạo, mà nó cũng không thể tự trồi lên từ kẽ đá của núi Hoa Quả. (1) Chỉ cần quan sát kinh nghiệm nhân loại, tìm cách ứng dụng tốt nhất, êm ả mà không gây xáo trộn, để có hiệu quả đưa Đất Nước tiến lên. Điều nầy có đang còn là cơ hội trong tầm tay của chúng ta đang ngồi đây không ? Về tư tưởng.
Bây giờ tôi xin nói về khái niệm của một số từ ngữ mà chúng ta quen dùng, nhưng đã trở thành rất lạ tai với số đông, để bắt đầu cho vài suy nghĩ.
Từ đầu buổi nói chuyện hôm nay, tôi đã rất muốn tránh dùng từ “đồng chí”, thay vào đó là “quý vị”. Hai trăm vị ngồi đây là ủy viên TW, không ai không phải là Đảng viên, các vị thuộc Quốc Hội, có người không phải là Đảng viên, chắc chắn là ít, rất ít. Nhưng các vị thuộc số ít ấy, khi nghe “thưa các đồng chí” có thấy trong lòng một chút khác biệt, tách biệt nào đó hay không ? Tất nhiên là có. Trong một cử tọa có đông đảo quần chúng nhân dân, đủ các thành phần, đại đa số không phải là đảng viên, cũng như khán thính giả trước màn hình tivi trên cả nước, hơn 86 triệu người, khi nghe “thưa các đồng chí” thì không thấy có mình ở trong (2). Từ “đồng chí” trở thành một sự cách biệt, được tôn vinh theo cách ngoại hạng, có một chỗ đứng riêng, không kết nối với nhân dân qua một luật định nào cả, giống như đẳng cấp “Tăng lữ” ở Ấn Độ thời cổ xưa. Khắn khít cùng nhau với nơi nầy quá (Đảng) và xa rời với nơi kia (Nhân dân). Chí hướng của Đảng ngày nay có gì khác biệt với chí hướng của Nhân dân không ?
Tư “đồng chí” đối với chúng ta trước kia, là một từ ngữ thiêng liêng, nó xuất hiện từ khi những đảng viên tiền phong được hình thành trong bí mật và dám chết trước họng súng của kẻ thù, để giành lại quyền sống của nhân dân đang bị chà đạp và áp bức.
Từ “đồng chí” đẫm máu của bao nhiêu thế hệ đảng viên đã ngã xuống trong lao tù, trong chiến hào, trong rừng sâu bệnh tật và đói rét, chỉ có một nghĩa duy nhất là chia nhau sự hy sinh và một nguyện vọng Độc Lập cho Tổ Quốc, Dân Chủ cho Nhân Dân và Phồn Vinh cho Đất Nước.
Ngày nay, Độc Lập đã có, chí hướng của Đảng là gì ? Có khác chí hướng của Nhân Dân không ? Nếu không khác, thì gọi riêng với nhau bằng một từ ngữ có tính đặc quyền như thế để làm chi ? Ta trân trọng với từ “đồng chí” và đưa nó vào lịch sử của một giai đoạn đặc biệt của lịch sử, trả sự bình thường về cho một xã hội bình thường… Theo tôi, chúng ta ăn xin vào quá khứ, bằng cả từ ngữ nầy, vì ta không tạo nên được phẩm chất mới của mình. Trong nội bộ, ta gọi nhau bằng “đồng chí” nhưng có thỏa hết tận đáy lòng, hay nó đã trở thành và chỉ là một cách gọi thời thượng mà vô cảm , mang chứa nhiều khác biệt bên trong, được dùng khi cần đấm đá nhau ? Những tưởng, chúng ta muốn “quần chúng hóa”từ ngữ nầy để cho Đảng thấm sâu vào lòng nhân dân, nhưng không được, hình thức không thể che dấu được nội dung, nếu như Đảng không có phẩm chất. Đảng trước kia, đã có uy tín từ khi còn trong bóng tối, bằng chính phẩm chất của mình. Nhân dân biết nhìn và biết suy xét.
Cụm từ ghép “Đảng và Nhà Nước” lại cũng là một cụm từ lôi thôi, nhập nhoạng khó nghe. Cuối cùng nó là gì ? Nhà nước hay là Đảng ? Thực thể nào là chủ thể ? Mối quan hệ giữa chúng ? Ai nói và đối tượng để nói là ai ? Cụm từ ghép nầy nói lên mối quan hệ nhập nhằng về chức năng nhiệm vụ trong vận hành của bộ máy ! Thế mà nó xuất hiện lâu ngày thành quen tai, trong nhiều văn bản giấy tờ, báo chí, cả trong doanh nghiệp, thí dụ : “cảm ơn Đảng và Nhà Nước đã…”. “Mừng Đảng, Mừng Xuân”, lấy Đảng để trên Đất Trời, ngược với đời sống tâm linh dân tộc! Nhân dân là công dân, chỉ có hành vi quan hệ với Chính Quyền, thông qua hệ thống luật pháp Quốc Gia. Công dân không trực tiếp liên quan với Đảng. Đảng viên, thì dứt khoát phải là Công dân, nhưng Công dân không tất yếu là Đảng viên. Công dân là bao trùm, Đảng viên là riêng của Đảng, vì thế chẳng nên “thưa các đồng chí” trong các tập họp công cộng.. trừ khi Đảng trực tiếp nhân danh chính mình đứng ra tổ chức cái gì đó…như hôm nay !
Thưa quý vị,
Có một từ ngữ nữa, mà tôi cho là rất quan trọng. Đó là từ ‘kẻ thù’.
Đất nước chúng ta đã độc lập, đã thiết lập bang giao quốc tế, đã ký vào các văn kiện hội nhập toàn cầu thông qua Tổ chức LHQ, chúng ta tuyên bố làm bạn với bốn phương, chúng ta chưa tuyên chiến với một Quốc gia nào. Một cách minh nhiên, chúng ta không có ‘kẻ thù’! Chúng ta hội nhập vào dòng chảy tiến bộ của nhân loại, kẻ thù giờ đây có tên gọi khác. Đó là cái ác và sự lạc hậu.
Cái Ác có thể có khắp nơi, có thể ở ngay trong chúng ta hay ở đâu đó. Sự lạc hậu là tiềm năng của cái ác, sẽ trở thành cái ác, cũng ở khắp nơi, có thể có nhiều trong chúng ta, và rất gần chúng ta. Khi chúng ta đưa cái ác và lạc hậu là đối tượng cần để chiến thắng, thì cái Thiện và Tiến bộ sẽ ở bên ta, là đồng minh chân chính của chúng ta, và không lạc lối, chúng ta hòa vào đại dương Nhân bản của nhân loại. Chúng ta cùng nhân loại chống cái ác và lạc hậu. Chúng ta không theo bất cứ học thuyết nào mà nó tạo nên nhiều kẻ thù cho chúng ta, với lý do đơn giản rằng tại vì nó không giống ta. Khi dựng thêm lên một kẻ thù, thì đồng thời và lập tức, ta ở trong tư thế và não trạng là kẻ thù của kẻ thù, và rất nhiều kẻ thù tiếp nối xuất hiện…. Chúng ta không để cho sự khác biệt biến thành mâu thuẩn, như chủ thuyết bá đạo của Mao Trạch Đông (3) .Văn hóa của Thời Đại là tôn trọng sự khác biệt, là tinh thần sống chung với sự khác biệt. Sự giao lưu của văn hóa khác biệt, tạo nên Văn hóa chung của nhân loại., không ai tiêu diệt ai. Đó đang là con đường đi tới rất sáng sủa của nhân loại ở thế kỷ nầy, mà chúng ta thì đang ở trong một vùng phủ bóng tối. Thời đại nầy không còn cho phép, trong nhận thức cũng như trong khả năng, về một sự đối kháng để loại trừ nhau, chẳng còn cái gọi là “cuộc đụng đầu lịch sử” nữa, Nói thẳng ra, thời đại nầy, chỉ có cái đầu nào đang hâm hấp mới nghĩ rằng phải chôn vùi chủ nghĩa tư bản xuống bùn đen. Không còn sự thách đố kiêu ngạo “ai thắng ai” của một thời điểm đặc biệt của lịch sử đã qua, bây giờ không cần nữa, khi mà Độc Lập đã được giải quyết
Vòng hoa dành cho người Cách mạng và Dân Tộc phải đi tới
Cấp thiết, chúng ta phải làm cho Đảng và Thanh Niên ta thấm nhuần tinh thần về đại dương nhân bản nầy, đứng lên từ tư thế « chống cái ác và lạc hậu », không nhập nhằng xếp hàng theo phe, sẽ là tiêu chí cho hội nhập và phát triển, tránh được sự lạc hậu đang biến ta trở thành kẻ thù của chính mình, cũng không tự đặt mình vào vị trí kẻ thù của văn minh và tiến bộ. Chúng ta không sợ rằng tính nhân bản sẽ làm mất đi tinh thần chiến đấu khi cái Ác xuất hiện minh nhiên như một kẻ thù cụ thể, ngược lại, tinh thần chiến đấu sẽ mạnh mẽ hơn vì chân lý nội tại của nó, sức mạnh đó là vô địch trước cái Ác, và được nhân loại đồng tình.
Để làm được điều nầy, ta cần có can đảm để có một cái nhìn mới về tư tưởng.
Tư tưởng của một thời đại đã thoát ra khỏi mọi thứ học thuyết viễn vông, ảo tưởng, mà lực lượng nhân danh nó lại thường trở thành thủ phạm gây ra cái ác.
Karl Marx – Engels (4) đã từng sĩ vả :
“ chúng len lén ca bài ca nửa thú vật, nửa thiên thần“.
Câu nói nầy có thể ứng dụng, “chúng” là chỉ những tập thể nhân danh điều cao cả để có đặc quyền, nhằm thủ lợi thô thiển, vượt lên trên luật pháp và nhân cách. Chúng ta cần một thứ luật pháp có hàm lượng cao về Văn minh và Dân chủ. Nó không thể là luật pháp tù mù, được xây dựng trên nền tảng không vững chắc, thiếu căn bản, vì lấy cái khác biệt nhỏ nhoi, nhất thời làm trái núi vĩnh hằng để thờ cúng.. (thật sự đã qua rồi: giai cấp, đấu tranh giai cấp, xã hội chủ nghĩa, đảng CS anh em nhảm nhí…). Trong ngoại giao có thể vì nặng nợ một chút quá khứ chăng, nhưng trong xã hội và giáo dục, không ai có quyền ngăn cấm chúng ta tiến hành một nền giáo dục nhân bản, mở mắt, mở hồn cho Thanh niên Việt Nam ra khắp năm châu, để chống cái ác và lạc hậu, thay cho một kiểu giáo dục theo đường lối đối kháng và khép kín? Hay chính là sự lạc hậu từ trong tư tưởng chủ đạo đang tự biến thành kẻ thù để cản trở ? Nhưng nó không thể cản trở được tầm nhìn của Nhân dân và TN ta ngày nay, đang có mặt ở khắp năm châu bốn biển, nó chỉ làm trở ngại thôi, nhưng chừng ấy cũng đã là tai họa đáng tiếc !
Từ “kẻ xấu” cũng là khái niệm đang xuất hiện gần đây, cũng rất đáng quan tâm.
Từ “kẻ xấu” thuộc phạm trù đạo đức, xấu và tốt, không thuộc phạm vi luật pháp. Chính Phủ chỉ có quyền phán xét căn cứ trên pháp luật, có tên gọi cụ thể. Kẻ trộm, kẻ cắp, có tội trộm cắp, người ăn hối lộ, có tội về hối lộ, người chống đối là chống đối về cái gì, có khi là đúng, có khi là phạm pháp. Kẻ xấu là ai, xấu về cái gì ? Cơ quan công quyền không được phép dùng từ ngữ mông lung, có tính ám chỉ nầy, vì nó không có trong luật. Người dân có thể hoang mang, mặc cảm, thậm chí phẫn nộ, khi cơ quan công quyền quăng ra một từ ngữ như thế vào mặt một đám đông, hay một cộng đồng. Nó đồng nghĩa với sự đe dọa, trấn áp, khủng bố tinh thần hoặc là sự quấy rối…Về phía cơ quan công quyền thì không giống một bà hàng xóm xấu tính chửi bâng quơ khi đuổi gà mất chó… Cơ quan công quyền như Công an, Cảnh sát, Tuyên huấn… thì phải khác, phải nói theo luật. Nói “kẻ xấu”một cách mông lung là không xác định được đối tượng, chỉ khả năng bất lực của mình. Cũng như nói “tàu lạ” là tránh né, không dám xác định chủ thể của người nói, (chứ không phải chủ thể của con tàu).
Nói về các từ ngữ trên đây, là tôi muốn nói về sự “không chính danh” trong tổ chức và vận hành của xã hội, mà trước hết là bộ máy Nhà nước, bắt đầu bằng từ ngữ để đi đến tư tưởng và xuất phát từ cái nhìn của người dân.
Chúng ta đang cần sự tổ chức lại cho “chính danh” đối với toàn bộ Bộ máy Quốc gia.
Thưa quý vị,
Xây dựng một nền dân chủ tiến bộ, cùng với sự vận hành của một bộ máy chính danh, là nền tảng cho phát triển bền vững, mà công đầu của nó trước hết sẽ là diệt tham nhũng. Cái tốt sẽ vươn lên và đè bẹp cái xấu. Cuộc đấu tranh cấp bách hiện nay và cũng là lâu dài của chúng ta là đấu tranh giữa thế lực thiện, tiến bộ với thế lực ác, lạc hậu, chứ chưa phải là cuộc chiến đấu với thế lực thù địch nào khác.
Để trả lời câu hỏi lớn của nhân dân, trước hết, chúng ta tự trả lời câu hỏi :
Chúng ta là AI ?…
Chúng ta đã bao lần chỉnh đốn Đảng mà không thành công, nếu chúng ta không nhận diện được mình, chúng ta rất cần ý kiến của nhân dân.
Một lần nữa, cảm ơn và chúc sức khỏe toàn thể Đại biểu đáng kính.
15-02-2012
Hạ Đình Nguyên
Chú thích
(1) Tây du ký
(2) thơ tình của Arvers, Khái Hưng dịch. Người con gái xem thơ mà không biết chính mình là nhân vật trong thơ “Xem thơ không biết có mình ở trong…” (3) Tác phẩm “bàn về mâu thuẫn” của Mao trạch Đông
(4) Gia Đình Thần Thánh của Karl Marx và Engels
Theo Người lót gạch

Thứ Sáu, ngày 02 tháng 3 năm 2012

Chính phủ Thái Lan chọn Xayaburi, bỏ Mê Kông

Thời gian này, trong khi chính phủ các nước khu vực Mê Kông đang thận trọng cân nhắc về con đập Xayaburi được đề xuất xây dựng tại Lào thì Chính phủ Thái Lan lại có động thái ngược lại: không tuân thủ tiến trình ra quyết định cấp khu vực, đồng thời tiếp tục thúc đẩy việc thực thi dự án.
Cá Irrawaddy Dolphin Mê Kông
Sau Lào, đến lượt Thái Lan 
Những phiên điều trần gần đây của Thượng viện Thái Lan và Ủy ban Nhân quyền Quốc gia (NHRC) cho biết, cùng với Lào, chính phủ nước này đã lên tiếng khẳng định tiến trình khu vực đã hoàn tất, theo đó Tập đoàn Ch. Karnchang – chủ đầu tư dự án đập – sẽ được phép tiến hành thi công.
Điều đó chẳng khác nào “Chính phủ Thái Lan chấp nhận phớt lờ các thỏa hiệp được đưa ra hồi cuối năm ngoái giữa chính phủ 4 nước hạ lưu Mê Kông và gạt bỏ mọi quan ngại từ phía Campuchia và Việt Nam. Dù rằng có tới trên 8 tỉnh Thái Lan dễ gặp rủi ro trước những tác động xuyên biên giới của đập thủy điện Xayaburi thì Thái Lan vẫn cứ “bình chân như vại”, coi nhẹ trách nhiệm bảo vệ người dân khỏi mối nguy này. Càng vô trách nhiệm hơn khi chính quyền Thái vẫn vỗ tay ủng hộ việc xây đập trong thời điểm các tác động của dự án đối với Thái Lan chưa hề được nghiên cứu đầy đủ” – Pianporn Deetes, đại diện Mạng lưới Sông ngòi Quốc tế (IR) tại Thái Lan, bình luận.
Bản khảo sát mới nhất của IR tiết lộ, giai đoạn chuẩn bị xây đập Xayaburi vẫn đang diễn ra bất chấp quyết định tạm hoãn xây đập để nghiên cứu tác động sâu hơn được 4 nước Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam đưa ra tại Cuộc họp Cấp Hội đồng của Ủy hội Sông Mê Kông (MRC) hồi đầu tháng 12/2011 trước khi có phán quyết cuối cùng về việc có nên xây đập. Thậm chí, một lượng lớn nhân công cũng đã được huy động trong suốt 2 năm qua để xây dựng đường sá và các công trình phục vụ dự án.
Trong một lá thư đề ngày 30/01/2012, Bộ trưởng Năng lượng Thái Lan Arak Cholthanon thông báo với Ủy ban Điều tra Tham nhũng và Thúc đẩy Quản trị tốt thuộc Thượng viện Thái Lan rằng “Bộ Tài nguyên chính thức xác nhận tiến trình Tham vấn Trước đã hoàn tất”. Ông còn nói rõ: “Cơ quan Điện lực Thái Lan (EGAT) và Tập đoàn Ch. Karnchang đã ký hợp đồng mua điện từ 29/10/2011”.
Phản đối của chính người dân Thái Lan 
Ngày 21/02/2012, nghĩa là chỉ cách đây hơn 1 tuần, Ủy ban Nhân quyền Quốc gia Thái Lan đã tổ chức một phiên điều trần công khai về đập Xayaburi sau khi nhận được đơn kiện của các cộng đồng dân cư ở 8 tỉnh Thái Lan.
Tại phiên điều trần, một số quan chức Chính phủ Thái Lan, bao gồm các đại diện của EGAT, Bộ Năng lượng và Ủy ban Điều tiết Năng lượng, đã xác nhận họ có dính líu tới dự án đập trên dòng chính Mê Kông. Chưa hết, 5 doanh nghiệp Thái Lan là Tập đoàn Ch. Karnchang, Ngân hàng Krung Thai, Ngân hàng Bangkok, Ngân hàng Kasikorn và Ngân hàng Thương mại Siam cũng chứng thực mối liên quan của mình.
Phiên điều trần xác nhận 4 ngân hàng lớn của Thái chính là những chủ đầu tư của dự án. Về phía chính quyền Thái Lan, trong một quyết định ban hành ngày 15/11/2011, nội các nước này đã cấp phép cho Ngân hàng nhà nước Krung Thai được đầu tư vào Xayaburi. Tuy nhiên, khi Ủy ban Nhân quyền Quốc gia Thái Lan yêu cầu giải trình các bước khảo sát tác động môi trường và xã hội của dự án thì các ngân hàng trên đều không thể giải trình rõ.
“Đây quả là một điều bất ngờ khi chỉ cần dành 5 phút tìm kiếm trên mạng internet đã có thể nhận ra vô khối vấn đề, đáng chú ý là làn sóng nghi ngại từ các cộng đồng dân cư Thái Lan”, bà Deetes bày tỏ. Và theo cách lý giải của bà, “nhiều khả năng chính sự liều lĩnh quyết theo đuổi dự án của EGAT cũng như các doanh nghiệp Thái Lan sẽ phá hỏng uy tín của cả một quốc gia”.
Trước khi quá muộn, Mạng lưới Sông ngòi Quốc tế kêu gọi Chính phủ Thái Lan lập tức hủy bỏ hợp đồng mua điện, đồng thời kêu gọi các ngân hàng Thái nhanh chóng rút vốn khỏi dự án xây đập.
Cách đây hơn 2 tuần, “Chiến dịch Đi bộ Hòa Bình vì Mê Kông (Peace Walk for the Mekong)” cũng đã được tổ chức dọc sông Mê Kông nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về những mối nguy từ đập Xayaburi, đồng thời yêu cầu hoạt động quản lý các nguồn tài nguyên lưu vực sông phải đảm bảo yếu tố hài hòa, trách nhiệm và có sự tham gia của nhiều bên chứ không riêng Thái Lan và Lào.
Như đã biết, địa điểm xây đập Xayaburi – cánh cửa mở màn cho chuỗi 12 đập được đề xuất xây dựng trên dòng chính Mê Kông – là ở Bắc Lào, nhưng Thái Lan lại là chủ đầu tư và trực tiếp thi công con đập.
Trước đó, Chính phủ Thái đã lên kế hoạch mua 95% điện sản xuất từ Xayaburi, mặc dù theo kết quả của một nghiên cứu độc lập, trong những thập kỷ tới, Thái Lan không cần điện từ Xayaburivẫn có thể đáp ứng đủ nhu cầu điện năng trong nước. Song, có lẽ những mối lợi ích quá lớn khiến Thái Lan vẫn mãi chưa dứt ra được khỏi dự án đập đầy tranh cãi này.
Tường Khang

Tại sao từ chức lại khó?

Vụ cưỡng chế đất ở Tiên Lãng (Hải phòng) có những sai sót động trời mà không ai từ chức, đâu có phải là chuyện lạ trên thế giới. Giả sử bạn ở địa vị ông Nguyễn Văn Thành, liệu bạn có từ chức hay không? Nói dễ làm khó là ở chỗ này.
Đơn từ chức
Từ xa xưa đến bây giờ và cho đến 1000 năm sau, là một người bình thường, đang giữ ghế quyền lực, chẳng ai bỗng nhiên…từ chức.
Tại sao có người ôm ghế đến cùng?
Trong lịch sử, rất nhiều người ngồi vào ghế lãnh đạo với ý định rất tốt từ ban đầu, nhưng với thời gian, bị quyền lực tha hóa, họ tham nhũng, được hối lộ và tội lỗi từ đó mà ra.
Với chiếc ghế, họ làm giầu cho bản thân, gia đình và bạn bè một cách hết sức nhanh chóng. Chỉ cần cái gật đầu, hàng trăm hecta đất của chung biến thành của riêng. Hàng chục triệu đô la chảy vào tài khoản ngân hàng bên Thụy Sỹ do một chữ ký hợp đồng in ấn.
Sau vài năm hay một thập kỷ, gia tài của họ lớn dần, đôi khi đạt hàng chục tỷ đến hàng trăm tỷ đô la, bằng thu nhập của một quốc gia.
Đang ngồi trên ghế quyền lực, có tài sản khổng lồ, quen hưởng thụ và sai bảo cấp dưới, những lãnh đạo này rất sợ sự phản kháng làm ảnh hưởng đến lợi ích đang có. Họ sợ minh bạch như cú  sợ mặt trời.
Lối sống ngồi trên luật pháp đã đẩy họ tới bước đường cùng, ít bạn bè chân thật, xung quanh toàn xu nịnh, nhóm lợi ích, tìm cách kiếm lời. Cùng hội cùng thuyền nên họ rất sợ bị lật đổ vì tiền của kiếm được sẽ mất hết, bị tù tội và thậm chí bị xử tử.
Những kẻ dùng tiền mua ghế, khi tại vị là lúc kiếm tiền trả nợ và thêm lời lãi. Có nhiều tiền lại lo mua chiếc ghế cao hơn. Đôi lúc sửa cả hiến pháp để kéo thêm thời gian. Đó là vòng luẩn quẩn của một xã hội không minh bạch, luật pháp vô thường.
Đòi hỏi những kẻ này từ chức ư. Không thể được, vì quyền lực quá lớn, tài sản quá lớn, kèm theo bàn tay vấy bẩn, không có đường thoái lui. Nhiều kẻ ôm quyền lực và tiền của ăn cắp cho tới lúc bị súng bắn vào đầu.
Tham nhũng thì khó mà có văn hóa từ chức bởi từ chức xong thì làm gì, sống như thế nào với gia đình, bạn bè, hoàn vốn mua ghế sao đây.
Trong lịch sử gần 100 năm gần đây, nhiều kẻ giữ ghế được vài năm tới vài thập kỷ, sống trên mồ hôi nước mắt và máu của người nghèo. Nhưng cuối cùng, hầu hết bị dòng đời cuốn trôi như Marcos, Suharto, Ceauşescu, từ châu Âu sang châu Á, gần đây là Gaddafi và nhiều nhà lãnh đạo trộm cắp của thế giới Ả Rập và Châu Phi.
Cái giá phải trả không phải là cuộc đời của những kẻ tham lam, vì họ xứng đáng bị trừng trị.
Ôm ghế làm cho quốc gia lầm than, ly tao loạn lạc, không thể ổn định để phát triển, hàng trăm triệu tới hàng tỷ người nghèo không có lối thoát, đó mới là cái giá rất lớn.
Người phương Tây từ chức dễ hơn?
Tây hay ta đều không muốn từ chức, chả ai dại gì rời ghế quyền lực. Quyền lực như chất ma túy, đôi người “nghiện ngập” cho đến lúc chết.
Mấy năm trước, Rod R. Blagojevich, Thống đốc bang Illinois, bị FBI sờ gáy vì định bán ghế TNS của Obama khi ông về Nhà Trắng nhận chức Tổng thống. Blagojevich chối đây đẩy cho tới khi ra tòa, trước những chứng cứ, đành vác va li vào tù 14 năm.
Đơn từ chức của Nixon. Ảnh: Wiki
Năm 1972, Tổng thống Nixon dính vụ nghe lén điện thoại của đối thủ ở khách sạn Watergate bị tờ Washington Post lôi ra ánh sáng. Ông ta chày cối đến phút chót. Cho tới khi 15 thượng nghị sỹ ngỏ ý nói rằng tổng thống phạm luật, Nixon hiểu là khó mà thoát án phạt nếu đưa ra luận tội trước Quốc hội, đành tuyên bố từ chức.
Nếu có tội, có thể bị vào tù, mất hết quyền lợi của tổng thống về vườn như hưởng lương suốt đời 200.000$/năm, có vệ sỹ và nhiều lợi lộc khác.
Nhờ Nixon từ chức mà Việt Nam đã kết thúc được cuộc chiến năm 1975. Tầm ảnh hưởng của vụ “từ chức” này vượt khỏi biên giới quốc gia.
Nếu không, luật pháp ra tay, báo chí vào cuộc với vai trò của quyền lực thứ 4, Tổng thống hối hận thì quá muộn, có thể đi thẳng từ Nhà Trắng vào trại giam.
Nhiều chính khách nổi tiếng trên thế giới từ chức vì dính chuyện sex, tham nhũng, lạm quyền và hàng trăm lý do khác nhau. Lo luật pháp sờ gáy, so cái được và mất, rồi nghĩ đến tương lai, họ đành chọn cách bỏ ghế…chạy lấy người.
Lãnh đạo phương Tây thường giỏi và giầu có trước khi thành chính khách. Vì thế, họ không sợ từ chức nghĩa là mất hết, nên cũng không cảm thấy cần phải ôm ghế đến cùng. Nếu về vườn, tiếp tục công việc, đôi khi giầu có và đôi khi nổi tiếng hơn.
Tổng thống Nixon đuổi gà cho vợ, mất hết uy tín, có lúc tài khoản chỉ còn 500$. Nhưng ông đi nói chuyện trên tivi, viết sách, kiếm được kha khá. Ông thăm Gorbachev rồi về viết báo cáo và được Gallup coi là một trong 10 lãnh đạo ảnh hưởng thế giới.
Thể chế minh bạch, tam quyền phân lập, luật pháp rõ ràng, báo chí độc lập, quan trí và dân trí cao, kèm theo cây gậy và củ cà rốt, là những yếu tố đóng vai trò quan trọng cho văn hóa từ chức phương Tây.
Còn ở quốc gia mà thể chế tạo ra quyền lực không bị kiểm soát dễ bị tha hóa. Bị tha hóa rồi thì chuyện từ chức sẽ rất hiếm và khó xảy ra.
Hiệu Minh. 28-02-2012

Bằng chứng không thể chối cãi

Theo đề nghị của một số bạn đọc, bài viết đã bị xóa vì những thông tin không chính xác. Chân thành xin lỗi các bạn!

Tầm nhìn của con ngựa kéo xe

Hồi cuối những năm 1970s tôi may mắn được trong số ít ỏi lưu học sinh của nước Việt Nam XHCN sang du học tại Anh quốc TBCN. Đó cũng là thời kỳ khó khăn nhất của Việt Nam cả trên hai mặt trận đối nội và đối ngoại. Về đối nội, lúc đó chưa có đổi mới, vẫn còn nguyên chế độ bao cấp thiếu đủ thứ từ cây kim sợi chỉ cho đến gạo, đường, mắm muối…Về đối ngoại Việt Nam bị cả phương Tây và ông bạn láng giềng phương Bắc gây sức ép ghê gớm vì sự kiện Campuchia.

Thời kỳ đó, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Anh tương đối thân thiện. Tuy nhiên phía Anh chưa công nhận chế độ bằng cấp của Việt Nam và cũng dè dặt trong quan hệ chính trị , do đó chỉ cấp một số ít học bổng hạn chế trong lĩnh vực đào tạo giáo viên Anh văn, và chỉ cấp chứng chỉ (certificate), không cấp bằng master cho ai cả. Một số cán bộ trẻ được Bộ Ngoại giao cử đi học phải đóng vai "giáo viên" của Đại học Sư phạm Hà Nội, và may mắn cũng vượt qua vòng thi tuyển . Sau khi hoàn tất thủ tục, đoàn du học sinh gồm 20 người chúng tôi lên đường trước Tết âm lịch năm 1978 bằng đường không qua Hồng Công để đến London. Đó là đoàn thứ 2 trong số 3 đoàn được thực hiện theo thỏa thuận giữa hai nước trước khi chương trình bị gián đoạn do tình hình quan hệ xấu đi trước bối cảnh vấn đề Campuchia và chiến tranh biên giới Trung -Việt..

Dù sao đối với chúng tôi, chuyến du học đó cũng là một chuyến du lịch "khám phá" đến thế giới tư bản "đang dẫy chết" . Ai cũng đều rất ngạc nhiên trước tình độ phát triển của Hồng Công và nước Anh, nơi có nhiều đường phố văn minh sạch đẹp và những công viên như thiên đường, với chế độ giáo dục, y tế và phúc lợi xã hội khá lý tưởng. Nhưng đồng thời chúng tôi cũng luôn tự nhũ phải giữ vững lập trường và đề cao tinh thần cảnh giác… Đi đâu, làm gì, tiếp xúc với ai chúng tôi đều cố gắng ít nhất có hai người để “bảo vệ” lẫn nhau (!) Đúng vậy, đó là trạng thái tinh thần và cũng là nội quy mà chúng tôi phải chấp hành. Có lẽ đó cũng là do kết quả của quá trình giáo dục, đào tạo ở nước ta một thời khiến ai cũng đều có cách hiểu giống nhau về mọi vấn đề. Sự hiểu biết đó dựa trên tình cảm dân tộc kết hợp với ý thức chính trị cứng nhắc trong mỗi con người. Nhưng đó là “bảo bối” để bất cứ người Việt Nam nào được cử ra nước ngoài có thể “đứng vững” trong quá trình sống và học tập ở môi trường mới lạ.

Trong 2 năm học ở Anh bọn sinh viên chúng tôi đã “va chạm” với rất nhiều dạng chính kiến khác nhau rất phức tạp trong những tình huống khác nhau, kể cả hội nghị, hội thảo về các chủ đề nhậy cảm như vấn đề Campuchia, vấn đề người tị nạn, v.v... Trước những trường hợp khó, chúng tôi thường có bàn bạc để thống nhất cách ứng đáp. Giờ nghĩ lại tôi vẫn ngạc nhiên về khả năng “giữ vững lập trường” của chúng tôi trước mọi tình huống như thế. Chẳng hạn khi có người hỏi về vấn đề người di tản (boat people), chúng tôi giải thích là do một số phần tử thuộc chính quyền cũ không chịu cải tạo và hòa nhập vào xã hội mới, lại bị kích động của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam…; về tình trạng kinh tế trì trệ và đời sống khó khăn, chúng tôi giải thích là do hậu quả chiến tranh kéo dài… ; vấn đề Campuchia, chúng tôi giải thích là do âm mưu của các thế lực thù địch nước ngoài buộc Việt Nam phải tấn công để tự vệ đồng thời giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng …Vân vân và vân vân. Nghĩa là chúng tôi tìm mọi cách lập luận để Việt Nam bao giờ cũng là người anh hùng chân chính, không bao giờ làm gì sai trái; nếu có điều gì không ổn là do âm mưu của các thế lực phản động thù địch gây ra! Kể cũng lạ, khi chúng tôi nói những điều đó đều được đa số người nghe tán đồng; nếu có ai không tán đồng họ cũng không phản đối gay gắt. Có lẽ điều này đã khiến chúng tôi ảo tưởng rằng mình đã thành công (!?) Nhưng sau này ngẫm lại, tôi thấy đó chỉ là bề ngoài và chỉ với những bạn bè "cả nể" không muốn tranh luận; còn dư luận thực sự đã chuyển sang thế bất lợi cho Việt Nam.

Dù sao, qua đó chúng tôi đã học được những bài học cay đắng nhưng bổ ích. Điều thú vị là, những bài học này trước hết đến từ những người vốn là bạn của Việt Nam, trong đó có bà già chủ nhà trọ của tôi. Bà lão này đã từng một thời rất tích cực tham gia phong trào đấu tranh chống Mỹ xâm lược Việt Nam. Hàng ngày , ngoài việc phục vụ ăn ở cho khách trọ, bà hay trò chuyện với chúng tôi về nhiều chủ đề. Có điều là cuộc nói chuyện nào hầu như cũng có tranh luận, nhất là khi nói về chủ đề quyền sở hữu và tự do cá nhân, vấn đề cải tạo công thương nghiệp và vấn đề Campuchia . Bà ấy hay đưa ra những nhận xét trái ngược với chúng tôi và tỏ ra rất thất vọng về những gì đang diễn ra ở Việt Nam thời kỳ sau chiến tranh. Chúng tôi giải thích kiểu gì bà ấy cũng chỉ lắc đầu và cười như chế nhạo. Lúc đầu tôi quyết tâm không để bị thuyết phục bới “bà già Ê-cốt” mà tôi cho là “thiếu thông tin” này . Nhưng rồi tôi nhận ra bà ấy có lý. Có lần bà bảo: “Người anh hùng hôm qua có thể biến thành tên đồ tể ngày hôm nay” để nói từ khi VN xâm lược CPC thì không còn là người anh hùng nữa!. Lần khác bà lại đưa ra nhận xét: “Chúng mày đều giống như con ngựa kéo xe bi tấm tấm da che hai bên mắt, chỉ nhìn thấy một hướng phía trước mặt… “. Tôi như điếng người trước lối nói ẩn dụ ấy của bà. Có lẽ chỉ những người thực sự yêu quý Việt Nam mới hiểu sâu sắc và nói ra những điều như thế. Tất nhiên là, tôi đã cãi lại. Và tôi có đầy đủ lý lẽ và lòng nhiệt thành để làm điều đó, mặc dù bà ấy không thể đồng ý với tôi.

Đó là bài học của tôi cách nay gần 35 năm rồi. Nhưng điều đáng ngạc nhiên và cũng đáng tiếc là cho đến nay vẫn thấy nhiều người Việt Nam, kể cả giới lãnh đạo và quan chức, dường như vẫn chưa rút ra bài học như vậy. Trường hợp điển hình gần đây nhất là ông Bí thư Thành ủy Hải Phòng Nguyễn Văn Thành khi ông ta nhiệt thành bao biện cho những việc làm sai trái đồng thời có ý báo động về "âm mưu của ai đó....". Hình như ông Thành không phân biệt được đâu là âm mưu (của địch thật), đâu là do chính ta gây ra./.

Trần Kinh Nghị