Thứ Bảy, ngày 05 tháng 5 năm 2012

Cốc Trà Đá Và Chiếc Camry


sự bọt bèo của những khoản lót tay “cốc trà đá”, hay “mũi tiêm không đau” đang một mặt khiến những người dân ngày càng bần cùng hóa về mặt niềm tin, vừa là nụ cười nhạo báng với ý tưởng về những khoản tiền “dưỡng liêm”.
Cơ quan điều tra Vĩnh Phúc vừa tiến hành bắt tạm giam nguyên bí thư Thành ủy, chủ tịch UBND TP Vĩnh Yên, ông Lại Hữu Lân về hành vi “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Cùng với việc bắt người, chiếc Toyota Camry BKS 30T-7703 cũng bị tạm giữ. Đây là “món quà” mà một bị can tặng cho ông Lân, thời điểm đó đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Vĩnh Yên, sau khi lấy được 25,5 ha đất nông nghiệp tại phường Đồng Tâm lập dự án trang trại, sau đó chuyển đổi thành đất đô thị để bán kiếm lời.
Món hối lộ “lớn nhất trong ngày” này gấp hàng trăm ngàn lần so với giá trị tối thiểu mà một hành vi “tham nhũng vặt” đã, đang, và sẽ thực hiện.
Cũng trong ngày hôm qua, Báo cáo Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh, được UNDP công bố tại Hà Nội, đưa ra một con số giật mình. Giật mình không phải là có tới 31% cho rằng có tình trạng nhận hối lộ trong dịch vụ y tế công. Nguy hiểm không phải vì 29% thừa nhận đưa tiền để xin việc vào làm trong khu vực nhà nước. Báo động cũng không nằm ở chỗ 21% bị hành tiền khi xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chuyện muôn thủa là “chiếc phong bì cho cô giáo”. Đáng giật mình, đáng báo động và thực sự nguy hiểm là ở “5 ngàn đồng”, số tiền chỉ đủ mua cốc trà đá, mà người dân ở Điện Biên phải “chi ngoài quy định” cho y bác sĩ.
Có thể hiểu sao về số tiền hối lộ bằng “cốc trà đá” này?
Có lẽ đây là “tiền hở”, không để trong phong bì. Không ai mua chiếc phong bì 500 đồng chỉ để đựng khoản tiền 5 ngàn đồng cả. Và chỉ có thể hiểu là những người dưới đáy xã hội, sống gần như tự cung tự cấp ở một vùng non cao rừng sâu không còn tiền để “chi ngoài quy định” cho bác sĩ. Đưa xong “cốc trà đá” có lẽ họ chỉ còn lại đôi bàn tay trắng và nhận lại một mũi tiêm vẫn đau như thường. Còn những nhân viên công vụ, đến “cốc trà đá” của cũng ngửa tay ra nhận thì có lẽ, tham nhũng vặt không từ thứ gì, không chừa một ai.
Có người nói chính những người đưa phong bì cũng có lỗi, chính họ làm hư cán bộ. Rằng việc “ép cán bộ phải nhận cho bằng được” là tiếp tay cho cái xấu. Là tạo ra một thái độ thỏa hiệp. Nhưng suy cho cùng, nếu như người dân không bị sự sách nhiễu, tha hóa của đội ngũ công bộc vây hãm đến nghẹt thở, thì làm sao phải đưa hối lộ, ngay cả và dù chỉ là “cốc trà đá”.
Trả lời Tuổi trẻ 3 hôm trước, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh tư tưởng của nghị quyết TƯ 4: Từng cá nhân phải tự liên hệ xem mình có khuyết điểm hay không. Nếu chỉ nói anh này, anh kia có khuyết điểm mà bản thân mình hay cấp mình chẳng có khuyết điểm gì là không được. Chúng ta đang nói đến “một bộ phận không nhỏ…” thì bộ phận này ở đâu phải được chỉ ra cụ thể. Nhóm lợi ích nằm ở đâu cũng phải được chỉ ra. Đó là nhìn thẳng vào sự thật, không được né tránh.
Có lẽ, vấn đề ở đây không chỉ là những “cốc trà đá”, không chỉ là “tham nhũng vặt”, dù chuyện “cốc trà đá” nhan nhản khắp nơi: Ngoài đường, trong công sở, cửa sau, và từ lâu, cũng là chuyện thường ngày ngay cả trong trường học, bệnh viện. Và chính sự bọt bèo của những khoản lót tay “cốc trà đá”, hay “mũi tiêm không đau” đang một mặt khiến những người dân ngày càng bần cùng hóa về mặt niềm tin, vừa là nụ cười nhạo báng với ý tưởng về những khoản tiền “dưỡng liêm”.
Sự liêm chính của đội ngũ nô bộc, sự chính danh của nền hành chính công, và xa hơn là uy tín của một chế độ, một quốc gia đang bị gặm nhấm, hủy hoại bởi những hành động ngửa tay trước kể cả những “cốc trà đá”.
Nhưng khoản hối lộ “Cốc trà đá”, hay “mũi tiêm không đau” 10 ngàn đồng, dù bé tí, hoặc nằm kín đáo trong chiếc phong bì, vẫn là thứ người dân có thể thấy được, vì họ chính là những nạn nhân trực tiếp. Những chiếc Camry, thứ quà sang trọng, to đoành và đỗ công khai trong sân nhà ông Chủ tịch Vĩnh Yên, những người thuộc về “bộ phận không nhỏ”- mới là thứ mà người dân không thể thấy, không thể biết.
Đào Tuấn

Thứ Sáu, ngày 04 tháng 5 năm 2012

Tin vui từ xã đảo An Bình- Lý Sơn

Tin vui
Hôm nay, tại xã đảo An Bình, còn gọi là đảo bé thuộc huyện đảo Lý Sơn- Quảng Ngãi khởi công xây dựng công trình thiết bị lọc nước biển thành nước ngọt. Thiết bị do công ty Doosan tài trợ. Trước đây, nguồn nước ngọt lấy từ nước mưa rồi dự trữ trong hồ, lu, ghè hoặc mua từ đảo lớn chở sang rất đắt đỏ. 

Xã đảo An Bình nhìn từ An Hải- Lý Sơn. Ảnh HDTG

Tham nhũng vặt thành hệ thống


Nếu trong một năm, người dân vừa phải chi phong bì cho khám chữa bệnh, vừa phải chi cho thầy cô để con được quan tâm hơn, vừa phải làm thủ tục xin cấp giấy CNQSDĐ thì trung bình họ sẽ phải mất khoảng 7,5 triệu đồng cho việc “lót tay”, gấp 7 lần mức lương tối thiểu quy định hiện nay. Ông Jairo Acuna – Alfaro (Cố vấn Chính sách về cải cách hành chính và chống tham nhũng của UNDP)
Bảo Cầm
Thủ tục nhà đất vẫn gây nhiều bức xúc nhất cho người dân
Kết quả khảo sát chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2011 do Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) phối hợp các cơ quan liên quan công bố ngày 3.5 tại Hà Nội cho thấy, tình trạng tham nhũng vặt ở Việt Nam phổ biến, trở thành vấn nạn mang tính hệ thống.
31% “lót tay” trong dịch vụ y tế
Kiểm soát tham nhũng công là một trong 6 nội dung lớn UNDP thực hiện khảo sát trong năm 2011. Kết quả khảo sát cho thấy, khi được hỏi về một số hành vi tham nhũng cụ thể trong lĩnh vực công, có tới 31% người tham gia khảo sát (trong tổng số 13.600 người) xác nhận có tình trạng hối lộ trong dịch vụ y tế công, 29% thừa nhận có phong bì “lót tay” khi xin việc làm trong khu vực nhà nước, 21% xác nhận chi phong bì khi xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 17% cho biết có phong bì cho giáo viên để con em mình được quan tâm hơn ở trường.
Mức tiền hối lộ trung bình trên toàn quốc ở bệnh viện tuyến huyện/quận là 2,6 triệu đồng và ở trường tiểu học để học sinh được quan tâm đặc biệt hơn là 1,2 triệu đồng. Số tiền cụ thể người dân đã phải chi ngoài quy định cho y, bác sĩ thấp nhất là 5.000 đồng (ở tỉnh Điện Biên) và cao nhất là 29,2 triệu đồng ở tỉnh Cà Mau. “Những con số này cho thấy chung chi hay quà cảm ơn mà bệnh nhân/người nhà bệnh nhân thường là phong bì, phong bao cho cán bộ y tế theo cách mà nhiều người gọi là văn hóa phong bì đã thành thông lệ… Quà cảm ơn vô hình trung dẫn tới hệ quả là cơ chế “xin – cho” có đất để sống và tham nhũng trở thành một vấn nạn mang tính hệ thống”, Cố vấn Chính sách về cải cách hành chính và chống tham nhũng của UNDP, ông Jairo Acuna – Alfaro nhấn mạnh.
Đáng chú ý, khi khảo sát đánh giá của người dân về quyết tâm chống tham nhũng của chính quyền địa phương, chỉ có 22,9% số người được hỏi cho rằng chính quyền địa phương của họ nghiêm túc trong xử lý các vụ việc tham nhũng đã được phát hiện. Tỷ lệ này ở Hà Nội cao nhất với 50,66% và Bạc Liêu thấp nhất với 5,39%. Điều này phù hợp kết quả khảo sát trong số 330 người trả lời trên toàn quốc cho biết cá nhân họ hoặc người thân trong gia đình đã bị cán bộ xã/phường vòi vĩnh, nhưng chỉ có 13,27% cho biết họ đã tố cáo. Lý do được viện dẫn rất nhiều, từ suy nghĩ tố cáo tham nhũng không mang lại lợi ích gì; sợ bị trù úm, trả thù; hay do thủ tục tố cáo quá rườm rà…
Thủ tục đất đai gây khó dân nhất
Báo cáo của nhóm nghiên cứu cũng cho thấy có tới 80% người tham gia khảo sát cho biết họ không biết gì về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương. Đồng thời, chỉ có 22% người được hỏi cho biết họ có cơ hội đóng góp ý kiến vào các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của xã/phường. Trong số 5 người dân đóng góp ý kiến thì 2 người cho biết ý kiến của họ đã được tiếp thu.
Qua khảo sát, nhóm nghiên cứu chỉ ra: “Thủ tục và dịch vụ hành chính liên quan đến chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) là nội dung mà người dân còn phàn nàn nhiều nhất. Người dân không những chưa hài lòng với dịch vụ và quy trình thủ tục, mà còn phàn nàn nhiều về thái độ làm việc của công chức”.
Khi được hỏi về tình trạng tham nhũng trong khu vực công, trên toàn quốc có 21% người trả lời cho biết hối lộ để làm xong thủ tục về CNQSDĐ là cần thiết. Về mức tiền hối lộ, người dân Hải Phòng dường như phải chi nhiều nhất bởi giá trị trung bình của chỉ số này ở ngưỡng 9,8 triệu đồng. Ngược lại, ở Hà Giang, người dân hầu như không phải đưa hối lộ để làm xong thủ tục này.
“Nếu trong một năm, người dân vừa phải chi phong bì cho khám chữa bệnh, vừa phải chi cho thầy cô để con được quan tâm hơn, vừa phải làm thủ tục xin cấp giấy CNQSDĐ thì trung bình họ sẽ phải mất khoảng 7,5 triệu đồng cho việc “lót tay”, gấp 7 lần mức lương tối thiểu quy định hiện nay”, ông Jairo Acuna – Alfaro, nói.
Lấy sự hài lòng của dân làm thước đo
Trên cơ sở các chỉ số đạt được, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu để xem những mặt còn hạn chế sẽ có giải pháp cải thiện tốt hơn trong thời gian tới. Chúng tôi sẽ tiếp tục phát huy dân chủ ở cơ sở, làm sao công khai minh bạch tất cả thủ tục hành chính, qua đó dân biết, dân bàn, dân làm và tham gia kiểm tra. Điều này ở một số địa phương của tỉnh vừa qua chưa làm được, thí dụ như phát huy vai trò thanh tra nhân dân rồi giám sát cộng đồng ở cơ sở đối với một số công trình phục vụ dân sinh trên địa bàn. Vì vậy, chúng tôi sẽ tiếp tục cải thiện theo hướng đẩy mạnh công khai dân chủ để người dân được tham gia đóng góp.
Tôi cho rằng thước đo hài lòng của người dân chính là cái gốc, là tiêu chí kiểm nghiệm, đánh giá quan trọng nhất, chính xác nhất về chất lượng phục vụ dịch vụ công của các cấp chính quyền.
Phó chủ tịch UBND tỉnh Long An Trần Hữu Phước
CCHC phải có định lượng cụ thể
Đề án tổng thể cải cách hành chính (CCHC) giai đoạn 2011 – 2020 nhấn mạnh đến mục tiêu CCHC chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ phát triển, phục vụ nhân dân, chính vì vậy mức độ hài lòng của người dân được xem là kết quả đầu ra của CCHC, thông qua đó để đánh giá tiến trình, chất lượng, hiệu quả cải cách. Giai đoạn 10 năm trước, chúng ta chỉ nói CCHC một cách định tính mà thiếu định lượng, còn bây giờ, đánh giá hiệu quả CCHC phải căn cứ trên tiêu chí định lượng cụ thể.
Trong chương trình tổng thể CCHC giai đoạn tới có các giải pháp đồng bộ, từ nhận thức tới chủ trương đến xây dựng chính sách, thiết chế kiểm tra, giám sát, đánh giá; không chỉ đánh giá trong hệ thống mà còn cả sự đánh giá từ bên ngoài, từ xã hội, nhân dân về chất lượng phục vụ CCHC của đội ngũ cán bộ công chức.
Nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc
cố vấn cao cấp của PAPI
15 tỉnh có điểm số kiểm soát tham nhũng thấp nhất
Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở VN (PAPI) là công cụ giám sát thực thi chính sách được xây dựng với sự phối hợp chặt chẽ giữa Tạp chí MTTQ thuộc Ủy ban Trung ương MTTQ VN, Ban Dân nguyện của Ủy ban TVQH, Trung tâm nghiên cứu phát triển và hỗ trợ cộng đồng (CECODES) thuộc VUSTA và Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tại VN.
Chỉ số PAPI bắt đầu được thực hiện thí điểm ở VN vào năm 2009 tại 3 tỉnh/thành phố gồm Phú Thọ, Đà Nẵng và Đồng Tháp. Trong năm 2010, nghiên cứu được mở rộng ra 30 tỉnh/thành phố với sự tham gia của 5.568 người dân được chọn ngẫu nhiên trên toàn quốc. Năm 2011, nghiên cứu PAPI được thực hiện trên phạm vi toàn bộ 63 tỉnh/thành phố trên toàn quốc với sự tham gia chia sẻ trải nghiệm và ý kiến của 13.642 người dân.
PAPI 2011 được cấu thành từ 6 lĩnh vực nội dung lớn, 22 nội dung thành phần và 92 chỉ số thành phần. 6 nội dung khảo sát, gồm: sự tham gia của người dân ở cấp cơ sở; công khai, minh bạch; Trách nhiệm giải trình với người dân; Kiểm soát tham nhũng; Thủ tục hành chính công và Cung ứng dịch vụ công.
Năm 2011, nhóm các tỉnh có điểm số thấp nhất về kiểm soát tham nhũng trong lĩnh vực công gồm có Điện Biên, Đắk Lắk, Bắc Giang, Lai Châu, Thừa Thiên-Huế, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Ninh Bình, Tây Ninh, Bắc Ninh, Hà Giang, Hải Phòng, Trà Vinh, Quảng Ninh và Cao Bằng.
Theo Thanh Niên

Thứ Năm, ngày 03 tháng 5 năm 2012

Anh Tư ơi, hu hu


Đọc bài phỏng vấn anh Tư : Tham nhũng không giảm, nghị quyết không thành công (tại đây), nghe anh nói nhiều câu thật sướng lỗ rốn.  Anh Tư nói :”Chúng ta đang nói đến “một bộ phận không nhỏ…” thì bộ phận này ở đâu phải được chỉ ra cụ thể. Nhóm lợi ích nằm ở đâu cũng phải được chỉ ra. Đó là nhìn thẳng vào sự thật, không được né tránh. Tư tưởng của nghị quyết trung ương 4 lần này đòi hỏi như vậy.
Anh Tư nói phải quá. Cần phải chỉ ra bộ phận không nhỏ là ở đâu, gồm những ai, mới gọi là nhìn thẳng vào sự thật. Chứ cứ tình trạng ông nào cũng  la lớn có một bộ phận không nhỏ nhưng khi hỏi bộ phận không nhỏ ở đâu gồm những ai thì hết thảy đều nhếch mép cười trừ, vậy thì la lớn làm cái gì, vô ích.
Nhưng ai nói đây?
Đám dân tụi tui cũng lắm người có khả năng chỉ ra cái bộ phận không nhỏ ấy, mỗi tội là họ sợ nếu họ mở miệng nói ra, trước sau cũng bị tóng giam như  Cô gái Đồ Long mà thôi, chả ai dại. Giả sử anh Tư có cam kết những người chỉ ra bộ phận không nhỏ sẽ được Nhà nước bảo vệ thì cũng chẳng ai dám ho he. Người ta sẽ không bắt tội đó thì sẽ bắt tội khác, như anh điếu cày bị bắt tù vì tội trốn thuế, ts CHHV bị bắt vì can tội tàng trữ hai bao cao su đã qua sử  dụng đó anh Tư, cực lắm. Mà cũng chẳng cần bắt bớ làm gì cho phức tạp, chỉ cần cho vài dùi cui vào gáy vì can tội không đội mũ bảo hiểm là xong om, dễ không à.
Cho nên nếu anh Tư đi đầu bước trước, làm gương cho các đảng viên quần chúng noi theo thì ước muốn của anh Tư may ra mới thành sự thật. Ví dụ anh Tư nói to cho thiên hạ biết trong  BCT có bộ phận không nhỏ không, nếu có thì gồm những ai. Nếu BCT 14 người tìm kiếm gặp khó khăn thì anh Tư thử tìm xem trong tứ trụ triều đình có bộ phận không nhỏ không. Với tứ trụ triều đình, một người là bộ phận nhỏ, hai người là bộ phận không nhỏ đó anh Tư. Anh Tư tìm đi, dễ không à.
Nói vậy thôi, e rằng anh Tư không tìm được đâu, muôn năm không tìm được.Tìm hai người trong bốn người là chuyện quá dễ mà tìm không ra thì việc tìm bộ phận không nhỏ trong 3 triệu đảng viên là chuyện đơm đó ngọn tre, làm sao tìm được anh Tư ơi. Hu hu
Nguyễn Quang Lập
Theo Quê Choa

Thứ Tư, ngày 02 tháng 5 năm 2012

Ai biến chất chính trị và ai là người tự diễn biến ?

Trong những năm gần đây, các vị lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam thường nhắc nhở, cảnh báo cái gọi là “ mất phẩm chất chính trị và tự diễn biến ” của một số đảng viên trong Đảng. Trong đó, có đông đảo các cựu tướng lĩnh, cán bộ cách mạng lão thành, cán bộ hưu trí, trí thức, văn nghệ sĩ… Những đảng viên này với truyền thống yêu nước, yêu con người, tha thiết xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, tiến bộ. Một xã hội mà như nhà thơ Thiết Sử (Phan Duy Nhân – Nguyễn Chính) trong phong trào đấu tranh của SVSG trước 1975 đã mơ ước :
Đến con trâu cũng nghé ọ yêu người…
Yêu anh em, yêu xã hội công bằng
Người yêu người xây dựng đến muôn năm ” 1.
Đó là lý tưởng, là mơ ước sâu xa của biết bao thế hệ thanh niên, của biết bao nhân sĩ trí thức và đồng bào cả nước, đã hi sinh biết bao xương máu để mong rằng sau ngày nước nhà độc lập, thống nhất, chúng ta sẽ sống trong một xã hội tốt đẹp hơn. Ở đó, mục tiêu dân chủ, tự do, công bằng và tiến bộ xã hội từng bước được cải thiện, ít nữa là hơn cái chế độ cũ. Nhưng 37 năm đã qua, sau ngày 30.4.1975, chúng ta thấy những gì đã diễn ra trên đất nước Việt Nam chúng ta ?
Trả lời câu hỏi này thì sẽ lộ ra kẻ nào, đảng viên nào là biến chất chính trị và kẻ nào, đảng viên nào là người tự diễn biến, phản bội lại mục tiêu ban đầu của cuộc cách mạng… Vấn đề này phải được tranh luận một cách công khai, minh bạch, nghiêm túc chứ không thể nói theo cách hàm hồ, cả vú lấp miệng em được.
Vậy thì nhìn lại 37 năm qua, mục tiêu ban đầu của cách mạng đã được thực hiện như thế nào ?

Về mục tiêu độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ :

Sau 30.4.1975, nhiều người vẫn nghĩ rằng chẳng còn kẻ thù nào gây hấn, phá hoại nền độc lập, tự chủ và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nhưng đâu có ai ngờ kẻ thù đó lại là “ ông bạn vàng, môi hở răng lạnh ” từ phương Bắc xua quân đánh qua các tỉnh biên giới phía Bắc. Xúi bọn tay sai Pôn Pốt đánh qua biên giới phía Nam và trước đó vào năm 1974, đã đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng hoà. Sau đó, vào năm 1988, đánh chiếm đảo Gạc Ma và một số đảo khác thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam… gây biết bao đau thương, tang tóc cho đồng bào, chiến sĩ chúng ta. Bên cạnh đó, việc mở đường cho bọn bành trướng Bắc Kinh vào thuê đất rừng ở các tỉnh biên giới, vào khai thác bauxite ở Tây Nguyên, đưa công nhân vào tận đất mũi Cà Mau và nhiều vùng kinh tế trọng điểm khác. Ngoài ra, sự nhu nhược, khuất tất trong việc xử lý, đối phó với những hành động phá hoại, ngăn trở việc khai thác dầu khí trong vùng lãnh hải của Việt Nam, việc giết chóc, bắt bớ, đánh đập, giam cầm, đòi tiền chuộc như kẻ cướp biển đối với ngư dân chúng ta đang đánh bắt ở các ngư trường truyền thống biết bao đời nay… đã làm nhân dân cả nước bất bình, phẫn nộ nên đã nổ ra các cuộc biểu tình yêu nước ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và đã bị đàn áp dã man, vi phạm nghiêm trọng các quyền tự do của công dân đã được ghi trong Hiến pháp.
Gần đây, có vị lãnh đạo hứa hẹn với Trung Quốc sẽ dẹp các cuộc biểu tình yêu nước ở Việt Nam, nhắc lại rằng “ Bạn khuyên ta…” thế này, thế kia, làm thương tổn lòng tự trọng dân tộc, xấu hổ với bạn bè năm châu. Trong khi đó, ở gần ta, chính phủ và nhân dân Philippines – một nước nhỏ và yếu hơn ta – vẫn kiên quyết chống lại mưu đồ bành trướng của Trung Quốc bằng những hành động thích đáng, kể cả quân sự và biểu tình quần chúng.
Như vậy, nền độc lập, tự chủ và sự toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta đã được các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước bảo vệ như thế nào ? Vẫn biết rằng hết sức tránh chiến tranh, giữ gìn hòa bình là nguyện vọng thiết tha của nhân dân ta, dân tộc ta, một đất nước đã trải qua biết bao cảnh chiến tranh đau thương. Nhưng hiện nay, tình hình thế giới đã khác, chúng ta đã hội nhập vào các tổ chức, định chế quốc tế và nhất là nếu biết dựa vào sức mạnh của nhân dân, chúng ta vẫn có thể có những biện pháp đối phó có kết quả mà bọn bành trướng không thể bắt nạt, lấn tới…

Về mục tiêu dân chủ, tự do, công bằng và tiến bộ xã hội :

Có thể nói đây là một nội dung cốt lõi nhất quy định bản chất của một chế độ xã hội, tiến bộ hay lạc hậu.
Thực tiễn cho chúng ta thấy là trong 37 năm qua, từ 30.4.1975 đến nay, các quyền tự do, dân chủ được quy định trong Hiến pháp 1946 đã bị tước đoạt toàn bộ. Nhà nước dân chủ cộng hòa đã bị thay thế bằng một nhà nước toàn trị, độc đoán. Tinh thần tiến bộ của Tuyên ngôn độc lập mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên đọc tại Ba Đình lịch sử với cam kết đem lại “ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ” cho đất nước và cho nhân dân đã gần như bị lãng quên, nếu không nói là đã bị phản bội. Thành quả cách mạng đã bị đánh tráo. Các quyền cơ bản của người dân như tự do báo chí, tự do biểu tình, đình công, tự do lập hội… đều bị ngăn cấm hoặc xâm phạm thô bạo như đàn áp các cuộc biểu tình ở Thành phố Hồ Chí Minh, ở Hà Nội, bức tử viện nghiên cứu độc lập đầu tiên của trí thức (IDS), bắt bớ, giam cầm các nhà đấu tranh cho dân chủ, các blogger, các nhà báo tự do và gần đây nhất là tại Thành phố Hồ Chí Minh, bằng chỉ thị miệng, lén lút và hèn hạ, đã cấm chiếu phim Hoàng Sa – Nỗi đau mất mát của André Menras, giải tán hoạt động của các tụ điểm văn hóa lành mạnh như Ami ở Văn Thánh, café Thứ Bảy, bãi bỏ một số buổi giao lưu giữa bạn đọc với một số học giả, trí thức, nhà văn mà chính quyền cho là có “ vấn đề ” tại Hội sách TP. HCM mới đây, không cho tiếp tục chuyên mục Câu chuyện triết học hằng tuần vào số báo thứ tư của Sài Gòn Tiếp Thị.
Nghiêm trọng nhất là trong lĩnh vực đất đai, nhà nước đã dung túng cho các chính quyền địa phương giải tỏa, đền bù đất đai của dân với gi­á rẻ mạt, hay nói thẳng ra là làm tay sai cho các chủ đầu tư, bọn làm giàu bất chính cướp đất của dân. Việc huy động quân đội, công an cảnh sát đàn áp gia đình Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng, huy động hàng ngàn công an dùng dùi cui, khiên giáp, lựu đạn cay “ hỗ trợ ” nhà đầu tư giải tỏa đất của nông dân ở huyện Văn Giang, Hưng Yên. Tiếng la khóc của người dân, tiếng nổ của lựu đạn cay, khói lửa bay mịt mù làm tôi nhớ lại bài hát Hát trong làn khói đạn của Trương Quốc Khánh trong phong trào sinh viên học sinh Sài Gòn ngày nào :
Trái đạn nào là trái đạn không cay
Sinh viên nào không đấu tranh ngày ngày
Dùi cui nào mà đánh mình không đau
Học sinh nào mà không mến thương đồng bào…”
Viết đến đây, tôi cảm khái ngước mặt lên trời mà than rằng : “ Lịch sử ơi, sao ngươi chơi trò trớ trêu và cay đắng quá vậy. Ta đi chống chế độ cũ đàn áp nhân dân, nay ta lại gặp cảnh cũ như là trong cơn ác mộng ! ”
Ở đâu có áp bức là có đấu tranh ! ”, các vị lãnh đạo Đảng Cộng sản đã từng dạy tôi như vậy. Mà đúng thật. Theo tin báo Tuổi Trẻ ngày thứ bảy 28.4.2012 thì “ Đến chiều ngày 27.4, hơn 1.000 người dân xã Liên Hiệp (huyện Phúc Thọ, Hà Nội) vẫn tập trung tại trụ sở của UBND xã Liên Hiệp phản đối những sai phạm quản lý đất đai của chính quyền xã, đòi chính quyền trả lại đất…”. Cũng trong trang tin này cho biết : “ Quốc lộ 1A đoạn ngang qua thị trấn huyện Phù Mỹ (tỉnh Bình Định) đã bị ách tắc từ 11g đến hơn 12g30 ngày 27-4 do hàng trăm người dân chủ yếu ở hai xã Mỹ Thọ, Mỹ An kéo về trước trụ sở UBND huyện Phù Mỹ và chặn ngang quốc lộ để phản đối một số doanh nghiệp chặt rừng dương phòng hộ, khai thác titan…”. Chúng ta kỷ niệm 30.4.1975 bằng những sự kiện bi hùng đó.
Người dân, người nông dân đã nói lên tiếng nói của mình bằng những hành động quyết liệt dù cho họ biết sẽ bị đàn áp, bắt bớ. Nguy cơ chính là đây, chứ không có kẻ xấu, lực lượng thù địch nào hết. Kẻ xấu, lực lượng thù địch chính là bọn bành trướng Bắc Kinh và bọn quan chức tham nhũng, những cường hào mới, ức hiếp, tước đoạt ruộng đất của dân. Chính bọn này sẽ đào mồ chôn chế độ chứ không phải là ai khác.
Ngoài ra, sự phân hóa sâu sắc giàu nghèo, sự xuống cấp, tha hóa của đạo đức xã hội với tệ nạn dối trá, sống không trung thực, chạy theo chức quyền, đồng tiền một cách mù quáng. Tính ưu việt của một chế độ được thể hiện qua các lĩnh vực liên quan thiết yếu đến đời sống con người : giáo dục, y tế, an sinh xã hội. Nói đến lĩnh vực giáo dục, y tế, tôi chợt nhớ đến một kỷ niệm. Trong những ngày đầu nước nhà thống nhất sau 1975, ở Hội Trí thức yêu nước thành phố (nay là Liên hiệp Khoa học – Kỹ thuật TP. HCM), một số vị trí thức đầu đàn có nói với tôi rằng các vị phục người Cộng sản hai điểm : một là chủ trương nền giáo dục – y tế miễn phí, hai là chủ trương chống mê tín dị đoan, các ông thầy bói, các bà lên đồng hết đất sống. Nhưng có lẽ, các vị trí thức lớn như Giáo sư Lê Văn Thới, Giáo sư Phạm Biểu Tâm, Giáo sư Ngô Gia Hy… – những vị đến nay đã qua đời – không ngờ rằng 37 năm sau hai lĩnh vực này phát triển một cách kinh hoàng theo chiều ngược lại : giáo dục – y tế thì thu tiền tràn lan, không có lấy một bệnh viện thí, một trường công thật sự. Còn mê tín dị đoan thì than ôi, không còn gì để nói, vì ngay cả một số chính quyền địa phương cũng công khai đứng ra “ buôn thần bán thánh ”, biến những di tích lịch sử, những nơi thờ phụng thiêng liêng thành những nơi kinh doanh rất hoành tráng.
Tất cả thực trạng trên nói lên cái gì ? Rõ ràng là nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã hi sinh biết bao xương máu để đấu tranh giành độc lập cho Tổ quốc nhưng nền độc lập, tự chủ đó đang bị nhà cầm quyền Bắc Kinh đe dọa nghiêm trọng trên tất cả các lĩnh vực. Lũng đoạn về chính trị, kinh tế, gây hấn ở Biển Đông. Nhân dân Việt Nam trải qua biết bao hi sinh của các thế hệ để mong ước có một chế độ xã hội tốt đẹp hơn nhưng nay lại có nhiều điều còn tồi tệ hơn các chế độ cũ. Con thuyền Việt Nam đang bị lái chệch hướng vào con đường của thời kỳ chủ nghĩa tư bản nguyên thủy, tư bản man rợ chỉ biết đấu đá, giẫm đạp lên nhau mà sống bất kể những tiếng kêu thấu trời của quần chúng. Họ đã quên những mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội để biến cãi đất nước ta thành một nước phát triển, văn minh, công bằng và tiến bộ xã hội, hòa nhập vào xu thế chung không thể đảo ngược hiện nay của thời đại.
Họ đặt lợi ích của Đảng mà thực chất là lợi ích của cá nhân, của gia đình các nhóm lợi ích lên trên lợi ích của quần chúng, của xã hội, lên trên sự tồn vong của đất nước, của Tổ quốc. Phẩm chất chính trị của người đảng viên Đảng Cộng sản, nếu Đảng Cộng sản Việt Nam còn là một đảng cách mạng, là anh có còn trung thành với những mục tiêu ban đầu của cuộc cách mạng xã hội không ? Trên cơ sở tiêu chuẩn này, thì hiện nay ai là người biến chất về mặt chính trị, tự diễn biến để trở thành tay sai của các thế lực, dù thế lực đó bất cứ là ai, là ngoại bang hay tập đoàn, nhóm lợi ích, các chủ đầu tư, bọn làm giàu bất chính, nghĩa là tay sai, nô lệ cho đồng tiền ?
Ai ? Ai là người biến chất về chính trị và tự diễn biến hiện nay ?
Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin kể một việc xảy ra ở cơ sở. Cô em gái của bạn tôi trước đây là dân quân báo của T4 (khu Sài Gòn – Gia Định), hiện nay đang sinh hoạt đảng ở chi bộ của một khu phố. Sau cuộc biểu tình đầu tiên chống nhà cầm quyền Trung Quốc bức hại ngư dân Việt Nam ở Biển Đông trong năm 2011, ở chi bộ cơ sở có phổ biến là không nên đi biểu tình, biểu tình là xấu, là diễn biến hòa bình, v.v. Nghe vậy, người nữ đảng viên, em gái bạn tôi, “bật lò xo” đứng dậy nói to đại khái là “ Trong những người đi biểu tình đó có các ông anh, bạn bè tôi trong phong trào sinh viên học sinh trước đây. Họ là những người tốt, yêu nước. Chính Đảng mới là người tự diễn biến, từ bỏ các mục tiêu cách mạng trước đây. Do đó, tôi thấy không cần thiết ở trong Đảng nữa ”. Ngay sau đó, người nữ đảng viên nọ làm đơn xin ra khỏi Đảng. Trước thái độ quyết liệt đó, một số vị trong chi bộ xuống nước đề nghị bỏ ý định ấy đi vì các vị sợ rằng trong chi bộ mà có một đảng viên xin ra khỏi Đảng thì sẽ mất danh hiệu chi bộ trong sạch, vững mạnh. Cũng là cái thói thành tích hão, sợ sự thật… Chị của người nữ đảng viên này cũng là dân quân báo, tù Côn Đảo và hai chị em đều sinh ra và lớn lên trong một gia đình truyền thống cách mạng. Cho đến nay, tôi được biết người nữ đảng viên đó vẫn giữ ý định chia tay với Đảng Cộng sản.
Như ngay từ đầu bài viết, cách đặt vấn đề của tôi là công khai và minh bạch, sẵn sàng tranh luận, đối thoại sòng phẳng với bất cứ một vị lãnh đạo nào, kể cả những nhà lý luận của Đảng Cộng sản nhưng không được chơi trò “ bỏ bóng đá người ”, ỷ có trong tay bộ máy tuyên truyền rồi a dua “ bề hội động ” như là một bọn bồi bút. Ngay cả trong trường hợp đó tôi cũng chẳng sợ vì tôi tin rằng nhân dân và sau này là lịch sử, là người công bằng nhất phán xét cái đúng, cái sai, cái thiện, cái ác. Tôi xác tín như vậy nên tôi chẳng sợ gì cả, kể cả tù tội, cái chết. Tôi phải trả nợ cho những người đã nằm xuống trong đó có những bạn bè thân thiết của chúng tôi.
Ngày 30.4.2012

Lê Hiếu Đằng

NGUỒN : Bauxite Việt Nam

Tính "luôn đúng" của thể chế, chính sách nhiều hệ lụy ?


Thể chế, chính sách thường là “kim chỉ nam” cho tất cả các hoạt động đằng sau và nó mang trên mình một tính chất “luôn đúng” mọi sự phải tuân theo; Ví như theo Nghị định này; chỉ thị kia, quyết định A, Thông báo B …. Và kéo theo là dây truyền áp dụng “nếu áp dụng đúng” bài bản thì còn có điều cần phải xét nhưng nhiều khi thực tế áp dụng vì thiếu “thông tin” hoặc do “hoàn cảnh” nên có phần “méo mó” đôi chút và thế là … được A thì mất B hoặc được B thì mất C làm đảo lộn tất cả ….
Nhưng từ lâu Khi các Thông tư Nghị định, chỉ thị …. ra đời là kéo theo nhiều tác phẩm có thành công và cũng nhiều hệ lụy đối với những vấn đề “nóng” thì thường gây xáo động và những “bất ổn tiềm tàng” nếu như không nghiên cứu kỹ tác dụng của những thể chế chính sách trước khi ban hành về thời gian, tác động và đặc biệt là tuổi thọ và hậu quả thực thi nó.
Tầm nhìn xin trân trọng giới thiệu một chuỗi thông tin, qua thống kê,tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích và nhận định về vấn đề tính “luôn đúng” của thể chế và chính sách đã tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và qua các thời điểm lịch sử cụ thể để phần nào nói lên các tác dụng kép hoặc những hệ lụy khó lường nếu không xác định đúng mục tiêu khi cho ra đời nó ?
Phần I: Xin đề cập đến vấn đề “nóng” nhất của tất cả các thời kỳ gây tác động đến nền kinh tế đó là quy định về quyền “sở hữu tư liệu sản xuất”, sở hữu tài sản của công dân.
I- Thực chất trong chế độ xã hội nào cũng vậy thôi vấn đề quy định quyền sở hữu tài sản nói chung và sở hữu tư liệu sản xuất nói riêng là bước ngoặc lớn quyết định sức mạnh cụ thể của các thành phần kinh tế làm nên đặc tính chủ yếu chế độ xã hội đó:
- Lịch sử đã trải qua nhiều chế độ xã hội mang bản sắc riêng như “công xã nguyên thủy, chế độ nô lệ, Phong kiến, Tư bản mại bản, Tư bản chủ nghĩa, và chủ nghĩa dân chủ, XHCN …đều xuất phát điểm từ vấn đề quy định về quyền sở hữu …. TLSX mà ra:
Trải qua các thời kỳ lịch sử nền kinh tế nước ta cũng đã đi theo sự định hình của quy luật chung tạm coi các hình thức xã hội trước đó là có phân chia giai cấp (bóc lột – là chủ (TLSX) và người bị bóc lột (người lao động làm thuê) – đa phần là nhân dân lao động), đến năm 1945 cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thành công và khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đây là thời điểm lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam và từ thời điểm này hình thức về quyền sở hữu TLSX được quy tại các văn bản pháp luật quan trọng đó là “Hiến pháp 1946 ra đời ).
Xét về góc độ lịch sử pháp quyền đây là bản Hiến pháp đầu tiên của nhà nước VNDCCH và nội dung của nó hoàn toàn phù hợp với tính chất và hình thái xã hội,mục tiêu phát triển đất nước (còn về quyền sở hữu tài sản nói chung là bao gồm các tpkt chủ yếu đó là Sở hữu toàn dân, tập thể và tư nhân), Như vậy Những gì thuộc về tài sản nhà nước được gọi là sở hữu toàn dân, các hình thức sở hữu khác như tập thể (Xí nghiệp, quốc doanh, nhà máy. Xưởng sản xuất, hợp tác xã là sở hữu tập thể, còn sở hữu tư nhân chỉ là sở hữu tài sản riêng của công dân … do vậy sự tác động liên đới đến vấn đề phân chia ruộng đất , quốc hữu hóa các cơ sở sản xuất của giai cấp … và đặc biệt là cuộc cải cách ruộng đất đi vào lịch sử kinh tế nước nhà năm 1954 ….Tất cả các hoạt động đó là thực hiện phản ứng dây truyền về tính “luôn đúng” của thể chế và chính sách của nhà nước ở mỗi thời kỳ. Lịch sử phát triển của đất nước…. Vì mọi thể chế chính sách được ban ra là phải xác định mục tiêu và tác dụng của đích thực của nó. Theo đánh giá và nhận định của các chuyên gia và các nhà khoa học lịch sử cho đến tận bây giờ nội dung của bản Hiến pháp năm 1946 vần còn nguyên giá trị.
Nhưng lịch sử không dừng lại mà luôn biến động và thay đổi theo thời gian, về cơ cấu tổ chức cũng như phân định quyền và nghĩa vụ của nhân dân được phân định theo thể chế và luật pháp do vậy tính luôn đúng của “hệ thống” các văn bản qppl và thể chế chính sách đã không hề thay đổi mà luôn có tác dụng đồng điệu với “tuổi thọ” theo bản chất của nó có phù hợp với tình hình phát triển của xã hội hay không ?
Tiếp về vấn đề quyền sở hữu TLSX hay sở hữu tài sản… Chúng ta đã cho ra đời các văn bản QPPL mới như Hiến Pháp 1959 tại thời điểm định hướng xây dựng đất nước theo con đường phát triển lên CNXH bỏ qua CNTB hay gọi là thời kỳ quá độ …. Rồi vấp phải nhiều vấn đề khó khăn ở những năm 1980 lại có sửa đổi bổ xung hiến pháp 1980, rồi hiến pháp năm 1992 .. Đến nay là Hiến pháp 1992 sửa đổi …
Nhưng kể từ Hiến pháp năm 1959 đến nay là Hiến pháp năm 1992 đã sử đổi thì ngoài vấn đề còn nhiều bất cập của tính luôn đúng của nó gây ra mà còn có rất nhiều các văn bản luật khác được ban hành nhiều khi nội dung chồng chéo và có phần trái ngược nhau đặc biệt là về tiêu chí và mục tiêu của các hệ thống văn bản PL này nhiều khi trái chiều nhau, ít đồng thuận.
Cụ thể nổi cộm lên là các văn bản quy định về quyền sở hữu TLSX như Luật đất đai, luật DNNN đối ngược với Luật dân sự…. và còn các văn bản, dưới luật như thông tư, nghị định… hướng dẫn thi hành còn quá nhiều bất cập dẫn đến để thực hiện tính luôn đúng của thể chế, chính sách gặp cản trở và nhiều khi tác dụng ngược? Nhưng nó là thể chế … chính sách do vậy nó vẫn được áp dụng và thực thi. Mặc dù tác dụng hay hậu quả thì không phải như mong đợi.
Hiện nay khi bàn về vấn đề này các chuyên gia kinh tế, chính trị, xã hội và pháp lý đều có chung quan điểm là mọi vấn đề không thể thay đổi được nếu như mục tiêu và đích đến cũng như tuổi thọ của hệ thống quan điểm trong các văn bản pháp quy không đồng thuận .
Đậy là hồi chuông thông báo về sự ảnh hưởng của tính “luôn đúng” của thể chế, chính sách ở mọi thời đại và tác dụng của nó sẽ như thế nào nếu như không xác định rõ mục tiêu và tuổi thọ của nó trước khi ban hành, cũng như trách nhiệm của người, tổ chức ban hành ra nó nếu hậu quả không đáng có xảy ra khi áp dụng văn bản đó …..
Mai Huy
Theo Tầm Nhìn

Thứ Ba, ngày 01 tháng 5 năm 2012

TỬ SĨ VÀ LIỆT SĨ

- Vào thăm ai. Mộ người chết tên gì, nằm ở khu vực nào?
- Dạ, không có thân nhân gì. Chỉ muốn vô thắp mấy cây nhang cho người chết thôi.
- Tại sao phải làm như vậy?
- …..
- …..
- Thôi được, muốn vào thì trình chứng minh nhân dân đây để lưu sổ. Nhớ không được mang theo máy ảnh, hay giấu điện thoại chụp hình. Chụp lén nếu biết ra đây sẽ bị xóa thẻ. Anh chị nghe chưa, có vào thì đi lẹ rồi ra!
- …
Hôm nay trên đường đi Đồng Nai, tui và hai người bạn nữa chợt có ý rẽ vào thắp nhang; đã nghe về cái sự khó vào khó ra nhưng vẫn bất ngờ trước vẻ mặt lạnh lùng của những người gác cổng Nghĩa trang nhân dân Bình An. Dùng dằng phải mất hơn 30 năm thống nhất, những người chiến thắng mới có thái độ rõ ràng với hơn 18.000 ngôi mộ tử sĩ nằm trong Nghĩa trang Quân đội ở Biên Hòa: quyết định số 1568/QD của thủ tướng chính phủ năm 2006 đã giao khu đất 58ha này sử dụng vào mục đích dân sự để phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương; chuyển quyền cai quản nghĩa trang từ Quân khu 7 cho Tỉnh Bình Dương. Vậy là gần 7 năm nay Nghĩa Trang Quân Đội VNCH đã trở thành Nghĩa trang nhân dân Bình An. Nơi này tiếp giáp Thủ Đức – Bình Dương – Đồng Nai, ngày trước đi thẳng quốc lộ 1A chưa tới cầu Đồng Nai đã nhìn thấy nghĩa trang nằm bên tay trái với Nghĩa Dũng Đài có hình cây kiếm cụt ngọn bằng bê-tông chỉa thẳng lên trời. Bây giờ thì rất khó để tìm, vì xung quanh nhiều nhà xây cao che chắn tầm nhìn và quan trọng là cây kiếm đã bị cưa ngang hết 15m, chỉ còn là một thanh đá thấp lè tè đi từ xa không thể nào thấy được. Nhiều người tò mò lẫn những người có ý định thăm viếng thật sự đã nản lòng khi đứng trước cổng nghĩa trang.
Nghĩa Dũng Đài ngày nay
Khách quan mà nói thì không khó khăn gì, nhưng với cách thức như vậy trông không giống một nghĩa trang dân sự càng không giống một di tích lịch sử. Bên trong cây cối mọc cao lẫn cỏ dại lúp xúp chen chúc giữa những dãy mộ và lấn tràn ra đường khiến không khí càng cô tịch và hoang tàn, u uất. Theo tui hiểu, thì với tập tục Á Đông, người Việt rất tối kỵ mồ mả cha ông bị rễ cây đâm vào bởi ai cũng tin rằng như thế sẽ làm đau đớn, khó chịu linh hồn người chết và con cháu sẽ không thể sống yên hay làm ăn phát lộc được. Bỗng nhớ tới chuyện nhà của một đứa bạn học có cha chết trận được chôn ở đây. Nhiều năm nay gia đình muốn bốc mộ mang về quê nhưng không được phép. Nó bảo, nghe đâu có cả thầy bên Tàu về ếm; những tử sĩ chôn ở đây hồn không thể siêu thoát, con cháu mấy đời sau cũng không thể ngóc đầu lên được. Thật ra thì cần gì thầy với bùa, bản thân nó khi ấy đi thi đại học trầy trật tới mấy lần mới vô được vì dính trong diện đối tượng gia đình có người tham chiến chế độ cũ.

Lại nhớ tới chuyện Ngũ Viên. Ông tên tự là Tử Tư người nước Sở thời Xuân Thu, cha và anh đều bị Sở Bình Vương giết hại. Ngũ Viên đã trải qua bao gian truân vất vả, lưu lạc sang nước Ngô giúp Hạp Lư giết chết Ngô Vương Liêu chiếm được ngôi vua. Về sau, Ngũ Tử Tư cùng Ngô vương Hạp Lư dẫn quân tiến đánh nước Sở, nước Sở bị thất bại. Khi ấy Ngũ Tử Tư râu tóc trắng xóa, Sở Bình vương cũng đã chết; ông bèn đào mộ lên rồi dùng roi đồng đánh luôn ba trăm cái vào thi thể của Sở Bình vương xong chặt mất đầu để báo thù cái tội giết cả nhà mình khi trước. Người bạn Thân Bao Tư của ông nghe được tin này bèn sai người đem thư sang cho Ngũ Tử Tư, trong thư viết: “Ngay đến người chết anh cũng không tha, làm như vậy thật quá tàn nhẫn”. Ngũ Tử Tư xem thư xong liền nói với người đưa thư rằng: “Tôi nhờ anh về nói lại với Thân Bao Tư là tôi chẳng khác nào một người đi đường, trời đã gần tối mà đường đi còn xa lắc xa lơ, nên tôi mới làm cái việc nghịch với lẽ trời này”. Trong tâm thế người chiến thắng, việc đối xử với những kẻ thua cuộc, thất thế – cho dù đã chết, là vấn đề hết sức tế nhị. Nó có thể cho thấy sự tự tin, lòng bao dung, nhân tâm và tình người; nhưng mặt khác, cũng có thể cho thấy thái độ hằn học, và vẫn còn tư tưởng thù hận. Nghĩa tử là nghĩa tận. Nói theo cách Ngũ Tử Tư, thì nếu đường đã rộng đẹp thênh thang rồi thì hà cớ gì không làm những việc hợp với lẽ trời. Cư xử với kẻ thù như những người bạn, điều này còn tốt hơn bất cứ sức mạnh và quyền lực nào; đó là điều không phải ai cũng làm được!
Có lần, cùng với đám bạn đại học ngày xưa ngồi bàn về chữ “Tử sĩ # Liệt sĩ”. Đứa bảo, Tử sĩ đơn giản là chiến sĩ đã chết. Còn Liệt sĩ là người hy sinh vì nước vì dân khi làm nhiệm vụ. Chữ liệt trong một cách nói khác còn là bại, không cử động được; hoặc kém, tồi, trái…Với những gì đang được trân trọng, có thể hiểu liệt sĩ là những người hy sinh oanh liệt vì tổ quốc. Nằm trên trục lộ 1A, Nghĩa trang Liệt sĩ TP.HCM (Long Bình, quận 9) chỉ cách Nghĩa trang nhân dân Bình An một quãng đường ngắn; tổng diện tích 30ha được xây dựng qui mô và nghiêm trang, với tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng điêu khắc hoành tráng ngay cửa chính mặt tiền đường. Nghĩa trang là nơi yên nghỉ của hơn 14.000 liệt sĩ. Mới đây, UBNDTP vừa duyệt diện tích khu vực quy hoạch khoảng 32,7 ha, chưa trừ lộ giới. Dự báo quy mô số phần mộ cát táng là 20.000, trong đó số phần mộ hiện trạng là 15.000, số phần mộ xây mới mở rộng là 5.000. Như vậy, ý nghĩa chuẩn của chữ “Liệt sĩ” sẽ được nới rộng ra rất nhiều. Cho nên có lần đến đây tui không mấy bất ngờ khi phát hiện ra mộ phần của con một ông tướng Công an, anh này không phải hi sinh vì nước vì dân khi làm nhiệm vụ mà chết vì nhảy lầu tự tử. Nghe mấy bác sĩ ở BV Thống Nhất kể lại, khi vụ việc xảy ra đã có lệnh trên gọi xuống; nên trong kết quả khám nghiệm đã ghi là chết vì tai nạn xe cộ.
Bên trong Nghĩa trang Liệt sĩ TP.HCM
Mười hai năm trước, ngày 21.4.2000 Ðại lão Hoà thượng Thích Huyền Quang, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, đã gửi bức thư 6 trang đến các cấp lãnh đạo đề nghị lấy 30.4 làm “Ngày Sám hối và Chúc sinh toàn quốc” : Sám hối những sai lầm trọng đại, giải quyết tình trạng bi thảm của những người tử vong, tàn tật qua 2 cuộc chiến, và bảo đảm Nhân quyền cho người sống, Linh quyền cho người chết; dù họ thuộc bộ đội miền Bắc hay binh sĩ miền Nam, để chôn cất và trả nghĩa, cho gia đình họ khỏi ngậm ngùi. Hoà thượng đã viên tịch, nhưng những gì ông mong muốn vẫn chỉ có thể nhìn thấy nơi suối vàng. Có một chuyện kể ra nghe chơi, ai tin thì tin không thì …thôi nha. Cách đây mấy năm tình cờ đi Điện Biên Phủ chung một đoàn làm phim truyền hình có nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, đang nửa đêm đốt lửa dưới chân đồi A.1 – nơi diễn ra những trận chiến đấu dữ dội, dai dẳng và quyết liệt nhất trong chiến thắng lịch sử Ðiện Biên Phủ; mọi người đang ngồi trầm tư, im lắng bỗng giật thót khi thấy bà Hằng mắt mờ dại dõi nhìn xa xăm, mông lung và miệng nói lầm bầm mấy chuyện gì đó. Một lúc sau, bà rùng mình rồi quay sang nhìn mọi người cười bảo: “Mấy chú lính Tây và mấy anh bộ đội mình đang đi chơi với nhau ngang qua đây, thấy họ vui lắm…”.
Theo FB Cô Gái Đồ Long

Sẽ còn nhiều vụ Văn Giang khác ở Việt Nam


Những cảnh đàn áp nông dân trong vụ cưỡng chế ở Văn Giang, Hưng Yên ngày 24/04 tiếp tục khấy động dư luận trong và ngoài nước. Một số nhà báo và nhà trí thức đã lên tiếng phản đối vụ cưỡng chế Văn Giang, trong số này có giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam.
So với vụ Tiên Lãng, vụ cưỡng chế ở xã Văn Quang, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên ngày 24/4 vừa qua gây chấn động mạnh trước hết là do tầm mức của sự kiện. Mặc dù theo nguồn tin chính thức, việc cưỡng chế chỉ tiến hành đối với 5,8 ha thuộc 166 hộ không chịu nhận tiền đền bù, nhưng có đến cả ngàn nông dân Văn Giang từ đêm hôm trước đã bám trụ tại những mảnh đất của họ để chống lại việc cưỡng chế. Phía chính quyền vì thế đã phải huy động hàng ngàn người gồm công an, cảnh sát cơ động, dân phòng và, theo tố cáo của dân, thì có cả thành phần xã hội đen, để thi hành lệnh cưỡng chế, biến việc này thành giống như là một trận càn quét trong chiến tranh, với hơi cay mờ mịt đồng, khói mù tỏa khắp nơi, tiếng súng vang rền trời.
Điểm thứ hai gây công phẫn dư luận, đó là mức độ đàn áp của lực lượng cưỡng chế, qua những hình ảnh được phổ biến rộng rãi trên mạng, nhất là cảnh cả chục người cầm dùi cui thi nhau đánh đập dã man một nông dân tay không, theo kiểu đánh đòn thù, chứ không phải là khống chế một thành phần “quá khích”.
Điểm đáng nói khác đó là, có lẽ rút kinh nghiệm từ vụ Tiên Lãng, chính quyền kiểm soát rất gắt gao những thông tin về vụ cưỡng chế ở Văn Giang. Một số bài báo đưa tin tương đối khách quan đã bị gỡ bỏ chỉ sau vài giờ đăng trên mạng. Những bài báo khác thì đăng thông tin một chiều của chính quyền tỉnh Hưng Yên. Chỉ duy nhất có tờ báo Người Cao Tuổi, cơ quan ngôn luận của Hội Người cao tuổi Việt Nam, là dám lên tiếng tố cáo vụ cưỡng chế mà họ cho là “trái luật” ở Văn Giang ( Nhưng nay bài của Người Cao Tuổi về vụ Văn Giang đều đã bị gỡ bỏ ). Nhiều phóng viên cho biết họ đã bị cản trở khi đến tác nghiệp ở Văn Giang trong ngày cưỡng chế.
Những nhà báo, những trí thức nào muốn bày tỏ thái độ về vụ Văn Giang chỉ có thể đăng tải trên các trang mạng. Trong bài viết tựa đề “ Phải thay đổi tư duy thu hồi đất”, được đăng trên trang Ba Sàm ngày 27/4, nhà báo Võ Văn Tạo nhắc lại rằng, điều 39 – Luật Đất đai 2003 quy định chỉ thu hồi đất để “ sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng”, trong khi dự án Ecopark chỉ là dự án kinh doanh, chính quyền không được phép thực hiện thủ tục thu hồi đất.
Bên cạnh đó, nhà báo Võ Văn Tạo lên án tình trạng thiếu minh bạch, cản trở báo chí tác nghiệp. Tác giả viết : « Mặc dù hoạt động cưỡng chế không thuộc phạm trù bí mật, hầu hết trường hợp, phóng viên đến hiện trường tác nghiệp đều bị lực lượng cưỡng chế cản trở hung hăng, thậm chí không ít phóng viên còn bị cướp máy ảnh, hành hung(!). Chính vì không có sự giám sát của báo chí, hiện tượng cưỡng chế sai ẩu, lạm dụng vũ lực, hành hung vô lối và thái quá với người bị cưỡng chế rất phổ biến. »
Về phần nhà báo Huy Đức thì tự đặt mình vào vị trí của nông dân Văn Giang trong bài viết đề ngày 26/04 đăng trên trang blog của anh.
Theo Huy Đức, các điều khoản về thu hồi đất, từng được quy định khá chặt chẽ trong Luật 1993, đã trở nên rắc rối và dễ bị lũng đoạn hơn trong Luật 2003. Anh cho rằng « Luật gần như đã đặt những mục tiêu cao cả như “lợi ích quốc gia” ngang hàng với “lợi ích của các đại gia”. »
Huy Đức lưu ý rằng, « vì Việt Nam không có một tối cao pháp viện để nói rằng Luật 2003 vi Hiến; Việt Nam cũng không có tư pháp độc lập để nông dân có thể kiện các quyết định của chính quyền, vì không có công lý, nên gia đình anh Đoàn Văn Vươn và 160 hộ dân Văn Giang phải chọn hình thức kháng cự chịu nhiều rủi ro như thế ». Theo tác giả bài viết, hình ảnh cuộc cưỡng chế hôm 24-4-2012 đã trở thành « một vết nhơ trong lịch sử. »
Trong bài viết gởi trực tiếp cho trang mạng Bauxite Việt Nam với hàng tựa “ Nhà nước của dân, do dân, vì dân không được phép trấn áp dân”, đề ngày 26/4, ông Nguyễn Trung (cựu Đại sứ VN tại Thái Lan, cựu thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, cựu thành viên Viện Nghiên cứu Phát triển IDS ), đã bày tỏ “sự căm giận và nỗi hãi hùng” của ông. Ông căm giận “vì không thể chấp nhận Nhà nước của dân, do dân, vì dân lại hành xử với dân như vậy. Ông hãi hùng “vì thấy rằng hệ thống chính trị nước ta đã có được trong tay lực lượng vũ trang sẵn sàng thực hiện lệnh trấn áp như vậy đối với dân.”
Ông Nguyễn Trung cảnh báo rằng đây là “ một chiều hướng phát triển vô cùng nguy hiểm cho đất nước, nhất thiết phải tìm cách ngăn chặn.” Ông yêu cầu Đảng, Quốc hội, Chính phủ về họp công khai với toàn thể các hộ dân các xã ở Văn Giang có đất đai bị thu hồi trong vụ cưỡng chế này để tìm hiểu tại chỗ sự việc.
Riêng giáo sư Tương Lai, ngay từ bài viết với hàng tựa “ Bàn chân nổi giận”, đề ngày 17/4, gởi trực tiếp cho trang Bauxite Việt Nam đã cảnh báo rằng “ con giun xéo lắm cũng quằn, họ không thể cứ lầm lũi ngậm miệng than trời, sao trời ở không cân, kẻ ăn không hết, người lần không ra.”. Bản thân cũng đã theo dõi tình hình ở Văn Giang từ nhiều tháng qua và trong bài trả lời phỏng vấn với RFI sau đây nay giáo sư Tương Lai tỏ vẻ rất công phẫn trước vụ đàn áp vừa qua:
Giáo sư Tương Lai: Tôi đã có theo dõi tình hình Văn Giang, Hưng Yên. Sự việc này diễn ra có thể đã là từ một tháng nay. Trước đây, tôi có xem một đoạn video trên mạng, quay lại cảnh người dân chất vấn đoàn thanh tra. Từ đó, tôi đã thấy là sự việc không biết sẽ diễn tiến đến đâu. Tôi cũng hy vọng là sau đợt làm việc của đoàn thanh tra đó, tình hình sẽ dịu đi và chắc là người ta sẽ có giải pháp.
Nhưng đến hôm nay, tôi thấy tình hình đã đi đến chỗ gay gắt một cách mà tôi cũng không hình dung nổi, nhất là khi xem đoạn video quay cảnh những người nhân danh Nhà nước, mặc sắc phục cảnh sát cũng có, mặc thường phục cũng có, cầm dùi cui đánh tới tấp vào những người dân. Xem cảnh đó, tôi không thể nào nói gì khác ngoài sự phẫn nộ và phẫn uất. Một Nhà nước mà đối xử với dân như vậy thì còn gì để nói!
Đương nhiên trong quy hoạch để xây dựng lại đất nước, những vấn đề cơ cấu lại nền kinh tế, mở rộng những khu vực công nghiệp, dịch vụ, đó là những việc không thể không làm. Và khi làm thì đương nhiên là có động chạm với lợi ích của người dân, có khi là lợi ích cục bộ, có khi là lợi ích riêng tư, mà về nguyên lý, lợi ích cục bộ phải phục vụ lợi ích toàn thể, lợi ích riêng tư phải phục vụ lợi ích đất nước.
Nhưng dù là cục bộ, dù là toàn thể, dù là lợi ích quốc gia đặt lên trên, ý nguyện của người dân vẫn là quan trọng nhất. Phong kiến, cổ xưa như Mạnh Tử mà còn nói đến “dân vi quý, quân vi khinh”. Một chính quyền muốn tồn tại thì phải được dân ủng hộ. Vì vậy, dựa vào dân, tin dân và lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của dân là việc tối thiểu mà người cầm quyền phải biết. Dù là mình đúng, dù là dân sai, dù người dân là lợi ích riêng tư, còn Nhà nước là lợi ich của toàn dân, thì trước tiên phải lắng nghe dân, chứ không phải dùng dùi cui để đối xử với dân.
Trước mắt, người ta có thể khuất phục một số người nào đó và bạo lực có khi tạm thời thắng thế, nhưng đó là sự giải khát bằng thuốc độc. Hệ lụy của nó sẽ không thể lường được. Một khi người dân nổi giận, mọi lời rao giảng về đạo đức, về nghị quyết, về lý tưởng, … đều trở nên vô nghĩa, nếu không muốn nói là giả dối và mị dân.
Cho nên, nhìn vào sự kiện đàn áp dân ở Văn Giang, Hưng Yên, thì không còn gì để nói nữa, khi mà cứ ra rả nói rằng Nhà nước này là của dân, do dân, vì dân.
RFI: Nguyên nhân của tình trạng ngày hôm nay phải chăng không chỉ là do mức đền bù không thoả đáng, mà còn là do Luật đất đai chưa rõ ràng, dẫn đến lạm quyền ở địa phương?
Giáo sư Tương Lai: Câu hỏi của ông cũng chính là câu trả lời đấy. Vừa qua, khi nhân dân Văn Giang kéo về cổng thanh tra chính phủ ở Cầu Giấy, Hà Nội, tôi đã có viết bài “Bàn chân nổ giận”. Một số báo không dám đăng, nhưng có một tờ báo đăng. Trong bài đó, tôi không có nói gì khác ngoài việc dẫn lời những người có trách nhiệm. Ví dụ, nguyên phó thủ tướng phụ trách nông nghiệp Võ Ngọc Trìu có nói: “ Khi trong này khai trương một công trình, thì ở bên ngoài dân khiếu kiện và biểu tình”. Ông nói rằng, giá đền bù cho dân là 1, khi đem lô đất đó ra thì giá gấp 15 lần. Ông kết luận rằng, một chính sách như thế thì không thể nào thuyết phục được dân.
Từ xưa đến nay, đất đai vẫn là vấn đề số một và nói đến đất đai tức là nói đến nông dân. Nguyễn Đình Chiểu đã nói rằng người nông dân là “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm”. Ngoài cái đó ra họ biết làm gì bây giờ? Họ có thể nhận một số tiền đền bù mà trong đời họ chưa từng có như thế. Nhưng khi họ mất đất thì số tiền đền bù đó chẳng có ý nghĩa gì nữa, bởi vì không phải ai cầm tiền cũng có thể làm cho nó sinh lợi. Đấy là chưa nói, khi đã mất đất, rất nhiều gia đình nông thôn thất cơ lỡ vận. Nếu có được đền bù thoả đáng đi nữa thì người dân cũng cảm thấy lo sợ cho tương lai của họ, huống hồ đền bù không thỏa đáng. Thế thì làm sao dân không phẫn nộ, không khiếu kiện? Tôi không nói tất cả các khiếu kiện đều đúng, nhưng về cơ bản thì đó là điều không thể không xảy ra được.
Luật đất đai, nhân danh sở hữu toàn dân, nhưng lại giao quyền sỡ hữu toàn dân đó, giao cái quốc gia công thổ đó cho chính quyền địa phương. Một ông lãnh đạo xã cũng có thể trở thành Nhà nước để quyết định sở hữu toàn dân đó. Đây là sự bất cập rất lớn mà các chuyên gia đã nói đến nhiều trên báo chí. Nhưng khổ một nỗi, có một suy nghĩ đã trở thành như là chất xi măng kết dính trong đầu người ta: mất sở hữu toàn dân là mất chủ nghĩa xã hội! Chính vì thế người ta phải bám cho bằng được cái mệnh đề sở hữu toàn dân đó. Cố giữ cái sở hữu toàn dân đó và giao nó cho những chính quyền địa phương, mà ai cũng thấy là đầy dẫy tham nhũng. Không có tham nhũng nào có thể ngon ăn bằng tham nhũng từ đất. Không có sự ăn cướp nào dễ dàng bằng ăn cướp đất của người nông dân tay không. Cho nên, câu nói ngày xưa “ Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”, chưa bao giờ trở thành một cách nhầy nhụa và trắng trợn như hiện nay.
Vì vậy, trong sửa đổi Hiến pháp kỳ này, không thể không đặt lại vấn đề sở hữu đất đai. Một khi vẫn còn giữ quan điểm quá ư bảo thủ và lạc hậu, thì những mâu thuẩn về đất đai, những sự kiện đau lòng như ở Văn Giang mỗi lúc sẽ càng căng thẳng thêm, chứ không thể dịu đi được.
RFI: Trong khi chờ sửa Luật đất đai, chính quyền phải làm sao để hạn chế những vụ khiếu kiện, biểu tình, dẫn đến cưỡng chế bằng bạo lực như ở Văn Giang?
Giáo sư Tương Lai: Bất cứ chính quyền nào cũng có xu hướng mở rộng quyền lực vô hạn độ, mà quyền lực thì có xu hướng tham nhũng. Vấn đề là phải có một công cụ để ngăn chận điều này. Công cụ đó chính là luật pháp. Thứ hai, có một cái được xem như nền tảng của Nhà nước nhân danh là của dân, do dân, vì dân, như cụ Hồ Chí Minh ngày xưa đã nói rằng: “ Quyền hành và lực lượng đều nơi dân”. Đó là tư tưởng cốt lõi, quan trọng nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà người ta đang phát động ra sức học tập.
Nghị quyết trung ương 4 về vận động chỉnh đảng cũng đưa lên vấn đề số một là phải dựa vào dân, gắn với dân, lắng nghe ý kiến nguyện vọng của dân. Vậy thì trong khi chờ sửa Hiến pháp, sửa Luật Đất đai, thì phải dựa vào dân, lắng nghe dân, chứ đừng dùng dùi cui vơi dân, đừng chĩa súng vào dân!
Nếu tình hình cứ diễn ra theo kiểu này, sẽ không thể tránh được những vụ Văn Giang khác. Tình hình sẽ còn căng thẳng hơn, bởi vì càng ngày người ta càng cần phải tiếp tục cưỡng chế để lấy đất làm dự án. Mỗi dự án như thế, bên cạnh cái gọi là lợi ích của Nhà nước, của toàn dân, của chủ nghĩa xã hội, thì có lẽ cái lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân, cái bỏ túi riêng cho các quan chức vẫn sẽ là một động lực không thể kềm hãm được. Chính từ động lực đó mà người ta có một quyết tâm rất cao trong việc cưỡng chế nhân danh quy doanh, nhân danh thực hiện pháp lệnh Nhà nước, nhân danh cơ cấu lại nền kinh tế,…. Rất nhiều ngôn từ đẹp đẽ, mà dưới đó là những mưu toan của các nhóm lợi ích. Một khi không giải quyết triệt để cái đó, thì làm sao có thể bịt miệng người nông dân, để họ không khiếu kiện.
Cho nên, sửa đổi Hiến pháp là một thời điểm có thể an dân được phần nào, trong đó có vấn đề Luật Đất đai. Nhưng chờ sửa luật thì còn lâu. Cho nên, trước mắt phải có giải pháp hạn chế sự cưỡng chế và dùng bạo lực đối với dân và phải có một tiếng nói rất mạnh mẽ, trong Đảng, trong chính quyền, nhưng trước hết là sức mạnh công luận từ dân và từ tất cả những ai có lương tri, lên tiếng đòi hỏi phải có một ứng xử đúng đắn đối với dân. Không được dùng bạo lực, không được chĩa súng vào dân.
RFI: Xin cám ơn giáo sư Tương Lai.
Thanh Phương
Nguồn: RFI

Thứ Hai, ngày 30 tháng 4 năm 2012

Suy ngẫm bài học Chernobyl sau 26 năm


Tai họa rất nguy hiểm đối với Nhật Bản nằm ở sự ô nhiễm gây ra bởi cesium 137 đối với mặt đất, tầng dưới mặt đất, các lớp nước giếng, nói chung là cả hệ thống lưu chuyển nước ngọt”. GS Nguyễn Khắc Nhẫn
Thảm họa kinh hoàng Chernobyl, xếp hạng 7 theo thang INES, xảy ra tại Ukraina, Liên Xô cũ, ngày 26-4-1986, là sự kiện khơi mào cho nhận thức của nhân loại về sự nguy hiểm tiềm tàng của hạt nhân dân sự.
Tác giả đánh giá thảm họa Fukushima nghiêm trọng hơn nhiều lần so với Chernobyl 
Tai nạn này là do ở những sai sót trong thiết kế nhà máy điện hạt nhân và một loạt lỗi lầm của con người, nhất là thái độ quan liêu không thể tả.
Chính lò phản ứng số 4 RBMK của Liên Xô, 1000 MW, kiểu lò nước sôi nhẹ, kiềm hãm bằng than và được làm giàu thấp với uranium, đã gánh chịu vụ nổ (không phải hạt nhân) và chảy tâm lò. Lò này, dạng trụ với đường kính là 12 m và cao 8 m, chứa 190 tấn uranium làm giàu 2%. Những điểm yếu của kiểu lò này là không có vỏ bọc (enceinte de confinement) hay mái vòm bảo vệ.
Công suất yếu, tâm lò không ổn định, nước dùng để truyền nhiệt có mặt khắp nơi, nhưng nó cũng là nguồn hấp thụ nơtron và do đó hơi nước rất là nguy hiểm và các cần điều khiển (barres de contrôle) không hoàn toàn dễ sử dụng.
Chính thao tác của một vài kĩ sư điện, không biết gì về hạt nhân, đến từ Moscow, với mục tiêu là chứng tỏ khả năng khởi động lại nhà máy cùng với động năng của turbin khi có sự cố bên ngoài về điện, là nguồn gốc gây ra thảm họa. Nguyên nhân là do sự bịt kín và sự gãy đổ các cần điều khiển đối với than kiềm chế. Chế độ siêu cấp (công suất lò phản ứng tăng lên 100 lần) gây ra một loạt các vụ cháy nổ.
Vụ nổ lớn đầu tiên là nổ hơi nước làm tung lên trời 1200 tấn bê tông phủ lò phản ứng. Vụ nổ thứ hai hoặc là do hidro, hoặc do vượt quá giới hạn và phản ứng dây chuyền xảy ra. Ngoài một lượng khổng lồ các chất phóng xạ tung vào không khí (cao hơn 3000 m); người ta ước tính rằng gần 100 kg plutonium (trên tổng số 400 kg chứa trong lò) đã lan tỏa vào môi trường lúc xảy ra vụ cháy.
Sự chảy tâm lò và các cấu trúc kim loại tạo nên một lớp corium nằm dưới lò phản ứng. Trong chất thải này có chứa 300 kg plutonium.
Theo một chuyên gia là giáo sư Vassili Nesterenko, sự lắng đọng của plutonium nóng chảy này có thể gây nên một vụ nổ nguyên tử nhiều chục năm sau đó ! Các chuyên gia của Viện hàn lâm Khoa học Belarus tính toán rằng một vụ nổ nguyên tử mạnh từ 50 đến 80 lần bom Hiroshima có thể xảy ra 2 tuần sau vụ nổ Chernobyl !
Những người vận động lobby cho giải pháp điện hạt nhân cho rằng xác suất xảy ra một tai nạn lớn như vậy (chảy tâm lò) là khoảng 1 phần triệu.
Người ta thường nhầm lẫn giữa xác suất và kì vọng toán học (espérance mathématique). Con số rất nhỏ này không thể tin được, bởi vì xác suất phụ thuộc vào rất nhiều giả thiết.
Mặt khác, phần lớn, chính con người là nguyên nhân chứ không phải máy móc! Do đó phải tính đến tần suất lỗi của con người. Đừng quên rằng chỉ trong vòng 50 năm qua mà đã xảy ra năm vụ cháy tâm lò : một ở Three Mile Island, một ở Chernobyl và ba ở Fukushima. Thế giới hiện có 437 lò, với tổng công suất là 370.500 MW.
Khái niệm về rủi ro rộng hơn khái niệm xác suất. Năm nay, nhân kỉ niệm 26 năm Chernobyl, người ta bắt đầu xây dựng một cái Sarcophage (cái quách) khổng lồ thứ 2, trị giá 1,5 tỷ euros, bao trùm lò Chernobyl, với mục đích cấm phóng xạ thóat ra ngoài trời. Thiết nghĩ, thực không có một công nghệ nào “quái lạ” như thế này.
Ai nghiêm trọng hơn?
Khi so sánh mức độ nghiêm trọng giữa hai thảm họa Chernobyl và Fukushima, cũng như nhiều chuyên gia khác, tôi cho rằng thảm họa Fukushima nghiêm trọng hơn nhiều lần so với Chernobyl, bởi vì nó được gây ra bởi thiên nhiên và phức tạp hơn nhiều, tuy rằng có nhiều lỗi về thiết kế. Nó đã làm chảy tâm lò phản ứng số 1, 2, và 3 của nhà máy Fukushima 1 Daiichi và gây thấm bể chứa và đáy của một số lò (melt-out).
Thật ra, tập hợp những thanh nhiên liệu chứa trong hồ, tương đương với hai chục tâm lò, cũng có thể bị nóng chảy. Kịch bản này còn nguy hiểm hơn việc nóng chảy một tâm lò bởi vì nó không chỉ liên quan đến nhiều lò phản ứng mà còn nhiều hồ làm mát các thanh nhiên liệu phóng xạ.
Trong khi ở Chernobyl, phản ứng dây chuyền không kiểm soát được đã gây nên sự hoạt động quá mức của lò phản ứng và từ đó là nhiệt độ cao bất thường, dẫn đến vụ nổ hơi nước hoặc là hidro ; tại Fukushima, phản ứng dây chuyền được tắt một cách tự động khi xảy ra động đất, điều này hạn chế mức độ thải ra các sản phẩm của quá trình phân hạch. Điều may mắn là ở Chernobyl, tâm lò nóng chảy không thấm qua đáy lò trong khi ở Fukushima, tâm lò nóng chảy đã xuyên qua bể chứa và vỏ bọc để đi vào lòng đất.
Cũng cần biết thêm rằng ở Fukushima có 877 tấn nhiên liệu trong các lò phản ứng và 3.400 tấn nhiên liệu đã qua sử dụng nằm trong 7 hồ chứa, tổng cộng là 4.277 tấn. Để so sánh, nên nhớ rằng ở Three Mile Island con số này là 30 tấn và ở Chernobyl là 190 tấn.
Ước tính lượng chất phóng xạ thoát vào không khí ở Fukushima là 770.000 terabecquerels, tức gần 5 lần ít hơn ở Chernobyl (4 triệu terabecquerels ). Nhưng con số này không tính đến chất thải đi vào đất và nước biển, và cũng không nên quên rằng việc ô nhiễm vẫn tiếp tục ở Fukushima. Lượng cesium 137 thải vào biển nhiều hơn khoảng hai lần số lượng gây ra bởi các vụ thử bom nguyên tử ở Thái Bình Dương vào những năm 1960.
Nhưng tai họa rất nguy hiểm đối với Nhật Bản nằm ở sự ô nhiễm gây ra bởi cesium 137 đối với mặt đất, tầng dưới mặt đất, các lớp nước giếng, nói chung là cả hệ thống lưu chuyển nước ngọt. Một phần nước ngọt, mà rất khó có thể biết con số chính xác, có thể không thể dùng cho sinh hoạt và nông nghiệp được trong vòng hơn 2 thế kỉ !
Trái với Tepco vốn tìm mọi cách khẳng định rằng chỉ có sóng thần là nguyên nhân của thảm họa Fukushima, Ủy ban điều tra Nhật Bán đã đưa ra giả thuyết là đường ống chính của nhà máy điện hạt nhân đã bị hư hại nghiêm trọng, ngay trước trận động đất dữ dội (9 độ Richter) xảy ra.
Tham vọng vô ích
Nhân những bài học thảm họa kể trên, trở lại các kế hoạch phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam, chúng tôi tự đặt ra câu hỏi vì cớ gì Việt Nam lại muốn xây dựng một loạt tới 10 lò hạt nhân? Liệu nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận có thể trở thành một Tchernobyl khác không?
Và như tôi đã có dịp trình bày ở một số diễn đàn, tôi cho rằng chương trình điện hạt nhân của Việt Nam không những quá tham vọng mà thật là vô ích, vừa phí của, phí thì giờ, làm chậm trễ việc khai thác cấp tốc năng lượng tái tạo.
Ngoài Trung quốc, không có một nước nào xây dựng nhà máy điện hạt nhân với một tốc độ cao như thế, coi thường khía cạnh an toàn, khoa học, kinh tế, nhân sự, môi trường.
Mặt khác, nhu cầu điện lực của Việt Nam được thổi phồng từ lâu, không thực tế chút nào. Theo dự báo, Việt Nam sẽ cần 329 đến 362 TWh (tỷ kWh) năm 2020 và từ 695 TWh đến 834 TWh năm 2030.
Tôi cam đoan rằng những con số này không thể nào đạt được. Nếu cứ chạy theo mức tăng trưởng lũy thừa nhu cầu điện, 15%- 16% mỗi năm ( dù sẽ hạ dần xuống 11,5% đi nữa ), thì thế nào ta cũng sẽ gặp một cuộc khủng hoảng trầm trọng !
Ở Pháp hiện nay nhu cầu khoảng 500 TWh. Có kịch bản đề nghị hạ con số này xuống 360 TWh trong tương lai, với điều kiện tiết kiệm và tăng gia hiệu suất năng lượng, đồng thời sử dụng tối đa năng lượng tái tạo.
Người ta hạn chế, Việt Nam lại khuyến khích tiêu thụ. Trong lúc người ta đặt biệt chú trọng đến mô hình cầu (modèle de la demande) thì Việt Nam lại quan tâm đến mô hình cung (modèle d’offre) gây rất nhiều lãng phí. Theo đà này thì không khéo Việt Nam sẽ dư điện.
Làm bom nguyên tử?
Các bạn ngoại quốc hỏi tôi có phải Việt Nam muốn làm bom nguyên tử như Iran hay Triều Tiên. Tôi trả lời là nên đặt câu hỏi đó với Thủ tướng Chính phủ. Trên lý thuyết, mỗi năm 1 lò PWR 1000 MW có thể cho 200 kg tương đương plutonium. Nhưng kỹ thuật chế bom không phải dễ, cần một số điều kiện tối thiểu. Các lò RBMK của nhà máyTchernobyl, ngoài việc cung cấp điện, cũng có mục đích gia tăng lượng plutonium cho Liên xô.
Một số chuyên gia cũng nghi là Việt Nam bị một áp lực kinh tế và chính trị nào đó, nên mới câp tốc xây dựng một loạt 10 – 12 lò trong một khoảng thời gian rất ngắn (đến 2030), bất chấp nguy hiểm và những khó khăn sẽ chồng chất lên nhau, khó lường trước được.
Ninh Thuận có thể trở thành Chernobyl, không phải vì máy móc, vì lò có vỏ bọc (enceinte de confinement) nhưng vì thiếu chuẩn bị chu đáo và vì nhân viên vận hành, thiếu trình độ, kinh nghiệm hay kỷ luật. Mặc khác, vùng Ninh Thuận cũng có thể bị động đất và sóng thần. Đó là chưa nói đến sự cẩu thả có thể có của tập đoàn Rosatom (Nga) và cuộc khủng hoảng trầm trọng của công nghệ điện hạt nhân Nhật Bản !
Muốn tránh một thảm họa xảy ra ở Ninh Thuận, theo tôi dễ nhất là Việt Nam phải hủy bỏ ngay chương trình điện hạt nhân. Nếu không, Việt Nam sẽ bị phóng xạ ngàn năm ô nhiểm, làm tê liệt kinh tế lâu dài và gây bao nhiêu đau thương cho đồng bào vô tội.
Không đủ nhân lực
Một vấn đề khác có thể đặt ra là nhân lực. Ngân sách Viet Nam dành cho chương trình giáo dục và đào tạo chuyên viên dự tính khoảng trên 3.000 tỷ đồng. Số lượng dự kiến đến năm 2020 cả thảy là 3000 người được đào tạo.
So với nhu cầu, con số này tương đối quá nhỏ. Một nhà máy điện hạt nhân 1000 MW, trung bình, cần khoảng 800 đến 1000 người đủ mọi ngành nghề, trong đó một nửa là nhân viên vận hành. Hiện nay trong nước có khoảng 500 chuyên viên trong lĩnh vực hạt nhân và số chuyên viên có kiến thức thực nghiệm kỹ thuật hạt nhân có lẽ không quá 100 người. Số chuyên gia cao cấp có kinh nghiệm về nhà máy điện hạt nhân thì rất hiếm.
Việt Nam đã bắt đầu chương trình đào tạo về khoa học công nghệ hạt nhân từ thang 6 – 2011. Mỗi năm dự kiến đào tạo ở 5-6 trường Đại học trong nước khoảng 250 sinh viên. Theo kế hoạch nhà nước, đến năm 2020 sẽ đào tạo được 350 tiến sĩ và thạc sĩ , 24.00 kỹ sư trong linh vực năng lượng hạt nhân. Riêng cho lĩnh vực quản lý, ứng dụng và an toàn hạt nhân, phải đào tạo 250 tiến sĩ và thạc sĩ, 650 kỹ sư. Hàng trăm sinh viên trong các con số trên, sẽ du hoc và tu nghiệp ở ngoại quốc
Hiện nay phần lớn các đại học Âu Châu chú trọng đến việc đào tạo chuyên viên để tháo gỡ nhà máy hơn là để xây cất.
Tháo gỡ là một kỹ thuật tương đối mới nên người ta thiếu chuyên gia có kinh nghiệm để giảng dạy. Mặc khác, một số đông giáo sư chuyên ngành hạt nhân đã nghỉ hưu.
Nếu hàng trăm triệu đô-la chúng ta phung phí trong việc đào tạo này để dành cho lĩnh vực năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, nâng cao hiệu suất năng lượng có phải ích lợi cho đất nước và hợp thời, thì có hợp lý hơn không?
Lẽ cố nhiên, tôi hoàn toàn không tán thành việc phung phí tiền của dân để đào tạo sinh viên như thế này, vì điện hạt nhân đã lỗi thời, vô cùng nguy hiểm, không kinh tế và cũng không có chút triển vọng nào.
Chúng ta không có quyền khuyến khích thế hệ trẻ đi ngược trào lưu thế giới, mất thì giờ vàng ngọc của họ. Tôi cho rằng Việt Nam cần xét lại gấp chiến lược năng lượng dài hạn trước khi quá muộn!
GS Nguyễn Khắc Nhẫn
Theo BBC