Thứ Bảy, ngày 31 tháng 3 năm 2012

Ngụy biện vì ông Đinh La Thăng


Dành thời gian đọc, sau đó phân tích các lỗi ngụy biện ở một bài viết như bài “Kính thưa ‘quý cô cái gì cũng muốn” của tác giả Hoàng Thắng trên Petro Times (http://www.petrotimes.vn/van-hoa-giai-tri/2012/03/kinh-thua-quy-co-cai-gi-cung-muon) là một việc có lẽ chỉ nên làm trong lúc rảnh quá. Tuy nhiên, xét thấy sự ngụy biện đang lan tràn trong tất cả các cuộc tranh luận trên mạng, trên không gian báo chí, không loại trừ cả không gian học thuật, nên tôi nghĩ việc chỉ ra các lỗi ngụy biện sơ đẳng trong bài viết này cũng là điều cần thiết. Bên cạnh các lỗi ngụy biện là một số sai sót về kỹ thuật viết báo, tôi cũng sẽ cố gắng chỉ ra một phần.
Xin lưu ý: Đây là bài viết phân tích về ngụy biện và báo chí, không nhận xét và không phán xét tác giả Hoàng Thắng.
* * *
1.
Trích: “Trong bài trả lời phỏng vấn của mình, ca sỹ Mỹ Linh cho rằng: Thuế chồng lên thuế, phí chồng lên phí, chất lượng công trình giao thông chưa tương xứng với những khoản tiền mà dân phải đóng… và cuối cùng là kết luận một câu xanh rờn “Đề xuất giải pháp đó, theo tôi, chứng tỏ anh Đinh La Thăng quá kém cỏi!”
Chỉ chờ có thế, các trang mạng đua nhau đăng lại bài phỏng vấn ca sỹ này với tiêu đề “Bắt dân đóng phí, anh Đinh La Thăng quá kém cỏi!” Đã không ít người tung hô cho bài phỏng vấn này của Mỹ Linh, đơn giản vì đó là lời nói của một người nổi tiếng. Tuy nhiên, để nói về hàm lượng kiến thức hay tư duy trong câu nói thì cũng chưa được nhiều cho lắm”.
Về khía cạnh nghiệp vụ báo chí, để đảm bảo tính khách quan, nhà báo không được sử dụng tính từ, phó từ, nhất là các tính từ và phó từ mang tính phán xét, nặng hơn nữa là có hàm ý miệt thị. Các động từ, nếu không đảm bảo trung tính, cũng không được dùng. Trong đoạn viết trên đây, tác giả Hoàng Thắng, ngược lại, đã sử dụng ít nhất ba từ không khách quan: “xanh rờn”, “đua nhau”, “tung hô”.
Suy luận “đơn giản vì đó là lời nói của một người nổi tiếng” là quá đơn giản. Người ta “tung hô” (nếu có) ý kiến của ca sĩ Mỹ Linh có thể còn vì nhiều nguyên nhân khác, như: cô ấy đẹp, cô ấy là dân thường (giống người ta) chứ không phải lãnh đạo, cô ấy là phụ nữ, cô ấy đã nói đúng điều người ta thích, v.v.
2.
Trích: “Mặc dù phát biểu văng mạng rằng “thuế chồng thuế, phí chồng phí” nhưng xin cam đoan là nữ ca sỹ sẽ chẳng thể nào chỉ ra nổi “phí chồng phí” ở đâu. Bởi đơn giản: Việc phân định có hay không chuyện “phí chồng phí” đang được các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia kinh tế tranh luận quyết liệt và chưa có hồi kết. Những phát ngôn của “người đẹp hát” cũng chỉ có thể là… nghe người ta nói thế thì biết thế thôi.
Còn kết luận phê phán kiến thức của Bộ trưởng Bộ GTVT “Bắt dân đóng phí chứng tỏ anh Đinh La Thăng kém cỏi” thì có lẽ là nên miễn bàn vì đơn giản: Tiến sỹ Đinh La Thăng cũng sẽ không bao giờ tranh cãi với ca sỹ Mỹ Linh về âm nhạc”.
Tác giả sử dụng các từ và lối diễn đạt sau đây: “văng mạng”, “phát ngôn của ‘người đẹp hát’”, “nghe người ta nói thế thì biết thế thôi”, “miễn bàn”… Về khía cạnh báo chí, lỗi lặp lại như ở trên: chủ quan, cảm tính, hàm ý miệt thị cá nhân. Có dấu hiệu của ngụy biện “tấn công cá nhân” với cách gọi Mỹ Linh là “người đẹp hát” trong ngoặc kép.
Với cách diễn đạt “miễn bàn về…”, tác giả phạm lỗi ngụy biện “Appeal to Ridicule”, tạm dịch là “Lố bịch hóa”, nghĩa là (chưa gì đã) chế nhạo ý kiến của người nói thay vì chỉ ra lỗi của người đó. Ví dụ (trích tài liệu của TS. Michael C. Labossiere, dự án Nizkor, 1995):
- Chắc chắn là đối thủ xứng đáng của tôi tuyên bố là chúng ta nên giảm bớt học phí rồi, nhưng điều này thật nực cười.
- Ủng hộ ERA à? Tất nhiên rồi, khi nào phụ nữ trả tiền đồ uống đã! Haha!
3.
Trích: “Cô ca sỹ còn đưa ra bằng chứng khá ngô nghê là “Ai bảo bắt cái ô tô oằn mình chịu đủ thứ thuế, thứ phí… là sẽ giúp giảm thiểu được tai nạn giao thông, khi mà đi xe máy ở Việt Nam mới là dễ bị tai nạn nhất! Chỉ mới cách đây hơn hai tuần thôi, vào đúng ngày 8/3, chị bạn tôi vừa mất một câu con trai 10 tuổi cũng vì hai bố con chở nhau đi xe máy, bị người ta quệt phải. Còn trước đó đi ôtô thì không sao, nhưng ô tô đã phải bán vì bố mẹ cháu không chịu nổi cơn tăng giá, phí.”
Lấy ví dụ thế thì chả hóa ra chỉ có đi ôtô như Mỹ Linh mới an toàn còn những người đi xe máy đều nguy hiểm cả. Chẳng lẽ an toàn giao thông chỉ là thứ người giàu người riêng hưởng?”.
Tương tự trên, tác giả dùng từ “ngô nghê” là vi phạm nguyên tắc báo chí, vì vừa chủ quan, vừa cảm tính, vừa miệt thị cá nhân.
Ở đây, nếu muốn phản bác Mỹ Linh, tác giả hoàn toàn có thể chỉ ra lỗi ngụy biện trong ý kiến của ca sĩ Mỹ Linh. Tuy nhiên, thay vì thế, tác giả đã đánh phủ đầu bằng miệt thị, chế nhạo, và vẫn không có cơ sở khoa học nào. Ý kiến của tác giả, do không được chứng minh, cho nên cũng không có lý hơn Mỹ Linh là bao nhiêu.
Lấy ví dụ thế thì chả hóa ra chỉ có đi ôtô như Mỹ Linh mới an toàn còn những người đi xe máy đều nguy hiểm cả”. Thật ra thì, căn cứ vào lời được trích dẫn trên báo, thì ca sĩ Mỹ Linh không nói rằng CHỈ có đi ô-tô thì mới an toàn. Tác giả phạm hoặc là lỗi quy chụp, hoặc là lỗi trích dẫn. Một khi đã phạm lỗi quy chụp hoặc lỗi trích dẫn rồi thì các lập luận tiếp sau đó của người phạm lỗi không còn ý nghĩa nữa.
Tuy nhiên, ở đây cứ giả sử rằng chúng ta chấp nhận lỗi này của tác giả, giả sử rằng Mỹ Linh có ý cho rằng đi ô-tô an toàn hơn đi xe máy, thì Mỹ Linh vẫn đúng thay vì tác giả. Theo thống kê, tính trên 1 mile (dặm, tương đương 1,6 km), đi xe máy có nguy cơ gặp tai nạn cao hơn từ 30 đến 40 lần so với đi ô-tô. Còn khi tai nạn xảy ra, người đi xe máy có xác suất bị thương cao gấp 3 lần người đi ô-tô, và xác suất tử vong cao gấp 15 lần. Đây là các thống kê của US National Traffic Safety Board.
Chả hóa ra chỉ có đi ô-tô như Mỹ Linh mới an toàn”. Đưa cụm từ “như Mỹ Linh” vào, tác giả đã phạm lỗi ngụy biện “Appeal to Spite”, tạm dịch là “gây thù chuốc oán”. Đây là ngụy biện theo đó, thay vì đưa bằng chứng cho thấy một người nào đó (Mỹ Linh) nói như vậy là sai, thì lại tìm cách làm cho người đó bị số đông ghét bỏ.
Tương tự, “Chẳng lẽ an toàn giao thông chỉ là thứ người giàu người riêng hưởng?”, cũng là lỗi ngụy biện “gây thù chuốc oán”.
4.
Trích: “Hàm lượng “chất xám” trong phát biểu của ca sỹ Mỹ Linh có lẽ cũng chỉ nên bàn đến thế. Cái cần bàn của chúng ta ở đây là thái độ xây dựng, cách phát ngôn của những “con người công chúng” với công việc chung, với lợi ích chung của cả xã hội.
Trong khi cả hệ thống chính trị, cả xã hội đang sôi sục để cùng chung lưng đấu cật tìm ra biện pháp tháo gỡ vướng mắc, giải bài toán ách tắc giao thông thì “người của công chúng” lại đăng đàn và phát ngôn một cách vô trách nhiệm như thế”.
Hàm lượng “chất xám” trong phát biểu của ca sỹ Mỹ Linh có lẽ cũng chỉ nên bàn đến thế”: chủ quan, cảm tính, miệt thị, xúc phạm cá nhân.
Trong khi cả hệ thống chính trị, cả xã hội đang sôi sục để cùng chung lưng đấu cật tìm ra biện pháp tháo gỡ vướng mắc, giải bài toán ách tắc giao thông thì “người của công chúng” lại đăng đàn và phát ngôn một cách vô trách nhiệm như thế”. Tác giả phạm các lỗi ngụy biện sau đây:
- gây thù chuốc oán (Appeal to Ridicule), đã phân tích ở trên
- có dấu hiệu của ngụy biện “viện đến tình cảm của số đông” (Appeal to Emotion): “trong khi cả hệ thống chính trị, cả xã hội đang sôi sục…”. Sở dĩ mới là “có dấu hiệu”, vì ngụy biện này của tác giả, ngay cả khi được sử dụng, vẫn không có hiệu quả. Trong khi cả hệ thống chính trị, cả xã hội đang sôi sục để cùng chung lưng đấu cật tìm ra biện pháp… thì Mỹ Linh cũng vậy, cô ấy cũng đang góp một tiếng nói trong cái hệ thống chính trị và cái xã hội đó, cho dù nó có vô trách nhiệm (như tác giả đã miệt thị một cách ngụy biện, thiếu căn cứ) hay không.
- đe dọa (Appeal to Fear): Đây là kiểu ngụy biện trong đó thay vì lập luận, đưa ra bằng chứng cho thấy Mỹ Linh sai thì lại có hàm ý đe dọa: Tất cả mọi người đều đang như thế này mà cô lại như thế kia à?
- “sức ép về bằng chứng” (Burden of Proof): Ví dụ của ngụy biện này như sau: “Theo tôi, chắc chắn là có ma. Vì sao à? Thì anh thử chứng minh xem? Đấy, anh không chứng minh được là không có ma. Như vậy tức là có ma”.
Ở đây, tác giả cũng đẩy sức ép về bằng chứng sang cho ca sĩ Mỹ Linh: Cô có biện pháp tháo gỡ vướng mắc, giải bài toán ách tắc giao thông không mà cô dám lên tiếng?
5.
Trích: “Ngay sau khi cô ca sỹ này đăng đàn vài ngày, tại cuộc họp của Thành ủy Hà Nội bàn về vấn đề chống ùn tắc, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị tâm sự “Gia đình tôi đã hạn chế đi xe cá nhân để giảm ùn tắc”. Sự gương mẫu của Bí thư Phạm Quang Nghị hẳn sẽ là một tấm gương lớn cho nhiều người noi theo.
Ông cho rằng: “Nhiều cá nhân khi bị đụng chạm quyền lợi thì phản ứng gay gắt. Bỏ ra cả tỉ đồng mua xe thì không công khai rằng tiền từ đâu ra, trong khi đóng vài triệu xây dựng đường thì phản ứng”.
Lỗi nghiệp vụ báo chí: “Sự gương mẫu của Bí thư Phạm Quang Nghị hẳn sẽ là một tấm gương lớn cho nhiều người noi theo” là một cách viết suy diễn, chủ quan, cảm tính (chưa nói đến sự thiếu công bằng, và dụng ý xu nịnh).
Ngụy biện “Appeal to Authority”, tạm dịch là “viện dẫn thẩm quyền”: Đây là cách viện dẫn ý kiến của một người thực ra không phải là nhân vật chính đáng để có thể được trích dẫn. Phía trên bài, tác giả có ý cho rằng Mỹ Linh, với tư cách ca sĩ, không xứng đáng để nói về chính sách thu thuế và phí của Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng. (Trong khi thực ra Mỹ Linh hoàn toàn có thể phát biểu với tư cách một người dân có sở hữu ô-tô, và sử dụng ô-tô để tham gia giao thông). Vậy ở đây, ông Phạm Quang Nghị – với các chuyên ngành ông từng học là lịch sử và triết học trường Nguyễn Ái Quốc – có phải là nhân vật xứng đáng hơn Mỹ Linh để được tác giả viện dẫn, muốn số đông phải noi theo
6.
Trích: “Nữ ca sỹ Mỹ Linh: Nhà rộng 1,3 hecta, hai vợ chồng mỗi người một chiếc xe hơi. Đấy là chưa kể xe của Mỹ Linh là xe Mitsubishi Grandis có 7 chỗ ngồi. Như vậy là một mình nữ ca sỹ mỗi khi ra đường đã chiếm diện tích bằng 4 người đi xe máy. Hẳn nữ ca sỹ cũng muốn đóng phí cho “đỡ ngại” với mọi người!
Tôi cũng xin cược rằng: Ca sỹ Mỹ Linh với son phấn, váy vóc xúng xính, quần áo thời trang chắc hẳn sẽ hiếm khi dám rời xế hộp vủa mình để leo lên xe bus, chung tay góp phần giảm ách tắc giao thông như Bộ trưởng Thăng. Đơn giản thôi, xế hộp có, lên xe bus làm gì, vừa đông người vừa… hỏng váy!”.
Ngụy biện “gây thù chuốc oán” được sử dụng triệt để. Bên cạnh đó là ngụy biện “tấn công cá nhân” (Personal Attack), một loại lỗi ngụy biện kinh khủng bởi vì nó rất… vô học.
7.
Chuyện Mỹ Linh đăng đàn khen chê cũng nhắc chúng ta nhớ lại một cái bệnh rất xấu mà truyền thông đang mắc phải: Khi nhà nước cần lấy ý kiến về một vấn đề gì đó thì không ít người nhảy vào chê bai một cách thiếu khách quan, không mang tính xây dựng:
Lấy ý kiến về công trình xây dựng thì hỏi ý kiến… nhà thơ.
Lấy ý kiến về việc bắt buộc đội mũ bảo hiểm thì hỏi… nhà văn hóa.
Lấy ý kiến về chính sách giao thông, các kỹ sư còn chưa kịp nói gì thì ca sỹ, nghệ sỹ đã… lên tiếng ầm ầm”.
Nếu bàn ra ngoài văn bản thì có thể đồng ý với tác giả phần nào, tuy nhiên, xét trên văn bản, đây là những đoạn viết chủ quan, cảm tính, miệt thị, không bằng chứng.
8.
Trích: “Ai cũng thừa nhận rằng: bất cứ một cuộc đại phẫu nào cũng phải chịu đau, trong cuộc sống muốn có được thứ này thì phải hi sinh thứ khác, muốn đạt được cái đại cục thì phải hi sinh cái tiểu tiết. Còn nếu muốn cái gì cũng được, chắc phải lên… thiên đàng – thông minh và xinh đẹp như Mỹ Linh, chắc sẽ hiểu điều đó!
Người dân yêu mến Bộ trưởng Đinh La Thăng vì ông là con người hành động. Không lẽ giờ Bộ trưởng phải “nằm im thở khẽ”, đừng đụng chạm đến quyền lợi của ai thì mới làm cho nữ ca sỹ hài lòng!”.
Xin nhắc lại một đoạn ở trên: Ở đây có lỗi nghiệp vụ báo chí: “Người dân yêu mến Bộ trưởng Đinh La Thăng vì ông là con người hành động” là một cách viết suy diễn, chủ quan, cảm tính (chưa nói đến sự thiếu công bằng, và dụng ý xu nịnh).
Ngụy biện “gây thù chuốc oán” được sử dụng triệt để. Bên cạnh đó là ngụy biện “tấn công cá nhân” (Personal Attack), một loại lỗi ngụy biện kinh khủng bởi vì nó rất… vô học.
Đoan Trang

Nhớ Trịnh Công Sơn


Nhân ngày mất Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1.4.2001-1.4.20012)
Mười một năm qua, Trịnh Công Sơn đã đi vào cõi bất tử. Anh chọn ngày cá tháng tư- ngày nói dối toàn thế giới để ra đi. Hóa ra, tin anh đi khỏi cuộc đời này, về thực chất là một tin bịa đặt. Trịnh Công Sơn không bao giờ chết khi các ca khúc tuyệt vời của anh còn sống mãi với dân tộc.
Trịnh Công Sơn là bạn với cả nước. Hỏi có gia đình Việt nào không một lần mê mẩn vì các ca khúc “gây nghiện” của anh.. Trong chừng mực ấy, kẻ viết bài này cũng là bạn của Trịnh.
Nhớ cuối năm 1992, ngồi uống café với Trịnh Công Sơn trước Hội Âm nhạc TP.HCM. Anh bảo : “Hảo có thơ gì mới đọc cho mình nghe với ?”. Hầu như lần nào gặp nhau, có cơ hội yên lặng là anh hỏi tôi có làm được bài thơ nào mới, đọc cho “moi” nghe chơi ! Thơ phú lênh láng một hồi xong, Trịnh Công Sơn bảo : “Mình sắp in một tập nhạc có tựa đề: “Bên đời hiu quạnh”, đã xin được giấy phép, do Hội Âm nhạc thành phố đứng ra in, đây là tập nhạc đầu tiên của mình được phép ra trong chế độ mới ( CS) nên phải cẩn thận. Từng bản nhạc đã được “cơ quan chức năng” duyệt, kể cả lời tựa do bạn mình là Bửu Ý viết. Mình muốn Hảo viết cho mình mấy dòng in trân trọng nơi bìa bốn, đồng ý chứ?”. Tôi hơi bất ngờ, bảo anh: “ Anh Sơn này, theo Hảo, anh nên mời anh Nguyễn Quang Sáng hoặc anh Nguyễn Duy, hai bạn nhậu của anh viết cho có phải thú vị hơn không?”. Anh Sơn bảo: “Sáng và Duy có viết về mình mấy bài in báo, nhưng dài quá, không thể trích mấy dòng nơi bìa bốn của tập nhạc được; vậy “moi” mới nhờ Hảo, cũng muốn có một kỷ niệm với Hảo cho vui…”. Tôi đồng ý!
Hai ngày sau tôi chưa kịp viết thì anh Trịnh Xuân Tịnh, người em trai thứ hai của anh Sơn tìm tôi giục, rằng: “ Bìa một đã làm, anh Sơn bảo chờ mấy dòng của anh Hảo mới làm tiếp bìa bốn của tập nhạc…”. Tôi ngồi viết ngẫu hứng mấy dòng sau đưa cho anh Tịnh: “Nghệ thuật hi vọng của Trịnh Công Sơn là nghệ thuật băng qua tuyệt vọng, có đi qua lò bát quái của phần số, nhân tính mới còn cơ phát lộ. Trong lò lửa luyện ngục của anh, chúng ta được gặp cái mát lành của tuyết đầu mùa. Anh chỉ ra rằng băng tuyết cũng có thể dùng để sưởi ấm. Anh làm ta tin vào khả năng lặng im của loài quạ. Thực ra thiên chức của nghệ thuật là thức tỉnh nỗi cô đơn cùng tận của con người. Chính cô đơn là hình ảnh tư duy của chàng Hamlet. Chừng như sự chết và hư vô là hai tên gọi khác của nỗi cô đơn? Thức tỉnh nỗi cô đơn, nghệ thuật đồng thời cũng thức tỉnh cả cái chết và niềm hư vô. Âm nhạc của Sơn làm ta có cảm giác vừa rơi lên đỉnh vực nỗi cô đơn. Chỉ có thể đi hết cái tôi, chúng ta mới có cơ gặp cả loài người” – Trần Mạnh Hảo 10-1992 (Bìa bốn, tập nhạc BÊN ĐỜI HIU QUẠNH –TRỊNH CÔNG SƠN -Tình khúc -Nhân Bản 1993 – Hội Âm Nhạc TP-Giấy phép xuất bản số 345 ngày 9 tháng 01 năm 1993 – In và nộp lưu chiểu tháng 06 năm 1993)
Bằng thiên tài của mình, quả thực Trịnh Công Sơn đã đi hết nỗi cô đơn kiếp người, đi hết niềm hư vô và đi băng qua cái chết để đến với sự bất tử của anh trong lòng dân tộc ViệtNamvà thế giới. Trịnh Công Sơn không chỉ là một hiện tượng âm nhạc hậu bán thế kỷ thứ XX của ViệtNam; anh còn là một hiện tượng văn hóa của dân tộc đau thương và bất hạnh vào bậc nhất của thế giới này. Tuồng như không phải anh cô độc ôm đàn hát lên nỗi niềm day dứt mê ly của mình mà chính là những vết thương của lịch sử đang cất tiếng hát, vết thương của nỗi cô đơn, vết thương của tình yêu, vết thương của bất hạnh và hạnh phúc, vết thương của vô thường, vô ngã, vô vi, vô ưu, vô vọng, vô biên, vô lượng … cùng cất tiếng hát.
Trịnh Công Sơn, chính anh mới là cây đàn của mẹ ViệtNam. Mẹ ViệtNamđã ôm anh vào lòng như bức tranh người đàn ông ôm cây Tây Ban Cầm của Pablo Picasso để hát lên tình yêu và nỗi buồn vô tận của kiếp người. Hay nỗi buồn mượn anh mà hát lên những giai điệu có thể làm “đá ngây ngô” cũng ứa nước mắt ? Hay cỏ cây, mây trời, núi sông, ruộng đồng… đã mượn anh mà hát lên nỗi niềm vạn thưở của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du…?
Âm nhạc của Trịnh Công Sơn không chỉ là ma thuật giai điệu hài hòa với phần lời rất thi ca sâu thẳm mà còn là thiền học, triết học cất lời, rót vào tâm hồn người cả nỗi ưu tư của đất trời, những thắc thỏm, u hoài trần thế, những băn khoăn, day dứt, sầu thương, hoài vọng, hoài nghi, hụt hẫng, ngơ ngác nhân sinh. Tôi cho rằng một số nhạc sĩ chê phần nhạc của Trịnh Công Sơn là đều đều, đơn điệu… là vô căn cứ nếu không phải là do đố kị tài năng. Nhạc Trịnh bỏ lời đi, vẫn vô cùng quyến rũ, vẫn làm mê mẩn hàng triệu người. Phần lời của nhạc Trịnh quả tình siêu việt, là thi ca được hát lên. Bằng chứng là rất nhiều bài hát Trịnh Công Sơn được hòa tấu không lời vẫn cứ tuyệt vời, làm thổn thức hàng triệu triệu trái tim người nghe.
Đánh tên Trịnh Công Sơn lên công cụ tìm kiếm Google, sẽ thấy rất nhiều bài báo vu cho Trịnh là Việt Cộng nằm vùng, là tên văn công hạng bét, là phản bội Việt Nam cộng hòa, nơi đã sản sinh ra thiên tài Trịnh… Ngay cả một người bạn thân của anh Sơn là họa sĩ T.C. cũng cho Trịnh có ý đồ chính trị… Không, Trịnh Công Sơn trước hết là một con người phi chính trị, một văn nghệ sĩ thuần túy. Âm nhạc của anh vượt lên mọi đối kháng chính trị trong suốt cuộc chiến Việt Nam. Nếu Trịnh từng là Việt Cộng nằm vùng, không đời nào năm Mậu Thân 1968, anh lại viết bài hát “Tôi đã thấy”: “Chiều đi lên Bãi Dâu hát trên những xác người…” than khóc cho hàng nghìn người bị tàn sát ? Nếu Trịnh là Việt Cộng nằm vùng, không bao giờ anh viết về cuộc chiến Việt Nam là:“hai mươi năm nội chiến từng ngày”? Nếu Trịnh là Việt Cộng, không bao giờ anh dám viết bài hát (Requiem – Kinh cầu hồn) “Cho một người nằm xuống” là đại tá Lưu Kim Cương bị quân đỏ bắn chết năm Mậu Thân 1968 tại sân bay Tân Sơn Nhất? Nếu Trịnh là Việt Cộng nằm vùng, sau năm 1975, sinh viên Huế sao lại dám mang nhạc anh ra đấu tố, anh phải đi lao động cải tạo trồng sắn trên núi; và quan trọng hơn là nhạc của anh mấy năm liền vẫn bị cấm hát? Anh phải bỏ Huế vào Sài Gòn sống với mẹ và các em.
Sau năm 1975, tôi có dịp sinh hoạt chi bộ với nhà văn Nguyễn Quang Sáng lúc anh Sáng bắt đầu cặp kè với Trịnh Cộng Sơn như bóng với hình. Chi bộ hỏi anh Sáng về chuyện đó, anh Sáng khai: “Thành ủy và anh Sáu Dân (Võ Văn Kiệt) chỉ thị cho tôi bám sát Trịnh Công Sơn để lôi kéo anh ta về phía cách mạng. Trên bảo: nhạc sĩ này là thành phần đáng ngờ, có thể anh ta từng làm việc cho CIA, cần phải theo dõi anh ta trong mọi nơi mọi lúc”. Có thể vì chưa hiểu được nhiệm vụ cách mạng này của nhà văn Nguyễn Quang Sáng mà nhà văn Đặng Tiến (bên Pháp) mới viết rất không đúng rằng: “Nguyễn Quang Sáng và Nguyễn Duy điếu đóm cho Trịnh Công Sơn” chăng? Có thể vài bài hát của Trịnh Công Sơn như: “Huyền thoại mẹ”, “Em ở nông trường em ra biên giới”, “Ngọn lửa Matxcơva”… anh làm trong lúc bị “phê” rượu Tây với sự tranh thủ hết sức thân tình của Nguyễn Quang Sáng chăng? Nếu anh Sơn là Việt Cộng, anh đã để cho nhà nước tổ chức đám tang mình ở Hội văn nghệ hay tại nhà tang lễ Lê Qúy Đôn giành cho những cán bộ công khai và cán bộ ngầm có công với hai cuộc kháng chiến. Anh Sơn trối lại cho các em là tang lễ anh sẽ chỉ tổ chức tại nhà mình 37D Phạm Ngọc Thạch mà thôi ! Nếu anh Sơn là Việt Cộng nằm vùng, ít nhất anh đã được giải thưởng quốc gia về văn học nghệ thuật ?
Trịnh Công Sơn không phải người của quân đỏ hay quân xanh. Anh là con của mẹ Việt Nam, đến đất mưa bom bão đạn này để hát lên niềm hi vọng về nỗi tuyệt vọng con người, hát lên tình yêu bi thảm kiếp người, hát lên nỗi buồn mang mang thiên cổ  nhân sinh của một gã du tử đến từ khu vườn các thiên sứ.
Chừng như từ khi sinh ra Trịnh Công Sơn đã bị thần thi ca, thần âm nhạc Apollon cướp mất cả hồn xác, biến anh thành âm nhạc, thành thi ca thuần túy . Bao nhiêu người đàn bà đẹp mê anh, yêu anh chừng như đã không giành được thân xác anh và linh hồn anh mãi mãi ? Tình yêu anh đã hiến tế cho âm nhạc, thi ca, cho triết học, thiền học, không còn chỗ cho phái đẹp cư trú. Những người đàn bà ghé qua âm nhạc anh trú ngụ ít ngày rồi cũng  “bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”. Nói cho cùng, tình yêu của Trịnh Công Sơn dành cho các người đẹp là một tình yêu thiên sứ. Mà thiên sứ thì chỉ yêu bằng tâm hồn thôi ! Còn thể xác anh đã tận hiến cho đất trời, cho cát bụi, cho Phật, cho Chúa…cho âm nhạc của mình muôn thưở trường tồn cùng dân tộc ViệtNam. Mười một năm trước, Trịnh Công Sơn đã mang nguyên vẹn niềm trinh nguyên thiên sứ của mình về với cát bụi để mãi mãi thủy chung cùng cõi hư vô, thủy chung cùng thần Apollon mà bất tử với cây đàn Lia vĩnh cửu trên Niết Bàn ẩn cư trong trái tim mỗi người Việt yêu nhạc Trịnh.
Sài Gòn ngày 30-03-2012
Trần Mạnh Hảo

TS Nguyễn Bách Phúc kiến nghị lên Thủ tướng về sự cố đập thủy điện Sông Tranh 2


Sự cố Đập Thuỷ điện Sông Tranh 2: Vì an toàn sinh mạng của hàng vạn người dân hạ lưu, kiến nghị Thủ tướng lập tức ra lệnh xả cạn hồ trong suốt thời gian tìm kiếm nguyên nhân và khắc phục sự cố
Ngày 23 tháng 3 năm 2012, Tiến sỹ Lê Quang Hùng, Cục trưởng Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng (Bộ Xây dựng), trả lời phỏng vấn của phóng viên Đài Truyền hình Việt Nam (chiếu trên Chương trình thời sự buổi chiều tối của Đài Truyền hình Việt Nam, xem trên Mạng: (http://www.tienphong.vn/video-clip/570852/Dap-thuy-dien-song-Tranh-2-van-an-toan-tpot.html), và trả lời Thông tấn xã Việt Nam (đăng trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/Preview/PrintPreview.aspx?co_id=30179&cn_id=514243), đã tuyên bố: “Trên cơ sở ý kiến của các chuyên gia, tôi có thể khẳng định là Đập vẫn đảm bảo an toàn, kể cả sau khi xảy ra một số trận động đất kích thích thời gian qua tại vị trí xây dựng công trình. Qua kiểm tra, không phát hiện những dấu hiệu bất thường của công trình”.
Rất nhiều cột nước từ trên trần của đường hầm, trên mái của lớp bê tông tuôn ào ạt xuống như thế này. Ảnh: Tấn Vũ
Lời khẳng định hùng hồn của Ông Hùng mặc nhiên là lời khuyên hàng vạn người dân ở vùng hạ lưu hãy an tâm, đừng lo lắng, không có gì nguy hiểm!
Nhưng hàng vạn người ở hạ lưu vẫn không thể an tâm, hàng triệu người Việt Nam dù không sinh sống ở trong vùng đe dọa của Đập thuỷ điện Sông Tranh 2 cũng không thể an tâm.
Ông Hùng phát biểu hùng hồn: “Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã chỉ đạo thành lập ngay Đoàn công tác của Hội đồng nghiệm thu Nhà nước, gồm các chuyên gia đầu ngành về các các vấn đề thủy công, vật liệu, vật chất công trình, quan trắc, đo đạc…, kết hợp với Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng vào hiện trường để kiểm tra sự việc. Đoàn công tác đã tiến hành kiểm tra hiện trường trong hai ngày 20 và 21/3, tại các mặt thượng và hạ lưu Đập, các hành lang thu nước, hiện trạng thấm, quan trắc biểu hiện biến dạng của Đập… và làm việc với các bên có liên quan, gồm Ban Quản lý dự án Thủy điện 3, nhà thầu, đại diện cơ quan quản lý nhà nước của địa phương. Sau đó, các chuyên gia đã có báo sơ bộ về tình hình của Đập. Đến sáng 23/3, theo như báo cáo, lưu lượng nước thấm đã giảm khoảng 15 – 20% so với thời điểm kiểm tra ngày 20/3.”
Xin hỏi ông Hùng: một Đoàn cán bộ rất cao cấp, với những chuyên gia chắc cũng rất cao cấp, chỉ “tiến hành kiểm tra hiện trường trong hai ngày 20 và 21/3, tại các mặt thượng và hạ lưu Đập, các hành lang thu nước, hiện trạng thấm, quan trắc biểu hiện biến dạng của Đập…”, lại cho một kết quả động trời: “Đến sáng 23/3, theo như báo cáo, lưu lượng nước thấm đã giảm khoảng 15 – 20% so với thời điểm kiểm tra ngày 20/3”. Trời ơi! Các quan chức và các chuyên gia chỉ có kiểm tra đo đạc, mà lại làm giảm được 20% lưu lượng nướcthấm qua Đập! Các vị tài hơn cả Tề Thiên Đại Thánh!, hay ông Hùng chỉ nói “đại” để an dân?.
Lại nữa, theo báo chí, theo phim ảnh, thì nước từ trong thân Đập phun trào ra như thác, 30 lít trong 1 giây đồng hồ (chỉ 15 giây là đầy tràn bồn tắm trong nhà ông Hùng), mà ông Hùng lại bảo nước chỉ thấm qua thân Đập mà thôi!
Rất tiếc không có thông tin về tốc độ của dòng nước phun ra, nhưng nhìn vào hình ảnh dòng nước phun ra, có thể đoán tốc độ phun khoảng từ 0,5m/giây đến 1 m/giây, như vậy tổng tiết diện của miệng phun là từ 600 cm2 đến 300 cm2. Đó mới chỉ là tiết diện củamiệng phun ở mặt đập phía hạ lưu, còn khe nứt xuyên suốt thân đập từ mặt đập thượng lưu đến mặt đập hạ lưu to nhỏ thế nào chưa ai biết, nhưng có thể khẳng định ít nhất cũng to bằng miệng phun.
Đã thấy những hình ảnh phản cảm: người ta cố tình bịt miệng phun ở mặt hạ lưu đập, rồi tuyên bố thành tích là đã chống thấm tốt, giảm được 15 đến 20 % nước thấm, trong khi khe nứt trong lòng đập thì vẫn y nguyên!
Không biết trách nhiệm của ông đối với sinh mạng và tài sản của hàng vạn người dân có được gắn liền với những phát ngôn của ông không?
Ông Hùng còn nói: “tôi có thể khẳng định là Đập vẫn đảm bảo an toàn, kể cả sau khi xảy ra một số trận động đất kích thích thời gian qua tại vị trí xây dựng công trình”.
Lạ đời chưa? “Đập vẫn đảm bảo an toàn, kể cả sau khi xảy ra một số trận động đất kích thích thời gian qua”, vậy nếu sắp tới sẽ xảy ra một số trận động đất kích thích, thì Đập sẽ ra sao? Ông Hùng có khẳng định là Đập vẫn an toàn?.
Và nghiêm trọng hơn, ông Hùng và các quan chức, các chuyên gia nói trên có nghĩ rằng trong thời gian tới (trong thời gian kiểm tra và sửa chữa Đập từ nay đến trước mùa lũ) sẽ có thể hay không thể xảy ra những trận động đất mạnh hơn nhiều so với những trận động đất kích thích trong thời gian qua?. Các vị có giám khẳng định là không thể  không?, các vị có dám ký vào Văn bản khẳng định như vậy không? Hoặc các vị có giám khẳng định rằng nếu xảy ra những trận động đất mạnh hơn nhiều so với những trận động đất kích thích trong thời gian qua thì Đập vẫn an toàn?, các vị có dám ký vào Văn bản khẳng định như vậy không?
Nếu các vị dám ký vào các Văn bản như thế, thì mọi người sẽ bớt phần lo lắng, và chắc chắn Thủ tướng hoặc người có thẩm quyền cũng sẽ an tâm ký lệnh cho phép tiếp tục tích nước ở Đập thuỷ điện Sông Tranh 2.
Lưu ý rằng nước Nhật và cả Thế giới trước ngày 11/3/ 2011 không ai nghĩ là có trận động đất lên đến gần 9 độ Richter ngoài khơi Nhật Bản. Thế mà nó lại đột nhiên xảy ra, thảm hoạ khôn lường đã xảy ra!
Vấn đề bức xúc nhất mà hàng triệu người dân quan tâm hiện nay là phải nhanh chóng trả lời câu hỏi: quyết định thế nào trước mối đe dọa sinh mạng của hàng vạn người dân? vẫn cứ tiếp tục tích nước trong hồ?, hay lập tức xả cạn nước hồ?
Và một câu hỏi gắn chặt với câu hỏi trên là: Ai có đủ thẩm quyền ra quyết định? Người ra quyết định chịu trách nhiệm thế nào trước sinh mạng của hàng vạn người dân?
Ông Hùng đã nói: “có thể thấy pháp luật của ta hiện nay dường như đã ủy quyền cho chủ đầu tư, các nhà thầu trong việc xây dựng, kiểm soát chất lượng, bảo đảm an toàn công trình.”
Hóa ra, theo ông Hùng, bản thân ông cùng các quan chức cao cấp và các chuyên gia cao cấp không ai có “quyền” gì cả, chỉ có chủ đầu tư, các nhà thầu trong việc xây dựng mới có quyền kiểm soát chất lượng, bảo đảm an toàn công trình. Từ quan điểm này, có thể hiểu rằng, nếu Đập Sông Tranh 2 không may bị vỡ, trách nhiệm hoàn toàn thuộc về chủ đầu tư (Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN) và các Công ty xây dựng Đập, còn ông Hùng và các Quý vị cao cấp nọ là vô can! Thảo nào mà ông Hùng dám mạnh mồm “tôi có thể khẳng định là Đập vẫn đảm bảo an toàn” hùng hồn đến thế!
Cũng may ông Hùng nói một câu “có vẻ nửa chừng”: có thể thấy pháp luật của ta hiện nay dường như đã ủy quyền cho chủ đầu tư, các nhà thầu . . .”. Vậy pháp luật của ta hiện nay chắc chắn (chứ không phải là “dường như”) đã ủy quyền cho ai? Xin mời các vị Luật sư trả lời cho câu hỏi này.
Trong khi chưa tìm ra câu trả lời, chúng tôi cho rằng Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN không có khả năng, không đủ thẩm quyền để quyết đinh cái việc liên quan đến hàng vạn sinh mạng của người dân.
Nếu Chủ Tịch Tập đoàn Điện lực Việt Nam có gan ký lệnh tiếp tục giữ nước trong lòng hồ (không xả cạn nước), người dân vẫn không thể an tâm được, vì nếu chẳng may Đập vỡ thì mọi việc xử lý thế nào? Chủ Tịch Tập đoàn Điện lực Việt Nam sẽ gánh vác trách nhiệm đến đâu?.
Chúng tôi cho rằng trong tình hình hiện nay, để đảm bảo an toàn cho hàng vạn người dân hạ lưu, Thủ tướng Chính phủ không phê duyệt quyết định giữ nước trong lòng hồ do cấp dưới trình lên, mà nên dứt khoát ký lệnh lập tức xả cạn hồ trong thời gian tìm nguyên nhân và khắc phục sự cố.
Việc xả cạn, thứ nhất là để đảm bảo an toàn, thứ hai là điều bắt buộc để có thể nghiêm túc và triệt để sữa chữa con Đập.
Theo GS TSKH Phạm Hồng Giang, Chủ tịch Hiệp hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam (VNcold), Phó Chủ tịch Ủy hội Đập lớn Thế giới, để sửa chữa Đập Thủy điện Sông Tranh 2 hiện nay, “Giải pháp triệt để là phải chống thấm từ mặt đập thượng lưu, không cho nước thấm vào đập”, cụ thể là: “làm khô bằng cách hạ mức nước hồ xuống, sau đó dán lớp màng chống thấm, sơn các loại sơn chống thấm đặc biệt quét lên bề mặt, hay phụt trên bề mặt các loại chất chống thấm đặc biệt để nó chèn các khe nứt… Tuy nhiên, giải pháp này phải có thời gian và phải chấp nhận tổn thất về sản lượng điện vì nhà máy đang vận hành.” (http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/65465/-su-co-dap-thuy-dien-song-tranh-2-co-phan-ky-la-.html)
Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với giải pháp của GS TSKH Phạm Hồng Giang, vì đó là giải pháp chắc chắn và triệt để. GS Giang  chỉ lo một điều “giải pháp này phải có thời gian và phải chấp nhận tổn thất về sản lượng điện vì nhà máy đang vận hành”.
Để giải tỏa nỗi lo của GS Giang, chúng tôi xin lý giải: là chuyên gia Hệ thống Điện, chúng tôi khẳng định việc ngưng vận hành nhà máy Thủy điện Sông Tranh 2 không gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN, kể cả mặt kinh tế và mặt kỹ thuật. Lý do đơn giản là: Công suất đặt của Thủy điện Sông Tranh 2 chỉ 190MW, chỉ chiếm gần 1% tổng Công suất đặt của toàn Hệ thống điện Việt Nam (khoảng 20.000MW). Về kỹ thuật,  khi Thủy điện Sông Tranh 2 ngừng hoạt động, các nhà máy điện còn lại của Việt Nam chỉ cần huy động thêm1% công suất là đủ bù lại (Hệ thống điện phải thường xuyên điều chỉnh sao cho Tổng công suất phát rabằng với Tổng công suất tiêu thụ của khách hàng. Tổng công suất này thay đổi liên tục từng giờ từng phút trong mỗi ngày. Tổng công suất phát ra sẽ là lớn nhất tại giờ cao điểm. Nhưng Tổng công suất phát ra lớn nhất này vẫn nhỏ hơn Tổng công suất lắp đặt, thường chỉ khoảng 80%).Về kinh tế: khi Thủy điện Sông Tranh 2 ngưng hoạt động, nó sẽ không có sản lượng điện 679,6 triệu kWh/năm, và không có Doanh thu, nhưng Tổng sản lượng điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam sẽ không bị giảm, vì sản lượng 679,6 triệu kWh/nămđã có các nhà máy khác phát bù, và Doanh thu (tiền bán điện) của EVN vì thế sẽ không bị giảm đồng nào.
Nhân đây cũng xin nói thêm về phát biểu của ông Hùng “Có thể phải vừa khắc phục hiện tượng thấm, vừa phải hạ mức tích nước trong hồ. Nhưng nếu giữ nguyên mực nước mà xử lý được thì tốt hơn, vì vẫn với mực nước như vậy, dòng thấm xuất hiện mà tìm được vị trí xử lý thì hiệu quả sẽ cao hơn. Nếu hạ mức nước xuống có thể không phát hiện được vị trí thấm.” Thực tình chúng tôi không thể tưởng tượng được ông Hùng lại nói như thế. Chẳng lẽ đi tìm vết nứt (theo ông Hùng chỉ là vết thấm) trong thân đập bê tông lại chỉ có cách lần theo các vết nước?, ai chui vào trong đó để lần theo vết nước? Thực ra các phương tiện tìm vết nứt hiện nay đều có thể xác định chính xác vết nứt, dù trong đó có nước hay không có nước, có lẽ ông Hùng không biết điều đó chăng?
Kết thúc bài viết này chúng tôi kính mong công luận ủng hộ đề xuất của chúng tôi, một Công dân Việt Nam yêu Tổ quốc yêu Đồng bào:Vì an toàn sinh mạng của hàng vạn người dân hạ lưu, kiến nghị Thủ tướng lập tức ra lệnh xả cạn hồ Thủy điện Sông Tranh 2 trong suốt thời gian tìm nguyên nhân và khắc phục sự cố.
TS Nguyễn Bách Phúc (Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học Công nghệ và Quản lý Thành phố Hồ Chí Minh HASCON, Viện trưởng Viện Điện – Điện tử – Tin học Thành phố Hồ Chí Minh EEI)
Nguồn: Viet-Studies

Thứ Sáu, ngày 30 tháng 3 năm 2012

Câu chuyện Hoàng Sa- Trường Sa: Không thể chậm trễ


Tìm hiểu thêm trên các website chính thức, không thấy có trang nào hệ thống các bằng chứng, lý lẽ của Việt Nam trong vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa một cách bài bản, mạch lạc để học sinh và người dân (không phải là các học giả) có thể lấy đó làm vũ khí lý luận, đấu tranh mọi lúc mọi nơi.
Hai nữ sinh phổ thông, một Việt Nam, một Trung Quốc cùng tham gia chương trình Giao lưu văn hóa ở Mỹ (học 1 năm phổ thông và ở nhà cha mẹ nuôi là người Mỹ), được sắp xếp ở chung một nhà. Tất cả là ngẫu nhiên, có học sinh giao lưu văn hóa Việt Nam ở chung cùng một nhà với bạn Đức, Tây Ban Nha, Nhật, Thái Lan, Hàn Quốc…
Nhưng ngay những ngày đầu tiên, bạn học sinh TQ, trong một lần nói chuyện với cả nhà về đất nước mình, đã “tranh thủ” giới thiệu Hoàng Sa, Trường Sa là của TQ; bạn học sinh Việt Nam bị bất ngờ, chỉ biết phản ứng lại trong thế bị động rằng: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”…
Sự việc không chỉ dừng lại ở đó. Đến cuối năm học, khi có dịp thuyết trình về một đề tài lịch sử trong lớp của mình, bạn TQ đăng ký ngay đề tài về Hoàng Sa, Trường Sa. Buổi thuyết trình được thầy giáo khen về mặt chuẩn bị tư liệu. Lời khen đó trở thành đề tài trong bữa cơm tối ở nhà cha mẹ nuôi người Mỹ. Bạn Việt Nam phản ứng bằng cách… bỏ cơm.
Trên đây là câu chuyện có thật, được một học sinh Việt Nam tại Mỹ kể lại.
Chúng ta không thể chê con cái chúng ta chậm, thực tế là người lớn chúng ta chậm, hay nói đúng ra là quá chậm.
Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa là vấn đề trọng đại của cả dân tộc và các thế hệ người Việt Nam, nhưng dường như chúng ta chưa có kế hoạch toàn diện một cách bài bản. Câu chuyện trên đây chỉ là một trong những điểm yếu. Nhìn lại toàn bộ chương trình lịch sử ở cả 3 cấp học, không có chương nào, bài nào nêu rõ quá trình làm chủ không thể chối cãi và quá trình khai thác Hoàng Sa, Trường Sa của ông cha ta; quá trình lấn chiếm có “lộ trình” của TQ… Hoàng Sa, Trường Sa có chăng chỉ là một vài câu chữ ở môn địa lý. Tìm hiểu thêm trên các website chính thức, không thấy có trang nào hệ thống các bằng chứng, lý lẽ của Việt Nam trong vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa một cách bài bản, mạch lạc để học sinh và người dân (không phải là các học giả) có thể lấy đó làm vũ khí lý luận, đấu tranh mọi lúc mọi nơi.
Hàng trăm ngàn du học sinh chúng ta hiện đang học tập và làm việc ở nhiều nơi trên thế giới. Lực lượng này có thể làm cho giới trẻ quốc tế, những nhà lãnh đạo tương lai của thế giới hiểu đúng và ủng hộ chúng ta trong vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng tài liệu không đầy đủ thì kêu gọi con cái chúng ta làm thế nào để chiến thắng?
Vấn đề là làm sao để câu chuyện “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” không chỉ là khẩu hiệu mà đi kèm theo đó phải là những luận cứ thuyết phục ăn sâu vào máu thịt của từng người Việt Nam.
Cái trước mắt có thể làm được ngay là đưa các bài học lịch sử về Hoàng Sa, Trường Sa vào sách giáo khoa các cấp, từ tiểu học cho đến đại học; tùy theo trình độ hiểu biết của người học mà biên soạn nội dung phù hợp. Qua các website chính thức, trang bị ngay cho học sinh, nhất là du học sinh Việt Nam, những kiến thức từ cơ bản đến chuyên sâu, dịch ra nhiều thứ tiếng để du học sinh trên toàn thế giới có thể sử dụng làm tư liệu trong các bài thuyết trình, giới thiệu với bạn bè quốc tế về các bằng chứng của Việt Nam.
Kim Trí
Theo Thanh Niên

Vạch rõ âm mưu “đường lưỡi bò”


Từ nước Anh, nhà nghiên cứu biển Đông Dương Danh Huy trao đổi với Thanh Niên về việc Trung Quốc huy động 13 bộ ngành để thực hiện bản đồ “đường lưỡi bò”.
Trung Quốc liên tục tăng cường tàu hải giám trên các vùng biển tranh chấp - Ảnh: Sinodefence 
Thưa tiến sĩ Dương Danh Huy, động thái mới này cho thấy Trung Quốc đang thực sự muốn điều gì?
Mục đích của Trung Quốc là chiếm hết các đảo, chiếm “diện tích lớn nhất” và “nhiều quyền lợi nhất” có thể trên các vùng biển. Để đạt mục đích, họ dùng một số cái “không”: Không công nhận Hoàng Sa là vùng đang tranh chấp chủ quyền; Không đàm phán chủ quyền đối với các đảo ở Trường Sa; Không xác định phạm vi vùng biển mà họ có yêu sách; Không xác định điều họ yêu sách trong vùng biển đó; Không chọn một cơ sở nhất định cho yêu sách đó; Không chấp nhận đưa tranh chấp ra bất cứ trọng tài quốc tế nào; Không chấp nhận ý kiến của các nước ngoài khu vực. Những cái “không” trên nhằm tạo ra tình trạng không thể giải quyết được tranh chấp, bỏ ngỏ nhiều khả năng cho yêu sách của họ về biển, tung hỏa mù chống phê bình.
Trong môi trường được tạo ra như thế, Trung Quốc tận dụng cơ hội mở rộng và củng cố kiểm soát trên thực tế cũng như những gì họ có thể cho là sự công nhận chủ quyền và quyền chủ quyền của họ.
Liệu Trung Quốc sẽ công bố tọa độ của đường chữ U (vốn xưa nay rất mơ hồ) như họ vừa bóng gió hay không?
Hiện nay đường chữ U, với 9 đoạn đứt khúc, chứa sự mập mờ có lợi cho Trung Quốc. Nếu bị phê phán như một ranh giới biển phi lý, Trung Quốc có thể chống chế “Chúng tôi đòi các đảo bên trong đường đó” nhằm tránh né lời phê bình “ranh giới biển phi lý”, mặc dù sự thật là nói như thế không có nghĩa các yêu sách của họ về biển không ra đến đường đó.
Nếu Trung Quốc công bố tọa độ của đường chữ U với thế giới thì việc làm đó trong hoàn cảnh hiện nay làm cho đường này mang dáng dấp của một ranh giới biển. Như vậy, việc tuyên bố tọa độ của đường chữ U sẽ làm mất đi phần nào hỏa mù chống phê bình của đường chữ U hiện tại. Nếu Trung Quốc tuyên bố như thế thì đó là một bước leo thang trong tranh chấp biển, nhưng ngược lại, nó cũng làm cho các nước khác cảnh giác hơn. Bị mất đi phần nào hỏa mù cũng sẽ làm cho đường chữ U bị phê bình nhiều hơn.
Lâu nay, TQ đã ráo riết tuyên truyền yêu sách của họ, từ trong nước ra thế giới, mà bằng chứng là “bản đồ chữ U”, “bản đồ Tây Sa”, “Nam Sa”… được phát hành khắp nơi. Giờ đây, với việc họ đẩy mạnh hơn nữa thì tình hình sẽ như thế nào?
Việc đẩy mạnh tuyên truyền “bản đồ chữ U”, “Tây Sa”, “Nam Sa” gieo vào tâm lý mọi người quan điểm sai lầm rằng: “Hoàng Sa, Trường Sa của Trung Quốc và đường chữ U là một điều bình thường”. Năm này qua năm khác, quan điểm và ấn tượng sai lầm đó sẽ trở thành kiến thức phổ thông trên thế giới. Ngay cả số ít biết sự thật cũng có thể đánh giá là Việt Nam không quan tâm đủ về Hoàng Sa, Trường Sa và đường chữ U cho nên để cho quan điểm của Trung Quốc được đăng tải khắp thế giới.
Đỗ Hùng thực hiện
Hội thảo An ninh hàng hải Đông Nam Á
Sáng 29.3, hội thảo “An ninh hàng hải tại Đông Nam Á: An toàn hàng hải và môi trường biển”, do Học viện Ngoại giao cùng Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) của Mỹ đồng tổ chức, khai mạc tại TP.HCM. Hội thảo có sự góp mặt của gần 40 chuyên gia, học giả đến từ Việt Nam, Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, Úc…  Các đại biểu hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau như nghiên cứu chính sách, ngoại giao, cảnh sát biển, luật quốc tế…
Hội thảo diễn ra trong hai ngày 29 và 30.3 với 9 phiên thảo luận gồm nhiều chủ đề đang nổi lên ở vùng biển trong khu vực như: bảo vệ nguồn tài nguyên biển, khuôn khổ pháp lý an ninh biển. Trong đó, hội thảo cũng bàn về những quan ngại an ninh liên quan đến nghề cá như cơ sở pháp lý đánh bắt ở khu vực. Phát biểu khai mạc, ông Carl Baker, Giám đốc chương trình Diễn đàn Thái Bình Dương của CSIS, khẳng định hội thảo sẽ diễn ra với những trao đổi cởi mở, thẳng thắn và tôn trọng mọi ý kiến khác biệt.
Ông Carl Baker (phải) phát biểu khai mạc Ảnh: N.M.T
Ngô Minh Trí

Tiến sĩ Trần Ngọc Tiến Dũng (Canada): Việt Nam cần chủ động hơn
TS Trần Ngọc Tiến Dũng tham gia chủ trương tập hợp người Việt trên thế giới chống lại việc tuyên truyền các tài liệu đính kèm bản đồ “đường lưỡi bò”. Ông vừa gửi bài đánh giá động thái mới nhất của Trung Quốc.
Đầu tiên đáng lưu tâm là sự tuyên truyền “đường lưỡi bò” không phải là tự phát của một nhóm người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan mà là chính sách đến từ cấp trung ương, phối hợp đồng bộ giữa các ban ngành của TQ. Lúc trước họ tuyên truyền trong nước, thì những năm gần đây, họ đẩy mạnh tuyên truyền ra cộng đồng quốc tế mọi lúc mọi nơi có thể, từ bản đồ đường bay của hàng không Trung Quốc đến họa đồ vị trí nghiên cứu của các bài báo khoa học. Có thể nói Trung Quốc dùng chiến thuật “biển người” để biến không thành có, đặc biệt mượn đường khoa học để che lấp khiếm khuyết trong tuyên bố chủ quyền.
Trong hội nghị thường niên của Hội Địa vật lý Mỹ năm 2011, tôi thật sự ngạc nhiên khi thấy tất cả các bản đồ biển Đông tại đây đều thể hiện nổi bật phần “lưỡi bò”, mặc dù không vẽ đường chữ U đứt đoạn. Tại hội nghị, một số nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng sử dụng các tên gọi “Nansha”, “Xisha” trong các báo cáo khoa học về biển Đông.
Thật đáng buồn khi Việt Nam luôn chậm một nhịp so với Trung Quốc trong tuyên truyền chủ quyền. Lúc trước, khi Trung Quốc tuyên truyền cho người dân trong nước rằng chủ quyền biển Đông là của họ, thì Việt Nam vẫn xem điều đó như một chủ đề nhạy cảm. Gần đây, Việt Nam công khai vấn đề này và tuyên truyền rất thành công trong nước, thì Trung Quốc tiến hành tuyên truyền ra thế giới hòng kiếm sự thừa nhận của quốc tế về chủ quyền tại biển Đông. Tuy nhiên, Việt Nam đang ngày càng nỗ lực vạch trần mưu đồ của Trung Quốc trước cộng đồng quốc tế.
Đối với lĩnh vực nghiên cứu khoa học, những cách thức tuyên truyền bài bản của Trung Quốc về chủ quyền biển Đông đòi hỏi Việt Nam cần đưa ra chính sách đối phó. Đó là: công khai đầu tư và khuyến khích nghiên cứu khoa học về biển Đông bằng kế hoạch dài hạn. Chính phủ Việt Nam cần công bố và cho phép tiếp cận rộng rãi thông tin nghiên cứu khoa học biển Đông ở trong và ngoài nước. Cần tạo điều kiện thuận lợi cho học giả Việt Nam giới thiệu các nghiên cứu biển Đông ra quốc tế, khuyến khích hợp tác quốc tế sâu rộng. Chúng ta cũng có thể tranh thủ sự tôn trọng lẽ phải của giới học giả gốc Trung Quốc làm việc nước ngoài, thường có cái nhìn khách quan hơn so với người Trung Quốc đại lục. Một số bài báo khoa học do tác giả Trung Quốc làm việc ở nước ngoài đã không đính kèm “đường lưỡi bò”.
Bên cạnh lĩnh vực nghiên cứu khoa học, chúng ta cần có các hoạt động theo chiều rộng. Chẳng hạn ngày Biển đảo Việt Nam không chỉ được tổ chức trong nước mà còn ở nước ngoài để bà con Việt kiều cùng góp sức. Việt Nam cũng có thể tận dụng các diễn đàn thanh niên quốc tế, những chương trình giao lưu văn hóa để nêu bật chính nghĩa của Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền, và qua đó tố cáo sự phi nghĩa trong yêu sách của Trung Quốc.
T.N.T.D
Theo Thanh Niên

Cham Pangdurangga – ngang bướng, đau khổ, kiêu hãnh và đầy bất an


Văn hóa Champa là văn hóa đùa vui
Chịu chơi cả trong đau khổ.
Inrasara, Lễ Tẩy trần tháng Tư, 2002

Patuw Tablah Đá Chẻ ở Chung Mỹ – Photo Inrajaya
1. Pangdurangga là khu vực địa lí lịch sử cực nam trong 4 khu vực thuộc vương quốc Champa. Suốt chiều dài lịch sử đầy biến động của vương quốc, khu vực này luôn chịu thiệt. Về mọi mặt. Xa trung tâm văn hóa lớn là vùng Amaravati thời Champa hưng thịnh, nó ít được ưu ái; không biết bao lần bị đoàn quân Khmer xâm lăng mà nó phải đơn thương chống cự, rồi sau đó khi vương quốc suy yếu, một mình Pangdurangga phải chịu trận để thay mặt cả dân tộc mà tồn tại. Tồn tại theo đúng tính cách của người Pangdurangga. Vị trí địa lí cùng hoàn cảnh sống buộc nó tự trang bị tinh thần độc lập. Tinh thần độc lập cùng sự đề kháng được tôi luyện thế hệ này qua thế hệ khác làm nên sức chịu đựng đến lì lợm. Do đó chẳng ngạc nhiện khi không ít lần, nó gây phiền hà cho chính triều đình trung ương. Thử đọc qua bí kí dựng trên đồi tháp Po Klaung Girai vào giữa thế kỉ XI:
… vì người Cham vùng Pangdurangga ngu ngốc, ngang bướng, luôn chống lại hoàng đế tối cao. Cuối cùng ngài phải thân chinh đến. (Họ) muốn tôn người Pangdurangga lên ngôi vua. Nhưng bằng trí thông minh khôn khéo của mình, ngài đã chinh phục được tất cả…
Lạ, chính sự “ngu ngốc, ngang bướng” đó đã tôi luyện dân Pangdurangga để nó được là chính nó. Thế nên, thế kỉ XVII-XVIII, khi nhà Nguyễn sau đó là Tây Sơn chiếm hết Nha Trang rồi lòn xuống thu gọn cả miền đất miền Nam rộng lớn, Pangdurangga vẫn trụ vững. Hai nhà đã phải dành cho người Chăm khu vực quyền tự quản và tự quyết. Mãi khi quyền tự trị này bị vi phạm nghiêm trọng bởi vua Minh Mạng, năm 1822, Po Cơng Can cùng quần thần bôn tẩu sang Campuchia, vùng đất này trở thành vô chủ. Mười năm sau đó, hơn mươi cuộc nổi dậy lớn nhỏ khác nhau nổ ra, để cuối cùng bị dập tắt hoàn toàn vào năm 1834, Champa mới bị xóa tên hoàn toàn khỏi bản đồ thế giới.
Người Pangdurangga vẫn ở lại. Ở lại, chịu đựng và dung nạp tất cả cư dân các vùng khác chạy loạn thiên di tới, thổi vào họ tính thần Pangdurangga tạo nên một cộng đồng cố kết, vừa đậm chất dân tộc vừa mang đặc trưng vùng miền. Quyết liệt và bao dung, ngang bướng mà vẫn nhún nhường, chính người Pangdurangga đã hóa giải và hòa giải hai tôn giáo từng đối kháng là Bà-la-môn và Islam để tạo nên “đạo Bàni” có một không hai trong lịch sử loài người.
Làng Caklaing 10 năm trước.
 Số liệu thống kê đầu tiên về cư dân Chăm giai đoạn vương quốc Champa tan rã được biết đến là vào năm 1810. Đại Nam nhất thống chí cho biết dân số Chăm ở Phú Yên 7.651 người, Khánh Hòa 5.000 người, còn Ninh Thuận và Bình Thuận là 9.200 người. Đến 1891, E. Aymonier đoán Chăm có 30.000 người. Thống kê của Annuaire Général de L’Indochine 1907-1908, Chăm Phan Rang 6.000, Bình Thuận 9.000 = 15.000 người. Năm 1910 và 1913, Tòa Khâm sứ Pháp ở Huế và Pnong Pênh đưa ra số liệu Chăm miền Trung 15.389 người. Có lẽ con số này chỉ giới hạn ở hai tỉnh trên. Phan Quốc Anh trong Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahiêr (2006) cho hay vào năm 1969, Ninh Thuận và Bình Thuận có 33.600 người Chăm; đến năm 1975 là: 40.000 người. 1989, Nguyễn Việt Cường qua bài “Đặc điểm dân số người Chăm tỉnh Thuận Hải”, trong công trình tập hợp nhiều bài viết: Người Chăm ở Thuận Hải (1989): Bình Định 2.500, Phú Yên 7.500, Ninh Thuận và Bình Thuận 50.000, An Giang 10.000, TP Hồ Chí Minh 6.000; tất cả là 90.000 người.
Ấn phẩm Những ngày Văn hóa Dân tộc do Bộ Văn hóa Thông tin xuất bản in 2004 đưa ra con số: Bình Định 4.800 người, Phú Yên 17.835, Ninh Thuận 60.340, Bình Thuận 31.599, Đồng Nai 2.628, Bình Phước 357, Tây Ninh 2.900, An Giang 13.000, TP Hồ Chí Minh 5.173; tổng cộng: 138.632 người.
Thống kê ngày 1-4-1999: Ninh Thuận 61.000 người, Bình Thuận 29.312, An Giang 30.000, Bình Định & Phú Yên 20.000, Đồng Nai 3.000, Tây Ninh 3.000, Bình Phước và Bình Dương 1.000 và TP Hồ Chí Minh 5.000; tổng số là 152.312 người. Năm 2002, Báo cáo của Ủy ban Dân tộc và Miền núi tỉnh Ninh Thuận, riêng ở tỉnh Ninh Thuận Chăm có 61.359 người. Năm 2008, Đổng Văn Dinh, cán bộ Dân vận Tỉnh ủy cho biết Chăm ở Ninh Thuận có 67.649 người (chiếm gần 12% dân số của Tỉnh(1). Còn số liệu mới nhất 3-2012, người Chăm ở Ninh Thuận có 72.500 người.
Nhớ, năm 1908, Chăm Ninh Thuận vỏn vẹn 6.000 người, để đúng một thế kỉ sau, con số tăng gấp 12 lần: 72.000 người. Đói khát, họ vẫn làm lễ, đủ loại lễ hội. Đau khổ, họ vẫn ca hát, nhảy múa và làm thơ – mênh mông thơ được viết ra trong giai đoạn này. Chưa qua kĩ thuật in ấn, họ chép truyền tay nhau thứ chữ “con giun” đầy mĩ thuật. Sống xen cư và cộng cư với người Kinh, họ nhanh chóng hòa đồng nhưng chưa bao giờ đánh mất tính cách Pangdurangga cũng như bản sắc độc đáo của văn hóa dân tộc.
Nắng thì nắng tràn cho lúa ngô khô héo/ Mưa thì mưa cho nát bở thửa bờ vùng – thơ Inrasara 
 2. Người Chăm ở Ninh Thuận sống tập trung trong 27 làng, trong đó: 22 làng thuộc huyện Ninh Phước, 3 làng thuộc Ninh Hải, 1 thuộc Ninh Sơn và 1 thuộc TP Phan Rang – Tháp Chàm(2).
- Thành Tín (Cwah Patih, xã Phước Hải, huyện Ninh Phước): cách Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận I 8km; 4.600 người – 800 hộ
- Tuấn Tú (Katuh, xã An Hải) 10 km; 2.100 người – 328 hộ
- Nghĩa Lập (Ia Li-u & Ia Binguk, xã Phước Nam) 8km; 2.257 người – 312 hộ
- Văn Lâm (Ram, xã Phước Nam) 11km; 7.200 người – 1.424 hộ
- Nho Lâm (Ram Kia, xã Phước Nam) 14km; 1.577 người – 360 hộ
- Hiếu Thiện (Palau, xã Phước Ninh) 17 km; 2.270 người
- Vụ Bổn (Pabhan, xã Phước Ninh) 18km; 3.100 người
- Chung Mỹ (Bal Caung, thị trấn Phước Dân) 11 km; 2.150 người
- Mỹ Nghiệp (Caklaing, thị trấn Phước Dân) 11 km; 3.606 người – 664 hộ
- Bàu Trúc (Hamu Crauk, thị trấn Phước Dân) 13 km; 2.700 người
- Hữu Đức (Hamu Tanran, xã Phước Hữu) 17km; 6.800 người
- Tân Đức (Hamu Tanran Biruw, xã Phước Hữu) 18km; 1.400 người
- Thành Đức (Bblang Kathaih, xã Phước Hữu) 16km; 1.350 người
- Hậu Sanh (Thon, xã Phước Hữu) 17km; 2.300 người
- Như Bình (Padra, xã Phước Thái) 20km; 1.780 người – 333 hộ
- Như Ngọc (Cakhauk, xã Phước Thái) 21km; 1.480 người – 282 hộ
- Hoài Trung (Bauh Bini, xã Phước Thái) 24km; 2.102 người – 333 hộ
- Hoài Ni (Bauh Bini Biruw, xã Phước Thái) 24km; 2.002 người – 325 hộ
- Chất Thường (Bauh Dana, Phước Hậu) 22km; 2.250 người - 500 hộ
- Hiếu Lễ (Cauk, xã Phước Hậu) 20km; 3.200 người – 600 hộ
- Phước Đồng (Bblang Kacak, xã Phước Hậu) 19km; 2.400 người – 520 hộ
- Phú Nhuận (Bauh Dơng, Phước Thuận) 22km; 2.000 người
- Thành Ý (Tabơng, TP Phan Rang-TC); 21km; 1.900 người
- An Nhơn (Pabblap, xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải) 26km; 2.100 người
- Phước Nhơn (Pabblap Biruw, xã Xuân Hải) 28km; 4.200 người
- Bính Nghĩa (Bal Riya, xã Phương Hải) 30km; 2.200 người
- Lương Tri (Cang, huyện Ninh Sơn) 30km; 1.800 người (450 hộ)

Cộng đồng Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận theo Bà-la-môn và Hồi giáo bản địa hoá (thường gọi là Chăm Bàni), còn đại bộ phận người Chăm ở TP Hồ Chí Minh và miền Tây Nam Bộ theo Islam.
Tiếng Chăm thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Ngay từ thế kỉ IV (bia Đông Yên Châu), người Chăm đã biết vay mượn hệ thống chữ Sanscrit của Ấn Độ để ghi âm tiếng nói của dân tộc mình. Qua nhiều biến thể, loại chữ này trở thành akhar thrahvà được lưu truyền đến ngày nay. Tiếc là hiện tại, chỉ có cộng đồng Chăm Pangdurangga còn sử dụng nó trong phong tục tập quán, sáng tác văn chương và giao tiếp hàng ngày. Trước 1975, các bậc có chữ nghĩa trong xã hội Chăm tìm đủ mọi cách viết, in (ronéo) sách giáo khoa bằng akhar thrah để phổ biến chữ ông bà vào các trường học và trong dân. Việc triển khai năm đực năm cái và không đều khắp, thậm chí chỉ là lớp học tự phát dăm ba trò dưới ánh đèn lu, đủ nói lên sức mạnh tiềm ẩn tình yêu ngôn ngữ dân tộc trong cộng đồng. Mãi khi Ban Biên soạn sách chữ Chăm thành lập năm 1978 sở hữu cơ sở độc lập, để chuyên biên soạn và theo dõi việc dạy và học chữ Chăm ở các trường Tiểu học có người Chăm sinh sống, thế hệ con cháu mới hãnh diện ra mặt về văn chương ngôn ngữ mẹ đẻ của mình được dạy chính quy và bài bản. Thế nên, không lạ khi phong trào dạy và học tiếng Chăm ở Ninh Thuận được đánh giá là hiệu quả nhất. Vô hình trung, Ban nhỏ này trở thành nơi vãng lai của thân hào, nhân sĩ Chăm đến trao đổi các vấn đề xã hội, cộng đồng. Lại tiếc: năm 2011, cơ quan này bị giải thể, dời vào ngồi chung Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Ninh Thuận. Bà con cũng thưa lai vãng dần…
Số phận akhar thrah cũng bấp bênh không kém định mệnh tộc người Chăm.
Rước y trang thần ở Lễ Kate – Photo Nguyễn Á
3. Sinh hoạt cộng đồng Chăm Pangdurangga bó gọn trong phạm vi palei (làng), mỗi làng có vài dòng họ, mỗi dòng họ có một kut (nghĩa trang tộc mẫu bên Chăm Bà-la-môn) hay ghur (Chăm Bàni). Ba tôn giáo chính của Chăm, ngoài Islam tuân thủ chặt chẽ tổ chức, đạo Bà-la-môn và Bàni rất lỏng lẻo: không giáo chủ để truyền giáo, không tổ chức giảng giáo lí, giáo luật không rõ ràng và được các chức sắc Chăm ứng dụng khá ngẫu hứng, tùy tiện, nên nó thường được cho tín ngưỡng dân gian hơn là một tổ chức tôn giáo đúng nghĩa.
Qua tín ngưỡng dân gian ngàn đời đó, cộng đồng này sản sinh rất nhiều lễ hội, trong đó Rija Nưgar là lớn hơn cả. Đây là lễ được tổ chức vào đầu năm Chăm lịch (khoảng tháng 4 Dương lịch), mang ý nghĩa tống khỏi làng cái xấu xa nhơ nhớp của năm cũ, đón cái tốt lành vào làng nhân năm mới. Lễ Rija Praung thực hiện từ 3-7 ngày đêm được xem là lễ trả nợ lớn nhất, ở đó là tập đại thành các điệu múa, bài tụng ca cùng nghi thức liên quan. Nó như là một buổi biểu diễn văn nghệ hơn là một sinh hoạt lễ nghi tôn giáo. Lễ tạ ơn hay Tẩy oan dù thực hiện đơn sơ hơn, vẫn mang ý nghĩa lớn về mặt xã hội. Sau cùng lễ hội Kate diễn ra vào đầu tháng Bảy Chăm lịch được xem như một thứ Tết của người Chăm, ở đó hầu hết làng Chăm tổ chức lên tháp dự vào cuộc hành hương long trọng và nhiều màu sắc.
Kate, hành hương lên đất Tháp, con người Chăm được nhận biết qua lối ăn mặc, tiếng nói hay điệu múa. Văn minh Champa được nhận biết gói gọn qua tháp Chàm – tháp Chàm muôn mặt. Tháp cô độc, kiêu hãnh có mặt khắp giải đất Miền Trung Việt Nam. Tháp Chàm hôm nay không còn là niềm hãnh diện của riêng Chăm, mà của chung đất nước Việt Nam. Tháp Chàm được xây bằng gạch nung mà chất kết dính mãi thời hiện đại vẫn còn là bí ẩn, tạo hấp lực không nhỏ với các nhà nghiên cứu. Thánh địa Mỹ Sơn (thuộc tỉnh Quảng Nam) qua bước đạp tới của thời gian và sự vô tâm của con người, sau khi được phục dựng một phần – chỉ một phần thôi – nó vẫn được công nhận là Di sản Văn hóa – Lịch sử thế giới.
Song hành với kiến trúc là điêu khắc. Do ảnh hưởng văn minh Ấn Độ, nên toàn bộ tác phẩm điêu khắc Champa là các tượng thần Ấn Độ giáo, sau đó là Phật giáo với nhiều phong cách khác nhau. Có thể nói hầu hết tượng, phù điêu Chăm đều lộ thiên nên dễ khơi dậy lòng tham của loài người. Chúng chảy máu bao nhiêu và chảy về đâu thì chưa ai và không ai thống kê được. Không là gì cả, những gì còn trưng bày tại Bảo tàng Chàm Đà Nẵng hay Bảo tàng Lịch sử TP Hồ Chí Minh.
Chưa là gì cả, Đoàn nghệ thuật dân gian Chăm - Ninh thuận thành lập năm 1993, với 25 diễn viên; rồi sau đó ít lâu,Đoàn nghệ thuật dân gian Chăm huyện Bắc Bình – Bình Thuận, thành lập năm 1989 gồm 20 diễn viên không chuyên (số liệu năm 2005) đã hoạt động sôi nổi và rềnh rang, ít nhiều có “tiếp thu và sáng tạo” vốn cổ ông bà. Vẫn chưa thấm vào đâu so với những gì tổ tiên để lại.
Người nữ Chăm không ai là không biết múa. Múa ăn vào máu thịt người nữ Chăm từ trong bụng mẹ khi mẹ múa, thấm đẫm vào da xương khi chập chững đi xem múa lễ, trở thành bản năng nghệ thuật khi họ đóng cửa tập một mình hay tập nhóm. Họ múa, hứng khởi và đầy tràn sáng tạo. Múa trong lễ hội như Rija NưgarKate, Rija Praung… ở mỗi làng hay trên tháp, đền. Múa trên sân khấu nhà quê, trong đội trường, đội sản xuất. Múa, cả ở các tụ điểm vui chơi giải trí cũng không chừa. Đi kèm với múa là những nhạc cụ dân tộc truyền thống như: trống ginơng (có 74 điệu cả thảy), trống baranưng, ceng (chiêng), kèn xaranai, gong (lục lạc), đàn kanhi,… Phổ biến hơn cả vẫn là bộ baginơng, baranưng và xaranai, trong đó chủ đạo là ginơng. Tên gọi các điệu múa Chăm cũng là tên được đặt cho điệu trống ginơng. Có các loại chính: Múa quạt (Tamia tadik), Múa đội lu (Tamia đwa buk), Múa khăn (Tamia taniak), Múa kiếm (Tamia carit), roi và múa đạp lửa (Tamia jwak apwei), Múa chèo thuyền (theo điệu trống Wah gaiy),…
4. Bị cuốn hút bởi kiến trúc và điêu khắc Champa, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước vô tình đã bỏ quên một mảng lớn [và có thể nói là quan trọng nhất] của di sản văn hóa văn minh Champa: văn học. Tâm hồn con người Chăm hiển lộ đầy đủ ở đó.
Dân tộc có chữ viết sớm như Chăm, thì nền văn học viết của họ không phát triển mới là chuyện lạ. Vậy mà ở đầu thế kỉ XX, Paul Mus đã cho rằng nó “có thể tóm gọn chỉ trong vài chục trang sách”! Ngôn ngữ – chữ viết phát triển thúc đẩy văn học phát triển. Song hành với văn học bình dân: panwơc yaw (tục ngữ), panwơc pađit (ca dao), dalikal(truyện cổ)… là nền văn học viết có mặt từ rất sớm: văn bi kí, sử thi, trường ca, thơ thế sự, thơ triết lí, gia huấn ca… Hai thế kỉ sau Champa tan rã, di sản văn học ấy đã thất tán quá nhiều. Mảnh vụn nó vương vãi khắp nơi. Sau cuộc thu nhặt rời rạc và không liên tục, người ta đã gom lại kiểm kê: 250 minh văn, 5 akayet (sử thi), 10 ariya (trường ca trữ tình), hàng trăm trường ca thế sự, thơ triết lí, gia huấn ca, hơn 100 tụng ca do Ong Kadhar hay Ong Mưdwơn hát trong các lễ.
Văn chương không chủ ở số lượng, vấn đề là cái khác biệt, sự độc đáo. Vậy Chăm có cái gì khác biệt? Không kể các trường ca triết lí như Ariya Nau Ikak (Thơ đi buôn) hay các trường ca thế sự như Ariya Po Parơng, vân vân rất độc đáo; riêng về hình thức: Ariya – lục bát Chăm chẳng hạn. Đây là thể thơ như lục bát Việt, do cấu trúc ngôn ngữ khác nhau (đa âm tiết/ đơn âm tiết là một trong những, nó linh hoạt hơn, nên khả năng sáng tạo lớn hơn. Về nội dung và đề tài: 250 minh văn Champa được sáng tác từ thế kỉ III đến thế kỉ thứ XV bằng cả tiếng Phạn lẫn tiếng Chăm cổ được kể đầu tiên. Sử thi Chăm có xuất xứ từ/ mang âm hưởng Mã Lai/ Ấn Độ được viết vào thế kỉ XVI-XVIII, là sáng tác thành văn đặc trưng Chăm, một hiện tượng không có trong văn học sử Việt Nam. Nữa, đa số sử thi này đã được văn bản hóa từ thế kỉ XVI. Cuối cùng, ba trường ca trữ tình nổi tiếng mà nội dung mang chở sự đối kháng quyết liệt giữa Hồi giáo – Bà-la-môn giáo dẫn đến đổ vỡ và cái chết, cũng là một dị biệt khác. Vân vân…
5. Hãy chú ý mấy con số biết nói: năm 1810, Chăm ở Phú Yên và Khánh Hòa là 12.651 người, còn Ninh Thuận và Bình Thuận là 9.200 người. Năm 1910, Chăm Ninh Thuận và Bình Thuận tăng lên 15.389 người. Đến năm 2004, Bình Định và Phú Yên lên 22.635 người trong khi riêng hai tỉnh cực nam là 92.939 người. Nghĩa là số người Chăm ở Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa suốt thế kỉ chỉ nhích lên hai lần, ngược lại người anh chị em họ ở Ninh Thuận và Bình Thuận con số nhảy vọt lên gấp mười lần chẵn! Riêng Ninh Thuận thì gấp 12 lần.
Người Chăm ở ba tỉnh kia đi đâu? Di vào nam? Bị đồng hóa? Xã hội chậm phát triển kéo theo dân số kém phát triển? Hay gì nữa?…
Và, tại sao Chăm Ninh Thuận?
Hiện tại, ở các vùng đồng bào Chăm tỉnh Ninh Thuận, đường giao thông đi lại thuận tiện cả hai mùa mưa, nắng. Các xã đều có trạm y tế và trường trung học cơ sở; các làng đều có trường tiểu học, được phủ lưới điện quốc gia và trên 95% số hộ có điện thắp sáng; 70% làng có hệ thống cấp nước sinh hoạt và hơn 50% số hộ dùng nước sạch. Họ cũng có Đại biểu Quốc hội của mình. Sau khi đất nước thống nhất, hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa đào tạo 5 tiến sĩ, non trăm thạc sĩ và sau Đại học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Người Chăm có truyền thống hiếu học, nên trình độ phổ thông khá cao. Ở thôn quê tỉ lệ người mù chữ trong dân rất thấp. Hiện nay riêng Ninh Thuận có non trăm kĩ sư đủ ngành nghề, 57 bác sĩ, 200 y sĩ, y tá đang làm việc tại các cơ sở y tế trong tỉnh. Trong  huyên Ninh phước có 177 y, bác sĩ, y tá và nữ hộ sinh đang công tác thì số lượng y, bác sĩ người Chăm chiếm tỉ lệ cao nhất 57% (101 người).Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Chăm ở Ninh Thuận đã được thành lập từ năm 1991, dù đến nay nó chưa có thành quả tương xứng với tên gọi, nhưng nó đã có.
Đáng kể đấy chứ!
Hiện nay trong cộng đồng này bật lên vài tác giả được cả nước biết đến: Amư Nhân-ca sĩ-nhạc sĩ, Đàng Năng Thọ-họa sĩ, Inrasara-nhà thơ-nhà nghiên cứu,… Từ 2000, Tagalau, tuyển tập sáng tác – sưu tầm – nghiên cứu văn hóa Chăm do vài trí thức Chăm sáng lập đã tập hợp được lực lượng đông đảo cả tác giả Chăm và ngoài Chăm tham gia.Tagalau sống sót qua 12 kì, được xem là chuyện viễn tưởng ở xã hội hiện đại.

Nghề cổ truyền của Chăm thì sao? Có thể kể hai nghề nổi bật còn được truyền lưu: dệt thổ cẩm và gốm.
Làng Mỹ Nghiệp (tên Chăm là Caklaing) thuộc huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, nằm về phía Nam thị xã Phan Rang gần 9km, là đất văn vật. Ngoài là làng cổ có mặt hơn ngàn năm, nó còn là làng của vị vua anh minh nhất của Champa: Vua Po Klaung Girai chọn nơi để ra đời. Mỹ Nghiệp nổi tiếng với nghề dệt thổ cẩm truyền thống. Trước 1975, chị em tận dụng giờ nông nhàn để sản xuất. Sau khi đất nước thống nhất, bởi thiếu nguyên liệu, nó chỉ hoạt động cầm chừng. Đến khi mở cửa nghề dệt mới được hồi phục trở lại, rồi phát triển dần. Hiện nay làng này đã có một hợp tác xã, một công ty và hơn mươi cơ sở dệt.
Hai làng Chăm còn giữ nghề gốm: Bàu Trúc (Ninh Thuận) và xã Phan Hòa (Bình Thuận). Từ trước tới nay, người Chăm chủ yếu làm thủ công, nguyên liệu lấy tại chỗ, và làm theo mẫu mã cổ truyền, các thao tác để làm xong một sản phẩm gốm đều rất chậm: không có bàn xoay, kĩ thuật nung rất là thủ công: bà con chất đống gốm ra ngoài trời và dùng rơm, củi hay phân trâu bò để đốt. Sản phẩm ra lò chậm, hàng kém chất lượng, nên mức tiêu thụ không cao, thu nhập của bà con thấp. Chỉ vài năm trở lại đây, nhiều mẫu mã mới được chế tác hàng loạt, nghề gốm mới phát triển trở lại. Gốm không còn là mặt hàng tiêu dùng, tự cung tự cấp nữa mà phần nào đã trở thành hàng mĩ nghệ. Từ đó, vài hộ gia đình làm ăn khấm khá lên. Nhưng kĩ thuật làm hay nung vẫn chưa thay đổi.

*
Người Chăm Ninh Thuận cư trú ở mảnh đất này hơn 2.000 năm, ở đó làng Caklaing có tên trên bia kí cổ có mặt hơn mười thế kỉ. Cho nên Ninh Thuận hiện còn rất nhiều di tích văn hóa lịch sử Chăm. Ngoài ba đền tháp chính là: Tháp Po Rome (thế kỉ XVII, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, cách Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận I 19km), Tháp Po Klaung Girai (thế kỉ XI, TP Phan Rang-TC, 24km), Đền Po Nưgar tại Hữu Đức, Ba Tháp (thế kỉ IX, TP Phan Rang-TC, 30km), còn có cả trăm di tích văn hóa – tín ngưỡng khác đang được thờ phụng. Ví dụ: Po Nai ở Núi Chà Bang, 8km, Đá Chẻ ở Chung Mỹ, 9km, Núi Đá Trắng ở Phước Thái, 24km,… Có thể khẳng định, đây là vùng đất văn vật và tâm linh sâu thẳm nhất của dân tộc Chăm xưa và nay. Qua quá trình lịch sử, người Chăm thiên di từ Huế, Quảng Nam… vào. Họ chạy nạn sang tận Mã Lai, Thái Lan, Campuchia,… nhưng số đông vẫn ở lại Ninh Thuận, cùng với người “bản xứ” bám trụ.
Ninh Thuận là mảnh đất cằn cỗi ít mưa nhất Việt Nam, “khó sống” hơn rất nhiều vùng miền khác, dẫu vậy cộng đồng dân tộc bản địa này chưa bao giờ có ý định dời đi, vĩnh viễn. Cả khi trải qua bao nhiêu thiên tai (hạn hán, dịch,…), họ tạm lánh đi, và luôn luôn trở lại. Với mảnh đất và với tháp thiêng. “Ngu ngốc, ngang bướng” và kiêu hãnh, nhưng họ lại là cộng đồng yêu tri thức và rất lành. Tháng 4-1975, sau vài phản kháng cục bộ bởi biến động của lịch sử xã hội, ở cộng đồng Chăm chưa bao giờ xảy ra xung đột mang tính dân tộc, nói chi chuyện nảy nòi chuyện “đòi nước” hay “phục quốc”.
Đang yên đang lành thế, đột ngột ngay đầu thế kỉ XXI, tập thể 23 tác giả có học vị học hàm nổi hứng viết nguyên chương sách cáo giác “Trung tâm Văn hóa Chàm tập hợp một số trí thức Chàm có tên tuổi và một số người cầm đầu trong các chức sắc tôn giáo, biến họ thành tay sai đắc lực… tuyên truyền tư tưởng dân tộc hẹp hòi, gây kì thị chia rẽ dân tộc, tập hợp lực lượng ý đồ về lâu dài là chống phá cách mạng”(3), là điều không hề có! Rồi chưa đầy mươi năm sau, Quốc hội Việt Nam thông qua Dự án Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận
Không bất an, mới lạ!

Người Kinh có thành ngữ: “[nơi] chôn nhau cắt rốn” để chỉ quê cha đất tổ. Chăm hơi khác, họ nói: “[nơi] chôn nhau đặt viên gạch” (Dar thauk ppadauk kiak). Chôn nhau thì chỉ mới liên quan đến máu mủ, còn “đặt viên gạch” [dựng tháp] là đặt nền móng cho đời sống tâm linh.
Bimong (tháp) là biểu tượng tâm linh của dân tộc Chăm. Ở đâu có cộng đồng Chăm là ở đó có tháp. Tháp, để người Chăm cúng tế, thờ phượng. Cho nên hai khu tháp Po Klaung Girai và Po Rome có vị trí tối thượng trong đời sống tâm linh Chăm ở Ninh Thuận là điều miễn bàn. Sau bimong là các danauk (đền) được dựng lên để thờ phượng các vị anh hùng liệt nữ hay thần làng,… Tiếp đó là ghur, kut nghĩa trang tộc mẫu. Gọi là “nghĩa trang” nhưng nó hoàn toàn khác với nghĩa trang như từng được biết. Người Chăm Bà-la-môn khi mất, trong ngày hỏa thiêu, 9 miếng xương trán được cắt tròn bằng đồng tiền, rửa sạch và cất trong klaung (lọ nhỏ) để ở nơi kín đáo. 20-25 năm sau, tất cả lọ này của người trong dòng họ được làm lễ nhập kut một lần. Diện tích khuôn viên kut chưa tới một sào đất, ở đó, khu trung tâm là nơi để chôn các “tinh cốt” này cũng chỉ 3-4m2. Như vậy kut có thể chứa cả triệu “người” trong dòng họ mà không bị quá tải. Chỉ khi dòng họ mất đi người nữ cuối cùng, kut mới thành kut hoang. Đó là điều khó xảy ra. Như Kut Gađak của một dòng họ ở Caklaing có mặt từ rất lâu đời. Mỗi năm người Chăm Bà-la-môn chỉ mở cửa kut một, hai lần để cúng kiếng. Ghur bên người Chăm Bàni cũng mang ý nghĩa tương tự.
Năm 2014, Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận I dự kiến khởi công xây dựng tại thôn Vĩnh Trường thuộc xã Phước Dinh, huyện Ninh Phước, một vị trí phủ sóng phóng xạ lên hầu hết làng Chăm khu vực, nếu xảy ra sự cố, sẽ tác động nghiêm trọng và toàn diện đến đời sống cư dân Chăm trong vùng mà số dân chiếm một nửa số người Chăm trong toàn quốc. Hãy tưởng tượng một ngày nào đó, khi sự cố hạt nhân xảy ra, tất cả người Chăm được dời đi – vùng đất ngàn đời kia bị bỏ lại, với tháp thiêng cùng hàng trăm đền, kut, ghur khác! Cho nên, dù đã trải bao thiên tai dịch họa, từng chịu đựng mênh mông bất công và đau khổ, và dù lì lợm, ngang bướng hay kiêu hãnh tới đâu, sẽ không có bất kì người Chăm Pangdurangga nào tưởng tượng nổi hiện tượng đó sẽ xảy đến với mình khi họ còn mở mắt nhìn ánh mặt trới mỗi sớm mai.
Sài Gòn, 28-3-2012
Inrasara
__________________________
Chú thích:
(1) Đổng Văn Dinh (Ban Dân vận Tỉnh ủy tỉnh Ninh Thuận), “Những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện Chính sách Dân tộc của Đảng và Nhà nước ta đối với đồng bào Chăm Ninh Thuận”.
(2) Tư liệu riêng của Inrasara.
(3) Chương “Vùng dân tộc Chàm” trang 200-223, trong Mấy vấn đề lí luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Gs-Ts Phan Hữu Dật chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, H., 2001. Sau khi 20 thân hào nhân sĩ Chăm đồng kí tên trong bức thư kiến nghị các tác giả xem xét lại vấn đề, đại diện nhà xuất bản có đến Phan Rang gặp riêng 2 ông Lâm Gia Tịnh và Nguyễn Văn Tỷ, giải thích qua loa. Rồi thôi. Không một lời xin lỗi, càng không một câu đính chính. Chìm!
Nguồn: Inrasara