Thứ Bảy, ngày 17 tháng 3 năm 2012

Từ sự kiện Tiên Lãng nhớ lại và suy ngẫm

Là nhớ lại và suy ngẫm về sự kiện Thái Bình 15 năm trước, 1997. Vâng, đúng 15 năm! Bao nhiêu nước chảy qua cầu!

Có lẽ trước khi sự kiện Thái Bình bùng nổ, ít ai nghĩ rằng tại nơi đây, quê hương của lá cờ đầu sản xuất nông nghiệp “chị Hai năm tấn quê ở Thái bình”, nơi đây cũng là lá cờ đầu của “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” trong kháng chiến, lá cờ đầu của hầu hết các hoạt động, từ sản xuất đến văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, xây dựng đời sống mới… Thái Bình tự hào về người quê mình từng có mặt tại những điểm hẹn của lịch sử: bắt sống tướng Đờ Cát tại Điện Biên Phủ tháng 7 năm 1954, cắm cờ trên Dinh Độc lập vào trưa ngày 30/4/1975, cũng là người Việt Nam “chân dép lốp mà bay vào vũ trụ”…

Ấy thế rồi những ngày cuối cùng của tháng 6 năm 1997 có tới 5 trên 7 huyện và thị của tỉnh gồm xã Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Tiền Hải, Ðông Hưng, Thái Thụy có khiếu kiện tập thể của bà con nông dân về những vấn đề dân chủ và công bằng xã hội trong nông thôn. Không được tiếp nhận và giải quyết thỏa đáng, những sự biến xảy ra dồn dập hơn, mãnh liệt hơn, và có chiều hướng bạo lực từ cả hai phía: chính quyền và dân. Và rồi, sự xuất hiện của cảnh sát cơ động đã đặt các cuộc biểu tình ôn hòa và hợp thức vào tình thế bế tắc. Xu hướng bạo lực ngày càng gia tăng. Sự kiềm chế và tính tổ chức ở những người biểu tình càng giảm sút thì các sự biến xã hội càng khó kiểm soát.
Một cuộc khủng hoảng chính trị xã hội thực sự trong nhiều xã và huyện của nông thôn Thái Bình đã bùng nổ

Trung ương đã thành lập Tổ công tác đặc biệt do đồng chí Phạm Thế Duyệt, Thường trực thường vụ Bộ Chính trị phụ trách về Thái Bình để kịp thời xử lý tình huống và đưa ra những quyết sách. Theo cách nhìn và phong cách làm việc của mình, Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cùng với việc theo sát những nhận định và quyết sách của Tổ công tác trên, đã chỉ thị cho Tổ nghiên cứu Đổi mới [thường gọi tắt là Tổ tư vấn của Thủ tướng, sau này là Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ], cử một nhóm các nhà khoa học về một điểm nóng ở Quỳnh Phụ, từ góc nhìn xã hội học để đưa ra những nhận xét và kiến nghị về sự kiện Thái Bình. Viện trưởng Viện Xã hội học, thành viên của Tổ Nghiên cứu Đổi mới của Thủ tướng được trao trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ đó.

Một nhóm về ở ngay trong lòng điểm nóng: xã An Ninh gồm bốn người do Viện trưởng Viện Xã hội học phụ trách. Một nhóm khác gồm ba cán bộ, do một Phó Viện trưởng phụ trách cùng hai cán bộ nghiên cứu, đều là người quê ở Thái Bình, đi theo tuyến rộng, dọc theo đường Hà Nam, Nam Ðịnh, qua Tiền Hải, vòng về thị xã, qua Ðông Hưng, Thái Thụy, Quỳnh Phụ, Kiến Xương để tìm hiểu âm vang và độ nhiễm cảm của các sự kiện bạo động trong tỉnh. Một nhóm khác nữa xuất phát sau một tuần, đến huyện Thái Thụy nơi có điểm nóng Thái Thịnh để đo sự diễn biến sau sự kiện An Ninh và dư luận quần chúng về các giải pháp của chính quyền tỉnh đã áp dụng. Ðồng thời với các nhóm đi khảo sát tại Thái Bình, nhóm nghiên cứu về hộ kinh tế gia đình và địa vị của người phụ nữ tại Hải Hậu, Nam Ðịnh được trao nhiệm vụ kết hợp khảo sát thêm về chủ đề mà nhóm nghiên cứu ở Thái Bình đang tiến hành. Một nhóm nữa đang nghiên cứu tại 10 xã trong ba tỉnh (Hà Nam, Nam Ðịnh, Ninh Bình) về đề tài biến động dân số cũng được trao nhiệm vụ thu thập thêm tư liệu về chủ đề như đã nghiên cứu ở Thái Bình.

Vì thế, bản báo cáo tổng kết dựa trên tư liệu thu thập được qua phỏng vấn sâu, quan sát trực tiếp, các văn bản của tỉnh, huyện, xã (băng ghi âm ghi lời người được hỏi và tập hồ sơ ghi lại nội dung đã thu vào băng) cùng với 8 báo cáo của các cán bộ đi khảo sát và sơ kết của nhóm khảo sát. Cũng do đó, báo cáo về “Sự kiện Thái Bình” được hình thành trên cái nền nhận thức của những người nghiên cứu về nông thôn, đặc biệt là nông thôn vùng đồng bằng Sông Hồng.

Giờ đây, trước sự kiện Tiên Lãng vừa xảy ra mở đầu cho năm 2012 gây bức xúc trong dư luận, nhìn lại “Sự kiện Thái Bình” năm 1997 để suy ngẫm càng thấy rõ cái lôgic tất yếu của sự bùng nổ từ những nung nấu tiềm ẩn trong đời sống nông thôn và trong tâm trạng của người nông dân bị đẩy đến bước đường cùng. Một điều tưởng như đã chìm vào trong quá khứ: mọi chính quyền nhà nước qua các biến thiên của lịch sử đều phải đối diện với nông dân, nông thôn, nông nghiệp ở một nước mà hệ văn minh lúa nước ở vùng nhiệt đới gió mùa chi phối toàn bộ đời sống.

Từ tháng 8 năm 1945, chúng ta cứ ngỡ là với nhà nước được mệnh danh là của dân, do dân và vì dân chắc sẽ không phải lo về sự đụng độ và đối đầu với cái biển nông dân mênh mông và mãnh liệt ấy. Sau bao nhiêu hy sinh xương máu, chiếc đòn gánh tre vẫn “chín dạn hai vai” [Nguyễn Du] người nông dân chân lấm tay bùn để góp phần to lớn vào sự nghiệp “công nghiệp hóa và hiện đại hóa” đất nước với gần 80% dân số sống ở nông thôn. Thế nhưng những thành quả của Đổi Mới, của “hiện đại hóa” thì người đô thị hưởng phần lớn, bà con nông dân chẳng được là bao. Còn hệ lụy của “công nghiệp hóa và đô thị hóa” thì họ gánh đủ.

Nguy hại nhất là đất đai, nguồn sống bao đời và cũng là khát vọng bao đời của họ đang dần dà bị teo lại và có khi mất sạch. Mà đất đai, “quốc gia công thổ” lại nằm trong tay nhà cầm quyền. Nhân danh nhà nước, nhân danh sở hữu toàn dân, họ tha hồ thao túng, mà nông dân thì chỉ còn ngậm đắng nuốt cay để trở lại với câu than thở cho thân phận người thấp cổ bé họng: “Trời sao trời ở không cân. Kẻ ăn không hết, người lần không ra”.

“Trời” nơi đây có lẽ là “những ông trời con” đang nắm lấy “cán cân công lý” vào buổi nhiễu nhương pháp luật như trò đùa, muốn nghiêng bên nào cũng được, điển hình là vụ Ba Sương, anh hùng thời kỳ Đổi mới cả cha lẫn con trên Nông trường Sông Hậu, được phong tặng danh hiệu “người phụ nữ tiêu biểu của Đông Nam Á”, là Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯMTTQVN, vì “lực hút của đất” [từ đất nông nghiệp thành đất dự án với lợi nhuận khổng lồ] mà người phụ nữ ấy bị đẩy vào vòng lao lý hơn bốn năm trời, để rồi trước sức ép của dư luận người ta phải buông tha, hủy bỏ bản án!

Nhưng dù sao thì Ba Sương cũng là người có “danh phận” nổi trội để có thể gọi dậy dư luận, còn biết bao thân phận thấp cổ bé miệng khác thì biết kêu ai như bà Vũ Thị Hải ở Nho Quan, Ninh Bình mà báo Đại Đoàn Kết số ra ngày 30/1/2012 vừa nêu. Bà Hải cùng chồng khai hoang, trồng rừng, chồng chết vì tai nạn lao động lúc đào đất, nhưng rồi đất khai hoang của hai vợ chồng bà bị cướp sạch để rồi bà Hải lại trở thành người làm thuê ngay trên mảnh đất rừng vợ chồng bà khai hoang giờ đây chủ mới là ông Bí thư xã!

Và rồi, người nông dân không thể cam chịu. Tức nước vỡ bờ, đó là quy luật muôn đời. Sự kiện Thái Bình năm 1997 và sự kiện Tiên Lãng với cách ứng xử quyết liệt của người cựu chiến binh Đoàn Văn Vươn là sự phát triển lôgic của cuộc sống. Thật đáng suy nghĩ khi chị Phạm Thị Hiền, vợ của anh Đoàn Văn Quý, em ruột ông Vươn cũng đang bị tù, nói rằng chị “không ân hận” về những gì xảy ra và gia đình chị “chấp nhận mất” để “xã hội được”. Chị biểu tỏ một thái độ rất đàng hoàng và đúng mực khi không coi vụ cưỡng chế đất đai hôm 5/1 là thi hành công vụ mà là “cướp”, vì vậy gia đình chị chỉ “tự vệ quá giới hạn”. Khi người nông dân nghĩ như vậy, và đã hành động như vậy thì tầm vóc của sự kiện Tiên Lãng diễn ra 15 năm sau sự kiện Thái Bình 1997 đã là một biến thái mới rất đáng suy ngẫm. Còn nhớ, khi nghe báo cáo về cuộc Khảo sát Xã hội học về sự kiện Thái Bình, do người viết báo cáo trình bày, đồng chí Phạm Văn Đồng đã không đồng tình khi người báo cáo trình bày rằng: “Ở đây không có chuyện địch ta, mà chỉ là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân”. Ông yêu cầu chỉnh lại: “Đây là mâu thuẫn giữa một bên là những người cầm quyền hư hỏng, thoái hóa biến chất đè nén, áp bức để dân không còn chịu được nữa, và bên kia là người dân phải vùng dậy đấu tranh. Có phân tích như vậy mới tìm ra được giải pháp đúng”! Quả là một nhận định thật tường minh và chuẩn xác. Đáng tiếc là điều ấy đã không được nghiêm cẩn thực hiện.

Và cái gì phải đến thì đã đến.

GS Tương Lai
Nguồn: Ba Sàm/Tạp chí Xưa & Nay Số 399, tháng 3/2012

Những bài giảng sexy

Các diễn đàn ở Việt Nam đang nóng lên nhân “sự kiện” TS Lê Thẩm Dương sử dụng nhiều câu chuyện có yếu tố “sex”, thậm chí ngôn ngữ khá dung tục để minh hoạ cho bài giảng thêm hấp dẫn. Vấn đề nghe có vẻ tầm phào nhưng ẩn sau đó lại là một đề tài nghiêm túc: (1) Yếu tố “gợi tình” có phải là công cụ quan trọng/chủ yếu để bài giảng hấp dẫn người nghe? (2) Học trò đông có phải là điều bảo đảm  cho thành công của giảng viên?
Tiến sĩ Lê Thẩm Dương, Trưởng khoa Quản trị kinh doanh, Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh
Về khía cạnh đầu tiên, quả là không ít diễn giả, cả tây lẫn ta thường sử dụng yếu tố “gợi tình” để làm gia vị cho bài giảng, gây sự chú ý của cử toạ. Gần đây, vào tháng 2/2012, BBC truyền hình cuộc tranh luận xung quanh luận đề “Hy Lạp phải tuyên bố vỡ nợ và rời khu vực đồng Euro” (Greece should default on its debt and leave the Euro). Tham gia tranh luận có hai phe: phe ủng hộ để Hy Lạp vỡ nợ gồm hai chuyên gia kinh tế kỳ cựu: Nouriel Roubini, giáo sư Đại học New York,và Costas Lapavitsas, giáo sư Đại học London; phe phản đối có Thượng nghị sĩ Anh Denis Mac Shane và bà Miranda Xafa, chuyên gia IMF. Phóng viên BBC Zeinab Badawi điều khiển diễn đàn. Thượng nghị sĩ Anh Mac Shane đã ra đòn phủ đầu nhằm vào các nhà kinh tế bằng nhận xét hài hước có ý mỉa mai “các nhà kinh tế có thể nghĩ ra 365 tư thế làm tình nhưng thực tế họ chưa từng gặp một người phụ nữ”. Lời bình luận sexy này đã làm nóng hội trường với sức chứa 1.200 người tại Hy Lạp. Tuy nhiên, lời bình hơi “khiếm nhã” của ông Mac Shane không phải được đưa ra một cách vô thưởng vô phạt mà nó là sự hưởng ứng làn sóng chỉ trích các nhà kinh tế, đặc biệt khi khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng phát. Năm 2008 tập thể nhiều nhà khoa học đứng đầu là giáo sư David Colander đã ra báo cáo “The Financial Crisis and the Systematic Failure of Academic Economics” (Khủng hoảng tài chính và thất bại hệ thống của kinh tế học hàn lâm)[1]. Trong đó thừa nhận việc thiếu hiểu biết về hệ thống kinh tế là do “quá  đề cao mô hình toán” và “đặt các nỗ lực nghiên cứu vào nhầm chỗ”, trong đó đã bỏ qua yếu tố quan trọng là sự biến đổi về bối cảnh xã hội (cơ cấu xã hội, thói quen, hành vi xã hội..). Victor Beker, giáo sư đại học Buenos Aires, trong bài viết về khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng của ngành kinh tế học đã đề cập đến sự bất lực của các nhà kinh tế, vốn luôn tự hào về khả năng thấu hiểu kinh tế và năng lực đưa ra các dự báo kinh tế. Beker trích dẫn thư của Viện Hàn lâm Anh gửi tới Nữ hoàng Anh, trong đó công nhận sự thất bại của các nhà kinh tế trước những diễn biến bất thường của tình hình kinh tế  “Nói tóm lại, thưa Nữ hoàng, việc không thể nhìn trước thời điểm, mức độ và tính nghiêm trọng của khủng hoảng để có thể ngăn ngừa nó, về nguyên tắc chính là sự thất bại của tập thể những con người xuất sắc, ở nước Anh cũng như trên toàn thế giới, đã không thấu hiểu được những nguy cơ đối với toàn thể hệ thống”[2].
Rõ ràng lời bình ngắn gọn và sexy của Thượng nghị sĩ Mac Shane ẩn chứa sau nó cả một câu chuyện dài về kinh tế học, về những hướng tiếp cận mới trong ngành học này, đồng thời nó cũng là câu trả lời cho vấn đề Hy Lạp “Những gì gắn kết Hy Lạp với EU và khu vực đồng Euro không chỉ là vấn đề tiền tệ như các nhà kinh tế quy kết”.
Vấn thứ hai liên quan đến việc liệu số lượng người nghe có phải là thước đo cho năng lực của giảng viên/diễn giả? Trước đây giới đại học Việt Nam dường như không quan tâm lắm đến vấn đề này vì theo mô hình cũ, sinh viên không có quyền lựa chọn môn học/giáo viên mà bắt buộc phải học theo thời khoá biểu quy định. Kể từ khi chế độ học theo tín chỉ được ban hành thì chuyện giáo viên làm sao hấp dẫn sinh viên bắt đầu được đặt ra. Đây cũng là chuyện của cả giới đại học bên Tây. Lịch sử cho thấy không phải bao giờ giờ giảng vắng sinh viên cũng thể hiện sự yếu kém của giáo sư. Schopenhauer là một ví dụ. Triết gia Đức vĩ đại nổi tiếng với tác phẩm “Thế giới như là ý chí và biểu tượng”, được coi là sự đột phá trong triết học về nhận thức thế giới, đã từng thất vọng tràn trề khi giờ giảng của ông không có một mống sinh viên. Phải sau khi ông qua đời thì học thuyết của ông mới được tán dương và lưu truyền rộng rãi. Tất nhiên, không giáo sư nào mong muốn điều này xảy ra với mình và họ cố tìm cách  để bài giảng dễ hiểu, hấp dẫn, trong đó yếu tố hài hước và những ám chỉ về giới tính được coi là công cụ đắc lực.
Về vấn đề này, ở Việt Nam, có vẻ ngành giáo dục đi sau ngành biểu diễn, nơi mà cho đến nay câu chuyện về sự cạnh tranh giữa nghệ thuật và thị trường, giữa giá trị đích thực và thị hiếu tầm thường vẫn chưa ngã ngũ. Các diễn viên và đạo diễn vẫn kêu ca hài kịch thu hút khán giả hơn chính kích, tạp kỹ bán vé tốt hơn nhiều so với opera và nhạc giao hưởng, hở hang lôi kéo khán giả/độc giả mạnh hơn kín đáo nghiêm túc. Quay trở lại với vụ TS. Lê Thẩm Dương, trong khi một số nhà giáo dục lên tiếng phản đối cách dạy của thày thì nhiều sinh viên lại tỏ ý hào hứng với ngôn ngữ mà họ cho là hấp dẫn, không nhàm chán, không gây buồn ngủ và lên án thực trạng dạy trong nhà trường hiện nay là giáo điều, khô khan, nặng về lý thuyết, khiến họ luôn rơi vào tình trạng nửa tỉnh nửa mơ trong giờ học. Giờ giảng của TS. Lê Thẩm Dương được coi là thành công về mặt thị trường vì thu hút được nhiều người học. Nhà tổ chức thu được tiền từ học viên và tìm cách hậu thuẫn cho những giờ giảng “được đặt hàng” nhằm thoả mãn sự hài lòng cho lỗ tai người nghe.
Giáo dục ở Việt Nam giờ đây đang ngày càng gắn kết với thị trường vì giáo dục luôn cần tiền và ngày càng phụ thuộc vào túi tiền của người dân. Vậy thì người dân là thượng đế. Và trên thị trường đang có sự cạnh tranh của nhiều nhóm thượng đế, trong đó có nhóm đòi hỏi chất lượng chuyên môn thật sự từ người thày (người tung clip của thày Dương lên mạng có thể thuộc nhóm này) và nhóm cần một món ăn học thuật hấp dẫn, dễ nuốt, dễ tiêu. Có lẽ bản thân những giáo viên kỳ cựu như thày Dương phải phân vân lựa chọn cách nào phù hợp và thày đã lựa chọn cách để thoả mãn nhóm thứ hai, hiện là nhóm đông hơn. Sự chỉ trích của các nhà giáo dục không chỉ nhằm vào thày Dương mà còn nhằm vào nhóm thứ hai này, cũng như các nhà phê bình nghệ thuật lên án nhóm khán giả thích xem phim hở hang tươi mát hơn là các phim nghiêm túc nghệ thuật.
Vấn đề đặt ra là liệu có nên để chất lượng giảng dạy phụ thuộc vào thị hiếu của thượng đế?  Bởi vì có thượng đế thì ngành giáo dục mới có điều kiện để hoạt động.  Và chỉ khi nào nhóm thượng đế một (nhóm nghiêm túc, hướng tới các giá trị đích thực) thắng thế nhóm thượng đế hai (nhóm thích những thứ dễ dãi, vui vui, sexy càng tốt) thì khi đó cục diện tình hình văn hoá giáo dục mới thay đổi chăng? Nhưng liệu có thể định hướng cho nhóm thứ hai này thay đổi nhanh lên? Có lẽ chẳng phải ai khác, chính những người đứng trên bục giảng như thày Dương phải sử dụng thẩm quyền khoa học của mình, chung tay giúp sức cải thiện tình hình, dẫn dắt các nhóm thượng đế cùng đến với những giá trị văn hoá-khoa học thực sự được thể hiện dưới hình thức hấp dẫn, có ý nghĩa.
Trần Thị Phương Hoa 

[1] David Colander et al., The Financial Crisis and the Systemic Failure of Academic Economics
[2] Thư của Viện Hàn Lâm Anh gửi Nữ hoàng Anh, 7/2009, dẫn theo Victor Beker, xemhttp://www.economics-ejournal.org/economics/discussionpapers/2010-18
Nguồn: Viet-Studies

Tập Cận Bình: Đảng Cộng sản Trung Quốc là nơi tập trung mọi thối nát

Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhận định là nhân dân Trung Quốc gần như mất hết tin tưởng vào đảng Cộng sản. Lời tuyên bố này mới được công bố hôm nay 16/03/2012 trong bối cảnh tranh giành quyền lực ở cấp thượng tầng cùng lúc với lời cảnh báo của Thủ tướng Ôn Gia Bảo về nguy cơ xảy ra một vụ « Cách mạng văn hóa » như trong thập niên 60.
>> Xem thêm về nhân vật Tập Cận Bình
Phó chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang chờ đợi lễ bế mạc kỳ họp Quốc hội tại Đại sảnh đường Nhân dân ở Bắc Kinh ngày 14/03/2012.
Theo tuyên bố của Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thì đảng Cộng Sản mà ông sắp lên lãnh đạo vào vào tháng tới đây chỉ là nơi tập trung thành phần giá áo túi cơm cần phải được « trong sạch hóa ».

Những tệ nạn trong đảng cầm quyền suốt hơn 63 năm tại Trung Quốc là « thiếu lý tưởng, sa đọa, vô nguyên tắc và vô trách nhiệm đã xâm nhập mọi cấp đảng viên » với những mức độ khác nhau và làm mất uy tín trong dân chúng.

Bài phát biểu của lãnh đạo tương lai Trung Quốc được trình bày tại Trường Đảng hồi đầu tháng Ba và mới được công bố hôm nay trên báo đảng Cầu Thị, một ngày sau khi xảy ra vụ thanh trừng cách chức Bí thư Thành ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai, thế hệ « hoàng tử đỏ ».

Theo AFP, vào lúc tất cả những chức vụ quan trọng tại Trung Quốc, từ cấp thấp nhất đến cấp lãnh đạo, từ trong chính quyền đến lãnh vực kinh tế, xí nghiệp, đều nằm trong tay đảng viên, ông Tập Cận Bình lo ngại rằng đảng Cộng sản đã biến thành nơi chia chác đỉnh chung. Vào đảng là để có cơ hội vinh thân phì gia, chứ không phải vì lý tưởng hay mục đích cao đẹp phụng sự đất nước và nhân dân.

Lãnh đạo tương lai của Trung Quốc nhận định : “Nhiều người gia nhập Đảng không phải vì chủ nghĩa Mác hay để nỗ lực xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa theo màu sắc Trung Hoa, hoặc là để chiến đấu cho đến giọt máu cuối cùng cho chính nghĩa cộng sản, mà họ vào Đảng vì được hưởng đặc quyền đặc lợi cá nhân”.

Nhân vật sắp lên thay Hồ Cẩm Đào nhấn mạnh đến yếu tố mà ông gọi là « ý thức hệ trong sáng » để duy trì « tinh thần sáng tạo và tính chiến đấu». Sở dĩ đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc bị mất tín nhiệm, bị sa đọa là do « tư tưởng không trong sáng ».

Câu hỏi đặt ra là làm cách nào để kiến tạo « sự trong sáng » nơi người cộng sản Trung Quốc ?

Ông Tập Cận Bình nhấn mạnh đến giải pháp « củng cố tổ chức, kiểm soát việc kết nạp đảng viên , tăng cường giáo dục và thanh tra ». Sau cùng là « thanh lọc hàng ngũ một cách kiên quyết, khai trừ những phần tử thoái hóa nghiêm trọng không thế cứu vãn ».

Một ngày sau khi thanh trừng Bạc Hy Lai, lãnh đạo đảng Cộng sản tại Trùng Khánh, những lời tuyên bố đao to búa lớn này được giới quan sát xem là dấu hiệu của những xung khắc gay gắt trong nội bộ đảng Cộng sản Trung Quốc.

Theo giáo sư Willy Lam, đại học Hồng Kông, thì Bạc Hy Lai là nạn nhân của cuộc tranh giành quyền lực giữa phe xuất thân từ Đoàn Thanh niên Cộng sản do Hồ Cẩm Đào thống lĩnh và phe « con ông cháu cha » được gọi là giới hoàng tử đỏ như Bạc Hy Lai.

Phải ngăn chận được « phe bảo thủ » thì phe tạm gọi là « cải cách » mới có thể hy vọng kéo dài đặc quyền sau khi thế hệ Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo ra đi. Thực chất thì cả hai phe đều thi hành chính sách áp bức với dân từ hơn 60 năm qua.

Thủ tướng Ôn Gia Bảo có vẻ không yên tâm cho tương lai của chế độ. Thứ Tư vừa qua, ám chỉ cuộc nổi dậy của dân oan làng Ô Khảm chống bất công và tham nhũng, Ôn Gia Bảo tuyên bố không loại trừ Trung Quốc sẽ gặp biến động mà ông gọi là « một bi kịch » như cuộc cách mạng văn hóa thời Mao nếu không « cải cách » kịp lúc.

Tuy nhiên, cũng như những lần kêu gọi trước, Thủ tướng Trung Quốc không nói rõ là « cải cách gì và cụ thể ra sao ».

Chuyên gia Jean-Philippe Beja thuộc Viện Quan hệ Quốc tế Pháp dự báo sẽ còn nhiều « diễn biến » bất ngờ trong thời gian tới.

Tú Anh
Theo RFI

1 chiếc siêu xe, 777 năm thu nhập

8h sáng ngày hôm qua 16-3, theo giờ địa phương tại Mỹ, và một số vùng lãnh thổ khác trên toàn cầu, một “sự kiện văn hoá” đã diễn ra khi chiếc iPad 3, thế hệ mới nhất đã được CEO của Apple giới thiệu trước công chúng. Tuy nhiên, từ ngày 13-3, các trang web công nghệ lớn và nổi tiếng trên thế giới đã đồng loạt có bài viết kèm video “đập hộp iPad 3 ở Việt Nam”. Cho dù đoạn video này được thực hiện bằng tiếng Việt và chỉ mới được tải lên youtube vài giờ trước đó nhưng rất nhanh chóng, thu hút hàng trăm ngàn lượt xem và bàn luận, bằng đủ thứ tiếng, trên khắp thế giới.

Chiếc ipad 3 với màn hình siêu nét, siêu mỏng có giá chỉ 14-15 triệu đồng. Nhưng với việc “chiếc đầu tiên”, trước thời điểm chính thức giới thiệu 3 ngày, đã có mặt ở Việt Nam khiến dân chơi toàn cầu phải bái phục về sự sành điệu của dân chơi Việt Nam.

Nhưng không phải sự sành điệu nào cũng phản ánh văn hoá hoặc thể hiện “đẳng cấp”. Đẳng cấp nếu có, chỉ có thể là đẳng cấp “trọc phú”- Chữ dùng của TS Nguyễn Quang A khi trao đổi với báo chí về chuyện tiêu tiền của một số “đại gia” hôm nay: “Dù có nhiều tiền song hành động chơi trội của những “đại gia” này chỉ thể hiện một phông văn hóa thấp xuất phát từ một tâm lý nhược tiểu, tuyệt nhiên không biến họ thành “sang trọng” hay “có đẳng cấp” như họ mong muốn…Thậm chí đó chỉ là cách “trả thù” một quá khứ nghèo đói”- ông nói.
Siêu xe Bugatty Veyron trên đường phố Việt Nam
Câu chuyện chiếc siêu xe Bugatty Veyron xuất hiện tại Việt Nam hồi tháng 2 có lẽ là một ví dụ điển hình về sự vô lý của việc tiêu tiền. Ngoài câu chuyện giá thành 1,4 triệu USD, ngoài câu chuyện “phí tiêu vặt” mỗi năm của siêu xe lên tới 250 ngàn USD, tương đương 5 tỷ vnd, thì báo chí nước ngoài băn khoăn, thắc mắc nhất là làm sao “Ông hoàng tốc độ”, với vận tốc có thể đạt 407 km/h, nhưng độ cao gầm chỉ 22mm- lại có thể chạy nổi ở Việt Nam, nơi mà đường xá đồng nghĩa với ổ gà và giới hạn tốc độ chỉ 80-km/h. Một tờ báo điện tử đã cử PV theo dõi siêu xe, và những hình ảnh siêu xe ra khỏi gara với 4 người lót gỗ trải thảm để “đứa con thần gió” không bị vấp bởi một vỉa hè thông thường 18cm khiến dân chơi thế giới phải há mồm kinh ngạc.

Một tờ báo nước ngoài còn đưa ra so sánh về độ siêu của giá thành chiếc xe trong tương quan với mức sống của người Việt Nam. Theo tính toán với thu nhập bình quân của người Việt Nam là 3,2 triệu VND/tháng, tương đương 150 USD/tháng và để mua được siêu xe Bugatti Veyron, một người dân bình thường sẽ phải bỏ ra 777 năm chỉ làm lụng mà không hề ăn tiêu mới có đủ tiền.

Có người nói người mua siêu xe chắc chắn phải là “siêu nhân” để dám mua một chiếc xe bằng 777 năm làm lụng của một người dân. Phải siêu giàu để bỏ ra “phí tiêu vặt” siêu đắt đỏ. Phải lái xe phải siêu giỏi để có thể siêu kiên nhẫn lái chiếc siêu xe siêu khó lái giữa phố phường siêu lộn xộn, siêu ổ gà, siêu ùn tắc để đạt được tốc độ của siêu xe căng hải.

TS Nguyễn Quang A cũng cho rằng việc sắm biệt thự dát vàng, sắm chó triệu đô, rước râu bằng siêu xe…rằng việc tiêu xài quá hoang phí ẩn dưới danh nghĩa sành điệu, khoe của, hoặc để PR thực chất là “Sự hợm hĩnh kệch cỡm hơn là bất cứ bài toán kinh doanh nào” Bởi “Không ai phải đổ mồ hôi công sức ra để kiếm được đồng tiền lại làm như vậy”.

Hình như không phải ngẫu nhiên mà Tập đoàn Las Vegas Sands chọn Việt Nam là quốc gia thứ 4 trên thế giới để đầu tư Casino.

Đào Tuấn

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 3 năm 2012

Có đấu tranh với sự giả dối được không?

Hầu như ngày nào chúng ta cũng “chạm trán” với sự giả dối, nhưng chúng ta lại cố tình… lờ đi, vì đấu tranh với sự giả dối không đơn giản chút nào. Có những sự giả dối vô hại, thậm chí có chút lợi ích nho nhỏ, nhưng đại đa số giả dối có hại – cái hại đó lớn tới mức làm băng hoại đạo đức xã hội, suy tàn quốc gia…
Nhận diện sự giả dối không hề khó. Đấu tranh với chúng mới là điều cần bàn.

Trong những người trưởng thành, không ai dám chắc mình trung thực tuyệt đối suốt đời. Vì cuộc sống phong phú, đa dạng phức tạp tới mức nhiều khi con người không phân biệt được đâu là thật, đâu là giả. Ranh giới giữa sự khéo léo và sự nịnh hót rất mong manh.
Ai cũng ghét sự giả dối nhưng ai cũng… mắc
Rất nhiều người tự răn mình là không được dối trá. Họ đã cố gắng làm như vậy cho đến lúc hoàn cảnh bắt buộc họ phải nói dối. Lúc đó họ tự an ủi mình là sự nói dối của mình vô hại, thậm chí là có lợi nho nhỏ.
Điển hình cho hoàn cảnh này là nhân vật bà xơ trong tiểu thuyết “Những người khốn khổ” của V. Hugo. Bà xơ này chưa một lần nói dối nhưng để cứu Jean Valjean Giăng Van- Giăng (người mà bà rất kính trọng) bà đã nói dối cảnh sát.
Còn những chuyện nói dối vô hại như bạn đến nhà người quen chơi khi họ vừa dùng xong bữa, họ hỏi: “Anh (chị) đã ăn cơm chưa?”. Dù chưa ăn cơm nhưng bạn trả lời “Ăn cơm rồi”.
Có những người cứ nghĩ mình rất thành thật, nhưng không biết là đã bị nhiễm thói đạo đức giả. Lại có những người không có khả năng thành thật với chính mình. Mà không thành thật với bản thân mình cũng là một sự giả dối.
Sự giả dối ít bị lên án, ít bị vạch mặt vì ai cũng cảm thấy mình không đủ tư cách để nói lên điều này. Hơn nữa, nhiều người còn lập luận rằng, họ nói dối với dụng ý tốt, lời nói dối đôi khi lại trở thành hữu ích nếu biết rằng sự thật trong một số trường hợp không có ích cho ai. Tuy nhiên, với những người sống có nguyên tắc, chủ nhân của những lời nói dối kia vẫn bị khép tội dối trá.
Sự giả dối- một phần của văn hoá ứng xử
Vào thế kỷ thứ XVIII, ở nước Anh, những người phụ nữ trang điểm còn bị khép tội lừa đảo, nhưng nay việc trang điểm cho phụ nữ đã được đẩy lên thành một nghề hái ra tiền. Con người đã thỏa hiệp với các dạng nói dối vô hại và sự giả dối không lời như sử dụng mỹ phẩm, tóc giả, phẫu thuật thẩm mỹ… Đó là do nhu cầu của cuộc sống.
Nhà văn Mark Twain đã viết: “Người ta giả dối bất cứ khi nào, cả trong lúc ngủ và lúc thức, trong lúc buồn và vui. Nếu người nào đó giữ được cái lưỡi im lặng, anh ta sẽ chuyển sang giả dối bằng thái độ”.Sự giả dối giống như một thứ kỹ năng, tồn tại trong mỗi con người và được sử dụng khá thoải mái.
Đã có một số nghiên cứu nghiêm túc về sự nói dối của con người. Năm 2004, nhà tâm lý học Robert S.Feldman ở ĐH Massachusetts (Mỹ), sau khi phân tích những cuộc nói chuyện của sinh viên với người lạ, đã công bố: Hơn 60% số người có biểu hiện nói dối trong khoảng thời gian mỗi 10 phút.
Mức độ dối trá được sắp xếp từ thổi phồng cho đến bịa đặt. Nam giới và nữ giới có tần suất nói dối như nhau, nhưng  mục đích nói dối khác nhau. Trong khi phụ nữ có khuynh hướng giả dối để đối tượng yên tâm thì nam giới lại dùng sự giả dối cốt để tự an ủi chính mình.
Vì sao con người dễ dàng lừa dối và bị lừa dối đến vậy? Vì điều đó góp phần không nhỏ vào sự thành công trong quá trình sinh tồn của chúng ta. Dối trá để tồn tại, dối trá để giúp nhau, dối trá để thăng tiến… Có thể nói, dối trá là một “sản phẩm đa năng”  được sinh ra từ não bộ, giúp con người  thoát hiểm trong nhiều trường hợp nguy cấp.
Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, những người bình thường nói dối cho yên chuyện, còn những người có chức, có quyền nói dối để thực hiện những dự tính, những mẹo mực của mình. Chính vì vậy đây là sự dối trá rất nguy hiểm vì chúng thường được tô vẽ cho tốt đẹp hoặc được “bảo kê” bằng sự đe doạ. Họ dựa trên nguyên tắc: Con người nếu không tin thì cũng phải biết sợ.
Khi sự dối trá có mũ “bảo hiểm”
“Bệnh thành tích” là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự dối trá tập thể. Điều này chúng ta dễ dàng nhận ra khi các nhà máy, xí nghiệp, cơ quan làm báo cáo tổng kết cuối năm thời bao cấp. Đọc các báo cáo này, người ta thấy hầu hết đều đạt được những thành tích cao, hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch.
Nhưng thực chất, đây là sự dối trá của nhiều tập thể, chính vì vậy mà có những lúc chúng ta phải cãi vã với nhau để dành được quyền… mua một chiếc áo may ô hay một tuýt kem đánh răng.
Bây giờ chúng ta không thiếu những thứ này nữa nhưng không phải vì thế mà sự dối trá ít đi. Sự dối trá hiện nay trở nên tinh vi hơn, xẩy ra ở  cả những nơi tôn nghiêm, sang trọng. Do vậy, ảnh hưởng xấu của nó cũng ghê gớm hơn, lâu dài hơn.
Thật đáng buồn và đáng lo là trong khoa học, trong giáo dục sự dối trá cũng diễn ra tràn lan. Rất khó hiểu là khoa học -  lĩnh vực đáng ra phải tuyệt đối trung thực nhưng bây giờ cũng đầy rẫy sự dối trá.
Tại sao có sự dối trá trong khoa học? Tại vì chúng ta đào tạo ra các nhà khoa học, nhưng lại quản lý họ theo luật công chức như quản lý các nhân viên hành chính. Vì vậy đáng ra các nhà khoa học chỉ tập trung vào nghiên cứu, sáng tạo thì lại phải đối phó với rất nhiều thứ.
Có viện nghiên cứu khoa học ở Hà Nội bắt tất cả cán bộ, nhân viên phải lấy vân tay để làm thẻ vào cửa. Những người không chịu làm thẻ thì bị kỷ luật, thậm chí không được vào phòng làm việc. Còn những người làm thẻ rồi, đến phòng làm việc có… ngủ vẫn được chấm công. Quản lý như vậy không sinh ra sự dối trá mới lạ!?
Về nguyên tắc, ở đâu mà sự dối trá ngự trị thì ở đó khoa học không hoạt động có hiệu quả được. Khoa học Việt Nam vài chục năm nay hầu như không có thành tựu gì đáng kể. Đến việc xây dựng một trường đại học có chất lượng cao, có đẳng cấp quốc tế chúng ta cũng không làm được. Điều này có nhiều lý do, nhưng lý do chính là nền khoa học của chúng ta đang bị tha hoá, đang có sự dối trá ở trong đó.
Sự giả dối ít bị lên án, ít bị vạch mặt vì ai cũng cảm thấy mình không đủ tư cách để nói lên điều này. Nhưng xét cho cùng, sự giả dối vẫn là thói xấu bị muôn đời bị con người căm ghét. Đã căm ghét thì phải tìm cách đấu tranh, loại bỏ.
Sống chung với giả dối!
Nhận diện sự giả dối không hề khó. Đấu tranh với chúng mới là điều cần bàn. Ví dụ, khi báo chí phản ánh về những sai phạm trong việc “cống hoá” đoạn mương Liễu Giai – Linh Lang trên đường Phan Kế Bính, lãnh đạo Quận Ba Đình và TP Hà Nội đã vào cuộc. Họ nói chắc nịch: “Phần nào làm không đúng với thiết kế phải dỡ bỏ!”.
Đoạn cống hóa mương Liễu Giai - Linh Lang trên đường Phan Kế Bính. 
Có người tưởng đây là thái độ quyết liệt và trung thực, nhưng phần lớn nhận ra rằng, đây chỉ là sự giả dối vì không chỉ rõ thời gian và cơ quan phải làm việc này. Và đến nay toàn bộ công trình xây dựng ở đây đã được đưa vào sử dụng. Như vậy, chúng ta biết được sự giả dối nhưng không đấu tranh một cách có hiệu quả.
Đấy chỉ là một ví dụ rất cụ thể thôi, trong cuộc sống hiện nay, còn nhiều sự giả dối to lớn và nghiêm trọng hơn nhiều vẫn tiếp tục diễn ra một cách công khai.
Chuyện bức xúc nhất gần đây là hàng loạt ô tô, xe máy bỗng nhiên bị cháy mà không rõ nguyên nhân. Đây là hậu quả tổng hợp của nhiều sự giả dối cùng một lúc, trong đó có xăng bị pha chế, có sự bất lực của khoa học, có sự vô trách nhiệm của những người quản lý.
Cái đáng lo nhất hiện nay là sự giả dối lan tràn. Nói một cách cụ thể, thẳng thắn, có những phát biểu chung chung, những lời hứa, những mục tiêu to tát không đi kèm những biện pháp khả thi cũng là sự… giả dối. Hơn nữa, sự giả dối loại này gây tác hại to lớn và lâu dài. Mà đấu tranh với những loại giả dối này là vô cùng khó.
Thế nên, chúng ta luôn phải sống chung với giả dối!
Cái đáng lo nhất hiện nay là sự giả dối lan tràn. Nói một cách cụ thể, thẳng thắn, có những phát biểu chung chung, những lời hứa, những mục tiêu to tát không đi kèm những biện pháp khả thi cũng là sự… giả dối. Hơn nữa, sự giả dối loại này gây tác hại to lớn và lâu dài. Mà đấu tranh với những loại giả dối này là vô cùng khó.
Thế nên, chúng ta luôn phải sống chung với giả dối!
Hồ Bất Khuất
Theo Tuần Việt Nam

Thiêng liêng chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa

* Đôi nét về quần đảo Hoàng Sa
Quần đảo Hoàng Sa cũng cách Hoa Lục tới 270 hải lý. Tại bờ biển Việt Nam, thềm lục địa chạy thoai thoải từ dãy Trường Sơn ra Hoàng Sa. Về địa hình, Hoàng Sa là một hành lang của Trường Sơn từ Cù Lao Ré (tức huyện đảo Lý Sơn, thuộc tỉnh Quảng Ngãi) ra khơi. Đây là những bình nguyên của thềm lục địa Việt Nam trên mặt biển. Năm 1925, nhà địa chất học quốc tế Tiến Sĩ Khoa Học A. Krempf, Giám đốc Viện Hải học Đông Dương, sau 2 năm nghiên cứu và đo đạc đã lập phúc trình và kết luận: “Về mặt địa chất, những đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam” (Géologiquement les Paracels font partie du Vietnam). Quần đảo Hoàng Sa có nghĩa là “cát vàng”; là một nhóm khoảng 30 đảo, bãi san hô và mỏm đá ngầm nhỏ ở Biển Đông. Quần đảo nằm cách miền trung Việt Nam khoảng một phần ba khoảng cách đến những đảo phía bắc của Philippines; cách Cù lao Ré khoảng 200 Hải lý và cách đảo của Trung Quốc khoảng 230 hải lý. Quần đảo hiện nay chịu sự quản lý của Trung Quốc sau một cuộc hải chiến giữa Trung Quốc và Việt Nam cộng hòa. Ngày 19-1-1974, suy tính trước sự sụp đỏ của chế độ Việt Nam cộng hòa ở miền Nam, và biết là ngụy quyền thua, miền Bắc sẽ giải phóng được miền Nam, Trung Quốc tranh thủ cho các hàm tàu ra đánh các đơn vị quân đội Việt Nam cộng hòa đang giữ đảo và chiếm được quần đảo Hoàng Sa. Bắc Việt biết, nhưng do đang dồn sức giải phóng miền Nam, nên đành tạm gác vụ Trung Quốc chiếm Hoàng Sa. Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này.
Quần đảo Hoàng Sa có hai nhóm đảo là An Vĩnh và Trăng Khuyết. Theo Lịch triều Hiến chương loại chí của Phan Huy Chú: tên gọi An Vĩnh lấy theo tên một xã, vào thời chúa Nguyễn (Đàng Trong), thuộc huyện Bình Dương (tức huyện Bình Sơn) phủ Tư Nghĩa, trấn Quảng Nam (Tư Nghĩa tức phủ Hòa Nghĩa, đến nhà Nguyễn là tỉnh Quảng Ngãi). Theo sách Đại Nam thực lục Tiền biên quyển 10 ghi chép về xã này như sau: “Ngoài biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi có hơn 100 cồn cát… chiều dài kéo dài không biết tới mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn lý Hoàng Sa châu… Hồi quốc sơ đầu triều Nguyễn đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm cứ đến tháng ba cưỡi thuyền ra đảo, ba đêm thì tới nơi…Nhóm đảo còn được gọi là Amphitrite, theo tên của một trong những chiếc tàu châu Âu đầu tiên vào Biển Đông, gặp nguy khốn ở Hoàng Sa. Chiếc tàu Pháp này đã sang buôn bán tại đây vào cuối thế kỷ XVII. Ngày xưa quần đảo này đã mang tên là Bãi Cát Vàng hay Cồn Vàng. Vì có vô số hòn đảo, hòn đá, cồn đụn, bãi cạn lúc nổi lúc chìm theo với mực nước thủy triền lên xuống nên số lượng đảo tùy theo cách đếm mà kể là nhiều hay ít.
* Trường Sa và cuộc hải chiến 1988
Trường Sa cách lục địa Trung Hoa khoảng 750 hải lý, nên không nằm trong thềm lục địa của Trung Hoa. Trên quần đảo Trường Sa, Việt Nam hiện có 22 vị trí chủ quyền, gồm 3 đảo lớn (Trường Sa Lớn, Nam Yết, Sinh Tồn), các đảo nhỏ: An Bang, Song Tử Tây, Sơn Ca và các bãi đá nổi, đá chìm, đá ngầm. Tại Trường Sa, về độ sâu và địa hình đáy biển, các đảo cồn đá bãi Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của thềm lục địa Việt Nam theo cấu tạo địa tầng mạch núi chạy từ Trường Sơn, ra ven biển Quảng Nam, Quảng Ngãi ra tận Trường Sa. Tại bãi Tư Chính, nơi khai thác dầu khí, biển sâu không tới 400 m, và tại vùng đảo Trường Sa độ sâu chỉ tới 200 m. Bãi Tứ Chính cách bờ biển Việt Nam khoảng 190 hải lý và cách lục địa Trung Hoa tới 780 hải lý. Trường Sa cách Việt Nam 220 hải lý và cách Hoa Lục 750 hải lý. Từ Trường Sa về bờ biển Trung Hoa có rãnh biển sâu hơn 4.600 m, như sự phân định của tự nhiên, lục địa Trung Hoa không có mạch địa tầng nối ra Trường Sa. Không có sự phủ nhận rằng ít nhất từ 1816, dưới đời vua Gia Long, Việt Nam đã chiếm cứ công khai, liên tục, hòa bình các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bia chủ quyền do người Pháp dựng năm 1938 có ghi rõ: République Française (Cộng Hòa Pháp); Empire d’Annam (Vương Quốc An Nam); Archipel des Paracels (Quần Đảo Hoàng Sa); 1816 -Ile de Pattle 1938 (Đảo Hoàng Sa).
Theo Tuyên bố của Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày 7 tháng 8 năm 1979 thì: Sự diễn giải của Trung Quốc về bản công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 như một sự công nhận chủ quyền của phía Trung Quốc trên các quần đảo “là một sự xuyên tạc trắng trợn trên tinh thần và ý nghĩa của bản công hàm chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung Quốc”.
Ngày 15-3-1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố bị vong lục về vấn đề biên giới Việt-Trung, trong đó lên án việc Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ngày 28-9-1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng, giới thiệu 19 tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
Hải chiến Trường Sa 1988 là tên gọi của cuộc chiến trên biển Đông năm 1988 khi Hải quân Trung Quốc đưa quân chiếm đóng bãi đá Cô-lin, bãi đá Len-đao và bãi đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa, do 3 bãi đá này nên Hải quân Việt Nam phải đưa quân ra bảo vệ, đánh trả và cuộc chiến nổ ra vào ngày 14 tháng 3 năm 1988. Phía Việt Nam mất 3 tàu vận tải của hải quân Việt Nam, 64 thủy binh Việt Nam đã thiệt mạng. Trung Quốc bị hư hại tàu chiến, thương vong 24 thủy binh. Kể từ đó Trung Quốc đã chiếm đóng bãi đá Gạc Ma và hai nước cùng cho hải quân ra đóng giữ một số bãi ngầm khác mà hai bên cùng tuyên bố chủ quyền.
Trong các tài liệu của Hải quân Nhân dân Việt Nam, sự kiện này được biết đến với tên gọi CQ-88 (Chủ quyền-88). Trong những tháng đầu năm 1988, Hải quân Trung Quốc cho quân chiếm đóng một số bãi đá thuộc khu vực quần đảo, chiếm giữ Đá Chữ Thập (31-1), Châu Viên (18-2), Ga Ven (26-2), Huy Gơ (28-2), Xu Bi (23-3). Hải quân Việt Nam đưa vũ khí, khí tài ra đóng giữ tại các đảo Đá Tiên Nữ (26-1), Đá Lát (5-2), Đá Lớn (6-2), Đá Đông (18-2), Tốc Tan (27-2), Núi Le (2-3), bước đầu ngăn chặn được hành động mở rộng phạm vi chiếm đóng của hải quân Trung Quốc ra các đảo lân cận. Phía Việt Nam dự kiến Trung Quốc có thể chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và Đông kinh tuyến 1150.
Căn cứ vào tình hình xung quanh khu vực Trường Sa, Hải quân Việt Nam xác định: Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu để hải quân Trung Quốc chiếm giữ thì họ sẽ khống chế đường tiếp tế của Việt Nam cho các căn cứ tại quần đảo Trường Sa. Vì vậy, thường vụ Đảng ủy Quân chủng hạ quyết tâm đóng giữ các đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao… Thường vụ Đảng ủy Quân chủng giao cho Lữ đoàn Vận tải 125 cử lực lượng thực hiện nhiệm vụ này.
Trong khi đó, hải quân Trung Quốc sau khi đưa quân chiếm đóng các đảo chìm Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Xu Bi, Huy Gơ cũng đang có ý đồ chiếm giữ ba đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Đầu tháng 3 năm 1988, Trung Quốc huy động lực lượng của hai hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên lên 9 đến 12 tàu chiến gồm: 1 tàu khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ, 3 tàu vận tải hỗ trợ LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và 1 pông tông lớn.
Trước tình hình đó, ngày 31 tháng 3, Tư lệnh Hải quân Việt Nam lệnh cho vùng 4, Lữ đoàn 125, Lữ đoàn 146, các hải đội 131, 132, 134 của Lữ đoàn 172 chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Đồng thời lệnh cho Vùng 1, Vùng 3 và Lữ đoàn 125 ở Hải Phòng chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường. Bộ tư lệnh Hải quân điều động 41 tàu thuyền và phương tiện nổi của Lữ đoàn 125, Cục Kinh tế, Vùng 1,3,5, Trường Sĩ quan Hải quân Việt Nam (nay là Học viện Hải quân Việt Nam, nhà máy Ba Son… đến phối thuộc khi cần thiết.
Lúc 19h ngày 11 tháng 3 tàu HQ-604 rời cảng ra đảo Gạc Ma để thực hiện nhiệm vụ trong chiến dịch CQ-88.
Ngày 12 tháng 3, tàu HQ-605 thuộc Lữ 125 do thuyền trưởng Lê Lệnh Sơn chỉ huy được lệnh từ Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao trước 6h ngày 14 tháng 3. Sau 29 tiếng hành quân, tàu 605 đến Len Đao lúc 5h ngày 14 tháng 3 và cắm cờ Việt Nam trên đảo.
Thực hiện nhiệm vụ đóng giữ các đảo Gạc Ma và Cô Lin, 9h ngày 13 tháng 3, tàu HQ-604 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và tàu HQ-505 của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin. Phối hợp với 2 tàu 505 và 604 có hai phân đội công binh (70 người) thuộc trung đoàn công binh 83, bốn tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146 do Trần Đức Thông Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (thuộc Bộ Tổng tham mưu). Sau khi hai tàu của Việt Nam thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của Hải quân Trung Quốc từ Huy Gơ chạy về phía Gạc Ma, có lúc đôi bên chỉ cách nhau 500 m.
17h ngày 13 tháng 3, tàu Trung Quốc áp sát tàu 604 và dùng loa gọi sang. Bị uy hiếp, 2 tàu 604 và 505 kiên trì neo giữ quanh đảo. Còn chiến hạm của Trung Quốc cùng 1 hộ vệ hạm, 2 hải vận hạm thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma.
Trước tình hình căng thẳng do hải quân Trung Quốc gây ra, lúc 21h ngày 13 tháng 3, Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam chỉ thị cho Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma, Cô Lin. Tiếp đó Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị cho lực lượng công binh khẩn trương dùng xuồng chuyển vật liệu xây dựng lên đảo ngay trong đêm ngày 13 tháng 3. Thực hiện mệnh lệnh, tàu 604 cùng lực lượng công binh trung đoàn 83 chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma, tiếp đó lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ, cắm cờ Việt Nam và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo.
Lúc này, Trung Quốc điều thêm 2 hộ vệ hạm trang bị pháo 100 mm đến hỗ trợ lực lượng đã đến từ trước, yêu cầu phía Việt Nam rút khỏi đảo Gạc Ma. Ban chỉ huy tàu 604 họp nhận định: Trung Quốc có thể dùng vũ lực can thiệp và quyết định chỉ huy bộ đội bình tĩnh xử trí, thống nhất thực hiện theo phương án tác chiến đề ra, quyết tâm bảo vệ Gạc Ma.
Ngày 14-3, chiến sự diễn ra tại khu vực các đảo Gạc Ma, Cô Lin, và Len Đao.
* Quyết liệt giữ Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao 
+ Tại bãi Gạc Ma
Sáng ngày 14 tháng 3, từ tàu HQ 604 đang thả neo tại Gạc Ma, Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, phát hiện thấy bốn chiếc tàu lớn của Trung Quốc đang tiến lại gần. Tổ 3 người gồm thiếu uý Trần Văn Phương và hai chiến sĩ Nguyễn Văn Tư, Nguyễn Văn Lanh được cử lên đảo bảo vệ lá cờ Việt Nam đang cắm trên bãi.
Phía Trung Quốc cử 2 xuồng chở 8 lính có vũ khí lao thẳng về phía đảo. Chỉ huy Trần Đức Thông ra lệnh cho các thủy thủ từ tàu 604 tiến về bảo vệ bãi để hình thành tuyến phòng thủ, không cho đối phương tiến lên.
6h sáng, Hải quân Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo giật cờ Việt Nam. Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh bị lê đâm và bắn bị thương. Thiếu úy Trần Văn Phương bị bắn tử thương, trước khi chết ông đã hô: “Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân”.
Do Hải quân Việt Nam không chịu rút khỏi đảo, lúc 7h30, Trung Quốc dùng 2 chiến hạm bắn pháo 100 mm vào tàu 604, làm tàu bị hỏng nặng. Hải quân Trung Quốc cho quân xông về phía tàu Việt Nam. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ chỉ huy quân trên tàu sử dụng các loại súng AK 47, RPD, B-40, B-41 đánh trả quyết liệt, buộc đối phương phải nhảy xuống biển bơi trở về tàu.
Hải quân Việt Nam vừa chiến đấu, vừa tổ chức băng bó, cứu chữa thương binh và hỗ trợ các chiến sĩ bảo vệ cờ. Trung Quốc tiếp tục nã pháo, tàu 604 của Việt Nam bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển. Vũ Phi Trừ, thuyền trưởng, Trần Đức Thông, lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, cùng một số thủy thủ trên tàu đã hy sinh cùng tàu 604 ở khu vực đảo Gạc Ma.
+ Tại đảo Cô Lin
Lúc 6 giờ sáng, tàu HQ-505 của Việt Nam đã cắm hai lá cờ trên đảo. Khi thấy tàu 604 của Việt Nam bị chìm, thuyền trưởng tàu 505 Vũ Huy Lễ ra lệnh nhổ neo cho tàu ủi bãi. Phát hiện tàu 505 đang lên bãi, 2 tàu của Trung Quốc quay sang tiến công tàu HQ-505. Khi tàu HQ-505 trườn lên được hai phần ba thân tàu lên đảo thì bốc cháy.
8h15, thủy thủ tàu 505 vừa triển khai lực lượng dập lửa cứu tàu, bảo vệ đảo, và đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu 604 bị chìm ở phía bãi Gạc Ma ngay gần đó ( Cô Lin cách Gạc Ma khoảng 3.5 hải lý)
+ Tại đảo Len Đao
Ở hướng đảo Len Đao, 8h20 ngày 14 tháng 3, Hải quân Trung Quốc bắn mãnh liệt vào tàu HQ-605 của Hải quân Việt Nam. Tàu 605 bị bốc cháy và chìm lúc 6h ngày 15/3, thủy thủ đoàn của tàu bơi về đảo Sinh Tồn..
Thượng uý Nguyễn Văn Chương và trung uý Nguyễn Sĩ Minh tổ chức đưa thương binh và chiến sĩ về tàu 505 (sau khi bị bắn cháy nằm trên bãi Cô Lin). Thi hài các chiến sĩ Trần Văn Phương, Nguyễn Văn Tư, cùng các thương binh nặng được đặt trên xuồng. Số người còn sức một tay bám thành xuồng một tay làm mái chèo đưa xuồng về đến bãi Cô Lin.
Trong trận chiến ngày 14 tháng 3 năm 1988, Việt Nam bị thiệt hại 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 người hy sinh, 11 người khác bị thương, 70 người bị mất tích. Sau này Trung Quốc đã trao trả cho phía Việt Nam 9 người bị bắt, 64 người vẫn mất tích và được xem là đã hy sinh.
Nhờ hành động dũng cảm của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ và tập thể tàu HQ-505, tàu Việt Nam nằm trên đá Cô Lin và giữ được bãi đá ngầm này. Trung Quốc chiếm đá Gạc Ma từ ngày 16 tháng 3 năm 1988 và vẫn giữ cho đến nay.
Trong trận Hải chiến Trường Sa này Học viện Hải quân Việt Nam có 2 học viên (Kiều Hồng Lập và Nguyễn Bá Cường) hi sinh trong lúc tham gia thực tập và chiến đấu trên tàu HQ 604, hiện nay vẫn còn lưu giữ hình ảnh tại nhà truyền thống của Học viện.
Suốt thời gian xảy ra chiến sự, Hải quân Liên Xô đóng ở Can Ranh đã không can thiệp, mặc dù giữa Việt Nam và Liên Xô có ký riêng một hiệp ước liên minh quân sự (tháng 11-1978). Tháng 5 năm 1988, hai tháng sau cuộc hải chiến này, một nghị quyết mật của Bộ Chính trị Đảng CS Việt Nam điều chỉnh cơ bản chiến lược đối ngoại từ dựa vào Liên Xô sang “đa phương hóa”.

 * Hậu sự
Trong năm 1988, Hải quân Việt Nam đưa quân ra đóng giữ tiếp 11 bãi đá ngầm khác. Ngày 17 tháng 10, Tổng Bí thư Nguyễn Văn linh ký văn bản 19/NQ-TƯ về việc bảo vệ khu vực bãi ngầm trong thềm lục địa phía Nam (khu DK1). Ngày 5 tháng 7 năm 1989, Thủ tướng chính phủ ra chỉ thị số 180UT về việc xây dựng cụm dịch vụ kinh tế – khoa học – kỹ thuật thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (gọi tắt là DK1, xác định lại chủ quyền Việt Nam đối với khu vực thềm lục địa này. Từ tháng 6 năm 1989, Hải quân Việt Nam bắt đầu đóng giữ các bãi đá ngầm: Tư Chính, Phúc Nguyên, Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Dương, Ba Kè.
Trắng trợn thay là khi tàu của Việt Nam bị đánh đắm thì tàu chiến Trung Quốc chặn không cho tàu của Hội Chữ thập đỏ đến cứu. Đây là một sự vi phạm những điều luật cơ bản nhất về chiến tranh của luật pháp quốc tế. Trung Quốc cho rằng đây là đất của họ bất kể tính chính xác của luật pháp quốc tế và cũng không quan tâm tới quá trình xác lập chủ quyền của họ tại Trường Sa là có hay không, điều này ngày càng lộ rõ qua “đường lưỡi bò” mà phía TQ coi là của họ. Và cho đến nay, từ trong quan niệm và ý đồ thôn tính biến Đông, phía Trung Quốc vẫn cho rằng cuộc chiến ngày 14.3.1988 là chính đáng, thể hiện tinh thần dân tộc của đất nước Trung Hoa có bản chất bành trướng bá quyền từ xa xưa.
 Lễ tưởng niệm các chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam hy sinh trên quần đảo Trường Sa. Nhiều năm sau, báo chí vẫn đưa tin các cuộc tưởng niệm về các chiến sỹ đã hy sinh trong trận chiến bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, khi người dân vớt được 4 bộ hài cốt nghi là liệt sỹ hải quân VN hy sinh trong trận chiến đấu bảo vệ đảo Gạc Ma (14-3-1988) thì cũng đã được quân chủng Hải quân dùng phương tiện hiện đại là xác định ADN đối chiếu với thân nhân 64 liệt sỹ và sau đó chôn cất hài cốt các liệt sỹ tại đất liền cùng làm lễ tưởng niệm tại đoàn M29.
Trong các chuyến tàu ra quần đảo Trường Sa của hải quân Vn hiện nay thường tổ chức tưởng niệm các chiến sĩ đã hy sinh trong sự kiện CQ-88 với diễn văn, thắp hương, mặc niệm và thả hoa xuống biển./.
Bùi Văn Bồng
Theo Người lót gạch

Thứ Năm, ngày 15 tháng 3 năm 2012

Văn hoá khoa học qua vụ máy phát điện chạy bằng nước

Sáng nay, ngồi nhăm nhi li cà phê trong một quán gia đình ở Đà Nẵng, và đọc được bản tin này, tôi phải chạy về khách sạn ghi vài dòng gọi là nhật kí trong một chuyến công tác xa. Tôi chú ý (hay nói đúng hơn là “quan tâm”) đến câu nói “Tôi đã có hai bài báo trên một tạp chí khoa học của Mỹ về pin nhiên liệu (quy trình thứ hai của máy phát điện chạy bằng nước – PV) nhưng tôi không tiết lộ tên của tạp chí đó đâu. Nếu cần thì tôi sẽ gởi cho”. Đây là vấn đề mà tôi gọi là văn hoá khoa học và đã bàn trong một bài trước đây.
Mấy tuần nay dư luận trong giới khoa học xôn xao về công trình máy phát điện chạy bằng nước. Trước khi giới báo chí chú ý đến công trình này, một diễn đàn trong giới khoa học (dành cho những người từng tham gia viết bài cho kỉ yếu Humboldt) đã râm ran bàn thảo về công trình này. Là người ngoại đạo, người viết bài này chỉ đọc và ghi nhận ý kiến của nhiều bạn trong chuyên ngành. Nói một cách khách quan, tất cả các chuyên gia trong diễn đàn đều nghi ngờ (nếu không muốn nói là không tin) tính khoa học của công trình. Nhưng người ta cũng kiên nhẫn chờ giải thích của tác giả công trình chứ không đưa ra những nhận xét trước công chúng. Tuy nhiên, đến khi tác giả giải thích thì đồng loạt các chuyên gia viết bài chỉ ra những chi tiết có thể nói là bất hợp lí và phi khoa học trong công trình. Đến khi có cuộc họp báo dưới sự chủ toạ của một vị nổi tiếng thì dư luận càng quan tâm vì những tuyên bố và kết luận không mang tính khoa học chút nào cả. Riêng người viết bài này cảm thấy sốc khi đọc được phát biểu của tác giả cho rằng đã công bố hai bài báo khoa học nhưng không chịu tiết lộ tên tập san! Tôi thấy đây là một vấn đề về văn hoá khoa học mà tôi có dịp đề cập trong cuốn sách “Đi vào nghiên cứu khoa học” mới xuất bản vào tháng 12 qua (và sắp tái bản trong tuần này).
Một trong những nét chính của văn hoá khoa học là minh bạch. Nhà khoa học có nghĩa vụ phải công bố những kết quả nghiên cứu kèm theo những phương pháp và cách tiếp cận vấn đề. Diễn đàn để công bố thường là các tập san khoa học, nhưng trong vài trường hợp cá biệt, cũng có thể là các hội nghị khoa học. Không nói ra ở đây thì ai cũng biết rằng công bố thành quả nghiên cứu trên những tập san khoa học là một cách thức “trình làng” cho cộng đồng khoa học, để mọi người có thể thẩm định giá trị của công trình nghiên cứu. Nhà khoa học thường rất hăng hái “chào hàng” công trình của mình, chứ hiếm thấy ai lại dấu diếm kết quả nghiên cứu. Cố nhiên, cũng có trường hợp tác giả không chịu tiết lộ phương pháp (vì họ sẽ đăng kí bản quyền sáng chế) nhưng họ vẫn phải nói sơ qua về các chi tiết kĩ thuật quan trọng. Dấu diếm hay không chịu công bố chi tiết thí nghiệm là một điều rất ư phi khoa học.
Ý nghĩa của công bố nghiên cứu chẳng những là minh bạch mà còn là một yêu cầu của nghiên cứu khoa học. Một trong những yêu cầu của khoa học là tính tái thiết lập (repeatability). Một công trình nghiên cứu mà đồng nghiệp khác không thể lặp lại kết quả nghiên cứu trước thì không thể xem là khoa học được (mà là pseudoscience – khoa học dỏm). Khi tác giả công bố kết quả cùng với nhưng chi tiết về phương pháp là tác giả muốn đồng nghiệp trên thế giới lặp lại những kết quả đó bằng những phương pháp đó, nếu có điều kiện. Chỉ khi nào kết quả đó được tái lập nhiều lần và độc lập thì mới xem là tri thức khoa học được. Thái độ không công bố kết quả và phương pháp nghiên cứu phải nói là rất xa lạ trong khoa học, vì điều đó có khi phản ảnh sự thiếu tự tin của nhà khoa học, hay công trình đó có “vấn đề”.
Thật là ngở ngàng khi biết tác giả nói rằng đã công bố bài báo khoa học nhưng … không chịu tiết lộ tên tập san khoa học! Thoạt đầu, tôi cứ tưởng phóng viên viết đùa cho vui, nhưng hoá ra là một phát biểu đàng hoàng. Đã là tập san khoa học, và nếu là tập san nghiêm chỉnh, thì chắc chắn phải có trong danh mục của các thư mục như ISI hay tương tự. Nếu đã công bố thì tên tác giả chắc chắn phải xuất hiện trong thư mục. Vậy thì làm sao tác giả có thể thốt lên câu “nhưng tôi không tiết lộ tên của tạp chí đó đâu”! Chỉ có người chưa bao giờ công bố khoa học mới có thể nói như thế. Dĩ nhiên, không loại trừ khả năng tác giả có lẽ lở lời trong khi lúng túng vì bị phóng viên bao vây, nhưng nếu lở lời thì thiết tưởng một câu đính chính cũng cần thiết.
Những độc giả của tập san là người đánh giá khách quan nhất. Thật vậy, những tập san khoa học nghiêm chỉnh (để phân biệt với những tập san “bậy bạ”) thường là cơ quan ngôn luận của một đoàn thể khoa học, và đại đa số độc giả thường là những người trong chuyên ngành. Một số độc giả này là những chuyên gia có kinh nghiệm cao có thể trong lĩnh vực tác giả trình làng nghiên cứu của mình, và do đó, chính họ là những người đánh giá đáng tin cậy nhất và khách quan nhất. Những quan chức khoa học, cho dù với những phẩm hàm cao chót vót, nếu không phải là chuyên gia trong chuyên ngành thì không thể nào và không bao giờ là những người có trình độ thẩm định khách quan. Nhưng trớ trêu thay, ở nước ta lại có tình trạng những người không có chuyên môn trong lĩnh vực quan tâm, không có thành tích khoa học trong chuyên ngành, mà lại ngồi trong những hội đồng thẩm định công trình khoa học của người khác!
Hệ quả của tình trạng “ngồi nhầm chỗ” là có những phán xét có khi làm cho giới khoa học lắc đầu ngao ngán. Chẳng hạn như sau khi nghe báo cáo của tác giả công trình (cứ tạm cho là “công trình”) “máy phát điện chạy bằng… nước” trình bày [không đầy đủ], hội đồng đi đến kết luận rằng đây là công trình quan trọng có giá trị bạc tỉ, rồi đề nghị Nhà nước cung cấp kinh phí để nghiên cứu tiếp. Kết luận này “bay trước mặt” ý kiến của các chuyên gia trong chuyên ngành từng chỉ ra những mâu thuẫn và tính “unbelievability” trong công trình đó! Thật khó tưởng tượng có cơ quan nào có thể chi tiền cho một công trình nghiên cứu mà chưa hình thành đến một bài báo khoa học. Tiền từ mồ hôi nước mắt người dân, chứ đâu phải nước lả hay lá cây mà phung phí như thế!
Khoa học là phải minh bạch và mang tính tái thiết lập. Đó cũng là hai tiêu chuẩn của văn hoá khoa học. Khoa học thành công là nhờ vào tính minh bạch, kế thừa, và tính tái thiết lập. Một công trình nghiên cứu, cho dù là đẳng cấp Nobel, thì vẫn phải công bố để đồng nghiệp thẩm định. Thật ra, công trình càng quan trọng thì yêu cầu thẩm định càng cao. Từ lúc khoa học hiện đại hình thành cho đến nay, không có một nhà khoa học nào được trao giải thưởng như giải Nobel mà chưa bao giờ công bố nghiên cứu của mình. Văn hoá khoa học cũng chính là văn hoá công bố và minh bạch. Không thể làm khoa học nghiêm túc mà không có văn hoá khoa học.
Nguyễn Văn Tuấn

Thân phận bọt bèo của người nông dân Việt Nam

“Cốt lõi của vấn đề vẫn là những quy định mập mờ của Luật đất đai. Người ta biết trước sau gì cái mảnh đất ấy cũng thuộc về người khác, người nông dân không có những yếu tố để gắn bó với đất đai của mình… Nông dân mà ra phố, khi họ về thì họ mang theo rất nhiều tật xấu ở phố, khiến cho sự thuần khiết về mặt truyền thống mất đi… Bộ máy công quyền ở địa phương thực sự rệu rã, thậm chí họ chả làm gì ngoài cái việc xem có cái gì có thể chôm chỉa được của dân thì họ làm”…
Nông dân cấy lúa trên đồng ruộng tại Sài Đồng, Hà Nội, ngày 04/03/2012. 
Những gánh hàng rong
Gánh cả nỗi đau nhà nông không đất
Những trai làng thờ thẫn đợi người thuê
Trôi dạt thị thành vẫn giữ nét quê
Nhoẻn miệng cười khi công an rượt đuổi
Đừng đuổi !
Xin đừng rượt đuổi !
Họ chỉ là nạn nhân
Đô thị mở rộng mất nơi cày cấy
Đô thị văn minh họ không chốn nương thân
Những mảnh đời lam lũ
Từng gánh gánh nặng chiến tranh
Nay gánh gánh nặng hòa bình
Sống thời nào cũng thiệt
Thiếu cả lời kêu than…
Những lời thơ chân chất trong bài thơ « Đừng đuổi ân nhân » trên đây không phải do một nhà thơ chuyên nghiệp viết ra, mà là của một nhà khoa học – giáo sư tiến sĩ Hoàng Xuân Phú, làm việc tại Viện Toán học, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
« Người nông dân thời nào cũng khổ », nhiều người đã có cùng một nhận xét như thế. Nhà văn Tạ Duy Anh ở Hà Nội nhận định :
Tôi thì bản thân tôi là nông dân, xuất thân từ nông dân và giờ đây vẫn là nông dân dù mang danh là nhà vẵn. Thế nên tôi có mối quan tâm đến những bà con của mình ở làng quê. Tôi thấy thế này, người nông dân luôn là đối tượng chịu thiệt thòi nhất trong xã hội. Thứ nhất là vì hầu hết họ thuộc tầng lớp dân cư có vị trí và dân trí rất thấp, ít có cơ hội tiếp cận với những thành tựu khoa học công nghệ. Những dịch vụ như là y tế, giáo dục, thì lại càng ít có điều kiện. Ở nông thôn hiện nay những dịch vụ ấy còn rất lạc hậu, mặc dù ở thành phố thì có một số nơi người ta được hưởng những dịch vụ tốt hơn.
Trong khi đó thì điều kiện lao động của họ luôn luôn cực nhọc. Bản thân tôi đã từng sinh sống ở nhà quê hai mươi năm trước khi tôi thoát ly đi viết. Người nông dân cực nhọc lắm ! Cho dù là hiện nay quá trình cơ giới hóa ở một số khâu và một số nơi đã được cải thiện đáng kể. Thí dụ như thỉnh thoảng xem tivi thấy người ta bắt đầu gieo trồng bằng máy, gặt đập bằng máy, nhưng mà đấy là những vùng mà có điều kiện ở miền Nam, do đất rộng. Còn ở đa số những vùng đất manh mún, nhỏ lẻ ở miền Bắc, miền Trung, và có cả một số nơi ở miền Nam, thì lao động thủ công vẫn là chính. Lao động rất là cực nhọc !
Nông dân cũng thuộc nhóm người luôn bị thiệt thòi trong việc bán sức lao động của mình. Hàng hóa do họ làm ra thường chiếm tỉ lệ lao động cơ bắp rất cao, ít có đầu tư về công nghệ, và được định giá rất là thấp. Thường là bán ở dạng thô, chưa qua chế biến nên rất rẻ. Thương lái, những người có tiền, những người làm các khâu dịch vụ buôn bán nông sản ,thường lợi dụng tất cả những điểm yếu của nông dân để bắt bí họ.
Những người nông dân cũng là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ những biến đổi như là biến đổi khí hậu, rồi biến đổi về thể chế, chẳng hạn như là dịch bệnh, lạm phát. Bởi vì họ không có những công cụ hữu hiệu để chống lại những tệ nạn ấy.
Đấy là tôi nói cái chung. Có lẽ là nông dân thì ở đâu – nhất là những nước đang phát triển, chậm phát triển – thì có thể họ cũng có những cái nét khổ chung như thế. Nhưng mà riêng ở ta thì ngoài những cái khổ ấy ra, họ còn phải đối mặt với sự bất an liên quan đến đất đai.
Vấn đề đất đai, một trong những nỗi bất an của người nông dân Việt Nam, theo nhà văn Tạ Duy Anh, thì cũng là một vấn đề hết sức phức tạp :
Nhắc đến người nông dân là nhắc đến đất đai, nhất là nông dân Việt Nam, bởi vì họ gắn bó với mảnh đất của mình, sống chết với mảnh đất của mình từ nghìn đời nay.
Thế nhưng do những mù mờ trong Luật đất đai, rồi do quá trình chuyển đổi không triệt để về kinh tế…do rất nhiều nguyên nhân. Từ những nguyên nhân chính trị, xã hội, rồi do tâm lý, mà vấn đề đất đai hiện nay ở Việt Nam là rất phức tạp, và nó ảnh hưởng trực tiếp đến người nông dân, là những người đầu tiên phải chịu tác động.
Ví dụ đất đang ở từ đời này sang đời khác, con thừa kế từ ông từ bà từ cha từ mẹ, thế nhưng mà cũng không phải là đất sở hữu của mình về mặt pháp lý. Vẫn là đất thuộc sở hữu toàn dân, tức là anh chỉ có quyền làm nhà trên đó thôi, được sử dụng mảnh đất đó thôi, nhưng không phải là chủ của mảnh đất ấy.
Còn đất canh tác thì luôn chỉ là tạm giao thôi. Có thể là hai mươi năm, nhưng mà cũng vẫn là tạm giao. Thế rồi các quá trình chia lại ruộng đất khiến cho đất đai ở nông thôn nó nát bét ra. Nó thành những mảnh nhỏ lắm, và hậu quả là không thể nào mà áp dụng những tiến bộ về khoa học kỹ thuật được. Nó khiến cho những cơ hội giúp người nông dân được thay đổi phương thức lao động càng khó đi.
Nói chung cái tình trạng ở nông thôn, như tôi đã từng nói, người nông dân đứng trước một tương lai không sáng sủa. Có những nghịch lý rất buồn cười như thế này : đất thì ít, bình quân đầu người ở Việt Nam đất nông nghiệp chỉ có vài trăm mét vuông, nhưng mà khá nhiều nơi đất vẫn còn bị bỏ hoang rất lãng phí. Thế thì đó thực sự là vấn đề bế tắc.
Tôi không hiểu muốn nông thôn theo kịp với mục tiêu công nghiệp hóa đất nước, thì sẽ khắc phục cái tình trạng này như thế nào. Chúng tôi vẫn nói rằng là người nông dân không còn đói nữa, nhưng mà nghèo thì vẫn phổ biến
Do không an tâm làm giàu trên mảnh đất của mình, nên nhiều người nông dân có tư tưởng ăn xổi ở thì :
Tôi nghĩ là cái việc mà người nông dân bỏ làng ra đi, ly hương rồi ly nông, nó là một trong những vấn nạn lớn nhất của xã hội Việt Nam hiện nay. Là bởi vì thế này. Cũng nhiều người đưa ra những giải thích quanh co, bám vào những nguyên nhân mang tính xã hội về hiện tượng bỏ làng, bỏ đồng ruộng. Nhưng cốt lõi vấn đề mà họ cố né tránh vẫn là những quy định mập mờ của Luật đất đai.
Tức là người nông dân họ có lý do để họ không yên tâm bám vào đồng ruộng. Họ không có những yếu tố để gắn bó với mảnh đất của mình. Nhà nước cho họ rất là nhiều quyền, nhưng mà thực ra những quyền đó rất là cảm tính, và cũng rất dễ bị tước bỏ. Bởi vì luật thì phải trên cơ sở những căn cứ pháp lý rất rõ ràng, chặt chẽ, thế nhưng quy định thì người ta có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Vì thế mà nông dân không yên tâm với mảnh đất của mình.
Và không yên tâm thì họ không canh tác một cách thực sự. Bởi vì tôi cũng là nông dân, tôi biểt. Ngày xưa khi các cụ canh tác thì các cụ còn phải cho đất nghỉ, đất thở. Thế rồi còn phải bồi đắp, phải tạo độ phì nhiêu cho nó sau mỗi vụ thu hoạch. Thế nhưng hiện tại thì cái quá trình đó người ta không quan tâm. Là vì như thế này. Người ta biết trước sau gì cái mảnh đất ấy cũng thuộc về người khác, hoặc là Nhà nước thu lại.
Thế thì họ tận dụng, khi canh tác thay vì phát huy khả năng đất đai thì họ bằng mọi cách họ tận thu. Mà cái tận thu này là như thế nào ? Tức là có nơi thì họ đào ao, có nơi họ đào đất ruộng ấy để đóng gạch, nơi thì họ đào cái mặt ruộng – bởi vì canh tác chỉ trên đất mặt thôi – cho những khu sinh thái mà người ta cần đất mầu.
Quá trình này theo tôi là quá trình suy thoái đất đai một cách nguy hiểm nhất, mà không thể dễ dàng tìm ra thủ phạm để quy trách nhiệm. Nhưng cái quá trình suy thoái đất đai ấy khiến cho nông thôn Việt Nam biến dạng. Tức là người nông dân đáng lẽ ra có thể yên tâm tìm mọi cách để làm giàu trên mảnh đất của mình, thì họ lại không làm. Họ bỏ hoang, họ cho thuê, thậm chí là người thuê họ cũng chằng thuê lại. Đất thì hiếm, mỗi người vài trăm mét nhưng mà họ bỏ hoang rất nhiều. Cuối cùng họ làm gì ? Họ ra phố.
Khi phải bỏ quê ra phố, có những người nông dân nhanh chóng nhiễm những tệ nạn nơi thành phố, làm phai tàn những truyền thống tốt đẹp của cha ông lâu nay :
Người nông dân mà ra phố thì giống như đi vào một vùng rất nhiều cạm bẫy. Bởi vì họ không được chuẩn bị : không có nghề nghiệp, không sẵn sàng để đối phó với những tệ nạn ở phố. Thế rồi cái này cũng là sự thật, tức là người nông dân khi vào những lúc cùng quẫn, thì họ có thể làm những việc mà pháp luật cấm. Ví dụ như là họ sẵn sàng lấy cắp, lừa đảo…Những người đó khi họ về thì họ mang theo rất nhiều tật xấu ở phố, kể cả bệnh tật nữa. Thí dụ như người ta ra ngoài Hà Nội hoặc những thành phố khác đi làm, thì người ta cũng phải có nhu cầu quan hệ với phụ nữ, rồi là cờ bạc, hút.
Đấy thì tất cả những quá trình đó, quá trình liên quan từ đất đai, sinh nhai, cho đến những biến đổi về mặt xã hội là đi liền với nhau. Và tôi nghĩ rằng cái hậu quả xã hội của nó mới là cái đáng quan tâm. Còn đất đai nó vẫn còn nằm đấy, thì có thể là sẽ phục hồi lại. Rồi như vừa rồi Nhà nước lại gia hạn cho thêm 20 năm, trong khi chờ đợi những động tác tiếp theo.
Nhưng mà cái hậu quả nó đã gây ra rồi, khiến cho người nông dân khi ra phố trở về thì không còn là nông dân nữa. Mà cũng không phải là dân phố ! Thế là nông thôn thì bị những tệ nạn ở phố đe dọa, nhưng mà đồng thời phố thì cũng bị nông thôn hóa. Tôi vẫn đùa là, Nhà nước thì bảo là quá trình đô thị hóa nhanh, nhưng chúng tôi nhìn ra là quá trình nông thôn hóa thành thị cũng rất nhanh. Mà tất cả những điều đó khiến cho sự thuần khiết về mặt truyền thống, đạo đức rồi đạo lý, những cái giá trị bền vững không còn nữa, nó mất đi. Cái đấy mới đáng là những cái gì u ám mà người nông dân hiện nay đang phải đối mặt.
Về tệ nạn cường hào ở nông thôn, theo nhà văn Tạ Duy Anh, thì nay có bộ mặt khác hẳn so với thời bao cấp cũ :
Mình phải nói cặn kẽ một chút. Sau khi mô hình sản xuất cũ bị giải thể triệt để, thì thực sự cái tác động của chính quyền mang tính ràng buộc về hành chính, về quyền lực đối với người nông dân đã giảm đi rất nhiều. Là bởi vì trước kia người nông dân hoàn toàn bị lao động gần như là cưỡng bức trên cánh đồng của mình, do chính quyền sắp đặt, chỉ định. Đến giờ đánh trống thì phải đi làm, hết giờ mới được nghỉ. Anh cũng không được quyền quyết định làm công việc mà anh muốn.
Từ khi chuyển sang cơ chế mới, thì những cái liên đới về quyền lực giảm đi rất nhiều, có thể nói là giảm đi đến quá nửa. Tức là vai trò của chính quyền các địa phương hiện nay đối với người nông dân hiện nay chỉ còn ở những khía cạnh như là những dịch vụ khuyến nông, thủy lợi, phòng chống dịch bệnh. Nhưng nói thế không có nghĩa là nạn cường hào không còn.
Nạn cường hào ở nông thôn hiện nay thậm chí còn ở những khía cạnh khác. Ví dụ như trước kia tuy có sự hà khắc của chính quyền đối với người dân trong các chế tài về lao động, nhưng lúc ấy thì chả có ai được cái quyền lợi gì cả. Lãnh đạo cũng chỉ làm theo chỉ thị, rồi họ nhiều khi cũng là những người rất nghèo đói.
Thế nhưng bây giờ thì yếu tố quyền lực nó đi kèm với yếu tố quyền lợi. Vì vậy mà những sự câu kết của chính quyền với những ông tư bản bây giờ – chúng tôi gọi là những con bạch tuộc – vẫn xảy ra thường xuyên ở những vùng có khả năng diễn ra đô thị hóa, và cái này nó rất là thảm khốc. Hoặc ở những vùng mà người nông dân có xu hướng làm những trang trại lớn, những khu vực chăn thả lớn. Ví dụ như là Tiên Lãng, như là một số những vùng ở Nam Định, Thái Bình – vùng biển ấy. Hoặc là những vùng rừng núi, khi người nông dân có xu hướng đầu tư lớn.
Khiếu kiện đất đai : Điềm báo cho những trận giông bão
Khi họ đầu tư lớn, ví dụ như trường hợp của ông Đoàn Văn Vươn thì nói thật ra, về bản chất là chính quyền cũng định chia chác lại. Thế nhưng mà không có cơ sở pháp lý để kết tội họ về việc đó, do họ lẩn được vào trong các điều khoản mập mờ của Luật đất đai. Tuy nhiên giả sử như việc cưỡng chế thành công, thì hàng chục hộ sau khi phải nộp lại cho huyện, huyện mới cho đấu thầu lại, thì rất nhiều người trong chính quyền sẽ hưởng lợi, và sẽ được chia phần trong đó.
Có nghĩa là gì ? Nghĩa là anh dùng quyền lực, lợi dụng quyền lực của Nhà nước, mượn tay Nhà nước để anh cướp bóc của người dân. Nói một cách chính xác là như thế ! Và phải khẳng định lại như thế này. Ở nông thôn nói chung và những vùng mà quyền lợi về đất đai không nhiều, thì cái nạn chính quyền chèn ép người dân không có cơ sở để tồn tại, ngoài cái việc mà họ đang chờ Luật đất đai mới, xem là có gia hạn hay không. Thì hiện nay Nhà nước gia hạn rồi, tức là tôi nghĩ cái khả năng mà họ chia lại ruộng đất, rồi lợi dụng lấy những chỗ phần ngon, thì chắc là không có.
Nhưng mà có những nơi khác, bất cứ nơi nào mà có yếu tố quyền lợi trong vấn đề đất đai, ví dụ như chuyển đổi. Một thửa đất đền bù cho nông dân hai trăm nghìn, sau đó thì phù phép bán ra với cái giá mười triệu một mét vuông. Những nơi như vậy thì chính quyền lộ rõ là những kẻ cường hào. Tất nhiên là không phải tất cả, nhưng cũng là một bộ phận rất lớn. Bởi vì thế này. Ở trong cái đám ấy thì những người nào mà có muốn trong sạch, gọi là có cái tâm lớn, cũng rất khó tồn tại. Anh thuộc về thiểu số, vì quyền lợi quá lớn. Quyền lợi nó che mắt tất cả. Người ta đều muốn giầu lên, đều muốn có tiền để vênh vang với thiên hạ, đều muốn tận dụng tất cả mọi cơ hội khi đang có quyền để vơ vét.
Cái thực trạng đó là một trong những lý do rất là cơ bản khiến cho người nông dân tiến hành rất nhiều vụ khiếu kiện đất đai. Và những vụ khiếu kiện đấy – tôi đã từng nói, và tôi nói rất rõ ràng, nó là điềm báo. Nó đang ngày một tích tụ lại, và là điềm báo cho những trận giông bão từ nông thôn.
Giáo sư tiến sĩ Võ Tòng Xuân, một nhà nông học nổi tiếng của Việt Nam cũng nhận định :
Vấn đề này thì trên báo chí cũng nói nhiều, về thân phận của người nông dân mất đất. Bây giờ nói chung là cũng có một số người mất đất rồi, họ được đền bù cho miếng đất ở chỗ khác để cất nhà. Nhưng mà cất cái nhà thôi, chứ còn đất canh tác thì họ phải chạy chỗ này chỗ kia để mà kiếm, có nhiều khi cũng không tìm được đất canh tác. Còn học nghề thì cũng tùy người. Có người có trình độ thì người ta đi học lên được, để có thể dùng tiền đó kinh doanh. Nhưng mà phần lớn không học được. Ra ngoài làm, thì toàn là lao động giản đơn thôi.
Thành ra người nông dân của mình khi mà mất đất thì họ rất là khổ, không biết làm sao nuôi gia đình. Tại vì số tiền đền bù cho đất bị mất, thì họ xài một thời gian cũng hết, không biết quản lý tiền.
Ngay cái lúc mà họ còn đất, thì họ cũng không biết quản lý đất của họ luôn. Thấy người ta trồng cái này, cái kia thì bắt chước trồng, chứ không biết tính toán. Tại vì họ hổng có học. Mà ở Việt Nam mình, không có học mới đi làm ruộng ! Còn ở các nước khác ví dụ ở Âu châu, người ta chỉ làm ruộng khi người ta có học.
Làm ruộng thì mới có licence được, tức là cái môn bài, giấy phép để làm ruộng, như thế Nhà nước mới kiểm soát được có làm đúng theo quy định của Nhà nước hay không, có tàn phá môi trường hay không, v.v…Còn người Việt Nam mình không học mới đi làm ruộng, có học thì đi làm chuyện khác.
Theo giáo sư Võ Tòng Xuân, cũng có những nông dân biết cách làm ăn lớn :
Nhưng mà bây giờ cũng có nổi lên trong xã hội mình rất nhiều nông dân chân đất. Học tới lớp Ba, lớp Tư, lớp Năm thôi, nhưng mà ổng lại có cái khiếu học lóm rất nhanh. Những ông nông dân như là ông Sáu Đức ở Tri Tôn, An Giang chẳng hạn, bây giờ ổng quản lý trên 300 hecta, làm rất là tốt. Ổng làm lúa mà ổng áp dụng luôn phương pháp tia laser để làm bằng phẳng mặt đất, rồi dùng máy cày, máy sạ hàng, máy phun thuốc, máy gặt đập liên hợp để mà gặt.
Hoặc là có ông nông dân – anh Hạo, cũng chưa học đại học, mới trung học thôi, nhưng mà cũng học lóm các thầy ở trường Cần Thơ, rồi về trường An Giang. Học rồi về ổng đứng ra chọn giống lúa. Nhưng bây giờ thì ổng được mấy người thương nhân Nhật Bản đặt hàng để mà trồng khoai lang. Trồng rất là trúng, đúng theo tiêu chuẩn của Nhật, cho nên người ta mua. Rồi mấy người chung quanh ổng bắt chước nhưng mà làm hổng được, cuối cùng là giao đất lại cho ổng. Thành ra bây giờ ổng phải quản lý tất cả là 55 hecta. Rồi những người nông dân mà có đất, giao đất cho ổng rồi, thì lấy được tiền mướn đất của ổng, đồng thời làm công cho ổng để mà sản xuất ra khoai lang.
Như thế là có những người nông dân của mình họ có đầu óc quản lý. Tuy là họ không có học nhiều, nhưng mà họ có cái khiếu đó. Còn nhiều nông dân khác không làm được, mà là đại đa số, họ không làm được, thành ra cuối cùng giao đất cho ông kia làm.
Về vấn đề hạn điền, giáo sư Võ Tòng Xuân cho biết có những trường hợp những nông dân làm ăn giỏi được chính quyền làm ngơ để họ sử dụng số lượng đất vượt mức quy định :
Hạn điền thì hạn điền, nhưng mà Nhà nước tại địa phương họ lờ đi. Thí dụ cái ông ba trăm hecta – ông Sáu Đức đó – cái bằng khoán ổng giao cho người này người kia đứng tên, rồi ổng mướn người ta làm. Thì cái này, nói một cách khác là qua mặt Nhà nước, nhưng mà Nhà nước thấy như thế cũng được cho nên cũng cứ để cho làm.
Cũng có những ông làm trang trại ở trên Bình Dương, ổng có 600 hecta. Tui quên tên ổng rồi nhưng mà sáu trăm hecta ổng làm vườn cao su rất là tốt. Có những người Việt Nam mình đi qua bên Campuchia mướn đất người ta làm ba bốn trăm hecta, họ làm cũng rất tốt.
Nói một cách khác, cái vấn đề người nông dân chúng ta làm nông nghiệp, thì thứ nhất là họ chỉ có học lóm với nhau để mà họ đi lên. Cho nên khi mà họ còn đẩt sản xuất, thì khối lượng nhiều thiệt, nhưng mà tỉ lệ chất xám ở trong sản phẩm ít. Như thế thì sản phẩm của họ làm ra bán không có giá so với lại các nước khác.
Còn về việc đào tạo kỹ năng cho nông dân, giáo sư Võ Tòng Xuân nhận thấy là rời rạc, không hiệu quả :
…Rồi khi mà mất đất rồi, thì kể như họ tay trắng. Mặc dầu Đảng và Nhà nước có chỉ đạo, tức là có chủ trương làm cho nông dân khá lên, bằng cách đưa họ vào các tổ chức thí dụ như là hợp tác xã, tập đoàn hoặc là trang trại, cho họ vay tiền, đào tạo cho họ. Nhưng mà tất cả những cái này nó không có đồng bộ.
Thí dụ bây giờ ra nghị quyết biểu đào tạo người nông dân, thì Bộ Nông nghiệp đứng ra làm dự án xin cả mấy trăm tỉ, để mà đào tạo mỗi một năm một triệu ông nông dân. Có đào tạo, nhưng mà kinh nghiệm trong ba năm nay mình thấy rõ ràng tiền đó rất là phí. Tại vì chia tiền xuống cho bên Sở Lao động Thương binh Xã hội, rồi chia cho Sở Giáo dục địa phương, chia tiền cho Hội Nông dân, để tổ chức đào tạo nông dân. Nhưng mà bắt ông nông dân vô ngồi đó, rồi cũng dạy, dạy nuôi con heo, con gà, con vịt v.v…Rồi về thì thôi ! Ổng đi mất thì giờ, rồi ổng cũng hổng có làm.
Cái cách làm như vậy là không có đồng bộ. Mạnh ai nấy làm, thực hiện nghị quyết rất là tùy tiện, theo khả năng của từng Bộ, từng tổ chức. Thành ra cuối cùng nông dân không hưởng được kết quả gì cho có thể đổi đời người ta được.
Do đó mà bây giờ mình phải có một cái cách để mà giúp cho những người nông dân này. Có hai cái hướng, một là những người nông dân bị mất đất thì làm gì để cho họ khá lên. Và những người nông dân mà sắp bị mất đất – tức là đất mình còn tiếp tục công nghiệp hóa, hiện đại hóa, rồi thành phố phải mở ra cho nó đẹp – do đó thì đất tiếp tục mất. Như thế thì cái hướng tới phải làm sao để những người mà mất đất đó, họ có thể sống được. Mà mấy cái chuyện này rất là dài, thì có thể trong buổi phát thanh khác tôi xin trình bày sau.
Nhà văn Tạ Duy Anh tỏ ra âu lo về cách tư duy của cán bộ, và tính nhân bản trong việc đối xử với nông dân :
Vấn đề rất là bức xúc. Nhưng không biết chính quyền từ cấp trung ương đến địa phương họ linh cảm cái điều đó như thế nào, họ ý thức ra làm sao. Nói rất là nhiều, nhưng mà họ có nghe hay không, thì mình cũng không thể biết được là họ nghe đến đâu. Cũng có một niềm an ủi : cách đây vài ngày, tôi có thấy Luật đất đai được gia hạn thêm. Ít nhất thì cũng là giải pháp tình thế, để cho người nông dân người ta không phá đất đai. Người ta không tàn phá hoa màu, không làm cho những tài sản trên đất đai đó bị hủy hoại đi.
Cái thực trạng đấy nó tồn tại ngang nhiên, chưa có một dấu hiệu gì giảm đi cả. Mặc dù có lẽ Nhà nước cũng đang tìm mọi cách đấy, nhưng mà vấn đề là cơ chế kiểm soát quyền lực không có.
Tôi cũng không phải là người quan tâm nhiều đến chính trị, nhưng mà tôi cùng chung cái nỗi lo của bất cứ một công dân nào trong đất nước này. Đó là không hiểu rồi thì tình hình nó sẽ như thế nào ? Khi mà cái bộ máy công quyền ở địa phương thực sự nó rệu rã – thậm chí tôi đã từng viết, và báo chính thống đã in – họ chả làm gì ngoài cái việc để xem xem có cái gì có thể chôm chỉa được của dân thì họ làm. Sự thực nó là như thế !
Tức là họ chả làm gì. Các sai trái của người dân họ cứ để xảy ra, sau đó họ dùng cái sai trái đó để vụ lợi cho bản thân. Cái tính vụ lợi cá nhân nó quá lớn, nó che lấp tất cả. Trong tư duy của anh, ý nghĩ của anh, cái gì cũng phải có lợi, xem có lợi cho mình không.
Thế thì bây giờ thấy ông Đoàn Văn Vươn ông ấy giầu, có ông cán bộ Thành ủy Hải Phòng lại nói một câu như thế này : Ông ấy làm giàu cho bản thân chứ có làm gì cho đất nước đâu ? Tôi nói thật, tôi mà có quyền thì cái ông ấy phải bị cách chức ngay tức khắc !
Nói thế không phải chỉ là vô trách nhiệm. Nói như thế là cực kỳ phản khoa học và phản tiến bộ ! Người nông dân người ta làm giầu, thì làm giầu cho ai ? Cho bản thân họ thì cũng là cho đất nước chứ ! Phải có một cái tư duy rất cởi mở và nhiều nhân tính ở trong đó, thì mới có thể thấy được.
Nhiều khi tôi cứ tiếc, tôi mà là ông lãnh đạo Hải Phòng – Bí thư Thành ủy hoặc Chủ tịch – thì có lẽ không có tuần nào tôi không la cà với bà con ở Tiên Lãng, và tôi khích lệ họ để họ làm giầu. Làm giầu và làm đẹp cho cái vùng đất ấy. Tất nhiên là tôi không thể làm được Bí thư Thành ủy Hải Phòng, rất tiếc là như thế. Tiếc rằng họ chỉ nghĩ được một cách là, nó giầu như thế thì phải bắt nó chia bớt !
Xin chân thành cảm ơn nhà văn Tạ Duy Anh ở Hà Nội và giáo sư Võ Tòng Xuân ở An Giang đã vui lòng dành thì giờ để trao đổi với RFI hôm nay.
Tại Pháp, tuy là một nước công nghiệp phát triển, nhưng nông nghiệp vẫn đóng vai trò rất quan trọng. Không có đời Tổng thống nào mà không đến thăm Hội chợ Nông nghiệp hàng năm. Riêng tại Paris và vùng phụ cận, gọi chung là Ile de France, có đến phân nửa diện tích đất được dành cho nông nghiệp. Tuy vậy theo báo cáo của Hội đồng Kinh tế Xã hội và Môi trường Khu vực (Ceser) vừa công bố hôm qua, thì với tốc độ đô thị hóa hiện nay, mỗi năm vùng Ile de France mất từ 1.500 đến 1.700 hecta đất nông nghiệp. Ceser cảnh báo, với nhịp độ này, thì Paris và vùng phụ cận sẽ không còn đất nông nghiệp trong 200 năm nữa !
Theo nhiều công trình nghiên cứu, thì sản xuất nông nghiệp cho đến năm 2050, lượng thực phẩm phải tăng lên 70% mới đảm bảo được nhu cầu của 9 tỉ miệng ăn trên Trái Đất. Thật ra con số này cũng chỉ tương đối, vì dân số nhân loại vào thời điểm đó dao động từ 8 tỉ cho đến 11 tỉ người. Và như vậy, vấn đề an toàn lương thực còn là một yếu tố mang tính chất địa chính trị.
Còn tại Việt Nam, về mặt xã hội, với tỉ lệ 70% dân số sống ở nông thôn, thì vấn đề nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân, giảm bớt bất công đối với những con người đang làm ra của cải vật chất cho xã hội, là một thử thách không nhỏ đối với chính quyền. Đặc biệt là trong hoàn cảnh chính quyền các địa phương đang nắm trong tay quá nhiều quyền hành, người lãnh đạo có tâm thì ít mà cán bộ nhũng nhiễu lại nhiều, thì thân phận của người nông dân lại càng bọt bèo hơn.
Thụy My
Theo RFI