Thứ Bảy, ngày 28 tháng 4 năm 2012

Bùi Hằng được trả tự do


Một nhà hoạt động nữ từng tham gia nhiều cuộc biểu tình đòi chủ quyền biển đảo của Việt Nam và bị chính quyền thành phố Hà Nội cưỡng bức giam giữ cải tạo gần nửa năm mới được thả tự do, theo truyền thông nhà nước.
Bà Bùi Thị Minh Hằng, hay còn được biết tới là Bùi Hằng đã “được hưởng khoan hồng” theo tờ báo An Ninh Thủ Đô hôm 28/04/2012.
Tờ báo của cơ quan Công an Thành phố Hà Nội hôm thứ Bảy nói: “Bùi Thị Minh Hằng được bàn giao cho chính quyền địa phương phối hợp cùng gia đình tiếp tục giáo dục trở thành công dân tốt.”
“Trong thời gian qua Bùi Thị Minh Hằng nhiều lần có hành vi gây rối trật tự công cộng trên địa bàn thành phố Hà Nội, nhưng chưa đến mức xử lý hình sự, Chủ tịch UBND TP Hà Nội đã ra quyết định đưa Bùi Thị Minh Hằng vào cơ sở giáo dục Thanh Hà (Vĩnh Phúc) từ ngày 28-11-2011.”
Tờ báo giải thích thêm về quyết định thả tự do với bà Hằng:
“Thực hiện các chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước, nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn 30-4, 1-5; xét đơn đề nghị của gia đình; xét điều kiện hoàn cảnh cụ thể của trại viên Bùi Thị Minh Hằng và sau khi trao đổi, thống nhất với chính quyền địa phương nơi cư trú (phường 4, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), cơ sở giáo dục Thanh Hà đã quyết định bàn giao Bùi Thị Minh Hằng cho chính quyền địa phương phối hợp cùng gia đình tiếp tục giáo dục Bùi Thị Minh Hằng trở thành công dân tốt.”
Được biết trong thời gian bà Bùi Hằng bị giam giữ, bà và gia đình đã nhiều lần phản đối và khiếu nại về việc bị cưỡng bức cải huấn ở trại giáo dục Thanh Hà.
Bà đã có thời gian tuyệt thực và mới đây, trước khi được thả tự do, đã có đơn kiện chủ tịch thành phố Hà Nội vì quyết định giam giữ mà bà và gia đình, cũng như luật sư bảo vệ quyền lợi cho bà cho là “vi phạm pháp luật” và “vi phạm nhân quyền.”
‘Kêu gọi thả tự do’
Từ đầu tháng Mười Hai,Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch -HRW) đã kêu gọi Chính phủ Việt Nam thả tự do ngay lập tức cho bà Hằng.
“Không gì có thể biện minh cho việc chính quyền Việt Nam đưa một người phản đối trong hòa bình đến một nơi trên thực tế là trại lao động cưỡng bức,” một tuyên bố ngày 5/12/2012 của HRW nói.
“Bắt giữ bà Bùi Thị Minh Hằng mà không thông qua một phiên tòa xét xử chứng tỏ việc không thèm đếm xỉa gì đến quyền con người của bà Hằng và quyền tự do bày tỏ ý kiến được ghi trong chính Hiến pháp của Việt Nam,” vẫn theo tổ chức phi chính phủ vì nhân quyền này.
Hoa Kỳ cũng nằm trong số các quốc gia, bên cạnh nhiều tổ chức quốc tế, phi chính phủ, đa chính phủ tỏ ra quan ngại về việc giam giữ bà Hằng và đã lên tiếng kêu gọi chính quyền thả tự do cho bà.
Trong một thông cáo ngay đầu năm nay, Tòa đại sứ Mỹ ở Hà Nội nói: ‘Không ai có thể bị cầm tù chỉ vì thực hiện quyền tự do bày tỏ ý kiến hay quyền tụ tập trong hòa bình hay bất cứ quyền con người nào khác được quốc tế thừa nhận.”
“Đại sứ quán Hoa Kỳ quan ngại sâu sắc trước tin tức bà Bùi Thị Minh Hằng đã bị kết án đến hai năm ở một trại cải tạo ở Việt Nam mà không thông qua xét xử vì đã tham gia phản đối trong ôn hòa,” thông cáo ngày 5/01/2012 viết.
“Việc thiếu vắng các trình tự pháp lý thích hợp đi ngược lại những cam kết của Việt Nam đối với bản Tuyên ngôn nhân quyền toàn cầu.”
Tòa đại sứ Hoa Kỳ cũng đã yêu cầu thả bà Hằng và ‘tất cả các tù nhân chính trị’ và cho biết họ thường xuyên yêu cầu Chính phủ Việt Nam thả tự do vô điều kiện cho tất cả những người bị cầm tù vì bày tỏ chính kiến.
Mới đây nhất ngoại trưởng Anh, William Hague, trong một phỏng vấn ngay sau chuyến thăm Việt Nam hôm 26/4/2012, cũng khẳng định với BBC rằng “có khác biệt” quan trọng giữa Việt Nam và Anh trong vấn đề dân chủ và nhân quyền.
“Tại Việt Nam không có tự do biểu đạt mà ở Anh được hưởng. Do đó rõ ràng là có những khác biệt quan trọng khiến Việt Nam trở thành một trong những nước mà Anh quan ngại về nhân quyền.”
Tuy nhiên ngoại trưởng Anh cũng bày tỏ hy vọng Việt Nam “sẽ có thay đổi theo thời gian.”
Theo BBC
Hình chụp trên báo An Ninh Thủ Đô

Tôi muốn…làm nô bộc

…tôi muốn làm nô bộc từ lâu rồi bác ạ, chỉ cần một nhiệm kỳ…à một năm thôi, chuộc lại trâu, trả hết nợi, xây được cái nhà tầng, mua cái xe máy xịn, có đủ vốn để hai thằng con học hành là tôi hạ cánh ngay…

- Này bác, nô bộc là gì nhỉ?
- Là đầy tớ, phải trung thành, cần cù làm việc cho chủ nhân. Mà sao tự dưng lại hỏi như thế ?
- Là lâu nay, trước dân không thấy ông cán bộ nào nói đến cụm từ này nên thấy nhơ nhớ.
- Cũng có lý do của nó, như xấu hổ vì đây đó đã xẩy ra nhiều chuyện cán bộ tham nhũng, cán bộ lừa dân, mạo danh “chủ“, lợi dụng “chủ” để tư túi, trục lợi…
- Cũng có lý, mà cũng không có lý, vì chẳng lẽ ông cán bộ nào cũng như thế cả sao ?
- Nhưng đã xẩy ra nhiều vụ rồi nên dân mất niềm tin, nghe nô bộc nói, thấy nô bộc làm là người ta sợ. Như ở TP Việt Trì xin, chạy bằng được lên TP loại 1, tỉnh Vĩnh Phúc qua “Vụ án nuốt đất”. Phía sau đó dân chỉ có chết, còn quan chức- nô bộc thì giàu sụ lên. Vụ án nông trường Sông Hậu, nô bộc quyết tâm đưa nữ anh hùng An Sương liêm khiết vào tù vì tội lập quỹ đen, vụ Tiên Lãng, gia đình ông Đoàn Văn Vươn tan nát, vào tù vì nô bộc, rồi vụ DN Đức Hoa ở thị xã Thái Hòa Nghệ An điêu đứng vì tất khuất đền bù GPMB ở cầu Khe Tọ…
- Thôi, thôi, bác kể thế thì  đến khi nào cho hết, xem ra bức tranh xám xịt quá. Có chuyện gì về nô bộc vui vui không ? Ở làng xã ta, hoặc đâu đó trên báo chí cũng được.
- Trước đây, cách đâu mấy chục năm có một số báo viết về ông Trương Đình…gì đó làm bí thư tỉnh ủy ta. Ông này từng đi xe lai, đi xe đạp về các vùng nông thôn nhạy cảm để thị sát thực tế cuộc sống của dân, sau đó đề xuất, quy hoạch cho từng vùng trồng cây gì, nuôi con gì..
- Hiệu quả thế nào ? Cộng, trừ , nhân, chia cuộc sống của dân có khởi sắc ?
- Lâu rồi tôi cũng không nhớ nữa, nhưng chắc không nhiều thì ít. Ngoài chuyện nô bộc này ra thì không thấy chuyện nào khác.
- Thế thì sợ nô bộc quá bác nhỉ, trong lúc đó Chính phủ từ lâu đã thành lập phong trào phòng chống tham nhũng, Quốc hội cũng sửa luật để các điều khoản sát với thực tế trong xử phạt, vậy mà xem ra vấn nạn nô bộc vẫn không giảm, mà càng tinh vi hơn. Đó là chuyện mua quan bán tước, sau đó làm được chức nô bộc cao thì bằng mọi cách thu vốn lấy lời. Như XDCB, đường xá, trường học, đê đập thủy lợi, dự án càng lớn lợi nhuận càng cao, tiền vào túi càng nhiều. Không như thế mà có nhà lầu, xe hơi, vợ ăn chơi, con du học…mà lương của họ thì được mấy. Chỉ một phép cộng, trừ đơn giản là biết ngay. Bây giờ cán bộ nào cứ lương ba đồng ba cọc xem có ai phấn đấu, kể cả cho không xem có mấy nô bộc lên ghế nọ, ghế kia để vì dân, vì nước.
- Chú suy diễn theo kiểu vơ đũa cả nắm rồi đấy, không khéo ếch chết vì miệng có ngày. Nếu nói ông tòa án nọ, công an kia, ông chủ tịch huyện ăn hối lộ, tham nhũng chỉ là một phần ít, còn hàng ngàn, hàng vạn cán bộ khác cũng thế cả sao.
- Những chuyện tiêu cực báo chí phanh phui ra thì không nói nữa, còn bao chuyện chưa ai biết, mà ai dám chắc trong đó nô bộc hoàn toàn trung thành vì dân.
- Chưa biết thì không nói, đừng làm nản lòng. Thôi bây giờ chú với tôi ta nói nói kinh tế gia đình xem nào, phải biết làm giàu chính đáng.
- Làm nhà  nông bao giờ cho đủ ăn được nói chi đến giàu, tôi nhớ câu thơ ông Phạm Việt Thư ở báo NNVN “Mẹ ngồi dưới vạt khoai lang, từ đây đến chộ giàu sang mịt mù”.
- Thì bứt phá lên, năng động lên, khối người từ bụi mía, luống khoai đi lên đấy thôi.
- ý bác nói là kiếm một số vốn, như vay lãi ngân hàng, bán đi vài con trâu, hoặc vay mượn thêm để mua một chức nô bộc. Đúng, đúng, chỉ có cách này mới bằng chị bằng anh được. Nhưng mà bác ơi làm chức nô bộc phải có trình độ trên giấy, như bằng thạc sỹ, tiến sỹ. Còn trình độ thật là giỏi lọc lừa dưới, nịnh bợ trên, giỏi đi lại với từng đối tác…
Ông bác cười ! cười chảy cả nước mắt.

- Chú đã giỏi thật, trình độ thật, làm được nô bộc thật, về nhà bàn với vợ con mà tiến hành đi.
- Cũng nói thật, tôi muốn làm nô bộc từ lâu rồi bác ạ, chỉ cần một nhiệm kỳ…à một năm thôi, chuộc lại trâu, trả hết nợi, xây được cái nhà tầng, mua cái xe máy xịn, có đủ vốn để hai thằng con học hành là tôi hạ cánh ngay, chẳng tham kẻo thâm.
Hồ Hồng Tuyến
Theo Tầm Nhìn

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 4 năm 2012

Muốn vì dân phải biết dân nghĩ gì

một cuộc điều tra với 600 người tại ba tỉnh thành cho hay về hình ảnh của QH trong dân: chỉ có 41,3% số người biết vị trí của QH là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, 36,8% số cử tri được hỏi nhận thức rõ QH là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của người dân, 21% số người được hỏi biết tên của một-năm đại biểu QH ở địa phương mình, những người chính họ đã từng bầu lên (theo Tuổi Trẻ ngày 25/4)
Các viện điều tra dư luận xã hội (ĐTDLXH) đã tồn tại như nấm mùa xuân trong các quốc gia văn minh. Một chính phủ dù cởi mở đến đâu cũng vẫn luôn thấy thiếu thông tin. Điều quan trọng nhất mà người cầm lái một xã hội dân sự cần phải biết là người dân họ lãnh đạo (cai trị) đang nghĩ gì, muốn gì. Vì họ hiểu rõ sức mạnh vô địch của ý dân, không chỉ trong kỳ bầu cử đã đành mà cả trước và sau đó.
Mặc dù đã có một số cơ quan nhà nước hay Đảng, đoàn thể có tổ chức chuyên ĐTDLXH, nhưng công việc quan trọng bậc nhất này ở nước ta còn xa mới có trình độ chuyên nghiệp để đạt mục tiêu, yêu cầu của một xã hội dân sự và pháp quyền. Việc Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu khoa học (Văn phòng Quốc hội) tổ chức Hội thảo “Vai trò của ĐTDLXH trong việc phục vụ hoạt động của Quốc hội” vừa qua là cần thiết, nhưng chúng ta cũng cần đặt ra câu hỏi: tại sao đến bây giờ mới làm một việc quan trọng, đáng lẽ phải làm từ rất lâu rồi như thế?
Tài liệu trong cuộc hội thảo muộn màng này lộ những con số đáng ngạc nhiên và đáng lo lắng: một cuộc điều tra với 600 người tại ba tỉnh thành cho hay về hình ảnh của QH trong dân: chỉ có 41,3% số người biết vị trí của QH là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, 36,8% số cử tri được hỏi nhận thức rõ QH là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của người dân, 21% số người được hỏi biết tên của một-năm đại biểu QH ở địa phương mình, những người chính họ đã từng bầu lên (theo Tuổi Trẻ ngày 25/4). Nếu hình ảnh của QH trong dân khá mờ nhạt như thế thì liệu “hình ảnh” của người dân trong mỗi vị đại diện cho họ như thế nào? Mỗi đại biểu QH thay mặt cho hàng chục ngàn người dân chắc sẽ khó “biết dân” chính xác nếu chỉ nhờ vào vài lần “tiếp xúc cử tri” xơ cứng và hình thức. Họ chắc sẽ khó khăn gấp bội khi muốn biết, muốn hiểu dân nghĩ gì, muốn gì nếu thiếu những tổ chức ĐTDLXH chuyên nghiệp. Chúng ta không biết những ông nghị khi phát biểu trên hội trường với những cụm từ chắc nịch như “cử tri tỉnh X, vùng Y của chúng tôi đều yêu cầu, đều muốn thế này thế nọ…” hay “nhân dân mong muốn thế này thế kia” thì họ đã căn cứ vào những chứng cứ được điều tra một cách khoa học và tương đối chính xác nguyện vọng của dân hay chưa mà dám tự tin khẳng định như thế? Cho nên mới có nhiều chuyện cười ra nước mắt về “chỉ số IQ cao với dự án tàu cao tốc”, về “luật nhà văn”, về “luật biểu tình” bộc lộ trình độ hiểu biết của một số đại biểu QH.
Không chỉ đại biểu QH mà nhiều nơi, nhiều chỗ, nhiều cấp, luôn có những người mặc nhiên cho mình cái quyền nói thay nhân dân mà không cần chứng minh hay căn cứ gì hết. “Nhân dân chúng ta”… là một cụm từ thường xuyên bị lạm dụng, bị mạo xưng. Chỉ đến khi người dân biểu lộ cụ thể hành động của mình như khiếu kiện, biểu tình hay đình công, bãi thị… thì những vị cầm quyền vẫn say mê nói thay dân một cách liều mạng mới thấy cần thiết phải có những tổ chức ĐTDLXH có đầy đủ thẩm quyền, có tính chuyên nghiệp và chính xác!
Những điều ấy cho ta hiểu vì sao các quốc gia dân chủ, văn minh có rất nhiều viện, tổ chức làm việc ĐTDLXH, có những thương hiệu nổi tiếng thế giới và đáng tin cậy như viện của GS Gallup. Họ không đặt cái cày trước con trâu, trước khi muốn “định hướng dư luận” (một việc làm khó hơn lên trời) thì quan trọng bậc nhất là phải biết rõ cái dư luận mà mình muốn “định hướng” như thế nào. Nếu có tổ chức ĐTDLXH tin cậy của riêng mình, chắc chắn sẽ không còn những phát biểu “chay” và liều của một số vị đại diện cho dân như hiện nay. Mong rằng, thay vì “nhân dân tỉnh X của chúng tôi”, dân được nghe một câu khác đại loại như “ba mươi bảy phẩy hai phần trăm cử tri tỉnh X chúng tôi” muốn cái này cái nọ. Có lẽ đây là vấn đề mấu chốt và quyết tử của cơ quan đại diện cao nhất của quyền lực ở một quốc gia dân chủ, văn minh. Muốn vì dân, do dân không thành lời nói suông thì tối thiểu, phải biết dân đang nghĩ gì, muốn gì.
Nguyễn Quang Thân
Theo PNO

“Tìm Cha Dưới Gốc Tre”

Đại biểu QH Phùng Văn Hùng khi chất vấn về “phí hạn chế phương tiện” đã đặt câu hỏi: Phải chăng cách dễ dàng nhất hiện nay là thu tiền của dân? Đây đáng ra phải là lời khẳng định
Công an Long An đang tiến hành điều tra nguyên nhân một lão nông treo cổ tự tử: Ông Trần Văn Mỹ, nông dân nuôi heo, hộ cận nghèo. Tiền của tập trung cả vào đàn heo. Mới rồi bầy heo dính bệnh lăn ra chết, người nông dân khốn khổ rơi xuống hố nghèo, mắc thêm căn bệnh “đứt vốn, lụn nợ” hiểm nghèo. Điều gì sẽ xảy ra với những con nợ? Bị bắt cóc tra tấn. Bị khủng bố tinh thần. Bị trói nghiến rồi đem đốt sống như ở TP HCM. Hay một sợi dây thừng. Có lẽ người nông dân già đã chặc lưỡi. “Tìm ba ngoài gốc cây mù u, cạnh chuồng heo”- đây là những dòng tuyệt mệnh trước “dấu chấm hết cuối cùng” của người nông dân khốn khổ. Dường như cái chết của mỗi một cá nhân khi cùng quẫn, không lối thoát, là một nét cọ tối màu vẽ nên cái gọi là “bi kịch xã hội”.
Hôm rồi, một quan chức ngành công an cho biết dấu hiệu suy thoái của nền kinh tế đã tác động mạnh đến hoạt động của các loại tội phạm. Băng nhóm bảo kê, bắt cóc xiết nợ, tống tiền.. mọc như nấm sau mưa do ảnh hưởng từ các vụ vỡ nợ “tín dụng đen”. 8 vụ bắt cóc, siết nợ đã xảy ra. Đến bây giờ, dư luận vẫn chưa hết bàng hoàng xung quanh vụ “thiêu sống con nợ” xảy ra ở TP HCM tháng trước.
Vì thế, đừng mong những “gốc cây mù u” chỉ là sự cá biệt. Chỉ số giá tháng 4 đang ghi nhận sự khốn quẫn của người nông dân khi nhóm giá hàng hóa lương thực thực phẩm giảm 0.08 điểm phần trăm. Dịch cúm ở gà. Dịch “siêu nạc” ở heo. Dịch “lở mồm” với nỗi oan của cá. Ngay cả khi thóc lúa được mùa cũng làm nên một thứ “dịch bệnh” triền miên “được mùa mất giá”. Nếu như chỉ số giá, ở bình diện chung, đang phản ánh chất lượng ngày càng thảm hại của những đồng tiền trong túi người dân, thì với nông dân nói riêng, nó còn là thứ ăn dần ăn mòn những đồng tiền đầy mồ hôi tưởng rằng đã không thể còm hơn.
CPI tháng 4 đang cười nhạo những dự báo. Đơn giản là những dự báo ấy không lường được sự đuối sức của người mua. Một sự đuối sức hoàn toàn không giống với “biểu hiện của một thứ phản ứng”, mà là một “tình trạng bệnh lý”.
“Đuối sức” là từ mà TS Lê Đăng Doanh hồi hôm đã dùng để chỉ tình trạng người dân ngoảnh mặt với hàng hóa. Suy cho cùng, sự đuối, hay kiệt sức là hậu quả của một logic đơn giản: Nền kinh tế suy thoái, sản xuất đình đốn- DN phá sản, giải thể hoặc cầm chừng- Người lao động không lương- Thu nhập của người dân giảm- Cắt giảm chi tiêu- đúng hơn là hết tiền để chi tiêu. Và điểm đầu của “chuỗi thức ăn”, những người tạo ra heo gà, thóc, muối đương nhiên chịu “thảm họa kép” khi vừa không có tiền mua hàng, vừa không bán được hàng, trong khi thuế phí thì cả quá khứ, hiện tại và tương lai vẫn phải nộp “đều như vắt chanh”.
Sức mua của nền kinh tế, ở một nghĩa nào đó, cũng chính là sức dân vậy.
Hôm qua, “sức dân” có vẻ lại tiếp tục đặt trước một cơn sóng ngầm mới. Thông tin từ Tuổi trẻ cho biết “Bộ trưởng hành động” Đinh La Thăng chính thức phê duyệt một đề án cho riêng ngành giao thông với tổng chi phí lên tới 223.000 tỷ đồng. 12.174 tỷ trong số này được dùng để đầu tư trụ sở. Yếu tố “đầu tiên” sẽ được lấy 40% từ nguồn ngân sách nhà nước. 60% còn lại thì dãn nhãn “xã hội”.
“Xã hội” là gì nhỉ? Không lẽ lại có một thứ “xã hội” phi dân chúng ?
Hôm Bộ trưởng Thăng “đi thi” trước Ủy ban Pháp luật, đại biểu QH Phùng Văn Hùng khi chất vấn về “phí hạn chế phương tiện” đã đặt câu hỏi: Phải chăng cách dễ dàng nhất hiện nay là thu tiền của dân?
Đây đáng ra phải là lời khẳng định.
Có khi nào trụ sở của Bộ GTVT được xây dựng bằng những thân gỗ mù u?
Có khi nào sẽ lại có những dòng tuyệt bút “tìm cha dưới gốc tre”?
Đào Tuấn
Theo Đào Tuấn blog

Thư bạn chiến đấu gửi Bí thư tỉnh ủy Hưng Yên Nguyễn Văn Cường


Gửi bạn đồng ngũ Nguyễn Văn Cường Bí thư tỉnh ủy Hưng Yên
Bạn nguyên là lính C2 D14 F325 sau này cả tiểu đoàn 14 chuyển sang trung đoàn pháo 84 Quân đoàn 2 – Mình cũng là lính D14.
Chúng ta đã cùng thời và đã từng đi qua từ Minh Đức, huyện Việt Yên, Bắc Giang…rồi vào chiến đấu bảo vệ thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm năm 1972…và đi tiếp cho đến ngày 30-4-1975!!! Cả cuộc đời làm người lính Cụ Hồ, bạn cũng như tôi và những người chiến sĩ khác đều làm nhiệm vụ đánh giặc và bảo vệ Nhân Dân. Hôm nay bạn đang giữ chức Bí thư tỉnh ủy Hưng Yên thì hai chữ BẢO VỆ Nhân Dân nó càng có sức mạnh hơn nhiều… tôi không muốn nói nhiều chắc chắn bạn hiểu điều này hơn ai hết!!!???
Hôm nay 24-4-2012 Nhân dân 3 xã: Phụng Công, Xuân Quan,Cửu Cao, huyện Văn Giang đang bị bọn “giặc” cướp đất (thành quả mà Cách Mạng Tháng 8-1945 Đảng đã mang lại cho Nhân dân Việt Nam) đẩy họ vào con đường nghèo đói – con đường cùng sẽ không có đất đai sản xuất, không nghề nghiệp. Họ và con cái họ rồi mai đây sẽ sống bằng gì? Với tư cách là người lính Cụ Hồ, bạn đã từng giơ tay cao trước quân kỳ đọc những lời thề của Quân đội Nhân Dân Việt Nam, hơn lúc nào hết bạn hãy hành động khi chưa quá muộn…. Còn làm gì? Như thế nào? Bắt đầu từ đâu? Bạn sẽ là người thông minh hơn học sinh lớp 5!!!
Chúc bạn khỏe và sớm được làm NHÂN DÂN vạn đại – khi đó bạn mới thấy thấm thía dứt day nhiều lắm – Ôi! cũng muộn rồi và đến bao giờ đến kiếp sau mà bạn làm lại ta???. (A! Mấy em du kích ở Nham Biều, Tả Hữu, Thượng Phước, Ái Tử.. Triệu Phong, Quảng Trị từ thời 1972 gởi lời thăm và gởi nhiều cái “Hòm” cho eng Cường đó! Hẹn 30-4 này vào nhé!).
Nếu bạn nào cùng đơn vị đọc được mấy dòng này báo cho Cường nhé. Cảm ơn nhiều!
Bùi Thạch Hãn
Cựu CB C2,C1 tiểu đoàn 14 Sư đoàn 325

Khi bà Yến cười


Vẫn biết bà Đặng Thị Hoàng Yến, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Tân Tạo đã “từng có tên trong danh sách 10 phụ nữ giàu nhất sàn chứng khoán với tài sản ước cỡ hơn 370 tỷ đồng”, nhưng vì nước Việt thời kinh tế bất thường đã đẻ ra quá nhiều đại gia, cỡ đại gia như bà cũng ít ai để ý.
Chỉ đến khi thấy bà cười khoái chí khi đọc nhầm chức danh ông Phạm Vũ Luận tại lễ trao thưởng Hoa trạng nguyên được truyền hình trực tiếp toàn quốc năm 2008, thiên hạ mới chú ý đến bà. Bây giờ vào Google gõ tên Đặng Thị Hoàng Yến sẽ có ngay 1.260.000 kết quả trong 0,22 giây, đủ biết bà Yến nổi tiếng thế nào.
Một người đàn bà xinh đẹp và giàu có như bà, nổi tiếng cũng là chuyện bình thường. Tiếc thay, đó là sự “nổi tiếng” báo hại bà. Kể từ ngày thiên hạ biết đến tiếng cười “thiếu văn hóa” của bà, hàng loạt những tai tiếng liên quan đến bà, đến gia đình bà và Tập đoàn Tân Tạo dần dà đã cho thiên hạ biết bà là ai, là thế nào.
Từ việc bà bị Bộ Công an khởi tố với tội danh: “cố ý làm lộ bí mật Nhà nước…” đến việc chồng bà là ông Jimmy Trần bị truy tố vì tội “lừa đảo chiếm đoạt 210 tỷ đồng của Công ty CP và Phát triển Đô thị Việt Nam rồi trốn về Mỹ, có lệnh truy nã toàn quốc”. Và cuộc ly hôn “thần kỳ” của bà với ông Jimmy Trần, “chỉ với 200.000đ “án phí sơ thẩm”, bà đã giữ gần như toàn bộ tài sản” (theo báo Người cao tuổi).
Tưởng rằng với chừng ấy tai tiếng, bà sẽ rất khó sống ở Việt Nam, chẳng dè bà vẫn sống tốt, vẫn nghiễm nhiên trúng cử đại biểu Quốc hội với tỷ lệ 57,82% phiếu hợp lệ. Sau khi trúng cử đại biểu Quốc hội, bà đã đề xuất dự án “Luật Bảo vệ quyền riêng tư”, ngay lập tức bị báo chí đặt câu hỏi: “Liệu sáng kiến này có liên quan gì đến việc khai báo lý lịch không rõ ràng (của bà) đang bị tố giác?”. Nhà báo Đào Tuấn đã hỏi thẳng: “Luật riêng tư để bảo vệ sự dối trá (của bà)?”.
Chẳng sao cả, bà vẫn sống tốt. Lần này bà bị tố giác không khai là đảng viên khi làm hồ sơ ứng cử, chẳng những bà không bị loại mà vẫn trúng cử. Trúng cử ngay cả khi ông chồng đang bị công an truy nã. Thế mà tổ chức nắm hồ sơ “đầu vào”, cả Sở Nội vụ lẫn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Long An đều “không biết” và cho qua (theo báo Tuổi Trẻ).
Bây giờ thiên hạ mới nhớ lại cú cười năm 2008 của bà. Với lỗi mắc phải tại lễ trao thưởng Hoa trạng nguyên, người ta nếu không sợ tái mặt cũng ngượng chín mặt, nhưng bà Yến lại cười. Không phải cười chữa thẹn, đó là tiếng cười khoái chí được lặp lại nhiều lần kéo dài hơn một phút. Hình như bà có một cái quyền, ấy là quyền được cười khả ố ngay trong lễ trọng, trước mặt nguyên Tổng bí thư, có phải thế chăng?
Có hay không cái quyền ấy còn phải chờ xem kết cục vụ bê bối “hồ sơ ứng cử” mà thiên hạ đang bàn tán xôn xao. Kể cả khi báo Tuổi Trẻ ngày 18/4 loan báo: “Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Long An kiến nghị: Bãi nhiệm đại biểu Quốc hội bà Hoàng Yến”, và bản tin lúc 10g28 cùng ngày trên VnExpess cho biết: “Đoàn Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc đề nghị bãi nhiệm đại biểu Hoàng Yến”, điều đó cũng khó có thể xảy ra, nếu như bà có được cái “quyền được cười” tối thượng ấy.
Nguyễn Quang Lập

Theo PNO

Nhà nước của dân, do dân, vì dân không được phép trấn áp dân


“… tôi khẩn thiết yêu cầu các cơ quan trách nhiệm hữu quan cao nhất của Đảng, Quốc hội, Chính phủ cử những người có phẩm chất và năng lực với tính cách là các đại diện của mình về họp công khai với toàn thể các hộ dân các xã ở Văn Giang có đất đai bị thu hồi trong vụ cưỡng chế này để tìm hiểu tại chỗ sự việc.”
Xem và nghe các tin tức về vụ cưỡng chế thực hiện thu hồi đất cho dự án Ecopark ở Văn Giang, tôi không thể nén được trong lòng sự căm giận và nỗi hãi hùng. Căm giận vì không thể chấp nhận nhà nước của dân, do dân, vì dân lại hành xử với dân như vậy, hãi hùng vì thấy rằng hệ thống chính trị nước ta đã có được trong tay lực lượng vũ trang sẵn sàng thực hiện lệnh trấn áp như vậy đối với dân.
          Dù sao tôi cũng vẫn phải thầm cảm ơn trời đất là đã không xảy ra đổ máu. Bởi vì nếu điều đó xảy ra, rồi nếu tình hình vuột ra ngoài mọi sự kiềm chế có thể, hoặc một sự khiêu khích nào đó cố ý hủy hoại sự kiềm chế có thể, rồi lan truyền trong cả nước, nhất là báo chí cho biết từ sau sự kiện Đoàn Văn Vươn tình trạng khiếu kiện đất đai của nông dân ngày càng căng thẳng và đang tiếp diễn ở nhiều nơi …, như vậy đất nước này sẽ đi về đâu? Trong khi đó quá trình phát triển kết cấu hạ tầng, công nghiệp hóa và đô thị hóa của đất nước chắc chắn sẽ còn đòi hỏi phải chuyển đổi tiếp một khối lượng rất lớn đất đai của nông dân cho sự phát triển này.
          Việc huy động một lực lượng lớn (có người nói khoảng 500, có người nói khoảng 1000) công an vũ trang, các lực lượng không quân phục khác, một khối lượng lớn xe cộ, sử dụng cả vũ khí dù không gây sát thương để trấn áp dân cho mục đích cưỡng chế, lại xảy ra ngay sát thủ đô Hà Nội, báo động một chiều hướng phát triển vô cùng nguy hiểm cho đất nước, nhất thiết phải tìm cách ngăn chặn.
          Đại diện chính quyền Văn Giang nói họ đã đền bù với giá cao nhất và làm đúng Luật, báo Người Cao tuổi nói cưỡng chế như vậy là trái Luật, người dân tại chỗ có đất bị cưỡng chế thì tố cáo chính quyền tham nhũng và cướp ruộng đất của họ. Vụ cưỡng chế đã thực thi xong, nhưng lòng dân tại chỗ chắc chắn không xong, lòng dân cả nước chắc chắn không yên.
Với tư cách là công dân và là đảng viên, tôi khẩn thiết yêu cầu các cơ quan trách nhiệm hữu quan cao nhất của Đảng, Quốc hội, Chính phủ cử những người có phẩm chất và năng lực với tính cách là các đại diện của mình về họp công khai với toàn thể các hộ dân các xã ở Văn Giang có đất đai bị thu hồi trong vụ cưỡng chế này để tìm hiểu tại chỗ sự việc. Các đại diện này vừa chứng kiến, vừa cùng tham gia với các hộ dân liên quan này đối chất trực tiếp với đại diện chính quyền Hưng Yên – Văn Giang, để tất cả các bên cùng nhau  tìm ra đúng, sai, những kết luận hay quyết định cần rút ra. Cuộc họp này cần có đại diện các báo chí cả nước tham dự và được loan tải trung thực, đầy đủ cho cả nước biết, cả nước cùng rút kinh nghiệm.
Một cuộc họp như thế nên làm ngay.
Chỉ có làm như thế, mới phòng ngừa được hiểm họa.
Chỉ có làm như thế, mới hy vọng bước đầu vãn hồi được lòng dân đối với chế độ chính trị của đất nước mà chính người dân nước này đã không tiếc xương máu hy sinh vì nó, trong đó có nhân dân Văn Giang.
Ngoài ra, muốn hay không, sự kiện cưỡng chế bằng bạo lực vừa qua như vậy ở Văn Giang là một thách thức trực tiếp đối với nghị quyết Hội nghị Trung ương 4.
Nguyễn Trung
Hà Nội, ngày 26-04-2012
Ghi chú: ông Nguyễn Trung là cựu Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, cựu thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng (Phan Văn Khải) và Viện Nghiên cứu Phát triển IDS.
Nguồn: Ba Sàm

Ruộng đất, nhìn từ chuyện cưỡng chế ở Văn Giang


Ngày 24/4, UBND tỉnh Hưng Yên tổ chức cưỡng chế giải phóng mặt bằng bàn giao đất tại xã Xuân Quan, huyện Văn Giang để thực hiện dự án Khu đô thị Thương mại – Du lịch Văn Giang (Ecopark). Đúng, sai về vụ cưỡng chế này xin để các cơ quan pháp luật phán xét, trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin bàn đến góc nhìn khác, đó là sinh kế người dân mất đất.
Năm trước hô chuyển đổi, năm sau đã thu hồi
Cánh đồng của các xã Xuân Quan, Phụng Công, Cửu Cao rộng gần 500 ha bao đời trước là đất hai lúa, là niêu cơm của gần 4.000 hộ dân thuộc ba xã thuần nông. Quãng thời gian những năm 2001-2002, theo tiếng gọi của chính quyền, người dân đồng loạt chuyển đổi ruộng thành vườn cây, ao cá. Và “cuộc cách mạng” ấy đã rất thành công. Thời điểm ở các địa phương đang chật vật làm sao để đạt định mức 50 triệu đồng/ha thì ở đây nông dân đã thu về tiền tỷ. Nhiều gia đình trở thành tỷ phú nhờ chuyển đổi, bộ mặt xóm làng trở nên khang trang nhờ biến ruộng lúa thành vườn cây cảnh, ao nuôi cá.
Nhà tầng san sát mọc lên, vùng quê này không thua gì thành phố về khoản đầu tư hạ tầng. Những người tiên phong đầu tư vào chuyển đổi, là nông dân nhưng nhiều gia đình nuôi 2-3 đứa con ăn học đại học nhẹ như không. Thậm chí người dân sẵn sàng góp tiền túi để đầu tư xây dựng đường nông thôn đi… cho sướng. Bản thân chính quyền các xã Xuân Quan, Phụng Công, Cửu Cao từng được tặng cờ thi đua là đơn vị chuyển đổi cơ cấu cây trồng xuất sắc. Trong nhiều báo cáo tổng kết hàng năm, lãnh đạo các xã thường tự hào rằng: “Ở đây, từ đứa trẻ ẵm ngửa, đến cụ già kề miệng lỗ, thu nhập bình quân đều hơn 1 triệu đồng một tháng”. Phấn khởi là thế, giàu có là thế, nhưng “cuộc cách mạng” chẳng kéo dài được lâu. Ngành nông nghiệp của 3 xã thuần nông trên trong phút chốc bị xóa sổ hoàn toàn chỉ vì một dự án.
Năm 2003, dự án đô thị Văn Giang được Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiện và giao Công ty Đầu tư và Phát triển đô thị Việt Hưng làm chủ đầu tư. Đến năm 2004, việc thu hồi đất, giao đất để thực hiện dự án đô thị và xây dựng đường bộ từ cầu Thanh Trì đi thị xã Hưng Yên với quy mô 499,07 ha đất thuộc các xã Xuân Quan, Phụng Công, Cửu Cao bắt đầu triển khai nhưng người dân vẫn chẳng biết gì.
Đại diện những người dân không giao đất cho DN ở xã Xuân Quan
Họ hoang mang, tá hỏa. Khoảng 3.900 hộ dân ba xã này rơi vào cảnh mất toàn bộ đất nông nghiệp cho dự án mà không hề biết là dự án gì, mức đền bù bao nhiêu, mất đất sẽ sống bằng gì…? “Ban đầu chúng tôi chẳng tin, kéo nhau lên xã hỏi cho ra nhẽ thì ông Chủ tịch xã bảo là chưa biết gì. Đến khi thấy cắm biển quy hoạch mới biết là mất đất đến nơi rồi”. Phạm Hoành Sơn, một nông dân mất đất ở xã Phụng Công nói thật.
Nhớ lại mới một năm trước thời điểm thu hồi, gia đình Sơn cũng như hàng nghìn hộ nông dân khác còn hăm hở đầu tư chuyển đổi. Cả tháng trời, hai vợ chồng, 2 đứa con nhà Sơn hầu hết giành thời gian ở ngoài đồng để biến 2 sào ruộng thành vườn cây, ao cá. Tiền thuê máy móc, thuê nhân công phải đi vay mượn có lúc lên đến150 triệu đồng.
“Hầu hết nông dân chúng tôi khi chuyển đổi đều phải đi vay mượn ngân hàng, anh em, làng xóm đổ vào mô hình cả. Chưa thu hoạch được gì đã bị thu hồi, thử hỏi có chết dân hay không?”. Câu hỏi của Sơn đến nay vẫn chưa ai trả lời. Chỉ biết rằng sau khi nghe chuyện đất bị thu hồi, nông dân Văn Giang kéo nhau đi kiện lên tận Trung ương, đơn thư cân lên cả tạ.
Ngay cả việc đất nông nghiệp mất như thế nào người dân cũng không được biết. Hai năm sau khi có quyết định thu hồi, tại cuộc họp tiếp dân của Chủ tịch UBND xã Phụng Công năm 2006, khi người dân hỏi vì sao họ không được biết về dự án thì ông Nguyễn Văn Tắng, Chủ tịch UBND xã thừa nhận: Về quy hoạch dự án thì cả tôi cũng không được biết hoặc tham khảo gì cả đâu. Lên cấp trên mà hỏi.
Nỗi đau từ đất
Có khoảng 1.900 hộ dân còn “chống đối” ở ba xã bị thu hồi đất đều bày tỏ nguyện vọng tiếp tục được giữ đất để canh tác, hoặc ít nhất cũng xin được bàn bạc, thỏa thuận trước khi bàn giao. Nhưng nguyện vọng ấy chắc chắn không thể trở thành hiện thực vì việc cưỡng chế đã được tiến hành. Đêm trước hôm cưỡng chế, người dân ba xã tập hợp nhau kéo ra đồng dựng lán lên để ngủ. Bởi họ nghĩ, đây có thể là đêm cuối cùng được sống với ruộng đồng.
Xã Xuân Quan có 1.600 hộ dân bị thu hồi hơn 100 ha đất nông nghiệp để phục vụ dự án. Hiện còn có 210 hộ chưa nhận tiền đền bù của nhà đầu tư. Sau khi bị cưỡng chế lần thứ nhất vào năm 2009, hàng trăm lao động đã bỏ làng đi làm thuê. Lần cưỡng chế lần này sẽ xóa sổ ngành nông nghiệp của Xuân Quan và tất cả các hộ dân sẽ không còn đất SXNN.
Máy ủi thực hiện việc cưỡng chế ở Xuân Quan
Mất đất đã đành, những người dân không chịu nhận tiền ở Văn Giang gặp rất nhiều rắc rối. Ông Kỉnh đang ngồi trong nhà thì bị côn đồ vác dao vào chém, con gái bà Dơi đi lấy chồng nhưng chẳng được đăng ký kết hôn vì gia đình chống đối không chịu giao đất. Những người là đảng viên bị dọa khai trừ, là giáo viên bị dọa luân chuyển đi nơi khác… “Dân chúng tôi xưa nay hiền lành, không có chuyện kiện cáo gì đâu. Chỉ từ khi bị mất đất, cảm thấy cuộc sống, tương lai u ám quá nên phải đi kêu, cũng chỉ mong có cấp nào quan tâm, trả lời cho chúng tôi câu hỏi: Mất đất nông dân lấy gì để sống? Không có tư liệu sản xuất chắc chắn bị đẩy vào con đường bần cùng hóa thôi”, bà Đỗ Thị Dơi, một nông dân mất đất ở xã Phụng Công phàn nàn.
+ Dự án khu đô thị Văn Giang (Ecopark) được Thủ tướng chấp thuận vào tháng 3/2003 và ban hành quyết định thu hồi, bàn giao đất vào tháng 6/2004, giao công ty đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng làm chủ đầu tư. UBND tỉnh Hưng Yên khẳng định, các chính sách đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng đối với dự án được tỉnh đặc biệt coi trọng.Theo đó, tính đến thời điểm 2008, các hộ dân chấp hành đúng tiến độ được nhận 135.000 đồng/m2. Dự án có quy mô xấp xỉ 500ha thuộc ba xã Xuân Quan, Phụng Công, Cửu Cao và 55ha để làm đường giao thông liên tỉnh Hà Nội – Hưng Yên. Riêng xã Xuân Quan, nơi diễn ra vụ cưỡng chế sáng 24/4 có 1.720 hộ trong diện giải tỏa với diện tích hơn 72ha, nhưng vẫn còn 166 hộ chưa chịu giao đất.+ “Nếu cơ quan nào định giá được đất nông nghiệp ở đây mới thấy rõ sự bất công. Một sào ruộng hàng năm nhiều hộ dân thu về tiền tỷ, trong khi mức thu hồi ban đầu có hơn 19 triệu rồi lên 36 triệu đồng. Người dân không nghe nên tăng tiếp thành 48,6 triệu đồng. Có cán bộ tỉnh nói đây là mức giá cao nhất tỉnh Hưng Yên nhưng nếu so với thu nhập của chúng tôi thì vẫn quá bèo. Thử hỏi với chừng ấy tiền để đẩy chúng tôi ra đường làm thuê thì chịu sao nổi”. Nông dân Dũng phân tích.
Hoàng Anh- Lê Dương

Thứ Năm, ngày 26 tháng 4 năm 2012

Đặt Mình Trong Vị Trí Người Dân Văn Giang


Chính quyền Hưng Yên nói họ đã không sai khi tổ chức cưỡng chế 70 hecta đất của 160 hộ dân Văn Giang. Chưa có cơ sở để tin rằng Thủ tướng sẽ nói quyết định này của Hưng Yên là sai như ông đã làm với chính quyền Hải Phòng. Nhưng, cho dù bên thua trận là nhân dân thì hình ảnh hàng ngàn cảnh sát chống bạo động, “khiên-giáo” tua tủa, đối đầu với vài trăm nông dân cuốc xẻng trong tay không chỉ phản ánh mối quan hệ Chính quyền – Nhân dân hiện nay mà còn có tính dự báo không thể nào xem thường được.
Làm luật cũng là Chính quyền, giải thích luật cũng là Chính quyền, chỉ có người dân là thiệt. Kể từ năm 1993, Luật Đất đai theo tinh thần Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi 5 lần. Chỉ riêng các điều khoản thu hồi, nếu như từng được quy định khá chặt chẽ trong Luật 1993, đã trở nên rắc rối và dễ bị lũng đoạn hơn trong Luật 2003.
Điều 27, Luật Đất đai 1993, quy định rằng: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại”. Điều Luật tiếp theo còn đưa ra những điều kiện ràng buộc nhằm tránh sự lạm dụng của Chính quyền. Luật sửa đổi 1998 gần như giữ nguyên tinh thần này. Nhưng, đây là thời điểm mà các đại gia bắt đầu phất lên nhờ đất. Tiến trình ban hành chính sách bắt đầu có sự can dự của các nhóm đặc lợi, đặc quyền.
Luật Đất đai 2003 đã đặt rất nhiều rủi ro lên người dân khi điều chỉnh mối quan hệ này thành một chương gọi là Mục 3. Trong phần “Thu hồi đất”, Luật gần như đã đặt những mục tiêu cao cả như “lợi ích quốc gia” ngang hàng với “lợi ích của các đại gia”. Điều 39 định nghĩa những “lợi ích quốc gia” chủ yếu là những “dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt”. Dự án Ecopark đã được Thủ tướng phê duyệt, nếu chiểu theo Luật 2003, việc nông dân Văn Giang không chịu bị thu hồi nên bị cưỡng chế là hoàn toàn phù hợp với Điều 39.
Việt Nam không có một tối cao pháp viện để nói rằng Luật 2003 ở những điều khoản nói trên đã vi Hiến; Việt Nam cũng không có tư pháp độc lập để nông dân có thể kiện các quyết định của chính quyền. Chỉ vì không có niềm tin Hệ thống có thể mang công lý đến cho mình mà gia đình anh Đoàn Văn Vươn, hôm 5-1-2012, và 160 hộ dân Văn Giang, hôm 24-4-2012, phải chọn hình thức kháng cự chịu nhiều rủi ro như thế.
Cho dù “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, người dân chỉ có các quyền của người sử dụng. Nhưng, sở dĩ ai cũng gắn bó với mảnh đất mà mình đang cắm dùi là bởi: Đất ấy không phải được giao không từ quỹ đất công như những quan chức có đặc quyền, đặc lợi; Đất ấy họ đã phải mua bằng tiền; Đất ấy họ phải tạo lập bằng nước mắt, mồ hôi; Đất ấy là của ông cha để lại.
Không thể nói một thứ có thể quy đổi thành tiền mà không phải là tài sản. Không thể bỗng dưng một khối tài sản có khi phải đánh đổi cả cuộc đời lại có thể bị thu hồi. Không thể nhìn đất ấy đang làm lợi cho các đại gia qua quyết định hành chính của một cấp chính quyền, thường chỉ là, hàng huyện.
Đất đai của các doanh nghiệp, của nông dân, vì thế, phải được coi là “tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức”. Trong bài “Ba khâu Đột phá của Thủ tướng” tôi có đề nghị đa sở hữu hóa đất đai, công nhận quyền sở hữu đã có trên thực tế của người dân. Nhưng, sau gần một năm, tôi nghĩ là, những người lạc quan chính trị nhất cũng không còn hy vọng ấy. Cho dù chưa có những thay đổi về mặt ngôn từ thì việc tuân thủ Hiến pháp 1992 là điều không nên bàn cãi. Điều 18 Hiến pháp 1992, nói: “Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Nghĩa là việc giao đất cho dân là vô thời hạn. Khi bình luận về các điều khoản quy định thời hạn giao đất, chính một trong những tác giả chính của Luật Đất đai 1993, ông Tôn Gia Huyên, cũng cho rằng, Luật đã có “một bước lùi so với Hiến pháp”.
Hiến pháp đã cho “chuyển quyền sử dụng” có nghĩa là công nhận quyền ấy như một tài sản của người dân. Nghĩa là, thay vì “thu hồi đất” như các quy định trong Luật Đất đai, “trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia”, Nhà nước nên chiểu theo Điều 23 của Hiến pháp mà “trưng mua, trưng dụng”. Luật trưng mua – trưng dụng cũng nên định nghĩa minh bạch “lợi ích quốc gia” để phân biệt với “lợi ích của các đại gia”. Và khi trưng mua thì nên lấy giá giao dịch trên thực tế chứ không phải là giá hành chánh được nghĩ ra trong các phòng máy lạnh.
Với những dự án lớn, dụng chạm xã hội, như Ecopark, cho dù là tư nhân đầu tư, thì cũng nên đòi phải minh bạch trong từng bước đi. Phải buộc kiểm toán để thấy rằng, đất đai của nông dân chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng vốn đầu tư và mời nông dân tham gia bằng cách góp vốn và chia lãi theo tỉ lệ vốn bằng quyền sử dụng đất.
Vì sao trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia mà Hiến pháp vẫn yêu cầu phải trưng mua theo giá thị trường? Vì sao các nhà nước của dân vẫn đền bù thỏa đáng cho các trường hợp rủi ro ví dụ như bồi thường cho ai đó đang đi dưới hè đường bị một cành cây rơi trúng. Cái cành cây ấy, mọc ở ven đường, mang lại phúc lợi bóng mát cho hàng vạn con người nên khi nó gãy không thể để một người chịu thiệt.
Người dân Văn Giang không chống lại dự án Ecopark, người dân chỉ không đồng ý với giá và cách mà Chính quyền đền bù. Nếu con số 90% nông dân Văn Giang đã nhận đền bù là đúng thì cũng không thể coi 10% phản ứng là sai. Trước anh Đoàn Văn Vươn đã có những người cam chịu lệnh thu hồi đất của chính quyền Tiên Lãng.
Đừng nghĩ những người chân lấm tay bùn không biết tính toán. Đừng nghĩ nông dân không biết xót xa khi nhận chưa tới 150 nghìn đồng/ m2 rồi nhìn đất của họ được đem bán với giá hàng chục triệu đồng. Chính quyền nói, “chỉ có 30% diện tích được phục vụ vào mục đích kinh doanh, tức là phần chủ đầu tư làm nhà để bán, còn lại là diện tích đất dành cho phát triển giao thông, công trình phúc lợi, cây xanh”. Tất nhiên phải có phần hạ tầng và cây xanh này thì người ta mới đến Ecopark mua nhà. Nhưng, cho dù nó thực sự là phúc lợi thì cũng không thể đòi hỏi 1.500 hộ dân ở Văn Giang phải chịu thiệt cho các đại gia đến hưởng.
Sáng 17-4-2009, khi bị cưỡng chế thu hồi đất, chính người thân của Thủ tướng đương nhiệm cũng đã kháng cự. Cho dù 185 hecta đất cao su mà những người này có được ở huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, nhẹ nhàng hơn cách mà thường dân có được vài nghìn mét ruộng nương. Đất ấy họ được địa phương bán với giá bình quân 50 triệu/ hecta và sau đó khi thu hồi lại, Bình Dương đã đền bù mỗi hecta gần một tỉ. Tôi nhắc lại điều này chi để đề nghị tất cả ai quan tâm nên đặt mình trong vị trí của người dân Văn Giang. Từ các quan chức ra lệnh cho đến những cảnh sát đã đánh vào đầu dân đều phải nghĩ đến ngày đất đai của nhà mình bị Chính quyền cưỡng chế.
Đừng nghĩ Đoàn Văn Vươn hay Văn Giang là đơn lẻ. Không nên coi một chính sách luôn giữ kỷ lục trên dưới 80% tổng số người khiếu kiện trong suốt hơn 20 năm qua là không có gì sai. Cho dù quyết tâm cưỡng chế 160 hộ dân ở Văn Giang có thể chỉ vì lợi ích của một số cá nhân; có thể sau thất bại trong vụ Đoàn Văn Vươn, Chính quyền muốn cứng rắn để dập tắt khát vọng đòi đất của những nông dân muốn noi gương anh Vươn. Thì, hình ảnh cuộc cưỡng chế hôm 24-4-2012 đã trở thành một vết nhơ trong lịch sử.
Một chế độ luôn lo sợ mất ổn định không nên nuôi dưỡng quá nhiều những mầm mống đang làm mất ổn định. Một chế độ rất sợ các thế lực thù địch không nên tạo quá nhiều thù địch ngay chính trong lòng mình. Đất nước này tao loạn quá nhiều rồi, hơn ai hết người dân cũng cần ổn định.
Huy Đức
Theo FB Huy Đức

Hãy thương yêu nông dân Văn Giang bằng mọi cách có thể


Đây là hình ảnh trong sự kiện Văn Giang ngày 24/4/2012 để tạo tiền đề như đã kẻ vẽ thành khẩu hiệu của dự án Ecopark: ‘Thành phố xanh tươi, cuộc đời trọn vẹn‘…
Nhưng theo đó là đối xử tàn nhẫn, dù mang danh ‘đảm bảo ổn định’ hay ‘gìn giữ kỷ cương’. Đây là nỗi đau lòng đối với người nông dân huyện Văn Giang. Đây là hình ảnh minh chứng cho nỗi đau khổ của những người nông dân ở đây. Đó là những con người hiền lành, những người nông dân chân chất, người lao động một nắng hai sương, người cả cuộc đời gắn với đất, với năng mưa và những mùa vụ… Làm người Việt, mỗi chúng ta và toàn thể xã hội, Nhà nước này đề cao người nông dân và hoạt động nông nghiệp.
Vì lẽ đó và vì chúng ta là con người, chúng ta không phải là loài súc vật không tình cảm, nên chúng ta không thể không đau lòng, chấp nhận vô cảm với sự việc kinh khủng này.
Bài học nhà trường dạy cho ta từ ngữ tiếng Việt: từ THƯƠNG và những từ liên quan:
  • Tình thương: tình cảm thương yêu, chia sẻ, đùm bọc và gánh vách trách nhiệm một cách thân thiết, thắm thiết.
  • Thương cảm: cảm động, thương xót trước tình cảnh của một ai, một nhóm người nào đó
  • Thương tình: chạnh lòng thương cảm một cách sâu sắc trước tình cảnh của người nào đó…
  • Thương xót: cảm thấy thương, thấy xót xa trước nỗi bất hạnh của người khác
  • Thương yêu: có tình cảm gắn bó tha thiết và quan tâm chăm sóc nhau hết sức, hết lòng
Bài học ở đời đã dạy cho ta phải biết yêu thương những con người đang ở tình trạng bất lợi về điều kiện sống, ở một hoạt động cụ thể hay trong một thời gian tương đối dài.
Chúng ta là những thường dân. Chúng ta không phải quân nhân, tăng lữ hay cán bộ cùng chung tư tưởng, lý tưởng, hoặc có chung những nét gì đặc biệt để được một chế độ sống hơn người khác. Chúng ta không thương yêu nhau thì cũng không ai thương yêu chúng ta. Nông dân ta tuy sống khổ nhưng chắc cũng không trông mong gì ở tình thương và trách nhiệm của hội nông dân (kể cả một sự phản đối lấy lệ nào đó).
Cuộc sống tuy ngắn ngủi nhưng chúng ta được chứng kiến nhiều nỗi niềm thương đau và hạnh phúc của những người anh em, của những con người như chúng ta, của đồng loại… Cứ mỗi một sự kiện bất hạnh nào đó, chúng ta một lần nữa nhận thức, vun đáp/ rèn luyện tình yêu thương và hành động (chăm sóc, chia sẻ, trợ giúp, gánh đỡ, lên án/ đồng tình… ) dựa theo trái tim mình… Sự im lặng trước các sự kiện đối với người nông dân như vụ Tiên Lãng hay vụ Văn Giang này là việc “cấp phép” về tinh thần đối với việc đàn áp, dùng bạo lực đối với người nông dân. Việc báo đài ta cứ bàn chuyện chính trị đâu đâu, nước này, nước nọ, rồi quý ông này, quý ông kia đấu đá sát ván trong cuộc bầu cử ở tít bên châu Âu, châu Mỹ; hay là cặp đôi hoàn hảo này sắp thi bước nhảy hoàn vụ, tài năng, siêu sao… còn xâm phạm miếng cơm,manh áo, cuộc sống tối thiểu của nhiều gia đình, cả thôn, cả xã thì im hơi, bặt tiếng. Đó là sự câm lặng tội ác, là sự mất nhân tính có quy mô với người nghèo.
Tôi dành vài dòng viết này xin bày tỏ lòng thương yêu đối với những người nông dân Văn Giang đang chịu những bất công oan trái, bị chà đạp bằng bạo lực. Tôi xin chia sẻ những nỗi cùng cực của những chuỗi ngày dài sau khi họ bị đẩy ra khỏi mảnh đất bao năm sinh sống của mình. Tôi không chấp nhận những điều này kéo dài mãi trên quê hương tôi, tỉnh Hưng Yên của tôi. Tôi sẽ hành động theo cách của mình để thay đổi tình cảnh của những thường dân bất hạnh, khốn khó.
Xin nhắc lại vài lời dạy của Công giáo. Là con người, mỗi chúng ta, với thân xác này của mình, không ai sống mãi ở trần gian.  Trần gian chỉ là nơi tạm gửi, nơi chúng ta chung sống, cùng chia sẻ cảnh đời riêng, lập công đức chung rồi chờ ngày về quê hương thật là Thiên đàng:
“Thế gian chẳng phải là nhà,
Thuyền con xuôi bến mới là thế gian”
Giáo lý Công giáo đã dạy ta Thương người có 14 mối: tình thương đối với thân xác con người và đối với  linh hồn con người. Xin nhắc lại:
Thương xác 7 mối:
- Thứ nhất: Cho kẻ đói ăn
- Thứ hai: Cho kẻ khát uống
- Thứ ba: Cho kẻ rách rưới ăn mặc
- Thứ bốn: Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc
- Thứ năm: Cho khách đỗ nhà
- Thứ sáu: Chuộc kẻ làm tôi
- Thứ bảy: Chôn xác kẻ chết
Thương linh hồn 7 mối:
- Thứ nhất: Lấy lời lành mà khuyên người
- Thứ hai: Mở dậy kẻ mê muội
- Thứ ba: Yên ủi kẻ âu lo
- Thứ bốn: Răn bảo kẻ có tội
- Thứ năm: Tha kẻ dể ta  (kẻ khinh thường/ hạ nhục ta)
- Thứ sáu: Nhịn kẻ mất lòng ta
- Thứ bảy: Cầu cho kẻ sống và kẻ chết
Theo FB Bùi Quang Minh

Nhà báo kể chuyện tác nghiệp tại Văn Giang

Trong cuộc họp báo ngày 23-4-2012, ông Bùi Huy Thanh, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên cho biết ngày 24-4 sẽ tổ chức cưỡng chế tại xã Xuân Quan để bàn giao đất cho chủ đầu tư và đề nghị các nhà báo không đến khu vực cưỡng chế.
Ngày 24-4-2012, chúng tôi đến xã Xuân Quan, huyện Văn Giang (Hưng Yên), từ xa đã thấy nhiều người dân đứng trên đê nhìn về khu vực cưỡng chế. Hỏi thăm đường vào, những người dân nói: Công an không cho vào đâu. Đi theo đường người dân chỉ, chúng tôi gặp một toán cảnh sát cơ động (CSCĐ) chắn đường, hỏi giấy tờ.
Xe gầu xúc đang hoạt động
Tôi xuất trình thẻ nhà báo, đề nghị CSCĐ cho vào khu vực cưỡng chế chụp ảnh. Các chiến sĩ không cho vào, tôi hỏi: Ai là chỉ huy cao nhất ở đây cho tôi gặp?
Một cảnh sát dáng vẻ chỉ huy, có cảnh hàm nhưng không đeo biển hiệu ra tiếp.
Tôi nói ngắn gọn: Theo Luật báo chí, các nhà báo được quyền chụp ảnh mọi nơi trên lãnh thổ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ những khu vực quân sự, bí mật quốc gia.
Đây là cưỡng chế công khai, theo quyết định hành chính không đóng dấu “mật”, đề nghị anh để tôi vào.
Người cảnh sát bảo tôi đứng chờ, anh báo cáo cấp trên xong sẽ trả lời.
Đợi quá lâu không thấy người cảnh sát quay lại tôi quay ra gặp nhân dân đang đứng bên đường. Một người dân nói: Bác đi theo em, chúng em dẫn bác đi chụp ảnh.
Theo chân người dân, chúng tôi rẽ sang đường khác nhưng vẫn bị cảnh sát bám theo ngăn cản, không cho vào.
Ngồi nghỉ trong nhà dân một lúc, những người dân khác đến dẫn chúng tôi vào làng. Họ bảo: Các bác thay quần áo rồi đi theo em. Chúng tôi mượn tạm quần áo người dân đưa cho, thay tại chỗ, gửi máy ảnh cho dân giữ hộ, chỉ mang theo máy ảnh du lịch cỡ nhỏ và đi theo người dẫn đường.
Vượt qua hai điểm gác của cảnh sát cơ động, chúng tôi luồn lách qua mấy bụi gai đến một nhà dân sát khu vực cưỡng chế. Vào nhà xong, chủ nhà đóng cửa dẫn chúng tôi lên tầng gác.Trên sân thượng có mấy người dân đang nhìn vào khu cưỡng chế, gương mặt họ đầy vẻ đau buồn.
Tì máy ảnh vào vai người đứng trước tôi chụp liền mấy kiểu, rồi lại theo người dẫn đường trở ra. Trên đường đi, tiếng loa oang oang nói việc cưỡng chế theo quyết định của Phó Chủ tịch UBND huyện Chu Quốc Hiệu và Chủ tịch UBND huyện Đặng Thị Bích Thuỷ. Trên báo Người cao tuổi số 47, ra ngày 20-4-2012 chúng tôi đã có bài “Ra quyết định cưỡng chế trái luật”, trong đó chỉ rõ quyết định cưỡng chế của UBND huyện Văn Giang là hoàn toàn trái pháp luật hiện hành.
Theo Luật đất đai, chỉ những dự án phục vụ quốc phòng, an ninh…nhà nước mới thu hồi đất, trình tự thu hồi được quy định rõ trong luật.
Những dự án không thuộc nhóm này, như dự án Ecopark thì Nhà nước không thu hồi đất, mà chỉ đứng ra làm trọng tài để nhà đầu tư thoả thuận với dân.
Lẽ tất nhiên, thoả thuận đền bù dân giá cao thì nhà đầu tư lãi ít, thoả thuận đền bù giá thấp thì nhà đầu tư lãi nhiều. Ở đây UBND huyện lại đứng ra cưỡng chế, lấy đất giao cho chủ đầu tư, hoàn toàn không xem quy định của Luật đất đai có tí giá trị nào.
CSCĐ chặn ngõ

Nếu hỏi người dân có đồng tình với việc cưỡng chế trái luật này hay không thì tôi tin chắc không ai đồng tình. Cũng có nghĩa là UBND huyện Văn Giang không đạt được “sự đồng thuận của nhân dân” theo chỉ đạo trong Thông báo 168/TTCP-V4 ngày 26-1-2007 của Thanh tra Chính phủ .
Ngọc Phi
Nguồn: Người cao tuổi (tựa bài của HDTG)
Xem thêm bài viết của tác giả này về vụ việc này tại đây.
Bản chụp bài viết trên báo Người cao tuổi (thứ 4 ngày 25/04/2012)