Thứ Bảy, ngày 14 tháng 4 năm 2012

Blogger Điếu Cày sắp ra tòa vì chống phá Nhà nước

Ngày 14-4, VKSND TPHCM cho biết đã chuyển cáo trạng và toàn bộ hồ sơ vụ án “Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” sang TAND TPHCM để xét xử trong thời gian tới đối với 3 bị can Nguyễn Văn Hải (SN 1952, ngụ quận 3, còn gọi là Hoàng Hải, Hải Điếu Cày), Tạ Phong Tần (SN 1968, quê Bạc Liêu) và Phan Thanh Hải (SN 1969, ngụ quận Thủ Đức – TPHCM).

Các bị can nói trên bị truy tố tội “Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo khoản 2, điều 88 , Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Cáo trạng truy tố các bị can.
Theo cáo trạng, năm 2001, Lê Xuân Lập (SN 1958), công tác tại một tờ báo có văn phòng đại diện tại TPHCM đã có đơn gởi Hội Nhà báo Việt Nam xin thành lập “Hội nhà báo tự do” với mục đích giúp đỡ, tương trợ những cộng tác viên không có thẻ nhà báo. Đề nghị này không được chấp nhận.

Đến năm 2007, sau khi nghỉ làm ở tờ báo này, ông Lập đệ đơn lên Thủ tướng Chính phủ xin thành lập “Hội nhà báo tự do” cũng không được chấp nhận.

Sau đó, qua trao đổi trên mạng internet, qua điện thoại, Lập đã gặp gỡ Nguyễn Văn Hải cùng một số đối tượng khác thành lập “Câu lạc bộ nhà báo tự do” (CLBNBTD), Lập được bầu làm chủ nhiệm. Sau đó, Nguyễn Văn Hải và 2 đối tượng khác được giao nhiệm vụ thiết kế blog CLBNBTD rồi thông báo rộng rãi cho các thành viên sử dụng.

Tuy nhiên, sau đó Nguyễn Văn Hải đã tự động thay đổi mật khẩu blog để nắm giữ, quản lý điều hành. Hải đã tập hợp thêm Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải là những người có đồng quan điểm, tham gia CLBNBTD. Sau đó, Hải được bầu làm chủ nhiệm blog, còn Lê Xuân Lập bị loại khỏi CLBNBTD.
Blogger “Điếu Cày” (trái) và “Anhbasaigon”
Ngay sau khi lên nắm quyền quản lý blog CLBNBTD, Nguyễn Văn Hải cùng

với Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải đã viết nhiều bài với nội dung tuyên truyền, xuyên tạc sự thật nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngoài ra, các bị can còn đăng trên blog riêng của mình: Tạ Phong Tần lập blog “Công lý và Sự thật”, sau đổi thành “Sự thật và Công lý”, Phan Thanh Hải là blog “Anhbasaigon”.

Chỉ trong thời gian từ tháng 9-2007 đến tháng 10-2010, đã có 421 bài đăng trên CLBNBTD, trong đó có 94 bài do thành viên CLBNBTD viết và 327 bài lấy lại từ các blog, trang web của các tổ chức hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam.

Trong số này, 26 bài được Giám định viên Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch TPHCM kết luận “…hầu hết những bài viết đều chứa nội dung, giá trị của sự phê phán trong tinh thần không phải để xây dựng, hoặc cao hơn là lên án, kết án nhằm hướng tới sự cổ động, kích động công luận tham gia đấu tranh thay đổi sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, thay đổi chế độ chính trị, Nhà nước hiện tại nhằm xây dựng một chế độ khác, nhà nước khác…
Chủ nhân Blog “Sự thật và Công lý” Tạ Phong Tần
Xác lập và công bố hệ thống quan điểm về thông tin báo chí, ngôn luận của một nhóm nhà báo mệnh danh tự do cố thể hiện mình như là thế lực mới đang được hình thành và từng bước trưởng thành trong lòng Chế độ Cộng sản ở Việt Nam hiện tại nhằm mục đích xây dựng, tập hợp lực lượng chính trị chống đối phục vụ cho âm mưu diễn biến, lật đổ trước mắt và lâu dài” (Kết luận giám định số 10/KLGĐ, ngày 15-4-2011)

Ngoài ra, 3 bị can còn lợi dụng các sự kiện chính trị, tổ chức và tham gia các cuộc biểu tình với danh nghĩa chống Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa-Trường Sa và tẩy chay Olympic Bắc Kinh khi rước đuốc qua TPHCM.

Theo kết luận của VKSND TPHCM, Nguyễn Văn Hải là đối tượng cầm đầu CLBNBTD, chịu trách nhiệm về những bài viết được đăng trên CLBNBTD từ khi thành lập CLB đến ngày 20-4-2008 (bị bắt vì tội trốn thuế, đã chấp hành hình phạt 2 năm 6 tháng tù). Nguyễn Văn Hải còn tham gia móc nối các đối tượng phản động bên ngoài để được hỗ trợ về tinh thần và vật chất nhằm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

Tạ Phong Tần là thành viên phụ trách mục Khoa học và Pháp lý của CLBNBTD, hoạt động rất đắc lực, thông qua hai blog cá nhân đã phát tán 101 tài liệu nội dung chống phá. Phan Thanh Hải phát tán 20 bài có nội dung chống phá Nhà nước.

Riêng Nguyễn Văn Hải và Phan Thanh Hải còn tham gia đợt huấn luyện do tổ chức phản động “Đảng Việt Tân” tổ chức tại Thái Lan.

Tại Cơ quan An ninh Điều tra – Công an TPHCM, các bị can Nguyễn Văn Hải và Tạ Phong Trần với bản chất ngoan cố, chống đối quyết liệt, không khai báo, không thừa nhận hành vi của mình. Tuy nhiên căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định các bị can phạm tội.

Phan Thanh Hải lúc đầu không thừa nhận hành vi chống phá nhưng sau đó đã nhận tội và có đơn xin khoan hồng, xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đối với Lê Xuân Lập và một số đối tượng khác mặc dù có giúp sức, viết bài, phát tán tài liệu chống phá nhưng đã có thái độ thành khẩn, hợp tác với cơ quan điều tra nên không bị xử lý hình sự mà thông báo về địa phương để theo dõi, quản lý.

Tin-ảnh: Phạm Dũng

* Ghi chú:

Dân nghèo & những tấm băng rôn đòi đất

Nóng rực tuần qua là các cuộc biểu tình của người dân đòi đất. Có những đợt lên tới hàng nghìn người kéo về Hà Nội với đủ loại băng rôn biểu ngữ đòi đất vẽ lên nón, dán lên người…
Ông Huỳnh Phong Tranh, Tổng Thanh tra chính phủ cho biết: Sau sự kiện Đoàn Văn Vươn, lượng dân đổ đến các cơ quan hữu trách khiếu nại, tố cáo tăng 50%, trong đó tập trung thành những đoàn đông người tăng 30% ,với 70% đơn thư tố cáo khiếu nại thuộc lĩnh vực đất đai.
          “Tính chất các vụ việc rất phức tạp, khiếu nại rất gay gắt” – ông Tranh nhận xét.
          Đây quả là một hiện trạng báo động. Một “Đoàn Văn Vươn” khác ở Quảng Nam (Nguyễn Văn Tưởng) cũng vừa vung dao đâm cán bộ giải tỏa thu hồi đất rồi uống thuộc độc tự tử.
          Lại nghe đâu đó người dân uất ức khiêng cả quan tài xông vào trụ sở ủy ban…
          Ngày một nhiều hơn những đoàn dân đòi đất từ các vùng quê kéo về Hà Nội. Qui hoạch, chỉnh trang, thu hồi, giải tỏa đền bù thế nào để đến nỗi dân tình phải xuống đường với băng rôn “cướp đất”?
          Có gì đó thật bất an (xem thêm bài: Chính phủ, những Đoàn Văn Vươn & miếng giẻ rách an dân).
          Những bi kịch này vì đâu? Vì đâu người nông dân cùng quẫn đến bước đường cùng để buộc họ phải giương súng bắn vào chính quyền, phải vung dao đâm cán bộ rồi tự kết liễu cuộc đời bằng một liều thuốc độc, phải kéo nhau lũ lượt cả xóm cả làng đi kêu kiện với những tấm băng rôn đòi đất?
          Căng thẳng, ngột ngạt, bức bách.
          Nguy cơ về những Đoàn Văn Vươn khác, những Tiên Lãng khác, những Ô Khảm khác là điều khó tránh- Nếu chính quyền vẫn không biết (hay không thèm) gỡ nút, vẫn chọn cách đối chọi với dân, xem những yêu cầu, đòi hỏi chính đáng của dân là hành vi “nổi loạn”.
          Phương cách đó chỉ làm thổi bùng thêm những ngọn lửa Đoàn Văn Vươn và Ô Khảm khác mà thôi.




















(ảnh cop tổng hợp từ nhiều trang mạng)
Trương Duy Nhất

Vì sao cụ Nguyễn Trọng Vĩnh nổi giận?


Bài ” Nhóm phóng viên láo xược” của cụ Nguyễn Trọng Vĩnh ( tại đây), vị tướng già, 96 tuổi đời, 73 tuổi đảng đã nổi giận trước phát ngôn của Nhóm phóng viên nội chính báo An ninh Thủ đô: “...cái “tít” trên báo gọi chúng tôi – những người đã ký tên đề nghị với đại biểu Quốc hội Phạm Quang Nghị đối thoại với chúng tôi về nhiều vấn đề, là “những kẻ cơ hội”. Tôi cho rằng “nhóm phóng viên” này quả là láo xược; và không biết cái gì là tốt, cái gì là xấu.”
Chưa bao giờ thấy cụ  Nguyễn Trọng Vĩnh nổi giận như vậy, chưa bao giờ thấy cụ mắng ai là láo xược, cái từ ấy lâu nay cụ chỉ dùng để mắng lũ Đế quốc và bọn bá quyền mà thôi. Đọc kĩ hai bài báo đó ( bài 1- tại đây! Bài 2- tạiđây!) mới biết vì sao cụ nổi giận.
”Cơ hội” ở đây là cơ hội chính trị được hiểu theo nghĩa xấu. Những kẻ lợi dụng chính trị để mưu cầu lợi ích cá nhân và phe nhóm gọi là những kẻ cơ hội chính trị. Thời nào cũng thế, muốn cơ hội chính trị có lãi ( theo nghĩa xấu nhé) phải luôn luôn nhiệt liệt hoan nghênh nhà cầm quyền bất kể đúng sai hay dở; đồng thời mắng chửi bôi nhọ thóa mạ những ai dám to tiếng góp ý, phản biện, chỉ trích nhà cầm quyền, bất kể họ là ai, bọn phản động hay những người yêu nước.
73 năm theo Đảng làm cách mạng, bao nhiêu lần vào tù ra tội, cụ chỉ biết đội xã tắc lên đầu. Cho đến cuối đời, khi mà cụ vui vẻ chuẩn bị về trời, cụ mới biết té ra những người chỉ biết đội xã tắc lên đầu như cụ đã bị đám cháu chắt liệt vào  những kẻ cơ hội chỉ vì cụ và các trí thức, các lão thành cách mạng dám ủng hộ những người biểu tình chống Trung Quốc xâm lược.
Đám cháu chắt đó là ai? Đó là những người được hưởng thành quả cách mạng do thế hệ các cụ và các trí thức, các lão thành cách mạng giành được và mang đến.Nỗi đắng cay của một lão thành cách mạng, một người cộng sản dám hy sinh đến giọt máu cuối cùng vì lý tưởng cách mạng, lý tưởng của Bác Hồ. Hỏi có nỗi đắng cay nào hơn thế?
Than ôi thời này là thời nào vậy?
Nguyễn Quang Lập
Nguồn: Quê Choa

Thứ Sáu, ngày 13 tháng 4 năm 2012

Lưu vực sông Mê kông, địa bàn thách đố của Hoa Kỳ


Gửi Nhóm Bạn Cửu Long & VN 2020 Mekong Group
“Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á. Tổng Thống Obama và tôi tin rằng khu vực này là thiết yếu cho tiến trình toàn cầu, cho hòa bình và thịnh vượng và chúng tôi mở rộng cam kết với các thành viên thuộc Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á trên mọi thách đố trong tương lai.”Ngoại trưởng Hillary Clinton, ASEAN Summit 07/ 28/ 2009
“Hoa Kỳ và cộng đồng thế giới có một cam kết chiến lược và nghĩa vụ tinh thần nhằm bảo vệ sức khỏe và an sinh của cư dân sống phụ thuộc vào con Sông Mekong với nguồn tài nguyên và nếp sống của họ.” Thượng nghị sĩ Jim Webb’s Press Releases12/ 08/ 2011
SỰ TRỞ LẠI MUỘN MÀNG CỦA HOA KỲ
Sau Chiến Tranh Việt Nam, sự vắng bóng của Hoa Kỳ trong khu vực Đông Nam Á đã để lại một khoảng trống về địa dư chánh trị, và đây cũng chính là vận hội để một Trung Quốc với tham vọng mau chóng lấp đầy. Với sức bành trướng của Trung Quốc từ kinh tế tới quân sự ngày càng đè nặng trên 5 quốc gia trong lưu vực sông Mekong, cộng thêm với những động thái hung hãn của Bắc Kinh nhằm “Tây Tạng Hóa vùng Biển Đông/Tibetization of South China Sea”, nói theo ngôn từ rất tượng hình của B.A. Hamzak, thuộc Viện Hàng hải Mã Lai (Malaysian Institute of Maritime Affairs), đang trực tiếp đe dọa tới những quyền lợi thiết thân của chính nước Mỹ, đã đến lúc chánh quyền Tổng thống Obama không thể không quan tâm tới sự thách đố của Trung Quốc, một quốc gia đông dân nhất thế giới đang nhanh chóng vươn lên như một siêu cường cả về kinh tế lẫn quân sự. Bắc Kinh không chỉ cạnh tranh ráo riết mà còn với tham vọng vượt qua Mỹ trong thập niên tới của thế kỷ này. Nguy hiểm hơn nữa, nói theo ngôn từ của Jane Perlez, báo New York Times, đó là một “cạnh tranh mất-còn (zero-sum game).” [9] Do đó, một chiến lược trở lại với khu vực Đông Nam Á của Hoa Kỳ là một tiến trình tất yếu chứ không phải là ngẫu nhiên.
Hoa Kỳ là một trong những nước tài trợ cho Ủy Hội Sông Mekong, đồng thời cũng đã từng viện trợ cho các quốc gia Mekong, lại có tiếng nói đầy quyền uy trên các tổ chức ngân hàng lớn của thế giới như World Bank (WB) và Asian Development bank (ADB) … với tư thế đó cùng với hành động tích cực dấn thân, Hoa Kỳ hy vọng có thể tìm lại thế đứng, với “vai trò đối trọng” hạn chế được phần nào sức bành trướng của Trung Quốc trong lưu vực.
KHỞI ĐẦU TỪ HÀNH PHÁP
Từ Hội nghị ASEAN [Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á], ngày 23-07-2009, theo yêu cầu của Mỹ đã có thêm một cuộc họp bên lề của Ngoại trưởng 5 nước: phía Mỹ là Hillary Rodham Clinton, cùng với 4 Ngoại trưởng vùng Hạ Lưu Sông Mekong bao gồm có Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam tại Phuket, Thái Lan. Đại diện cho Việt Nam lúc đó là Ngoại trưởng Phạm Gia Khiêm kiêm Phó Thủ tướng.
Ngoại trưởng Mỹ đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng của vùng Hạ Lưu Sông Mekong (Lower Mekong Basin) và mỗi quốc gia đối với Hoa Kỳ, cùng với cam kết hỗ trợ nhằm thăng tiến hòa bình và thịnh vượng cho khu vực ASEAN như một toàn thể. Ngoại trưởng 4 nước Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam hoan nghênh sự hợp tác chặt chẽ hơn của Hoa Kỳ với các quốc gia Hạ Lưu trong những lãnh vực có ý nghĩa hỗ tương nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững trong vùng.
Tiếp theo đó là một tuyên cáo, liên quan tới những vấn đề quan tâm chung, đặc biệt là trong các lãnh vực Môi trường, Y tế, Giáo dục, và Phát triển Hạ tầng (infrastructure development) trong khu vực.
Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng đã lên tiếng bày tỏ mối quan tâm về ảnh hưởng tác hại từ những con đập đối với “An Ninh Lương Thực” trong vùng, trong đó phải kể tới tầm quan trọng của nguồn cá sông Mekong là nguồn protein chính đối với cư dân trong lưu vực.
Tưởng cũng nên nói thêm, chính Trung Quốc là quốc gia đầu tiên đã và đang xây chuỗi 15 con đập thủy điện dòng chính sông trên khúc sông Lancang-Mekong thượng nguồn, và còn sở hữu thêm 4 dự án đập dòng chính trong số 11 dự án Hạ Lưu sông Mekong.
Ngoại trưởng 5 nước đã thảo luận về các lãnh vực bao gồm biến đổi khí hậu và làm thế nào để đáp ứng có hiệu quả; phòng chống bệnh truyền nhiễm; mở rộng ứng dụng kỹ thuật cho giáo dục và đặc biệt quan tâm đến vùng nông thôn; cũng như phát triển hạ tầng.Các Ngoại trưởng đã xét duyệt những nỗ lực đang tiến hành, và đồng ý mở ra những lãnh vực hợp tác mới; và đặc biệt hoan nghênh sáng kiến “Kết Nghĩa Giữa Hai Ủy Hội Sông Mekong và Sông Mississippi (Sister-River Partnership)” nhằm chia xẻ kinh nghiệm chuyên môn trong các lãnh vực thích ứng với biến đổi khí hậu, đương đầu với lũ lụt và hạn hán, khai thác thủy điện và lượng giá ảnh hưởng, quản lý nguồn nước và quan tâm tới an ninh lương thực.
Với Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong (Lower Mekong Initiative, LMI) của Ngoại trưởng Hillary Clinton, mục đích là tạo thuận và phối hợp cách ứng xử với những thách đố trong phát triển của toàn vùng qua các hội nghị trao đổi thông tin kỹ thuật, những cuộc hội thảo huấn luyện, và những những thăm viếng khảo sát,. Các quốc gia Mekong đều bày tỏ thái độ tích cực đón nhận Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong.
Tại Hội Nghị ASEAN diễn ra tại Phuket, Thái Lan 07-2009 Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã khẳng định “Hoa Kỳ trở lại khu vực Đông Nam Á”
Với 22 triệu MK dự chi cho các chương trình môi sinh của 4 quốc gia Hạ Lưu sông Mekong; một phần ngân khoản ấy cũng được xử dụng cho việc “Kết Nghĩa giữa hai Ủy Hội Sông Mekong và Mississippi” nhằm thăng tiến quản lý nguồn nước xuyên quốc gia (trans-boundary water resources), qua kinh nghiệm từ Lưu vực Sông Mississippi. Số tiền ấy cũng được dùng qua cơ quan USAID (US Agency for International Development) cho việc nghiên cứu ảnh hưởng thay đổi khí hậu trên nguồn nước, an ninh lương thực và trên cuộc sống cư dân trong lưu vực.
Theo Aviva Imhof, Giám Đốc truyền thông của Mạng Lưới Sông Quốc Tế (International River Network) thì qua Cơ Quan Khảo Sát Địa Chất Mỹ (US Geological Survey / USGS), Hoa Kỳ có thể đóng góp phần hỗ trợ kỹ thuật trong việc thu thập dữ kiện về thủy văn/ hydrology, sinh thái, lưu lượng phù sa và phẩm chất nước với bảo đảm rằng những thông tin ấy cũng được phổ biến rộng rãi tới quần chúng. [2]
Sáng kiến LMI được xem là có phần nào ảnh hưởng tới động lực phát triển trong lưu vực/ regional dynamics, và gây sự chú ý tới những vấn đề địa chánh trị đang bị thử thách.
Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng đã tiến tới thành lập một “Nhóm Bạn Mekong (Friends of the Mekong)” hợp tác song phương với các cơ quan tài trợ như ADB và WB. Như vậy, LMI đã bước đầu kết hợp cả hai “quyền lực mềm và khôn ngoan”. [3]
Cho dù thực chất ban đầu còn là chưa đáng kể, nhưng dấu hiệu tái cam kết của Mỹ với các quốc gia Mekong và ASEAN đã bắt đầu khiến Trung Quốc đã phải quan tâm nhiều hơn tới các cộng đồng cư dân và các chánh phủ hạ lưu sông Mekong. Gần đây, Trung Quốc đồng ý chia xẻ phần“thông tin vận hành / operational data” nhiều hơn với Ủy Hội Sông Mekong và cũng rất tượng trưng,cho phép một số viên chức tới thăm 2 con đập Tiểu Loan/ Xiaowan [ 4,200 MW] và Cảnh Hồng/ Jinhong [1,350 MW] trong số những con đập thủy điện dòng chính thượng nguồn đang hoạt động thuộc tỉnh Vân Nam.
TỚI GIỚI LẬP PHÁP HOA KỲ
Cùng với tiếng nói bên Hành Pháp, đã có sự cộng hưởng của cả giới Lập Pháp nhất là từ Thượng viện Hoa Kỳ. Thượng Nghị Sĩ Jim Webb với tư cách là chủ tịch Tiểu Ban Đông Á và Thái Bình Dương Sự vụ của Thượng viện (Senate East Asian and Pacific Affairs Subcommittee), đã rất năng động từ nhiều năm nhằm ngăn ngừa những tổn hại không thể đảo nghịch về môi trường (irreversible damages) do hậu quả của các đập thủy điện trên sông Mekong.
Là Thượng Nghị SĩDân Chủtiểu bang Virginia từ 2006, tốt nghiệp Học viện Hải Quân 1968, từng phục vụ trong đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam tới 1972 với nhiều thành tích và huy chương. Sau đó là một luật sư, thời chính quyền Tổng Thống Reagan, ông từng là Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, sau đó là Bộ Trưởng Hải Quân. Jim Webb còn là tác giả của 9 cuốn sách, đoạt giải Emmy về báo chí, là một nhà làm phim. Ông nói được tiếng Việt. Jim Webb là một tiếng nói rất năng động, được báo Washingtonian Magazine bầu chọn là một “Ngôi Sao Đang Lên/ Rising Star” tại Thượng viện Hoa Kỳ.
[Hình II_ Thủ Tướng Hun Sen tiếp Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, 19/ 08/ 2009 trong chuyến du hành qua 5 quốc gia Đông Nam Á. [Nguồn: Office of Senator Jim Webb]]
Năm 2009, TNS Webb đã thực hiện chuyến du hành 2 tuần qua 5 quốc gia Đông Nam Á để khảo sát các dự án phát triển sông Mekong và các phương thức xử dụng nước xuyên lưu vực. Ông cũng vận động lôi kéo được nhiều viên chức ngoại giao Hoa Kỳ, các chánh trị gia hoạch định chánh sách, các chuyên gia môi trường và giới học giả quan tâm tới những nguy cơ phá vỡ sự cân bằng hệ sinh thái của của con Sông Mekong và tầm quan trọng của Sông Mekong đối với phát triển kinh tế và xã hội của vùng Đông Nam Á.
Ngày 12/08/2012, Ủy Hội Sông Mekong thông báo về quyết định từ Hội Nghị Cấp Bộ Trưởng tại Siem Reap là hoãn xây con đập Xayaburi, cũng là con đập dòng chính đầu tiên thuộc Lưu Vực Dưới Sông Mekong, bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc, với lý do để có thêm thời gian nghiên cứu về tác hại môi trường của con đập. Ngay cùng ngày, từ thủ đô Washington, TNS Jim Webb đã phát biểu “Đây là bước quan trọng hướng tới một chánh sách trách nhiệm (responsible policy) nhằm bảo vệ những điều kiện kinh tế và môi trường cho hơn 60 triệu cư dân trong lưu vực.” TNS Webb tiếp: “Những nỗ lực của MRC để duy trì sự ổn định môi trường và kinh tế của vùng Hạ Lưu Mekong chứng tỏ ước muốn tôn trọng quyền hạn về nguồn nước của các quốc gia trong lưu vực và đồng thời cũng quan tâm tới “những tiêu chuẩn chính đáng về môi trường (proper environment standards)” khi đánh giá những dự án xây đập thủy điện.” [4]
Trước đó, TNS Jim Webb cũng đã tổ chức một buổi điều trần ngày 23 tháng 09, 2010 trước Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện với đề tài: “Thách Đố về Nước và An Ninh Khu Vực Đông Nam Á”ngoài tiếng nói của Joseph YunPhụ tá Thứ Trưởng Ngoại giao đặc trách Đông Nam Á/ Deputy Assistant Secretary of State for Southeast Asia phía Hành pháp, còn có những tiếng nói thẩm quyền và uy tín từ các tổ chức Phi Chánh phủ NGOs như Richard Cronin [The Stimson Center], Aviva Imhof [International Rivers Network], Dekila Chungyalpa [Greater Mekong ProgramWorld Wildlife Fund for Nature] [1]
Ủy Ban Ngoại giao Thượng viện sau đó đã chuẩn thuận nghị quyết của TNS Webb kêu gọi các đại diện Hoa Kỳ nơi các ngân hàng phát triển đa quốc cần tuân thủ triệt để/ strict adherence“những tiêu chuẩn quốc tế về môi trường” trong bất cứ một tài trợ ngân sách nào cho dự án đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong. Nghị quyết này như một hỗ trợ cho MRC tuân hành theo thủ tục “tham khảo trước / prior consultation process” cho mỗi dự án xây đập và đồng thời cũng kêu gọi cả Miến Điện và Trung Quốc gia tăng hợp tác với MRC.
Nghị quyết ấy cũng kêu gọi hoãn xây các con đập dòng chính sông Mekong đồng thời thuyết phục chánh quyền Tổng Thống Obama tăng thêm ngân sách cho Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong / LMI, hỗ trợ cho “các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở” và tìm giải pháp bền vững thay thế cho các dự án đập thủy điện dòng chính Mekong.
Trong một lá thơ gửi Ngoại trưởng Hillary Clinton vào ngày 27 tháng 10, 2010, TSN Webb đã yêu cầu Bộ Ngoại Giao tiến xa hơn nữa trong tăng cường hợp tác và thăng tiến phát triển bền vững đối với các dự án đập thủy điện dòng chính Sông Mekong.
TNS Webb phát biểu: “Là một thành viên tài trợ cho MRC, Hoa Kỳ chuẩn bị xem xét việc rút lại ngân khoản đóng góp nếu như các chương trình về con đập không đạt được tiêu chuẩn môi trường được quốc tế chấp nhận.” Và ông đề nghị Ngoại trưởng Hillary Clinton nêu lên các vấn đề ở mọi cập bậc, vói tất cả các quốc gia thành viên, bao gồm cả Thái Lan và Trung Quốc – là hai quốc gia tài trợ chính cho các dự án đập dòng chính Hạ Lưu Mekong.
“Hoa Kỳ và cộng đồng thế giới có một cam kết chiến lược và nghĩa vụ tinh thần / strategic and moral obligation nhằm bảo vệ sức khỏe và an sinh của cư dân sống phụ thuộc vào con sông Mekong cùng với nguồn tài nguyên và nếp sống của họ.” [5]
Người viết thấy cần ghi chú thêm ở đây là ngân khoản Hoa Kỳ đóng góp hàng năm cho MRC không phải là lớn so với các quốc gia khác, hơn thế nữa phải thấy rằng MRC không có chức năng của một cơ quan điều hợp / regulatory agency, ngoài khả năng tích lũy những hiểu biết và có kỹ thuật để hỗ trợ và tham vấn các quốc gia thành viên.
Toàn văn bản Nghị quyết 227 của Thượng viện [thông qua 07/07/2011], và được đồng bảo trợ của các TNS John Kerry, Massachusetts, Chủ tịch Ủy ban Ngoại Giao Thượng Viện, TNS Richard Lugar, Indiana và TNS James Inhofe, Oklahomavới toàn văn bản nội dung như sau [6]:
Mekong là con sông dài thứ 12 trên thế giới, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng và chảy suốt 3 ngàn dặm qua Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam. Khúc Sông Mekong Hạ Lưu là nguồn nước ngọt, nguồn thực phẩm và cơ hội kinh tế cho hơn 60 triệu dân lưu vực.
Sự đa dạng sinh học của sông Mekong chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon, với khoảng 1,500 chủng loại cá trong số đó có hơn 1/3 thuộc loại di ngư/ migratory fish, ngược dòng Mekong và các phụ lưu trong chu kỳ sinh sản và tăng trưởng; đa số thuộc loại cá đánh bắt trao đổi thương mại.
Sông Mekong cũng là cái nôi của 2 quốc gia xuất cảng gạo lớn nhất là Thái Lan và Việt Nam[Ghi chú của người viết: vựa lúa của Thái Lan chủ yếu phụ thuộc vào đồng bằng châu thổ sông Chao Phraya chứ không phải sông Mekong]và là vựa cá nước ngọt lớn nhất với 4 triệu tấn mỗi năm trị giá lên tới 9 tỉ MK và cũng chiếm tới 80% lượng protein động vật của cư dân lưu vực.
Trung Quốc đã và đang xây 15 con đập trên dòng chính Mekong thượng lưu; Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam cũng đang hoạch định xây hoặc tài trợ cho 11 con đập dòng chính trên khúc sông Mekong hạ lưu. Các cuộc nghiên cứu khoa học đã rất quan tâm tới ảnh hưởng tác hại của các con đập dòng chính trên dòng chảy, nguồn cá và sinh vật hoang dã.
MRC là một tổ chức bao gồm 4 nước Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam qua một Hiệp Định Hợp Tác Phát Triển Bền Vững được ký kết tại Chiang Rai tháng 04, 1995 với thỏa thuận hợp tác quản lý con sông Mekong, phát triển theo hướng bền vững, mang lại lợi ích cho tất cả các quốc gia trong lưu vực.
Mọi thành viên MRC cùng đồng ý “bằng mọi cố gắng phòng tránh, làm nhẹ hay giảm thiểu những hậu quả tác hại trên môi trường, đặc biệt với lượng và phẩm chất nước, hệ sinh thái nước, và sự cân bằng sinh thái của toàn con sông, do phát triển và xử dụng các nguồn nước Lưu vực Sông Mekong.” [Điều 7, Mekong Agreement 1995]
MRC đã bảo trợ cho công trình Lượng Giá Môi Sinh Chiến Lược (Strategic Environment Assessment) đối với dự án các con đập dòng chính hạ lưu sông Mekong, và đã đi tới kết luận là các con đập có thể gây hậu quả nghiêm trọng về môi sinh bất khả phục hồi, cùng với những tổn thất lâu dài về tính đa dạng sinh học và sự lành mạnh của toàn hệ sinh thái sông Mekong.
Những thay đổi ấy có thể đe dọa tới “An Ninh Lương Thực” trong vùng, ngăn chặn nguồn di ngư, gây tổn thất trên tính đa dạng sinh học, giảm dòng chảy phù sa, gia tăng nạn nhiễm mặn, giảm lượng nông phẩm, và gây bất ổn cho các nhánh sông rạch và cả gây xạt lở vùng cận duyên Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Hoa Kỳ có những quyền lợi đáng kể cả về kinh tế và chiến lược trong lưu vực sông Mekong và những quyền lợi ấy có thể bị đe dọa nếu như việc xây những con đập dòng chính ấy có thể gây bất ổn chánh trị trong vùng/ region’s political stability at risk.
Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong / LMI do Bộ Ngoại Giao Mỹ khởi xướng vào tháng 7, 2009 liên kết 4 quốc gia Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam trong những “vấn đề an ninh về nước/ water securities issues”, xây dựng tiềm năng vùng, và tạo thuận cho hợp tác đa phương trong vấn đề quản trị hữu hiệu các nguồn nước.
Tài trợ cho Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong khởi đầu chú tâm tới tới ba trụ (pillars): môi trường, y tế và giáo dục — riêng trụ thứ 4, cơ sở hạ tầng thì hầu như bỏ ngỏ và không có ngân khoản. Trong khi cơ sở hạ tầng là yếu tố thiết yếu thăng tiến khả năng điều hợp việc xây dựng các công trình thủy điện trong vùng.
Ngày 22 tháng 9, 2010, Lào gửi tới MRC dự án đập Xayaburi để dược xét duyệt/ review; đây là con đập hạ lưu đầu tiên trong chuỗi 9 con đập dòng chính trong lãnh thổ Lào [Ghi chú của người viết: 2 con đập kia là Stung Treng và Sambor trong lãnh thổ Cam Bốt].
Ngày 19 tháng 4 năm 2011, các đại diện Ủy Ban Liên Hợp (Joint Committee MRC) họp để thảo luận về dự án đập Xayaburi đã không đạt được sự đồng thuận nhưng cũng đồng ý với nhau rằng quyết định sẽ được hoãn lại cho tới kỳ họp cấp Bộ trưởng của 4 nước sắp tới.
Ngày 8 tháng 5, 2011, chánh phủ Lào đồng ý tạm hoãn công trình Xayaburi với kế hoạch khảo sát thêm về lượng giá môi trường (environmental assessment), nhằm đáp ứng mối quan tâm của các quốc gia láng giềng.
Hình III _ Hội Nghị Thượng đỉnh ASEAN17/ 11/ 2011 tại Bali, Indonesia, với chủ đề “Cộng Đồng ASEAN trong Cộng Đồng Thế Giới”:Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đứng cạnh Tổng Thống Obama Hoa Kỳ nhưng mỗi người đang nhìn về một hướng[ Nguồn:Photo Reuters“]
Từ những dữ kiện trên, Thượng Viện Hoa Kỳ–
  1. kêu gọi chánh phủ Mỹ nhận định rõ sự khác biệt hoàn cảnh giữa các quốc gia ven sông Mekong, bao gồm các khía cạnh năng lượng, tài nguyên thiên nhiên, và đồng thời hỗ trợ cho nền tảng phát triển hiệu quả (cost-effective) đáp ứng được nhu cầu sản xuất điện, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo khó.
  2. kêu gọi các đại diện của Hoa Kỳ trong các ngân hàng phát triển đa quốc gia vận dụng tiếng nói và quyền đầu phiếu đề chống lại việc hỗ trợ tài chính cho các dự án đập thủy điện dòng chính Mekong nếu chưa được phối hợp đầy đủ trong phạm vi vùng và có thể gây những tác hại đáng kể về môi trường, đời sông cư dân, và phát triển kinh tế ven sông và trong lưu vực.
  3. khuyến khích Hoa Kỳ gia tăng cam kết với các quốc gia Mekong qua Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong / LMI và gia tăng hỗ trợ “năng lượng và an ninh nước” thuộc vùng Đông Nam Á.
  4. kêu gọi chánh phủ Hoa Kỳ lãnh đạo Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong / LMI quan tâm nhiều hơn tới khả năng xây dựng các dự án về năng lượng và cơ sở hạ tầng nước.
  5. hoan nghênh quyết định của chánh phủ Lào tạm hoãn xây công trình đập Xaburi để đáp lại mối quan tâm của các quốc gia lân bang.
  6. hỗ trợ hoãn xây chuỗi các con đập dòng chính Mekong cho tới khi các cuộc lượng giá môi sinh hoàn chỉnh, đồng thời với kế hoạch điều hợp đa phương được hoàn tất.
  7. kêu gọi mọi quốc gia ven sông Mekong, bao gồm cả Trung Quốc tôn trọng quyền của các quốc gia khác trong lưu vực và cần quan tâm tới bất cứ sự bất đồng hay mối e ngại nào đối với các dự án đập sông Mekong.
  8. khuyến khích các thành viên của MRC tôn trọng thủ tục “tham vấn trước/ prior consultation” qua tiến trình xây đập trải vớicác giai đoạn như: Thủ tục Thông báo (Procedures for Notification), Tham vấn trước (Prior Consultation), Chuẩn thuận (Agreement).
  9. Kêu gọi các chánh phủ Miến Điện và Trung Quốc cải thiện hợp tác với MRC, chia xẻ thông tin về lưu lượng nước và tham dự vào các tiến trình quyết định trong vùng (regional decision-making processes), trong phát triển và xử dụng sông Mekong. Và:
  10. hỗ trợ các quốc gia hạ lưu Mekong thu thập dữ kiện và phân tích ảnh hưởng các dự án phát triển dọc theo sông Mekong.
MỘT KHỞI ĐẦU RẤT TƯỢNG TRƯNG CỦA HOA KỲ
Sự trở lại khu vực Đông Nam Á của Hoa Kỳ qua Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong / LMI, còn mang tính cách rất tượng trưng với một ngân khoản đầu tư chưa tương xứng so với tầm vóc của chánh sách và nhu cầu của các quốc gia trong lưu vực. Lại càng chưa thể nói là có khả năng “đối trọng” đối với áp lực bành trướng ngày càng gia tăng của Trung Quốc, khi mà Bắc Kinh đang ở thế thượng phong trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong (Greater Mekong Subregion) so với Hoa Kỳ trong nhiều lãnh vực:
_ TQ có một địa dư tiếp cận, sở hữu một nửa chiều dài con sông Lancang-Mekong chảy xuyên suốt qua 6 quốc gia thay vì là cả một khoảng cách đại dương.
_ TQ đang và sẽ sở hữu thêm những con đập dòng chính khổng lồ trên thượng nguồn khiến con sông Mekong trở “thành tháp nước và nhà máy điện” của Trung Quốc.[8]
_ TQ đã và đang mở rộng những đặc khu kinh tế SEZs (Special Economic Zones) “Made in China” trong lưu vực [ Lào, Cam Bốt, Việt Nam] với nhân lực tài lực và các hạ tầng cơ sở có khả năng bám trụ lâu dài.
_ TQ có một lực lượng quân sự được quyền ngang nhiên tuần tra trên sông Mekong bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc từ tháng 12, 2011 nhằm bảo vệ an ninh và những đặc quyền kinh tế. [7]
_ TQ đang tận khai thác tình trạng phân hóa khối ASEAN và các quốc gia Mekong, điển hình là sự rạn vỡ của ba nước Đông Dương với Cam Bốt và tiếp theo là Lào đang tách rời Việt Nam đi dần vào quỹ đạo của Bắc Kinh.
_ TQ có một nguồn tiền gần như vô hạn, là chủ nợ của Hoa Kỳ, và dư khả năng để tài trợ cho các công trình cơ sở hạ tầng và cả những con đập hạ lưu sông Mekong.
Ngay cả chưa nói tới nguồn tiền từ Trung Quốc, khai thác thủy điện sông Mekong nay có phần dễ dàng hơn nhiều khi mà số vốn đầu tư có thể đến từ những ngân hàng thương mại địa phương [như Thái Lan, Mã Lai, Việt Nam…] thay vì như trước đây phải được tài trợ từ các tổ chức tài chánh quốc tế lớn mà Mỹ rất có ảnh hưởng như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Á châu.
Thiếu thực chất (short on substance) là thực trạng hiện nay của Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong. Các viên chức Hoa Kỳ từ Hành Pháp tới Lập Pháp thì đã nói nhiều về cam kết với vai trò mở rộng của Hoa Kỳ trong Lưu Vực Sông Mekong nhưng “tổng số đầu tư thì chưa đáng kể” để có thể hỗ trợ cho các cuộc nghiên cứu về lượng giá ảnh hưởng tích lũy của các dự án đập trên dòng chính sông Mekong. Dĩ nhiên, có một cái giá tương xứng phải trả để Hoa Kỳ có thể trở lại khu vực Đông Nam Á với thế mạnh và có khả năng đối trọng với Trung Quốc.
Trong bài kế tiếp, người viết sẽ bàn về những bước triển khai và hiện thực của Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong cùng với những đề xuất.
NGÔ THẾ VINH
California, 11/04/2012
THAM KHẢO:
1/ Challenge to Water and Security in Southeast Asia; U.S. Senate Committee on Foreign Relations; Presiding:Senator Webb, Thursday, September 23, 2010;http://www.foreign.senate.gov/hearings/hearing/?id=4c2fd291-5056-a032-52fd-414f26c49704
2/ Testimony of Aviva Imhof, Campaign Director, International Rivers Before the Senate Committee on “Challenge to Water and Security in Southeast Asia”, Sept 23, 2010http://foreign.senate.gov/imo/media/doc/Imhof.pdf
3/ Mekong, Tipping Point: Hydropower Dams, Human Security and Regional Stability; Richard Cronin, Timothy Hamlin; The Henry Stimson Center 2010; www.stimson.org
4/ Press Releases: Senator Webb: Mekong River Commission Announcement on Xayaburi Dam “Important Step Toward Responsible Policy”; December 8, 2011;http://webb.senate.gov/newsroom/pressreleases/2011-12-08-02.cfm
5/ Sen. Webb Calls on Sec. Clinton to Strengthen Cooperation to Avert Crisis in Mekong River Region of Southeast Asia.Says U.S. should consider withdrawing funding for Mekong River Commission if environmental standards are not met.http://webb.senate.gov/newsroom/pressreleases/10-27-2010-02.cfm.
6/ In The Senate of The United Stated,; The full text of S.Res. 227 (as passed July 7, 2011), (Mr. Webb, Mr. Inhofe, and Mr. Lugar) A resolution calling for the protection of the Mekong River Basin and increased United States support for delaying the construction of mainstream dams along the Mekong River.
7/ Mekong River Patrols in Full Swing but Challenges Remain
Publication: China Brief Volume: 12 Issue: 4
February 21, 2012; By: Ian Storey
8/ The Damming of the Mekong:
Major Blow to an Epic River; Yale Environment 360by fred pearce, June 16, 2009
9/ China Sees U.S. as Competitor and Declining Power, Insider Says; By Jane Perlez, April 2, 2012; http://www.nytimes.com/2012/04/03/world/asia/chinese-insider-offers-rare-glimpse-of-us-china-frictions.html?_r=1&hp
Nguồn: Nguyễn Văn Tuấn blog

Xin lỗi vì đã “phá rối” không khí hữu nghị nhưng chịu không nổi!


Sáng nay tôi không được ăn món ăn bình thường của báo Quân đội nhân dân khi đọc tin này: 

Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Quân đội nhân dân Việt Nam lên đường thăm Trung Quốc 

QĐND – Ngày 11-4, Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Quân đội nhân dân Việt Nam do Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu, rời Hà Nội lên đường sang thăm hữu nghị nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa theo lời mời của Thượng tướng Trần Bỉnh Đức, Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc. 

Chuyến thăm nhằm khẳng định thiện chí và mong muốn phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân và quân đội hai nước, thúc đẩy nhận thức chung về các vấn đề quốc tế, khu vực và quan hệ song phương mà hai bên cùng quan tâm, góp phần tăng cường độ tin cậy về chính trị. Trong chuyến thăm này, hai đoàn cán bộ quân sự cao cấp Quân đội hai nước bàn các biện pháp đưa quan hệ hữu nghị, hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng lên bước phát triển mới, đi vào thực chất và có hiệu quả hơn trong thời gian tới…. 

(http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/4/37/37/183628/Default.aspx) 

Ban đầu tôi tự hỏi mình: Đó có phải là chuyện hài hước hay không? Và rất tiếc tôi phải đành phải nhanh chóng thừa nhận rằng quân đội và hài hước hiếm khi phù hợp với nhau. Nên tôi viết vài dòng sau đây để chia sẻ nỗi đau không thể tự kìm chế: 

Với tư cách là công dân Việt Nam và Pháp, tôi chỉ yêu cầu đoàn Việt Nam, đại diện của nhân dân Việt Nam (thường xuyên đi thăm Trung Quốc như đi chợ), trong dịp này vui lòng gửi tới Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc lòng căm ghét sâu sắc của tôi đối với những hành động vô nhân đạo, ăn cướp, hải tặc của hải quân Trung Quốc, kéo dài mấy chục năm nay đối với ngư dân miền Trung, đặc biệt đối với 21 anh em đang bị giam giữ tại đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa hoàn toàn của Việt Nam. Xin đoàn đại biểu cao cấp Quân đội nhân dân Việt Nam vui lòng nhận ở đây sự nhục nhã và lòng phẫn nộ của một người Việt khi thấy lãnh đạo quân sự của mình, vốn có trách nhiệm thiêng liêng là bảo vệ đồng bào bị nước ngoài hà hiếp, có vinh dự nâng cao lá cờ tự hào của dân tộc, lại đi thăm bọn ăn cướp dân mình, ăn cướp đất mình, ăn cướp biển mình, lại đi lạy trước bọn xâm lược để “phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân và quân đội hai nước, thúc đẩy nhận thức chung về các vấn đề quốc tế, khu vực và quan hệ song phương mà hai bên cùng quan tâm, góp phần tăng cường độ tin cậy về chính trị”. 

Liệu lãnh đạo đoàn lần này sẽ phát biểu, như lãnh đạo đoàn trước đã phát biểu khi đi thăm Trung Quốc nhân năm “hữu nghị vàng” 2010, rằng “nên giữ nguyên hiện trạng” tại Biển Đông hay không? Lãnh đạo Việt Nam có hiểu rằng điều đó có nghĩa là Việt Nam chịu mất Hoàng Sa của mình mãi mãi hay không? Liệu ông trưởng đoàn, Thượng tướng Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, có “quên” không nói một lời nào về Hoàng Sa của Việt Nam, như một ông Trung tướng Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã quên trong một cuộc phỏng vấn rất dài trên Tuổi trẻ số xuân Nhâm Thìn hay không? Nếu “quên” thì dân Việt Nam cũng chẳng lạ! 

Trong khi đó vẫn chưa có luật biểu tình! 

Trong khi đó vẫn chưa có luật về biển đảo! 

Thưa các ông, vào lúc này khi Trung Quốc gia tăng không che giấu các hành vi xâm lấn và dọa dẫm đối với Việt Nam, Philippines, Hàn Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, một thái độ mà cộng đồng quốc tế càng ngày càng lên án một cách cương quyết, thì những tình cảm tốt đẹp nhất của tôi không đồng hành với chuyến thăm xã giao Bắc Kinh của các ông. Sorry for you.
André Menras, Hồ Cương Quyết
Nguồn: Bauxite Việt Nam

Sao chưa dùng “đường dây nóng”?


Tất cả các báo ngày 10-3-2012 đồng loạt đưa tin người phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam đòi Trung Quốc chấm dứt ngay thử nghiệm du lịch ở Hoàng Sa: “Việt nam khẳng định chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa… Trung Quốc phải chấm dứt ngay việc làm trên, nghiêm túc tuân thủ DOC”. Quả là những lời lẽ hết sức mạnh mẽ. Tuy nhiên, đây không phải được nghe lần đầu, mà đã phải nghe đi nghe lại quá nhiều lần trong năm, thậm chí trong tháng! Sức tác động do vậy không như mong muốn!
Trung Quốc hành động phi pháp, nhưng họ luôn luôn tính toán rất bài bản để đối phó trước mắt, nhằm đạt mục tiêu cuối cùng. Trước khi cắt cáp tàu Bình Minh 2 họ cử các nhân vật cao cấp ém trước các đầu mối có ý nghĩa bùng nổ thông tin chính trị quốc tế. Hãy xem lại cách làm của họ lần này:
Từ 27 đến 28-2 họ mời Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn hội đàm thân mật với người đồng cấp Trương Chí Quân. Chiều 2-3 hai bên ra Thông báo khai trương đường dây nóng giữa hai Bộ Ngoại giao với ý nghĩa thật nức lòng: “Tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam- Trung Quốc, triển khai các cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển, kịp thời xử lý các vấn đề nãy sinh, cùng nhau duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông”; “Hai bên còn nhất trí thành lập nhóm công tác về phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ”; “Thành lập nhóm công tác về hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, giảm thiểu thiệt hại cho ngư dân”. Ôi quá tốt đẹp! Gắn bó với nhau như môi với răng thuở nào!
Đùng một cái (không thể nhớ đây là cái “đùng” lần thứ mấy!) ngay ngày hôm sau, 3-3, Trung Quốc liên tục vây bắt 2 tàu đánh cá của các ông Bùi Thu và Trần Hiền cùng 21 ngư dân trên vùng biển Hoàng Sa, đòi tiền chuộc mỗi đầu người 70.000 nhân dân tệ (200 triệu đồng). Rồi liên tục suốt trong tháng 3 họ làm những việc giống như để xé cái Thông báo long trọng chữ ký chưa ráo mực: Mời thầu dầu khí thăm dò gần đảo Cù Mộc của ta; Tập trận bắn đạn thật; Tổ chức đua thuyền buồm; Nay là thử nghiệm du lịch!
Vì sao họ bỏ công mời Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn họp mấy ngày, long trọng thông báo khánh thành đường dây nóng với nội dung đẹp đẽ nức lòng như thế? Đó là thủ đoạn ranh ma quen thuộc nhằm buộc chặt tư duy Việt Nam vào cái bánh vẽ “vì đại cuộc”, khiến cho chúng ta phản ứng chậm, không dám quyết liệt, không sớm tìm biện pháp cơ bản để giải quyết rốt ráo chủ quyền biển đảo. Họ cần thời gian, “để lâu cứt trâu hóa bùn” mà!
Vậy xin hỏi trong suốt tháng qua, vì sao đường dây nóng mới khánh thành giữa hai Bộ Ngoại giao không hoạt động? Nếu có hoạt động thì lý lẽ của phía bên kia bào chữa cho việc làm sai trái của họ là thế nào? Tại sao Bộ Ngoại giao ta không thể công bố nội dung đối thoại việc “cùng nhau duy trì hòa bình trên Biển Đông” (mục đích của việc thiết lập đường dây nóng) cho nhân dân Việt Nam và toàn thế giới được biết?
Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước Quốc hội ngày 25 tháng 11 năm 2011 về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam; biện pháp hòa bình để thu hồi Hoàng Sa là rất rõ ràng. Nhưng sau đó, cần phải có phương án tổng hợp được các nguồn lực để đấu tranh và kèm theo là một lộ trình cụ thể để thực hiện. Rất cần có một văn kiện chính thức của Chính phủ Việt Nam về Hoàng Sa và Trường Sa làm tư liệu cơ bản phổ biến, giáo dục trong nước và đưa ra công luận quốc tế đấu tranh bác bỏ ngụy lý của Trung Quốc trên tất cả mọi diễn đàn quốc tế, trước khi đưa ra trọng tài quốc tế. Không thể để Trung Quốc biến việc cưỡng chiếm Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa thành chuyện đã rồi!
Nguồn: Viet-Studies

Thứ Năm, ngày 12 tháng 4 năm 2012

"Xi Vẫn" trong bài thơ về chùa Một Cột của nhà sư Huyền Quang

Bài viết này của GS Hà Văn Tấn được viết vào những năm 90 của thế kỷ trước cho thấy rõ hơn về cái gọi là “Truy tìm nguồn gốc loài thú lạ trên mái chùa Một Cột” của tác giả Trần Trọng Dương đăng trên Tia Sáng ngày 11/04/2012.
Vị tổ thứ ba của phái thiền Trúc Lâm thời Trần, ngài Huyền Quang, có một bài thơ rất hay về chùa Diên Hựu, tức chùa Một Cột, biểu hiện một triết lý thiền sâu sắc. Bài thơ đó đã được công bố nhiều nơi, ở đây tôi xin phép không nhắc lại, mà chỉ nói tới hai câu thứ ba và thứ tư, tả cảnh chùa:
Xi vẫn đảo miên phương kính lãnh,
Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn.
Trong tập Thơ văn Lý Trần xuất bản gần đây, hai câu đó được dịch nghĩa như sau:
Bóng xi vẫn nằm ngủ ngược dưới mặt hồ như tấm gương vuông lạnh giá.
Hai ngọn tháp đứng song song như ngón tay ngọc rét buốt.
Dịch như thế là được, không có vấn đề gì.
Vấn đề là ở chỗ chú thích: “Xi vẫn” hoặc còn gọi là xi vĩ, là hình những con cú được chạm hoặc đắp nổi trên nóc đình, chùa. Ở chùa Một Cột ngày nay là hình con rồng.
Do hiểu “xi vẫn” là hình con cú. Huệ Chi đã dịch hai câu trên trong bài thơ như sau:
In ngược hình chim, gương nước lạnh,
Sẫm đôi bóng tháp, ngón tiên hàn (1).
Mới đây, trong quyển Những ngôi chùa danh tiếng, khi viết về chùa Một Cột, Nguyễn Quảng Tuân đã chép lại bài thơ dịch của Huệ Chi và bình luận thêm như sau:
“Qua bài thơ chúng ta thấy tác giả tả cảnh chùa Diên Hựu với bóng xi vẫn (hình một loài chim) nằm ngủ in ngược xuống dưới mặt hồ trông như tấm gương vuông lạnh giá và với hai ngọn tháp đứng song song như ngón tay ngọc rét buốt”. Ngày nay ao Bích Trì, cầu vồng và bảo tháp đã không còn. Và các con Xi vẫn ở trên mái đã được thay thế bằng những con rồng”(2).
Có thật Xi vẫn là hình chim cú, như Huệ Chi nói: hay hình một loài chim, như Nguyễn Quảng Tuân nói hay không?
Đúng là có một loài cú mèo mà tên Trung Quốc đọc theo âm Hán Việt là Xi hưu (  ). Nhưng trong trường hợp Xi vẫn thì Xi không phải là một loài chim, càng không phải là cú.
Ai lại đắp hình chim cú lên nóc đình chùa !  
Xi (  ) cũng có khi viết là (  ) ở đây là một loài động vật ở biển, được nói đến trong truyền thuyết Trung Quốc.
Về động vật truyền thuyết này, có sách nói đó là loài cá, có sách nói đó là loài thú.
Sách Loại yếu chép: “Ở BIỂN ĐÔNG có loài cá giống con Xi, phun sóng tức mưa xuống, từ đời Đường về sau đắp tượng nó ở trên nóc nhà”.
Sách Tô chí diễn nghĩa chép: “Xi là loài thú ở biển, vua Hán Vũ Đế xây điện Bá Lương cho Xi vĩ là tinh của nước, có thể trừ được hoả tai, nên đặt hình tượng của nó ở trên điện”.
Trong khi đó, sách Đường hội yếu lại viết: “Sau khi điện Bá Lương thời Hán bị hoả tai, CÓ VU SƯ NGƯỜI VIỆT NÓI RẰNG trong biển có loài cá cuộn đuôi như con Xi, đập vào sóng thì mưa xuống, bèn làm hình tượng của nó trên nóc nhà để làm điềm trừ lửa “.
Như vậy, xi là loài động vật biển mà theo truyền thuyết, có thể gây ra mưa, nên  người Trung Quốc đắp hình nó trên nóc nhà với ý nghĩa phòng ngừa hoả hoạn.
Chú thích Thơ văn Lý Trần ghi rằng: “Xi vẫn hoặc còn gọi là Xi vĩ. Thực ra Xi vĩ (  ) là hình đuôi con Xi, còn Xi vẫn (  ) là hình miệng con Xi.
Tuy vậy, do thói quen, người ta thường gọi lẫn lộn xi vẫn với xi vĩ.
Chẳng hạn, sách Cựu Đường thư của Lưu Tuân, người thời Ngũ Đại, chép năm Khai Nguyên thứ 14 (năm 726), có một trận gió lớn làm cho các xi vẫn trên của Đoan Môn rơi hết. Cũng sự kiện đó, trong Tân Đường thư, Âu Dương Tu đời Tống lại chép là các xi vĩ rơi hết.
Trong thực tế, sự biến chuyển từ hình Xi vĩ đến hình Xi vẫn là một quá trình khá dài trong lịch sử kiến trúc Trung Quốc.
Vì chùa Một Cột thời Trần, theo ngài Huyền Quang, có hình Xi vẫn trên mái, tôi nghĩ rằng chúng ta cũng nên biết đến sự ra đời và biến chuyển của Xi vẫn trong kiến trúc Trung Quốc.
Như trên đã dẫn, một số sách có nói về hình Xi vĩ (đuôi con Xi) trên điện Bá Lương thời Hán, nhưng các nhà lịch sử kiến trúc Trung Quốc đã nghi ngờ về điều này.
Họ cho rằng xi vĩ chỉ xuất hiện trên nóc các kiến trúc từ thời Tấn về sau mà chưa có ở thời Hán.
Họ dựa vào câu chép trong sách Bắc sử (Vũ Văn Khải truyện): “Từ Tấn về trước chưa cóXi vĩ ”, và câu chép trong Tấn thư (An Đế kỷ): “Tháng 6 năm Nghĩa Hy thứ nhất (năm 405) sét đánh vào Xi vĩ ở nhà Thái miếu”. Những câu này trong các bộ chính sử xác nhận sự xuất hiện của Xi vĩ ở đời Tấn.
Dựa vào các di tích kiến trúc, đặc biệt là dựa vào các hình nhà trong các bích hoạ, các nhà lịch sử kiến trúc Trung Quốc đã phác hoạ được con đường phát triển của Xi vĩ (3).
Đại thể từ thời Tấn đến Nam Bắc triều, hình xi vĩ còn khá đơn giản, chỉ là hai cái mấu cong ở hai đầu nóc nhà (xem hình).
Đến đời Tuỳ, Đường, xi vĩ đã phát triển đến các hình thức đẹp, có dạng cao lớn, phía sau (tức phía trở ra hồi nhà) thường có hai hàng kỳ nổi lên. Còn phía trước, có những hình trang trí như những u tròn, được gọi là “bảo châu” (xem hình dưới).
Nhiều ngôi chùa cổ ở Nhật Bản còn giữ được kiểu Xi vĩ đời Đường, mà người Nhật gọi làshibi. Tôi đã có dịp xem các shibi như vậy ở chùa Horyu, Tosho, tại Nara, Nhật Bản.
Nhưng từ thời Trung Đường, hoặc cuối Đường, hình dạng Xi vĩ có sự biến chuyển quan trọng.
Phía sau của Xi vĩ không thay đổi mấy nhưng phía trước dần dần trở thành miệng con thú đang há ra. Như thế là Xi vĩ đã trở thành Xi vẫn.
Từ cuối Đường đến Tống, hình Xi vẫn càng ngày càng đa dạng. Trong tấm đuôi ngược lên phía trên, thường có những dạng có vẩy, làm cho Xi vẫn đã khá gần với hình rồng (xem hình dưới).
 Trong Doanh tạo pháp thức của Lý Minh Trọng soạn năm 1100, có mục nói về Xi vĩ, nhưng cũng đã đề cập đến Long vĩ (đuôi rồng), mà thực chất là Long vẫn (miệng rồng).
Qua các đời Nguyên, Minh, Thanh, dần dần có những Long vẫn, hay đúng ra là hình rồng, với các dạng thức hoàn thiện (xem hình).

 Đời Thanh, gọi chung Xi vẫn hay Long vẫn là Chính vẫn hay Đại vẫn.
Như vậy là chúng ta đã điểm qua lịch sử phát triển của Xi vĩ và Xi vẫn, một hình thức trang trí hai đầu nóc nhà, trong kiến trúc Trung Quốc.
Điều chúng ta quan tâm ở đây là hình thức trang trí nóc nhà đó ảnh hưởng đến kiến trúc hay không? Liệu bài thơ của ngài Huyền Quang có phải đã đưa ra một sự miêu tả hiện thực hay từ Xi vẫn ở đây chỉ là một từ có sẵn mà tác giả mượn để chỉ các trang trí trên nóc nhà nói chung?
Tôi nghiêng về ý kiến cho rằng trên nóc chùa Một Cột thời Trần thực đã có các hình Xi vẫn.
Các ảnh hưởng của kiến trúc Trung  Quốc đến kiến trúc Việt Nam thời kỳ Lý Trần rõ ràng không thể phủ nhận. Ta có thể thấy được điều này qua các tháp hiện còn ảnh hưởng của kiến trúc Trung Quốc đến Việt Nam trong thời kỳ Lý Trần chỉ có thể là những ảnh hưởng của kiến trúc từ cuối Đường đến Tống Nguyên.
Mà trong giai đoạn này của lịch sử kiến trúc cổ Trung Quốc, kiểu trang trí xi vẫn trong thơ Huyền Quang là hoàn toàn hợp lý. Điều đó có nghĩa là trên nóc chùa Một Cột thời Trần, có hình miệng con xi (xi vẫn) chứ không phải là hình đuôi con xi (xi vĩ) nữa. Mà đã là hình miệng con xi thì trên thực tế, rất gần với hình rồng.
Phải chăng hình rồng có vảy thời Trần là có ảnh hưởng nào đó của Xi vẫn thời Tống, Nguyên?
Một điều đáng suy nghĩ nữa là trên nóc chùa Một Cột thời Lý là đã có Xi vẫn hay chưa? Chúng ta biết rằng chùa Một Cột thời Lý có quy mô to lớn hơn và khác với chùa Một Cột ngày nay.
Quy mô đó có thể thấy qua những điều miêu tả trong Đại Việt sử ký toàn thư và trong văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh ở chùa Đọi, Hà Nam. Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ, quyển 3, tr.15a) chép: “Mùa Thu, tháng Chín (năm Long Phù thứ năm, 1105), làm hai ngọn tháp chỏm trắng ở chùa Diên Hựu… Bấy giờ vua (Lý Nhân Tông) cho chữa lại chùa Diên Hựu đẹp hơn cũ, đào hồ ở đài hoa sen, gọi là hồ Linh Chiểu. Ngoài hồ có hành lang chạm vẽ chạy chung quanh, ngoài hành lang lại đào hồ gọi là Bích Trì, đều bắc cầu vồng để đi qua. Trước sân chùa xây bảo tháp”. Bia tháp Sùng Thiện Diên Linh (dựng năm 1122) cũng có đoạn tương tự: “Mở chùa Diên Hựu ở vườn Tây Cấm, dấu theo quy mô thủa trước, lo toan thánh ý ngày nay. Đào ao thơm Linh Chiểu, giữa ao chồi lên một cột đá, trên cột có một đoá hoa sen nghìn cánh xoè ra. Trên hoa dựng ngôi đền đỏ sẫm, trong đền đặt pho tượng sắc vàng. Ngoài ao có hành lang vẽ bao bọc. Ngoài hành lang lại đào ao Bích Trì, bắc cầu cong để đi lại. Ở sân trước cầu, hai bên tả hữu, xây tháp báu lưu ly”.
Như vậy là ở chùa Một Cột thời Lý, có hai ngôi tháp được xây dựng năm 1105. Trong thơ của Huyền Quang thời Trần có nói đến hai ngôi tháp, hẳn đó là những ngôi tháp có từ thời Lý. Có điều là ngôi chùa Một Cột thời Trần không còn là ngôi chùa thời Lý. Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ, q.5.tr.16b) chép: “Năm Kỷ Dậu (Thiên ứng Chính Bình thứ 18, 1249), mùa Xuân, tháng Giêng, trùng tu chùa Diên Hựu, xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ”. Nói rằng chùa được trùng tu trên nền cũ, có nghĩa là ngôi chùa trước đó không còn nữa.
Mà ngày xưa, trùng tu, tức xây dựng lại, không ai bắt buộc phải theo đúng hình mẫu cũ như công việc trùng tu di tích hiện nay. Do đó, chúng ta hoàn toàn không thể biết được những Xi vẫn có trên ngôi chùa thời Trần đã tồn tại trên ngôi chùa thời Lý hay chưa. Nếu có, thì cũng là Xi vẫn, đầu kiểu khác, chứ không thể là Xi vĩ.
Viết bài này, tác giả không chỉ nhằm đính chính một chỗ hiểu sai trong bài thơ nổi tiếng về chùa Một Cột của ngài Huyền Quang, mà muốn gợi ra một số vấn đề về kiến trúc Phật giáo Lý Trần, một giai đoạn rực rỡ trong lịch sử kiến trúc Việt Nam.
GS Hà Văn Tấn
Ghi chú:
(*) Đã in trong Nghiên cứu Phật học, số 3/1991.
(1) Thơ văn Lý Trần, Tập II, quyển Thượng- Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.1989.tr.705.
(2) Nguyễn Quảng Tuân. Những ngôi chùa danh tiếng- Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh,1990, tr.18.
(3) Về quá trình biến chuyển của Xi vĩ và Xi vẫn, có thể xem bài “Trung Quốc cổ đại kiến trúc đích tích sức” (Hình trang trí nóc nhà trong kiến trúc cổ đại Trung Quốc) của Kỳ Anh Đào, trong tạp chí Văn vật số 3, 1978, tr.62-70.
 © Gốc Sậy 2012