Thứ Bảy, ngày 24 tháng 3 năm 2012

Đại biến động trong trung tâm quyền lực Trung Quốc

Trung Quốc đang trong quá trình chuẩn bị thế hệ lãnh đạo thứ 5. Vậy, việc ông Bạc Hy Lai bị cách chức ngày 15/03/2012 đánh dấu sự thắng thế của « mô hình Ô Khảm » đối với « mô hình Trùng Khánh » ? Phe Đoàn Thanh niên cộng sản lấn lướt được phe « Hoàng tử đỏ » ? RFI dịch và giới thiệu bài « Đại biến động trong trung tâm quyền lực Trung Quốc » của Arnaud de la Grange, thông tín viên báo Le Figaro tại Bắc Kinh. Bài đăng ngày 16/03/2012.
Ông Uông Dương, bí thư Quảng Đông (trái) và
 ông Bạc Hy Lai, cựu bí thư Trùng Khánh
 
Tất cả đã bắt đầu từ buổi tối mùa đông giá lạnh, trong một bầu không khí có hương vị chiến tranh lạnh. Thế nhưng, nếu kịch bản câu chuyện giống như một bộ phim Hollywood, thì các diễn viên lại hoàn toàn có thật, và đó là các nhân vật chính yếu của một nước Trung Quốc, cường quốc kinh tế đứng hàng thứ hai trên thế giới. Ngày 06 tháng Hai vừa qua (2012), ông Vương Lập Quân đến, hay đúng hơn là đến tỵ nạn, tại lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên. Ông Vương là phó thị trưởng Trùng Khánh, siêu đô thị với 30 triệu dân, cách Thành Đô khoảng ba giờ đường bộ. Ông chịu trách nhiệm về an ninh và chính viên « siêu cảnh sát » này, với phương cách hành xử « cơ bắp », đã tiến hành cuộc chiến chống lại các « hắc đảng », những thế lực mafia ở địa phương. Với vị trí này, ông là thuộc hạ thân tín của lãnh đạo Đảng ở Trùng Khánh, ông Bạc Hy Lai, một gương mặt quan trọng trong bộ máy lãnh đạo chính trị Trung Quốc, một trong những nhân vật đang khao khát có chân trong Thường vụ Bộ Chính trị trong dịp thay đổi thành phần vào mùa thu tới. Nhưng bước đường hướng tới tầm cỡ lãnh đạo quốc gia của ông Bạc Hy Lai chắc chắn đã dừng lại hôm thứ Năm vừa qua (15/03) với việc ông bị cách chức.
Tại Thành Đô, vào tối tháng Hai đó, các sự kiện nhanh chóng mang dáng dấp thảm kịch. Trên Vi Bác, mạng xã hội Twitter Trung Quốc, các cư dân mạng nói là có hàng chục xe của lực lượng cảnh sát và bán vũ trang được triển khai xung quanh cơ quan đại diện Mỹ. Ông Vương Lập Quân đã ở trong lãnh sứ quán khoảng 24 giờ. Điều gì đã xẩy ra trong suốt những giờ phút dài đằng đẵng đó. Vẫn hoàn toàn bí ẩn. Ngưòi ta nói rằng quan chức cao cấp này dường như xin tỵ nạn chính trị tại Mỹ. Vô ích. Các nhà ngoại giao Mỹ đã khẳng định, đúng là ông Vương đã tới Thành Đô, nhưng ông đã « tự nguyện » rời khỏi lãnh sự quán và họ không tiết lộ gì thêm nữa.
Người ta tưởng tượng đến bầu không khí sôi sục giữa hai cường quốc lớn, những cú điện thoại của các quan chức Trung Quốc cảnh báo những mối nguy hiểm về một cuộc phiêu lưu như vậy… Trong một cuộc nói chuyện với đài truyền hình Phượng Hoàng Hồng Kông, vào tuần trước, thị trưởng Trùng Khánh Hoàng Kỳ Phàm (Huang Qifan) đã nhả ra một vài thông tin. Ông thổ lộ là đã bỏ ra 2-3 tiếng đồng hồ để dỗ dành, thuyết phục ông Vương Lập Quân ra khỏi lãnh sự quán Mỹ. Do vậy, ông cho là đã tránh được một cuộc « khủng hoảng ngoại giao » nghiêm trọng. Trên thực tế, tối 07/02, ông Vương ra khỏi nơi tỵ nạn tạm thời. Các nhân viên an ninh quốc gia đón ông. Ngay hôm sau, 08/02, ông Vương được đưa lên Bắc Kinh bằng máy bay, từ đó, ông bị thẩm vấn trong những điều kiện được giữ bí mật. Cũng trong ngày hôm đó, một thông cáo cho biết ông Vương nghỉ phép vì « làm việc quá sức »… Câu chuyện « Thanh tra Eliot Ness Trùng Khánh » có cảm hứng từ bộ phim truyền hình nhiều tập nổi tiếng (*). Ông Vương giờ đây đã khoác bộ trang phục mầu ghi xám của « kẻ phản bội », bị nghi ngờ tham nhũng và có những phương cách làm việc phạm luật.
Khi chấp nhận rủi ro « được ăn cả, ngã về không » này, phải chăng tính mạng ông Vương bị đe dọa ? Ông đã mang theo những hồ sơ gì khi vào lãnh sự quán Mỹ ? Báo chí Hồng Kông nói rằng ông có một số thông tin bất lợi cho ông Bạc Hy Lai, rằng nhiều ngày trước khi xẩy ra sự cố, ông Vương đã viết một bức thư gửi cơ quan đáng gờm là Ban Thanh tra Kỷ luật Trung ương Đảng, cấp báo về một số việc bất hợp lệ của thủ trưởng ông ta. Cũng không quan trọng lắm. Điều cơ bản là vụ việc đã làm dấy lên một cơn bão chính trị dữ dội nhất mà Trung Quốc chưa hề thấy từ rất lâu nay và làm lộ rõ những biến động trong việc chuyển giao quyền lực chính trị năm 2012, một sự kiện mà mỗi thập niên chỉ xẩy ra một lần tại đây. Ở Trung Quốc cũng vậy, « chiến dịch vận động tranh cử » – theo kiểu chủ nghĩa xã hội thị trưòng – đã thực sự được khởi động. Và dao nhọn đã được rút ra trong cuộc đấu đá giữa các phe phái khác nhau, giữa các đường lối khác nhau.
Trong những trận chiến trong bóng tối này, chỉ thỉnh thoảng người ta mới trông thấy ánh phản quang của dao. Theo thông lệ, đấu đá chỉ diễn ra trong bóng tối. Giống như thời cổ xưa của Liên Xô và của kiểu nghiên cứu « Kremlin học », người ta chỉ có thể phỏng đoán, tìm kiếm những điểm khác biệt tinh tế trong những lời phát biểu lạnh lùng, bài bản theo kiểu « lưỡi gỗ », dò xem kỹ lưỡng những bức ảnh chính thức để đếm kẻ vắng mặt, người hiện diện, đánh giá về thứ hạng của các nhân vật trong bộ máy quyền lực tùy theo vị trí của họ…Đúng vậy, trong những ngày vừa qua, kỳ họp thường niên của Quốc hội là dịp để quan sát, phỏng đoán. Hôm thứ Năm, các nhà quan sát bình luận nhiều về sự vắng mặt của ông Bạc Hy Lai trong một cuộc họp quan trọng của Bộ Chính trị. Ông đã cho biết là bị « cúm nhẹ ». Hôm sau, ông tham gia vào một cuộc gặp với báo chí của đoàn đại biểu Trùng Khánh. Vào dịp đó, ông thừa nhận « khuyết điểm không giám sát ».
« Chín Hoàng đế »
Có hai dữ kiện xác định khuôn khổ các cuộc đối đầu đang diễn ra. Dữ kiện đầu tiên là tính lãnh đạo tập thể tại Trung Quốc mà trung tâm quyền lực là Ban Thường vụ Bộ Chính trị, với chín thành viên, được gọi là « Chín Hoàng đế ». Chính từ đây mà những thoả hiệp được hình thành, những đồng thuận chung được đưa ra. Cần phải biết là tầng lớp cao cấp trong giới lãnh đạo cộng sản không hề là một khối thống nhất. Có những thiên hướng bảo thủ hơn, có những thiên hướng cải cách hơn và nhất là tầng lớp này lại chia thành vài phe phái lớn với những liên minh đôi khi đan chéo nhau. Dữ kiện lớn thứ hai, đó là sự cần thiết đối với vị chủ tịch mãn nhiệm giữ được các phương tiện chi phối quyền lực, vì nên biết rằng thế hệ thứ 5 các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ cầm cương điều khiển đất nước trong 10 năm trời, tới tận năm 2022. Như ông Giang Trạch Dân đã làm cách nay 10 năm, chủ tịch Hồ Cẩm Đào phải xếp đặt càng nhiều người của ông càng tốt vào trong bộ máy quyền lực cao nhất, để giữ được khả năng tác động, chi phối.
Do đó, vụ ông Bạc Hy Lai, có thể được diễn giải nhiều cách khác nhau. « Tất cả các diễn giải này vừa đúng vừa sai », như lời một nhà ngoại giao. Đó là cuộc chiến giữa hai phái, phái Đoàn Thanh niên Cộng sản và phái « con các hoàng tử » hoặc đó là cuộc chiến giữa « mô hình Trùng Khánh », bảo thủ hơn và « mô hình Ô Khảm », cải cách hơn. Trong trường hợp thứ nhất, có lẽ trước hết là cuộc đấu đá giữa các nhân vật vì quyền lực. Trong trường hợp thứ hai, đó là một sự đối chọi giữa hai tầm nhìn về một nước Trung Hoa trong tương lai.
Cuộc chiến giữa hai phái gần như là một sự đối đầu của « giới quan chức chống lại các hoàng tử ». Thực vậy, một bên là Đoàn Thanh niên mà thủ lĩnh là chủ tịch Trung Quốc hiện nay, ông Hồ Cẩm Đào. Trong nhiều trường hợp, đó là những người xuất thân từ giới bình dân và nhờ công trạng mà lên cao trong bộ máy chính quyền. Như vậy, họ không có « máu xanh – có dòng dõi quý tộc ». Bên kia chiến hào là phe « con các hoàng tử » trong đó có ông Tập Cận Bình, mà ai cũng cho rằng ông sẽ là chủ tịch tương lai của Trung Quốc. Họ là thành viên của tầng lớp quý tộc đỏ, hậu duệ của những anh hùng lập ra nền Cộng hòa Nhân dân. Đối với ông Lâm Hoà Lập (William Lam), người am hiểu những điều bí mật trong bộ máy quyền lực Trung Quốc, giờ đây, người ta đang chứng kiến việc xem xét lại một thỏa hiệp đã đạt được hồi năm ngoái, dựa trên việc chia ba số ghế trong cơ cấu quyền lực « Chín Hoàng đế » : Ba ghế cho phái Đoàn Thanh niên, ba ghế cho phe các hoàng tử, trong đó có ông Tập Cận Bình và ba ghế cho các phe phái khác. Trong một bài viết của Jamestown Foundation, ông Lâm Hòa Lập cho rằng ông Hồ Cẩm Đào và các thuộc hạ của ông đã chỉ đạo « sự bất trắc » Trùng Khánh, thúc đẩy nhanh sự sụp đổ của ông Bạc Hy Lai. Chỉ còn cần đồng thuận với nhau về người thay thế ông Bạc Hy Lai…
« Sự phá sản của mô hình Trùng Khánh »
Về thực chất, dường như cũng có sự đối đầu giữa hai mô hình. Mô hình Trùng Khánh mà ông Bạc Hy Lai muốn thấy toàn Trung Quốc áp dụng. Đó là một dạng thỏa hiệp kết hợp giữa việc quay trở lại tư tưởng bình đẳng kiểu Mao và một sự mở cửa về kinh tế dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước. Mô hình kia, mà một số người, từ nay coi đó là « mô hình Ô Khảm », ý muốn nói tới khu làng nổi dậy ở miền nam Trung Quốc vừa mới thực hiện cuộc bỏ phiếu cấp địa phương tự do đầu tiên. Ngưòi đã giải quyết cuộc khủng hoảng này là vị đứng đầu tỉnh Quảng Đông, ông Uông Dương (Wang Yang). Đây là người được chủ tịch Hồ Cẩm Đào che chở, cũng có thể sẽ tham gia vào nhóm Chín Hoàng đế và là đối thủ chính của ông Bạc Hy Lai. Được coi là người rất ủng hộ tự do kinh tế, ông chủ trương phải mạnh dạn hơn nữa trong cải cách, qua việc giảm vai trò của Đảng, nới lỏng hơn sự kiềm chế đối với xã hội dân sự. Một nhân vật chủ chốt trong phe tân tả theo tư tưởng Mao, ông Dương Phàm (Yang Fan), tác giả một cuốn sách ca ngợi ông Bạc Hy Lai, tựa đề « Mô hình Trùng Khánh », vừa thừa nhận là cần có thêm một cái nhìn khác về trường hợp Ô Khảm…
Đối với ông Trương Minh (Zhang Ming), giáo sư ở đại học Nhân dân, việc cách chức ông Bạc Hy Lai báo hiệu sự « phá sản của mô hình Trùng Khánh và bật tín hiệu cho đường lối cải cách hiện đại hơn, nhưng không quá thiên tả ». Nhà nghiên cứu Trịnh Vĩnh Niên (Zheng Yongnian), thuộc Viện Đông Nam Á, đại học Quốc gia Singapore, nhận định, « cho đến nay, có một sự đối địch, tranh đua liên tục giữa hai đưòng lối này. Giờ đây, đường lối Trùng Khánh bị gạt bỏ, các lãnh đạo mới của Trung Quốc có thể tự do hơn nhằm tìm được đồng thuận chung và thúc đẩy cải cách. Điều này cũng phụ thuộc rất nhiều vào họ ».
Do đó, một số người tự hỏi phải chăng có một sự trùng hợp giữa vụ nổ chính trị và việc đăng trên các phương tiện truyền thông chính thống những bài viết có giọng điệu « cải cách » hơn là bình thường, kể cả về mặt xã hội và chính trị. Người ta tấn công các « nhóm lợi ích », nhất là những người đứng đầu các doanh nghiệp Nhà nước, dường như đã ngăn chặn cải cách. Từ đó mà suy luận rằng thời của những đại cải cách đã đến, là viển vông, vì vẫn còn một khoảng cách rộng bằng nước Trung Hoa. Vả lại, việc trấn áp những tiếng nói bất đồng không hề giảm. Và các giai đoạn quá độ vẫn chỉ đưa đến nguyên trạng. Chuyên gia Lâm Hòa Lập cũng lưu ý là các nhà lãnh đạo cộng sản có « truyền thống lâu đời sử dụng những nhân vật cải cách triệt để và những ngưòi có tư tưởng tự do về kinh tế như những con tốt trong các thủ đoạn chính trị, để rồi sau đó gạt bỏ chúng đi khi trận chiến giành quyền lực kết thúc ».
(*) : Eliot Ness (1903 – 1957) là thanh tra cảnh sát nổi tiếng chống băng đảng tội phạm trong thời kỳ nước Mỹ cấm buôn bán rượu 1920 – 1930 (Probibition). Đây là đề tài của bộ phim truyền hình nhiều tập « The Untouchables », chiếu trên đài ABC từ 1959 đến 1963 tại Mỹ.
Đức Tâm
Theo RFI

Nỗi lo toàn cảnh phát triển thủy điện ở nước ta

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về phát triển đất nước. Không hề xấu hổ khi nói rằng chúng ta rất lạc hậu về mọi mặt. Không thể đốt cháy giai đoạn bằng sử dụng một cách phí phạm các nguồn tài nguyên, các nguồn lực của đất nước. Bởi chúng ta không thể tái tạo cái mà thiên nhiên phải tích lũy hàng triệu năm. Cái chúng ta cần làm ngay là ổn định đất nước về mọi mặt, là phải biết tập trung phát huy sức mạnh của trí tuệ, sức mạnh tổng hợp của toàn dân. Sức mạnh đó mới giúp chúng ta phát triển trên nền tảng bền vững, giúp đất nước đi lên một cách vững chắc. Từ sự kiện nóng, sự cố rò rỉ nước ở đập thủy điện sông Tranh 2 đang gây xôn xao dư luận, đặc biệt là sự bất an, lo lắng của người dân vùng hạ lưu đập, hãy cùng nhau nhìn lại bức tranh tổng thể về công tác phát triển thủy điện ở Việt Nam.
Vết nứt toác lớn bên vai trái đập chính thủy điện Sông Tranh 2 
Chiến lược phát triển ngành điện

Chúng ta xây dựng các dự án phát triển ngành điện cho vài chục năm sau, nhưng không hề có dữ liệu dự đoán một cách đáng tin cậy của các ngành sử dụng mà cứ lấy phương hướng của các ngành khác nhân với tỉ lệ tăng trưởng dự kiến hàng năm để cho ra con số tổng công suất cần đạt được, có nghĩa là không có số liệu điện năng tiêu thụ bình quân cho mỗi sản phẩm qui đổi của từng nhóm hàng trong rổ hàng hóa! Tức là ta không có bức tranh tương lai toàn cục, hai mươi năm sau, vài chục năm sau, mà chỉ có các hộ sử dụng điện sinh ra chứ không có các hộ sử dụng điện mất đi, tức là hôm nay sản xuất một tấn thép tiêu hao hết từng này điện thì vài chục năm sau cũng vậy bằng cách nhân tỷ lệ tăng lũy tiến cho vài chục năm. Do đó, độ tin cậy của tổng sơ đồ phát triển điện cũng rất hạn chế.

Công tác quy hoạch, khảo sát

Hệ thống điện của Việt Nam phần lớn dựa vào nguồn phát của thuỷ điện (thuỷ điện chiếm đến 40% cơ cấu nguồn điện của hệ thống). Tuy nhiên, nguồn nước để phát điện tuỳ thuộc vào thời tiết, tuỳ thuộc vào “ông trời” và quy trình vận hành hồ chứa do con người lập ra. Chúng ta chưa có luật quy hoạch, cho nên các ngành khi làm quy hoạch thì sự phối hợp giữa các ngành chỉ là hình thức, hay nói rõ hơn không có “nhạc trưởng” đủ uy quyền cả tâm và tầm để chỉ huy chung. Bởi thế, mới xảy ra việc quy hoạch chồng chéo, mâu thuẫn nhau và chính những người chịu trách nhiệm làm quy hoạch do chịu nhiều sức ép, nên đôi khi cũng mất kiểm soát. Với trường hợp quy hoạch thủy điện, bất cập nhất là làm gia tăng xung đột sử dụng nước. Năm 2010, chúng tôi đi vào rừng Yok Đon, mục sở thị 20 km sông Serepok cạn khô vì thủy điện Serepok 4A chặn dòng. Rõ ràng “anh điện” được lợi (kiếm tiền từ thủy điện) thì các ngành khác hoặc là chết khô, hoặc là chết ngập!

Cơ chế thị trường, nên nhiều chủ đầu tư muốn đầu tư vào thủy điện đều tìm cách sao cho có lợi nhuận cao nhất, do đó tìm cách tiết kiệm tất cả các khâu từ khảo sát thiết kế đến thi công, kể cả thẩm tra, thẩm định. Thông thường khi nhận một công trình những đơn vị thiết kế đều lên dự toán theo quy chuẩn của nhà nước, nhưng chủ đầu tư chỉ chi 60~70% giá theo dự toán, muốn được việc người thiết kế đành cắn răng nhận. Ngay việc khảo sát cũng không được nhận đủ kinh phí theo dự toán. Ví dụ như đo đạc địa hình, các thuỷ điện đều xây dựng ở nơi heo hút, rừng nhiều, đo đạc đâu có dễ, do ít tiền nên chỉ vẽ sơ bộ, còn căn cứ vào bản đồ tỷ lệ thô vẽ lại. Về địa chất thì đáng khoan 10 mũi thì chỉ khoan 5 mũi mà có khi khoan chưa đến đá gốc, lấy vài mẫu để báo cáo, còn lại dùng phương pháp siêu âm ngoại suy, như thế thiết kế sao có thể chuẩn được?

Công tác thiết kế.

Theo tôi biết, hiện tại ở Việt Nam đập bêtông đầm lăn (RCC) thiết kế theo tiêu chuẩn của Mỹ, đập đá đổ lõi đất thiết kế theo tiêu chuẩn của Trung Quốc, còn đập đất thì thiết kế theo tiêu chuẩn VN (dựa trên tiêu chuẩn của Nga).

Bất cập: Tiêu chuẩn hiện hành của Việt Nam không thống nhất về phân loại cấp công trình thuỷ điện theo Quy mô công suất, gây khó khăn trong việc phân cấp công trình. Cụ thể: TCVN 285:2002 & QCVN 03:2009/BXD-Ban hành kèm theo TT số 33/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009.
Trong khi đó theo QCVN 03: 2009 BXD lại quy định loại công trình thủy điện cấp đặc biệt tổng công suất >1000MW. Cấp I công suất 300- <1000MW; Cấp II 100-<300 MW; Cấp III 50-<100MW; Cấp IV <50MW.
Cần có quy trình thiết kế ngặt nghèo hơn đối với những khu vực hay xảy ra động đất như Quảng Nam, Đà Nẵng. Hơn nữa, chúng ta khai thác triệt để nguồn nước để phát điện vì lợi ích kinh tế thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường. Hiện tại, việc thiết kế thuỷ điện ở VN chưa thực sự quan tâm, xem xét đến yếu tố “dòng chảy môi trường” và cũng chưa xét đến trường hợp khi thuỷ điện hết tuổi thọ (khi chất bồi lắng đã ngập cửa nhận nước) thì chi phí nào để thực hiện!
Công tác thi công.
Khi mở móng thi công đáng ra phải làm theo thiết kế, đất đào phải chuyển đi xa tới nơi có thể đổ đất thì đổ toẹt xuống sông hạ lưu cho lũ cuốn đi, thế là lại gây bồi xói hạ lưu. Chủ đầu tư muốn có lãi có khi tự thi công nên chuyên môn không vững, tiền thi công rẻ mạt, và thường ăn bớt khối lượng. Mặt khác, chủ đầu tư muốn có dự án phải “chạy” cửa nọ, cửa kia của tỉnh cũng tốn kém, nếu không có vốn kịp triển khai mấy năm sau lại bị tỉnh thu hồi, các quan tỉnh lại bán cho chủ đầu tư khác thế là chủ đầu tư cũ mất tiền. Các chủ đầu tư thường cũng chỉ có 30% vốn, còn lại phải đi vay ngân hàng mà lãi suất ngân hàng ngày càng tăng, tình cảnh đó khiến chủ đầu tư đau đầu và chỉ còn cách tiết kiệm tối đa.
Vấn đề môi trường
Về vấn đề môi trường trong việc đầu tư các dự án phải được đặt lên hàng đầu. Phải có biện pháp khống chế nạn phá rừng làm nương rẫy, nạn khai thác rừng bừa bãi, nạn cháy rừng sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống của chúng ta và con cháu chúng ta trong tương lai. Các đập thủy điện phải đa mục tiêu, sử dụng hữu hiệu nguồn nước. Trong tương lai, nguồn nước cho sinh hoạt sẽ ngày càng cạn kiệt. Tổng thống Mỹ John F. Kennedy khi còn đương nhiệm đã phát biểu rằng: nếu ai đó giải quyết được vấn đề nước thì người đó sẽ nhận đồng thời hai giải thưởng Nobel: một giải thưởng về khoa học và một giải thưởng về hoà bình!
Cần quy định dòng chảy trả lại cho hạ lưu (dòng chảy môi trường) phải quy định ngặt nghèo hơn vì trên thực tế có nhà máy thủy điện vận hành có khi cả tuần, cả nửa tháng không hề xả nước xuống hạ du.
Sự cố rò rỉ đập thủy điện sông Tranh 2
Ngay khi công luận quan tâm lo lắng về rò rỉ nước đập thủy điện sông Tranh 2, cơ quan quản lý dự án khẳng định dòng thấm chảy ra phía hạ lưu đã được nghiệm thu và đánh giá là đạt yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo chất lượng công trình là ngụy biện!. Các chuyên gia Hội đập lớn Việt Nam đều có chung nhận xét đối với đập bêtông đầm lăn nguyên tắc thiết kế phải có một hoặc nhiều tầng hành lang. Trong hành lang đặt các thiết bị đo các yếu tố kỹ thuật như thấm, chuyển vị, nhiệt độ. Riêng về thấm, các nhà tư vấn tính toán lưu lượng thấm cho phép qua toàn bộ thân đập theo các tiêu chuẩn hiện hành nhưng tuyệt nhiên không cho thấm trên mặt đập, càng không cho phép nước chảy thành dòng như ở đập sông Tranh. Tại các khe nhiệt và khe co dãn phải bố trí ít nhất là 1 hàng vật chắn nước (với đập cao như Sông Tranh 2 thông thường bố trí 2 hàng vật chắn nước) từ đỉnh đến chân đập bằng đồng hoặc bằng nhựa PVC có tuổi thọ cả trăm năm nhưng phải tuyệt đối đảm bảo chất lượng không cho nước thấm qua các vật chắn của các khớp nối ở khe nhiệt hoặc khe co giãn, khe lún.
Bài học kinh nghiệm đắt giá của nước ngoài
Xin cảnh báo thực tế đã có vỡ đập ở Mỹ, các hiện tượng ban đầu rất giống như đập thủy điện sông Tranh 2 của Việt Nam. Đập chứa nước St.Francis dung tích 47 triệu m3, chiều cao 59 m, chiều dài 185 m, cung cấp nước cho Los Angeles, xây dựng từ 1924 đến 1926 thì hoàn thành. Trong suốt năm 1926 và 1927, một số vết nứt bắt đầu xuất hiện trong đập. Ngày 12/3/1928 người ta phát hiện ra một vết rò rỉ mới đồng thời đã có lo ngai đập bị xói mòn. Tuy nhiên, sau khi kiểm tra, thanh tra xác định rằng sự xuất hiện của nước bùn không phải từ phần đập bị rò rỉ, do đó họ vẫn tuyên bố đập an toàn. Tuy nhiên, đến nửa đêm thì đập St. Francis bị vỡ. Khoảng 600 người thiệt mạng, trong đó có những nạn nhân bị cuốn ra biển vài tháng sau, thậm chí vài chục năm sau mới tìm thấy xương cốt. Nguyên nhân vỡ đập được xác định do ba yếu tố chính: sự bất ổn của nền đất trên đó đập được xây dựng (trên rãnh đứt gãy địa chất); Sai lầm trong thiết kế, đặc biệt khi tăng thêm chiều cao của đập vào năm 1925, và công tác giám sát thiết kế và thi công. Rút kinh nghiệm từ sự cố này, thành phố Los Angeles đã cho gia cố, xử lý đập Mulholland có kết cấu tương tự ngay sau thảm họa.
Thay cho lời kết
Thực tình, so với các nhà máy sản xuất điện khác hiện có, nếu con người đừng quá tham lam thì thủy điện có lẽ ưu việt hơn cả vì vừa có tác dụng phát điện, vừa có tác dụng điều tiết nước. Chữ “nếu” này không bao giờ thành hiện thực ở các nước nghèo, quan trí thấp nhưng ham muốn thì vô biên. Từ xây dựng quy hoạch (kể cả thẩm định), thiết kế (có thẩm định), thi công (bao gồm cả giám sát), vận hành đều quay cuồng trong vòng xoáy phần trăm lại quả, vậy thì không chỉ thủy điện mà mọi hoạt động kinh tế đều tiềm ẩn nguy cơ có quả bom nổ chậm treo trên đầu người dân. Cần phải thấy rằng nếu 1 con đường làm ẩu thì chỉ làm hại những ai đi trên con đường ấy; Nếu 1 nhà máy nhiệt điện làm ẩu thì chỉ ảnh hưởng đến công nhân (sự cố cháy nổ) hoặc dân cư xung quanh (vì xả khí ô nhiễm) còn nếu đập thủy điện không an toàn thì tiềm ẩn nguy cơ tác động có thể đến hàng chục vạn người dân ở hạ du.
Hiện nay, trên thế giới người ta có thể dùng máy CT để chụp cắt lớp các khe nứt. Đoàn kiểm tra mới công bố trấn an dư luận đập sông Tranh 2 vẫn an toàn nhưng không đưa ra bất cứ số liệu đo đạc kiểm tra để minh chứng. Dù có xử lý bằng cách nào đi nữa kể cả xử lý triệt để ở mái thượng lưu thì “tuổi thọ” của đập thủy điện sông Tranh chắc chắn bị tổn hại, đó là điều không phải bàn cãi.
EVN cùng Bộ Công thương phải thường xuyên báo cáo Thủ tướng một cách trung thực và áp dụng các biện pháp xử lý một cách khoa học và đồng bộ không sợ chịu trách nhiệm và tốn kém vì sự an toàn của người dân. Đây cũng là một sự kiện để EVN thể hiện sự đổi mới sau khi thay tướng. Công việc của EVN sắp tới nặng như núi, trong đó chắc hẳn có công việc tổng kiểm tra độ an toàn của toàn bộ hệ thống đập thủy điện ở Việt Nam.
Theo Người lót gạch
Xem thêm bài của tác giả Tô Văn TrườngThủy điện Sông Tranh 2 bị nứt: Tư vấn độc lập phải vào cuộc! 

Khoảng trống và phiếu chống

Chuyện áp phí đến mức “không thể đi” đối với ô tô và “cấm tiệt xe máy” sẽ là chuyện một sớm một chiều. Cấm quá dễ, đôi khi chỉ cầm cắm biển cấm và “sử dụng anh hùng Núp”- như cách nói của cư dân mạng. Nhưng câu hỏi không thể không đặt ra là người dân sẽ đi bằng gì?
Năm 2001, Hà Nội ra quyết định cấm toàn bộ xe xích lô sau vài năm cấm ở vài tuyến phố . Sau này, Giám đốc CA Hà Nội tướng Phạm Chuyên, một trong số các tác giả của lệnh cấm , dù vẫn cho rằng : Chính phủ phải có chính sách khả thi với việc hạn chế xe máy ở các thành phố lớn”- như Hà Nội đã từng hạn chế xích lô, nhưng ông cũng nói tới trách nhiệm của nhà nước đối với xây dựng cơ sở hạ tầng và phương tiện vận tải công cộng như một điều kiện tiên quyết. “Phải làm thật tốt đã rồi mới nói được người dân. Thế mới công bằng. Đừng cứ nói đến tai nạn, ùn tắc thì đổ hết lỗi cho dân”.
Hôm qua, một bức ảnh lạ, hình một người đàn ông “cưỡi ngựa còi” ngay giữa thủ đô Bắc Kinh được đăng tải trên một tờ báo chính thống . Bức ảnh sau đó được đưa lên mạng xã hội và nhận được vô số những lời bình luận. Hình như ngựa, sau vài tháng nữa- sẽ phổ biến trong các thành phố lớn ở Việt Nam. Hoặc xe trâu chẳng hạn.
Bức ảnh rõ ràng không ngẫu nhiên xuất hiện. Tuần rồi, hai tin xấu đồng loạt đổ ập xuống đầu dân chúng: Phí bảo trì đường bộ đã được chính thức quyết định. Chưa đầy 72h sau đó, Bộ GTVT, cương quyết đến kinh ngạc, tiếp tục đệ trình phí lưu hành phương tiện. Bộ trưởng Thăng thậm chí “đổi toẹt tên” thành ra phí hạn chế phương tiện cá nhân.
Đối với ô tô, Bộ GTVT tiên đoán “Sẽ có một bộ phận người dân mặc dù đủ khả năng mua ô tô cá nhân nhưng không chịu nổi mức phí đóng hằng năm, khi đó họ sẽ phải lựa chọn phương tiện khác thay thế”. Điều này thì khỏi phải bàn cãi khi các loại “phí lăn bánh” sẽ khiến những chủ xe nghèo nhất nhì thế giới sẽ phải bỏ ra đến 60 triệu đồng mỗi năm để có thể sử dụng loại phương tiện mà thế giới đã bắt đầu sử dụng từ năm 1885.
Người dân sẽ phải bỏ ô tô, khẳng định chắc chắn, để đi xe máy.
Nhưng xe máy cũng đang chịu sự ghẻ lạnh không kém từ Bộ trưởng Thăng. Nào là “Sẽ phải cấm xe gắn máy ở trung tâm Hà Nội và TP HCM”. Rồi thì “Hạn chế xe cá nhân là một chủ trương lớn và nhất định chúng ta phải thực hiện nhằm đẩy lùi tình trạng ùn tắc giao thông”.
Chuyện áp phí đến mức “không thể đi” đối với ô tô và “cấm tiệt xe máy” sẽ là chuyện một sớm một chiều. Cấm quá dễ, đôi khi chỉ cầm cắm biển cấm và “sử dụng anh hùng Núp”- như cách nói của cư dân mạng. Nhưng câu hỏi không thể không đặt ra là người dân sẽ đi bằng gì?
Cùng với tuyên bố sẽ “hạn chế ô tô, tiến tới cấm toàn bộ xe máy ở 2 TP lớn”, Bộ trưởng Thăng cũng nói tới “việc tăng cường vận tải công cộng, đầu tư cơ sở hạ tầng, tàu điện ngầm và đường sắt trên cao”.
Có điều, tất cả chuyện công cộng, từ hạ tầng đến phương tiện- đều ở thì tương lai. Thứ duy nhất trong phạm trù “vận tải hành khách công cộng” đang hiện hữu là những chiếc xe bus. Loại phương tiện mà dân gian gọi là “Quan tài bay”. Loại “vận tải công cộng” mà Bộ trưởng Thăng từng bắt nhân viên ngành giao thông phải sử dụng “ít nhất một ngày trong tuần”. Và có lần, chắc buột miệng, Bộ trưởng đã thật thà: Đến tôi cũng không đi nổi xe bus.
Năm 2001, khi cấm toàn bộ xe xích lô, Hà Nội đã gặp may khi bỗng nhiên có một giải pháp từ trên trời rơi xuống”: “Làn sóng Loncin” ào ạt đổ vào Việt Nam với giá chỉ gấp 3 một chiếc xích lô. Có điều xích lô bấy giờ chỉ là phương tiện kiếm cơm của vài ngàn người dân, chứ không phải là 28 triệu đôi chân- chiếc cần câu cơm như của 40% trong số 90 triệu dân bây giờ. Và chiếc “quan tài bay”, rõ ràng không thể thay thế cho chiếc Loncin Tàu.
Chính xác là đang có một cách áp đặt chính sách ngược đời khi Bộ GTVT hạn chế, thực chất là cấm phương tiện tư nhân, trước khi hoàn thiện xong vận tải công cộng.
Cũng cần phải nói thêm, phí hạn chế phương tiện cá nhân là một trong nhóm những biện pháp giảm ùn tắc, chủ yếu ở 2 TP: Hà Nội và TP HCM. Nhưng đây là một “khoảng trống” bất hợp lý của chính sách. Bởi như thế, người dân, trừ Hà Nội và TP HCM, nhất là gần 70% nông dân sống ở nông thôn, lại đang phải đóng phí cắt cổ để trả giá cho những bất cập về quy hoạch và phát triển hạ tầng của HN và TP HCM?
Vì thế, nếu thực sự có một cuộc trưng cầu như hứa hẹn của các chính khách sống ở thành phố, “khoảng trống” này chắc chắn sẽ nhận được “phiếu chống”.
Năm 2008, Bộ NN và PTNT đã công bố một thông tin khiến nhiều người ngậm ngùi: Nông dân, ngoài chuyện phải nộp các loại phí và lệ phí, như tất cả những người không phải nông dân, còn phải nộp 30-50 khoản phí khác không nằm trong danh mục.
Nhưng khoản phí vô lý nhất, có lẽ mới chỉ sắp xuất hiện, nông dân ở nông thôn sẽ phải đóng phí hạn chế phương tiện cá nhân để chống ùn tắc cho Thành phố.
Đào Tuấn

Thứ Sáu, ngày 23 tháng 3 năm 2012

Gió từ Nguyên

“Anh khép cửa cho mùa thu cởi áo
Còn em, trút lá…
… giữa phòng anh
Lá chưa chạm đất
Mà đông đã về!…
lão thầy bói già Đinh Vũ Hoàng Nguyên đã “Khép cửa” sáng nay, đi bói nơi khác rồi. Đăng lại bài viết của tác giả Lê Minh Hà như một lời chia tay với anh.
Tôi là người đến muộn. Với chữ của Đinh Vũ Hoàng Nguyên.
Thì biết làm sao. Là đàn bà, lại còn sắp cán đích già, chắc chắn là khó tính. Một cái avatar trên mạng: nào kính đen, nào khăn xếp, nào môi tím lưỡi đỏ, cái tên chủ nhân đọc đã đoán là quá trẻ so với mình, dễ gì hấp dẫn nổi tôi ngay.
Vậy mà đọc thì khó dứt.
Đinh Vũ Hoàng Nguyên có quá nhiều người biết và ngưỡng mộ. Vào blog laothayboigia, hay vào nhà Nguyên ở facebook, có cảm giác đem in thì lời bình về các bài viết của chủ nhân khéo nhiều lần dài hơn chính các bài viết ấy.
Đinh Vũ Hoàng Nguyên chỉ quăng một status thôi là kéo giật được bao nhiêu người nhào vào đọc, rồi bình.
Cứ nghĩ đến chuyện mình mang hết góc nọ góc kia của cõi lòng của miền tâm cảm bày ra trên mạng mà thiên hạ coi như nước ao bèo không thèm ném cho hòn sỏi, đọc thống kê lượng người vào thăm nhà Nguyên, khéo buồn khéo tủi khéo ghen.
Quả trên mạng chưa thấy ai có được những Status hài hước thế. Đây không hẳn là cái duyên, giỏi nhìn ngó và biết kể, mà là hẳn một kiểu tư duy, không thể nào bắt chước được.
Nguyên, trong những Status hay entry, tưởng bỗ bã, suồng sã, tợn tạo, tục nữa, nhưng đằng sau những dòng chữ ngắn ngủi là một bầu tâm cảm trước thế sự xa gần, trong tư cách một công dân, nhưng trên hết và sau cùng, là ý thức làm người.
Đọc, biết người viết yêu cuộc đời này lắm, thương cuộc đời này lắm, văng tục vào mặt đời cũng vì một sự biết yêu biết thương này.
Đấy là tố chất đầu tiên của một người muốn tận hiến mình cho nghệ thuật.
Nguyên là họa sĩ, nhưng Nguyên không viết theo kiểu người có một nghề khác tạt ngang văn chương, quăng cho văn chương đôi ba mảnh tâm tình, đôi ba mẩu tài không dùng hết trong nghề, như một cách thí xả. Đọc lại trọn vẹn blog laothayboigia, dễ nhận ra ở đó một tâm thái nghệ thuật nghiêm cẩn và đa diện.
Nghịch ngợm, phá phách, tinh quái đến điều là Nguyên ở các entry viết về bè bạn. Chuyện là của riêng, mà viết ra khiến người không can dự phải đọc không dứt được, thế có nghĩa là tài. Thế có nghĩa là người viết đã mở được cửa cho đời vào.
Những “y và những gã”, những “hiệp hội sản xuất bàn là”, đọc rồi cứ nghĩ chỉ cần công bố rộng nữa rộng mãi là giúp khối người khỏi phải đi tới các lớp dưỡng sinh tập nhe răng. Chữ nghĩa của người viết ở đây hệt như nhất dương chỉ, cù nhẹ một cái là khiến bao nhiêu cơ quan đoàn thể trong người đọc nhất loạt khởi động tập trung vào một tư thái duy nhất: Cười.
Không có nội lực bằng thế, nhưng người có thể kể chuyện hài, viết hài hài thì cũng chẳng hẳn là khó kiếm. Tuy nhiên, hài được, với cả một chủ ý nghệ thuật thì cực khó. Tôi, tôi thử chán ra rồi. Chịu.
Điều ấy, Nguyên đã thể hiện trọn vẹn trong nhiều entry, khi có khi không được chú là truyện ngắn.
Và ở đó, cái hài quay về điểm khởi hành: Nỗi đau đời, của một kẻ trời sinh bắt phải biết thương đời.
Một chuyện tình” là một truyện ngắn hoàn hảo trong nghĩa này.
Phảng phất như Nam Cao, trong cái dịu dàng tít tắp đằng sau câu chữ. Nhưng cái khùng khùng của nhân vật đang to tiếng mình yêu và thất ái thì đúng là của bọn thời nay, rất trẻ, rất vui, cái Nam Cao, do thời thế và do thể tạng xúc cảm, không bao giờ phát lộ.
Ở những entry khác, mà có lúc Đinh Vũ Hoàng Nguyên cũng chú trước là truyện ngắn, tưởng chừng như tác giả “Số đỏ” có truyền nhân.
Nhưng, cả Nam Cao, cả Vũ Trọng Phụng trong thời của mình mới chỉ phơi bày cái khổ, cái đáng khinh, niềm yêu thương phẫn hận, và cả niềm tin dù đã thấm mùi hoài nghi nặng của mình trước cuộc đời, cho cuộc đời, mà có khi thời ấy mới chỉ đáng bị, đáng được như thế thì Đinh Vũ Hoàng Nguyên đi xa hơn trong cái thời mình.
Đinh Vũ Hoàng Nguyên, trong truyện ngắn Chuyện vụn xóm bụi,  Khu cũ (1 và 2) mà tôi nhìn thấy ở đó tầm vóc của một tiểu thuyết đã phơi bày sự phá sản trọn vẹn của một lí tưởng xã hội độc tồn qua ít nhất ba thế hệ ở Việt Nam dường như vẫn đang chỉ đạo bằng quán tính không tâm thế thì là hoạt động thường nhật của không ít người.
Xã hội trong thời thịnh đạt của văn học hiện thực phê phán 1930 -1945 quả thối nát nhưng vẫn còn giữ được trật tự, vô trật tự nhất, loạn nhất cũng chỉ là cả làng hào hứng kéo nhau đi nghe thằng say chửi cụ tiên chỉ, xem Chí Phèo tự tử và tràn trề hưng phấn trong phỏng đoán bố con Bá Kiến ngã trâu.
Hôm nay, qua Đinh Vũ Hoàng Nguyên, khác, là sự thu nhỏ một xã hội quăng bỏ kỉ cương, luân lí, người người hoặc như Chí Phèo hoặc trong dạng tiềm năng thành Chí Phèo, không say nhưng hồn nhiên hơn cụ Chí ngày xưa, chẳng ai băn khoăn về Thiên Lương.
Nhân vật ở Khu cũ chửi như tập thể dục miệng, nghe chửi như một hình thức luyện tai và luyện tâm. Hoạt động trong ngày của nhóm cư dân nhân vật này được tác giả túm trong ba chữ: chửi chào cờ, đầy tính nghi thức.
Cách mô tả này đã nhấc toàn bộ hiện thực của tác phẩm ra khỏi môi trường sống tưởng chừng vẫn như là nối dài hiện thực thời 30 – 45, cho chúng ta nhận diện đó là hôm nay của chúng ta, trì đọng, sống động, cũng cho chúng ta thấy Đinh Vũ Hoàng Nguyên là hậu bối chứ không là truyền nhân của dẫu có là Vũ Trọng Phụng hay Nam Cao. Tác giả Sống mòn và Số đỏ vẫn còn giữ mình (trong tư cách người kể chuyện) bên ngoài hay bên trên hiện thực mình mô tả. Đinh Vũ Hoàng Nguyên, khác rồi, đặt mình vào sống thoải mái giữa dòng đời mình mô tả cực kì trào lộng, trào lộng đến mức nhi nhiên.
Tôi đọc các entry có tên hoặc đơn giản chỉ được đặt tít là viết ngắn rồi đánh số của tác giả này, cứ mong Nguyên viết tiếp và tập hợp lại, in ra, cho những người đọc thích cầm sách trên tay hơn là ngồi thiền trước màn hình máy tính.
Với Đinh Vũ Hoàng Nguyên, văn học Việt Nam đã có thêm sắc màu mới.
Có thể không nằm trong những quẫy cựa vô vọng về kĩ thuật nhưng không hẳn không cần thiết và thôi miên không ít người viết không muốn hiểu ra những trào lưu ta kêu gọi nhau hướng tới hôm nay là kết quả của sự vận động tâm thế ở một xã hội thời hiện đại văn minh hơn mình.
Nhưng cái tinh thần hài hước đậm chất phồn thực, cái sắc bén tỉ mỉ trong quan sát, mà đằng sau câu chữ chặt ra chặt thái ra thái ấy tôi luôn cảm thấy độ mong manh của một tâm hồn cưu mang lắm nỗi chắc chắn sẽ cắm được một giới hạn nữa trên tiến trình vận động của văn học nước nhà, nếu như tác giả…
Coi chữ nghĩa là một cuộc chơi nghiêm túc, Đinh Vũ Hoàng Nguyên hoàn toàn xa lạ với sự nhạt, là bi kịch của bất kì ai thiết tha với nghệ thuật, và là thảm họa cho người thưởng thức, chẳng cứ văn chương.
Thì phải có tài. Hẳn thế rồi. Đọc, rồi đọc lại, rồi hoang mang. Tài của kẻ đó là đâu? Văn xuôi? Nhưng hình như chưa hết.
Thơ? Đích thị. Thơ mới thật là Đinh Vũ Hoàng Nguyên.
Tiếc, cũng như văn xuôi, y công bố thơ chưa nhiều.
Nhưng thơ trong văn chương cũng là khúc nghịch trong nhạc, là một nét phảy màu mang lại hồn vía cho tranh, để đóng đinh vào tâm cảm chúng ta câu hỏi, cũng như lời giải ai người sáng tạo. Thơ, khác văn xuôi, đôi khi là một món ngon như nhất, hoặc đôi khi chỉ cần như là một cọng rau thơm đúng vị, trái mùa.
Chỉ với một “Có một phố vừa đi qua phố”, không dài, tôi nghĩ Hà Nội đã có thêm cho riêng mình một thi sĩ, như từng có một Hoài Anh mang ba mươi sáu phố phường đi kháng chiến – chín năm rừng lòng vẫn Thủ đô, một Lưu Quang Vũ trên ngày tháng trên trên cả niềm cay đắng thơ tôi là mây trắng của đời tôi, một Bằng Việt với chuông xe điện trong màn sương rạng sớm – và nắng nhỏ trên hàng cây rét muộn – có thể nào không xui tôi nhớ em,một Hoàng Nhuận Cầm vào mặt trận lúc mùa ve đang kêu dẫu hòn bi lăn hết vòng tuổi nhỏ – nhưng trong những ba lô kia ai dám bảo là không có – một hai ba giọng hát chú ve kim, và, mang mang nhất: Phan Vũ với Hà Nội phố, một thời chiến tranh, một thời hòa bình, đã xa chiếc lá lạc vào căn gác nhỏ – lá thư quên địa chỉ quay về…
Phải, Hà Nội đã có thêm cho mình một người thơ, trong từng chút tự sự, với mình, với ai, cũng cực kì Hà Nội: Đinh Vũ Hoàng Nguyên.
Bất chợt nghĩ rồi một ngày ta sẽ, tôi sẽ, và Nguyên sẽ…
Sẽ thiếu đi, vĩnh viễn, một người có thể lẩy ra vẻ đẹp tuyệt vời, giản dị, bất ngờ của thế gian nhọc nhằn này.
Sẽ còn lại mãi, một hồn người nửa đời chưa hết gió, một hồn người biết chạm khẽ làn rêu.
Phải không?
Lê Minh Hà
Thơ và bài “viết ngắn” của Đinh Vũ Hoàng Nguyên, trích từ blog laothayboigia
CHÚT TỰ SỰ, VÀ EM

Những cơn bão xiêu đêm. Những cơn bão dịu dàng.
Những ga lá nhắc nửa đời lỗi hẹn.
Gió hấp hổi suốt một thời của biển
Có bao giờ biết lặng trước mùa thu.
.
Em!
đang nghĩ gì khi anh ôm bàn tay?
Đôi mắt muộn, ngóng vì sao lẻ!
.
Em đừng bâng khuâng điều xa xôi quá
Một cơn mưa cũng tạo nên mùa
Bởi ta đến bên nhau đâu phải từ sóng mắt
Mà bởi lòng lắng lại mới thành nhau.
.
Và điều không dễ mất trong nhau
Như cuối nắng còn trăng lưu bóng nắng
Ta thấm qua nhau những niềm chưa hết nỗi…
Đôi mắt muộn, ngôi sao bay chớp vội
Em ủ cánh buồm, câu ước, sao băng.
.
Khi anh lắng nghe tiếng trái tim em
Nghe khoảng lặng nửa đời anh, chợt đập
Nghe bao điều riêng đau, ta không kể
Bởi một điều trong nhịp nhịp đồng rung.
Là điều chẳng dễ gọi thành tên
Nước mắt vẫn không mầu,
khi lăn qua nỗi đau và hạnh phúc.
Đôi mắt muộn, một vì sao rụng
Giọt nước mắt này anh muốn gọi thành tên.
.
Trời rộng đất dài ta đến tìm nhau
Đất trời gọn trong làn hơi nhau thở.
Em nhận nhé nửa đời chưa hết gió
Để cánh buồm… câu ước, sao băng..
CÓ MỘT PHỐ VỪA ĐI QUA PHỐ
.
Có bao người vừa đi qua phố
Có một phố vừa đi qua phố
Có chút lòng khẽ chạm… làn rêu.
.
Phố, kẹo lạc kẹo vừng
Con dế thơ ngây gáy vào cơn ngủ
Nắng câu Kiều thơm gió những vòm đêm
Cánh cò lạc bờ đê
cò dò trên ngói
bỗng gặp cái cò trong tiếng à ơi…
.
Phố, làng lúa làng hoa
Người trong phố về quê trong phố
Ngã tư lòng
vương
ngát sen hương…
.
Phiên chợ đầu hôm
Sông Hồng cong mình trên bờ vai thành phố
Người quang gánh gánh làng về phố
Mùa nước đỏ mắt người cũng đỏ
Mỗi mảnh trăng phôi trên mỗi mảnh đời…
.
Cửa ô
Im lìm
Đoàn quân
chuyển mình lên biên giới
Những giọt máu hai mươi hợp dòng xa phố
Ngọn đèn – Tim
cháy thâu sương…
Có người cha tiễn con,
mắng vợ mình mau nước mắt
Nhưng đêm ấy là đêm
mờ mưa, sao tắt
Gò má người cha
mọng
thắp
Ánh sao…
.
Vỉa hè
Lang thang
Đứa trẻ không nhà
trèo sấu trèo me đi bán
Sau cơn mưa
gẫy rắc
cành me…
Người đàn ông
nước mắt không rơi suốt thời chinh chiến
Bỗng mặn mòi se giọt… giữa vành môi!
.
Khúc ơ khúc ơ…
Đêm qua
Tiếng rao cũ lạc người trên gác cũ
Có cụ già cô đơn bỏ phố
Chị hàng rong
đặt tấm bánh trên bàn thờ, hương đỏ
Những mảnh lòng chưa thành quen trong phố
Khóc ngậm ngùi tiễn tưởng một người thân.
.
Bình minh bay từ khung cửa sổ
Dòng sông trôi từ khung cửa sổ
Đa – Nuýp
xanh
sắc cốm Vòng
Những mảng trầm thiêm thiếp giấc đông
Bỗng mở mắt cái hoa lên tháng
Có người con gái
Dịu dàng đưa tháng qua môi
,…
.
Ta bên nhau trên phố của bao người
Bao ân tình vừa đi qua phố
Có một phố vừa đi qua phố!
Có một người lắng phố, bên em.
.
Em hồn nhiên cho phố hồn nhiên
Tóc phả mái bên chiều
phai phai nắng ngói…
Thân thương quá!
lòng sao chợt hỏi
Phố của mình có nối,… phố trong em?!

Chống tham nhũng – Đâu là “ đột phá khẩu”? Gấp rút hòan thiện nhà nước pháp quyền!

Vừa qua, báo Lao Động đã đăng liên tục 4 bài viết của các đồng chí giàu tâm huyết và trí tuệ tìm biên pháp đẩy lùi tham nhũng, góp phần chỉnh đốn xây dựng Đảng. Đây là một bài toán khó. Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, trước khi kết thúc nhiệm kỳ đã nhận khuyết điểm trên Sài gòn Tiếp thị số Xuân là ông đã không giải được bài toán tham nhũng như đã hứa. Vậy mỗi người chúng ta cần góp sức mở cho được “đột phá khẩu” này!

”MÔT BẦY SÂU” VÀ “CĂN BÊNH UNG THƯ”

Căn bệnh tham nhũng đã được phát hiện và đưa ra thuốc chữa từ Đại hội Đảng lần thứ 6, đến nay đã qua 26 năm, có rất nhiều cuộc hội chẩn, điều trị từ các nghị quyết Đại hôi Đảng và các Hội nghị Trung ương, nhưng chẳng những bệnh không thuyên giảm mà ngày càng tỏ ra lờn thuộc và trầm trong hơn. Chủ tịch Trương Tấn Sang đưa ra hình ảnh tham nhũng như “một bầy sâu” đục khoét đất nước và tàn phá Đảng. Mới đây, nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu cho rằng “thực trạng đã nặng lắm rồi như căn bênh ung thư”. So sánh với chứng bệnh đó có lẽ, ông muốn nói rằng dù nhẹ cũng phải qua giải phẩu! Báo cáo tại hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 cho thấy, số vụ án tham nhũng được điều tra, truy tố, xét xử trong 5 năm qua có xu hướng giảm dần, trong khi tham nhũng diễn ra nghiêm trọng hơn. Số vụ tham nhũng được phát hiện và xử lý qua công tác kiểm tra, thanh tra,kiểm toán còn ít. Trong 5 năm qua, nhiều địa phương không phát hiện được một vụ tham nhũng nào qua các công tác này. Hiện tượng đó cho thấy bọn tham nhũng không còn ở thế yếu, né tránh, thụ động mà nay chúng đã có đủ vây cánh, hình thành những nhóm lợi ích, có khả năng móc ngoặc, chi phối các cơ quan chức năng nói trên. Chuyện cựu chiến binh Đinh Đức Phiếu vì tố cáo bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình tham nhũng mà bị bắt giam và bị kết án tù, không phải là cá biệt. Vụ Tiên Lãng, ông Đoàn văn Vươn đi khiếu kiện từ 2008 và được tờ báo của Bộ Công Thương bênh vực, nhưng 4 năm sau vẫn bị cưỡng chế, cũng không phải là cá biệt. Năm 2009,chủ tịch Nguyễn Minh Triết ký phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tham nhũng (đại diên chinh phủ Quách Lê Thanh ký đồng ý tham gia từ 2003). Lúc ấy trả lời truyền thông nước ngoài, tiến sĩ Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện nghiên cứu luật pháp của Quốc hội tỏ ý có mấy lo ngại: -Chúng ta đã ký nhiều Công ước quốc tế, nhưng rồi “đánh trống bỏ dùi”; – Nước ta việc đóng dấu mật trên các văn bản tràn lan, xã hội bị phủ bức màn bí mật; – Chúng ta có thể bị quốc tế ra nghi ngờ có sự bao che, giấu nhẹm…khi đưa ra những văn bản ”trống” về tham nhũng. Quả là ông đã tiên liệu rất đúng!

Vậy chúng ta phải tìm nguyên nhân sâu xa, chứ không thể bằng lòng với những biểu hiện trực tiếp, cụ thể.

VÌ SAO MỘT ĐẢNG CÁCH MẠNG BỊ SUY THOÁI?

So sánh phương thức lãnh đạo hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước, sẽ thấy điểm chủ yếu vẫn không khác phương thức lãnh đạo của Đảng cộng sản Liên Xô đối với Nhà nước xưa kia. Phương thức này trùm quyền lực của Đảng lên quyền lực Nhà nước làm cả hai thoái hóa dẫn tới sụp đổ. Đại hôi 11 cho rằng phương thức này gây ra tình trạng Đảng bao biện, làm thay các cơ quan Nhà nước và yêu cầu phải khắc phục (Văn kiện Đại hội 11,NXBCTQG,trang 61).

Nghị quyết Đại hội 11 viết: ”Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh,chiến lược các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vân động, tổ chức, kiểm tra, hgiám và bằng hành động gương mẫu của đảng viên”(Văn kiện, trang 88). Tuy nhiên nội dung nói trên chưa thành hiện thực, do chưa được cụ thể hóa bằng một phương án tổ chức để có thể thực hiện. Đến nay,Nhà nước vẫn là công cụ thực hiện các quyết định của Đảng. Đảng trở thành một tổ chức siêu quyền lực, không phải Đảng lãnh đạo như nội dung trên đã nêu, cũng không phải Đảng cầm quyền như chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi trong Di chúc. Các nhà nghiên cứu chính trị gọi đó là chế độ Đảng trị, hoặc toàn trị.

Nhìn một cách hình thức thì tưởng như vậỵ là Đảng đã đạt tới đỉnh cao quyền lực, kèm theo đó là sức manh chưa từng có trong lịch sử. Sự thật không phải như vậy. Bởi vì quyền lực là điều kiện để tham nhũng mà “quyền lực tuyệt đối thì tham nhũng cũng tuyệt đối.” Tham nhũng khiến nội bộ Đảng mất đòan kết và nhân dân giảm niềm tin vào Đảng. Do đó hiện nay Đảng có hơn 3 triệu đảng viên, nhưng không thể nói là vững mạnh bằng thời Cách mạng Tháng Tám chỉ có 5000 đảng viên.

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN, KHÔNG PHẢI THUỐC ĐẮNG!

Ông Trần Du Lịch(Phó trưởng đoàn đại biểu quốc hội TPHCM) cho rằng ”Để phòng chống tham nhũng hiệu quả thì phải làm từ gốc, nếu không thì dù mô hình gì cũng vô ích. Thứ nhất là thể chế”. Đúng vậy! Trong khi quyên lực không được giám sát hạn chế thì Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng dù tổ chức theo mô hình nào cũng khó giữ được tính độc lập, không bị quyền lực chi phối. Ông Lê Phước Thọ, nguyên ủy viên Bộ chính trị nhận xét “Mô hình hiện nay gần giống như vừa đá bóng vừa thổi còi”.Có lẽ, ông nghĩ nội bộ Đảng vẫn tốt đẹp y như thời ông còn làm việc, cho nên đề nghị mô hình Ban chỉ đạo trực thuộc các cấp ủy Đảng. Nhưng thử hình dung, nếu Ban phòng chống tham nhũng trực thuộc cấp ủy Đảng thì ở Ninh Bình,Tiên Lãng-Hải Phòng như vừa qua,thì không phải “gần giống ” mà chắc chắn “thực sự là vừa đá bóng vừa thổi còi”! Ông Phạm Quốc Anh chủ tịch Hội Luật gia VN cho rằng Trung Quốc nhập Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng vào Ủy ban Kiểm tra đã hoạt động có hiệu quả. Thực ra, Trung quốc tuy có khá hơn ta, nhưng vẫn nằm trong số quốc gia có nạn tham nhũng cao. Phát biểu kết luận Hội nghị vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng:”Ban chỉ đạo dù có độc lập đến đâu cũng không thể làm thay việc chống tham nhũng của các cơ quan chuyên trách khác như công an, tòa án, kiểm sát.Vì đây là chức năng hiến định”. Ý kiến ấy rất đúng , nhưng vì sao các cơ quan chuyên trách theo hiến định ấy lâu nay không thể làm tốt chức trách? Nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc cho rằng:”Luật phòng chống tham nhũng có đi vào cuộc sống hay không còn phụ thuộc vào thái độ của chúng ta đối với Luật đó”.Người từng đứng đầu ngành tư pháp hiểu sâu sắc rằng qua hơn 20 năm xây dựng pháp quyền, chúng ta vẫn chưa thoát khỏi nền “ nhân trị”,cũng gọi là “đức trị”. Trong khi Nhân và Đức đã suy đồi lại nắm trong tay quyền lưc vô hạn thì luật pháp sao khỏi bị chà đạp. Phó giáo sư Đào Công Tiến lo ngại, nếu Đảng “vẫn tiếp tục đứng bên ngoài, thậm chí đứng trên những nguyên tắc cơ bản về dân chủ và pháp quyền thì Đảng tiếp tục bị tha hóa –tha hóa từ sự tập trung quyền lực thái quá mà thiếu chế tài của dân quyền và pháp quyền và hệ lụy khôn lường từ sự tha hóa đó sẽ là bế tắc”.Ông Phạm Quốc Anh nêu rõ 3 nguyên nhân chủ yếu đẻ ra tham nhũng cần ngăn chặn là : Đất đai; mua bán tài sản công; mua quan bán chức. Tuy nhiên đó cũng chỉ là những nguyên nhân trực tiếp, chưa phải nguyên nhân sâu xa mà các ông Trần Du Lịch, Đào Công Tiến đề cập.

Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tham nhũng ở chương “Các biện pháp phòng ngừa”, điều 5 về “Chính sách và hành động phòng, chống tham nhũng” đã nhấn mạnh (in đậm): ”Những chính sách phải thúc đẩy sự tham gia của xã hội và thể hiện nguyên tắc nhà nước pháp quyền…” Công ước có hơn 100 lần lặp lại các từ luật pháp, pháp lý, pháp chế. Như vậy, có thể thấy,chống tham nhũng phải bằng luật pháp, phải có Nhà nước pháp quyền. Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết cho rằng chống tham nhũng đột phá khẩu “ là quyết tâm chính trị của cấp cao nhất”. Vâng xin nói thêm: Quyết tâm chính trị đó phải thể hiện bằng việc gấp rút thực hiện cho được nhà nước pháp quyền!

Vì sao các nghị quyết Đảng nhiều lần nhấn mạnh phải xây dựng Nhà nước pháp quyền mà việc thực hiện lại bị trì trệ? Bởi vì chưa thực sự trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh:”Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”(Toàn tập, ST, 1985, trang 299).Tư tưởng ấy đã được thể hiện rõ trong Hiến pháp 1946, quy định cho việc tổ chức một Nhà nước pháp quyền. Nhân dân có quyền bầu cử, bãi miễn và phúc quyết hiến pháp. Từ Chủ tịch nước, thành viên nội các, đại biểu quốc hội đều được chế ước nếu vi phạm pháp luật. Trong khi xét xử các thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp.

Như vậy, nhà nước pháp quyền không phải là “thuốc đắng”, cũng không phải “đá ghè chân” mà chính là điều kiện tiên quyết, để Đảng đặt mình dưới pháp luật, dưới nhân dân, để thực hiện được trọng trách “là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân” (HCM TT. ST. 1989,T10,trang 835) thực hiên lý tưởng cao cả “làm cho tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” (HCM.TT, ST,1984, T4, trang 463).

Ngày 22-3-2012

Tống văn Công

Theo Viet-Studies