Thứ Bảy, ngày 26 tháng 5 năm 2012

Những giọt nước mắt ở Lý Sơn

Gần 2 năm trước, đúng ngày thành lập QĐNDVN (22/12/2010), tàu cá QNG-66192TS do Thuyền trưởng Lê Minh Tân điều khiển đã nhổ neo, hướng ra quần đảo Hoàng Sa hành nghề hái rau câu.

Tuy nhiên, đến này hôm nay họ vẫn chưa trở về và người cuối cùng nhìn thấy họ là những ngư dân trên tàu QNG-9029TS, khi chạy qua khu vực đảo Bom Bay, Hoàng Sa.
Đến Lý Sơn bây giờ, la cà ở xóm chài nào cũng được nghe chuyện về những ngư dân mất tích ở Hoàng Sa, gần nhất là 6 người đàn ông trên tàu QNG-66192TS gần 2 năm trước.
Đó là những cái tên quen thuộc với mọi người dân Lý Sơn: Lê Minh Tân, Hồ Văn Lâm, Nguyễn Hoàng, Trần Văn Lành, Trương Văn Tiến và Nguyễn Đảng.
Sáng nay, lẩn mẩn đọc Tuổi trẻ, thấy viết: “Ngư dân Nguyễn Nam (30 tuổi) và ngư dân Nguyễn Chín (42 tuổi) của tàu QNg-50003 TS mới được (Trung Quốc) thả về (ngày 21/5/2012) còn hoang mang kể phiên biển vừa rồi, ngoài việc nhiều tàu Trung Quốc tuần tra liên tục và rộng khắp, họ còn đưa máy bay trực thăng bay lượn cách mặt nước chỉ vài chục mét quanh các tàu Việt Nam. Có đêm ngư dân trên tàu QNg-50003 TS chứng kiến có 4 chiếc trực thăng bay lượn trên tàu ngư dân hành nghề lặn ban đêm trên các rạn nổi thuộc quần đảo Hoàng Sa”…, lại nhớ đến câu chuyện, những giọt nước mắt của cha mẹ, vợ con 6 người đàn ông mất tích, mà mình đã được gặp, hồi đầu năm rồi, khi ra với Lý Sơn và tức ngực, xót xa tận cùng cho mạng sống mong manh của những người đàn ông con trai – trụ cột của gia đình, trằn lưng ra, đổ máu xuống, trước bão tố, sóng biển, súng pháo, đạn lê của bọn “người lạ”, để kiếm từng con cá, nhánh rong biển, mẩu vú nàng – hải sâm, nuôi bao nhiêu vợ con, cha mẹ đang thấp thỏm, trông ngóng ở phía Tây: Đất liền… Tổ quốc ơi! Đến bao giờ mạng người đỡ mong manh?..
Cuối nghĩa trang xã An Vĩnh của huyện đảo Lý Sơn bây giờ, mới phất phơ 6 lá cờ đỏ sao vàng, trên 6 ngôi mộ gió.
Trên 6 bàn thờ biển, ở 6 gia đình, vẫn roi rói miệng cười của 6 người đàn ông, mãi mãi không mang được thịt da của mình, về trả cho mái nhà…
Có thể họ chết vì gió bão, vì sóng biển và cũng có thể vì đạn nhọn của những tên cướp biển, khoác quân phục nước láng giềng.
Đến trao cho 6 gia đình ngư dân mất tích, mỗi gia đình phần quà 2 triệu đồng/gia đình (do Nhà thơ Thanh Thảo kêu gọi, huy động từ anh chị em Nhà thơ – văn – báo, bạn bè tại Quảng Ngãi và Hà Nội), thấy đau đến cùng cực cùng cha mẹ, vợ con họ.
Tháng sau (6/2012), mình lại đi cùng các thầy cô, anh chị Hà Nội – Sài Gòn ra với Lý Sơn, cứ lẩn mẩn: Xin đâu được ít tiền, hàng để thăm hỏi, tặng những gia đình ngư dân bị mất tích, tai nạn khi đang đánh bắt cá, lặn hải sâm, vớt rau câu tại Hoàng Sa?..
Ai quân tâm đến những người dân/chiến sĩ Hoàng Sa đích thực, thì chung tay cùng chúng mình, giúp họ vượt qua khó khăn, động viên họ ra để giữ Hoàng Sa thân yêu, mọi người nhé! ..

Bàn thờ ngư dân Trần Văn Lành (sinh năm 1967) với quần áo còn giữ nguyên. Anh Lành có 3 đứa con (2 nam 1 nữ). Cháu lớn đã xây dựng gia đình, cháu thứ 2 theo nghề ba hành nghề lặn biển, con gái út 14 tuổi đang đi học. Từ khi anh Lành mất tích, chị Trương Thị Hoa (vợ anh) không cho con trai theo tàu ra làm nghề ở Hoàng Sa, vì sợ mất người nối dõi. Hiện con trai anh Lành (Trần Văn Sơn, sinh năm 1991, đã có thâm niên 3 năm làm nghề tại Hoàng Sa) đi theo 1 người bạn, làm nghề câu cá nhỏ trên chiếc mủng xung quanh đảo Lý Sơn, giúp mẹ kiếm cơm nuôi em ăn học.
 Bàn thờ ngư dân Nguyễn Hoàng (sinh năm 1962). Anh Hoàng là cậu ruột của chị Hoa (vợ ngư dân Trần Văn Lành, ảnh trên) và có 3 con (2 trai, 1 gái). Anh Lành trước đây chỉ đánh cá loanh quanh gần bờ do sức khỏe yếu. Gia đình khó khăn, con phải nghỉ học, anh cố đi biển Hoàng Sa và đến chuyến thứ 3 thì mất tích. Vợ anh, chị Lê Thị San kể: Con trai út 21 tuổi cũng đang đi biển tại Hoàng Sa. Biết là bất an nhưng chỉ biết cầu Trời bởi không có nghề nào cho cháu.
 Tại gia đình anh Trương Văn Tiến (sinh năm 1975). Tiến là em ruột chị Hoa (vợ anh Lành) sinh được 2 con gái, đứa đầu 15 tuổi, đứa sau 6 tuổi. Tiến vốn là người sợ nước, không bao giờ bước chân xuống biển, toàn ở nhà trồng tỏi. Tháng 10/2010, Tiến dựng xong căn nhà cấp 4, vì thiếu nợ, lại lo kiếm tiền sắm Tết cho gia đình nên liều đi theo cậu – anh đi biển Hoàng Sa. Chuyến đi biển của Tiến là đầu tiên nhưng cũng là cuối cùng. Hiện vợ Tiến là chị Nguyễn Thị Lời (sinh năm 1973) phải tần tảo đi làm thuê, trồng tỏi để trả nợ khoản xây nhà, làm đám ma cho chồng. Ảnh: TS. Nguyễn Hồng Kiên ngồi nói chuyện với chị Hoa (chị ruột Tiến) và con gái đầu Trương Thị Nhiều.
 Ngư dân trẻ nhất Hồ Văn Lâm (sinh năm 1992), đi làmn ghề ở Hoàng Sa lần thứ 2 và mất luôn. Lâm đã từng đi học nghề ở TP. Quảng Ngãi nhưng do gia đình khó khăn, không có tiền đi học nên phải bỏ dở, về nhà đi biển để có tiền học tiếp. Bố mẹ Lâm (anh Hồ Văn Ky, sinh 1968 và mẹ là chị Ngô Thị Bích, 1972) kể: Chuyến đầu tiên đi biển, Lâm được chia 2 triệu và mang về mua nồi cơm điện, ti vi cho gia đình. Chuyến thứ 2 này, Lâm trốn gia đình đi để kiếm tiền mang về cho mẹ sắm Tết. Khi lập bàn thờ Lâm, gia đình không tìm đâu ra tấm ảnh hiện tại, phải lấy ảnh trong Thẻ học sinh Tiểu học phóng ra làm ảnh thờ. Hỏi: “Sao không lấy trong Chứng minh thư?”. Trả lời: “Mang trong người, đi biển và mất luôn”. Bố Lâm cũng là 1 cựu chiến binh, hiện đang ốm đau liên miên, liệt ở nhà, không làm được gì. Mọi nguồn thu trong gia đình, trông vào mẹ Lâm trồng tỏi và 2 em gái đang làm thuê trong Sài Gòn. Em gái út đang học lớp 5. Hiện tại, mẹ Lâm đang ra Đà Nẵng rửa bát thuê cho 1 quán cơm bụi, với thù lao 1 triệu VND/tháng.
 Thuyền trưởng Lê Minh Tân (1960) – Một người gắn bó nhiều năm với Hoàng Sa. Anh Tân đã nhiều lần “va” tàu Trung Quốc tại Hoàng Sa, trong đó 1 lần tàu bị thu, 1 lần bị đâm chìm, 1 lần bị bắn và 1 lần bị bắt cả tàu lẫn người. Tuy nhiên, anh Tân vẫn thuộc trong danh sách “ít bị bắt, đuổi” bởi tàu anh chỉ vớt rau câu. Anh Tân có 3 người con, con gái út đang học lớp 12 tên Thanh, hết giờ học đi nhặt rau câu thuê cùng mẹ, kiếm tiền công 10.000 VND/giờ làm thuê.
 Vợ con ngư dân Nguyễn Đảng (70 tuổi). Ông là thành viên cao tuổi nhất trên con thuyền số hiệu QNg 66478 do sói biển Mai Phụng Lưu làm thuyền trưởng, vừa được Trung Quốc thả về từ Hoàng Sa hồi tháng 10/2011 vừa rồi. Bà Nguyễn Thị Xí (50 tuổi), vợ ông Đảng, kể: “Ông ấy bị Trung Quốc bắt giam ở Hoàng Sa mới được thả về đi làm lại kiếm tiền lo Tết cho gia đình. Trước khi đi, ông ấy dặn chờ tôi kiếm ít tiền về rồi mới đi sắm Tết. Mẹ con đinh ninh giáp Tết ông ấy về gia đình sum họp, ai ngờ … Không biết trời phật có run rủi phù hộ ổng và mấy anh em thêm lần nữa không?”.
 Vợ, con và cháu ngư dân Nguyễn Hoàng
 Cháu Trương Thị Nhiều, 15 tuổi, con gái đầu của ngư dân Trương Văn Tiến
 Chị Trương Thị Hoa, cạn nước mắt bởi mất cả chồng, em trai và cậu ruột, cùng trên 1 chuyến tàu ra Hoàng Sa
 Căn nhà của ngư dân Trương Văn Tiến
 3 người đàn bà họ hàng (nhà chị Hoa) bên 3 ngôi mộ gió

Những ngôi mộ của ngư dân Lý Sơn, đều có cờ Tổ quốc, như khi họ đi biển ngoài Hoàng Sa
Mai Thanh Hải
Nguồn: Mai Thanh Hải Blog (tựa bài của HDTG, không phải tựa gốc của tác giả)
Để biết và hiểu thêm về cuộc sống, con người ở huyện đảo Lý Sơn- Quảng Ngãi, mời xem tại đây

Lương không đủ sống và “vườn thượng uyển triệu đô”


Vẫn biết là “làm giàu không khó”. Nhưng nghĩ đến nát đầu cũng không hiểu tại sao một trưởng phòng quèn có tỷ bạc bỏ ra rước về chỉ một cái cây trong khi hàng tháng vẫn ngửa tay nhận đồng lương ba cọc ba đồng và không ngớt kêu than “không đủ sống”.
Có tờ báo gọi là “cơ ngơi hoành tráng”. Có tờ gọi là “vườn thượng uyển”, là “Rresort 5 sao”, là “trăm tỷ” là “triệu đô”. Gọi thế nào cũng đúng với cơ ngơi hơn 4.000 m2 ở Ninh Giang, với 2 hòn non bộ “khổng lồ” bằng đá xanh được thiết kế công phu, đẹp mắt làm “tiền đường tụ thuỷ” tạo của cải, phúc trạch kiêm điều hòa sinh thái. Rồi thì ngoài đá xanh, còn có đá đỏ. Ngoài đá ngoài cổng, đá non bộ, còn đá đặt trên…đồi nhân tạo. Rồi thì một “rừng” cây cảnh thuộc dạng quý hiếm “khiến mọi người phải ao ước” với cây sưa “hơn một vòng tay người ôm”, cây tùng la hán “hàng trăm năm tuổi”, gốc thị lâu năm…
Báo chí không rỗi hơi. Vì cơ ngơi hoành tráng, vì vườn thượng uyển, vì resort 5 sao, vì “trăm tỷ”, “triệu” đô này có liên quan đến… nghị quyết TƯ4, đến tên tuổi của đồng chí Ủy viên TƯ Đảng, Bí thư tỉnh ủy Hải Dương Bùi Thanh Quyền, người từng phát biểu về công khai minh bạch như là một biện pháp hiệu quả chống tham nhũng.
Sau khi báo chí đưa tin “cơ ngơi triệu đô” là của đồng chí Bí thư, hôm qua, với một sự nhiệt tình hiếm thấy, Chủ tịch huyện Ninh Giang đã “đính chính” với báo chí rằng “Khu nhà vườn” ở Ninh Giang- nhà vườn chứ không phải “vườn thượng uyển”- là của đồng chí Bùi Thanh Tùng, con trai Bí thư tỉnh ủy Hải Dương Bùi Thanh Quyền, chứ không phải của đồng chí Quyền. Hơn nữa, diện tích “chỉ có 4.152 m2”- chứ không phải gần 5.000 m2 như báo chí nói. Ông cũng cực lực phản đối giá trị “ngôi nhà vườn” mà báo chí mô tả là “trị giá hàng trăm tỷ đồng” với lý do rất đơn giản là “Thông tin đó chưa được kiểm chứng”. Đáng lẽ, ông Chủ tịch phải nói rõ ràng hơn là chỉ có mấy “cái cây vớ vẩn” với “mấy hòn đá” chứ đã thấy trống đồng, ngà voi nào đâu.
Báo chí có vẻ hố nặng. Một tờ báo trước đó thậm chí còn dẫn đủ các loại nghị định thông tư để tính toán rằng đối với cán bộ đảm nhiệm chức danh Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, kiêm trưởng đoàn ĐBQH thì mức lương sẽ là: Hệ số phụ cấp Bí thư: 1,3 + Hệ số lương, hệ số phụ cấp Chủ tịch HĐND: 8,89 + Hệ số phụ cấp Trưởng Đoàn ĐBQH: 1,25 = 11,44 x 1.050.000 = 12.012.000 đồng/ tháng. 12 triệu đồng, tức là chỉ hơn chút đỉnh mức “không đủ sống” 10 triệu đồng mà nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc vừa khẳng định. Tính trong một năm số tiền mà vị quan đầu tĩnh cỡ này có thể nhận được là 144.144.000 đồng.
Thế nên phải tin ngôi nhà chắc chắn không thuộc sở hữu của đồng chí Bí thư. Khi mà tính cả nhiệm kỳ 5 năm, lương của một vị Bí thư là không quá 720.720.000 đồng- số tiền thậm chí không đủ mua một ngôi nhà chính sách.
Tất nhiên, đồng chí Bí thư kiêm Chủ tịch HĐND, kiêm Trưởng đoàn ĐBQH, sắp tới còn kiêm luôn cả chức vụ Trưởng ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng sẽ chẳng bao giờ phải giải trình nguồn gốc số tiền chơi cơ ngơi hoành tráng. Bởi như đã nói, cơ ngơi trăm tỷ đứng tên con trai ông: Đồng chí Bùi Thanh Tùng.
Vậy thì đồng chí Bùi Thanh Tùng là ai mà chơi hoành tráng thế?
Xin thưa, dẫu là con trai Bí thư tỉnh ủy, nhưng đồng chí Tùng giờ vẫn khiêm tốn với chức vụ Trưởng phòng Việc làm An toàn lao động Sở LĐ-TB- XH Hải Dương vừa được bổ nhiệm còn chưa ráo mực.
Nghĩ cũng lạ. Trong khi Bí thư, kiêm chủ tịch HĐND, kiêm Trưởng đoàn đại biểu QH lương chỉ trên mức “không đủ sống” thì một Trưởng phòng quèn lại có đủ tiền chơi cơ ngơi hoành tráng. Mà đó mới chỉ là thứ chưa hoàn thiện, thứ thiên hạ có thể nhìn thấy. Thế nên, cán bộ công chức, nhất là ở Hải Dương, đặc biệt là ngành lao động thương binh xã hội đừng bao giờ than lương không đủ sống. Bởi ngành lao động thương binh xã hội tỉnh nhà đang khiến các ngành bạn tủi thân, khiến các CEO doanh nghiệp nghẹn ngào. Và vớ vẩn, tới đây lại chả hút hết chất xám trên toàn quốc theo nguyên tắc “nước chảy chỗ trũng”.
Vẫn biết là làm giàu không khó. Nhưng nghĩ đến nát đầu cũng không hiểu tại sao người ta có tỷ bạc bỏ ra rước về chỉ một cái cây trong khi hàng tháng vẫn ngửa tay nhận đồng lương ba cọc ba đồng và không ngớt kêu than “không đủ sống”.
Nhưng dẫu sao, việc báo chí hóa cuồng vì “vườn thượng uyển triệu đô” hóa ra lại là một bài học tốt. Không phải ở nghĩa phải khéo léo hơn, phải bớt hoành tráng đi, phải “ở ẩn” giả nghèo giả khổ. Mà ở chỗ bây giờ chơi “sưa” với “đá”, đại gia thì đại gia thật, hoành tráng thì hoành tráng thật, nhưng cũng rất dễ …rước họa. Bởi nói đến cây sưa “Một vòng tay người ôm”, ngưởi ta hẳn rùng mình nhớ lại cảnh hỗn chiến với dao súng để cướp sưa ở Quảng Bình vừa tuần trước. Đến cây sưa bé bằng cái miệng bát mọc ngay sát công an phường Nghĩa Tân còn bị sưa tặc nửa đêm vào cưa trộm, huống chi to đến “một người ôm”. May sưa tặc ít đọc báo chứ nếu không, cũng chẳng biết thế nào mà lần. Còn đá, cũng chỉ vừa tuần trước, huyện quan Chư Sê đã làm cũi sắt giam hai hòn đá vì đã bị “khai thác khoáng sản trái phép”. Còn ở Ninh Giang, chắc dân có nghề “trồng đá”, hoặc “nuôi đá đẻ” nên huyện quan không thấy cưỡng chế làm cũi bắt giam đá nhà…con trai ông Bí thư.
Nhớ hôm rồi, khi QH thảo luận dự án Luật Phòng chống rửa tiền, có vị đại biểu đã thẳng thắn rằng: 6 năm trời thực hiện nghị định 74 về phòng chống rửa tiền, không phát hiện ra nổi một vụ rửa tiền, trong khi ở đâu có tham nhũng thì ở đó có rửa tiền. Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp Đinh Xuân Thảo có lần cũng nói: “Tiền bẩn” của bọn buôn lậu, buôn ma túy trở thành “tiền sạch” quá dễ. Bởi người ta chỉ cần mang bao tiền bẩn đó đi mua nhà, mua đất rồi bán lấy tiền là thành tiền sạch, không cần phải “rửa” qua các ngân hàng.
Nói thế là oan cho bọn buôn lậu ma túy. Bởi chuyện tẩy tiền bằng bất động sản còn là chuyện của bọn tham nhũng nữa.
Ai nói Hải Dương không chống tham nhũng rõ ràng là nói điêu. Trong 5 năm rồi, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Bí thư, Hải Dương đã xử lý kỷ luật 70 cán bộ, đảng viên liên quan đến tham nhũng. Kiên quyết không. Quá kiên quyết là khác. Nhưng chắc đó chỉ là tham nhũng vặt, cỡ tiền lẻ bé đến mức không cần mua phong bì, đến mức chuyện rửa tiền hóa ra lại hóa khôi hài. Chuyện “rửa tiền” chắc chỉ có ở..nước ngoài. Hay chí ít nó cũng không có ở… Hải Dương. Năm ngoái, khi tiến hành kê khai tài sản, ở Hải Dương đã có 773 cán bộ công chức đã tiến hành kê khai tài sản thu nhập (lần đầu) và 7958 cán bộ kê khai bổ sung. Báo cáo, to đoành hai chữ “nghiêm túc” thậm chí có câu rất hoành tráng “Không có cán bộ, công chức nào phải thực hiện xác minh tài sản, thu nhập”. Tức bất minh chỉ là chuyện của… tỉnh bạn. Hoặc nước bạn.
Thế nên dù QH có thông qua Luật phòng chống rửa tiền thì ít nhất đó cũng không phải là chuyện ở Hải Dương khi mà người ta sẵn lòng chấp nhận câu chuyện lương trưởng phó phòng cũng có thể chơi “vườn thượng uyển triệu đô”.
Đào Tuấn

Bắt giữ, thu giữ hay xâm chiếm, cướp bóc?

Gần đây mỗi khi Trung Quốc xâm hại chủ quyền VN trên Biển Đông,  Bộ ngoại giao đều lên tiếng rất kịp thời, chỉ trích mạnh mẽ  TQ. Đó cũng là điều đáng mừng, không như những năm trước đây chỉ rụt rè giao thiệp khiến dân ớn đến tận cổ.
Con tàu được Trung Quốc thả về, sau khi đã vét sạch hải sản và ngư lưới cụ 

Nhưng đã lên tiếng mạnh mẽ như vậy tại sao không dùng từ cho chuẩn xác?  TQ nhảy vào vùng biển của ta là họ đã thực hiện hành vi xâm chiếm. Họ bắt thuyền bè của ngư  dân Việt Nam là ăn cướp chứ không phải bắt giữ. Phía TQ nói bắt giữ vì họ cho rằng ta xâm phạm biển của họ nên họ bắt giữ. Nhưng ta thì không nên nói bắt giữ như họ. Vào nhà người ta bắt người lấy của cải  là hành vi ăn cướp.
Ngày 24/5 ông Lương Thanh Nghị đã nói thế này:« Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc nhanh chóng trả lại tàu cá QNg55003TS và toàn bộ tài sản mà Trung Quốc đã thu giữ ngày 16/5 và chấm dứt các hành động tương tự ». Thu giữ hay cướp bóc? Hãy nói thẳng ra bản chất của hành vi, không nên né tránh.
Cứ đọc bài Trung Quốc tung “chiêu” mới, ngư dân Việt Nam lao đao (tại đây) thì biết: “…Người Trung Quốc ập lên tàu cá là khống chế ngay về thông tin liên lạc. Sau đó, khi bắt ngư dân dồn về mũi tàu, người Trung Quốc bắt đầu hè nhau vét ngư lưới cụ, vét hải sản và cuối cùng là chặt phá sạch những gì không thể mang đi được.”… “Gần đây khi bắt được tàu ngư dân Việt Nam là Trung Quốc sử dụng triệt để việc cướp, phá sạch tài sản và ngư lưới cụ trên tàu”… “Những năm trước đây, Trung Quốc cướp tài sản nhưng chỉ lựa hải sản ngon để lấy. Còn từ đầu năm 2012 đến nay, cả năm tàu cá bị Trung Quốc bắt thì tàu nào cũng bị cướp sạch tài sản và phá tan tành máy móc, ngư lưới cụ.”
Đấy, thu giữ hay cướp bóc?
 Nói “ bắt giữ” sẽ gây ngộ nhận ta xâm phạm biển TQ bị TQ bắt giữ. Nói “ thu giữ” là thừa nhận TQ chỉ thu cất của cải của ta chứ chẳng có cướp bóc gì. Tức là ta đã mặc nhiên chính nghĩa hóa hành động phi nghĩa của TQ, điều mà TQ mong muốn. Còn dân ta lại có cớ đồn đoán: Nói dzậy mà không phải dzậy, ông Lương Thanh Nghị phản đối chẳng ra phản đối, ok chẳng ra ok. Chăc là há miệng mắc quai, 16 chữ vàng chắn ngang họng, khạc chẳng được, nuốt không xong.
Quên đi 16 chữ vàng, hãy mạnh mẽ hơn nữa, chuẩn xác hơn nữa ông Lương Thanh Nghị ơi!
Nguyễn Quang Lập
Theo Quê Choa

Thứ Sáu, ngày 25 tháng 5 năm 2012

Chuyện đời qua ảnh: những phận người bị bán của Nason


20 bức ảnh cho cảm giác tức thở đến khó chịu. có gì đó thật tàn nhẫn khi gương mặt mỗi người đều bị che bởi bảng mã vạch- loại mã vạch dùng cho hàng hóa!
Nếu nhìn qua dãy số “8932006280207″ thì ai cũng nghĩ đó là mã vạch ghi trên hàng hóa. Thực tế nó kể lại cảnh đời của “món hàng” đặc biệt – một em bé 6 tuổi.
Trong đó, 893 là con số thông báo xuất xứ hàng hóa từ Việt Nam, 2006 là năm sinh và 280207 là ngày, tháng, năm định mệnh mà em bé bị bán. Đây là thông điệp trong triển lãm ảnh “Mã Vạch” của nhiếp ảnh gia Na Sơn về nạn buôn bán người ở khu vực biên giới vùng núi Hà Giang.
Có 20 bức ảnh, mỗi bức ảnh là một chuyện về nạn nhân của nạn buôn người đã được giải thoát. Khuôn mặt của họ bị che lấp bởi bảng mã vạch – loại mã vốn chỉ dùng cho hàng hóa.
 Vàng M. L (2003) trái và Vàng Mý L (2006) ở Yên Minh, Hà Giang đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo trợ Xã hội Hà Giang. Đêm 28/2/2007 bọn buôn người đã đột nhập vào nhà giết bố mẹ các em và bắt các em bán qua biên giới.
 Vàng Thị C (1987) ở Yên Minh, Hà Giang bị một người tên Kiên lừa đi chơi chợ Trung Quốc và bán vào tháng 9/2006.
 Chị Hầu Thị C (1974) và con gái Vàng Thị G (2010) ở Yên Minh, Hà Giang bị tên Hầu Sào Sình lừa bán đi Trung Quốc với giá 9.000 tệ vào tháng 10/2010.
 Hoàng Thị D (1989) ở Cao Bằng bị Hầu Thị Dở ở Hà Giang lừa bán đi Trung Quốc ngày 5/5/2011 với giá 2.000 tệ.
 Khi người lớn đi làm, 4 đứa con của anh Vàng Mí Lở Mèo Vạc bị dụ dỗ lừa bán sang Trung Quốc vào ngày 25/1/2007 với giá 8.000 tệ.
 Phụ nữ, trẻ em người dân tộc vùng biên giới Hà Giang là nạn nhân chính của tệ bắt cóc, mua bán người những năm qua. Bọn buôn người thường lợi dụng địa bàn phức tạp, dân cư thưa thớt, đời sống khó khăn và trình độ dân trí thấp để tiến hành lừa đảo, bắt cóc. Nhiều khi chúng không phải ai xa lạ mà chính là anh em, bạn bè, hàng xóm của nạn nhân.
 Trong khuôn khổ của triển lãm còn có tác phẩm “Hàng…” của nghệ sĩ Doãn Hoàng Kiên được trình bày theo nghệ thuật sắp đặt. Chất liệu chính làm nên tác phẩm này là tóc đựng trong những lọ thủy tinh. Trên nắp lọ cũng là những hàng mã vạch.
 Doãn Hoàng Kiên giải thích tóc vốn được xem như “cái vóc con người”. Vì vậy ông đã dùng nó như thân phận con người bị giam cầm trong lọ và trưng bày như những món hàng. Qua đó, tác giả muốn cảnh báo hiểm họa khi thân xác con người bị biến thành những món hàng siêu lợi nhuận.
 Nhiều sinh viên và du khách nước ngoài đã đến tham dự triển lãm. Huyền Thanh (sinh viên năm 1 – ĐH Mỹ Thuật) chia sẻ: “Bạn em từng là nạn nhân của tình trạng buôn người chỉ vì bạn ấy chat qua mạng rồi bị lừa. Rõ ràng không kể những đồng bào dân tộc, người có trình độ dân trí thấp mà kể cả những người ở thành phố, được ăn học đều có thể bị buôn bán như hàng hóa”.
Còn với Duy (học sinh lớp 8, trường Ngô Sĩ Liên) thì “Chỉ khi xem triển lãm này em mới thấy rằng hàng ngày, hàng giờ nạn buôn người vẫn xảy ra xung quanh mình. Vậy nên ai cũng cần nêu cao tinh thần cảnh giác để có thể kịp thời giúp đỡ những nạn nhân bị buôn bán và chính bản thân mình”.
Phan Dương
Theo VnExpress

Trung Quốc dùng trực thăng uy hiếm ngư dân Việt Nam

các bác ơi, các bác làm thế nào chứ như vầy hoài sao chịu cho thấu. các bác hãy nghe 14 ngư dân kể chuyện bị Trung Quốc bắt vừa được thả về đây nè. “Tàu họ to gấp mấy lần tàu của ba tàu bọn tui gộp lại. Họ lại lăm lăm tay súng, dùi cui điện, vòi rồng…, nên nếu ngư dân mình chỉ cần có thái độ khác thường là hàng trăm người Trung Quốc với đủ loại sắc phục… nướng liền
Nhiều ngư dân miền Trung đánh bắt xa bờ tại vùng biển Hoàng Sa cho biết, gần đây Trung Quốc đã dùng trực thăng bay sát tàu cá khiến ngư dân hoảng sợ, bất an không dám ra khơi đánh cá.
Đó là một trong những chiêu mới của Trung Quốc. Bên cạnh đó, họ phá hết tài sản trên tàu…
Con tàu được Trung Quốc thả về, sau khi đã vét sạch hải sản và ngư lưới cụ 
Biết có thể bị bắt nhưng vẫn phải đi biển
Sau hơn một tuần bị bắt, đến trưa ngày 21.5 vừa qua, 14 ngư dân ở xã Bình Châu, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) được Trung Quốc thả về. Tuy nhiên họ chỉ mới thả một tàu sau khi đã vơ vét và đập phá hết tài sản, ngư lưới cụ cũng như hàng tấn hải sản của ngư dân.
Đến tàu QNg 50003 TS của Nguyễn Thành Nhất đang ở cảng Sa Kỳ, chúng tôi thấy ở phía mũi và trong buồng tàu cá bảy ngư dân nằm im lìm, với sự mệt mỏi hiện rõ trên từng khuôn mặt. Nằm thừ trên mũi thuyền, ngư dân Nguyễn Nam chán nản: “Hổng muốn về nhà. Về mà nhìn vợ và hai đứa con, ruột gan không chịu được”. Chỉ còn hai tháng nữa, vợ Nam sinh em bé. Ngoài ra, Nam còn hai đứa con trai sinh đôi tám tuổi. “Sắp đến không biết xoay xở ra sao, bởi bao nhiêu tiền của đã hùn vào con tàu này. Làm biển mấy năm không đủ cho Trung Quốc lấy một lần”, Nam thở dài.
Ngư dân Võ Minh Quân chỉ cho chúng tôi xem buồng lái, nơi để máy dò, máy định vị…, bây giờ chỉ còn trơ trọi dây điện tua tủa. Vơ một nắm dây cầm lên tay, Quân bảo đó là dây hơi để lặn. “Mấy tay Trung Quốc cầm dao to như lưỡi đao chặt đứt phăng hết cả. Sau đó bao nhiêu hải sản lấy hết. Tiếc của, tui xin thì bị họ đập cho mấy gậy”, ngư dân Quân nói.
Ngư dân Võ Minh Quân và
dây hơi tàu QNg 50003 TS bị chặt phá.
 
Ngồi quây quần trước mũi thuyền, bảy ngư dân tàu QNg 50003 TS kể cho chúng tôi và bạn chài các thuyền khác đến thăm rằng, trong vòng ba tháng qua tàu này đã hai lần bị Trung Quốc bắt trên biển. Lần trước vào 5.3, tàu cũng bị Trung Quốc cướp mấy tấn cá và ngư lưới cụ. Đến phiên biển thứ tư này, lại bị cướp lần nữa. Tính ra chỉ ngần ấy thời gian, ngư dân tàu QNg 50003 TS đã “biếu không cho Trung Quốc khoảng 600 triệu đồng”. “Nợ cũ chưa trả xong, nợ mới lại đến. Biết bao giờ mới ngóc đầu lên nổi”, ông Nguyễn Văn Hồng, cha của thuyền trưởng Nguyễn Thành Nhất, than.
“Ra biển bị bắt hoài mà sao vẫn đi, không sợ sao?”, chúng tôi hỏi. Bốn ngư dân hùn phần đóng tàu QNg 50003 TS bảo trước khi đi anh em cũng lo ra biển rất dễ bị Trung Quốc bắt, nhưng vẫn cứ phải đi, bởi “dân biển mà không đi biển thì làm sao sống!”
Tạm biệt bảy ngư dân tàu QNg 50003 TS, chúng tôi đến nhà ông Trần Phương, chủ tàu QNg 55003 TS ở Gành Cả (thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu). Bảy ngư dân đi trên tàu này đang ngồi ủ rũ tại hiên nhà. Trung tá Đặng Quốc Tánh, trưởng trạm biên phòng Bình Hải, đồn biên phòng 288 đang làm việc với ngư dân. Ông Phương buồn thiu: “Phiên biển này, tui mất con tàu 450 triệu đồng, hải sản trị giá 200 triệu đồng và 150 triệu đồng chi phí nữa”.
Ông Phương còn cho biết, đây là phiên biển đầu tiên trong năm của tàu ông. Bởi từ sau tết đến giờ do xăng dầu lên giá, cộng với việc Trung Quốc làm căng trên biển, nên bạn chài không dám lên ghe ông đi biển. “Đến khi có bạn, thì tàu tui bị bắt”, ông Phương ảo não.
Áp dụng chiêu mới
Theo 14 ngư dân, khi bị bắt trên biển, người Trung Quốc ập lên tàu cá là khống chế ngay về thông tin liên lạc. Sau đó, khi bắt ngư dân dồn về mũi tàu, người Trung Quốc bắt đầu hè nhau vét ngư lưới cụ, vét hải sản và cuối cùng là chặt phá sạch những gì không thể mang đi được. Ngư dân Quân lắc đầu: “Tàu họ to gấp mấy lần tàu của ba tàu bọn tui gộp lại. Họ lại lăm lăm tay súng, dùi cui điện, vòi rồng…, nên nếu ngư dân mình chỉ cần có thái độ khác thường là hàng trăm người Trung Quốc với đủ loại sắc phục… nướng liền”.
Theo ngư dân, trước đây Trung Quốc thường dùng chiêu bắt tàu, đòi tiền phạt, rồi chọn tàu dỏm thả ngư dân Việt Nam ra. Thế nhưng chiêu này không còn phát huy hiệu quả, do ngư dân không nộp tiền phạt. Vì vậy, gần đây khi bắt được tàu ngư dân Việt Nam là Trung Quốc sử dụng triệt để việc cướp, phá sạch tài sản và ngư lưới cụ trên tàu, nhằm đánh vào kinh tế để ngư dân kiệt quệ, không có tiền để mua sắm phương tiện và chi phí để ra khơi.
Không dừng lại ở đó, ngư dân xã Bình Châu cho chúng tôi biết, những năm trước đây, Trung Quốc cướp tài sản nhưng chỉ lựa hải sản ngon để lấy. Còn từ đầu năm 2012 đến nay, cả năm tàu cá bị Trung Quốc bắt thì tàu nào cũng bị cướp sạch tài sản và phá tan tành máy móc, ngư lưới cụ. Ngư dân Nguyễn Nam còn cho hay, chuyến ra biển này anh và nhiều ngư dân đánh bắt ở vùng biển Hoàng Sa còn chứng kiến máy bay trực thăng Trung Quốc bay sát mặt nước từ 10 – 20m. Có đêm, ngư dân thấy bốn trực thăng bay quần thảo như thế. “Có đêm đang lặn thì máy bay lượn sát muốn gãy cần ăngten bộ đàm. Chắc là họ bay xem mình có làm gì trên mấy đảo không…”, ngư dân Nguyễn Chín tiếp lời.
Cần bảo vệ ngư dân yên tâm bám biển
Xác nhận với chúng tôi, ông Bùi Hồng Vân, hội trưởng hội nghề cá xã Bình Châu cho biết, việc hai tàu cá bị Trung Quốc bắt giữ, cướp tài sản ngày 16.5 là có thật. Ông đã báo cáo lên huyện Bình Sơn về tình hình tàu cá bị Trung Quốc bắt. Cũng theo ông Vân, ông đã nghe nhiều ngư dân đánh bắt xa bờ của xã Bình Châu báo cáo gần đây tại vùng biển Hoàng Sa, Trung Quốc đã dùng trực thăng bay cách mặt biển 20m, hăm doạ, làm cho ngư dân ta sợ, bất an khi đánh bắt trên biển.
Chính vì vậy, theo ông Vân, Nhà nước phải tìm mọi cách để đảm bảo cho ngư dân ta an tâm ra khơi. “Nếu tình hình này kéo dài, thiệt hại kinh tế và ảnh hưởng đến đời sống của ngư dân là rất lớn. Bởi nhiều ngư dân ở đây khi bị Trung Quốc bắn, bắt tàu… rơi vào tình cảnh túng quẫn vì tài sản mất, phương tiện đi biển làm ăn cũng không còn”, ông Vân nói.
Ngư dân và chính quyền địa phương cho rằng, Trung Quốc luôn tung ra nhiều chiêu mới trên biển của ta như thế. Và cứ mỗi khi thêm chiêu mới xuất hiện, ngư dân ta đánh bắt trên vùng biển quần đảo Hoàng Sa lại bội phần khó khăn, lo lắng vì thiệt thân, thiệt của.
Đề nghị Trung Quốc chấm dứt bắt giữ tàu cá Việt Nam
UBND huyện Bình Sơn cho hay, cục Lãnh sự bộ Ngoại giao vừa gửi văn bản thông báo cho địa phương biết về việc hai tàu cá của ngư dân xã Bình Châu bị cơ quan Ngư chính Trung Quốc bắt, thu tài sản, ngư lưới cụ và thả về một tàu. Lý do Trung Quốc đưa ra là ngư dân Việt Nam đánh bắt trái phép trên vùng biển Tây Sa (Hoàng Sa), vi phạm các quy định về luật ngư nghiệp của Trung Quốc. Vì vậy phải tịch thu tài sản và ngư lưới cụ.
Ngày 24.5, người phát ngôn bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị tuyên bố, Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc nhanh chóng trả lại tàu cá QNg 55003 TS và toàn bộ tài sản mà Trung Quốc đã thu giữ ngày 16.5, đồng thời chấm dứt các hành động tương tự; việc Trung Quốc cản trở và bắt giữ ngư dân và tàu cá Việt Nam hoạt động nghề cá hợp pháp, bình thường tại vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Dịp này, Việt Nam cũng yêu cầu Trung Quốc trả lại tàu cá QNg 66101 TS mà Trung Quốc bắt giữ ngày 4.3.
P. ANH – V. ANH
Bài và ảnh: Phạm Anh
Theo SGTT

Gửi thư ủng hộ Philippines: nên hay không?


Ngày 21/5/2012 66 người Việt gửi một bức thư đến đại sứ Philippines ở Việt Nam để bày tỏ sự ủng hộ cho Philippines trong cuộc đối đầu với Trung Quốc tại bãi cạn Scarborough. Bức thư này đưa ra những điểm chính:
● Ủng hộ “quyền chủ quyền” của Philippines trong khu vực bãi cạn Scarborough.
● Phản đối việc Trung Quốc dùng đường 9 đoạn nhằm chiếm đoạt vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines, Việt Nam và một số nước ASEAN khác.
● Phản đối “các hành động bất hợp pháp, đe dọa dùng vũ lực” của Trung Quốc.
● Ủng hộ đề nghị của Philippines đưa tranh chấp bãi cạn Scarborough ra Tòa án Luật Biển Quốc tế.
● Kêu gọi chính phủ và nhân dân các nước ASEAN “đoàn kết với và giúp đỡ Philippines bảo vệ quyền chủ quyền trong khu vực [bãi cạn Scarborough] cũng như quyền chủ quyền của mỗi nước và của cả khối ASEAN theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982”.
Ngày 22/5/2012 báo Manila Times đăng bài trên trang đầu về bức thư này, với toàn bộ danh sách những người ký tên. Như vậy sự ủng hộ đó đã được đưa đến toàn bộ nước Philippines, từ người dân đến tổng thống, và khả năng là đến cả các đại sứ quán các nước ASEAN tại Philippines.
Điều đặc biệt nhất về bức thư này là đây là lần đầu tiên mà người dân một nước ASEAN viết thư ngỏ ủng hộ một nước khác trong các tranh chấp tại Biển Đông.
Trên phương diện nội bộ Việt Nam, bức thư này cũng đặc biệt vì có thể cho rằng đó là một hiện thực của ý tưởng “ngoại giao nhân dân” và nằm trong việc “phát huy sức mạnh toàn dân tộc” mà báo chí Việt Nam đã từng đề cao như là những yếu tố cần thiết trong tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông.
Tuy nhiên, vẫn cần phải hỏi các câu hỏi như “Có nên ủng hộ Philippines hay không?” và “Nếu nên thì ủng hộ như thế có vấn đề gì không?”.
Ở đây cần khẳng định rằng bãi cạn Scarborough là hoàn toàn tách biệt với quần đảo Trường Sa, và Việt Nam không có tranh chấp chủ quyền hay vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa với Philippines hay Trung Quốc trong khu vực đó.
Trong bối cảnh rộng hơn, người Việt quan tâm đến tranh chấp biển đảo biết rõ Philippines là một trong những đối thủ của Việt Nam trong tranh chấp Trường Sa, trong quá khứ Philippines đã có hành vi gây thiệt hai cho Việt Nam, bất lợi cho chính họ, và không ai có thể chắc chắn trong tương lai Philippines sẽ hành xử thế nào.
Vì vậy, về câu hỏi “Có nên ủng hộ Philippines hay không?”, có những ý kiến cho rằng Philippines là đối thủ, đã gây phương hại cho Việt Nam trong quá khứ, có thể gây phương hại trong tương lai, bãi cạn Scarborough lại không dính dáng gì đến mình, hãy để mặc cho họ “chết”.
Ngược lại, cũng có ý kiến cho rằng nếu Trung Quốc áp đặt được đường chữ U tại khu vực bãi cạn Scarborough thì điều đó sẽ bất lợi cho Việt Nam trong những khu vực liên quan đến Việt Nam. Ngoài ra, có thể cho rằng nếu đối thủ Philippines đó hợp tác với Việt Nam trong việc chống đường chữ U thì vẫn có lợi cho Việt Nam, và giảm phần nào rủi ro từ họ cho Việt Nam, hơn là nếu họ là đối thủ và không hợp tác. Hiện nay và trong tương lai có thể thấy được nguy cơ cho Việt Nam là từ Trung Quốc hơn là từ Philippines, cho nên việc hợp tác với Philippines để đối phó với nguy cơ từ Trung Quốc là hợp lý.
Để có được sự hợp tác đó, Việt Nam và Philippines phải có một quá trình ngoại giao không ít khó khăn, và không bảo đảm là sẽ thành công. Việc gửi thư ủng hộ Philippines góp phần tạo điều kiện cho quá trình đó bằng hai cách: (1) nhắc nhở các nhà hoạch định chính sách Việt, Phi là Việt Nam và Philippines cần hợp tác để chống đường chữ U, và (2) gây thiện cảm với người dân, giới báo chí và chính khách Philippines.
Không những thế, sự ủng hộ cho Philippines từ các cá nhân người Việt không ràng buộc nước Việt Nam vào bất cứ nghĩa vụ nào. Trung Quốc cũng không nói được đó là chính phủ Việt Nam chống Trung Quốc. Giả sử như cuối cùng Philippines không bao giờ cộng tác với Việt Nam đi nữa, thì việc gửi bức thư đó cũng là một động thái cao quý, góp phần chống lại đường chữ U, và không có giá phải trả cho Việt Nam.
Vì vậy, xét trên phương diện lợi ích cho Việt Nam, nếu đi xa hơn tâm lý “Phillipnes xấu với mình, cho nó chết, nó không ủng hộ mình, dại gì hủng hộ nó” thì việc gửi thư ủng hộ Philippines này là thực tiễn vì nó trực tiếp chống đường chữ U, góp phần tạo điều kiện cho việc hợp tác chống đường chữ U và cho việc giảm rủi ro từ Philippines cho Việt Nam (những điều đó không có nghĩa không còn tranh chấp giữa Việt Nam và Philippines), mà không đòi hỏi Việt Nam phải trả cho Philippines giá gì.
Xét về mặt nội dung của bức thư, tức là về câu hỏi “Ủng hộ như thế có vấn đề gì không?”, những người soạn thư có một số lựa chọn chính.
Lựa chọn thứ nhất: Những người soạn thư có thể ủng hộ chủ quyền Philippines tại bãi cạn Scarborough, nhưng họ đã lựa chọn không làm điều đó. Hiện nay chưa rõ chủ quyền tại bãi cạn Scarborough, tức là chủ quyền đối với các mỏm đá cao hơn mặt nước và lãnh hải 12 hải lý của chúng, thuộc về nước nào. Nếu ủng hộ một bên trong vấn đề chủ quyền thì có khả năng là ủng độ điều sai, cho nên tránh ủng hộ một bên là chính đáng. Bên cạnh đó, nếu ủng hộ một bên trong vấn đề chủ quyền trong khi chưa biết bên nào là đúng thì có thể bị cho là làm điều không công bằng vì vụ lợi cho Việt Nam, chứ không phải hành động vì công lý, và như vậy có thể phản tác dụng. Vì vậy, việc bức thư không ủng hộ bên nào trong vấn đề chủ quyền là chuẩn xác.
Lựa chọn thứ nhì: Những người soạn thư có thể ủng hộ Philippines trên cơ sở chống các hành động lấn lướt hay đe dọa bạo lực từ phía Trung Quốc, phê phán Trung Quốc gây căng thẳng và bất ổn định cho khu vực, ủng hộ việc Philippines đề nghị đưa tranh chấp ra Tòa án Luật Biển Quốc tế, nhưng không nghiêng về bên nào trong các vấn đề đá hay biển là thuộc về nước nào. Những người soạn thư có thể thêm vào đó sự lên án việc Trung Quốc dùng đường chữ U để tạo yêu sách chồng lấn lên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước hữu quan. Lựa chon thứ nhì là hợp lý, cẩn trọng và bao hàm được mục đích chính: chống đường chữ U.
Lựa chọn thứ ba: Có thể đi xa hơn nữa và thêm vào lựa chọn thứ nhì sự ủng hộ cho quyền chủ quyền của Philippines trong khu vực bãi cạn Scarborough. Điểm tế nhị ở đây là “quyền chủ quyền trong khu vực bãi cạn Scarborough” (một cụm thuật ngữ ám chỉ về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa) là khác với “chủ quyền tại bãi cạn Scarborough” (ám chỉ về các mỏm đá cao hơn mặt nước và lãnh hải 12 hải lý của chúng). Lựa chọn này không đi xa bằng lựa chọn thứ nhất: nó không ủng hộ chủ quyền của bên nào đối với các mỏm đá cao hơn mặt nước và lãnh hải 12 hải lý của chúng, nhưng nó ủng hộ quyền chủ quyền của Phi trong khu vực, tức là cho rằng vùng đặc quyền kinh tế trong khu vực đó thuộc về Philippines.
Trên phươngdiện pháp lý, có thể giải thích sự ủng hộ trong lựa chọn thứ ba với lập luận vùng đặc quyền kinh tế trong khu vực đó thuộc về đảo Luzon của Philippines thay vì thuộc về các mỏm đá cao hơn mặt nước tại bãi cạn Scarborough, bất kể nước nào có chủ quyền đối với các mỏm đá đó.
Nội dung của bức thư là sự lựa chọn thứ ba. Tác giả bài viết này cho rằng đó là sự ủng hộ tối đa có thể dành cho Philippines mà vẫn nằm trong sự công bằng, và nó hoàn toàn phù hợp với pháp lý.Việc ủng hộ Philippines trong vấn đề vùng đặc quyền kinh tế trong khu vực bãi cạn Scarborough cũng là cụ thể hóa việc chống đường chữ U.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại câu hỏi là đi xa đến mức thứ ba đó có phương hại gì cho Việt Nam hay không. Theo ý kiến của tác giả, nó không gây ra phương hại gì.
Thứ nhất, Việt Nam không có yêu sách biển đảo gì trong khu vực bãi cạn Scarborough cho nên bức thư không có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi gì của Việt Nam.
Thứ nhì, bức thư không nói gì về chủ quyền (tức là đối với đảo, đá và lãnh hải 12 hải lý) mà chỉ nói về quyền chủ quyền (thông thường được hiểu là đối với vùng biển cách đảo đá hơn 12 hải lý), cho nên không thể suy diễn gián tiếp gì về, hay gây phương hại cho, vấn đề chủ quyền, thí dụ như đối với các đảo, đá ở Hoàng Sa, Trường Sa.
Vậy bức thư đó có ý nghĩa gián tiếp gì cho vấn đề vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở khu vực Hoàng Sa, Trường Sa hay không?
Có thể nói rằng nếu những người ký tên cho rằng các mỏm đá tại bãi cạn Scarborough không giành được phần nào của vùng đặc quyền kinh tế từ đảo Luzon, mà sau này lại cho rằng những mỏm đá giống chúng hoặc nhỏ hơn ở Hoàng Sa, Trường Sa lại giành được từ đảo Hải Nam, Palawan, Borneo, thì sẽ thiếu nhất quán.Nhưng điều đó không quan trọng vì (a) Trước sau gì thì cũng thiếu hợp lý, thiếu hợp pháp, nếu dùng những mỏm đá cao hơn mặt nước nhỏ như cái chiếu để đòi giành vùng đặc quyền kinh tế từ những vùng lãnh thổ có bờ biển dài hàng trăm km, (b) Nếu chúng ta đòi như thế thì người khác cũng có thể đòi ngược lại nhằm xâm lấn vào vùng đặc quyền kinh tế từ bờ biển đất liền nước ta, (c) Nếu họ muốn, những người ký tên vẫn có thể dùng nhiều đảo, đá khác, thí dụ như lớn hơn các mỏm đá tại bãi cạn Scarborough, trong hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, để đòi giành vùng đặc quyền kinh tế, (d) Một bức thư của 66 người dân không có tính cách ràng buộc pháp lý hay chính trị cho nước Việt Nam, và Việt Nam vẫn hoàn toàn có tự do để lựa chọn lập trường của mình trong tuyên bố cũng như trong đàm phán.
Vì vậy, việc gửi bức thư đó là một hành động độc đáo góp phần vào những viên gạch tạo điều kiện cho việc xây dựng một sự hợp tác giữa Việt Nam và Philippines nhằm chống đường chữ U mà không gây phương hại gì cho Việt Nam. Hiện nay còn quá sớm để biết có thể xây dựng được sự hợp tác đó hay không. Nhưng góp phần đặt những viên gạch tạo điều kiện như thế vẫn là hay hơn hẳn không làm gì. Câu hỏi kế tiếp là người dân và chính phủ Việt Nam và Philippines có thể làm gì để xây lên trên những viên gạch đó.
Dương Danh Huy (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

Bút tích cụ Huỳnh Thúc Kháng về chủ quyền quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa – Việt Nam


Cụ Huỳnh Thúc Kháng

Đã 65 năm ngày Cụ Huỳnh Thúc Kháng yên nghỉ trên núi Thiên Ấn – Quảng Ngãi (21/4/1947), nhưng mỗi lần nhớ đến Cụ chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động hồi tưởng về một con người đã cống hiến trọn đời mình cho dân cho nước. Còn nhớ vào đầu thế kỷ XX, Cụ Huỳnh Thúc Kháng sau khi đỗ Hội nguyên Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1904), lúc chỉ mới 28 tuổi, mặc dù học giỏi đỗ cao, danh tiếng lừng lẫy nhưng đã không ra làm quan với triều đình phong kiến bù nhìn nhà Nguyễn. Trước cảnh đất nước nghèo khổ lầm than dưới ách bọn thực dân đế quốc, Cụ cùng các sĩ phu yêu nước khác phát động phong trào Duy Tân để mở mang dân trí, tăng cường sức mạnh cho đất nước. Cuộc vận động này xuất phát từ Quảng Nam năm 1905 rồi lan nhanh ra các tỉnh Trung Kỳ và sau đó phát triển đến các tỉnh Nam Kỳ và Bắc Kỳ. Do ảnh hưởng ngày càng lớn của phòng trào, năm 1908 Cụ bị thực dân Pháp bắt đày đi Côn Đảo. Đến năm 1921 khi ra tù, Cụ về làm chủ bút báo Tiếng Dân và Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ.
Sau Cách mạng tháng Tám, Cụ tham gia chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giữ chức Bộ trưởng bộ Nội vụ, quyền Chủ tịch nước, Chủ tịch hội Liên Việt. Dù ở cương vị nào con người của Cụ cũng luôn toát lên một nhân cách “giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả cuộc đời cụ Huỳnh không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu; cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập…”(1)
Là một người ngay thẳng, chỉ biết nói điều hay lẽ phải, bởi thế ngay trong số đầu ra mắt báo Tiếng Dân ngày 10-8-1927, Cụ Huỳnh từng công khai tuyên bố: “Nếu không có quyền nói tất cả những điều mà mình muốn nói thì ít ra giữ những quyền không nói những điều người ta ép buộc nói”(2). Chỉ cần một tuyên ngôn đó cũng đủ để thấy nhân cách con người Huỳnh Thúc Kháng.
Phải nói rằng, bên cạnh những đóng góp trong hoạt động của phong trào Duy Tân, hoạt động dân biểu, hoạt động trên lĩnh vực báo chí, Cụ còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu. Một trong những đóng góp của Cụ đối với đất nước là những bài chuyên luận bàn về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Những bài viết của Cụ được đăng tải trên tờ Tiếng Dân mà Cụ là chủ bút. Đó không phải là những lời tuyên bố sáo rỗng, vô căn cứ, trái lại, Cụ đặc biệt chú ý đến các luận cứ khoa học để chứng minh chủ quyền quần đảo Hoàng Sa của đất nước ta (3)
 Từ giữa những năm 1938 trở đi, việc tranh chấp quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa) giữa Pháp và Nhật hết sức gay gắt. Tháng 3/1939, Nhật chiếm quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam đặt dưới quyền cai trị của Pháp. Từ ngày 12/7/1938, Tiếng Dân bắt đầu đăng một loạt bài về quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa) như: “Quần đảo Tây Sa (Paracels) với Pháp” (Tiếng Dân, số 1280), “Quần đảo Tây Sa trở thành vấn đề quan trọng” (Tiếng Dân, số 1281), “Việc Paracels (Tây Sa), Pháp chính thức nhận chủ quyền đảo ấy (Tiếng Dân, số 1282). Đặc biệt, Tiếng Dân còn có một bài nghiên cứu, bình luận dài, viết rất công phu và có giá trị: Dấu tích đảo Tây Sa (Paracels) trên lịch sử Việt Nam ta và giá trị bản Phủ Biên Tạp lục” (Tiếng Dân, số 1284, 23/7/1938) do Sử Bình Tử tức Huỳnh Thúc Kháng viết. Trong bài báo này Cụ đề cập đến việc tranh chấp quần đảo Hoàng Sa đã trở nên nghiêm trọng: “Như trong bài báo Tiếng Dân số trước đã nói, đảo Tây Sa là mấy hòn đảo con con làm nơi trú cho loài chim biển ở ngoài biển khơi, không ai cần để ý đến, mà nhân cuộc Trung Nhật chiến tranh trở nên một vấn đề nghiêm trọng trên trường quốc tế, rõ là một điều không ngờ” (2)  Và Cụ khẳng định: “Theo các báo cáo ta gần đây sưu tập các tài liệu về đảo Tây Sa để chứng minh thì đảo ấy là phần sở hữu của nước Nam ta, vì chính người Nam đã chiếm trước hết và đã kinh dinh các công cuộc ở đảo ấy…” (3) Cụ đã liệt kê các tài liệu phong phú: Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, Đại Nam Nhất Thống Chí cả bản trước và bản của Cao Xuân Dục soạn lại, Triều Chính Yếu Thực Lục của hai triều Gia Long – Minh Mạng, Lịch Triều Hiến Chương của Phan Huy Chú hoặc Cống Hạ Ký Văn của Dương Quốc Dung, Mán Hình Thi Thoại và Đông Hành Thi Thuyết của Lý Văn Thức, Biển Sử Cương Giám của Nguyễn Thông… trong đó đều đề cập đến Hoàng Sa và chủ quyền của nước ta từ thời bấy giờ. Trong số đó Cụ Huỳnh nhấn mạnh giá trị của Phủ Biên Tạp Lục bởi sự khẳng định chuẩn xác các yếu tố hành chính, địa lý, kinh tế, quân sự của một nhà khoa học uyên thâm. Qua bài báo “Dấu tích đảo Tây Sa (Parasels) trong lịch sử Việt Nam ta và giá trị bản “Phủ Biên Tạp Lục”, trước hết, Cụ Huỳnh nhấn mạnh vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa cần phải dựa vào các tài liệu chữ Hán làm minh chứng: “…chúng ta lại phát kiến một điều không ngờ nữa là một mớ sách chữ Hán của tiền nhân ta lâu nay đã bỏ xó, lề hư bìa nát, phần đông nhất là bạn thanh niên, cho đó là một thứ học mượn, thứ chữ chết, không cần đếm xỉa đến, nay nhânvấn đề đảo Tây Sa, trở thành món tài liệu rất quý giá có quan hệ đến công pháp quốc tế không phải là ít”.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng yên nghỉ trên núi Thiên Ấn – Quảng Ngãi (21/4/1947). Ảnh HDTG
Từ đó Cụ dựa vào các tài liệu cổ sử để chứng minh đảo Hoàng Sa thuộc quyền quản lý của nước ta; cụ thể:
1. Trước hết Cụ dựa vào tài liệu Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Ðôn cuối đời Lê để viết: “… nơi phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn, làng An Bình gần biển, ngoài biển có nhiều hòn đảo, trong đó có đảo Hoàng Sa dài ước 30 dặm. Rồi kể vật sản: yến sào, chim biển, ốc taive, xà cừ, đồi mồi, hải sâm… Sử chép truyện Chúa Nguyễn có đặt đội Hoàng Sa 70 suất thay phiên ra đảo lấy hải vật, đi ba ngày đêm đến đảo, mỗi năm tháng 3 đi, tháng 8 về; lại có chép sao biên bản của Thuyên Ðức Hậu là cai quản đội Hoàng Sa ấy, kể rõ mỗi năm nhặt được thiếc mấy cân, vàng mấy hốt, đồi mồi, yến sào mấy cân, lại có khi nhặt được đồng khí, súng tiền… (những thứ có lẽ là đồ vật của những chiếc tàu chìm đây đó). Ðến giá trị nhất là tờ công văn của Quan Chánh Ðường quan huyện Văn Xương, phủ Huỳnh Châu (Trung Hoa) gởi sang Chúa Nguyễn ở Thuận Hóa khi hộ tống hai tên trong đội Hoàng Sa bị phiêu bạt sang đây; trong “Thuận Hóa” công văn có chép: “Năm Càn Long thứ 19 (1754, triều Hiến Võ năm thứ 17) tên quân đội Cát Vàng, người làng An Bình, huyện Chương Mỹ, phủ Quảng Ngãi, nước An Nam, ngày tháng 7 đi ra Vạn Lý Trường Sa tìm nhặt các hải vật, tám tên lên bờ tìm nhặt để hai tên lại giữ thuyền, rủi bị trận bão, đứt dây neo, thuyền trôi dạt vào bãi biển Tàu, viên huyện Văn Xương cho thuyền về xứ, chúa truyền Nguyễn Thuận Hóa cai bạ Thức Lượng Hầu làm thư phúc đáp.Ðọc đoạn đại lược chép trên, thấy công trước tác của cụ Lê Quý Ðôn thật không phụ cái tiếng “tài cao học rộng” và sách “Phủ Biên Tạp Lục” giá trị đáng quý là dường nào! (Bản này không chỉ kể chuyện trên, nào việc Xiêm La, Chân Lạp… cho đến làng xã, thuế khóa, vật sản, đường thuỷ, đường lục, cầu trạm, quán xá đều có chép). Trong nước có bản sách quý hóa như vậy mà chỉ có bản chép bằng tay, tam sao thất bản, rồi gác vào xó kín, không đem ấn hành và công bố sách độc, sách dạy; đến ngày nay nhân dịp có việc mới nhắc đến! để mong góp chút ánh sáng nhỏ nhoi truyền đến người đọc. Như thế trách nào dân không ngu. Rõ thẹn với hai chữ “văn hiến” biết bao” .
2. Dựa theo Lịch Triều Hiến Chương của Phan Huy Chú, Cụ viết: “ Cống Hạ Ký Văn của cụ Dương Quốc Dung dưới mục Phong Vực co nhắc đến…ngoài phần biển Quảng Ngãi có đảo Hoàng Sa từ cửa biển Sa Kỳ đi hướng đông, ba ngày đêm thì đến nơi, cồn cát nơi đứt nơi nối, vài mươi dăm không sao kể hết, dấu người ít đến”.
3. Cụ dựa vào Mán Hình Thi Thoại và Ðông Hành Thi Thuyết của cụ Lý Văn Thứcghi lại trong những chuyến đi Trung Quốc và Lucon (Philippines): Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) cụ đi Phúc Kiến có chép: “Thuyền đi về bến hữu, nơi gọi là “Vạn Lý Thạch Ðường” đều là cát vàng (Hoàng Sa) cũng gọi là “Vạn Lý Trường Sa”; Cụ có bài thi có câu: Vạn Lý Trường Sa bí tuyệt hiểm Thất châu cuồng lăng nhạ oan hào. Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) cụ lại đi Lữ Tống (Lucon) đảo Phi Luật Tân hồi đó thuộc Tây Ban Nha. Thuyền từ Quảng Ngãi đi theo hướng đông, bị gió lạc vào vùng Vạn Lý Trường Sa cụ có bài dẫn nói: Một chòm đảo cát nổi lên giữa biển, phía Tây là biển Quảng Ngãi phía Bắc tiếp biển Quảng Ðông, Phúc Kiến, phía đông tiếp biển Lữ Tống, phía Nam thì kéo dài… là một nơi tuyệt hiểm có thuyền bè.
4. Tiếp đến Cụ dẫn Ðại Nam Nhất Thống Chí cả bản trước và bản của cụ Cao Xuân Dục mới soạn lại và Bản Triều Chính Yếu Thực Lục cả tiền triều và triều Minh Mạng, Bản Biển Sử Cương Giám của Nguyễn Thông để minh chứng: Đảo Tây Sa là phần sở hữu của nước Nam ta, vì chính người Nam đã chiếm trước hết và đã kinh dinh các công cuộc ở đảo ấy…
5. Cuối cùng Cụ kết luận, vấn đề “quốc tịch đảo Tây Sa” này, nếu trên sân khấu quốc tế, nhận chủ quyền sở hữu của những ai chiếm trước và có tài liệu làm chứng hẳn hoi, như luật điền thổ, khai tài, khai lập nghiệp ở xa, bằng theo lộ tịch và phân thư chúc từ của tiền nhân để lại, tưởng không có nước nào có chứng cứ đầy đủ như nước ta. Quyền ngoại giao ta ngày nay đã phó thác cho nước Pháp, quyền này đã có nước Bảo Hộ đối phó. Ký giả viết bài này cốt có hai điều cảm khái:
- Triều Nguyễn ta từ đời Minh Mạng về trước rất lưu tâm mặt quốc phòng, không chỉ về mặt biên giới lục địa như Xiêm La, Cao Miên, săn sóc mở mang, mà về đường hải phận thường có thuyền quan phải đi khảo sát và giao thiệp với các xứ ngoài (đời ấy gọi là Dương Ðình Hiệu Lực).
- Những sách tiền nhân ta viết bằng chữ Hán, trong đó có nhiều sách giá trị quý báu, có quan hệ đến quốc gia và xã hội rất đáng biểu dương, không phải đáng mạt sát hết như phần đông các thiếu niên đã tưởng lầm. Nhân vấn đề đảo Tây Sa này, may ra những sách có giá trị trong kho Hán học bỏ xó kia, có một vài thứ đã chết sẽ sống lại chăng? (5)
Như vậy, theo Cụ Huỳnh Thúc Kháng, về vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa cần phải chú ý đến các yếu tố sau đây:
1. Vấn đề tranh chấp quần đảo Hoàng Sa đã diễn ra từ cuối những năm 40 của thế kỷ XX.
2. Quốc gia nào có đầy đủ các bằng chứng, cứ liệu sớm về phân thư, chúc thư, luật điền thổ – lập nghiệp của tiền nhân để lại, cũng như các thư tịch cổ khẳng định chủ quyền của quần đảo này thì quốc gia đó có luận cứ khoa học khẳng định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa thuộc về mình.
3. Cần sử dụng các tư liệu Hán Nôm, các tài liệu thuộc về thư tịch cổ để tìm cơ sở khoa học cho chủ quyền quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam đã từ lâu.
4. Cần chú ý nghiên cứu triều Nguyễn về vấn đề bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, đặc biệt là biên giới biển đảo.
5. Trong tất cả các tài liệu cổ, tác phẩm Phủ biên Tạp lục của Lê Quý Đôn là tài liệu có giá trị nhất về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa đối với Việt Nam.
Tóm lại, đã 65 năm trôi qua sau ngày mất của Cụ Huỳnh Thúc Kháng, nhưngnhững trăn trở, suy nghĩ, những lời răn dạy của Cụ về đất nước, về chủ quyền biển đảo vẫn còn nguyên giá trị lịch sử của nó. Nhớ về Cụ, chúng ta không chỉ nhớ về một con người có nhân cách trong sáng, ngay thẳng, trung thực, “không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm giàu sang” chỉ “phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”; nhắc lại những bút tích của cụ về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, ta lại càng thấm thía hơn đạo đức, nhân cách và trách nhiệm của Cụ đối với dân tộc và đất nước.
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Văn Mạnh
Đại học Đông Á
Chú thích:
(1)Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về Cụ Huỳnh Thúc Kháng khi Cụ qua đời, ngày 21/4/1947; dẫn theo Trương Điện Thắng(2009), Huỳnh Thúc Kháng và bài báo khẳng định chủ quyền Hoàng sa, http: biendaovietnam.com/2009/12/21
(2) Dẫn theo Trương Điện Thắng(2009),
(3) Quần đảo Hoàng Sa nằm ở giữa kinh tuyến 111-118 độ Đông và vĩ tuyến 14.45 – 17.15 độ Bắc cách cửa biển  Đà Nẵng 350km đường biển. Quần đảo Hoàng Sa là 1 huyện đảo thuộc thành phố Đà Nẵng; quần đảo gồm 2 nhóm đảo: nhóm Bắc gồm đảo Cây (Cù Mộc), đảo Trung, đảo Bắc, đảo Nam, đảo Tây, đảo Côn Nam, đảo Hòn Đá, đảo Linh Côn, đảo Phú Lâm; nhóm Tây gồm đảo Hoàng Sa, đảo Duy Mộng, đảo Quang Ánh, đảo Quang Hòa, đảo Bách Quy, đảo Trì Tôn.
(4) Nguyễn Thành(1992), Lịch sử báo Tiếng Dân, tr.200
(5)Những bút tích trên đều dẫn từ Huỳnh Thúc Kháng (1938), Dấu tích đảo Tây Sa (Paracels) trên lịch sử Việt Nam ta và giá trị bản “Phủ biên tạp lục”Tiếng Dân, số 1284 ngày 23-7-1938.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Huỳnh Thúc Kháng (1938), Quần đảo Tây Sa (Paracels) với Pháp, Tiếng Dân số,
1280 ngày 12/7/1938, Quần đảo Tây Sa trở thành vấn đề quan trọng, Tiếng Dân số,
1281 ngày 16/7/1938; Việc Paracels (Tây Sa), Pháp chính thức nhận chủ quyền đảo ấy,
Tiếng Dân, số 1284 ngày 19-7-1938, Dấu tích đảo Tây Sa (Paracels) trên lịch sử Việt
Nam ta và giá trị bản “Phủ biên tạp lục”,Tiếng Dân, số 1284 ngày 23-7-1938.
2. Nguyễn Thành(1992), Lịch sử báo Tiếng Dân, NXB Đà Nẵng.
3. Trương Điện Thắng (www.thanhnien.com.Việt Nam)

Thứ Năm, ngày 24 tháng 5 năm 2012

Trách nhiệm với đồng thuế của người dân


Nhân dân, cử tri không cần những ông giám đốc đi tù, vì mất mát thua lỗ mấy trăm, mấy ngàn tỷ thì bao nhiêu năm tù, bao nhiêu ông giám đốc có thể đổi lại.
Khi vụ HAGL nợ thuế được đưa công khai lên báo chí, một quan chức của Cục thuế đã khẳng định như đinh đóng cột “HAGL được phép nợ thuế”. Một lời khẳng định đơn giản nhưng lại đặt ra một thực tiễn không đơn giản: Quyền cho nợ hay bắt nợ thuộc nhà nước. Và quan trọng hơn, được nợ hay bắt nợ lại tùy vào…cảm hứng, vào sự biết điều của DN.
Chính vì thế, khi thì tình trạng khai man, trốn nợ thuế, gian lận thương mại được đánh giá trong báo cáo của Chính phủ là “diễn ra phổ biến”, nhiều vị đại biểu QH đã ngờ ngợ. Hình như chuyện trốn nợ “diễn ra phổ biến” là chuyện “ đến hẹn lại lên” mà năm nào cũng diễn ra. Miếng bánh ngân sách vốn đã teo tóp giờ lại càng teo tóp. Đến hôm qua, những người dân đóng thuế dường như phần nào đã hiểu vì sao các biện pháp quản lý, trong lĩnh vực giao thông chẳng hạn, luôn nhòm ngó đồng tiền còm còn sót lại trong túi người dân. Đại biểu QH Võ Thị Dung (TP HCM) hôm qua đã nói đến tình trạng NSNN đã phải “vay” 38% quỹ bảo hiểm xã hội. Thế là ngoài nguồn thuế của dân, nguồn tiền từ phí cũng bổ đầu dân, giờ đến nguồn quỹ phúc lợi cũng bị trưng dụng một cách “quá dễ dãi, thiếu trách nhiệm”- như đánh giá của bà Dung.
Nhưng sự teo tóp của ngân sách, nhưng vài ngàn tỷ đồng nợ thuế thực ra chẳng thấm tháp gì so với mức độ và tốc độ chi tiêu công và đặc biệt là so với khả năng tiêu tiền “có năng khiếu” của DNNN. Hôm qua, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ đã nói đến “Quy chế giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động đối với doanh nghiệp Nhà nước”. Ông Bộ trưởng thậm chí nói đến “Cơ chế giám sát đặc biệt” đối với các DNNN làm ăn thua lỗ, có dấu hiệu mất vốn nhà nước. Theo đó, cơ chế giám sát đặc biệt sẽ áp dụng trong trường hợp DNNN kinh doanh thua lỗ, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu vượt mức an toàn theo quy định. Có lỗ phát sinh từ 30% vốn chủ sở hữu trở lên hoặc tổng lỗ lũy kế lớn hơn 50% vốn chủ sở hữu. Hệ số khả năng thanh toán nợ quá hạn thấp hơn 0,5. Và “báo cáo không đúng sự thật tình hình tài chính của DN”. Sự giám sát này cũ mèn. Và làm sao mà giám sát cho xuể khi hàng năm có bình quên 12% đơn vị của Nhà nước bị thua lỗ, với mức lỗ bình quân cao hơn 12 lần so với các khu vực khác.
Và nếu chỉ giám sát đặc biệt khi các DN lỗ, nợ đến mức sắp “đắm” thì phải chăng quá bất công cho những đồng thuế của dân?
Đến đây, không thể không nói về hàng ngàn tỷ phân bổ cho các tập đoàn, DNNN mỗi năm. Bởi trong khi các tập đoàn, tổng công ty có nguồn vốn tới 30-40 tỷ USD nhà nước “không lấy một đồng xu tiền lãi” thì mỗi năm nhà nước vẫn phải ném ra thêm hàng ngàn tỷ. Nguồn vốn “không giới hạn”, sự “hữu hạn” về trách nhiệm, tài nguyên quốc gia gần như được dùng “chùa” những lợi thuế cực lớn này, thật ngạc nhiên lại chỉ “đẻ” ra mức lợi nhuận trước thuế 13,1% thấp hơn nhiều so với lãi suất ngân hàng.
Nói thẳng ra là việc sử dụng đồng vốn với lợi nhuận chưa bằng lạm phát, các DNNN đang ăn dần vào đồng vốn, cũng là tiền thuế của dân.
Nhân dân, cử tri không cần những ông giám đốc đi tù, vì mất mát thua lỗ mấy trăm, mấy ngàn tỷ thì bao nhiêu năm tù, bao nhiêu ông giám đốc có thể đổi lại.
Thưa các vị đại biểu QH, một đồng tiền mà nhà nước tiêu là một đồng tiền thuế của dân. Giám sát việc chi tiêu những đồng tiền thuế của dân cũng chính là việc của cơ quan dân cử. Bởi nếu hàng năm QH bấm nút phê duyệt dự toán ngân sách mà chi tiêu công cứ liên tục bội chi thì nhân dân phải đóng thêm bao nhiêu thuế để có thể trả nổi?
Đào Tuấn