Thứ Bảy, ngày 19 tháng 5 năm 2012

Bạn ơi, đừng tuyệt vọng!


Mình viết entry này khi đang say…
Những ngày này mình muốn say để không đọc được những dòng thông báo về blog anh bạn văn vừa bị chặn. Chỉ vì anh nói hộ cho người dân không cất được lời than.
Mình muốn say mờ mắt để khỏi thấy bức hình chụp mấy cái xe ba bánh (nghe họ tự giới thiệu là cựu chiến binh) đến một viện nghiên cứu gây gổ với một tiến sỹ giữa thanh thiên bạch nhật, giữa một quốc gia tuyên bố có nhà nước pháp quyền. Họ yêu cầu tiến sỹ này gỡ bỏ yêu cầu về ngừng xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên quê hương, yêu cầu đóng cửa blog, yêu cầu viện nghiên cứu nọ đuổi việc tiến sỹ kia…Chỉ vì anh tiến sỹ làm theo tiếng gọi của tinh thần công dân. Họ nhân danh ai? Không nhân dân nào nhờ họ làm việc đó?
…..
Quê hương, đất nước tôi đang ở đâu giữa nhân loại này?
Nhân dân tôi đang ở đâu giữa mảnh đất mà họ gọi là Tổ quốc?
Nhân phẩm, tính mạng con người là gì giữa một nhà nước tự nhận là nhà nước pháp quyền hùng hậu?
Đã gần lắm rồi cái ngày mở mắt ra không còn phải đau khổ vì chủ quyền đất nước bị xâm hại. Vì lúc đó chủ quyền còn nữa đâu mà đau khổ? Mảnh đất hình chữ S đang khép lại giữa những gọng kìm. Bầu trời xanh đã ầm ào những máy bay nước lạ xâm phạm. Trên biển Thái Bình Dương nhiều tàu nước lạ với súng ống đầy đủ đang chĩa thẳng vào ngư dân và bờ biển quê mình. Chữ S đang quằn quại đau đớn, đơn độc. Nhưng nhiều kẻ vẫn đang chia nhỏ chữ S ấy thành nhiều mảnh để qui đổi thành tiền.
Sẽ không còn lá cờ Tổ quốc bay ở cổng nhà mỗi ngày lễ, tết? Vì có thể sẽ là lá cờ khác. Không lẽ đành cắn răng, bấm bụng ứa máu để tự nhủ, lá cờ kia sẽ là lá cờ Tổ quốc mình? Không lẽ phải học quen với bài học về lãnh thổ mới. Quên câu thơ đi vào các bài giảng thuở nào: “Quê hương ta một dải / Từ mũi Cà Mau / Đến địa đầu Móng Cái / Quê hương ta đồng ruộng phì nhiêu / Đủ bốn mùa hoa trái…”. Có thể quê hương ta sẽ có tuyết trên nóc nhà thế giới. Biết đâu cái lạnh sẽ ướp đông nỗi đau mất nước kéo dài vài ngàn năm?
Sẽ thôi đau khổ vì nước mắt đã cạn, tim thôi thổn thức, trí óc nhẵn nhão quên hẳn tiếng mẹ đẻ để học tiếng người lạ với một tâm hồn trơ lỳ, gỗ đá. Vài người cười buồn: nhân gian này đâu cũng là nhân gian, đâu có đất và nước thì sẽ là đất nước để liếm vết thương rỉ máu trên cơ thể mình.
Tất cả sẽ nát bấy trong cuộc nội chiến đang từng ngày dâng cao. Nội chiến về Tư tưởng. Nội chiến về sự tận thu, tận diệt Tiền tài, Danh lợi cho vài cá nhân. Nội chiến về Niềm tin, về Con đường, về Tính người…
Không còn cả thất vọng vì làm gì có niềm tin để làm thành một đồng trinh hai mặt dù bé nhỏ cho mua bán, đổi chác, phấn đấu, hy sinh?
Không còn cả cái Đẹp để bám víu sống và hy vọng thì con người sẽ đi về đâu? Vào rừng hoang làm thú đói gầm thét đòi mạng sống? Cái Đẹp cũng thành mơ hoang khi nhiều người dân lam lũ kiếm từng miếng ăn mỗi ngày. Cái ăn khiến con người trở nên hèn nhát, đê tiện, thấp kém, bẩn thỉu…? Vì thế mà họ đang dồn dân tộc này đến chỗ không còn có thể kiếm được miếng ăn? Cái ngày con người thành thú đói không lẽ là sự thật?
Hồ Tây về chiều ở những ngày này tuyệt đẹp, nhất là khi mặt trời sắp lặn. Sen các hồ ngan ngát dệt vào hơi thở và đệm mát cho không gian oi ả. Dường như đó là cái Đẹp cuối cùng của mảnh đất này? Sau đó là cái gì khi cuộc nội chiến này qua đi?
Cái mất cuối cùng là cái Không còn gì để mất…
Nhưng bạn ơi, dù thế nhiều người vẫn đang làm một cái gì đó…Hãy nhớ lại nhân loại đã hành động ra sao khi phát xít Đức huỷ diệt nhân loại ở thế chiến 2? Nhưng nhân loại vẫn tồn tại và phát triển. Luôn có người dấn thân vì lẽ phải. Cao hơn là vì cuộc sống phải được tiếp diễn…
Chuyện kể rằng, dàn nhạc giao hưởng của nhạc trưởng Jeane-Claude Casadeur đã đưa dàn nhạc của mình tới những nơi tăm tối nhất mà con người phải chịu đựng để khơi dậy cái Đẹp ở những con người đang tuyệt vọng, cô đơn, giúp họ nâng cao tâm hồn mình…Dàn nhạc của ông đã tới nhiều nơi, trong đó có khu phố ổ chuột với nhiều tệ nạn xã hội. Mới đầu việc làm của ông bị chê cười, đả kích, thậm chí bị coi là điên khùng. Nhưng rồi ông và đồng nghịêp đã mở được cánh cửa nghệ thuật, chính xác hơn là cánh cửa cuộc đời của nhiều đứa trẻ nghèo đói, khổ sở đến với tương lai…
Câu châm ngôn của thi sỹ Ba lan Czeslaw Milosz, người được giải Nobel nhắc nhở rằng: “Dù bạn chỉ là một hòn đá ngoài đồng / Khối đá lở có thể đổi đường đi của bạn / Theo những hòn đá lăn lên nhau”.
Còn triết gia Pháp Enmanuel Mounier viết: “Chỉ cần một hòn đá đặt đúng chỗ có thể quay chiều được dòng sông”.
Hãy đọc lời nguyện này của tu sỹ dòng Đa Minh Louis-Joseph Lebret, cũng là lời nhắn gửi cho những ai còn ưu thời mẫn thế vào thời buổi con người thu mình lại để chỉ nghĩ cho bản thân mình:
Ôi Chúa ơi, xin Chúa gửi đến cho chúng con những người điên
những người dấn thân tận cùng,
những người biết quên mình,
những người yêu thương không bằng lời,
những người dấn thân đích thực và đến cùng.
Chúng con cần những người điên, những người đam mê, những người không hợp lý,
những người dám nhảy vào chỗ bất an,
vào vết thương rộng toác của nghèo khó,
những người chấp nhận
sống quên mình trong đám đông ẩn danh
không một ước muốn dùng bậc thang để tiến thân,
chỉ dùng khả năng của mình để phục vụ.
Bước nhảy không phải để cắt với môi trường sống,
đó là bước nhảy cắt thật sâu đậm con người ích kỷ,
mà đến giờ phút này tính ích kỷ còn thống trị.
Chúng con cần những người điên ở giây phút hịên tại này,
những người đam mê một nếp sống giản đơn,
giải phóng người nghèo một cách hiệu quả,
những nghệ nhân của hoà bình,
những người không bị ô danh,
không bao giờ phản bội,
hy sinh cuộc sống riêng của mình,
chấp nhận làm bất cứ gì, đi bất cứ đâu,
tự do và vâng lời,
hồn nhiên và kiên định,
dịu dàng và vững mạnh.
Và, bạn ơi, đừng tuyệt vọng…Tôi kêu bạn nhưng thực ra tôi đang cần kêu lớn cho chính tôi, kể cả lúc đang say này…
Theo Thùy Linh blog (tựa gốc bài “NỘi CHIẾN?”, tựa bài trên do HDTG blog đặt lại)

Một trận thua đẹp

Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa, ông Mai Văn Ninh đang được các trang mạng ngợi khen ngút trời. Cuộc đối thoại dẹp yên đợt biểu tình của trên 400 tiểu thương bao vây trụ sở UBND tỉnh Thanh Hóa được xem là một trận thua đẹp.
Vụ việc nóng từ nhiều tháng qua, khi bà con tiểu thương chợ Bỉm Sơn (Thanh Hóa) biểu tình bãi thị, đấu tranh đòi UBND thị xã phải hủy quyết định giao chợ Bỉm Sơn cho một công ty tư nhân. Thị không nghe, bà con kéo lên tỉnh. Và đỉnh điểm là 4 ngày đêm từ 9 đến 12/5 vừa qua, hơn 400 tiểu thương đã đồng loạt kéo lên bao vây trụ sở UBND tỉnh.
Xem thêmHoan hô ông Bí thư Tỉnh ủy! (Nguyễn Quang Thân)
                        Biết thua dân (Nguyễn Quang Lập)
          Tất nhiên vẫn có công an, vẫn những sắc phục cảnh sát, an ninh, dân phòng… Nhưng không hề có súng ống, không lựu đạn, không dùi cui, không thấy những gương mặt gầm gừ, và cũng chẳng có “đội ngũ” chó nghiệp vụ nào như Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản…
          Không một người dân nào bị bắt, không ai bị thương, không ai bị đánh đập. Không có kịch bản tấn công trấn áp nào. Không có một “trận đánh đẹp” nào. Bởi người chỉ huy ở đây đã không coi dân là địch, không nhìn dân như kẻ thù. Ông Ninh đã không cho dàn quân trấn áp giải tán dân. Với chiếc áo cộc tay bỏ ngoài quần, giản dị chân chất như một lão nông, Bí thư Ninh tiếp xúc với từng người, nghe từng người rồi ông quyết định… thua!
          Cho dù “nhận thấy kiến nghị của bà con có đúng, có sai, trong đó có một số nội dung đúng” nhưng ông vẫn quyết định nghe bà con, chiều ý bà con, ra lệnh hủy quyết định “chuyển đổi mô hình quản lý” chợ Bỉm Sơn.
          Báo Thanh Hóa chạy hàng tít “Tiểu thương chợ Bỉm Sơn đấu tranh thắng lợi”. Dân thắng, chính quyền thua, nhưng cả hai đều cười. Nhìn nụ cười của bà con tiểu thương cùng nụ cười của Bí thư Ninh, không ai nghĩ rằng hàng mấy trăm con người kia ngay trước đó từng ròng rã mấy tháng trời biểu tình, bãi thị đấu tranh chống đối quyết liệt.
          Ông Ninh chấp nhận thua, chính quyền của ông Ninh chấp nhận thua. Nhưng đó là một trận thua đẹp. Hãy nhìn hình ảnh Bí thư Ninh bắt tay tươi cười với từng người dân. Thua dân thì có gì đáng phải xấu hổ? Thua dân tức là làm cho dân thắng thì đó chính là một cách thua đẹp, một cách thua vì dân.
          Thế nhưng không hiểu sao ở nhiều nơi, chính quyền lại cứ phải cố để thắng dân? Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản… đã thắng. Nhưng đó là những trận thắng bất nhân.
          Bí thư Ninh đã để lại cho tôi một ấn tượng đẹp hiếm hoi và đáng quí. Nó khác ngược hẳn với những khuôn mặt hầm hừ nhan nhản trong các cuộc chiến đất đai luôn cố tìm cách đòi “chiến thắng” nhân dân.
Trương Duy Nhất


 Hình ảnh dân chúng biểu tình





và hình ảnh Bí thư Ninh gặp gỡ đối thoại với dân
(Nguồn ảnh: infonet.vn và badamxoe.wordpress.com)

Lời than “không đủ sống” của các vị thứ trưởng lương chỉ 10 triệu

Tăng lương cần bắt đầu từ việc giảm giá, bởi tăng lương mà không kìm được tăng giá thì lương chỉ nhiều lên chứ không mua được nhiều hơn.
Suốt tuần qua, dư luận nóng ran xung quanh chuyện lương. Tháng này được lĩnh “lương mới”. Nhưng quan trọng hơn, câu chuyện “lương đủ sống” được coi là một trong 4 vấn đề trọng tâm tại Hội nghị TƯ 5. 

Dám cá là 100 công chức, thì 90 người thực sự không biết lương mình bao nhiêu. Nhưng cả 100 đều biết mức lương hiện tại là “không đủ sống”. Chuyện này đã là chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. Nhưng mà rồi dư luận vẫn “sốc” khi nghe lời than của nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc rằng: Lương thứ trưởng 10 triệu vẫn không đủ sống. 

Một vị thứ trưởng khác, cũng của Bộ Nội vụ, đang đương nhiệm, ông Nguyễn Duy Thăng còn công bố một sự thật còn trần trụi hơn: “Tôi nhẩm tính lương của chủ tịch HĐQT một số tập đoàn tương đương 73 lần mức lương tối thiểu, trong khi lương của Tổng Bí thư chỉ khoảng 13 lần lương tối thiểu”. Thật là bất công khi lương một vị thứ trưởng cũng chỉ hơn kém chút đỉnh so với lương công nhân ngành điện. Thật là chua chát khi lương của một vị quan chức cấp cao lại không bằng lương của một ông giám đốc doanh nghiệp. Thật vô lý khi muốn phấn đấu từ mức lương khởi điểm đến bậc cao nhất, mỗi công chức phải mất 76 năm công tác trong khi người ta chỉ đủ sức và chỉ được đi làm trong 30 năm. 

Nhưng những người làm công ăn lương đau khổ không phải vì sự bất công, cũng không phải vì sự chua chát. Đau khổ là bởi lương thứ trưởng còn không đủ sống thì thử hỏi công chức quèn sống bằng gì? Vả lại các vị thứ trưởng Bộ Nội vụ, với quyền “cải cách tiền lương” trong tay mà chỉ ngồi đó kêu vô lý, bảo “lương không đủ sống” thì thử hỏi giới làm công ăn lương biết trông cậy vào ai?! 

Cải cách tiền lương, đảm bảo lương đủ sống đã được nói tới cách đây chẵn 10 năm, cũng bắt đầu từ kết luận của một hội nghị TƯ (Hội nghị Trung ương 8 khóa IX). Từ năm 2004, đồng lương đã được bổ sung một khoản quan trọng khi “tiền nhà” được tiền tệ hóa vào lương. Nhưng từ đó đến nay, dù lương tối thiểu đã tăng gấp 4 lần, nó vẫn “bèo” đến mức chỉ đủ cho người hưởng lương không đói. Còn “tiền nhà ư”. Đúng là giấc mơ hoang đường. Cái sự “3 cọc 3 đồng” vẫn đeo đẳng suốt từ thời bao cấp. Cho đến hôm qua, Hội nghị TƯ 5 vẫn xác nhận tình trạng: “Mức lương tối thiểu hiện nay vẫn chưa bảo đảm nhu cầu tối thiểu”. 

Đây là sự thật mà bất cứ người hưởng lương nào cũng biết. Thậm chí mức lương tối thiểu mới 1.050.000 đồng/tháng, vừa được áp dụng từ đầu tháng, theo đánh giá của Bộ LĐ-TB và XH, mới bằng khoảng 78% mức sống tối thiểu. 

Thế thì người hưởng lương sống bằng gì và làm gì để sống? 

Nguyên Thứ trưởng Thang Văn Phúc vừa rồi đã nhắc đến “Hội chứng tước đoạt để bù đắp” khi mà lương công chức không đủ sống. “Nhiều công chức lợi dụng chức vụ của mình để nhũng nhiễu, tham ô, nhận hối lộ. Có khi vì lương thấp đã làm hỏng cả một chủ trương, chính sách đúng của nhà nước, làm hỏng cả một đội ngũ… Chẳng hạn như hiện tượng phong bao phong bì đang phổ biến trong các bệnh viện công hiện nay cũng xuất phát từ thực tế lương của các y bác sỹ quá thấp đã làm xói mòn cả y đức…” 

“Giám đốc một doanh nghiệp Nhà nước nhận lương 35-40 triệu đồng, trong khi cán bộ cấp vụ trưởng chỉ hưởng lương 5,6 triệu đồng”- nguyên Thứ trưởng Thang Văn Phúc phàn nàn. Và ông cho rằng chính khoảng cách quá lớn về thu nhập cùng với tình trạng lương “không đủ sống”, chính là yếu tố làm cháy máu chất xám, không tương quan với trình độ và đóng góp, không tạo động lực, không khuyến khích và làm đảo lộn các giá trị thứ bậc của nền hành chính. Đồng lương “3 cọc 3 đồng”, khoản tiền dưới mức tối thiểu của tối thiểu trong thực tế cũng làm nản lòng những người “ăn lương”. 

Hôm qua, những người làm công ăn lương vừa mừng vừa lo trước những quyết sách quyết liệt của BCH TƯ xung quanh chính sách tiền lương với quan điểm chi tiền lương là chi cho đầu tư phát triển, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ và minh bạch hóa các quan hệ xã hội. Mừng vì Trung ương yêu cầu ngay trong năm 2012 – 2013, những bất hợp lý nổi cộm sẽ phải khắc phục ngay. Chênh lệch trời biển về lương sẽ được thu hẹp. Và tất nhiên, không ai đánh thuế giấc mơ “lương đủ sống”. Nhưng không lo cũng không được bởi nói đến chuyện cải cách thế nào để “lương đủ sống”, để bớt đi những lời than vãn từ thậm chí các vị thứ trưởng, thì không thể không nói đến việc “cải cách” những người hưởng lương. 

Nhớ lại tuần trước, ông Chủ tịch tỉnh Đồng Tháp rất thật thà trên Tuổi trẻ: Hiện có 30% cán bộ, công chức làm việc tốt, 30% làm việc cầm chừng và 30% có mặt chỉ để lãnh lương, nếu không có họ cũng không ảnh hưởng gì tới công việc cơ quan đó”. Đây không phải là chuyện cá biệt ở một địa phương, một đơn vị, một bộ ngành bởi con số 30% công chức “không làm gì cả” đã được đưa ra chất vấn trước Quốc hội. 

Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng hôm qua đã nhấn mạnh yêu cầu “Tiến hành đồng bộ cải cách tiền lương với cải cách hành chính, tinh giản bộ máy tổ chức, biên chế, tái cấu trúc nền tài chính công…”. 

Trúng quá, nhưng không phải là dễ để thực hiện. Bởi thực tế dù 30% làm việc cầm chừng, 30% có mặt chỉ để lãnh lương thì trong các cuộc bầu xét cuối năm, hầu hết các cơ quan đơn vị vẫn đủ “chỉ tiêu” 100% là hoàn thành nhiệm vụ. Thực tế cũng cho thấy rất hiếm có công chức bị sa thải, tinh giản với lý do “hai năm không hoàn thành nhiệm vụ” như quy định trong luật. Cái khó còn là bởi sau 4 năm thực hiện tinh giản biên chế (2007-2011) bộ máy hành chính không những không giảm mà còn lên đến 260.000 người, tăng 25% so với hồi chưa tinh giản. 

Chính TƯ đã nhận định nguyên nhân của những đồng lương “3 cọc 3 đồng” là vì “Tốc độ tăng trưởng kinh tế không theo kịp sự tăng lên của các đối tượng hưởng lương và trợ cấp từ ngân sách”. Vì thế, nếu biên chế vẫn cứ tinh giản theo chiều hướng ngày càng đông thêm như hiện nay thì rõ ràng miếng bánh “tăng trưởng kinh tế” không bao giờ là đủ để đồng lương có thể “mua” được một mức sống tối thiểu. 

Những người ăn lương không lo không được khi chính Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và xã hội Phạm Minh Huân có lần đã bảo: “Vấn đề lương và giá luôn là mối quan hệ biện chứng, liên tục đuổi bắt nhau và không thể tách rời nhau. Dù là vòng luẩn quẩn thì khi giá tăng lương vẫn phải tăng”. Nhưng nói thế là xúc phạm đến giá. Giá có bao giờ chạy sau lương. Bởi tăng lương bản chất là đuổi theo giá, còn giá thì lại dùng tăng lương làm nhiên liệu chạy vượt rào. Bởi cứ mỗi lần tăng lương, giá cả lại trượt băng băng vì… lương tăng và …giá tăng. 

Nỗi lo này chẳng có gì là nỗi lo con bò trắng răng, bởi tăng lương cần bắt đầu từ việc giảm giá, bởi tăng lương mà không kìm được tăng giá thì lương chỉ nhiều lên chứ không mua được nhiều hơn. 

Lương thế, giá vậy, thử hỏi sao lại không thông cảm cho lời than “không đủ sống”, “phải trông vào vợ con” của các vị thứ trưởng lương chỉ 10 triệu. 
Đào Tuấn

Khi các “hảo hớn” lần lượt “nhập kho”…

Ông Dương Chí Dũng
Sáng nay, giới chức lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước lớn: các tập đoàn, tổng công ty…chắc đều phải bàng hoàng với tin này: ông Dương Chí Dũng, Cục trưởng Cục Hàng Hải Việt Nam bị công an bắt giam. Ông này bị bắt không phải vì mắc tội gì ở Cục Hàng hải Việt Nam vì mới sang đây làm có vài tháng. Trước đó nữa, ông làm tổng giám đốc của tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines)-doanh nghiệp trước nay, vẫn được gọi đùa là “tổng công ty hạng hai” vì xưa nay, nó chưa từng bao giờ làm ăn ra gì cả, luôn trong tình trạng bết bát, ọp ẹp như những con tàu cũ mà hiện tổng công ty này sở hữu hàng đống. 

Ông này bị bắt có thể lại vì tội đại loại như: “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” hay “cố tình làm trái các quy định về quản lý kinh tế nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng” là các tội danh trong bộ luật Hình sự thường xuyên được áp dụng cho lãnh đạo doannh nghiệp nhà nước có sai phạm gì đó xưa nay. Còn cụ thể về vụ gì thì nghe phong phanh là vụ mua ụ nổi N083M mà trước đó, khi thanh tra toàn diện về quản lý vốn và tài sản nhà nước, Thanh tra Chính phủ cho là đã có dấu hiệu làm trái, gây lãng phí vốn đầu tư 489 tỷ đồng. Cũng có nhiều sai phạm khác, có thể ông này và một vài cán bộ dưới quyền có dính dáng cũng sẽ được buộc ông Dũng khi cơ quan kiểm sát lập cáo trạng truy tố. 

Thực ra nhà ông Dũng đã bị công an khám xét từ chiều qua (17.5) mà tất cả các cơ quan báo chí đều không biết gì. Khi đó, ông này không có nhà và cũng không biết ở đâu vì nếu biết rõ ông ở đâu, công an có lẽ cũng đã bắt ngay chiều qua vì đã có lệnh bắt trong ngày. Cũng trong buổi chiều qua thì còn có mấy chú cá to khác của Vinalines đã bị sa lưới cảnh sát là ông Trần Hữu Chiều, phó tổng giám đốc Vinalines, ông Mai Văn Phúc-nguyên tổng giám đốc Vinalines. 

Vụ việc hôm nay cũng gây xôn xao và thất vọng trong làng báo. Anh em báo chí theo dõi kinh tế không biết gì thì không nói làm gì. Nhưng anh em làm nội chính, theo dõi công an, kiểm sát mà đến lúc bắt, không ai hay biết, ko ai chụp đc bức hình nào…thông tin bắt bớ lộ ra lại từ một công ty con của Vinalines tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đến nhục !. 

Vậy là, như dự báo từ trước, Vinalines đã theo ông anh tập đoàn Vinashin tròng trành, tròng trành rồi đắm chìm phần có sóng gió bên ngoài, phần vì do những chủ tàu, lái tàu điều khiển không ra gì. Cựu chủ tịch Phạm Thanh Bình, cựu tổng giám đốc Trần Quang Vũ và một bậu sậu cán bộ dưới quyền ngồi nhà lao chưa lâu thì giờ thêm một đống quan chức của Vinalines. Thế làm gì các lãnh đạo tập đoàn, tổng công ty nhà khác đang không run rẩy ? 

Thế mới thấy, làm to ở các tập đoàn, tcty lớn của nhà nước tuy lợi lộc lớn, một mình làm quan, cả họ được nhờ nhưng tham lam, đục khoét, làm bậy quá đáng thì rủi ro cũng vô cùng lớn, khả năng vào tù rất cao. 

Chẳng nói gì mấy trường hợp trên đây, nhiều ông chủ tịch, tổng giám đốc một số tập đoàn, tổng công ty lớn khác cũng đã dính phốt không nhỏ, may chưa đi tù. Ví dụ như cựu chủ tịch Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam- còn là ủy viên trung ương Đảng nhé- ông Đoàn Văn Kiển cũng đã bị cảnh cáo về Đảng, cho nghỉ hưu trước tuổi. Mới đây có Đào Văn Hưng, nguyên chủ tịch EVN cùng bậu sậu: tổng giám đốc, các phó tổng…bị tổ chức kiểm điểm (hiện nay có đề nghị cảnh cáo, kiểm điểm…) trình lên TTg rồi, không có ai bị đề nghị cách chức, buộc thôi việc vì những sai phạm, yếu kém trong điều hành Evn Telecom. Nhưng hình như anh Hưng cũng đang sợ lắm vì một vụ khởi tố, điều tra về những hành vi: thiếu trách nhiệm, cố ý làm trái…cũng có thể được thực hiện lắm chứ vì để cho một dn thua lỗ, mất vốn đến thê thảm như vậy, trong khi ông đưa cả vợ, con…vào trong bộ máy của công ty, làm loạn cả tổ chức doanh nghiệp này. 

Bị bắt, bị kỷ luật…thì rồi đa số các ông “tai to” điều hành các tập đoàn, tổng công ty khi ra tòa hay đổ cho “cơ chế”. Ơ, “cơ chế” nào nó khắc nghiệt thế ? làm đúng thì chẳng biết làm thế nào, “vượt rào” thì dễ mang tội, vào nhà lao ư ? Cũng chẳng phải, nhìn vào các vụ việc thì toàn là cố ý làm bậy làm bạ cả, kêu oan nỗi gì ?. Để bớt các chủ tịch, tổng giám đốc tập đoàn, tổng công ty nhà nước vào nhà lao, có lẽ có mỗi cách là giảm bớt số tập đoàn, tổng công ty nhà nước xuống thôi, tư nhân hóa, bán, cho thuê hết đi, giữ lại một vài thằng không thể bán như làm về vật liệu nổ, vũ khí hay cứ cho là thêm cả điện đóm…chứ xi măng, gạo, cà phê, tàu bè…Nhà nước giữ làm gì ?. Ở doanh nghiệp tư nhân thì chủ dn tư nhân chả lẽ họ lại tham ô của họ, tự ý làm trái quy định của họ ?. Chỉ ở doanh nghiệp nhà nước, với khối tài sản, tiền của khổng lồ, của công, của dân, chẳng phải của mình, có mấy ai sẽ chịu ra sức, lao tâm khổ tứ để số tiển của đó sinh sôi, nảy nở mà tất yếu, người ta chỉ muốn làm “chuột” để đục, để khoét…mang về nhà thôi, bất chấp rằng, có thể phải vào chốn lao tù….Còn tập đoàn, còn tổng công ty…thì còn nhiều người như ông Dũng, ông Bình, ông Vũ…phải vào tù. Việc chẳng thế nào khác đc. Nhỉ ????. 

Nhưng đó là về lý thuyết thôi, chứ chặng đường giải tán khối DNNN chắc nó còn dài lắm bởi có bao nhiêu lợi ích, quyền lợi người này, người kia, nhóm nọ, nhóm kia gắn chặt với nó. Chẳng cứ gì ta, Anh, Ý, Braxin…quá trình giải tán DNNN, tư nhân hóa nền kinh tế ở nhiều nước tư bản trước đây cũng mất hàng chục năm trời. Cho nên, sẽ còn một thời gian dài nữa để chúng ta chứng kiến sự vật vã của khối DNNN, còn chứng kiến không ít kẻ làm lãnh đạo tập đoàn nọ, tổng công ty kia ”nhập kho” như cách nói của ông Trần Quang Vũ …Bởi còn lợi ích lớn thì người ta còn bất chấp …. 

Mạnh Quân

Thứ Sáu, ngày 18 tháng 5 năm 2012

Hành chính cai trị hay hành chính phục vụ?


Một số vụ việc xảy ra gần đây khiến công luận phải đặc biệt quan tâm đã cho thấy hiển hiện nguy cơ lạm dụng quyền dùng vũ lực của người thi hành công vụ trong xử lý các vụ việc rối rắm trong đời sống xã hội, đặc biệt là tình huống nhạy cảm liên quan đến đất đai, giải tỏa, đền bù. Chúng còn báo động về phẩm chất đạo đức thực thi công vụ của “công bộc” đang có dấu hiệu xuống cấp, cần được quan tâm chấn chỉnh.
Thiết nghĩ có hai loại hành chính song song tồn tại: hành chính cai trị và hành chính phục vụ ( dịch vụ). Mác có nói đại ý, khi xã hội văn minh và phát triển đến một mức nào đó thì Nhà nước nhỏ lại và tiêu vong. Đó chính là Nhà nước cai trị sẽ tiêu vong và chỉ còn lại Nhà nước cung cấp dịch vụ hành chính.
Xã hội ta ngày càng phát triển, nền dân chủ XHCN ngày càng củng cố, do đó không có lý do gì phát triển loại hành chính cai trị mà ngược lại phải phát triển hành chính phục vụ. Hành chính phục vụ sẽ hướng tới một nền hành chính gần dân, lấy nhân dân làm trung tâm (chủ thể) đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chính đáng của nhân dân.
Các cấp chính quyền và công chức cần quán triệt những tiêu chí của nền hành chính phục vụ.đó là: Xử sự một cách dân chủ, không chỉ ban hành quyết định mà còn giải thích cặn kẽ rõ ràng các quyết định cho thấu tình đạt lý. Phải thông tin đầy đủ để ngăn chặn sự mất lòng tin. Cần có các công chức có chuyên môn, hiểu biết tâm lý, có kiến thức xã hội để có thái độ xử sự gần dân, thường xuyên bồi dưỡng công chức về chuyên môn nghề nghiệp, về kiến thức bổ trợ, về xã hội.
Người lãnh đạo không có sự ràng buộc nghĩa vụ trách nhiệm với đơn vị thì sẽ không có sự gần dân. Người lãnh đạo luôn phải nêu gương và đòi hỏi cao đối với công chức dưới quyền thực hiện đúng nghĩa vụ trách nhiệm của họ. Hoạt động hành chính phục vụ đòi hỏi tổ chức bộ máy hành chính thích hợp, hoạt động hiệu quả, hiệu lực.
Phân công phân cấp trách nhiệm rõ ràng; thực hiện “một cửa”; áp dụng những tiến bộ kỹ thuật hỗ trợ hoạt động hành chính; tạo sự thuận lợi tối đa cho dân. Một nền hành chính phục vụ sẽ đưa đến các lợi ích sau: Nhân dân gắn bó với địa phương mình, gắn bó với chính quyền; công chức nhận rõ sự vừa lòng hay không vừa lòng của dân (khách hàng) mà điều chỉnh thái độ, hành vi, lề lối làm việc theo hướng không ngừng hoàn thiện .
Đất đai là một lĩnh vực có thể nói vô cùng nhạy cảm. Chính vì vậy trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ khẩu hiệu “người cày có ruộng” đã tập hợp được triệu triệu người dưới ngọn cờ cách mạng, biết bao người đã ngã xuống vì lý tưởng này ! Ngày nay, bước sang một giai đoạn cách mạng mới, khẩu hiệu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh” đã quy tụ, tập hợp, đoàn kết, thu phục nhân tâm cả cộng đồng và toàn xã hội, kể cả những người còn dị biệt về chính kiến.
Thế nhưng xung quanh chuyện đất đai vẫn tiềm ẩm một nguy cơ chia rẽ nhân tâm, xáo trộn từ trong gia đình, họ tộc đến xã hội, có nhiều khi một số nơi là cái cớ, có thể bị lợi dụng, gây ra sự đối lập cộng đồng với chính quyền… Có một nhà sử học từng cảnh báo trên diễn đàn Quốc hội: “Người nông dân mất đất là một nguy cơ của lịch sử”.
Xét nhiều phương diện, điểm qua một số vụ việc có thể chia xẻ với nhận định trên. Theo tổng kết của Thanh tra Nhà nước, có đến trên 80% vụ kiện tụng đông người gay gắt, phức tạp, kéo dài, vượt cấp… là xung quanh chuyện đất đai. Chạy theo giải quyết các khiếu kiện này đã chiếm hết thời gian vật chất của các cấp chính quyền từ  Trung ương đến địa phương, không còn thời gian để đầu tư cho suy nghĩ xây dựng phát triển kinh tế xã hội. Có ý kiến cho rằng, đó là hệ quả của việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, tấc đất tấc vàng !
Kinh tế thị trường bản thân nó không có lỗi. Có lỗi chăng là lỗi ở chính sách, thể chế chưa đủ, còn kẽ hở, bất cập, không đủ sức điều hành thị trường bất động sản trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Có lỗi chăng là trong việc điều hành xử lý cụ thể của các cấp chính quyền, của từng công chức thi hành công vụ… Chưa thật sự lắng nghe dân, tuyên truyền giải thích, chưa thật sự là công bộc, có lúc xa rời bản chất của chính quyền của dân do dân vì dân. Để sang một bên những nguyên nhân khách quan có sự kích động, gây rối… Hãy để tâm nhiều đến các nguyên nhân chủ quan, để tìm kiếm các giải pháp
Gần đây sau nhiều lần sửa đổi Luật đất đai và cả các Nghị định như Nghị định 181… đã chuyển động theo xu hướng quản lý thị trường bất động sản, giải quyết thỏa đáng hơn mối quan hệ giữa quản lý và lợi ích chính đáng của người dân.
Kinh nghiệm của nhiêu nước cho thấy,khi quy hoạch đất của nông dân để làm các khu công nghiệp, thì người có đất (nông dân) nghiễm nhiên có cổ phần trong doanh nghiệp đó. Con em họ, hoặc bản thân họ cũng được thu nhận làm công nhân trong doanh nghiệp, tất nhiên là phải qua đào tạo. Nói đến thị trường là nói đến quyền lợi. Người dân nói chung dễ nhận thấy những quyền lợi thiết thực, cơm áo, công ăn việc làm. Đành rằng ai cũng biết xây dựng các nhà máy là để cho đất nước chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, trong đấy có bản thân họ được hưởng.
Tuy nhiên đập vào mắt họ, chỉ thấy các ông chủ doanh nghiệp đi xe đời mới, xúng xính… Còn họ thì dù ôm một cục tiền nhưng tương lai thế nào đây, ăn vài ba bữa sẽ hết, biết làm gì đây? Chính vì vậy nhiều khi họ bị kích động sinh ra những vụ việc như bao vây nhà máy, khống chế vào ra làm ăn của các ông chủ, đòi yêu sách…
Thật ra người dân rất sòng phẳng, có truyền thống xử lý các mối quan hệ về lợi ích giữa cá nhân, cộng đồng rất hài hòa, hợp lý, lòng nhân ái luôn tràn đầy thời nào cũng có. Vẫn còn đấy nhiều tấm gương, địa phương nào cũng có, các bà mẹ tuy nghèo vẫn tự nguyện hiến đất xây trường, nhiều hộ có đất cho các hộ nghèo không đất, mượn đất sản xuất vài ba vụ để thoát nghèo… Vấn đề là cán bộ, công chức chính quyền phải gần dân, lắng nghe nguyện vọng, kiên trì và biết cách giải thích, hạn chế tối đa việc sử dụng biện pháp hành chính tùy tiện… đặc biệt là chính sách vi mô phải gắn được quyền lợi trực tiếp của dân với đất, dù đã chuyển mục đích sử dụng. Những năm qua cũng rộ lên phong trào dân tự nguyện hiến đất mở đường, mở hẻm.
Nghĩa cử đó là cái gì? Đó là các cấp chính quyền ở các địa phương trên, Đảng, Mặt trận các đoàn thể… đã làm đúng khẩu hiệu khó vạn lần dân liệu cũng xong.
Diệp Văn Sơn

Ngư dân Trung Quốc và… hải quân nhân dân


Cụm từ “ngư dân Trung Quốc” xuất hiện liên tục mỗi khi xảy ra đụng độ giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực xung quanh việc tranh chấp hải phận. Theo tường thuật của Bắc Kinh, những người đàn ông táo bạo này chỉ đơn giản đang mưu sinh theo chức năng cuộc sống của mình. Tuy nhiên, láng giềng của Trung Quốc thì coi hành động của các ngư dân như thể hiện của cuộc chiến tranh cường độ thấp.
Tàu cá Trung Quốc đâm vào tàu tuần tra bờ biển của Nhật vào tháng 9.2010 
Chiến thuật “một hệ thống quốc gia có tính tích hợp và công dụng kép” nhằm bảo đảm những nguồn lợi dân sự ở nhiều hình thức khác nhau, đồng thời có thể huy động để hỗ trợ những hoạt động quân sự trong thời chiến, hình thành rõ nét nhất vào năm 2002 khi truyền thông Trung Quốc đưa tin hàng ngàn tàu cá nhỏ ở Phúc Kiến và Chiết Giang tổ chức tập trận vượt biển.
Tháng 9.2010, một tàu đánh cá của Trung Quốc hoạt động trong vùng tranh chấp ở biển Hoa Đông đã va chạm với những tàu tuần tra của lực lượng phòng vệ bờ biển Nhật Bản, dẫn đến một căng thẳng ngoại giao lớn giữa chính quyền Bắc Kinh và Tokyo.
Tháng 12.2011, một trung sĩ của lực lượng bảo vệ bờ biển Hàn Quốc bị một ngư dân Trung Quốc đâm chết trong lúc truy bắt những tàu cá xuất hiện trong vùng tranh chấp trên biển Hoàng Hải, vốn là nơi Bắc Kinh tuyên bố Trung Quốc và Hàn Quốc vẫn chưa nhất trí về việc phân giới cắm mốc khu kinh tế đặc quyền của Hàn Quốc.
Điều đáng nói là những tàu cá của Trung Quốc khi bị Hải quân Nhật Bản và Hàn Quốc bắt giữ đều bị phạt rất nặng, nhưng số lượng vụ vi phạm vẫn không giảm. Theo hãng tin Yonhap của Hàn Quốc, cảnh sát biển nước này đã bắt giữ khoảng 2.600 tàu cá Trung Quốc hoạt động chui từ năm 2006 đến cuối năm 2011, với gần 800 ngư dân bị bắt. Trong năm 2011 có khoảng 430 tàu cá Trung Quốc bị bắt giữ, tăng 46% so với năm 2010.
Vào đầu tháng 4.2012, tám tàu cá Trung Quốc bị Hải quân Philippines phát hiện đang neo đậu ở bãi cạn Scarborough cũng là vùng đang có tranh chấp, dẫn đến một bế tắc chủ quyền đang diễn ra giữa Bắc Kinh và Manila mà trước giờ chưa hề căng thẳng đến vậy. “Họ mang tất cả những tàu cá vào khu vực này, và tất cả những gì chúng tôi có thể làm là trông đợi vào những biện pháp ngoại giao”, phát ngôn viên của lực lượng quân đội Philippines tại khu vực này, Loel Egos, trả lời hãng tin AFP.
Một số nhà phân tích đồng ý rằng các ngư dân có vai trò lớn hơn nhiều so với việc chỉ bắt cá. “Nhằm củng cố tuyên bố chủ quyền của mình, Chính phủ Trung Quốc phải ra hành động, như phái các tàu cá đến những vùng biển tranh chấp và cử lực lượng bảo vệ họ. Những ngư dân này không được huấn luyện quân sự, nhưng chắc chắn chính phủ phải có bồi thường cho những sự cố như bị mất thuyền, bị thương, bị nước ngoài bắt giữ”, nhà nghiên cứu chính trị Trung Quốc Arthur Ding tại đại học Quốc gia Chengchi của Đài Loan nói.
Tác giả Edward Wong có bài đăng trên báo International Herarl Tribune năm 2010 nhận định Trung Quốc đang sử dụng học thuyết gọi là “Chiến tranh nhân dân” khi lưu ý số tàu dân sự Trung Quốc hoạt động trong vùng biển tranh chấp ngày càng tăng. Cựu tuỳ viên quân sự tại đại sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh, ông Dennis J. Blask nói rằng đây không phải là điều mới. Ông cho biết Trung Quốc đã vạch ra chiến lược sử dụng “hải quân nhân dân” như một kiểu chiến tranh trong thời hiện đại từ năm 2009.
Giáo sư nghiên cứu quốc tế John F. Copper từ đại học Rhodes (Memphis, Tennessee) khẳng định những ngư dân được chính phủ giao nhiệm vụ cụ thể, hoặc ít nhất là khuyến khích hành động của họ. “Các ngư dân rất ít cơ hội đánh bắt ở những vùng biển tranh chấp mà không tránh khỏi gây hấn với Nhật Bản, Hàn Quốc hay Philippines. Tuyên bố chủ quyền cùng với sự phát triển của tinh thần dân tộc là điều mà Trung Quốc đã thành công và đang sử dụng lợi thế đó”.
Nhà nghiên cứu Lai I-Chung tại viện Chính sách Đài Loan còn chỉ ra một số dấu hiệu liên kết giữa ngư dân và quân đội: “Mỗi tàu cá đều phải trình báo với chính quyền về nơi mình sắp ra khơi”. Theo ông, điều này lý giải vì sao những tàu thuộc Hải quân Trung Quốc hay các tàu chính thức khác có thể xuất hiện ở hiện trường một cách nhanh đáng ngờ như vậy trong hàng loạt sự cố.
Năm 2010, khi xảy ra va chạm với lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản trên biển Hoa Đông, tàu cá liên quan dường như có mang theo thiết bị chỉ sử dụng trong mục đích quân sự. Theo ông Lai, Trung Quốc có một lịch sử lâu dài trong việc sử dụng tàu cá và nguỵ trang những con tàu chính thức trong khi thực hiện những sứ mệnh chiến tranh cấp thấp. “Về cơ bản, không ngư dân Trung Quốc bình thường nào dám đi vào vùng biển tranh chấp và biết rằng họ sẽ mất tất cả, nếu không có chính phủ đứng đằng sau chắc chắn hỗ trợ cho họ”.
Cảnh Toàn
Theo SGTT, ASIA TIMES, BBC

Không có gì quý hơn lòng yêu nước

“Một chính quyền nhân dân phải đồng hành cùng nhân dân trong cuộc chiến giữ nước này, chứ không bao giờ xúc phạm đến nhân dân, thậm chí coi nhân dân là tội đồ để dùng xã hội đen trừng trị!“

LÒNG YÊU NƯỚC LÀ BẢN CHẤT CỐT LÕI ĐỂ TỒN TẠI CỦA MỌI DÂN TỘC
LÒNG YÊU NƯỚC của nhân dân Việt Nam hôm nay là kết quả của một quá trình hình thành Đất và Nước đầy cam go, còn mất trong trường kỳ lịch sử. Và vì vậy LÒNG YÊU NƯỚC mang đậm giá trị của văn hóa người Việt, nhân hậu, vị tha, nhưng cũng rất kiên cường, bất khuất, nhất là khi Tổ quốc lâm nguy thì sự xả thân là nét đặc thù của dân tộc. Đấy cũng chính là nhân cách, là bản lĩnh của người Việt trước lịch sử hình thành dân tộc và phát triển đất nước. Vào thời điểm còn mất ấy, người Việt không có lựa chọn thứ hai, chỉ có sự đồng thuận. Ai đi ngược lại thì đấy là kẻ bán nước.
Chính văn hóa ấy, nhân cách ấy, bản lĩnh ấy đã giúp chúng ta không bị đồng hóa trước một  gã khổng lồ phương Bắc gian manh, xảo quyệt và tham lam vô độ. Và ngay thời hiện đại với học thuyết Mác-Lê, vô sản toàn thế giới liên hiệp lại, đồng chí, anh em, môi răng… nhưng thời gian đã hé lộ tâm địa gian manh của con cháu đại Hán: Dùng học thuyết Mác –Lê khống chế ta, hết mình giúp dân tộc ta lao vào đầu sóng ngọn gió của ba dòng thác cách mạng, làm anh lính tiên phong trên chiến trường chống đế quốc để chúng đi đêm với đế quốc!
Hãy nhìn lại lịch sử: Năm 1973, khi Hiệp định Paris được ký, và quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam. Năm 1974 người Trung Hoa đã thực hiện kế hoạch chiếm Hoàng Sa của ta! Gần 70 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng hy sinh dưới họng súng của người đồng chí môi răng của những người cộng sản miền Bắc! Và cuộc chiến chiếm một số đảo Trường Sa giết hại 64 chiến sĩ cách mạng… ở thời điểm chủ nghĩa xã hội chuẩn bị sụp đổ hoàn toàn – 1988.
Nguyên nhân sâu xa của sự sụp đổ này là nhận thức học thuyết Marx nặng cảm tính mà bỏ qua những bất cập, những mâu thuẫn giữa lý luận với thực tiễn! Điều đơn giản là Marx chưa bao giờ chỉ ra phương thức sản xuất của chủ nghĩa cộng sản là gì. Nhưng người Tàu thì nhanh chóng xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc! Dân thì thấy khôi hài nhưng những nhà lãnh đạo VN lúc bấy giờ thì lại coi đó là cái phao cứu mạng. Cuộc họp ở Thành Đô vẫn còn được giấu kỹ, nhưng những nhà ngoại giao thời ấy qua những hồi ký đã cho thấy những trang buồn trong lịch sử giữ nước oai hùng của dân tộc. Duy có điều  chính LÒNG YÊU NƯỚC đã giúp người Việt Nam sẵn sàng dấn thân cho nền độc lập tự chủ của dân tộc mình. Nền độc lập của ta có được hôm nay bắt đầu từ đây chứ không phải từ một lý tưởng, một học thuyết cao xa nào cả.
Nhìn về phương Bắc, hãy còn đó Nội Mông, Tây Tạng , Tân Cương… những khu tự trị của đại Hán vốn là những quốc gia từng  có cương vực, lãnh thổ, tiếng nói riêng, văn hóa khác biệt… Còn chúng ta, Giao Chỉ, Nam Việt, Đại Việt và hôm nay là Việt Nam vẫn  là một quốc gia, dù chậm nhưng vẫn  đang trên đường hội nhập. Sức mạnh thần kỳ nào giúp chúng ta không bị đồng hóa, không thành khu tự trị của đại Hán? Xin thưa: Đấy là LÒNG YÊU NƯỚC!
Một dân tộc mang trong mình dòng máu yêu nước cháy bỏng, thì đấy chính là sức mạnh mềm vô địch. Sức mạnh ấy đôi khi cô sắc lại trước sức mạnh của kẻ xâm lăng truyền thống phương Bắc, hay sức mạnh hiện đại của phương Tây, nhưng chưa bao giờ kẻ thù dập tắt được. Nó âm ỉ như lửa trong đống trấu, trong mồi rơm, chờ cơ hội là bùng lên để giành lại Đất và Nước. Có Đất và có Nước thì sẽ có Độc lập, Tự do. Suy cho cùng, LÒNG YÊU NƯỚC là cái gốc của một dân tộc. LÒNG YÊU NƯỚC của dân tộc ta là giá trị tinh thần tuyệt đối được kế thừa từ đời này qua đời khác trong trường kỳ lịch sử chống ngoại xâm.
KHÔNG ĐƯỢC ĐỒNG NHẤT YÊU NƯỚC VỚI YÊU THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ
Không ai yêu nước Sở bằng Khuất Nguyên. Nhưng cuối cùng nước Sở đã mất vào tay Tần và nhà thơ yêu nước nồng nàn ấy đã phải ôm đá nhảy xuống sông Mịch La. Nguyên nhân mất nước Sở thì có nhiều, nhưng nguyên nhân sâu xa chính là LÒNG YÊU NƯỚC Sở của Sở Hoài vương đã đặt dưới lòng yêu ngu muội đối với Trịnh Tụ.
Ở ta, hôm nay vẫn còn không ít người quy tội cho triều đình nhà Nguyễn bán nước. Đấy là sự quy chụp mang tính áp đặt chủ quan, thiếu cơ sở khoa học. Các vua triều Nguyễn từ Minh Mệnh đến Thiệu Trị, Tự Đức đều là những người yêu nước. Đất nước do tiền nhân họ gây dựng, sao họ lại không yêu, không giữ? Nhưng điều quan trọng là họ đặt ý thức hệ lên trên quyền lợi của Đất-Nước. Điều đó không cho phép họ dám có cái nhìn như Minh Trị Thiên hoàng. Sợ canh tân vì canh tân không bảo đảm sự vững chắc cho ngai vàng.
Trung quân ái quốc, Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội… Mọi sự đồng nhất những giá trị khác nhau đều mang lợi ích nhóm hoặc phe phái đều để lại hệ lụy!
Đấy chính là bài học vô giá cho hôm nay. Thể chế chính trị trong lịch sử chưa bao giờ trường tồn cùng Đất Nước và Dân Tộc. Thể chế chính trị mang giá trị nhất thời trong từng giai đoạn cụ thể, nó phát triển cùng với thời gian mà tư duy con người đạt tới. Chế độ nô lệ cuối cùng rồi cũng đi vào dĩ vãng đầy tối tăm của nó. Thay thế nó là chế độ phong kiến. Khi chế độ phong kiến đang cực  thịnh cũng là lúc chế độ tư bản lộ diện.
Lịch sử phát triển loài người đơn giản là vậy. Không có thể chế chính trị nào là vĩnh cửu. Chỉ có Đất và Nước mà linh hồn của nó là LÒNG YÊU NƯỚC là trường tồn cùng năm tháng.
Học tập Hồ Chí Minh không thể không thấy sức mạnh về LÒNG YÊU NƯỚC của nhân dân, càng không thể chà đạp lên LÒNG YÊU NƯỚC khi nhân dân thấy vận nước chênh vênh, thấy biển đảo đã bị con cháu nhà đại Hán dùng vũ lực đánh chiếm, thấy nhân dân mình bị kẻ thù dân tộc bắt bớ đánh đập tra tấn, giam cầm, thu giữ tàu thuyền, đòi tiền chuộ, chỉ vì họ đánh cá trên vùng biển đảo của cha ông họ để lại.
Tôi thật sự xúc động khi nhìn thấy cụ Nguyễn Đình Đầu, suốt đời cặm cuội trong các tàng thư để cho công trình về bản đồ ViệtNamchính xác nhất ở từng hòn đảo nhỏ như những gì tiền nhân để lại. Ở tuổi ngoài 90 vẫn gắng gượng từng bước chân trong đoàn biểu tình chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, và cạnh cụ là nhà thơ suốt đời gầy gò, khắc khổ: Đỗ Trung Quân, rồi nữa, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học: Tương Lai. Ông đang bị bạo bệnh! Nhìn mái tóc ông sau lần xạ trị, nhìn gương mặt hốc hác nặng ưu tư của ông xuất hiện trong đoàn biểu tình đả đảo Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Tự nhiên tôi thấy mắt mình nóng ran và lệ đã trào…
Ôi LÒNG YÊU NƯỚC của những trí thức chân chính đẹp quá, như một tấm gương cho những thế hệ nối tiếp. Và cạnh ông lại một tấm gương nữa: nhà thơ bách bệnh Nguyễn Duy. Không ngày nào ông không đến bệnh viện… để kéo dài cuộc sống có trách nhiệm của mình. Rồi hình ảnh nhà văn tuổi ngoài 80 bên cạnh một GS tuổi ngoài thất thập mắc chứng rối loạn tiền đình cả chục năm nay, đầu vẫn ngẩng cao, mắt vẫn long lanh sáng. Sau các ông là những thế hệ nối tiếp…
Chính LÒNG YÊU NƯỚC đã quy tụ ngay cả những con người như thế vào cuộc đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù chiếm biển  đảo của mình! Có một cái gì đó lâng lâng trong tôi. Và tôi kịp nhận ra đó chính là niềm tự hào về dân tộc tôi…
Nhưng, niềm tự hào ấy chưa kịp ngấm trong tôi thì… tôi phải cúi đầu xuống nuốt nỗi đau, nỗi nhục đến tận cùng xương tủy! Những đoàn biểu tình đã bị chặn lại! Vì ai? Lịch sử rồi sẽ hỏi tội !!!
Thú thật ở tuổi cổ lai hi này tôi chưa bao giờ thấy một chính quyền nào mượn tên Nhân Dân mà lại dùng 5 thanh niên, kẻ nắm tay, kẻ nắm chân, còn tên thứ năm thì giơ chân đạp vào mặt người biểu tình đòi lại biển đảo đã bị kẻ thù mang danh đồng chí chiếm giữ và tự cho đó là của mình, “không thể tranh cãi”!
Rồi vụ cưỡng bắt chị Minh Hằng vào trại phục hồi nhân phẩm chỉ vì tội yêu nước, phản đối Trung Quốc chiếm Hoàng Sa,Trường Sa Việt Nam! Tôi chỉ nghe bà Trưng cỡi voi đánh Tô Định, tôi chưa thấy bà Định cầm quân đánh Mỹ, nên không tưởng tượng được vẻ căm giận của họ như thế nào, hôm nay tôi thấy được nét căm hận trên gương mặt phừng phừng của chị Bùi Hằng trong cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc ngang nhiên chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của ta, bất chấp sự đe dọa của cường quyền. Đẹp quá hình ảnh người phụ nữ Việt Nam. Tôi hy vọng mai kia sách giáo khoa sẽ có những bài văn, bài thơ hay về hình ảnh người phụ nữ này cho các thế hệ con em ta học.
Và đây nữa, một vị tướng mượn danh Nhân dân VN lại đi hứa với kẻ thù sẽ không để những cuộc  biểu tình chống Trung Quốc xâm lược tiếp diễn? Nếu đúng vậy thì tôi xin hỏi ông là tướng của Việt Nam hay tướng của Trung quốc vậy? Là tướng, ông phải nung nấu trong tim mình nỗi nhục mất Hoàng Sa năm 1974, một số đảo Trường Sa năm 1988… từ vũ lực của người đồng chí môi răng của ông chứ! Thấy nhục để giành lại cho bằng được, đấy chính là trách nhiệm của ông và quân đội dưới quyền ông. Chừng nào Tổ quốc chưa toàn vẹn, chừng ấy ông và quân đội mang tên Nhân Dân sẽ còn mang nợ với Nhân Dân, còn mang tội với Nhân Dân. Lẽ nào ông không nhận ra điều đơn giản ấy, mà lại hứa với kẻ thù sẽ trấn áp những cuộc biểu tình thể hiện LÒNG YÊU NƯỚC của Nhân Dân mình?!
Học tập Hồ Chí Minh sao không biết trân trọng, gìn giữ, nuôi dưỡng LÒNG YÊU NƯỚC trong nhân dân lại đang tâm chà đạp nó theo cách man rợ của thời trung cổ? Ai đã nói câu này:  “…mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy (tinh thần yêu nước) lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn… nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Chính Hồ Chí Minh đã nói như thế. Có phải ông đang cảnh cáo những ai nhẫn tâm dùng quyền lực chà xát, dập cho tắt hẳn LÒNG YÊU NƯỚC của nhân dân đã được nuôi dưỡng qua nghìn năm đô hộ giặc Tàu?
Mai đây, dù kẻ đạp vào mặt người thanh niên yêu nước biểu tình kia có ra tòa lãnh án chung thân đi nữa,
Mai kia chị Minh Hằng dù có được minh oan sau khi phải thả ra vô điều kiện đi chăng nữa,
Mai kia vị tướng nọ dù có uốn lưỡi hàng trăm lần đi nữa,
Thì cái nhục hôm nay cũng không có cách gì rửa sạch được! Những hành động man rợ, vô học này, những nhành động của kẻ bán nước này sẽ là một vết nhơ, một vết nhục của một thời mà hai từ Nhân Dân được lợi dụng triệt để nhất.
Sự đánh tráo khái niệm: Yêu nước và Bán nước có phải bắt đầu từ đây?
Lẽ nào! Lẽ nào một dân tộc từng có nghìn năm văn hiến đang biến dạng từ thể chế chính trị mang học thuyết Mác – Lê  để trở thành tội đồ của lịch sử?
Lẽ nào một chính quyền coi những người yêu nước là kẻ thù, là đối trọng cần phải dùng bạo lực trấn áp bằng mọi giá? Và trước kẻ thù cướp biển đảo, Tổ quốc lại khom lưng cúi đầu vâng dạ như những tên nô lệ?
QUỐC HỘI PHẢI RA LUẬT TRỪNG TRỊ NHỮNG KẺ CHÀ ĐẠP LÒNG YÊU NƯỚC!
Không gì quí hơn LÒNG YÊU NƯỚC, nó phải được trân trọng như những thứ của quý. Bổn phận những nhà cầm quyền chân chính là phải tìm cách trưng nó ra chứ không phải dìm nó trong bạo lực! Bổn phận những nhà cầm quyền chân chính là đưa những kẻ đang tâm đạp vào mặt người biểu tình yêu nước kia ra tòa, đưa những kẻ bắt nhốt chị Bùi Hằng vào trại phục hồi nhân phẩm ra trước vành móng ngựa, đưa vị tướng nọ ra hỏi tội vì sao lại đồng mưu với kẻ thù cướp biển đảo của Tổ quốc ta! Chính quyền Nhân Dân không thể dung tha hay cho chìm xuồng những kẻ đã ngang nhiên chà đạp LÒNG YÊU NƯỚC truyền thống của Nhân Dân như vậy được!
Ai cũng hiểu cuộc tranh chấp ở Biển Đông đang lộ diện một chân tướng mà người Việt Nam nào cũng nhận ra từ năm 1972, từ việc dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, từ  cuộc chiến với Pon Pot, Yengxari, từ bài học Đặng Tiểu Bình “dạy” cho Việt Nam năm 1979. Chính những cuộc chiến nối dài ấy đã tiếp thêm hồng cầu cho trái tim tưởng nguội lạnh của người ViệtNamsau 30 năm khói lửa.
Và cũng chính từ đây người Việt Namdễ dàng nhận ra người yêu nước và kẻ bán nước! Lão Tử nói: trong họa có phúc. Phúc vì chúng ta sớm nhận ra sự lừa dối, gian manh của kẻ thù truyền kiếp, sớm nhận ra đám tay chân của kẻ thù của chúng ta đang tâm chà đạp LÒNG YÊU NƯỚC của nhân dân theo kiểu thời trung cổ!
Một chính quyền nhân dân phải đồng hành cùng nhân dân trong cuộc chiến giữ nước này, chứ không bao giờ xúc phạm đến nhân dân, thậm chí coi nhân dân là tội đồ để dùng xã hội đen trừng trị!
Đất nước đang đứng trước những thử thách còn mất. Chính quyền của nhân dân mau chóng trở về với nhân dân, lấy nhân dân làm điểm tựa, cương quyết xử lý nghiêm minh những tên đồ tể hãm hại những người yêu nước nếu không muốn đứng chung trận tuyến với kẻ thù của nhân dân!
Trong tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh viết : “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi , và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Trong mọi thứ tự do, thì  tự do yêu nước là cao đẹp nhất. Một chính quyền của dân không thể dung tha những bọn chà đạp nhân dân yêu nước như thế mà không bị pháp luật trừng trị.
Cũng chính Hồ Chí Minh viết trong “Chính phủ là công bộc của dân”: “Ủy ban nhân dân là ủy ban có nhiệm vụ thực hiện tự do dân chủ cho dân chúng. Nó phải hành động đúng tinh thần tự do dân chủ đó”(HCM Toàn tập – Tập 4).
Xin những nhà lãnh đạo thuộc lớp con cháu cụ đừng lấy  những lời dạy chân tình của cụ làm thứ  trang sức cho chiếc ghế quyền lực của mình, càng không được tếu táo, đùa cợt trước những lời dạy ấy.
16-05-2012
Hoàng Lại Giang
Nguồn: Ba Sàm

Chân dung cụ Lê Hiền Đức- từ nữ điệp báo đến chống tham nhũng

Bà Lê Hiền Đức (sinh 12 tháng 12 năm 1932), một nhà giáo hưu trí, một công dân tích cực đấu tranh chống tham nhũng và là một trong hai người đoạt Giải thưởng Liêm chính năm 2007 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (có blog http://lhdtt.blogspot.com/).

NỮ ĐIỆP BÁO DỊCH MẬT MÃ CHO BÁC HỒ

M. Ly
Tham gia cách mạng từ năm 13 tuổi, bám trụ Hà Nội chiến đấu 60 ngày đêm khói lửa, trở thành nữ điệp báo dịch mật mã cho Bác Hồ tại Chiến khu Việt Bắc, bà Phạm Thị Dung Mỹ (bí danh Lê Hiền Đức) suốt đời làm theo lời Bác dạy. Nhưng con người, nguyên tắc của người nữ điệp báo vẫn còn đó, bà giao hẹn trước: “Có những chuyện bây giờ được nói và có những chuyện mãi mãi không được nói”!
Bà Đức với niềm vui khi được gặp lại Bác
Hồn nhiên làm cách mạng
Lê Hiền Đức là con út trong một gia đình cách mạng tại Hà Nội. Cha làm trợ tá ở phủ Thuận Thành nhưng đã giác ngộ cách mạng từ rất sớm. Các anh trai của bà đều là những người hoạt động cách mạng tất cả đều lấy bí danh là “Lê”, những người theo chủ nghĩa Mác -Lênin. Tuổi thơ của Hiền Đức đã chứng kiến sự tàn sát, bắt bớ của giặc Pháp và bè lũ tay sai đối với người theo Việt Minh. Đôi mắt thơ ngây của cô bé mới hơn 10 tuổi đã phải chứng kiến cảnh giặc Pháp đến tận nhà lục soát, bắt đi người anh trai thứ 3. Vì tham gia rải truyền đơn cho Việt minh mà người anh của bà bị giặc bắt đầy ra Côn Đảo. Lòng căm thù giặc được đốt nóng trong đôi mắt trong veo của trẻ thơ.
Nhớ lại tuổi thơ của mình, bà Đức kể: “Tết năm 1945, tôi được anh Lê Khởi Nghĩa (anh thứ 5) lì -xì cho cuốn sách “Những tâm hồn cao thượng”. Tôi đọc say mê thấm nhuần tư tưởng đấu tranh vì những lý tưởng cao đẹp  của sách và tìm đến với Cách mạng. Anh chính là người đã dẫn đường cho tôi theo Đảng, theo Bác Hồ”. Cũng phải nói thêm rằng người anh thứ năm của bà là thư ký riêng của bác Phạm Văn Đồng.
Một công việc hết sức hồn nhiên, nhưng đó là thành tích đầu tiên của Lê Hiền Đức khi tham gia cách mạng. Tháng 3/1945, Lê Hiền Đức (13 tuổi) được giao nhiệm vụ mang chỉ thị của Việt Minh về cho cha. Việc đưa được chỉ thị bí mật về kịp thời tạo điều kiện cho cha mở kho thóc Nhật cứu đói cho nhân dân. Cách mạng Tháng Tám thành công anh Nghĩa tiếp tục đi học tú tài và dạy bình dân học vụ theo lời kêu gọi của Bác Hồ. Mặc dù cô em gái mới đang học lớp nhất cũng được anh cho đi dạy i, tờ. Pháp quay lại xâm chiếm, lệnh kháng chiến toàn quốc được Bác Hồ kêu gọi, Lê Hiền Đức ở lại Hà Nội làm liên lạc cho quân kháng chiến chứ nhất định không chịu tản cư.
Ngắm nghía kỷ niệm chương 60 ngày đêm khói lửa, bà Đức kể: “Tôi đã làm liên lạc viên đưa chỉ thị kháng chiến về nơi đặt pháo ở phố nhà tôi ở. 19h 30 phút nhận được chỉ thị khẩu pháo đặt tại phố Pháo Đài Láng (bây giờ) nổ 3 phát toàn thành phố cắt điện mở đầu cho cuộc kháng chiến 60 ngày đêm cầm chân giặc để Hà Nội chuyển toàn bộ cơ quan lên Việt Bắc”.
Người anh thứ 6 của bà Đức làm công an trong thành đã đưa em vào làm liên lạc. Năm 1947, cô bé Đức tiếp tục được đi học 2 tháng nghiệp vụ công an. Sau đó được giao nhiệm vụ làm điệp báo chuyên đi theo dõi những phần tử phản cách mạng. Bà Đức hào hứng: “Ngày ấy tôi  được đóng nhiều vai lắm khi là cô học trò, lúc đi bán hàng rong, khi lại là con chiên ngoan đạo đi đến nhà thờ làm nhiệm vụ theo dõi Việt gian”. Làm tốt nhiệm vụ tới năm 1949, bà Đức được đưa về ty Công an Hà Nội, phụ trách điệp báo, rồi tiếp tục được chuyển lên Nha Công an Việt Nam làm việc chỗ cụ Lê Giản tại Việt Bắc. Đến tháng 12/1949, Nha công an sát nhập với Cục tình báo trung ương  (với mật ngữ “Anh cả Nhã cưới cô Tý béo”) Lê Hiền Đức được cha đẻ của ngành tình báo, ông Trần Hiệu xin về làm nhiệm vụ dịch mật mã. Tại đây bà là người dịch mật mã đưa lại cho Cục trưởng duyệt và chuyển thẳng đến nơi làm việc của Bác Hồ.
Kỷ niệm khi được làm việc gần Bác
Cho đến bây giờ, bà Đức vẫn nhớ như in ngày đầu tiên gặp Bác Hồ. Hôm ấy một buổi sáng mùa thu năm 1949, cô nữ điệp báo được mang bản dịch mật mã đến nơi Bác làm việc. Như đang sống lại những ngày tháng vui vẻ của cô nữ liên lạc 17 tuổi,  bà Đức kể lại: “Hôm ấy tôi nhận nhiệm vụ đưa công văn. Tôi men theo những con đường mòn vắt qua những quả đồi. Đến vọng gác tôi trèo lên quả đồi thoai thoải có những cây cao vút. Đang chú ý nhìn một tổ chim trên cành cây cao, tôi bỗng thấy một ông cụ ở phía trước đi lại. Ông mặc bộ quần áo nâu, bên ngoài khoác chiếc áo ka ki, khăn quàng buông qua cổ. Lại gần hơn, tôi nhận ngay ra Bác, tôi reo lên: “Bác! Bác!” và chạy nhanh lại gần. Bác nhìn tôi hiền từ, vuốt tóc tôi, Bác hỏi:
- Cháu đi đâu?
- Thưa Bác cháu ở bên anh Trần Hiệu, sang đưa công văn ạ.
Bác lại hỏi:
- Cháu đi từ mấy giờ sáng mà đã đến đây sớm thế?
- Thưa Bác, tan sương là cháu đi ngay ạ.
Bác khen:
- Giỏi lắm, thế đi liên lạc có vui không?
- Dạ vui lắm!
- Thế bên ấy có ăn cơm độn không?
- Dạ có, nhưng các anh thấy cháu bé lại là con gái nên không cho cháu ăn ạ.
Bác dặn: Trưa nay ăn cơm với Bác rồi hãy về.
Trưa hôm ấy tôi ăn một bữa cơm có lẽ là ngon nhất, đáng nhớ nhất. Cơm gạo đỏ, tôm rim, canh rau muống đựng trong ống bương bổ đôi. Các anh cùng ăn cho biết rau muống là do Bác trồng.
Do làm tốt công việc dịch mật mã, năm 1950 Lê Hiền Đức được chuyển sang làm người dịch mật mã cho Bác Hồ. Được làm việc gần Bác, bà càng xúc động và cảm phục vị Cha già kính yêu. Với công việc được giao, bà cố gắng hoàn thành xuất sắc những bản mật mã, một công việc đòi hỏi tinh thần sáng tạo và chuẩn xác.
Sau Chiến dịch Biên giới, Đảng có chính sách gửi cán bộ ra đào tạo ở nước ngoài. Tuy nhiên, trong khi Tổ quốc đang nước sôi lửa bỏng, bà không muốn rời xa quê hương để hưởng thụ cuộc sống an nhàn nơi đất bạn. Bà muốn ở lại tiếp tục cống hiến, tiếp tục phục vụ Bác Hồ. Không thể quên được lời dạy của bác, dù đã bao năm xa cách, bà Đức bồi hồi kể:
“Biết tâm tư này của tôi, Bác cho gọi lên và ôn tồn hỏi:
- Cháu có muốn công tác được tốt không?
- Dạ thưa Bác, có ạ!
- Muốn công tác tốt, muốn phục vụ nhân dân tốt thì phải học tập để nâng cao trình độ hiểu biết. Muốn có trình độ thì phải đi học. Lúc này có điều kiện thuận lợi cháu nên đi học”.
Trước khi đi học 3 ngày, Bác cho gọi bà lên. Bác lấy hộp thuốc lá ra, trong hộp còn hai điếu thuốc, Bác bỏ hai điếu còn lại trong hộp ra mặt bàn và nói: “Bác cho cháu hộp này để cháu đựng kim chỉ”. Bà quá xúc động khi một vị lãnh tụ như Bác quan tâm tỉ mỉ, ân cần như một một người mẹ chăm sóc con gái. Bà nhớ như in lời Bác dặn: “Là con gái thì phải biết may vá thêu thùa, nữ công gia chánh”. Mới đây thôi, khi Bảo tàng Hồ Chí Minh vận động góp những kỷ vật của Bác trong dân, bà Đức đã đem chiếc hộp đựng thuốc của Bác tặng lại Bảo tàng. Chiếc hộp Bác dùng đã mòn nhưng được bà gìn giữ bao nhiêu năm, nay được trưng bày để người Việt hiểu thêm về tình cảm của Bác đối với người phụ nữ.
Sau đó, nữ điệp báo Phạm Thị Dung Mỹ lưng đeo ba lô đi bộ trèo đèo lội suối sang Trung Quốc nước bạn học tập theo lời cặn dặn của Bác. Năm 1953, bà trở về và tình nguyện lên Lạng Sơn dạy học. Năm 1954, bà cùng đoàn quân chiến thắng trở về tiếp quản Thủ đô và dạy học ở trường Thanh Quan (Hàng Cót bây giờ).
Sau một thời gian, bà được chuyển sang trường Chu Văn An làm công tác giảng dạy. Cũng bắt đầu từ đây, bà lại có những kỷ niệm sâu sắc nhất của cuộc đời với Bác Hồ kính yêu. Lúc đó trường Chu Văn An là địa điểm tổ chức trại hè cải cách giáo dục. Đầu năm 1956, Bác đến thăm trại hè. Gặp lại Bác Hồ, bà không thể ngăn được dòng cảm xúc tuôn dâng nhưng không có điều kiện để đến gần Bác. Bà nói trong giọng xúc động: “Bác đứng trên bục giảng nói chuyện, sau những lời căn dặn, thăm hỏi động viên những nhà giáo, Bác bước xuống bục giảng và đi thẳng đến hàng ghế tôi ngồi. Nhìn về hướng tôi, Bác hỏi: “Có phải cháu Đức đó không”?
Muốn trả lời, nhưng giọng bà nghẹn lại không nói nên lời, cứ để mặc nước mắt tuôn trào. Sau bao năm xa cách, biết bao thay đổi, bà từ một thiếu nữ trẻ trẻ trung giờ đã làm mẹ, làm vợ một người lính đang có mặt ở chiến trường, vậy mà Bác vẫn nhớ rõ.
Do có con nhỏ nên bà phải bế con đi theo để tiện chăm sóc. Lúc này, Bác đến tận nơi và vuốt má con gái mà bà đang bế trên tay (khoảnh khắc ấy được một nhiếp ảnh gia ghi lại và trở thành tấm hình quý báu nhất trong cuộc đời bà). Cái tên Lê Hiền Đức theo người nữ điệp báo ấy gần cả cuộc đời, mãi tới năm 1999 UBND TP. Hà Nội mới làm xác nhận trả lại tên khai sinh cho bà là Phạm Thị Dung Mỹ.
Nguồn gốc: Đời sống và Pháp luật, bây giờ là Báo Người đưa tin (tìm không thấy)- bài còn lưu lại ở Báo Quảng Ngãi
Từ năm 1984 khi vừa về hưu, bà bắt đầu tham gia chống tham nhũng. Với lương hưu 1.700.000 đồng/tháng, bà đã chi hầu hết số tiền này vào điện thoại, internet, báo chí và tem thư. Nhưng bà đã được các báo hỗ trợ.
Mới đây, Công ty FPT có hỗ trợ bà tiền Internet, EVN biếu một máy điện thoại, miễn cước thuê bao. Thế là bà dùng tiền dư để đầu tư vào máy ảnh kỹ thuật số, các thiết bị điện tử để thu bằng chứng và bà dùng các phương tiện này để liên hệ với người dân cần bà giúp đỡ.
Bà giúp họ về pháp lý, tư vấn cách thức chống tham nhũng. Nhà bà ở quận Đống Đa, Hà Nội được rất nhiều người biết và tìm đến nhờ bà giúp đỡ. Bà công khai địa chỉ email là lehienduc2005@yahoo.com để họ liên lạc với bà và lập một blog mang tên “Lê Hiền Đức“.
Theo báo Tiền Phong vào sáng ngày 18 tháng 9 năm 2007, chịu không nổi với những trận chống tham nhũng quyết liệt của bà, một số người đã thuê người đặt vòng hoa tang trước cửa nhà bà để đe dọa. Theo bà Đức kể, ngoài chiếc vòng hoa “quái gở” này, bà còn nhận được rất nhiều cuộc điện thoại nặc danh, với những lời lẽ chửi bới, đe dọa như: “Nếu không ngừng việc chống tiêu cực, ra đường sẽ bị xe tông…”
Nhiều người ghét bà họ gọi bà là “Ác Đức“, “Thất Đức“, “Bà già khó chịu“, “Bà già lắm chuyện“. Nhưng cũng có rất nhiều người quý bà; họ gọi bà là “Bà già Liêm chính” và muốn trao cho bà giải thưởng.

Phóng sinh chữ nghĩa


Được cái con la hán này tạp ăn lắm! – Thắng, em vợ tôi, giọng hồ hởi nói tiếp – Anh biết không, mỗi lần em cho nó ăn, nó lượn lên, lượn xuống ra chiều thích thú lắm. Ăn xong, nó gật gật cái đầu ra vẻ biết ơn. Lạ thật, cái giống này cũng khôn chi lạ!
      Tôi nghe chỉ mà nghe. Quả thật, tôi chẳng có cái thú nuôi cá cảnh. Vả lại, thời gian đối với tôi, ngoài chuyện đi dạy ở trường, về nhà, tôi còn phải bươn chải, kiếm tiền lo cho con, cho vợ. Hết đi kèm ở Liên Chiểu, đến Ngũ Hành Sơn, hết Hải Châu tới Cẩm Lệ. Tôi tất bật, nên đâu còn thời gian thưởng thức thú vui cá cảnh. Mặt khác, tôi thú thật là tôi chẳng có tí kinh nghiệm gì về việc nuôi cá cảnh; không có kinh nghiệm thì dễ gì nuôi! Cá cảnh đắt giá lên tới 5, 7 triệu một con, chớ đâu có phải củ sắn luộc đâu. Bằng cả tháng lương của tôi, chớ chẳng chơi đâu. Chưa hết, ngoài chuyện lo cho cá ăn, làm vệ sinh hồ, gắn ống ôxy, lọc nước, còn biết bao công đoạn phức tạp. Mà những việc ấy đối với tôi như là cực hình vì thời gian đâu nhàn nhã.
      Nhìn con la hán đang bơi, ra bộ biết ơn khi được ăn những miếng thịt bò, tôi nghĩ lời của cậu em vợ có cái đúng. Rồi cậu em tôi khoe với tôi là từ khi có con la hán này, gia đình cậu vui lắm. Trước đây, vợ của cậu không thích hát, dù cô ấy dạy nhạc ở một trường tiểu học. Phụ huynh than phiền, học sinh thấy chán môn nhạc, hiệu trưởng phê bình…, nhưng cô ấy chẳng tỏ vẻ đam mê âm nhạc. Thế nhưng, từ ngày có con la hán, vợ cậu ta bắt đầu hát hò. Lạ lắm, giọng cô ấy càng ngày càng hay ra. Khi nấu ăn, cô ấy cũng vui vẻ hát, có lúc vừa ăn vừa hát. Đặc biệt, khi làm vệ sinh, cô ấy cũng cất tiếng hát khe khẽ. Luôn miệng hát. Cô ấy hát vui theo mùa. Vui ra phết. Mùa nào có bài hát ấy, đúng đề tài. Dần dần, cô đi hát thêm trong các lễ cưới. Thu nhập cũng tăng dần lên. Đời sống ngày càng khấm khá. Rồi đùng một cái, cậu em tôi hí hửng khoe với tôi rằng cậu ta được lãnh đạo cất nhắc lên làm trưởng phòng.
      Công việc cậu em tôi cũng chẳng khó gì. Là trưởng phòng, suốt ngày chỉ đi họp. Mọi việc có cấp dưới phụ trách từng bộ phận lo. Cậu ta chỉ có việc đọc lướt công văn, tài liệu, còn thì chỉ có kí các giấy tờ. Hàng tuần công văn cao hàng tấc. Lỡ hôm nào văn thư ốm, cậu cũng chẳng biết hết nội dung các công văn đi, đến được. Nhưng, cậu em tôi cho rằng chẳng có gì mệt óc cả. Nếu có mệt là chẳng biết mình phải làm gì trước, làm gì sau. Công việc lúc thì thấy trọng tâm, lúc thì then chốt, lúc thì cốt lõi, lúc thì cơ bản… Đủ thứ quan trọng! Lúc thì thi đua phong trào này, phong trào nọ. Công việc nói thế cũng có lúc làm cho con người mệt mỏi. Có khi, cậu em tôi than: “ Em cứ tưởng làm trưởng phòng là phải có kế hoạch đột phá để công việc tiến triển. Ai ngờ công việc cứ phải làm theo sự chỉ đạo của cấp trên. Nếu vậy, thì ai làm trưởng phòng cũng được. Không biết em có hồ đồ không?”. Tôi cười trừ. Ngẫm lời nói của cậu ấy cũng có cái đúng. Không mợ chợ cũng đông kia mà. Kể cả tôi ở cõi đời này.
      Hồi còn trẻ, khi bước vào nghề dạy học, tôi nghĩ mình ghê gớm lắm. Chữ nghĩa như thấm vào da thịt, toát ra ngoài. Có thời, chữ nghĩa làm xơ xác mướp thân xác tôi. Nhìn là biết tôi đam mê nghề dạy học đến cỡ nào. Này nhé, chiếc xe đạp cà rịch cà tàng, lốp phải bó, may lại triên, như thế mới là người chuyên chở chữ nghĩa đầy tính giai cấp tiên tiến. Chưa hết, là nhà giáo phải thanh bần, nghĩa là sống khổ sở mà vẫn lạc quan, ra vẻ trí thức của thời đại. Không thanh bần cũng không được. Nhà giáo chúng tôi, một thời, cùng nhóm với nhà văn, nhà thơ, nhà báo và… nhà nghèo.
      Cuộc đời mãi là chuỗi thời gian của công việc. Và tôi mãi là thầy giáo dạy Trung học cơ sở. Bạn tôi, có đứa phấn đấu làm hiệu trưởng, có đứa bỏ nghề, hoặc chuyển ngành nghề, kiếm việc làm có thu nhập khá hơn nghề dạy học. Mấy đứa rời khỏi nghề dạy khỏi phải nói. Chúng dóc tướng lắm. Những lần gặp mặt nhau, chúng thường chép miệng như thể thông cảm cho tôi phải chịu kiếp làm anh giáo “quèn”. Nhiều lúc tôi thấy rõ chúng thương hại tôi. Thôi, kệ chúng! Còn những thằng bạn làm hiệu trưởng, mỗi lần gặp nhau cũng có chút thông cảm cho nhau. Bởi cùng ngành nghề mà. Chúng tôi hiểu rõ nỗi khổ của nhau trong nghề. Trực tiếp giảng dạy có cái cực của giảng dạy. Làm hiệu trưởng có cái cực của hiệu trưởng. Chúng tôi đều cảm nhận được cuộc họp nào ở các trường cũng từng ấy thứ việc. Một mớ công văn phải phổ biến cho giáo viên. Không thể không phổ biến. Còn phải ghi vào biên bản để làm chứng cứ khi có sự cố, hoặc ở trên về kiểm tra, đánh giá, xếp loại… Nào là phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, thi học sinh giỏi, hội khỏe Phù Đổng, phòng chống thuốc lá, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống tệ nạn xã hội, giữ vệ sinh môi trường, thực hiện việc tiết kiệm điện, tiết kiệm nước, thi vẽ tranh về thành phố thân yêu, thi viết thư UPU, thi giải toán trên mạng, thi soạn bài giảng E-learning… luôn thúc giục chúng tôi. Rất nhiều thứ. Có những thứ không đâu vào đâu. Biết không liên quan đến chất lượng dạy và học mà vẫn phải làm, phải thực hiện. Không làm thì bị cấp trên phê bình dù cấp trên biết việc đó là không cần thiết.
      Tiếng cậu em làm tôi thức tỉnh:
      – Nè! Anh xem chữ trên mình con la hán đẹp không? – Vừa nói cậu ta vừa chỉ con cá đang lượn nhẹ trong hồ. Không đợi tôi trả lời, cậu ta hỏi tiếp – Theo anh, đây là những chữ gì?
      Tôi nhìn kĩ con cá. Đèn điện chiếu sáng, nước đang được lọc. Con cá ung dung đớp những lát thịt bò. Trên thân nó hiện lên dòng chữ. Mỗi bên có bốn chữ thì phải. Chữ ẩn hiện như thư pháp. Lúc tôi thấy như chữ Quốc ngữ, lúc như chữ Hán, lúc thì như chữ Ả-rập. Tôi vẫn không thể hiểu đó là những chữ gì. Gọi là chữ Hán cũng không phải vì không lẽ mình là người Việt lại sính chữ Hán nên cho nó là chữ Hán. Không lẽ cái tư tưởng lệ thuộc văn hóa Tàu vẫn còn trong đầu óc của tôi. Nhiều lần tôi thầm nghĩ cớ sao một số người chẳng biết một tí gì về chữ Hán, lại treo trong nhà một số chữ Hán như ra vẻ quân tử? Cớ sao một số đền, chùa, đình, miếu mới xây dựng, hoặc tu sửa lại vẫn để câu đối viết bằng chữ Hán? Sao không là chữ Quốc ngữ để ai cũng có thể đọc được, ai cũng có thể biết được?
      Bỗng có tiếng điện thoại reo. Cậu em tôi xin lỗi tôi. Cậu nghe máy. Tôi nghe tiếng cậu nó. “Được!… Nếu được giá thì tôi để cho anh. Hẹn mai gặp lại”. Khi tắt điện xong, cậu ta khoe với tôi: “Có một đại gia muốn mua con la hán này để lấy hên. Mai họ đến xem”…
      Bẵng đi một thời gian, một buổi sáng chủ nhật, tôi vừa ngủ dậy, có tin nhắn. Tôi vội mở. Cậu em nhắn tin mời tôi uống cà phê. Vệ sinh, mặc áo quần xong, tôi đến chỗ hẹn. Đến nơi, tôi thấy cậu em tôi ngồi cùng bốn người khác. Sau khi bắt tay các vị khách, tôi được cậu em giới thiệu họ là những người có máu đam mê cá cảnh, đang săn lùng cá lạ. Cái mốt chơi cá cảnh hiện nay thật là lạ. Cá cảnh cũng có thời. Mỗi thời, mỗi khác. Lúc thì cá rồng, lúc thì cá dĩa, lúc thì cá mập… Tôi ngồi nghe họ bàn chuyện cá cảnh. Ngẫm lại mình sao “lạc hậu” thế không biết. Không có cái thú nuôi cá cảnh thì quả là chẳng sành điệu, chẳng sang trọng trong thời buổi hiện nay. Nhà cửa cao ráo rồi, đẹp sang rồi thì phải có hồ cá trong nhà cho hợp phong thủy. Có thế mới đúng điệu của kẻ có của. Mà có của, giàu có, ai không kính nể. Khối kẻ gặp thời, tiền vào tiền ra, trở nên giàu có, người ngoài nhìn vào muốn lé cả mắt. Tôi như lạc lỏng giữa những người cùng bàn.
      Chuyện qua chuyện lại cũng là chuyện cá. Rồi chia tay. Cậu em tôi rủ tôi về nhà cậu. Cũng lâu hơn cả tháng thì phải, tôi chưa ghé nhà cậu, nên nhận lời. Tôi điện về nhà cho vợ biết là tôi ghé nhà cậu, tiện thể thăm ba mẹ vợ, chẳng là nhà em vợ tôi sát bên nhà ba mẹ vợ.
      Đến nhà cậu em vợ, tôi vừa dựng xe vừa nói: “Chắc cậu mi khoe cá với anh?”.
      Cậu em tôi cười hề hề: “Anh biết cả rồi mà còn hỏi”. Rồi cậu ta dẫn tôi đến hồ cá. Cậu khoe: “Anh thấy con la hán đẹp không?”
      Tôi hỏi lại: “Mới mua con khác hả?”.
      Cậu em vợ tôi chép miệng: “Đâu có mua bán gì. Vẫn con cũ. Lần trước, tưởng bán được, ai dè họ trả bèo quá. Với lại, khi họ đến xem cá, xem đi xem lại, cuối cùng lại nói thích nuôi cá mập chớ không phải là la hán. Thôi, đành chịu vậy”.
     Tôi an ủi: “Cậu mi chịu thế là được đấy. Nuôi con chi cũng có duyên với mình thì mới nuôi được. Nó không muốn xa mình thì bán sao cho đành”.
      Nghe tôi nói thế, cậu em tôi tiếp lời: “Mà con này cũng lạ lắm anh à. Nghe nói bán, nó không chịu ăn. Hai, ba ngày sau nó mới chịu ăn lại. Nghĩ cũng tội”.
      Vừa nghe cậu em phân trần, tôi vừa nhìn con la hán. Nhìn kĩ nó, tôi thấy hiện lên những dòng chữ thật đẹp. Cả hai bên mình cá đều có chữ. Tôi loáng thoáng thấy những chữ. Lúc là chữ này, lúc là chữ nọ. Tôi không dám khẳng định đó là những chữ gì. Cậu em tôi chỉ vào mình cá, nói:
      – Anh có thấy chữ trên mình nó không?
      – Ừ, có thấy.
      – Hồi mới nhìn những chữ ấy, em hoa cả mắt. Em thấy như những chữ trong công văn, giấy tờ ở cơ quan. Nhưng rồi dần dần cũng quen. Và từ đó, đối với em con la hán mang trên mình nó những chữ thật là ý nghĩa. Anh thấy bên này có bốn chữ “phúc lộc thọ toàn” không? Tuyệt quá phải không anh?
      Tôi nhìn theo tay cậu em chỉ thấy loáng thoáng. Lúc con cá bơi ngược lại thì cậu em tôi nói đó là “tấn tài tấn lộc”. Tôi nhìn thấy loáng thoáng, có lẽ là “tấn tài tấn lộc”. Tôi nói:
      – Cá có những chữ như thế chắc là cá quí, Xin chúc mừng!
      Nói xong, tôi loáng thoáng thấy đâu đó những chữ, những chữ như làm nát đầu tôi. Những chữ la liệt trong giáo án của tôi. Rồi tôi thấy lúc thì “từ, bi, hỉ, xả”, lúc thì “công bằng, bác ái”, lúc thì “anh hùng, liệt sĩ”, lúc thì “vì nước, vì dân”…
      Tôi chưa kịp định hình đó là những chữ gì, thì cậu em tôi tiếp lời:
      – Từ ngày phát tín hiệu chữ nghĩa, con la hán chẳng ăn thứ gì cả. Lạ lắm anh à! Một buổi sáng, như lệ thường, em bỏ thịt bò vào cho nó ăn, nó bơi bơi lên đớp. Nhưng không hiểu sao, nó lại nhả ra. Em tưởng nó ớn thịt bò, nên vớt ra và kiếm cá con, tôm con cho nó. Nhưng nó chẳng thèm đụng đến tôm, cá. Em nghĩ nó có bệnh, lo muốn chết. Nhưng nó vẫn khỏe. Em tìm thức ăn cao cấp dành cho cá cảnh nhập từSingapore, Nhật bản, nhưng nó cũng chẳng thèm để ý đến. Kể từ đó, nó không thèm ăn gì cả. Dù không ăn, nó vẫn cứ lớn. Đặc biệt, trên mình nó càng ngày càng đổi màu sắc. Mà thật là kì lạ. Mỗi người nhìn cá đều thấy chữ mỗi khác. Không ai giống ai cả.
      Nghe cậu em kể vậy, tôi chỉ làm im. Biết nói gì cho phải…
      Tin con cá la hán có những chữ đẹp trên thân mình lan truyền. Ai cũng đến xem. Từ ngày con cá trổ mã, phát tín hiệu chữ nghĩa, cậu em tôi bận thêm. Ngoài công việc ở cơ quan, khi về nhà, cậu em tôi phải tiếp những vị khách hiếu kì. Cậu ta phấn khởi lắm vì ai ai cũng trầm trồ khen cậu có con cá có một không hai. Con cá quả là kì lạ. Ai cũng thấy niềm ao ước của mình hiện trên thân con cá. Nếu bạn là người buôn bán, dù buôn bán lớn hay nhỏ, nếu nhìn vào thân cá thì sẽ đọc được dòng chữ “buôn may, bán đắt” ở bên này, còn bên kia chắc là dòng chữ “phi thương bất phú”. Nếu bạn là cán bộ tốt thì chắc hiện lên những chữ “cần, kiệm, liêm, chính”, “chí công vô tư” trên thân cá. Nếu bạn là cán bộ xấu, những chữ “cướp đêm là giặc…”, “miệng quan trôn trẻ” sẽ hiện lên lấp lánh, nhưng người khác chẳng đọc được những chữ ấy vì bị khúc xạ ánh sáng. Nếu bạn là người có quan tâm đến thời cuộc, chắc các bạn sẽ đọc được những chữ “độc lập, tự do”, “dân chủ, cộng hòa”… Rất nhiều chữ để bạn tưởng tượng cho thỏa lòng ao ước của bạn…
      Một hôm, gần sáng, nằm bên vợ, tôi chợt thức giấc bởi tiếng gọi của vợ: “Ba điện em hồi hôm, nói hôm nay là giỗ Nội. Trưa đi dạy về qua luôn nghe”. Tôi ôm vợ, nói yêu: “Biết rồi! Em về trước lo nấu nướng nghe”. Tôi trở mình, hôn trán vợ, rồi dậy.
      Hôm ấy, tôi trống tiết 3. Tôi xuống thư viện đọc báo mạng. Tôi mở máy. Tìm trang tin đọc. Vẫn vụ Tiên Lãng. Đã có kết luận của Thủ tướng. Ai đúng, ai sai thì đã rõ. Trong tôi lóe lên dòng chữ trên mình cá la hán: “Hoa cải Tiên Lãng”, “Dân cày có ruộng”. Tôi chuyển qua tin khác. Lại tin Bộ ngoại giao lên án hành động Trung quốc xâm phạm chủ quyền ViệtNamtrên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Tôi như thấy dòng chữ “Hoàng Sa, Trường Sa”, “Tổ quốc Việt Nam”, rồi đến các chữ “Bản Giốc, Cà Mau”, “Con Lạc, Cháu Hồng”…
     Hết giờ dạy, tôi bần thần. Về nhà ba mẹ vợ cũng kịp giờ. Ăn giỗ xong, tôi xin phép về sớm để chiều đi kèm thêm. Tôi chẳng trò chuyện gì được với cậu em.
      Tối về, trong bữa ăn, thằng con tôi nói:
      – Ba ơi, cậu phóng sinh con la hán rồi.
      Tôi hỏi:
- Sao lại phóng sinh?
      Thằng con tôi nói tiếp:
      – Dạ, con nghe cậu nói con cá khôn quá, ai nghĩ gì thì trên mình nó hiện ra chữ ấy. Cậu sợ liên lụy chữ nghĩa, nên cậu phóng sinh để cầu an.
      Nghe con tôi nói vậy, tôi giật mình. Chữ nghĩa ơi! Có sống được không? Sao khổ thế không biết?
Tháng 3 – 2012
Phan Trang Hy
Tác giả gởi cho HDTG blog.