Thứ Bảy, ngày 07 tháng 4 năm 2012

“Vậy thì tiền đó đi đâu?”

Không phải hằng trăm mà là hàng nghìn, mấy chục nghìn tỉ đồng bị các “đại gia Nhà nước” hô biến không còn tăm hơi. Những khoản tiền ấy đi đâu thì không nói ai cũng biết nhưng nó được che chắn bằng một mỹ từ mà gần đây người ta hay dùng. Đó là “thua lỗ do đầu tư ngoài ngành”.
Bạn tôi mới lãnh lương được gần 3 triệu đồng. Hắn hí hửng dẫn vợ đi hội chợ hàng Thái Lan bên CLB Nguyễn Du (quận 1- TPHCM) vì nghe đâu có nhiều thứ rẻ lắm, tranh thủ vô đó kiếm một ít về xài. Hắn bảo, trong thời buổi kinh tế khó khăn, kiếm được đồng tiền đổ mồ hôi, sôi nước mắt thì tiết kiệm được đồng nào hay đồng ấy.

Thế nhưng, xui xẻo cho hắn, hội chợ đông đúc, kẻ gian thừa cơ rạch giỏ lấy mất cái bóp. Cả giấy tờ tùy thân lẫn mấy triệu tiền lương đã đội nón ra đi. Sự việc xảy ra đã hai hôm rồi mà tới bữa nay mặt hắn vẫn còn ngơ ngơ, nghe ai hỏi đến chuyện bị mất tiền thì mặt mày méo xẹo. Nhìn hắn, tôi càng thấm thía cái câu “đồng tiền đi liền khúc ruột”; “của đau, con xót”. Đúng là đồng tiền mồ hôi nước mắt, xài một đồng cũng cân nhắc, mất một đồng cũng đau thắt ruột gan!
Tàu Hoa Sen hơn 1.000 tỉ đồng được "đại gia Vinashin" mua về để... thử nghiệm! 
Ấy thế mà, mấy ngày qua, báo chí liên tục thông tin về những con số thất thoát thật khủng khiếp: Không phải hằng trăm mà là hàng nghìn, mấy chục nghìn tỉ đồng bị các “đại gia Nhà nước” hô biến không còn tăm hơi. Những khoản tiền ấy đi đâu thì không nói ai cũng biết nhưng nó được che chắn bằng một mỹ từ mà gần đây người ta hay dùng. Đó là “thua lỗ do đầu tư ngoài ngành”.

Điều người dân quan tâm là sự thua lỗ đó được gây ra bởi những “ông lớn” được giao trọng trách giữ vai trò “chủ đạo” trong nền kinh tế quốc dân. Đó là EVN, Vinashin, Viettel, Sông Đà, PVN và còn bao nhiêu “ông lớn” chưa bị thanh tra, phát hiện.

“Đọc những con số thất thoát, thua lỗ này đau ruột quá!”- anh bạn tôi làm chủ một sơ sở sản xuất nhựa tái chế ở quận 11- TPHCM buồn rầu. Tôi ngạc nhiên: “Tiền Nhà nước chứ tiền của anh đâu mà đau ruột?”. Vừa nghe vậy, anh bạn tôi đã sừng sộ: “Tiền Nhà nước từ đâu ra? Chẳng phải là tích cóp từ những giọt mồ hôi mặn chát của hàng triệu nông dân chân lấm tay bùn ư? Chẳng phải là chắt chiu từ những đồng lương còm cõi của hàng triệu công nhân nghèo khó đó sao? Chẳng phải là được lấy từ tiền đóng thuế của hàng vạn cơ sở sản xuất èo uột nhỏ lẻ như của tôi sao?… Và còn tài nguyên khoáng sản nữa. Họ cứ khai thác, cứ đào lên bán lấy tiền mà cũng lỗ là sao? Tôi không tin có chuyện thua lỗ, thất thoát ở đây”.
"Đại gia Sông Đà" cũng có sai phạm lên đến 10.676 tỉ đồng
“Vậy thì tiền, của đó đi đâu?” – tôi hỏi anh bạn. “Tất nhiên là nó không mất đi mà chỉ chuyển từ túi người này sang người khác, từ túi Nhà nước sang túi riêng, hiểu chưa? Đã học Triết học Mác mà sao khờ thế?” – anh bạn tôi hậm hực.

Đúng là tôi khờ thật. Những người làm công ăn lương như tôi với tiền lương năm ba triệu đồng mỗi tháng, ngày ngày phải thắt lưng buộc bụng chi tiêu và đóng thuế thu nhập cá nhân không bao giờ hình dung ra con số hàng chục, hàng trăm nghìn tỉ đồng là bao lớn nhưng chắc chắn là lớn lắm.

Và những con người được giao quản lý, sử dụng số tài sản khổng lồ như vậy hẳn phải là những người có tài kinh bang tế thế lắm. Nếu không, chẳng ai bổ nhiệm họ làm chủ tịch hội đồng quản trị hay tổng giám đốc hay những chức vụ cao cấp khác trong các tập đoàn kinh tế Nhà nước. Ấy thế mà khi xảy ra thất thoát, tiêu cực lại chỉ được quy vào lỗi “thiếu trách nhiệm gây hậu quả…”, hoặc “buông lỏng quản lý” là sao?
Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Ngô Văn Khánh: "Sẽ xử lý nghiêm các sai phạm của tập thể, cá nhân tại PVN"
Thế thì suy cho cùng, cái lỗi này nó gắn với cái câu của ông bà xưa: “Đồng tiền đi liền khúc ruột”, “của đau, con xót”. Nếu là tiền của mình thì không ai vung vít đến nỗi nó đi đâu, về đâu cũng không biết như vậy! Là bởi vì đó là tiền ngân sách, là tiền của bá tánh trăm họ; cũng có nghĩa, đó là… tiền chùa! Chỉ có xài chùa thì người ta mới có thể tiêu hoang và nhẫn tâm như vậy.

Lại nhớ lời anh bạn làm phế liệu ví von: Trong một gia đình, nếu cha mẹ làm ăn thất bại thì cả đàn con nheo nhóc; trong một doanh nghiệp, giám đốc mà làm ăn bết bát thì hằng trăm công nhân lao đao. Tuy nhiên, điều đó cũng không nguy hiểm bằng trong một quốc gia, những đơn vị được ưu ái giao vốn, giao tài nguyên, giao trọng trách “chủ đạo” mà lại cứ liên tục đi sai đường thì con thuyền kinh tế đất nước sẽ trôi về đâu?

Phạm Nguyễn
Theo NLĐ

Chuyện con sâu bé và lòng tin của anh xe ôm

Tạp chí Xây dựng Đảng số ra ngày 19-3-2012 có đăng tải một bài viết của một đảng viên gần 40 năm tuổi đảng kể về những bức xúc, đau đáu bắt nguồn từ một lời giới thiệu tưởng như vô tình: “Đây là T, đảng viên, nhưng là một người đàng hoàng lắm”.

“Mới vào Đảng nên còn tốt!”. “Đảng viên nhưng là một người đàng hoàng!”. Những lời lẽ đó giờ đã thành câu dân gian cửa miệng rồi. Dẫu không ít chua chát thì người ta nghe mãi cũng quen. Dẫu là u tối thì u tối mãi cũng đã là chuyện bình thường. Và điều đáng nói là ngay chính cán bộ đảng viên nghe thế cũng chỉ… nhăn răng ra cười.

Chỉ khổ cho cụ già đảng viên 40 năm tuổi Đảng. “Tôi nghe thế cảm thấy như bị xúc phạm- ông viết- Thế ra, dưới con mắt của người dân, nhiều đảng viên hiện nay là những người không đàng hoàng? Đúng vậy không? Ngày nay Đảng ta đã có đội ngũ đông đảo hơn 3 triệu đảng viên. So với Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng năm 1935 thì Đảng ta đã đông gấp 5.000 lần. Đông hơn nhưng có mạnh hơn không?”- ông đặt câu hỏi.

Câu trả lời cho cái nhìn u tối của người dân thực ra nằm ngay trong đời sống, nơi những cán bộ đảng viên đang tha hóa, biến chất thậm chí không cần che dấu. Ngay cả khi nghị quyết TƯ 4 được rầm rộ triển khai với một trong những nhiệm vụ cấp bách là chấn chỉnh đạo đức, lối sống của đảng viên, thì vừa ngay đây, hai đảng viên là cán bộ lãnh đạo tiếp tục “dính chàm”.

Ở An Khê, Gia Lai, Công an vừa khởi tố Thị ủy viên, Bí thư kiêm Chủ tịch xã Thành An về hành vi đánh bạc. Trước đó thì đủ hết, từ miền Tây ra miền Trung, từ miền xuôi lên miền ngược, từ quan huyện, quan sở, công an, kiểm lâm, kiểm sát, thậm chí cả hiệu trưởng trường tiểu học, cả trưởng phòng văn hóa, đội trưởng đội kiểm tra liên ngành 814 có chức năng kiểm tra, giám sát, phòng chống tệ nạn cũng bị bắt vì đánh bạc. Họ đánh bạc ở bất cứ đâu: Dưới hầm, ngoài nhà nghỉ, trong trụ sở tòa án, đánh bạc ngay tại nhà dân. Dường như “đổ bác” giờ đã ngấm vào máu của không ít cán bộ đảng viên có quyền, có tiền. Dư luận hẳn còn nhớ chưa quên vụ “ván cờ bạc tỷ” của hai quan chức miền Tây để sau đó đòi nợ bằng cách thuê giang hồ đòi nợ theo kiểu xã hội đen.

Ở miền Tây, sau các vụ thẩm phán “tư vấn pháp luật” trong nhà nghỉ, Phó Chánh án “an ủi vợ người khác” trên café võng, Viện trưởng Viện kiểm sát “nhậu nhẹt, tắm sông cùng kiều nữ”; Chi cục trưởng Quản lý thị trường “đi vệ sinh nhầm vào phòng ngủ vợ dân” , giờ lại đến chuyện Phó công an “mang dầu gió vào giường vợ người khác”.

Không tháng nào, không tuần nào là không có những dòng tin nóng về sự tha hóa của một cán bộ, đảng viên nào đó, ở một đâu đó được đưa lên mặt báo.

Có câu “Tửu sắc tài khí tứ đổ tường”. Cờ bạc, rượu chè, trai gái, hút sách hễ vướng vào một trong đó thì kể như là vào bốn bức tường không lối thoát. Cũng có câu “Vui nơi đổ bác là vui khổ”. Nhưng sự hư hỏng của cán bộ, đảng viên giờ xét đi xét lại cũng nằm cả trong 4 chữ “Tửu sắc tài khí”.

Vấn đề là ở chỗ nếu các bậc phụ mẫu của dân, nếu như những người thực thi pháp luật, thậm chí cả những người đứng trên bục giảng “chưa bị lộ” thì họ vẫn có thể chỉ tay năm ngón răn dạy dân những lời đạo lý. Nói và làm giờ chẳng mấy khi giống nhau, và sự xấu hổ, như cái cách mà người đảng viên già bức xúc, giờ có lẽ đã quá xa xỉ.
Tắm tiên ở Phú Quốc
Có người đã trách báo chí bới bèo tìm bọ. Người khác bảo chỉ là con sâu. Có điều sâu, bọ bây giờ nhiều quá. Nhiều đến mức sự tha hóa có thể nhìn thấy hàng ngày mà người dân đã quen đến mức giờ chua chát cho đó là “chuyện thường ngày ở huyện”. Và bởi những người bị đưa lên báo, chỉ là “những đồng chí bị lộ”.

Việc chỉnh đốn Đảng, vì thế, không thể coi đó là những “con sâu bé”, không thể coi là “chuyện con sâu”, bởi chính những con sâu bé đó đang ngày ngày gặm nhấm niềm tin của dân chúng vào vào sự liêm chính của cán bộ, đảng viên, bởi “chuyện con sâu” đó đang làm lung lay cột rường “sự an nguy của chế độ”.

Trở lại với tâm sự của người đảng viên già. Ông đã có một phát hiện rất xác đáng, rằng hiện trong Đảng đa số đảng viên là “đàng hoàng”, tâm huyết với lý tưởng của Đảng, gắn bó với dân. Có điều đa số đó là đảng viên “thường” và cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu. Chỉ có “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên không đàng hoàng. Nhưng khổ nỗi trong “một bộ phận không nhỏ” ấy, đa số lại là đảng viên có chức, có quyền, có điều kiện tiếp xúc, liên quan đến phê duyệt, quản lý tài sản công, tài chính, đất đai… là đối tượng móc nối của các đại gia, các nhà đầu tư, tham lam, hư hỏng, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi… Rồi do có lắm tiền sinh ra học đòi, ăn chơi, xa hoa, thậm chí trụy lạc, trác táng…

Nghị quyết Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” chỉ rõ những suy thoái, biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang làm mất uy tín của Đảng, niềm tin của dân với Đảng. Nhưng việc thực hiện phải bắt đầu bằng việc khu biệt những cán bộ, đảng viên có khả năng làm mất ủy tín của đảng “phải chỉ cho được “bộ phận không nhỏ” ấy là những ai, mức độ đến đâu và kiên quyết xử lý nghiêm khắc, cách chức, khai trừ ra khỏi Đảng những ai vi phạm đã không còn xứng đáng là đảng viên nữa”.

Trong một bài trả lời phỏng vấn báo chí gần đây, GS Dương Phú Hiệp, nguyên Tổng thư ký Hội đồng lý luận TƯ cho rằng: “Đảng viên hay quần chúng không ai nằm ngoài vòng pháp luật cả. Không có con số trừ 1. Không ít vụ việc, ta sợ đụng chạm này khác, can thiệp để không làm to ra… Cách làm như vậy là không được”. GS Hiệp kêu gọi “Đã đến lúc phải đi vào thực chất: trong nhà nước pháp quyền, pháp luật là tối thượng, dân chủ và xã hội công dân là cần thiết. Nếu cán bộ lãnh đạo hay đảng viên bao che cho nhau thì chỉ làm mất lòng tin của dân với đảng”.

Sau vụ “ăn nhậu tắm sông với kiều nữ”, khiến một cô gái chết đuối, 2 vị viện trưởng viện phó VKS bị, nói đúng hơn là được, điều từ huyện lên tỉnh. Sau vụ “tư vấn pháp luật cho vợ anh xe ôm trong nhà nghỉ”, vị thẩm phán ở Cà Mau đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo. Có điều, ông vẫn còn nguyên chức Phó Văn phòng TAND tỉnh.

Xử lý như thế thì liệu có lấy lại được lòng tin của anh xe ôm, người chồng bị cắm sừng có lần đã quẫn đến mức ra điều kiện buộc vị thẩm phán “tư vấn pháp luật trong nhà nghỉ” phải nuôi vợ anh suốt đời?
Đào Tuấn

Dùng từ gốc Hán


Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Trong tiếng Việt có nhiều từ gốc Hán đã Việt hóa rất lâu, tuy vậy vẫn thường bị dùng sai. Cách đây nhiều năm, trên diễn đàn này, tôi có đánh động việc dùng sai từ “quyết liệt”. Từ này Từ điển Hán- Việt của Đào duy Anh định nghĩa: “thật ra mặt xung đột”. Từ điển Tiếng Việt 1992 do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa “Quyết liệt: tính từ. Hết sức mạnh mẽ, tỏ ra kiên quyết đến cùng trong hoạt động đấu tranh, chống đối. Cuộc chiến đấu quyết liệt. Chống cự quyết liệt. Thái độ rất quyết liệt.” Hồi đó tôi cho rằng không thể nói  “ Chỉ đạo quyết liệt”, mà “chỉ đạo kịp thời, chỉ đạo cụ thể, chỉ đạo rành mạch”. Nhưng ngày nay cách nói thiếu chính xác này đã trở thành phổ biến trên các phương tiện truyền thông, bởi đó là cách nói của các vị lãnh đạo cấp cao!
Hiện nay có một số từ gốc Hán thường bị dùng sai nếu không cảnh báo sẽ có lúc phải sửa lại từ điển!
-   Từ “yếu điểm” thường bị dùng nhầm với “điểm yếu”, “nhược điểm”. Trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình, sách, kịch…hằng ngày đều nghe thấy từ yếu điểm bị dùng sai. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được nhiều người xem là “một thiên tài ngôn ngữ” (Lời buồn của một người yêu tiếng Việt của nhà báo Hữu Bảo trong tập Rơi lệ ru người). Vậy mà đã có một lần, “thiên tài ngôn ngữ”dùng sai từ này, trong lá thư gửi Dao Ánh ngày 20-2-1965: “Viết quá nhiều để bày tỏ những muộn phiền của mình là một yếu điểm”. Ở đây rõ ràng là ông muốn nói “một điểm yếu”, chứ không phải “yếu điểm có nghĩa  là chỗ trọng yếu”.
-  Từ “mạn phép”. Cách đây nhiều năm, tôi xem tiết mục Chuyện nhỏ trên HTV, nghe MC Thanh Bạch dùng từ “mạn phép” khi công bố điểm của những người chơi sau một vòng. Tôi nghĩ, có lẽ ông muốn tỏ ra khiêm tốn nên đã dùng từ này không chính xác.”Mạn phép là chưa được phép mà đã làm… Chúng tôi đã mạn phép anh xem trước.” (Từ điển Tiếng Việt 1992). Ở đây, anh là người dẫn chương trình, việc anh phải làm là sau một vòng thi phải công bố số điểm của từng người chơi, sao lại phải tự cho là mình mạn phép? Mới đây, xemChuyện nhỏ, tôi vẫn được nghe MC Thanh Bạch dùng từ mạn phép như thế!
- Doanh nghiệp là động từ chỉ “làm các công việc kinh doanh”. Doanh nhân là danh từ chỉ “người làm công việc kinh doanh”. Hai từ này hiện cũng bị dùng nhầm khá nhiều. Trên một tờ báo giới thiệu phim do Việt Trinh lần đầu đạo diễn, nhà báo viết: ”Ông Hân (Đức Tiến đóng) một doanh nghiệp thành đạt, nhưng dường như không lúc nào yên vui…” Lẽ ra phải viết ông Hân là một doanh nhân.
- Những từ kép ghép với chữ “đặc” như đặc biệt, đặc tính, đặc thù, đặc trưng, đặc cách… Đặc có nghĩa là riêng, cho nên khi dùng không cần phải thêm từ riêng thuần việt nữa. Ví dụ, không nên viết “Anh ấy có đặc tính riêng”.
- Một số người cho rằng từ gốc Hán nghe sang trọng hơn từ thuần Việt, nên đã cố bắt chước cách kết cấu của từ kép gốc Hán đã Việt hóa, để đặt ra từ mới gồm một từ gốc Hán với một từ thuần Việt. Ví dụ: gọi cô gái út là “út nữ” để ghi thiếp mời lễ cưới; thay vì đặt tên là Quán cây mai đã đảo lại là Cây mai quán. Dịp mừng giỗ tổ Hùng vương năm nay, trên báo Người Lao Động chủ nhật (1-4-2012) giáo sư tiến sĩ Ngô Đức Thịnh có bài viết nhan đề “Quốc giỗ trong lòng người Việt”. Các từ  Út, Cây mai, Giỗ đều là từ thuần Việt, do đó không thể kết cấu giống như hai từ gốc Hán được. Phải là hai từ đều có gốc Hán mới có thể tạo từ kép như: Thứ nữ, Mai hoa quán, Quốc lễ.
Theo Viet-Studies

Thứ Sáu, ngày 06 tháng 4 năm 2012

Người khai cuộc đổi mới


Cuộc bầu cử ở Myanmar chủ nhật vừa qua đã biến bà Aung San Suu Kyi từ một người tù, một nhà chính trị đối lập, một biểu tượng của dân chủ thành một nhà lập pháp trong một thể chế dân chủ vừa manh nha. Con đường của bà gần như tái hiện cuộc đời của nhà cách mạng huyền thoại, “người tù thế kỷ” Nelson Mandela ở Nam Phi và nhân loại hạnh phúc có những con người vĩ đại như thế.
Tổng thống Myanmar U Thein Sein và bà Aung San Suu Kyi, lãnh đạo phong trào dân chủ 
Nhưng còn có những con người khác đã dũng cảm từ bỏ đặc quyền đặc lợi, từ bỏ cả một hệ ý thức mà họ đã theo đuổi gần trọn đời để bước vào con đường cải cách, đem lại tự do và phẩm giá cho người dân nước mình. Ở Nam Phi, đó là cựu Tổng thống Frederik De Klerk, còn ở Myanmar đó là Tổng thống U Thein Sein – người vừa có chuyến thăm chính thức Việt Nam hồi đầu tháng 3 vừa qua.
Năm nay 66 tuổi, ông Thein Sein từng là một vị tướng đầy quyền lực trong guồng máy cai trị Myanmar, nhưng chỉ trong 12 tháng làm tổng thống, ông đã dẫn dắt đất nước 55 triệu dân đi từ chế độ độc tài quân phiệt sang bình minh của chế độ dân chủ.
Cho đến nay, có rất ít sách vở viết về nhân vật được coi là Mikhail Gorbachev thứ hai này nên ít ai hiểu được sự chuyển biến trong tư tưởng và chính kiến của ông. Theo phóng viên báo New York TimesThomas Fuller, người đã tìm đến ngôi làng Kyonku hẻo lánh cách Yangon 6 giờ chạy xe – sinh quán của vị tổng thống đáng kính này – tư tưởng thân dân, vì dân của ông Thein Sein có gốc rễ trước hết từ hoàn cảnh xuất thân nghèo khó. Là con út trong một gia đình có cha là phu khuân vác ở bến tàu, mẹ là người bán hàng nước trong làng, ông vẫn được dân làng nhớ tới như một người thật thà và hiếu học. Hiện nay làng Kyonku của ông vẫn chưa có nước máy, chưa có đường nhựa mà cũng không nhận được sự ưu ái nào từ người con của làng giờ đây đã là tổng thống.
Không giống những tướng lĩnh khác ít khi ra nước ngoài, ông Thein Sein thường đi Singapore chữa bệnh tim và sang New York dự các hội nghị của Liên hiệp quốc. Những chuyến đi ấy làm ông càng thấm thía sự nghèo khổ và lạc hậu của đất nước mình.
Cơn bão Nargis năm 2008 có vai trò như một “cú hích về nhận thức” của tướng Thein Sein, theo ông Tin Maung Thann, giám đốc tổ chức tư vấn Myanmar Egress ở Yangon. Cơn bão càn quét vùng châu thổ sông Irrawaddy, giết chết 130.000 người, biến một vùng đồng bằng trù phú thành vùng đất chết với những xóm làng xơ xác và xác người trôi nổi khắp các kênh rạch. Với cương vị người phụ trách cơ quan phòng chống thiên tai, trong những chuyến đi thị sát vùng bị nạn, ông Thein Sein nhìn thấy đất nước đáng thương đến thế nào. “Nó làm cho ông ý thức được những hạn chế của chế độ cũ”, ông Maung Thann nói.
Khi nắm được quyền lực trong tay, ông Thein Sein lập tức tiến hành những chương trình cải cách chính trị và kinh tế táo bạo để xóa bỏ các hạn chế đó. “Phải nhổ tận gốc rễ những tàn dư độc ác đã thâm căn cố đế trong xã hội chúng ta”, ông tuyên bố khi lên nhậm chức tổng thống tháng 3 năm ngoái. Ông cam kết xây dựng cơ chế bảo hiểm y tế toàn dân, tăng ngân sách dành cho y tế lên bốn lần và ngân sách giáo dục lên gấp đôi ngay trong năm tài chính 2012. Lúc đó, người ta nghĩ ông nói chỉ để lấy lòng một dân tộc đang khát khao thay đổi sau 5 thập niên dưới sự cai trị quân quản khắc nghiệt và kinh tế đình đốn.
Nhưng những quyết sách sau đó của ông như trả tự do cho hàng loạt tù chính trị, ký kết ngừng bắn với quân nổi dậy sắc tộc Karen, nới lỏng sự kiểm soát báo chí truyền thông, thừa nhận quyền lập nghiệp đoàn của công nhân, công nhận các đảng phái chính trị đối lập, sửa đổi luật về sở hữu đất đai và lao động, khuyến khích tranh luận trong xã hội… làm người ta tin rằng, công cuộc dân chủ hóa đất nước Myanmar đã thực sự bắt đầu.
Hai quyết định có tính chất đột phá của ông là đích thân thuyết phục bà Aung San Suu Kyi trở lại chính trường và đình chỉ việc xây dựng con đập khổng lồ Myitsone do Trung Quốc đầu tư. Hình ảnh ông Thein Sein và phu nhân đến thăm bà Suu Kyi, tha thiết mời nhà dân chủ này ra làm việc nước đã gây được niềm tin rất lớn ở cả trong và ngoài nước Myanmar. Nếu không có sự trọng thị như vậy, chưa chắc các đảng đối lập đã được tái hoạt động và cuộc bầu cử hôm Chủ nhật 1-4 chưa hẳn đã diễn ra suôn sẻ.
Tướng Thein Sein không phải là chính trị gia duy nhất thúc đẩy cải cách trong xã hội Myanmar nhưng ông là người lắng nghe và đáp ứng những khát vọng và mong ước của những người nghèo, giới tu sĩ Phật giáo và những công dân bình thường đã chịu đựng vô vàn đau khổ dưới chính quyền quân quản, khao khát tự do và hội nhập với thế giới bên ngoài. “Là chính phủ do nhân dân bầu lên, chính phủ tôn trọng khát vọng và ước muốn của nhân dân. Chính phủ có trách nhiệm giải quyết những vấn đề mà công chúng lo ngại”,  ông nói với người dân sau khi công bố quyết định đình chỉ dự án thủy điện Myitsone tháng 10 năm ngoái.
Dẫu vậy hiện tiến trình cải cách vẫn còn quá mong manh, tùy thuộc chủ yếu vào cá nhân Tổng thống Thein Sein và một nhóm quan chức có đầu óc cải cách. Trong khi đó, “chúng ta còn nhiều việc phải làm để xây dựng một đất nước mới thật sự dân chủ và thăng tiến những giá trị vĩnh cửu”, ông nói. Nếu kinh tế Myanmar không sớm được cải thiện, nạn nghèo đói có thể làm loãng ý chí chính trị của người đứng đầu và khát vọng tự do có thể bị vùi dập trước thực tế khắc nghiệt.
Huỳnh Hoa
Bài đã đăng TBKTSG, số 15-2012

Chia sẻ cùng người bám biển

Suốt nhiều ngày qua, không chỉ ngư dân huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) mà hàng triệu người Việt yêu nước luôn dõi mắt hướng về vùng biển quần đảo Hoàng Sa – nơi 2 tàu cá cùng 21 ngư dân Lý Sơn đang bị lực lượng chức năng Trung Quốc giam giữ và khăng khăng đòi tiền chuộc.
Nhiều tàu cá nằm bờ tại cảng Sa Kỳ- Quảng Ngãi. Ảnh HDTG
Điều đáng nói, đây không phải là lần đầu tiên mà trong nhiều năm qua, phía Trung Quốc liên tiếp tái diễn hành động bắt giữ, đánh đập, đòi tiền chuộc, lấy tài sản, ngư cụ quăng xuống biển, xua đuổi ngư dân Quảng Ngãi khi đang hành nghề hợp pháp trên vùng biển Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Hành động này không chỉ trái với luật pháp quốc tế, vi phạm những nguyên tắc ứng xử trên biển Đông mà còn lộ rõ mưu đồ của phía Trung Quốc là đe dọa, ngăn cản, làm kiệt quệ về tài chính để ngư dân không dám hoặc không còn tàu, ngư cụ ra Hoàng Sa đánh bắt nữa, đồng thời giăng cái bẫy “tiền chuộc” để tạo chứng cứ thể hiện quần đảo Hoàng Sa là vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc.
Từ bao đời nay ngư dân Quảng Ngãi nói chung và Lý Sơn nói riêng đều xem vùng biển quần đảo Hoàng Sa là nhà, là mảnh đất mưu sinh quen thuộc mà tổ tiên đã để lại. Do vậy, bất chấp ngăn cản, đe dọa từ phía Trung Quốc, lớp lớp ngư dân Quảng Ngãi vẫn quyết chí ra khơi xa, bám giữ ngư trường truyền thống.
Gặp gỡ nhiều ngư dân trẻ ở Quảng Ngãi, họ đều nói rằng tình yêu biển, khát khao chinh phục đại dương luôn cháy bỏng trong tim. “Chỉ có vươn ra khơi xa, bám biển đến cùng mới thực hiện được khát vọng làm giàu từ biển”, thuyền trưởng Trần Hiền – người đang bị phía Trung Quốc giam giữ, đã thổ lộ trong chương trình giao lưu “Ước mơ làm giàu từ biển” do T.Ư Đoàn phối hợp với Tỉnh đoàn Quảng Ngãi tổ chức vừa qua.
Đến từng gia đình 21 ngư dân Lý Sơn bị Trung Quốc giam giữ hơn 1 tháng qua, mới thấu hiểu tình cảnh bi đát mà các gia đình đang gánh chịu. Tâm trạng phập phồng lo âu cho số phận của người thân cùng gánh nặng cơm, áo, gạo, tiền khiến những người mẹ, người vợ sức khỏe suy sụp. Họ lặng lẽ nuốt nước mắt nhìn con thơ chào đời nhưng không thấy mặt cha.
Chia sẻ khó khăn với gia đình những ngư dân có người thân đang bị Trung Quốc bắt giữ trong thời điểm này không chỉ là tình cảm mà còn là trách nhiệm của mỗi công dân nước Việt. Những lời động viên, an ủi, những giúp đỡ về vật chất sẽ làm cho các gia đình ngư dân cảm thấy ấm lòng đồng thời tiếp thêm niềm tin, sức mạnh để những ngư dân trẻ yên lòng bám biển, làm giàu từ biển.
Hiền Cừ
Theo Thanh Niên

Tự do không sợ hãi

Tại cố đô Pagan xứ Miến Điện (Myanmar), giữa hàng chục ngàn bảo tháp, ngôi tháp Manuha có một sự tích đặc biệt. Vua Anawrahta trị vì vương quốc Pagan hùng mạnh nhất trong thời đó đã quy y đạo Phật theo truyền thống Bắc Tông. Ông yêu cầu Manuha, một vị vua người Môn ở phía Nam phải thần phục và cống tiến tam tạng kinh điển Nam Tông; nhưng không toại nguyện. Anawrahta tấn công, bắt Manuha cầm tù, vẫn đối đãi như hàng vương giả. Mấy năm sau Manuha đã xin phép Anawrahta cho mình xây một bảo tháp mới làm nơi thiền định và được chấp thuận. Ngày nay du khách vào thăm di tích Bảo Tháp Manuha tại Pagan được chiêm ngưỡng một tượng Phật nằm rất đẹp. Nhưng ai cũng phải ngạc nhiên là gian phòng bên trong ngôi tháp quá nhỏ, pho tượng Phật như bị bó chặt giữa mấy bức tường kín bưng.
Năm 1059 Vua Anawrahta được mời tới khánh thành ngôi bảo tháp, ông bước vào, chắc cũng phát sinh cảm giác đó. Và ông hiểu ngụ ý của Manuha: Phật cũng như người ta, không thể sống trong tù ngục, không được tự do.
Tổng thống Thein Sein chắc còn nhớ và muốn bắt chước bài học của vua Anawrahta, cho nên ông cũng bắt đầu thả các tù nhân của ông, 60 triệu dân Myanmar, cho họ được sống tự do hơn. Cuối tuần qua, dân Miến Điện đã bỏ phiếu bầu bổ túc 45 ghế đại biểu quốc hội. Họ thật sự được tự do chọn lá phiếu, cho nên đảng đối lập Liên minh Dân tộc Dân chủ (National League for Democracy, NLD) thắng hầu hết các đơn vị; trong đó có bà Aung Sang Suu Kyi. Đảng NLD thắng cả 4 ghế đại biểu ở thủ đô mới lập Naypyitaw, là nơi hầu hết dân cư là công chức lãnh lương chính phủ, và gia đình họ. Nếu chính quyền Thein Sein giả dối vì còn nuôi tham vọng kéo dài chế độ độc tài quân phiệt thì khó có kết quả như vậy.
Dân Myanmar như đã sống lại. Người ta reo hò mừng rỡ. Tại trụ sở đảng NLD, vào buổi tối Chủ Nhật nóng bức, các thanh niên nhẩy múa ngoài đường, đầu tóc họ cũng nhuộm mầu mè như giới trẻ khắp nơi. Các nhà sư đứng ngắm mỉm cười, tay phe phẩy cái quạt. Nhiều gia đình mang theo cả con nhỏ đến ăn mừng: Dân Chủ đã thắng Độc Tài!
Đây là lần thứ ba dân dân Myanmar đi bầu trong nửa thế kỷ. Năm 1962 các tướng lãnh đã cướp chính quyền, dẫn cả nước đi theo một thứ Chủ nghĩa Xã hội bế tắc, như các nước xã hội chủ nghĩa khác. Năm 1990 họ cho dân bỏ phiếu lần đầu, và đảng NLD đã thắng lớn, chiếm 59% số phiếu bầu và 392 trong số 485 ghế đại biểu; mặc dù bà Suu Kyi đã bị bắt giam từ năm trước. Bà từng sống ở ngoại quốc nhiều năm, chỉ về nước năm 1988 để trông nom mẹ già đang bệnh nặng. Đứng trước cảnh nghèo đói và áp bức do chế độ độc tài gây ra cho dân, bà quyết định ở lại cùng đồng bào đứng lên đòi tự do dân chủ. Bà bị giam cầm hơn 15 năm; chính quyền mặc cả sẽ trả tự do nhưng bà phải đi ngoại quốc, bà từ chối. Cứ như thế, chính quyền quân phiệt tiếp tục cai trị Myanmar với một guồng máy tham nhũng và những chính sách ngu dốt, bất lực thêm 20 năm nữa, trong khi đảng NLD bị cấm hoạt động, các người lãnh đạo bị bắt giam. Dưới chế độ độc tài dân Myanmar không có tự do báo chí, không được tự do hội họp; bị cả thế giới văn minh tẩy chay, nhóm người cầm quyền chỉ trông cậy Trung Quốc ủng hộ. Năm 2010, Tướng Thein Sein cởi bỏ áo lính, trở thành vị tổng thống “dân sự” đầu tiên. Chính quyền tổ chức bàu cử lần thứ nhì, nhưng đảng NLD tẩy chay không dự vì bà Suu Kyi vẫn bị cấm tranh cử.
Thein Sein đã bầy tỏ thiện chí dân chủ hóa bằng nhiều bước, để thuyết phục phe đối lập và thế giới là tiến trình dân chủ hóa là một sự thực, chứ không phải chỉ có bề ngoài để được các nước Tây phương bãi bỏ phong tỏa kinh tế. Ông đã trả tự do cho bà Suu Kyi và các lãnh tụ đối lập. Cho báo chí được tự do, ngưng kiểm soát cả internet. Làm luật cho dân được phép biểu tình; công nhân được phép đình công, và được tự do thành lập công đoàn. Mỗi bước của chính quyền Thein Sein được bà Suu Kyi và các nước Tây phương đáp lại bằng hành động hợp tác tương ứng.
Từ năm ngoái, Myanmar bắt đầu sống trong một không khí chính trị mới, trong tinh thần tin cậy và hợp tác. Bà Suu Kyi xứng đáng là người lãnh đạo khi thẳng thắn và thành tâm cộng tác với những kẻ đã giam cầm mình. Bà nói với các đồng chí đã bị tù đầy: “Chúng ta không thể quên quá khứ. Nhưng không nên chỉ nhớ về quá khứ để nuôi hận thù.” Bà công nhận trong chính quyền quân phiệt cũng “có những người muốn làm điều có ích lợi cho quốc gia.” Không phải ai trong bọn họ cũng muốn dân chủ hóa, “Nhưng trong phong trào dân chủ có phải ai cũng muốn cộng tác với họ đâu? Đó là điều bình thường trong chính trị.”
Thái độ ngay thẳng, chân thành và đức độ của bà Suu Kyi là nền tảng giúp cho dân tộc Myanmar bắt đầu xây dựng dân chủ. Điều gì đã khiến bà sẵn lòng cộng tác với một chế độ đã bỏ tù mình và đàn áp dân như vậy? Vì bà không sợ hãi. Năm 1990, Suu Kyi đã viết một bài chính luận: Tự do không sợ hãi.
Suu Kyi nhìn lại các đồng bào của mình, bà nói: Người dân Miến Điện nào cũng biết có bốn con đường lầm lạc, a-gati. Thứ nhất là Chanda-gati, sai lầm do lòng Tham. Dosa-gati do Sân hận. Moga-gati do ngu si. Nhưng tai hại nhất là sai lầm vì Sợ: Bhaya-gati. (Bốn đường tà này cũng tương tự “Bốn mũi tên độc” trong truyền thống Bắc Tông: Tham, Sân, Si và Mạn). Suu Kyi ca ngợi Thánh Gandhi: Cống hiến lớn lao nhất của Gandhi cho dân tộc ông là khơi dậy tấm lòng không sợ hãi. Gandhi đã tìm học lại truyền thống Ấn Độ, và nhận ra, “Thiên khiếu lớn nhất của một cá nhân hay một dân tộc … là abhaya, tấm lòng không sợ hãi.”
Áp dụng vào hoàn cảnh dân tộc Miến Điện đang chịu cách áp bức, bất công, bà nói: “Chúng ta có thể đều có những hạt giống không sợ hãi, nhưng đáng quý hơn nữa là có được tấm lòng can đảm nhờ rèn tập, không để cho lòng sợ hãi chi phối các hành vi của mình… Trong một chế độ từ chối không công nhận các quyền căn bản của con người, sợ hãi dễ trở thành một thói quen bình thường. Tai hại nhất là người ta che đậy lòng sợ hãi của mình, biến thành một thái độ thường tình, có khi lại coi là khôn ngoan. Người ta sẽ chê bai những người dũng cảm là khờ dại, là liều lĩnh, khi họ biểu lộ những hành động can đảm, dù nhỏ nhặt, để bảo vệ phẩm giá con người và lòng tự trọng.”
Suu Kyi ca ngợi các sinh viên biểu tình trong những năm 1988, 89, vì họ muốn xã hội phải có luật pháp công bằng. “Pháp luật công bình không phải chỉ ngăn không cho người dân bị đối xử oan ức. Chúng còn giúp nuôi dưỡng một xã hội trong đó mọi người có thể được hưởng những điều kiện căn bản tối thiểu để bảo vệ phẩm giá con người …” Cuộc cách mạng quan trọng nhất, Suu Kyi nói, là một cuộc cách mạng tinh thần; do “Một cuộc cách mạng nếu chỉ nhắm thay đổi các chính sách và định chế chính trị để cải thiện đời sống vật chất thì khó thành công đích thực.”
Cuộc cách mạng mà Suu Kyi theo đuổi đang bắt đầu. Đảng cầm quyền của các vị tướng và tướng về hưu vẫn chiếm đa số trong quốc hội gồm 664 ghế; trong đó hiến pháp giành một phần tư số đại biểu cho các ông tướng chọn. Đảng NLD sẽ đóng vai đối lập với một số ghế rất nhỏ. Nhưng đây vẫn là một thắng lợi. Không riêng gì cho bà Suu Kyi mà cho toàn thể 60 triệu dân. Bước đầu tiên trên tiến trình dân chủ hóa đã thành công. Ba năm nữa, quốc hội sẽ được bầu lại, và lúc đó hy vọng sẽ dân chủ hóa thực sự.
Một điểm đáng khen ngợi phe các tướng lãnh là họ đã ý thức được là không thể nào kéo dài chế độ độc tài mãi mãi. Khi ngay ở thế giới Á Rập cách mạng cũng bùng lên thì phong trào dân chủ sẽ còn lan rộng mãi. Họ nhận ra quyền lợi của chính họ và gia đình họ chỉ được bảo đảm lâu dài nếu mọi người Miến Điện được sống trong một xã hội với luật pháp công bằng. Mà muốn được như vậy, chỉ có một cách là mở con đường xây dựng một thể chế dân chủ tự do.
Giới quân phiệt cũng chỉ thay đổi thái độ dưới áp lực của dân chúng biểu tình chống Trung Quốc. Trung Quốc đã lôi kéo được chính quyền quân phiệt rơi vào quỹ đạo của họ. Các công ty Trung Quốc tha hồ khai thác mỏ, rừng, đá quý của Myanmar. Họ mở các hải cảng và quân cảng trong vùng vịnh trông qua Ấn Độ. Họ khai thác dầu, khí của Myanmar, lại đặt ống dẫn dầu kéo qua xứ này để chuyên chở dầu nhập cảng từ Trung Đông và Phi châu về thẳng Vân Nam, khỏi qua eo biển Malacca. Dân Myanmar bất mãn đã đặt bom phá đập thủy điện Myitsone vào tháng 10 năm 2010. Năm sau, chính quyền quân phiệt phải đình chỉ dự án trị giá 3.6 tỷ đô la này, để chứng tỏ họ biết chiều theo ý dân. Đó cũng là một tín hiệu đưa ra để được bà Suu Kyi tin tưởng rằng họ cũng là những người yêu nước. Chế độ quân nhân ở Myanmar tuy cũng đàn áp dân nhưng họ không phá hủy nền văn hóa cổ truyền. Các lãnh tụ quân phiệt vẫn đi lễ chùa, cùng dường chư tăng, chứ họ không tôn thờ một chủ nghĩa duy vật ngoại lai nào. Vì vậy, người ta còn sẵn lòng tin nhau.
Nhưng điều đáng lo ngại là hiện nay cả diễn trình dân chủ hóa tùy thuộc vào hai cá nhân. Bà Suu Kyi đã 66 tuổi, mới bị xỉu ba lần trong thời gian đi vận động tranh cử. Ông Thein Sein cũng 67 tuổi, đang bị bệnh tim. Vì hai người này tin ở thiện chí và tình yêu nước của người kia, cho nên mọi việc tiến hành tốt đẹp. Nếu một trong hai người qua đời trong năm, ba năm sắp tới thì không biết con đường dân chủ hóa sẽ ra sao? Trong hàng ngũ tướng lãnh vẫn có những người bảo thủ, ngoan cố. Như Suu Kyi nói năm 1990: “Không phải quyền hành làm người ta thối nát, mà là lòng sợ hãi. Những người đang nắm quyền sợ mất quyền. Những người đang run sợ trước cường quyền cũng bị nỗi sợ làm đồi trụy.” Cho nên, bà công nhận: “Con đường trước mặt còn đầy khó khăn. Con đường dân chủ hóa sẽ rất dài.”
Xây dựng một đất nước là con đường rất dài. Vào thế kỷ thứ 11, Vua Anawrahta đã hòa giải với Vua Manuha. Sau đó sắc dân dựng lên vương quốc Pagan, gốc Tầy Thái từ Vân Nam tới, đã chung sống hòa hợp với dân Môn, một sắc tộc Nam Á vốn chung gốc rễ với người Khmer, người Mã Lai (và một phần cả người Việt Nam thời cổ). Họ đã xây dựng một nền văn minh mới, tổng hợp các thành tựu của nhiều giống dân, tất cả cùng theo Phật Giáo Nam Tông, tạo thành dân tộc Miến Điện sau này. Tương lai dân tộc Miến Điện trong thế kỷ 21 sẽ là con đường dân chủ hóa. Đường còn xa, nhưng chắc họ không sợ, vì đã có một nền tảng tinh thần vững chắc.
Ngô Nhân Dụng
Theo DĐTK

Thứ Năm, ngày 05 tháng 4 năm 2012

Luận cái “Tam đoạn luận” của Bộ trưởng Đinh La Thăng


“Tam đoạn luận” của Bộ trưởng Đinh La Thăng1- Hiện có 280.000km đường bộ, Nhà nước là chủ đầu tư tất cả.
2- Hiện mới chỉ thu phí được 2.500km, còn những 277.500km đường chưa thu phí gì cả.
3- Vậy, nay phải thu mà thôi…

Sau hai cuộc họp báo tập trung vào đề xuất thu phí của Bộ Giao thông vận tải (GTVT), một số đại biểu Quốc hội cho rằng Bộ trưởng Đinh La Thăng tuy rất nhiệt tình nhưng đang có sự nhầm lẫn.
Người dân đã nộp nhiều loại phí nhưng vẫn phải “mua đường” khi qua các trạm thu phí. Trong ảnh: trạm thu phí xa lộ Hà Nội (TP.HCM)- Ảnh: Minh Đức
PGS.TS Bùi Thị An (đại biểu Hà Nội): Rõ ràng phí chồng lên phí
Đúng là Quốc hội đã ra nghị quyết đồng ý với các nhóm giải pháp đồng bộ của Chính phủ nhằm giảm thiểu tai nạn, ùn tắc giao thông, trong đó có tính đến việc thu phí lưu hành đường bộ. Tôi thấy rằng vừa qua thực hiện chủ trương này, Chính phủ đã ban hành nghị quyết và tới đây sẽ thu phí sử dụng đường bộ để lập quỹ bảo trì đường bộ theo đúng quy định của Luật đường bộ. Đây là loại phí thu trên đầu phương tiện, bộ trưởng Bộ GTVT cũng đã giải thích mục đích của phí này là để duy tu, bảo trì, nâng cấp hệ thống đường bộ, cho xe cộ lưu hành tốt hơn.
Trả lời báo chí về mục đích của phí hạn chế phương tiện cá nhân mà Bộ GTVT đang đề xuất, Bộ trưởng Đinh La Thăng cũng nói là nhằm nâng cấp, xây dựng hạ tầng giao thông để xe đi lại được thuận tiện hơn. Như vậy, xét về mục đích và tính chất thì cả hai loại phí trên đều là phí lưu hành phương tiện, nếu thu cùng lúc hai loại phí này tức là “phí chồng lên phí” chứ còn gì nữa. Cách giải thích rằng không có chuyện phí chồng phí là nhầm lẫn.
Ôtô hay xe máy cũng đều là phương tiện để người dân lưu hành, để làm việc, mưu sinh. Như vậy, anh đề xuất thu phí với mức cao như thế mà cứ nói rằng nó chỉ ảnh hưởng đến một bộ phận là không đúng. Ngay cái tên phí cũng cho thấy chỉ là giải pháp tình thế, đã là tình thế thì không giải quyết được căn bản. Giải pháp căn bản là quy hoạch tổng thể, hạ tầng và phương tiện công cộng phát triển đồng bộ. Nhưng trong điều kiện thế này, phương tiện công cộng khả dĩ nhất là xe buýt lại quá tải, còn tàu điện trên cao, tàu điện ngầm chưa có, vậy người dân đi bằng phương tiện gì nếu không sử dụng xe cá nhân?
Nhà sử học Dương Trung Quốc (đại biểu Đồng Nai): Nhầm lẫn khái niệm “thuế” và “phí”
Trước hết, tôi ủng hộ tinh thần xông pha của ông Đinh La Thăng vì ông ấy phải gánh một nhiệm vụ nặng nề mà nhiều đại biểu Quốc hội nói là đã đến tình trạng khẩn cấp. Nhưng tôi muốn nói rằng một khi đã đi vào những giải pháp cụ thể mang tính pháp lý thì cần phải có sự chính xác và tính thuyết phục cao.
Từ đề xuất thu của Bộ GTVT, tôi thấy rằng họ đang có sự nhầm lẫn giữa các khái niệm “thuế”, “phí” và “phạt”. Khái niệm phí đã được nêu trong pháp lệnh phí và lệ phí rất rõ ràng rằng phí là tiền mà cá nhân, tổ chức phải trả khi sử dụng dịch vụ của tổ chức, cá nhân khác… Nghĩa là tôi sử dụng dịch vụ nào, tôi trả tiền cho dịch vụ ấy và nó có định lượng, nghĩa là tôi đi xe nhiều thì trả nhiều, đi ít thì trả ít.
Chẳng hạn, tôi có mấy chiếc xe hơi và đây là quyền tài sản của tôi, nhưng mỗi ngày ra đường tôi chỉ đi một xe, anh không thể thu phí cả mấy chiếc xe đó được. Càng không thể gọi nộp phí là yêu nước. Phí là một thứ tiền phải trả khi sử dụng dịch vụ, có gì mà gọi là yêu nước. Gọi nộp thuế là yêu nước mới đúng.
Tôi mua một chiếc xe, sau khi nộp các loại thuế đã gấp hơn hai lần một chiếc xe tương tự ở Mỹ, như vậy tôi đã đóng góp các khoản thuế để xây dựng đất nước rồi. Nếu mục tiêu là để hạn chế phương tiện cá nhân, việc đánh thuế cao là thực hiện mục tiêu này rồi. Bây giờ không thể gọi cái khoản thu hạn chế phương tiện như vậy là phí được.
Một điều nữa, anh đưa ra mức phí ngất ngưởng như vậy, trong khi mặt bằng thu nhập xã hội thế nào? Anh gọi tên phí là hạn chế phương tiện cá nhân thế sao anh không đề xuất thu đối tượng xe công? Nếu anh khẳng định cần phải hạn chế xe cá nhân để giảm ùn tắc, đồng thời anh dám khẳng định phương tiện công cộng đáp ứng được nhu cầu, anh vẫn phải đánh thuế vào xe công để khuyến khích các quan chức nhà nước phát huy tính tiên phong, gương mẫu đi lại bằng phương tiện công cộng chứ?
Tôi cho rằng tình hình cấp bách nhưng phải thận trọng khi đưa ra giải pháp, đừng nghĩ cái khoản thu của 600.000 người có xe mà anh gọi là giàu hơn người nghèo là ít tác động đến xã hội, đó là chưa nói đến việc anh thu cả người có xe máy.
 Lê Kiên ghi
Phí bảo trì đường bộ: Cao nhất 1,4 triệu đồng/tháng
Bộ GTVT vừa gửi Bộ Tài chính dự thảo các thông tư liên tịch hướng dẫn chế độ thu, quản lý và sử dụng quỹ bảo trì đường bộ (quỹ bảo trì). Theo đó, Bộ GTVT đưa ra mức thu phí sử dụng đường bộ cho quỹ bảo trì đối với ôtô theo tám nhóm (mức thu từ 180.000 – 1,44 triệu đồng/tháng). Đối với môtô, xe máy, bộ đề xuất khung mức thu phí theo bốn nhóm (thấp nhất là 80.0
00 đồng/năm, cao nhất 180.000 đồng/năm) và đề nghị UBND cấp tỉnh quyết định mức thu trong khung mức phí trên cơ sở nghị quyết của HĐND. Thời gian bắt đầu thu phí từ ngày 1-6-2012.
Theo tính toán của Bộ GTVT tại đề án quỹ bảo trì đường bộ trình Chính phủ trước đây, dự tính số tiền thu từ đầu ôtô đạt hơn 6.800 tỉ đồng/năm; số tiền thu được từ 50% số môtô, xe máy đã đăng ký đạt 2.400 tỉ đồng.
TUẤN PHÙNG

“Tam đoạn luận” của Bộ trưởng Đinh La Thăng
“Hiện nay đường bộ VN có khoảng 280.000km, nhưng mới thu được qua trạm thu khoảng 2.500km, bằng 0,7%. Do đó phần lớn đường Nhà nước bỏ ra đầu tư thì chưa thu phí”. Sở dĩ Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Đinh La Thăng nói như thế là vì cái tam đoạn luận sau:
1- Hiện có 280.000km đường bộ, Nhà nước là chủ đầu tư tất cả.
2- Hiện mới chỉ thu phí được 2.500km, còn những 277.500km đường chưa thu phí gì cả.
3- Vậy, nay phải thu mà thôi…
Ông bộ trưởng quên hẳn định nghĩa phổ quát nhất của đường sá là:
1/ đường có thu phí (toll) tức đường (cầu, đường hầm) do tư nhân hay nhà nước xây mà người lái xe khi sử dụng phải đóng phí;
2/ đường không thu phí (non-toll road) được xây từ nguồn tài chính sử dụng những nguồn thu khác, mà tiêu biểu nhất là thuế nhiên liệu hoặc nguồn thuế nói chung – những sắc thuế này ở VN đã thu đầy đủ.
Định nghĩa trên không có gì mới hoặc xa lạ ở VN, nhất là vế thứ nhì, đường không thu phí. Từ hơn trăm năm qua tính từ thời Pháp thuộc, “cha đẻ” hệ thống đường sá này, cho đến ngày nay hệ thống đường bộ ở VN đã được hình thành, xây dựng, sử dụng, duy trì trên cơ sở đường của Nhà nước và miễn phí, do lẽ Nhà nước đã thu thuế rồi.
Một trăm mấy mươi năm qua, ở VN đường sá được định nghĩa và sử dụng như thế, thu chi ngân sách quốc gia cũng vận hành trên cơ sở này. Đó không phải là một “độc đáo VN” mà là phổ quát toàn cầu qua hai thực thể đường không thu phí (Nhà nước đã thu thuế rồi) và đường thu phí (cung cấp lợi ích và tiện nghi bổ sung cần phải trả tiền).
THIÊN DI
Theo Tuổi Trẻ
* Tựa bài của HDTG, không phải tựa gốc trên Tuổi Trẻ.

Văn minh và lạc hậu của người Việt Nam


Sau gần 30 năm mở cửa và 32,5 tỷ Mỹ kim nợ nước ngoài (tính đến hết năm 2010), Việt Nam đã xây dựng được khá nhiều những công trình hạ tầng cơ sở lớn. Những bến phà chậm chạp gây tắc nghẽn lưu thông đã gần như hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho những cây cầu vĩ đại bắc ngang sông Tiền, sông Hậu, sông Hồng, sông Hàn… Hầm Thủ Thiêm, xa lộ Đông Tây, và những cao ốc tân kỳ đã biến Sài Gòn thành một thành phố hào nhoáng và văn minh không thua kém các thành phố lớn khác ở Thái Lan, Mã Lai, Phi líp pin, Nam Dương…
Tuy nhiên, bên trong cái bề ngoài văn minh hiện đại đó là những con người với một thói quen không hề thay đổi từ thời tiền sử: thói quen xả rác bừa bãi. Việt Nam có lẽ là một trong những nước đang phát triển duy nhất trên thế giới nơi người dân thản nhiên vất rác ra tất cả mọi nơi công cộng, bất kể đó là nơi du lịch, thờ cúng, sông suối, đường phố, công viên… Gần như tất cả các sông ngòi, kênh lạch, ao hồ, đặc biệt những kênh lạch chảy qua khu đông dân cư, đều ngập rác. Tất cả những quán ăn, trừ quán ăn dành riêng cho người ngoại quốc, đều ngập rác vì thực khách Việt Nam bất kể giàu nghèo, sang, hèn, trí thức hay thất học, đều có chung thói quen nhè xương, xả rác, vất khăn giấy, xuống nền nhà, mặc dù rất nhiều tiệm có trang bị mỗi gầm bàn ăn một cái sọt rác. Trên đường phố rất thường thấy cảnh những người đi xe ô tô máy lạnh sang trọng thản nhiên quay kính xe vứt từng bọc rác xuống đường. Thê thảm nhất là những công viên ở các thành phố lớn sau các buổi lễ hội: rác ngập lên như thể các nơi đó vừa trải qua một trận cuồng phong.
Việt Nam là một dân tộc tự hào, vì vậy ngày càng có đông người Việt có cảm giác khó chịu với thói quen xả rác vô tội vạ, tuy vậy, đề cập đến vấn nạn này tất cả mọi người Việt đều có một nhận định giống nhau: “người mình kém ý thức” thế là hết chuyện! Làm như thể người Nhật, người Sing, người Đức, người Mỹ… sinh ra đã “có ý thức”. Đây là một nhận định sai lầm và nhận định sai lầm này giải thích tại sao đến thế kỷ 21 người Việt Nam vẫn xả rác vô tội vạ y như tổ tiên của chúng ta trong thời ăn lông ở lỗ.
Sự thực là tất cả mọi dân tộc, không kể là Á hay Âu, đầu xuất phát giống nhau, chúng ta đều đái đường, xả rác y như nhau. Paris, London, New York… cuối thế kỷ 19 còn đầy rẫy những khu nhà ổ chuột, kênh rạch hôi thối, và chỗ nào cũng ngập rác. Singapore, thành phố sạch nhất thế giới đến giữa thế kỷ 20 còn kinh khủng hơn vì người Tàu và người Ấn ở đó, ngoài thói quen xả rác và đái đường còn có thêm tật khạc nhổ bừa bãi nơi công cộng. Thói quen này là thói quen của toàn thể dân tộc Tàu vào thời đó. Khi Chu Ân Lai tiếp đặc sứ Kissinger vào năm 1971, đại sảnh đường Nhân Dân ở Bắc Kinh còn được trang bị những ống nhổ để các lãnh tụ Trung quốc khạc đờm vào trong khi tiếp khách.
Mặc dù xuất phát giống nhau, từ đầu thế kỷ 20, các dân tộc phát triển đã dần dần xoá bỏ được những thói quen lạc hậu của thời thượng cổ. Phương pháp của tất cả các nước đều giống nhau, đó là phương pháp Nhận thức Hành vi (Cognitive behavioral). Trái với các phương pháp tham vấn tâm lý có từ trước, điển hình là phương pháp phân tâm vốn chú trọng những nguyên nhân sâu xa của vấn đề để tìm ra giải pháp, phương pháp Nhận thức Hành vi không đếm xỉa gì đến nguyên nhân xa gần mà chỉ tập trung thưởng phạt để thay đổi hành vi của con người. Dấu ấn của phương pháp này rẫy đầy trong xã hội: bạn vượt đèn đỏ, cảnh sát sẽ cho bạn giấy phạt bất kể lý do hôm đó bạn bị nhức đầu hoa mắt không thấy rõ đèn đỏ hay bạn đang đau bụng cần về nhà đi vệ sinh gấp… Chính vì sợ bị phạt, bạn không dám vượt đèn đỏ. Một thí dụ khác: đứa bé ngoan, được cha mẹ khen, nó sẽ tiếp tục ngoan để được khen nữa. Đây chính là biện pháp Hành vi. Biện pháp này có hiệu quả rất nhanh nhưng không bền: khi hành vi thưởng phạt không còn nữa hiệu quả sẽ có thể biến mất. Vì vậy người ta đã thêm phần “Nhận thức” (Cognitive) vào để thay thưởng phạt đến từ bên ngoài bằng thưởng phạt đến từ bên trong, tức là từ ý thức về cái đúng cái sai của bản thân: trước đây người ta phạt nặng để quần chúng sợ không dám xả rác bừa bãi (đây là thưởng phạt từ bên ngoài, extrinsic motivation) dần dần biện pháp giáo dục làm người ta tự ý thức, tự khinh bỉ hành vi xả rác (đây là thưởng phạt từ bên trong bản thân con người, intrinsic motivation), chỉ khi đó hành vi xả rác bừa bãi mới vĩnh viễn xoá bỏ được trong đại đa số công dân.
Thói xấu xả rác bừa bãi của người Việt Nam sở dĩ đến thế kỷ 21 vẫn chưa giải quyết được không phải vì người dân Việt kém ý thức mà vì chính quyền Việt Nam kém ý thức. Nhận xét này có thể làm các quan chức trong chính quyền không hài lòng, tuy nhiên, khoa công quyền học đề ra trách nhiệm rất cao cho chính quyền: xã hội được ổn định, dân chúng được an sinh, đất nước được phát triển, ấy là nhờ chính quyền. Ngược lại, là lỗi của chính quyền. Chính quyền Việt Nam đã khá thành công trong việc xây dựng được một hạ tầng cơ sở văn minh cho nước Việt Nam, đã xoá được những thói xấu thuộc về văn hoá lâu đời tưởng chừng không thể nào xoá được như tục đốt pháo; đã thay đổi được thói quen nguy hiểm của toàn dân khi đi xe máy không đội mũ bảo hiểm; đã cơ bản xoá được nạn mù chữ kinh niên trên toàn quốc từ năm 1945 bằng biện pháp đơn giản nhưng nghiêm ngặt: ai không biết chữ không được vào chợ… Chính quyền cũng đã bỏ ra rất nhiều công sức, huy động rất nhiều tài nguyên vào công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động người dân không xả rác; mùa hè nào các đoàn thể thanh niên sinh viên học sinh trên khắp các tỉnh thành cũng tổ chức mùa hè xanh sạch đẹp, huy động hàng ngàn lao động vào việc quét dọn, thu gom rác. Thành phố nào cũng dành ngân sách thuê mướn đội ngũ công nhân vệ sinh đông đảo. Tuy nhiên, vài chục ngàn người quét rác thấm vào đâu so với 85 triệu người xả rác?
Vấn đề là ở Việt Nam chính quyền chỉ chú trọng nhiều vào việc tuyên truyền, giáo dục, vận động, chấm hết. Phần quan trọng nhất là chế tài không được chú trọng đúng mức, nghĩa là cũng có đề ra nhưng không thực thi một cách rốt ráo và nghiêm chỉnh. Đây là sự khác biệt giữa thành công và thất bại. Nếu chính quyền chỉ tuyên truyền giáo dục vận động người dân đội mũ bảo hiểm, chắc chắn sẽ rất ít người chịu làm điều này dù nó liên quan đến tính mạng con người. Cái làm toàn dân, từ thành phố đến làng thôn, tất cả đều đội mũ bảo hiểm là từ sau ngày 15/12/2007 chính quyền cương quyết phạt những người vi phạm luật này.
Tất cả các nước phát triển đều xoá được nạn xả rác bừa bãi bằng cách giống nhau, đó là phương pháp Nhận thức Hành vi: tuyên truyền, giáo dục, vận động và phạt nghiêm khắc, rốt ráo. Hiện nay mặc dù ở các trường mẫu giáo, trẻ em Việt Nam đã được dạy không xả rác, tuy nhiên vì các cháu không được thực tập hành vi này trong cuộc sống, mọi người lớn chung quanh vẫn xả rác vô tư, không bị trừng phạt nào, bài học dần dần bị lãng quên. Có cháu ngồi sau xe máy hỏi mẹ “Con uống sữa hết rồi vứt hộp đi đâu mẹ?” Mẹ vừa phóng xe vừa quát “Vứt xuống đường chứ vứt đi đâu?”
Kết quả là một hành vi rất nhỏ bé, rất dễ làm, không khó khăn, không hao tổn công sức mà bất cứ công dân nào, từ 3 tuổi trở lên ở các nước phát triển đều làm được, ấy là cất mẩu giấy rác vào túi cho đến khi gặp được cái thùng rác, nhưng đại bộ phận người Việt Nam vẫn không làm nổi, vẫn ngang nhiên nhè xương, xả rác xuống sàn tiệm ăn, vẫn quăng rác ra ngoài cửa xe, xuống ao hồ, sông suối…, gây ra biết bao nhiêu tốn kém cho công tác làm sạch môi trường và sự khinh bỉ của số đông du khách nước ngoài đang ngày càng đông đảo kéo đến để chiêm ngưỡng những kỳ quan tuyệt vời mà tạo hoá đã ban cho chúng ta.
Vấn đề ô nhiễm môi trường, xử lý chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp là vấn đề lớn, liên quan đến sống còn của dân tộc và thuộc trách nhiệm của chính quyền trung ương. Xả rác bừa bãi là vấn đề nhỏ, thuộc trách nhiệm của chính quyền địa phương, tuy nhiên nó là ranh giới giữa văn minh và lạc hậu, là sĩ diện của cả dân tộc. Cách giải quyết vấn đề xả rác bừa bãi hiện nay sẽ không bao giờ giúp chúng ta xóa được thói xấu cực kỳ vô văn hoá này. Chỉ có cách làm như các quốc gia khác: chính quyền các tỉnh, thành phố, thị trấn, cung cấp đầy đủ các thùng rác nơi có đông người qua lại, và quyết tâm thi hành luật cấm xả rác nơi công cộng, thí dụ nghiêm khắc phạt các chủ tiệm nếu để khách xả rác xuống nền nhà. Đây là cách các quốc gia phát triển đã làm vì họ không thể phạt từng người dân xả rác. Bằng cách phạt chủ tiệm, chính quyền các địa phương có được hàng ngàn công nhân vệ sinh hoạt động rất hiệu quả mà công quỹ không tốn một xu: ấy là các chủ tiệm ăn, họ sẽ phát huy sáng kiến để vừa giữ được khách vừa không bị phạt. Các sáng kiến của giới chủ tiệm ăn kèm theo công tác tuyên truyền vận động giáo dục của chính quyền sẽ dẫn đến đồng thuận của quần chúng và thói quen thô lỗ xả rác nhè xương xuống sàn sẽ chắc chắn xóa bỏ được. Các cháu trẻ em Việt Nam sẽ được thực hành bài học bảo vệ môi trường cô giáo đã dạy từ mẫu giáo.
Thành quả này sẽ tạo ra được một niềm tự hào mới cho dân tộc Việt, cũng như uy tín cho chính quyền, để từ đó chúng ta xoá tiếp những thói quen lạc hậu khác như thói xếp hàng ngang, thói hút thuốc lá nơi công cộng, thói chạy xe vô kỷ luật, v.v… Chỉ khi đó người Việt Nam mới có thể được xếp vào hàng ngũ những dân tộc văn minh và phát triển trên thế giới.
Trần Đình Tuấn

Nên hạ gấp mức nước đập Sông Tranh 2 ! (*)


Vài khái niệm cần biết

Trước khi vào đề, tôi xin phép nhắc lại đây vài danh từ, định nghĩa, công thức căn bản cần thiết.
Đứng về phương diện kỹ thuật, tất cả những loại đập trên thế giới có thể xếp gọn vào hai họ (famille) đập chính, tùy theo bản chất của phản ứng đối với lực đẩy của nước (poussée de l’eau).
  • Đập trọng lực (barrage poids ou gravité) : phản lực của trọng lượng.
  • Đập vòm (barrage voûte) – dày (voûte épaisse), mỏng (voûte mince) : phản lực ở hai bên bờ.
Như thế có nghĩa là đập trọng lực (Sông Tranh 2, Sơn La,) cần một nền móng (fondation) hết sức vững chắc và đập vòm cần đá núi hai bên bờ hết sức cứng rắn.
Tùy địa chất, chiều dài đập trọng lực có thể lớn, nhưng chiều dài (dây cung) của đập vòm phải ngắn (effet d’arc : hiệu ứng dây cung).
Đập trọng lực có thể làm bằng đất và/ hay đá (Đanhim và nhiều đập khác của ta đang vận hành) hoặc bê tông (Sông Tranh 2).
Lực đẩy của nước tỷ lệ với chiều cao H2 của mực nước trong hồ, (dung tích hồ nước không có ảnh hưởng như có người tưởng).
Công suất thô (puissance brute) của nhà máy thủy điện là :
(1) Pt = 9,81 Q x Ht
Pt (công suất) = kW, Q (lưu lượng) = m3/s , Ht (chiều cao thác nước) = m
Tiềm năng của hồ nước là :
(2) W = Vu x Ht/367 (3600 / 9,81= 367) (1 kWh = 3600 kjoules)
W (sản lượng điên) = kWh, Vu (dung tích hồ nước) = m3
Muốn dễ nhớ, lấy hiệu suất tổng quát rất thấp 0,73, thì con số 367 trở thành 500 (367/ 500 = 0,73)
Như thế ta có thể định nghĩa 1 kWh thủy điện là năng lượng do 1 m3 nước rơi từ độ cao 500 m xuống đất hay 500 m3 nước rơi từ độ cao 1 m.

Tiềm năng thủy điện Viêt Nam

Dựa trên công thức (2) này, ta có thể từ từ đi đến việc ước tính tiềm năng thủy điện của một nước và luôn cả thế giới. Tiềm năng thủy điện của Việt Nam và Pháp có thể xem như tương đương với nhau :
Việt Nam
Pháp
Tiềm năng lý thuyết (TWh)
300
270
Tiềm năng kỹ thuật (TWh)
80
100
Tiềm năng kinh tế (TWh)
52-70
72
Vì vấn đề môi trường và di tản của dân chúng, tiềm năng thủy điện kinh tế, tương đối, khó ước lượng chinh xác.
Trong nhiều năm qua, tỷ lệ thủy điện và điện khí của nước ta trong lượng điên sản xuất rất cao, lên đến 40% -50%. Công suất thiết kế thủy điện hiện nay là 9200 MW.
(Điều cần nhớ là, đối với các nhà máy thủy điện, phải lý luận với sản lượng điện bình quân hàng năm (TWh hay tỷ kWh) thay vì công suất đặt MW. Thiết kế những tổ máy lớn mà hay thiếu nước cho tua bin chạy cũng vô ích và phí của. Số giờ vận hành mỗi năm tùy thời tiết là chủ yếu. Sơn La có thể vận hành trung bình 4165 giờ / năm hơn Hòa Bình).
Tuy nhiên, tỷ lệ thủy điện Việt Nam sẽ xuống dần : 33,6% năm 2015, 26,6% năm 2020, 15,3% năm 2030 cũng như điện khí và dầu ( 24,9%, 19,6%, 12,7% ). Ngựơc lại, tỷ lệ điện than sẽ tăng lên ( 35,1%, 44,7% , 56, 1% ) !

Đập Sông Tranh 2 bị đe dọa hết sức nghiêm trọng

Đập Sông Tranh 2, cách Tam Kỳ (Quảng Nam) 60 km, là một đập trọng lực bê tông đằm lăn (RCC gravity), có chiều cao 96 m, dài 640 m. Với một diện tích thủy vực 11000 km2, dung tích hồ chứa 730 triệu m3 nước, thuộc loại lớn nhất miền Trung. Công suất thiết kế 2 tổ máy thủy điện là 190 MW. Vốn đầu tư trên 5000 tỷ đồng. Công trình bắt đầu hoạt động vào cuối năm 2010. Từ cuối năm 2011, người ta đã phát hiện các vết nứt, rò rỉ trên thân đập. Kỹ thuật bê tông đầm lăn, ít hao nước và xi măng, xuất hiện vào năm 1978, với mục tiêu làm giảm kinh phí và thời gian xây cất, nhưng dễ gây tai nạn nếu thi công cẩu thả, không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật.
Cứ 20 m chiều dài thân đập, có một khe nhiệt, thiết kế theo chiều thẳng đứng. Giữa hai khe có các ống thu nước. Nguồn tin cho biết, trong số 30 khe nhiệt có nhiều khe bị lỗi kỹ thuật vì làm lệch trong quá trình thi công và một số ống thoát của khe nhiệt bị tắc, gây rò rỉ (trên 30 lit/giây). Theo Bộ xây dựng màng thu nước của đập có vấn đề nên nước vượt qua màng thu và lan ra ngoài theo các khe co giản.
Bộ xây dựng cũng vừa cho biết công trình thủy điện Sông Tranh 2 chưa được nghiệm thu đưa vào khai thác sử dụng, chỉ mới nghiệm thu tích nước
Trong suốt 2 tuần qua, chủ đầu tư EVN, nhiều chuyên gia giàu kinh nghiệm và đại diện các cơ quan trách nhiệm chính quyền và địa phương đã đến tận nơi, khảo sát, tìm hiểu nguyên nhân để đề nghị biện pháp xử lý sự cố.
Nước chảy ở đập như suối là một đe dọa hết sức nghiêm trọng. Các vết nứt lan rộng với thời gian vì vật liệu xung quanh sẽ tiếp tục bị xói mòn. Hiện nay cũng chưa biết rõ khe nứt vì thấm của bêtông hay vì các khe nhiệt.
Tôi thường nói đùa với sinh viên Trường Cao Đẳng Điện học Phú Thọ cũng như Đại học Bách khoa Grenoble rằng ta khiêu khích tạo hóa vì con sông đang bình thản chảy, thì ta lại xây đập, chận ngang dòng nước của nó! Điều khó là làm sao phòng thủ và bảo vệ công trình và dân chúng khi tạo hóa nổi giận, lên cơn ?
Một nguyên tắc căn bản mà tôi thường cho sinh viên biết là: đập có thể tồn tại lâu dài, nếu không thấm nước (bonne étanchéité) ở thượng lưu và tiêu thoát nước dễ dàng (bon drainage) ở hạ lưu. Để nước thấm qua đập là điều tối kị. Đập thiếu an toàn về nền móng thì nguy đến nơi !
Theo Cục kiểm định nhà nước về chất lượng thì tất cả các khâu, từ thiết kế, thi công, giám sát đến khai thác, vận hành đều có lỗi. Mãi đến nay, các cơ quan trách nhiệm và chuyên gia còn đang tranh cãi, nên những giải thích và biện pháp đưa ra chưa đủ sức thuyết phục để trấn an đồng bào miền Trung.
Tôi đồng ý với bạn đồng nghiệp EDF, kỹ sư Michel Hồ Tá Khanh : không nên tiếp tục ngăn chặn rò rỉ ở hạ lưu đập với resine Epoxy, vì như thế sẽ làm hỏng những khe nằm ngang và đập sẽ mất ổn định. Trong lúc chờ đợi, vì đập nứt và rò rỉ ở nhiều khe, ta có thể phủ géomembrane ở thượng lưu đập.

Nguyên nhân sự cố: động đất kích thích (séisme induit)

Ở xa, tôi không thể biết có phải vì lí do thiết kế, thi công hay vận hành. Những vết nứt, theo tôi, có thể là do ở các trận động đất kích thích (séisme induit) 3,4°Richter ? liên tiếp xảy ra, lúc hồ đập Sông Tranh 2 đón nhận dung tích nước đầu tiên (1er remplissage) trong năm qua. Thật ra, khi hồ đầy, dưới áp lực, nước sẽ thấm vào lớp đất bên dưới. Lượng nước này sẽ thâm nhập vào các lỗ hổng và các vết nứt nhỏ của các khối đá cho đến tận tâm của các đới đứt gãy. Chính điều này gây nên thay đổi lớn về ứng suất, làm các đới đứt gãy mất ổn định và do đó gây ra các cơn chấn động kích thích. Kinh nghiệm trên thế giới cho ta biết là đối với loại đập trọng lực hay đập vòm, lúc có động đất thì đập dễ bị nứt và các khe bị sai lệch. Đó là trường hợp Sông Tranh 2.
Theo giáo sư Carsten Könke ở trường đại học Weimar của Đức: chúng ta không thể nói rằng cấu trúc của đập trọng lực dễ bị ảnh hưởng bởi động đất hơn cấu trúc đập vòm hay ngược lại. Điều đó phụ thuộc phần lớn vào tần số cộng hưởng riêng của công trình (sự truyền sóng trong vật liệu). Tần số đó càng gần với tần số lan truyền của động đất thì càng không tốt và đập có nhiều nguy cơ bị vỡ hơn.
Năm 1934, các kỹ sư Mỹ đã tỏ vẻ nghi ngờ về hiện tượng động đất kích thích lúc xây cất đập lớn Hoover. Những quan sát đầu tiên liên quan đến hiện tượng này bắt đầu từ 1935, lúc người ta cho nước vào hồ Mead lần đầu tiên, gây nên những rung chấn nhỏ thường xuyên trong vùng Nevada và Arizona.
Tại Pháp, các chuyên gia nhìn nhận có động đất kích thích 4,9° Richter xảy ra ngày 25/4/1963 ở đập Monteynard, với một dung tích nước (275 triệu m3), nhỏ hơn dung tích đập Sông Tranh 2. Sự kiện này đã gia tăng sự hiểu biết về mạng lưới các đới đứt gãy động đất tiềm ẩn phía Nam Grenoble.
Nhưng mãi đến năm 1966, ở đập Kremasta (Hy Lạp) cao 147 m, dung tích hồ nước 4800 triệu m3, lúc xảy ra trân địa chấn kích thích 6,2° Richter (chấn tâm ở 20 km dưới hồ), các chuyên gia mới bắt đầu lo sợ.
Sang năm 1967, ở đập Koyna (Ấn Độ) cao 103 m, dung tích hồ nước 2700 m3, một trận động đất kích thích 6° Richter cũng được diễn ra (chấn tâm ở 9 km dưới hồ). Nhiều nghiên cứu khác được thực hiện, nhân lúc đập Kariba (Rhodésie) cao 128 m, dung tích hồ nước 160 000 triệu m3, đón nhận hồ nước đầu tiên, kéo dài từ 1959 đến 1971. Trận địa chấn kích thích chính (6° Richter) xảy ra sau khi hồ đầy nước.
Sự tương quan giữa động đất và lúc hồ đón nhận dung tích nước đầu tiên được thể hiện qua vài chục trường hợp trên thế giới từ năm 1976.
Với những máy đo địa chấn, các kỹ sư đã theo dõi trường hợp đập Talbingo (Australie). Chỉ có một trận địa chấn nhỏ diễn ra trong vòng 13 năm, trước khi đập này đón nhận hồ nước đầu tiên. Tuy nhiên, sau đó, trong thời gian 15 tháng tiếp theo, có cả thảy hơn 100 địa chấn với cường độ tương đương. Điều đáng chú ý là với trận động đất chót 3,5° Richter, sau khi hồ đầy, tất cả những chấn tâm đều ở trên bề mặt, cạnh đập!
Hydro-Québec, với nhiều hồ lớn ở vùng phía bắc từ những năm 1950, cũng xác nhận đã gặp nhiều rung chấn kích thích. Một trận động đất kích thích cường độ 4,1 đã diễn ra vào tháng 10/1975 khi cho nước vào hồ Manic-3 ở Côte-Nord 2 .
Với 900 triệu m3 nước, hồ Zipingpu (Trung Quốc), chỉ nằm cách 500 m những đới đứt gãy, gây nên trận động đất kích thích ngày 12/05/2008, có thể là nguyên nhân khởi nguồn. Theo Xinglin Lei, Trung tâm vật lý thí nghiệm động đất ở Tsukuba – Nhật Bản, khối lượng hồ chứa nước đã làm tăng ứng suất dọc theo các đới đứt gãy. Áp lực gây ra bởi hồ này dọc theo các đới đứt gãy tương đương với áp lực của Ấn Độ lên lục địa Á châu trong vòng 25 năm!
Để hiểu vấn đề, cần phải biết mức độ thẩm thấu của vùng đứt gãy. Cũng cần chú ý rằng sự sụt giảm mực nước trong vòng 6 tháng, từ tháng 12/2007 đến tháng 5/2008 (từ 870 m xuống 817 m – tương đương với 650 triệu m3 nước), đã làm giảm ứng suất 0,1 bar. Giai đoạn đó lại trùng hợp với sự gia tăng chấn động mà đỉnh điểm là động đất lớn ngày 12/05/2008. Vì vậy, sự tháo nước đột ngột cũng có thể gây ra những vấn đề đáng lo ngại.
Ngược lại, động đất kích thích lại không thấy xuất hiện ở một số đập có hồ nước lớn, mặc dù xây cất ở những vùng có địa chấn như Californie hay Mexique.
Những trường hợp nêu trên, tôi đã có dịp trình bày trong cuốn sách giáo khoa về thủy điện (Energie hydraulique) mà tôi cùng ông Roger Ginocchio soạn thảo cho chuyên viên EDF và sinh viên các trường kỹ sư (do Eyrolles xuất bản)
Hiện tượng động đất kích thích chưa được giới khoa học chứng minh rõ ràng. Chúng ta cũng nên khiêm tốn và hết sức thận trọng khi kết luận, trong lúc chờ đợi các báo cáo khoa học nghiêm túc và chính xác của những chuyên gia địa chất.

Nên hạ thật gấp mức nước !

Phải để tính mạng đồng bào lên trên hết. Ta không thể đắn đo, cân nhắc lợi hại với những triệu kWh tích trữ trong hồ nước. Xả nước một hồ rất lớn không phải một vài ngày là xong. Ta nên cho 2 tổ máy 190 MW.chạy liên tục, chẳng cần đợi giờ cao điểm và tìm mọi cách xả nước, để hạ gấp mức nước.
Ta khó hình dung được sức mạnh khổng lồ của 730 triệu tấn nước thình lình ồ ạt đổ xuống hạ lưu, lôi cuốn dân chúng và tàn phá nhà cửa ruộng đất như tsunami ở Nhật Bản ngày 11/3/2011. Tôi xin mạn phép đưa ví dụ của đập Monteynard nêu trên, một đập vòm dày bằng bê tông (barrage voute épaisse) ở cách xa Grenoble 25 km. Đập nằm ở trên đồi cao 500 m, dài 230 m, cao 135 m, đón nhận dung tích nước (275 triệu m3) lần đầu tiên vào năm 1963. Công suất thiết kế nhà máy là 360 MW.
Với sinh viên, chúng tôi đã làm bài toán để đo lường hậu quả, trong trường hợp đập Monteynard rủi ro bị vỡ tan trong giây phút (rupture totale et instantanée): làn sóng cao từ 8 đến 12 m sẽ đến Grenoble sau 40 – 58 phút và sông Isère sẽ cao thêm 7 m. Đập Sông Tranh 2, có dung tích hồ 730 triệu m3 (tức lớn hơn Monteynard 2,65 lần) chỉ cách thị trấn Trà My 7,5 km thôi.
Nếu không hạ mức nước gấp thì làm sao kiểm tra nghiêm túc để đưa ra biện pháp xử lý đúng đắn kịp thời? Ta nên biết rằng ở Pháp, những quy chế khắt khe về những cấu trúc tháo nước ở đáy (vidange de fond) là : giảm 50% sức đẩy của nước (poussée de l’eau) vào thân đập trong thời gian 8 ngày (với giả thuyết không cho nước đổ vào hồ) và tháo nước toàn bộ (vidange totale) của hồ trong vòng 21 ngày với những điều kiện trên.)
Tôi đề nghị nên mời gấp chuyên gia tư vấn quốc tế, độc lập, đến khảo sát tỉ mỉ và góp thêm ý kiến
Mặc dù chưa biết chính xác nguyên nhân và những biến chuyển quan trọng trong thân đập, nhưng sự cố đã xảy ra như thế là một cảnh cáo hết sức quan trọng. Ta chớ nên coi thường !
Nếu tình trạng nguy hiểm kéo dài, một thảm họa rùng rợn có thể diễn ra ở miền Trung, gây bao tang thương cho đồng bào. Tạo hóa vô thường, đập Sông Tranh 2 đã suy yếu phần nào, có thể tan vỡ thình lình, trước mùa lũ lớn, nếu rủi ro xảy ra một trận động đất lớn trong khu vực.

Làm sao tránh các sự cố ?

Muốn các đập thủy điện khỏi có sự cố quan trọng và được an toàn, thì ta phải tổ chức một cơ quan kỹ thuật trung ương đầy đủ dụng cụ máy móc tinh xảo, để kiểm tra tất cả các đập và nhà máy lớn, tăng hiệu suất khai thác và kịp thời báo động cho dân chúng, khi có sự cố nguy hiểm đến tính mạng.Muốn làm chủ toàn bộ các nguy cơ, cần phải lắp đặt các cảm biến (capteurs) gắn với thiết bị báo động và các mô hình toán học phức tạp.
Thí dụ ở EDF Grenoble, tại Nha kỹ thuật tổng quát DTG (Division Technique Générale) nơi tôi làm việc những năm đầu tiên ở Pháp, người ta có lập sở thủy lợi (để đo lưu lượng) và sở nghe bệnh đập (Auscultation des barrages). Ngay từ thời đó, nhiều đo đạc (dịch chuyển, sự biến dạng, áp lực, lưu lượng, rò rỉ…) được lưu trữ hằng năm với số lượng lên đến hằng trăm ngàn. Việc lưu trữ và xử lý các đo đạc này ngày nay được thực hiện nhanh chóng nhờ các công cụ tin học mạnh.
Đập không phải là một cơ cấu bêtông hay đất đá chết. Xung quanh và trong lòng mỗi đập đều có đường hầm, máy móc dụng cụ, cho phép ta kiểm tra và nghe hơi thở đập một cách tự động và liên tục.
Thời gian chảy đá mòn sông núi lở, thì mỗi năm các đập cũng có thể di dịch. Dưới tác động của việc đổ đầy hồ chứa và nhiệt độ, các đập có thể dịch chuyển về phía thượng lưu hay hạ lưu. Những hiện tượng này gây nên bởi các nguyên nhân bên ngoài nhưng cũng có thể liên quan đến bản chất của các vật liệu xây dựng công trình.
Sự vỡ đập thông thường xảy ra sau một quá trình suy yếu kéo dài từ vài ngày đến vài tuần (trừ những trường hợp vỡ tức thời như đập Malpasset của Pháp). Những dấu hiệu báo trước cho phép hoặc tháo nước (trường hợp đập Sông Tranh 2 ?) trong hồ hoặc di tản dân chúng bị đe dọa.
Tóm lại, 3 lý do chính gây ra sự cố và tai biến là :
  • Động đất
  • Lần đầu tiên cho nước vào đập (1er remplissage).
  • Lũ hết sức đặc biệt (crue exceptionnelle)
Đập trọng lực (đặc biệt đá/đất) thuộc loại phổ biến nhất và cũng có nguy cơ nhiều nhất. Với loại đập đất và / hay đá, sợ nhất là nước lũ tràn ngập đỉnh, phá vỡ đập rất nhanh chóng.
Về lũ đặc biệt, lấy ví dụ hệ thống xả lũ (évacuateurs de crues) đập Hòa Bình, có khả năng xả lưu lượng 38 000 m3/s (lũ 10000 năm – crue décamillénaire), theo bài tính xác suất (calcul de probabilité). Tuy là lũ đặc biệt rất lớn, lâu lắm mới xảy ra một lần, nhưng nó cũng có thể xảy ra bất chợt nay mai, tùy theo sự biến chuyển của thời tiết
Ở đây ta thấy tầm quan trọng của hệ thống những trạm đo lưu lượng nước (stations de jaugeage des débits) rải rác trên khắp những con sông. Xây dựng một đập cần nghiên cứu kỹ thủy văn của con sông trong hàng chục năm về trước. Càng lâu, độ tin cậy thống kê càng lớn.
Theo các chuyên gia bên nhà, đập Sơn La được thiết kế với độ an toàn rất cao, có thể chịu đựng được động đất 8° Richter và dòng lũ sông Đà lên tới 48 000 m 3/giây !
Tuy nhiên, như tôi đã có dịp trình bày và đã lưu ý bên nhà, điều tôi lo ngại nhất là đập Sơn La nằm trong vùng có thể bị động đất. Những vệ tinh đã phát hiện vết nứt (faille) sông Hồng dài 1000 km từ Tây Tạng đến khu miền Bắc và về phía nam, dọc theo bờ biển nước ta. Vết nứt trượt (coulissant) theo đường rãnh, trung bình 1 cm mỗi năm, có thể làm xê dịch từng cơn : sông, thung lũng, bãi phù sa… mỗi khi có động đất đáng kể.
Như một số chuyên gia khác, tôi đặc biệt lo sợ cho công trình Sanxia- Barrage des Trois Gorges- của Trung Quốc. Đây là một công trình vĩ đại nhất, có một không hai !
Để có thể so sánh, sau đây là những đặc điểm cần biết : đập trọng lực bêtông, ở trên sông Yangtsé, cạnh Yichang. Chiều dài 2335 m, cao 185 m, dung tích hồ 45,3 tỷ m3 nước. Tổng công suất của 32 tua bin là 22500 MW, lớn hơn 2,5 lần công suất thiết kế của tất cả những nhà máy thủy điện của ta hiện nay và tương đương vói công suất thủy điện Pháp. Sản lượng điện hàng năm là 84,7 TWh (tỷ kWh). Khởi công từ 1994, nhà máy bắt đầu vận hành từ 2006 – 2009. Kinh phí đầu tư có thể lên đến 50 chục tỷ đôla
Đối với động đất, có thể nói rằng các đập Nhật Bản, trang bị với những máy đo địa chấn tinh xảo, tương đối, ít có sự cố, so với các nước khác. Trái lại, Trung Quốc có khoảng 400 đập và hồ nước thiếu an toàn !

Danh sách vài đập bị tai nạn trên thế giới (mỗi năm có một vài đập bị tan vỡ!)

Nước
Tên đập
Loại đập
Nguyên nhân tai nạn
Số người thiêt mạng
Năm
Algérie
Habra
Vòm
Lũ lớn
400
1881
Mỹ
South Fork
Đất
Lũ lớn tràn ngập đỉnh
2200
1889
Ý
Gleno
Vòm phức tạp
Áp lực ở dưới (souspression)
500
1923
Mỹ
San Fran sisco
Trọng lực (bê tông)
Áp lực ở dưới (sous-pression)
450
1929
Pháp
Malpasset (Fréjus)
Vòm mỏng
Đá móng tả ngạn bị nứt
423
1959
Brésil
Oros (Ceara)
Đất
Lũ lớn trước khi công trình hoàn thành
1000
1960
Ý
Vaiont
Vòm
Sụt lở đá làm nước tràn ngập
3000
1963
Chili
El Cobre
Đá
Động đất
200
1965
Ấn Độ
Koyna
Trọng lực (bê tông)
Động đất kích thích (séisme induit)
180
1967
Tôi xin phép vắn tắt nhắc lại thảm họa rùng rợn của đập Malpasset (thuộc Bộ Nông nghiệp Pháp)
Đầu mùa đông năm 1959, mưa dữ dội làm đầy lần đầu tiên đập mới xây Malpasset, ở cạnh thành phố Fréjus (Côte d’Azur) miền Nam nước Pháp. Khi đập này vỡ bất ngờ vào ngày 2/12/1959 lúc 21h13, gần 50 triệu m3 nước tràn ra, tàn phá ruộng đồng và làng mạc cho đến tận biển. Đây là thảm họa lớn nhất (423 người thiệt mạng) xảy ra ở Pháp. Cơn sóng khổng lồ cao 40 m tràn ra trong thung lũng hẹp, với tốc độ 70 km/h. Sau khi quét sạch những gì trên đường đi qua, nó đến Fréjus 20 phút sau đó, trước khi đổ ra biển.
Trận động đất 6,6° Richter, diễn ra năm 1971, ở đập trọng lực đắp (barrage poids en remblai) Lower San Fernando ( California), chiều cao 40 m, với một dung tích nhỏ, chỉ 15 triệu m3 thôi, đã làm lún đỉnh 8,5 m và di tản 80000 dân !
Năm 1975, đập Banqiao ở Trung Quốc, bị động đất và lũ lớn, đã cướp 26000 tính mạng !
Hiện nay ở Thuỵ Sĩ, dân chúng ơ vùng hạ lưu đập Grande Dixence, cao 285 m , dài 748 m, dung tích 400 triệu m3 nước (nhỏ hơn hồ Sông Tranh 2) rất lo sợ, vì vùng Le Valais đã bị 200 rung chấn nhỏ năm 2011 và 40 từ đầu năm nay.
Việt Nam đã gia nhập ICOLD (International Commission On Large Dams – Uỷ Ban quốc tế các đập lớn). Những kinh nghiệm trao đổi nơi đây vô cùng quý báu. Để đề phòng động đất, Uỷ Ban này khuyên bảo 85 nước thành viên nên thiết kế đập để có thể chống địa chấn với cường độ của trận động đất xảy ra 10000 năm về trước, cộng thêm 2° Richter.

Bản so sánh Sơn La với các đập lớn trên thế giới

(Những con số gạch dưới gần giống các con số của Sơn La)
Tên đập
Chiều cao
(m)
Tên sông
Loại đập
Hồ chứa
(tỷ m3)
Công suất
(MW)
Năm khánh thành
Bratsk
125
Angara
(Liên Xô)
Trọng lực
bê tông và đá
169
4600
1964
Assouan
125
Nil
(Ai Cập)
Trọng lực
đất và đá
164
2100
1970
Tarbela
143
Indus
(Pakistan)
Trọng lực
đất và đá
13,7
2100
1976
Nurek
317
Vakhsh
(Liên Xô)
Trọng lực
đất
10,4
2700
1977
Sơn La
138
Sông Đà
(Việt Nam)
Trọng lực
bê tông
9,26
2400
2010-2012

Chương trình thủy điện Việt Nam quá tham vọng

Từ hơn 20 năm nay, nhất là từ 2000 trở đi, Việt Nam đã xây cất hàng loạt đập và nhà máy thủy điện lớn nhỏ với một tốc độ nhất nhì thế giới, chỉ thua Trung quốc. Chương trình phát triển thủy điện Việt Nam quá tham vọng, ồ ạt, cấp bách, không phù hợp với một chiến lược dài hạn, thiếu phân tích khoa học, bài toán kinh tế. Ta có vẻ coi nhẹ môi trường và chưa nghiên cứu tỉ mỉ về thảm họa có thể xảy ra đối với đồng bào sinh sống ở hạ lưu, dưới sự đe dọa thường trực của những quả bom nước đó đây. Tôi có cảm tưởng như để chứng minh với chính quyền là ta hết thủy điện nên mới cần điện hạt nhân !
Ở Việt Nam, nhiều công trình bậc thang đã có vấn đề với nhiều lý do dễ hiểu. Ta có bệnh thiết kế và thi công nhanh (cẩu thả, không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật) để được khen thưởng, chưa nói đến nạn tham nhũng còn tung hoành. Tuy ta có nhiều chuyên gia thủy lợi, điện lực và công chánh giàu kinh nghiệm quý báu, nhưng việc kiểm tra chu đáo những công trình kiến trúc lớn không phải dễ.
(*) Một số ý kiến của bài này đã được trình bày trong hai bài phỏng vấn của các đài RFI và RFA, tác giả gửi cho Diễn Đàn sau khi sửa chữa và bổ sung.
Grenoble ngày 2-4-2012

Nguyễn Khắc Nhẫn

Nguyên Giám đốc và GS Trường Cao đẳng Điện học và Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ
Cố vấn Nha kinh tế, dự báo, chiến lược EDF Paris,
GS Viện kinh tế, chính sách năng lượng Grenoble,
GS Trường Đại học Bách khoa Grenoble

Tài liệu tham khảo :

  • Nguyễn Khắc Nhẫn, Nguyễn Trần Thế, Michel Hồ Tá Khanh – L’hydroélectricité au Viet Nam- Revue de l’Energie – Paris N°546 , 5/ 2003 ,
  • Roger Ginocchio, Nguyễn Khắc Nhẫn – Energie hydraulique, Direction des Etudes et Recherches d’ EDF – Eyrolles, 1978
  • Nguyễn Khắc Nhẫn – Energie hydraulique – Economie et Planification de l’énergie, INPG et IEPE- 1994