Thứ Bảy, ngày 09 tháng 6 năm 2012

Dương Trung Quốc: vì sao gần 40 năm.. vẫn như thời kỳ Tây cai trị ?

vì sao đất nước đã hòa bình gần 40 năm mà con đường huyết mạch số 1 hay hệ thống đường sắt vẫn gần như thời kỳ Tây cai trị. Vì sao trên lĩnh vực công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực được coi là mục tiêu chiến lược và được Chính phủ đầu tư nhiều nhất, trong đó đặt vai trò là động lực hàng đầu cho các tập đoàn nhà nước lại là lĩnh vực kém thành công nhất.
Ý kiến của ĐBQH Dương Trung Quốc tại Quốc hội chiều ngày 7/6/2012
Đại biểu Dương Trung Quốc  
Kính thưa Quốc hội,
Tôi không nhắc lại nhiều ý kiến của nhiều vị đại biểu Quốc hội phát biểu trước tôi để đồng tình với một số đánh giá tích cực trong hoạt động của Chính phủ thể hiện trong báo cáo. Tôi muốn tiếp cận từ cách nhìn khác.
Qua năm tháng tham gia Quốc hội, tôi nghiệm thấy một Quốc hội như thế nào sẽ có một Chính phủ như thế đó, phương thức hoạt động của Quốc hội là nửa năm triệu tập một kỳ họp nghe bản báo cáo với nội dung chủ yếu là nhìn lại 6 tháng vừa qua, hướng tới mục tiêu 6 tháng tiếp theo. Thời điểm cuối tháng 5, cuối tháng 10 mỗi năm thật lỡ dở để có dịp nhìn lại trọn vẹn từng năm, cứ tập trung vào bản báo cáo 6 tháng 1 lần khó có thể nhận dạng bức tranh toàn cảnh của đất nước. Với tầm nhìn mỗi nửa năm ấy,  bản Báo cáo của Chính phủ chỉ nêu lên việc đã làm như những thành tựu đã đạt được, đưa ra một số sai sót yếu kém gắn với những vấn đề nổi cộm dư luận đang quan tâm và đưa ra những giải pháp thường là ngắn hạn, ít mới mẻ.
Để ngắm bức tranh toàn cảnh cần có độ lùi về không gian và thời gian, hoàn cảnh cho tôi đến nay đã được dự khoảng 20 phiên, đọc chừng 20 bản Báo cáo của Chính phủ, bằng cảm quan nghề nghiệp của mình nhận ra cái mạnh, cái chưa mạnh của Chính phủ, mạnh nhất của Chính phủ là khả năng ứng biến, năng lực giải quyết tình huống. Phải chăng đây là sự kế thừa của truyền thống hình thành trong thời chiến. Năng lực ấy đã phát huy tác dụng tích cực khi chúng ta thực hiện mục tiêu chính nghĩa, một đường lối đúng đắn có sự hậu thuẫn về ý chí của toàn dân, lại có tầm nhìn sáng suốt của người đứng đầu. Cái mạnh ấy đã giúp Chính phủ cứ 6 tháng một lần lại vượt qua được những thử thách của thực tiễn, đạt được những mục tiêu ngắn hạn và cũng vượt qua được một kỳ họp cũng là một kỳ chất vấn của Quốc hội để rồi lại dấn thân phấn đấu cho 6 tháng tiếp theo. Vì thế những thành tựu ấy khó bền vững và những khuyết điểm yếu kém của Chính phủ luôn lặp lại gần như là một điệp khúc không mấy thay đổi qua các bản báo cáo.
Nói như vậy tôi hoàn toàn không phủ nhận những nỗ lực của Chính phủ, các thành viên của Chính phủ và bộ máy của Chính phủ, cũng như chia sẻ những khó khăn khách quan mà cuộc khủng hoảng kinh tế mang tính toàn cầu cũng như cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền rất phức tạp mà Chính phủ phải gánh vác. Nói như vậy cũng không có nghĩa là xem thường năng lực ứng phó và giải pháp tình huống nhưng chỉ như vậy thì không đủ. Bởi vì nếu cứ tiếp tục như thế này thì mãi mãi chúng ta không thể theo kịp những yêu cầu ngày càng khắt khe của sự phát triển bền vững, cũng như hội nhập với thế giới đang cạnh tranh quyết liệt và đầy những biến động rủi ro. Hơn thế nó cũng không đáp ứng được mong muốn của nhân dân ngày càng có năng lực thể hiện quyền dân chủ của mình mà hoạt động của Quốc hội có trách nhiệm phải đáp ứng.
Kính thưa Quốc hội,
Một trong những chức năng quan trọng cũng là trách nhiệm nặng nề nhất của Chính phủ là điều hành đất nước ở tầm vĩ mô và mang nội hàm về không gian to lớn lẫn thời gian lâu dài. Ta có thể đặt ra những câu hỏi vì sao đất nước đã hòa bình gần 40 năm mà con đường huyết mạch số 1 hay hệ thống đường sắt vẫn gần như thời kỳ Tây cai trị. Vì sao trên lĩnh vực công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực được coi là mục tiêu chiến lược và được Chính phủ đầu tư nhiều nhất, trong đó đặt vai trò là động lực hàng đầu cho các tập đoàn nhà nước lại là lĩnh vực kém thành công nhất. Để nhắc đến một thương hiệu hay một sản phẩm công nghiệp đáng để cho thế giới biết đến thì dường như chưa có còn nhắc đến con số như thất thoát ngân sách khổng lồ gắn với những đổ vỡ của một số tập đoàn như Vinashin, Vinaline thì có ai mà không xót ruột.
Trong khi đó như chúng ta vừa thảo luận về nông nghiệp, nông dân và nông thôn thì chính những người nông dân, ngư dân vốn ít được sự quan tâm đầu tư của Chính phủ, thậm chí phải chịu đựng nhiều rủi ro không chỉ của thiên tai mà của cả môt số sai sót trong điều hành của Chính phủ lại làm nên những thành tựu, những thương hiệu hơn hẳn công nghiệp trên nhiều lĩnh vực quan trọng, thực tiễn đã vượt qua sự chủ động trong tầm nhìn và tầm tay quản lý của Chính phủ.
Một ví dụ nữa, đội ngũ cán bộ, công chức được tuyển chọn, đào tạo trong đó dường như ai cũng được bồi dưỡng những khoa học về quốc phòng toàn dân mà vẫn để hiện tượng sử dụng lao động người nước ngoài, cho thuê đất rừng hay khai thác khoáng sản và gần đây nhất là nuôi hải sản ngay tại những vị trí trọng yếu an ninh quốc gia đều vượt ra ngoài tầm kiểm soát của bộ máy nhà nước. Nhìn vào bản đồ quốc gia, chúng ta sẽ thấy không ít sự bất hợp lý và lãng phí, hệ quả của mối quan hệ giữa Chính phủ Trung ương và các chính quyền địa phương bị chi phối bởi tầm nhìn của bộ, cũng như sự thỏa hiệp của mối quan hệ xin, cho. Tôi nhấn mạnh mối quan hệ xin, cho đang ngày càng trầm trọng và gây tác hại lớn nhất cho điều hành đất nước, phá hoại những giá trị xã hội tạo nên hiện tượng đáng quan ngại không chỉ là những vụ tham nhũng và thất thoát lớn đã được phát hiện hay không thể phát hiện mà còn là hiện tượng đã được thừa nhận là tham nhũng vặt. Trong khi đó đối với dân chính bộ máy công quyền ấy lại phải chăng quá khắt khe cảnh giác để rồi hành xử có phần vụng về, thô bạo đối với bộ phận nhân dân làm phương hại đến hình ảnh của một Nhà nước của dân, do dân vì dân mà chúng ta đang phấn đấu. Chỉ số lòng tin đối với Chính phủ chưa khi nào được quan tâm tính đến, nhưng chắc chắn không như chúng ta mong muốn. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó, nhưng theo tôi nguyên nhân đáng quan ngại nhất là năng lực lắng nghe của Chính phủ.
Nhìn lại một chặng đường dài, thời gian dài hơn mỗi kỳ họp, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều vấn đề đã được cảnh báo đến từ phát biểu của các nhà khoa học hay hoạt động xã hội trong đó có những đại biểu Quốc hội từ rất nhiều cuộc hội thảo về đề tài nghiên cứu v.v… mà Chính phủ chậm tiếp thu để rồi thực tiễn chứng minh những lời cảnh báo đó đã trở thành hiện thực. Năng lực lắng nghe bị hạn chế, phải chăng do Chính phủ chưa tin vào dân, vào những người không nằm trong bộ máy tư vấn gần gũi của Chính phủ liệu có phải là lợi ích nhóm hay không?
Trong những hạn chế của Chính phủ đó có trách nhiệm của Quốc hội, vì sao khi thảo luận về Luật phòng, chống tham nhũng nhiều vị đại biểu Quốc hội và dư luận xã hội đã can rằng không nên giao trách nhiệm đứng đầu cơ quan này cho cơ quan hành pháp, thế mà chính Quốc hội chúng ta lại thông qua luật để tới nay lại phải sửa lại. Vì sao từ nhiệm kỳ trước Quốc hội, tôi đã thấy các vị đại biểu nêu lên sự cần thiết phải xây dựng luật nhằm quản lý và phát huy vốn của Nhà nước, Quốc hội vẫn chưa tiếp thu. Vì sao khi xảy ra những vụ việc như Tiên Lãng – Hải Phòng, Văn Giang – Hưng Yên chẳng thấy Quốc hội sớm vào cuộc. Tại sao xảy ra hiện tượng người Trung Quốc nuôi cá ngay địa bàn quân sự Cam Ranh, người phát hiện chỉ là báo chí. Tất cả các bản Báo cáo ngân sách Chính phủ trình Quốc hội đều cho qua thì sự thất thoát ngân sách lớn như thế có trách nhiệm của Quốc hội không?
Khi nói đến Quốc hội, tôi cũng ý thức được rằng trong đó có cả chính mình. Từ những ý kiến trên, tôi kiến nghị các bản Báo cáo mỗi kỳ họp của Quốc hội, của Chính phủ ngoài phần báo cáo như cách viết hiện nay, Quốc hội cần hướng việc giám sát vào những vấn đề nổi bật gắn với tầm điều hành vĩ mô của Chính phủ để thấy những tiến bộ của Chính phủ sau mỗi kỳ họp thông qua đánh giá việc thực hiện những mục tiêu lớn và dài hạn.
Cuối cùng, tôi xin nhắc lại lời của người xưa đúc kết về thuật trị nước, đó là câu đối thời hậu Lê Hoàng Ngũ Phúc và một thời kỳ lịch sử rối ren ông đã nhắc nhở: “Nước lấy dân làm gốc, nước bình yên, nước hãy để dân yên. Dân lấy nước làm lòng, khi nhiễu sự dân ra gánh vác”. Thử đặt ra một câu hỏi vào thời điểm này khi nhiễu sự liệu dân có ra gánh vác như những thời kỳ đầy thử thách trong quá khứ lịch sử oai hùng của chúng ta không? Đặt câu hỏi đó Chính phủ sẽ thấy nhiều việc cần phải làm. Xin hết, xin cảm ơn Quốc hội.
Trích từ BẢN TỔNG HỢP THẢO LUẬN TẠI HỘI TRƯỜNG (Ghi theo băng ghi âm) buổi chiều ngày 07/06/2012.
Theo Web Chính phủ (tải bản đầy đủ  tại đây)

Ảo lòi với sự phá giá “vé tàu nhanh”


Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ thăm Cam Ranh. Người Tàu trổ tài nuôi cá bên quân cảng. Giá “tàu nhanh” bị phá ngoạn mục. Và Bộ Giáo dục ra đề thi về “sự dối trá”. Tất cả đều có một điểm chung: Đây là chuyện bình thường.
Trong số thường dân áo vài “đi xe ware, như cu ly, đèo em đi trà đá đê”, như trong lời bản nhạc nhái “Em yêu ảo lòi” đang hot trên mạng, hẳn có khối người đặt một dấu hỏi to đùng xung quanh cái sự sang của những người đẹp. Giàu chưa chắc đã sang, nhưng sang phần nhiều sinh ra từ giàu. Làm thế nào để chuyển hóa nhan sắc, danh hiệu người đẹp sang thành tiền hẳn nhiên lại là một loại bí mật “ai-cũng-biết-là-cái-gì-đó” to tướng của làng giải trí. Ngay sau trường hợp của người mẫu Hồng Hà, cái giá “tàu nhanh” 1.500 USD rất nhanh chóng bị phá ngoạn mục: 2.000 USD. Cái dấu hỏi to tướng được tạo bởi “đường cong” của 3 vòng người đẹp giờ đã được giải đáp. Đấy, bây giờ ai chưa hiểu vì sao các thôn nữ vé số, thậm chí cả các người đẹp “cá ngựa ngâm rượu” sẵn sàng chơi nhau để dành danh hiệu trong khi các cuộc thi người đẹp ao làng nhan nhản thì đã có một bài học nhãn tiền rồi nhá.
Chỉ đáng nói là cô hoa hậu ao làng, người từng “bán vé số dạo để kiếm từng đồng tiền lẻ”, trước khi sộ khám, vừa khoe: “sure (chắc chắn) mới chỉ hôn môi bạn trai”. Khổ thân con gà Việt Kiều, mất toi “cái túi LV 4.000 USD” để được một dòng trên facebook của Hoa hậu “Hắn năn nỉ 3 ngày mình mới ok”.
Nếu ai đó thắc mắc xung quanh câu chuyện cái túi 4.000 USD và cái “vé tàu” 2.000 USD thì xin giải đáp ngay, rằng: Đó là chuyện quá thường. Một cô gái bình thường, dù đẹp, có thể đi bán vé số kiếm tiến lẻ, chứ một diễn viên, một ca sĩ, một người mẫu, một á khôi, nhất là một hoa hậu- dù ao làng- dứt khoát không thể dùng một cái túi giá tiền ông Cụ. Hơn nữa, sách cái túi 4.000 USD thì cũng cần cái đồng hồ 4 tỷ, cái nhẫn “có vài trăm ngàn Obama”, tất nhiên cả siêu xe nữa. Cái danh giết người là ở chỗ đó. Bởi sắc đẹp không thể mài ra mà bán, “Không tiền thì cạp đất mà ăn”, huống chi giờ ngoài mấy tay Việt Kiều, tìm đại gia mang họ “Dậu” hơi bị khó.
Trong khi hoa hậu Việt bán mình để xài đồ chính hiệu Mỹ thì lại có một người Mỹ, rất “không bình thường”, lại chả biết đồ hiệu là cái quái gì.
Tuần rồi, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Panetta tiến hành chuyến thăm “dấu mốc đặc biệt mang tính biểu tượng trong quan hệ hai nước” khi xuất hiện tại Cam Ranh với cái lối ăn mặc khiến giới “sâu bít” Việt kinh ngạc. Áo sơ mi xanh nhợt kiểu công nhân xưởng may, quần “nâu kiểu bạc thếch” như vừa nhặt ở đâu đó, chụp trên đầu cái mũ lưỡi trai in logo của tàu USNS Richard E.Byrd (chứ không phải tàu Titanic), nom ông y chang một chủ trang trại vừa trúng vụ vải về thành phố “hoành tráng”.
Báo Tuổi trẻ dẫn lời vị Bộ trưởng quốc phòng thứ 23 của Mỹ, vị Bộ trưởng đầu tiên trở lại Cam Ranh từ sau năm 1975 nói đây là “thời khắc xúc động” với cá nhân ông. Còn ông Panetta thì nói việc “Việc tàu của hải quân Hoa Kỳ tiếp cận được Cam Ranh” có thể được coi là “một yếu tố quan trọng trong mối quan hệ của hai nước”.
Có thể là quan trọng, nhưng dẫu sao đây vẫn là sự quan trọng đối với Mỹ, chứ với Việt Nam ta là chuyện “bình thường”, như khẳng định của một quan chức Bộ Quốc phòng. Nghĩ đi nghĩ lại sự xuất hiện của “ông chủ trang trại” Panetta ở Cam Ranh sau ba mấy bốn mươi năm cũng đúng là bình thường thật. Có điều, bình thường vì không ai dám bảo là khác thường.
Và khi “Ông Mỹ” ở Cam Ranh là chuyện bình thường, thì cũng chẳng có gì khác thường khi mấy ông ngư dân Tàu cũng ở Cam Ranh, dù chỉ cách quân cảng Cam Ranh 250m, theo ước tính của Tuổi trẻ. Chuyện này bình thường ở chỗ, các anh A sáng, A tối dường như không mấy quan tâm đến những “cụ Lý”, “cụ Đinh” hay kg, kilo, chỉ quan tâm đến… nước biển. Bởi hóa ra, nước biển Cam Ranh rất hợp với… cá mú. Cá mú giống được mang từ Trung Quốc qua, nuôi lớn có lẽ cũng bằng thức ăn nhập từ “bạn”, rồi khi bán, cũng lại xuất về Trung Quốc, qua những con tàu mang cờ 6 sao đến tận nơi “ăn hàng”. Cá mú nuôi ở Cam Ranh hiệu quả ở chỗ chóng phổng, to đến hai chục ký với giá bán cả triệu/kg”.
Bạn đừng có hỏi vì sao người Tàu phải lặn lội xuống tận Cam Ranh để… nuôi cá. Chẳng phải là họ đã tràn ngập Bắc-Trung-Nam, lên cả Tây Nguyên làm bô xít, ra biên giới thuê rừng đầu nguồn đó sao.
Chỉ có một điều khôi hài là Biên phòng cho biết đã phát hiện việc người Tàu ở Cam Ranh từ 9-10 năm nay. Năm 2009, lực lượng này đã tham mưu cho chính quyền cách xử lý. Một quan chức của TP Cam Ranh rỉ tai báo chí rằng khu vực các anh A sáng, A tối là diện tích mặt nước do Cảng vụ Nha Trang quản lý. Trong khi giám đốc Cảng vụ Nha Trang lại “tiết lộ”: Cảng vụ không có chức năng cho phép nuôi trồng thủy sản.
Nghe “cơ quan chức năng” các loại đấu vòng vòng, ai hiểu được mô tê ra sao chắc cũng có thể hiểu được ý nghĩa bản rap “Em yêu ảo lòi”- đang sốt trên mạng.
Nhưng đôi khi cũng nên ảo khi phải nhìn những sự thật bình thường đang nhan nhản trong cuộc đời này, bởi chí ít, nó cho ta một sự lạc quan AQ kiểu Tàu.
Thì đấy, sự xuất hiện một cách bình thường- trong mắt quan chức địa phương- của người Tàu ở vịnh Cam Ranh từ cả chục năm nay, có lẽ là một gợi ý hay cho Bộ Nông nghiệp hôm qua đang tranh luận loạn xị về hướng đầu tư cho tam nông. Sẽ là rất bình thường nếu mai kia sẽ có một đề tài tiến sĩ tầm cỡ được thực hiện với đề tài “Nước biển Cam Ranh trong hiệu quả tuyệt vời với nghề nuôi cá mú và sự cộng sinh của chính quyền”.
“Em yêu ảo lòi”. Đấy là nên một bài hát, dù nhái, mà giờ từ đứa lên 5 cũng đang ư ử cả ngày. Em yêu ảo lòi. Một đỉnh cao của nghệ thuật đặt tên bài hát. Đỉnh ở chỗ nó khiến những người khăng khăng áo mão đạo đức chúng ta vỡ đầu, lồi mắt nếu muốn hiểu ý nghĩa.
Nhưng có lẽ cũng phải “ảo” thật, nếu không muốn tẩu hỏa nhập ma mà chết vì những điều bình thường trần trụi đang vây quanh lũ trẻ.
Năm nay, đề thi tốt nghiệp của Bộ Giáo dục luận về “Thói dối trá”. Phải công nhận là chỉ với đề thi hết sức bình thường này, Bộ Giáo dục tỏ rõ cho thiên hạ thấy sự quả cảm của mình. Ai lại chìa lưng làm thớt thế bao giờ. Cái gì một thời là “hai không”: Nói không với tiêu cực trong thi cử; Nói không với chạy theo thành tích…
Thành tích thì giáo dục thời “có Nhân” hay “bất Nhân” cũng vẫn vậy với tỷ lệ tốt nghiệp “thường thôi”: 98-99%. (Dù mới đây có thêm một phát ngôn bình thường về sự bình thường của hàng ngàn điểm 0 môn sử). Riêng cái “Không” với tiêu cực trong thi cử, có vẻ, người ngấm đòn nhất là thầy giáo Đỗ Việt Khoa. Hôm qua, người đương thời của sự chung thực ngày nào đã đưa ra bình luận cực hay: “Đề thi năm nay viết về nói dối, nhưng chưa chắc đã có những trang văn thật”. Thầy Khoa cũng nói thêm rằng: Ngành Giáo dục ra đề (về thói dối trá) cho thí sinh nhưng chính lãnh đạo (của ngành) cũng sẽ không làm được.
Nếu vẫn chưa tin vào kinh nghiệm thực tiễn và độ cay đắng của “người đương thời” xin hãy xem hình ảnh thí sinh chất đống đốt phao thi ở Ninh Bình. Đây rõ ràng là một sự bất thường trong một hình ảnh hết sức phổ biến là phao thi trắng sân trường. Nếu ai đó cố chấp bảo rằng đốt phao thi không có nghĩa là có tiêu cực thì hãy kiên nhẫn và kìm lòng xem thêm clip giám thị ném bài cho thí sinh ở Bắc Giang.
Ảo lòi. Ngành giáo dục đúng là dại khi ra đề thi về thói dối trá, bởi sự trung thực giờ mới là bất bình thường.
Đào Tuấn

Thứ Sáu, ngày 08 tháng 6 năm 2012

Gái đẹp đè bẹp Quốc hội

Thông tin về các kỳ họp Quốc hội luôn thu hút sự quan tâm của dư luận, đặc biệt là các phiên chất vấn của các ông nghị đối với các thành viên Chính phủ. Nhưng, tại kỳ họp này (21/5/2012-21/6/2012) dường như nghị trường im hơi lặng tiếng hơn trên mặt báo, đặc biệt là báo điện tử. Mà thay vào đấy là những Trang Nhung, Mỹ Xuân, Thiên Kim, … đua nhau ra giá, quất.. bao nhiêu một phát, giá của gái đẹp nào cao hơn gái đẹp nào… trên trang chính, tiêu điểm của từng tờ báo. Vì đâu nên nỗi? Phải chăng báo giới đang bị định hướng để che lấp bớt những sự kiện nóng Dương Chí Dũng bỏ trốn, tham nhũng dẫn đến ngưng viện trợ 3 dự án ODA, người Trung Quốc vào tận quân cảng Cam Ranh nuôi cá hay những cuộc biểu tình của người nông dân trên thành phố hòa bình Hà Nội … 
Hình chụp trên báo Giáo dục Việt Nam
Lướt qua báo chí một vài ngày qua, chúng ta cũng dễ dàng nhận biết một cách tương đối chắc rằng kỳ họp Quốc hội này sẽ không có gì nổi bật, không có gì để làm mỗi người dân hài lòng một chút, dù một chút thôi. 

Như blogger Trương Duy Nhất viết trên blog: “đất đai khiếu kiện phức tạp nóng bỏng, nhức nhối đến mức người dân phải cầm súng bắn lại chính quyền, vung dao chém cán bộ thu hồi đất rồi uống thuốc sâu tự tử, những người phụ nữ chân lấm tay bùn phải thắt khăn tang, thậm chí có trường hợp phải tụt quần khỏa thân giữ đất…Những đoàn biểu tình (có cuộc lên tới hàng nghìn người) kéo về Hà Nội ngày một đông, với đủ loại băng rôn biểu ngữ dán lên người, cách hội trường quốc hội đang họp không xa. 

Thế nhưng có được mấy người trong số 499 vị đại biểu quốc hội thật sự biết quan tâm và thấy… nóng lòng trước những sự kiện trên? Có ai dám rời cuộc họp, bước ra gặp dân xem họ cần nói gì, đòi hỏi gì, bức xúc gì?“ 

Đại biểu của nhân dân là vậy sao!? Sao không một ông nghị nào bước ra khỏi nghị trường mà tới với người dân, xem họ đang cần gì và vì sao nên nỗi? Hãy nghĩ rằng bước ra đấy, ra với người dân, rồi có thể sẽ bị gạch tên khỏi nghị trường, nhưng đó sẽ là một phút huy hoàng, huy hoàng cả một cuộc đời chỉ qua một việc làm nhỏ ấy thôi. Đừng ngồi trong nghị trường ôm khư khư cái ghế gật gật le lói trăm năm, người dân chắc chắn không cần và mãi sẽ không cần. 

Là đại diện của nhân dân, mỗi ông nghị phải biết được những người mình đại diện muốn gì. Hãy làm điều họ muốn, đừng vì một chướng ngại nhỏ mà cho qua. Hãy dấn thân một chút đi, hãy dang rộng hai tay hơn nữa đi. 

Trong việc này còn có trách nhiệm rất lớn từ báo chí. Nếu báo chí biết, dám khơi gợi, phản ánh đầy đủ những nhức nhối của đời sống thực tại, … kết hợp với cái tâm của những ông nghị đương thời thì gái đẹp sẽ chẳng bao giờ có thể đè bẹp Quốc hội trên mặt báo. Tôi tin là như vậy.

Phan An

Phản biện của GS Phạm Duy Hiển về điện hạt nhân


“Chính năng lượng tái tạo đầy tiềm năng mới bảo đảm an ninh năng lượng lâu dài cho đất nước, chứ không phải ĐHN mà tất thảy đều phụ thuộc vào nước ngoài.“ GS Phạm Duy Hiển
Hai giả thiết dự báo Việt Nam sẽ cần 420 tỷ kWh và sẽ thiếu 115 tỷ kWh vào năm 2020 của Bộ Công thương đến nay đã không còn đúng. Vậy đâu còn lý do để phải làm điện hạt nhân? – Phản biện của GS Phạm Duy Hiển, chuyên gia hàng đầu về điện hạt nhân ở Việt Nam hiện nay.
GS Phạm Duy Hiển
Đâu còn lý do để phải làm điện hạt nhân?
PV:- Mới đây, GS có nêu ý kiến rằng, dự báo thiếu điện mà Bộ Công thương trình Quốc hội tháng 11/2009 để luận cứ cho dự án điện hạt nhân (ĐHN) Ninh Thuận là không đúng. Liệu ông có thể nói rõ hơn?
GS Phạm Duy Hiển:- Theo tờ trình lên Quốc Hội của Bộ Công thương tháng 11/2009 thì vào năm 2020 chúng ta cần 420 tỷ kWh và sau khi đã khai thác hết các nguồn cổ điển như than, dầu, khí và thủy điện, chúng ta sẽ thiếu 115 tỷ kWh, một sản lượng điện rất lớn, tương đương với khả năng cung ứng của toàn bộ hệ thống hiện nay.
Dự báo này dựa trên hai giả thiết cơ bản: GDP tăng trưởng bình quân 8,5%/năm trong giai đoạn 2008-2020, và điện năng tăng với tốc độ gấp đôi GDP, khoảng 15%/năm  (hệ số đàn hồi điện/GDP bằng 2) trong nhiều năm liền. Thực tế cho thấy cả hai giả thiết này đều duy ý chí, từ đó dẫn đến những dự báo điện năng rất cao, càng gần đến mốc 2020 dự báo càng khác xa sự thực.
Trong bốn năm qua GDP chỉ tăng bình quân 6%/năm. Năm nay có thể còn thấp hơn và rất khó tin rằng từ nay đến 2020 GDP sẽ tăng bình quân cao hơn 7%/năm. Nền kinh tế đang tái cấu trúc, chúng ta không thể tiếp tục mãi mô hình tăng trưởng bằng mọi giá dựa vào thâm dụng vốn, năng lượng và tài nguyên như bấy lâu nay.
Còn về hệ số đàn hồi điện/GDP, trước đây thường lớn hơn 2, gần đây bắt đầu hạ xuống còn 1,8 năm 2010 và 1,6 năm 2011. Hệ số đàn hồi cao như thế trong nhiều năm liền có nghĩa là Việt Nam lãng phí điện nhất thế giới. Cho nên mới đây Hội nghị TW 4 khóa XI đã ra nghị quyết nêu rõ: “Thực hiện sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả, phấn đấu giảm hệ số đàn hồi điện/GDP còn 1,0 vào năm 2020”.
Năm 2011 tổng sản lượng điện của Việt Nam là 109 tỷ kWh, hệ số đàn hồi bằng 1,6. Nếu thực hiện đúng nghị quyết TW 4 để đến năm 2020 hệ số đàn hồi chỉ còn bằng 1 thì nhu cầu điện năng lúc ấy sẽ không vượt quá 240 tỷ kWh, thấp hơn dự báo của Bộ Công thương trình lên Quốc Hội đến 160 tỷ kWh (xem bảng). Vậy đâu còn lý do để phải làm ĐHN?
Sản lượng điện năm 2020
Tính theo kWh
Theo dự báo Bộ CT trình QH tháng 11/2009
410 tỷ
Dự báo thiếu hụt năm 2020
110 tỷ
Theo Tổng Sơ Đồ VII mới được Chính phủ phê duyệt năm 2011
340 tỷ
Nếu thực hiện đúng Nghị Quyết TƯ 4 với HSĐH bằng 1 vào năm 2020
240 tỷ
PV:- Khi những lý do thiếu điện nghiêm trọng sau năm 2020 như Bộ Công Thương dự báo đã không còn đứng vững, câu trả lời cho vấn đề điện hạt nhân đã quá rõ, thưa GS?
GS Phạm Duy Hiển:- Giờ đây khoảng cách giữa dự báo và thực tế ngày càng lớn khiến chúng ta không thể tiếp tục theo đuổi một mục tiêu phiêu lưu mà rồi đây sẽ để lại những gánh nặng quá lớn cho đất nước. Chỉ còn cách phải hoãn lại lại kế hoạch xây dựng cả hai nhà máy ĐHN của Nga và Nhật cho đến khi nào các điều kiện tối thiểu để làm ĐHN đủ chín muồi, nhất là các yếu tố nhân lực, hạ tầng pháp lý và văn hóa an toàn trong công nghiệp mà hiện nay tất thảy đều quá yếu kém. Chỉ cần chứng kiến những gì đã xảy ra ở Fukushima rồi đối chiếu với tình trạng giao thông hỗn loạn khiến ngày nào cũng có hơn 30 ca tử vong, từng ấy đã quá đủ để những người có trách nhiệm phải nhận ra rằng dự án ĐHN cần phải dừng lại khi chưa quá muộn.
Nên lùi ít nhất 10 năm nữa
PV:- Phát biểu trên báo chí, Bộ trưởng Bộ Khoa học – Công nghệ Nguyễn Quân luôn bày tỏ sự lo lắng về nhân lực cho nhà máy điện hạt nhân: “Cần có những chuyên gia giỏi và bảo đảm an toàn hạt nhân, nếu không tiến độ đề ra có thể bị dời lại một hai năm” (Báo VnExpres tháng 4/2012)  hay “Tôi lo lắng về nguồn nhân lực cho điện hạt nhân” (trả lời trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ tháng 5/2012). Theo GS, việc đào tạo nhân lực điện hạt nhân của Việt Nam hiện nay thế nào?
GS Phạm Duy Hiển:- Bắt đầu vào cuộc trong ngành hạt nhân từ hơn 40 năm trước, mấy năm gần đây tôi thấy nhân lực của ngành sa sút nghiêm trọng do chúng ta thiếu hẳn một chính sách xây dựng đội ngũ, nhất là chuyên gia. Nhiều người nói rất hăng về ĐHN, nhưng khi cần triển khai một nhiệm vụ khoa học công nghệ cụ thể, thậm chí khá đơn giản, thì nhìn quanh quất không thấy mấy ai đủ tầm. Trước đây các nhà lãnh đạo từ cấp Bộ trở lên chưa nhận ra sự thực này, gần đây khi bắt đầu triển khai công việc lỗ hổng lớn này mới lộ rõ.
Cho nên ngoài việc nhờ Nga và Nhật đào tạo, Nhà nước cũng đã có chương trình đào tạo cán bộ trong nước, nhưng có thể nói rằng mọi việc không dễ dàng như nhiều người nhầm tưởng. Tôi đã đến thăm trường đào tạo của Nga, nơi có nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trên thế giới. Tôi thấy điều kiện đào tạo ở đó rất tốt. Vấn đề là Việt Nam hiện chỉ mới có khoảng 70 em học ở đấy, một nửa học lớp dự bị và tiếng Nga, nửa còn lại mới học năm thứ nhất. Đến bao giờ họ mới trở thành chủ nhân công thực sự cho các nhà máy ĐHN sẽ xây dựng từ năm 2014?
Để vận hành một lò phản ứng như của Nga, phải cần ít nhất là 300 hoặc 400 người, trong đó phải có những người đứng đầu biết xử lý mọi tình huống, tức phải là những người có kinh nghiệm. Trước đó lại cần rất nhiều chuyên gia biết thẩm định dự án và giám sát thi công. Rồi phải có nhiều người có kinh nghiệm khác ở các cơ quan pháp quy độc lập với nhà máy. Họ phải làm trong nghề ít nhất 10 năm sau khi tốt nghiệp đại học. Hiện Việt Nam chưa có những người như vậy.
Về chuyện đào tạo trong nước, tuy Chính phủ đã chuẩn chi 3 ngàn tỷ đồng cho dự án này nhưng ai sẽ làm thầy? Trong thế hệ “trẻ” hiện nay chưa ai từng kinh qua những trường đào tạo về hạt nhân nghiêm chỉnh, những chuyến xuất ngoại vài ba tuần lễ chỉ đủ để cưỡi ngựa xem hoa. Vậy làm sao họ có thể đào tạo các chuyên gia ĐHN? Mà trong chương trình lại thấy đào tạo cả thạc sỹ, tiến sỹ nữa? Liệu trong nhà máy ĐHN sau này có chỗ ngồi nào cho các vị cân đai áo mão này?
PV:- Vậy khi nào Việt Nam đủ điều kiện tối thiểu đề bắt tay vào làm điện hạt nhân, lùi độ một vài năm hay lâu hơn?
GS Phạm Duy Hiển:- Bây giờ còn một khó khăn nữa là ĐHN rất đắt mà Việt Nam lại không có tiền, phải đi vay nước ngoài. Một lò phản ứng hạt nhân công suất 1000 MW trước đây dự trù khoảng 3 tỷ đôla, nhưng gần đây Mỹ đã phải chi đến 8 tỷ để xây một lò. Đầu tư cho ĐHN tăng lên ngất ngưởng sau Fukushima vì chúng ta phải mua những dự phòng an toàn rất lớn. Thời gian xây dựng lại thường kéo dài, ở Phần Lan chậm tiến độ đến những 5 năm, đội giá đến hai lần, do luôn xảy ra tranh chấp giữa chủ đầu tư và bên cung cấp công nghệ (AREVA của Pháp).
Hiện Nga đã cam kết cho vay đối với nhà máy đầu tiên, còn Nhật thì chưa có cam kết với nhà máy thứ hai. Vì thế, có lẽ trước hết phải đàm phán với Nhật để hoãn lại nhà máy thứ hai. Với Nga, cũng chưa thể khởi công vào năm 2014 được. Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ đã nói có thể phải lùi lại dự án ĐHN lại vài năm. Theo tôi, nói như vậy là còn dè dặt, trên thực tế có lẽ phải lùi lại ít nhất 10 năm nữa! Lúc ấy hẵng hay.
Hãy phát triển năng lượng tái tạo
PV:- Nhưng về lâu dài có phương án nào để giải quyết bài toán thiếu điện?
GS Phạm Duy Hiển:- Thực hiện Nghị Quyết TW 4 không dễ, cần phải có tư duy mới và hành động quyết liệt. Trước hết, chúng ta phải biết cách sử dụng điện hiệu quả như các nước quanh ta. Tư duy lâu nay là điện đi trước một bước, ai cần điện đều phải được cung cấp, thậm chí họ xài điện, xài xi măng, sắt thép (cũng là điện) để xây dựng công trình, rồi bỏ công trình hoang phế cũng chẳng sao, bởi tiền điện đã chui vào két của EVN. Phải từ bỏ mọi chính sách khuyến khích xài điện, như thưởng cho EVN nếu thu được nhiều tiền điện hơn định mức (theo như giải trình của Bộ trưởng Tài chính trước Quốc Hội).
Cần xác định đúng thủ phạm gây lãng phí điện năng và có biện pháp xử lý. Hai năm gần đây kinh tế suy thoái, nhiều doanh nghiệp phá sản khiến cho tiêu thụ điện giảm hẳn, hệ số đàn hồi điện/GDP giảm xuống còn 1,8 (2010) và 1,6 (2011). Điều này chứng tỏ thủ phạm chính gây lãng phí điện năng nằm trong khối sản xuất, xây dựng, chứ không phải trong khối hộ gia đình.
Tại sao lại phải bù chéo giá điện cho xuất khẩu xi măng và thép đến hơn 2500 tỷ đồng năm 2010, trong đó có cả doanh nghiệp nước ngoài ? (theo lời Bộ trưởng Tài chính báo cáo trước Quốc Hội). Tại sao trong cùng một đất nước mà điện năng ở TP Hồ Chí Minh chỉ tăng 7%/ năm, tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực, trong khi Hà Nội lại tăng đến 17%/năm, Quảng Ninh 21%? Phải áp tiêu chí tiêu thụ điện năng vào trách nhiệm của lãnh đạo các tỉnh và công khai hóa cho mọi người đều biết. Tiêu thụ điện năng phải được xem như tiêu chí ưu tiên khi xét duyệt các dự án đầu tư trong và ngoài nước. Những công nghệ lạc hậu tiêu tốn điện năng phải tìm cách loại bỏ dần v.v… Ai vi phạm trong khâu xét duyệt dự án sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. Những biện pháp này cần được đưa vào Luật Điện Lực Sửa Đổi sắp được Quốc Hội xem xét.
PV:- Trong cuộc trả lời trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Bộ trưởng Nguyễn Quân đã bày tỏ: Hy vọng trong tương lai, chúng ta có công nghệ khác, nguồn năng lượng khác thì không phải tiếp tục phát triển điện hạt nhân“. Liệu GS có thể nói thêm về những loại năng lượng khác mà chúng ta có thể làm chủ hiện nay?
GS Phạm Duy Hiển:- Đúng vậy, chúng ta sẽ phát triển năng lượng tái tạo, một thứ của trời cho, lại rất thân thiện với con người và môi trường. Nước ta có bờ biển dài hơn 3000 km, lại chịu tác động trực tiếp quanh năm của hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á, đông bắc về mùa đông và tây nam về mùa hè, nên có tiềm năng gió lớn nhất khu vực, ước tính vượt quá nhiều lần nhu cầu điện năng năm 2020. Những tua bin gió đầu tiên đã đi vào hoạt động, giá thành điện còn cao, nhưng sẽ giảm dần và chắc sẽ không cao hơn ĐHN vào năm 2020. Tiềm năng về năng lượng mặt trời thì khỏi nói. Vấn đề giờ đây là phải quyết tâm xem năng lượng tái tạo thực sự là hướng đi bền vững, không phải chỉ hô hào, tuyên truyền suông, mà nhà nước phải có quyết sách và lộ trình như nhiều nước khác.
  • Hoàng Hạnh thực hiện
  • Theo PNT

Thứ Năm, ngày 07 tháng 6 năm 2012

Tầm nhìn đít trâu


Xung quanh vụ “Hoa hậu bán dâm”, hôm qua, báo chí đã tung những cái tít thật đáng “tự hào”: “Nông dân săn hoa hậu”, “Người mua dâm là… đại gia chân đất”. Ấy thế mà không hiểu sao trên nghị trường, bàn về chuyện đầu tư cho tam nông, Đại biểu QH Bùi Mạnh Hùng lại vẫn nói về tình trạng “Người dân còn nghèo nhưng bắt buộc phải thoát nghèo”.
Câu chuyện “nông dân săn hoa hậu”, hay “địa phương muốn được công nhận thoát nghèo” nghĩ thật khốn khổ cho mấy anh dân cày. Bởi hiện thực- như ông Hùng nói- “chuẩn nghèo hiện nay mới chỉ đáp ứng được 48% nhu cầu thực tế” đã thực chất là sự tước đoạt quyền của người nghèo. Đang có một cách nhìn rất khác giữa chính quyền và nông dân. Chính quyền thì chỉ cần thành tích thoát nghèo của địa phương trong khi “Người nông dân rất thực tế, họ không cần những thành tích ảo”- lời ông Hùng. Cách nhìn quy định tầm nhìn. Và nếu tầm nhìn chỉ nhắm tới một câu trong bản báo cáo thành tích mỗi cuối năm thì tầm nhìn đó rõ ràng là không quá cái đít trâu. Tỷ lệ tái nghèo liên tục cao hơn tỷ lệ thoát nghèo chính là một trong những hậu quả của tầm nhìn đít trâu. Ấy thế là không ít đại biểu của dân hôm qua đổ tại cho “sự ỷ lại” của người dân, rằng họ chỉ muốn được nghèo để hưởng “quả sung chính sách”. Cách nhìn đó có khác gì cách nhìn “nông dân săn hoa hậu”?
Hôm qua, QH dành nguyên ngày thảo luận về việc đầu tư cho tam nông. Bên cạnh những câu chuyện khôi hài tồn tại dưới dạng câu hỏi, đại loại “1 xã đào tạo nghề sửa chữa xe máy cho 50 người thì hành nghề ở đâu?”, cũng có vô số những vướng mắc, tồn tại thuộc về phạm trù “tầm nhìn”. Chẳng hạn như chính sách hỗ trợ vốn đưa cơ giới về đồng ruộng, chẳng hạn chủ trương “nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn”. Những chính sách, những chủ trương đó là đúng. Chỉ có điều nó không thực tế, nó mâu thuẫn với những chính sách, chủ trương khác. Chẳng hạn với quy định máy móc được hỗ trợ phải là loại “có tỷ lệ nội địa hóa 60% trở lên”, trong khi những con “trâu sắt” này thực tế “không đủ sức kéo cày”. Hay việc cơ giới hóa sản xuất, “nền sản xuất hàng hóa lớn” lại được thực hiện trong hoàn cảnh hạn chế về hạn điền. Liệu có anh hai lúa, ba lúa nào có thể “xây dựng một nền sản xuất hàng hóa lớn” trên những mảnh ruộng không lớn quá… bàn tay?
Càng nghĩ càng thấy các nhà hoạch định nên đi gặp bác sĩ viện mắt. Một đất nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, một nền nông nghiệp “điểm tựa” của cả nền kinh tế, thế mà đến giờ vẫn mang trong mình căn bệnh “được mùa rớt giá”, nói như đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé- chỉ vì chủ trương xây dựng kho dự trữ lúa gạo “hầu như còn trên giấy”, chỉ vì những cái trạm bơm, được phê duyệt từ 2009 đến giờ vẫn mất tích trên giang hồ.
Sự bất công cho tam nông còn được thể hiện cực rõ qua các con số FDI vào nông nghiệp và nông thôn vừa quá thấp, vừa có xu hướng giảm dần (Năm 2001 là 8% FDI cả nước, đến 2010 chỉ còn…1%). Trong suốt 10 năm qua, tổng vốn đầu tư đăng ký trong nông nghiệp chỉ 2,3% vốn đầu tư của cả nước.
Sẽ là quá lạc quan nếu coi đây không phải là “bệnh đau mắt”.
Bởi trong khi QH bàn về chuyện đầu tư cho tam nông thì ở Đồng Tháp, giá gạo giằng co, nông dân lỗ nặng. Tôm chết hàng loạt ở ĐBSCL. Dâu tây Đà Lạt hết thời. Giá Heo giảm khiến nông dân “treo chuồng”. Điều ế. Hạt tiêu khó tăng. Còn Bộ Công thương và Bộ Nông nghiệp đang mải tranh luận xung quanh chính sách hỗ trợ tạm trữ đường.
Nông dân, diêm dân, ngư dân, chính là những chủ thể của tam nông được bàn đên hôm qua. Nhưng họ nhạy cảm với sự nghèo khó đến nỗi, chẳng hạn chỉ với một cơn mưa dông, 600 diêm dân ở Quảng Ngãi lập tức trở thành tay trắng.
Với những người phải tính từng xu cho cái miệng, nói “nông dân săn hoa hậu” với những con số ngàn USD, quả thực là xúc phạm đến… Franklin. Ông nào đã bao giờ được “gặp mặt, nằm túi” nông dân nước Nam ta.
Đào Tuấn

Những thủ đoạn “cướp đất” của dân


Lợi dụng việc thu hồi đất của dân, cả chính quyền và Doanh nghiệp cấu kết bằng mọi thủ đoạn để toan tính lợi nhuận chia chác nhau. Mảnh đất để sinh tồn của họ cũng bị đánh tráo “chia năm xẻ bảy”. Với muôn kiểu tính toán của chính quyền và Doanh nghiệp thì người dân gần như trắng tay với Dự án này của Tỉnh?
Những ao hồ sâu 4-5m này được trả cho dân làm đất dịch vụ 7%
Những chiêu chia đất “bí hiểm”?
Trong khuôn mặt rầu rĩ của trưởng thôn Lê Như Tam, người đã bảo vệ dân chống lại luật lệ “Ăn đồng chia đều” của cán bộ xã. Ông Tam tỏ ra mệt mỏi khi đề cập sâu tới chuyện này, ông kể:
“Xã lập danh sách “ăn đồng chia đều” không đúng rồi ép tôi ký, thấy không chính xác nên tôi không ký thậm trí là phản đối. Danh sách cũng được điều chỉnh tới 8 lần vẫn chưa thể xong.”
Ông Tam cũng cho biết, tổng thôn Chuông có 205 hộ với 729 nhân khẩu. Trên thực tế, đất được chia cho các hộ theo QĐ 115/2000 của Tỉnh Hà Nam năm 1990 được tính bằng tổng diện tích còn lại cộng với diện tích đất 10% của thôn Chuông còn lại là 208438,7m2 (căn cứ biểu mẫu 4, bảng tổng hợp Diện tích thu hồi Đồng Văn Xanh thôn Chuông năm 2011)
Theo đó, trong danh sách mất đâu đền đó thì tổng Diện tích đất thu hồi là 208438,7m2. Trong danh sách “Ăn đồng chia đều” được dán niêm yết tại nhà Văn hóa thôn thông báo người dân nhận tiền đền bù thì diện tích bị thu hồi là  205915,27m2. So sánh 2 danh sách này thì diện tích đất bị chênh lệch và dư ra sẽ là 2524m2. Phần đất này xã cho rằng đất của xã.
Lý giải thêm vấn đề này ông Tam cho biết:
“Đất thu hồi dự án Đồng Văn Xanh là thuộc đất Quỹ I và quỹ II, Sau 3 lần thu hồi thì mỗi  xuất giao cho dân sử dụng  bằng 409m2, trên thực tế lẽ ra phải là  430m2/xuất. Trong đó, 20,5m2 thuộc đất sâu nên các hộ dân được đấu thầu. Như vậy diện tích đất  dư ra sẽ là 2524m2”
Theo ông Tam, lãnh đạo xã cho rằng phần đất “dư” là của xã thuộc đất công ích 5%. Tuy nhiên, theo biểu mẫu số 4 thì hơn 8000m2 đất công ích của xã nằm ở chân Đồng quai (1 vụ) chứ không nằm ở đất loại 1 (tức 2 vụ lúa, 1 vụ màu). Nên diện tích 2524m2 này là đất của dân
Vậy câu hỏi vì sao số đất 2524m2 của dân nhưng lãnh đạo xã cố tình thu hồi lại?
Theo các hộ dân, đất này nằm giữa trung tâm dự án  “Khu đô thị Đồng Văn Xanh” có giá trị ước tính khoảng 5 triệu/m2. Còn đất 5% của xã nằm ở chân Đồng quai (bên trong cách xa dự án) nên giá trị tiền thấp. Đây chính là lý do xã tìm cách để lấy của dân để làm gì chỉ có các “quan” xã mới biết.
Trong biên bản họp dân thôn Chuông ngày 9/0/2012. Các nội dung chủ yếu được người dân đưa ra là, không nhất trí với danh sách “Ăn đồng chia đều” của cán bộ xã, phương án đền bù chưa thỏa thuận không đúng với chủ trương nên chưa thể giao đất, không đồng ý đất 7% cấp ở vị trí xã Duy Hải…
Trước đó, Trưởng thôn Lê Như Tam từng có đơn đề nghị điều chỉnh diện tích đất thu hồi của 205 hộ dân thôn Chuông trong đó nêu rất rõ:
“Thông qua cuộc họp 8/12/2011, sau 8 lần điều chỉnh của UBND xã đa số các hộ dân bị thu hồi 100% đều bị thiếu diện tích, trong khi một số hộ lại thừa diện tích…diện tích còn lại tại sổ sách thôn cho 1 xuất là 457,3m2.. trong 2 lần giải tỏa thì diện tích được thu hồi  là 27,38m2. Vậy thì diện tích còn lại của 1 xuất ruộng sẽ là: 547,3m2- 27,38m2 gần bằng 430m2..”
Nếu chiếu theo nội dung đơn thì diện tích đang cấy của dân còn lại phải là 430m2- 20,5m2 đất đấu thầu= 409,4m2. Vậy diện tích đền bù của mỗi hộ dân sẽ là 409,4m2+ 20,5m2= 429,2m2.
Một nội dung nữa mà theo ông Tam, diện tích đất 5% công ích xã nằm ở các vị trí như: Vực dưới, ven nước mặt, cửa cống vực, ven đầm nền. Những vị trí này đều là đất thuộc 1 vụ lúa, năng xuất thấp và  có tổng diện tích 8238m2.
Do mở rộng bờ mương y33 làm con đường đi ra thôn Linh Lão nên các hộ gần khu máng được trừ 210m2, còn lại 8028m2 là ruộng 1 vụ chiêm. Đây chính là đất 5% của UBND xã để làm ngân sách.
Sau phản đối cách làm của xã, trưởng thôn Tam đã bị xã nhiều lần gọi lên yêu cầu lập danh sách diện tích các hộ dân bị ảnh hưởng theo số liệu của xã là 205.915,22m2. Ông Tam không đồng ý vì tổng diện tích của thôn bị âm gần 3000m2
UNBD xã luôn tục gửi giấy mời ông lên xã với nhiều nội dung, thực chất vẫn là ép lập danh sách “Ăn đồng chia đều”. Cách làm này khiến những hộ mất 100% đất = 8-9 sào ruộng lẽ ra được nhận 2-3 trăm triệu đồng nhưng chỉ nhận được vài ba chục triệu vì phải chia đều cho những hộ mất 2-3 sào.
Câu hỏi đặt ra, tổng số đất và tiền đền bù của 205 hộ dân là bao nhiêu? Số tiền chênh lệch của 205 hộ là bao nhiêu? Những ai sẽ là người hưởng lợi?
Nên nhớ, đây là đất của dân, tiền của dân được nhà nước giao cấy, được nhà nước đền bù. Vậy thì cớ gì chính quyền ngang nhiên tự ý lấy đem chia chác và “giấu nhẹm”???
Người dân lo lắng vì mảnh đất sinh tồn của họ bị chia năm xẻ bảy
Đất dịch vụ của dân được trả  bằng…ao hồ?
Dự án “khu đô thị Đồng Văn Xanh” được cho là của Tỉnh. Vậy cớ gì người dân không ai biết tới QĐ phê duyệt và QĐ Thu hồi của Dự án? Việc ép dân.. nhận tiền giao đất vội vàng ký tá vài loại giấy tờ là những “khuất tất” của chính quyền nơi đây
Theo đó, chủ đầu tư Dự án, Công ty TNHH Nam Sơn chỉ được phép làm chủ đầu tư về cơ sở hạ tầng theo Quyết định 1642/QĐ-UBND (ngày 31/12/2010) của UBND Tỉnh Hà Nam
Tại Quyết định số 848/QĐ-UBND Tỉnh Hà Nam (ngày 12/7/201) “phê duyệt điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đô thị Đồng Văn Xanh” thì đất 7% dịch vụ, tái định cư được xác lập vào vị trí I, khu đất hiện trạng của thôn Tam, xã Duy Hải, phía tây nam nối đường 38 cũ và đường 38 mới theo quy hoạch 1/500 được ký hiệu là DV- TĐC2
Nội dung QĐ của Tỉnh là thế, vậy cớ gì đất dịch vụ của dân lại được Doanh nghiệp chuyển vị trí vào mấy ao hồ sâu 4-5m, thuộc địa phận xã Duy Hải, cách chừng 2km?
Trong văn bản “giải trình kiến nghị của nhân dân thôn Chuông..” (ngày 14/10/2012) của Công ty TNHH Nam Sơn
gửi Xã Duy Minh và các hộ dân thôn Chuông có nội dung:
“Thực hiện QĐ 1374/QĐ- UBND (ngày 3/12/2010) của UBND Tỉnh Hà Nam “phê duyệt đồ án thiết kế quy hoạch..” và QĐ 1642/QĐ-UBND (ngày 31/12/2010) cho phép Công ty TNHH Nam Sơn làm chủ đầu tư..  Nhân dân thôn Chuông thực hiện QĐ của Tỉnh.. kiến nghị yêu cầu chủ đầu tư…phải cam kết chuyển vị trí đất dịch vụ 7%; san lấp mặt bằng làm đường phân lô khu đất dịch vụ..”
Theo giải trình của Công ty này thì:
“Việc đền bù hỗ trợ đất nông nghiệp bị thu hồi là không có đất dịch vụ 7%, vì xã Duy Minh nhiều hộ bị thu hồi hết đất nông nghiệp nên Công ty đã phối hợp các ban ngành của Huyện, Xã đề nghị Tỉnh hỗ trợ 7% toàn bộ đất nông nghiệp bị thu hồi…Ngày 12/7/2011, UBND Tỉnh ra QĐ 848/QĐ- UBND về “điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất của Dự án.. để khu đất dịch vụ cho dân là những điểm đẹp..”
Trên giấy trắng mực đen là thế. Nhưng không hiểu sao đất dịch vụ 7% thực chất lại được thông báo trả cho dân ở vị trí đất ao hồ sâu 4-5 thuộc địa phận của xã Duy Hải?
Điều đáng nói nữa, các hộ dân đều cho biết. Lúc đầu Công ty này có đến họp với dân 2 lần về cấp đất dịch vụ 7% cho dân ở gần khu Dự án, một số hộ dân thấy như vậy cũng thuận tiện cho con cháu làm ăn sau này nên đã đồng ý. Thế nhưng, khi một số hộ dân nhận tiền xong thì Công ty này lại chuyển đất dịch vụ sang vị trí khác.
Trong một văn bản khác của Công ty TNHH Nam Sơn ngày 20/10/2011 về “Kiến nghị đề xuất xác định vị trí khu đất dịch vụ- tái định cư đối với các thôn thuộc Dự án khu đô thị Đồng Văn Xanh” gửi BGPMB Huyện Duy Tiên và UNBD Xã Duy Minh thì Công ty này lại đề nghị xác định vị trí giao đất dịch vụ của 3 thôn trong đó thôn Chuông được xác định như sau:
“Đối với thôn Chuông được xác lập vào vị trí I- khu đất hiện trạng của thôn Tam xã Duy Hải phía tây nam đường nối đường 38 cũ và đường 38 mới.”
Phía bên dưới của bản kiến nghị này có đóng dấu và chữ ký của trưởng ban GPMB Huyện Duy Tiên Phạm Đức Luôn, Chủ tịch UBND Xã Duy Minh Dương Thị Hoài và GĐ Công ty TNHH Nam Sơn Đinh Văn Chung ký.
Người dân tự hỏi. Với muôn kiểu cách chia, cách tính của chính quyền và Doanh nghiệp thì “miếng cơm manh áo” của người dân gần như là bị .. cướp trắng (?)
Thu Hương

Thứ Tư, ngày 06 tháng 6 năm 2012

Chỉ bắt người đẹp, hổng bắt người xấu

Mấy ngày ni, đi mô cũng nghe thiên hạ khen ngợi mấy ảnh rần rần. 

Buổi sáng ngồi uống cà phê nghe: 

- Các ảnh giỏi quá, các em hoa khôi. người mẫu hẹn hò với các đại gia như thế nào, ăn ngủ ở khách sạn nào, ngã giá bao nhiêu mỗi lần …quất, đi qua đêm ở phương xa thì trọn gói bao nhiêu, cò ăn tứ lục như thế nào .v..v.. mấy ảnh đều biết, đều nắm rõ từng chi tiết y như mấy ảnh đang nằm dưới giường của mấy em. 

- Các ảnh ra tay một phát là hốt liền trọn ổ người đẹp, ở Hà Nội cũng vậy mà ở thành phố mang tên Bác cũng dzậy. Các ảnh siêu giỏi, giỏi toàn quốc. 

- Các cậu không biết, đang có chiến dịch cả nước ra quân bắt đĩ à? 

- Cứ theo đà nầy chả mấy chốc, đất nước sẽ sạch bóng quân đĩ… 

Buổi trưa đi ăn cơm với các doanh nghiệp lại nghe: 

- Các ảnh giỏi há! Mấy em tí tởn mang đồ ra bán là bị hốt sạch. 

- Theo tình hình nầy, các sàn diễn sẽ không còn ai để diễn. 

- Tại sao? 

- Hết mẹ hoa khôi, người mẫu lấy ai mà diễn. Cũng giống như cái kiểu bắt hết tham nhũng lấy ai làm việc. Sắp tới các bầu sô phải vào trong tù mà tổ chức sô thôi. 

Một doanh nhân khác nói: 

- Nếu ai hỏi tôi vào thời điểm nầy, có tiền thì nên mua gì, tôi sẽ tuyên bố… 

- Mua chứng khoán như ông Nguyễn Sinh Hùng đã từng tuyên bố chứ gì? 

- Không! 

- Mua nhà đất, như bộ trưởng Bộ Xây Dựng vừa khuyên mọi người chứ gì? 

- Không! 

- Chứ mua cái đ. gì? 

- Ừ, mua cái đó đấy. Thời điểm nầy có tiền thì nên mua …dâm. Các em đang ế quá nên đại sale off khắp nơi. 

- Ông nói nghe như mấy thằng điếm. 

- He He, mấy con đĩ mới sợ bắt chứ mấy thằng điếm chả sợ ai. 

Buổi tối đi nhậu tình cờ gặp lại vài đại gia truyền thông như anh Năm Đồng, nguyên tổng biên tập báo PL TPHCM, anh Nguyễn Khắc Nhượng, nguyên tổng thư ký báo TN..và nhiều người khác nữa. Tôi lại phản ảnh tình hình dân chúng đang ngợi ca các ảnh. Nhà báo Năm Đồng nghiêm giọng lên tiếng: 

- Ừ, các ảnh giỏi lắm! Bắt người đẹp thì giỏi lắm, còn người xấu thì dường như các ảnh chê thì phải. 

- Người xấu nào? Mọi người nhao nhao lên hỏi. 

- Mấy thằng côn đồ phá nhà Đoàn Văn Vươn, đã sáu tháng trôi qua mà vẫn chưa điều tra ra. Mấy tay công an đánh hai nhà báo VOV, cũng hơn một tháng nay chưa tìm ra thủ phạm. Rồi thằng đại xấu xa Dương Chí Dũng gây thiệt hại hàng chục ngàn tỉ đồng của nhà nước sờ sờ ngay trước mắt vẫn không bắt được, để cho nó trốn thoát. 

Một nhà báo khác thêm vào: 

- Mấy thằng nước ngoài vào nuôi cá lậu ở Vũng Rô, Cam Ranh từ bao năm nay cũng là người xấu, chẳng thấy mấy ảnh bắt. 

Nghe xong chuyện, tôi ngẫm lại, thấy mấy ảnh sao cũng giống mình, hễ thấy người đẹp là hứng lên nhào dzô ngay, còn người xấu thì “hổng dám đâu, em còn phải học bài”. 

He He He 

Huỳnh Ngọc Chênh

ODA và sáu năm lặng tắt


Thời gian có lẽ đã quá đủ, không phải cho lời hô hào chống tham nhũng hay những hội nghị hoặc bàn tròn về việc rút kinh nghiệm. Cái đủ đó chỉ đến khi người ta nhận ra rằng một đất nước vẫn có thể tồn tại và phát triển mà không cần đến ODA, nhất là khi đất nước ấy chưa có gì bảo đảm để chính thức chấm dứt nạn tham nhũng.
“Tình trạng tham nhũng ở Việt Nam đã đến mức báo động, các nhà tài trợ đang trông chờ những hành động cụ thể từ Chính phủ. Vốn ODA trong giai đoạn mới sẽ phụ thuộc vào hành động thực tế đó của Việt Nam” – Đó là thông điệp chính từ các nhà tài trợ cho Việt Nam tại Hội nghị giữa kỳ nhóm tư vấn các nhà tài trợ diễn ra cách đây đúng 6 năm, vào ngày 9/6/2006 tại Nha Trang.
Hội nghị trên diễn ra ngay sau khi vụ tham nhũng PMU 18 bị phát giác. Cũng trong hội nghị này, trong khi bà Anna Lindstedt – đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam, nhấn mạnh rằng một trong những biện pháp chống tham nhũng hiệu quả là công khai, minh bạch thông tin cho báo chí, thì báo chí lại không được tiếp cận ngay cả khu vực hành lang trước phòng hội nghị…
Đã tròn 6 năm lặng tắt kể từ sự kiện sóng gió PMU18. Trong 6 năm ấy, không biết nhận định “Việt Nam là một trong những nước sử dụng vốn ODA hiệu quả nhất” đã được thực chứng như thế nào, chỉ biết rằng đã không có thêm bất kỳ một vụ scandal nào về ODA được lộ ra từ phía cơ quan chức năng Việt Nam. Có chăng, chỉ là vài “con sâu” như PCI – đại lộ Đông Tây xảy ra vào năm 2008 và mới đây nhất là câu chuyện người Đan Mạch đã quyết định dừng 3 dự án ODA viện trợ cho Việt Nam. Và những vụ việc ấy, đều chỉ được biết đến và làm rõ từ những người mang quốc tịch nước ngoài.
Một lần nữa, thể diện quốc gia lại bị đe dọa. Một lần nữa, ODA lại không hoàn thành chức trách nhiệm vụ đối với các nhu cầu sử dụng bức thiết ở Việt Nam, khi nguồn tài trợ này có nguy cơ bị xem xét lại – từ phía những cơ quan viện trợ quốc tế đang phải chịu búa rìu dư luận của những người dân có trách nhiệm đóng thuế cho chính phủ.
Từ năm 2006, khi vụ án PMU 18 nổ ra với hệ thống chứng cứ do phía Nhật Bản cung cấp, người ta đã phải nêu lại một triết lý then chốt và phù hợp nhất với nền tảng đạo lý: ODA không phải là tiền từ trên trời rơi xuống, mà đó là tiền đóng thuế của người dân các nước phát triển để dành cho người dân các nước đang và kém phát triển. Vì thế đương nhiên mối quan hệ giao tiếp về ODA không chỉ là giữa các chính phủ với nhau, mà thực chất nhất, đó chính là mối quan hệ trực tiếp giữa các cộng đồng nhân dân của các quốc gia. Chính người dân mới là đối tượng thụ hưởng và có toàn quyền kiểm soát đối với việc tiếp nhận và sử dụng nguồn tài trợ này.
Thế nhưng thực tế tiếp nhận và quản lý, sử dụng nguồn viện trợ ODA ở Việt Nam lại không có sự tham gia của các hội đoàn nhân dân. Ngay cả đại biểu Quốc hội – những người có chức trách đại diện cho cộng đồng nhân dân, cũng chỉ được biết đến kết quả sử dụng ODA qua các báo cáo, trong các cuộc họp thường kỳ.
Nhận thức thế nào thì hành xử thế đó. Thực tế quản lý vốn ODA đã chỉ được xếp khá xa sau phần hành quản lý vốn ngân sách. Hệ quả là đất nước phải trả giá với những hiện tượng “chi tiêu sai mục đích”… như thông tin về các dự án mà Đan Mạch tài trợ.
Điều khác là, lần này, DANIDA đã có riêng cho mình một cơ quan kiểm toán. Kết quả mà cơ quan kiểm toán công bố với dư luận quốc tế và xã hội Việt Nam đã nêu  bằng chứng cho những đồn đoán trước đó về thất thoát trong ODA: trong số 49 tỷ dồng mà dự án ODA chuyển cho phía Việt Nam, có đến 11 tỷ đã “bốc hơi”, chiếm đến 23%.
Cái giá của tham nhũng
Phía trước, con đường của ODA vẫn còn dài, và có thể còn quá đậm đà cho những ai quan tâm đến nó theo chiều kích “miếng ăn không phải là miếng nhục”.
Trong năm 2012, vẫn còn hơn 7 tỷ USD mà các đối tác nước ngoài đã cam kết giải ngân ODA cho Việt Nam. Xa hơn nữa về những năm tới, con số giải ngân còn có thể lên tới 20-30 tỷ USD, gần bằng một phần ba toàn bộ GDP của Việt Nam.
Nhưng ODA, như điều đã được mô tả là “cái giá của sự phát triển”, lại bao gồm một phần rất lớn – 90% hoặc hơn – là vốn cho vay chứ không phải là vốn viện trợ không hoàn lại. Cuộc chơi rút ruột nguồn vốn này sẽ để lại một món nợ tiềm tàng, từ đời này sang đời khác và trong không biết bao nhiêu năm nữa, cho con cháu của họ.
Đó chính là cái giá của tham nhũng.
Ở phía trước, vẫn còn không ít công trình giao thông sử dụng vốn ODA khủng như dự án Đường cao tốc TP.HCM – Long Thành – Dầu Giây, dự án Đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai, dự án Đường cao tốc Bến Lức – Long Thành, dự án xây dựng Đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên, dự án xây dựng Đường vành đai III Hà Nội giai đoạn 2. Mỗi dự án đó đều tương đương đến từ 5.000 đến 10.000 tỷ đồng hoặc hơn thế…
Thời gian có lẽ đã quá đủ, không phải cho lời hô hào chống tham nhũng hay những hội nghị hoặc bàn tròn về việc rút kinh nghiệm. Cái đủ đó chỉ đến khi người ta nhận ra rằng một đất nước vẫn có thể tồn tại và phát triển mà không cần đến ODA, nhất là khi đất nước ấy chưa có gì bảo đảm để chính thức chấm dứt nạn tham nhũng.
Dũng Hà
Theo TVN

Từ Lý Sơn, nắm lấy lại la bàn


Tôi viết bài này từ Lý Sơn, nơi tôi có mặt từ ngày 1 tháng Sáu.
Với tư cách là chủ tịch của ADEP Pháp Việt và đại diện cho hàng trăm người bạn thuộc quốc tịch Pháp hay Việt kiều ở Pháp, Đức, Séc, Ba Lan, cũng như những người bạn Việt Nam trong “phong trào” chống chiến tranh xâm lược của Mỹ, tôi đã trao cho 37 gia đình ở Bình Châu (huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) và 40 gia đình ngư dân ở Lý Sơn số tiền 322 triệu đồng. Phần lớn số tiền này được quyên góp trong hành trình của tôi qua các nước châu Âu để chiếu bộ phim Hoàng Sa Việt Nam: nỗi đau mất mát.
Đây là đôi chút thuốc giảm đau cố gắng đắp lên những vết thương của các ngư dân. Đây là hành động đoàn kết mạnh mẽ đối với các nạn nhân của chủ nghĩa khủng bố của Trung Quốc vẫn đang còn tiếp tục và ngày càng gia tăng ở vùng quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Đây cũng là thông điệp rõ ràng cho nhà cầm quyền Trung Quốc: rằng dư luận quốc tế đã bắt đầu biết đến những hành động ăn cướp, những vụ bắt bớ dã man, những hành động bạo lực mà hải quân Trung Quốc đã phạm phải đối với những người đánh cá hòa bình trên vùng biển truyền thống của cha ông họ. Bất bình và cả căm giận đang dâng lên và lan rộng. Có thể đánh lừa một số người trong một thời gian nhưng không thể đánh lừa mọi người mãi mãi.
Với một số bà vợ goá đã mất chồng tại Hoàng Sa
Trong khi trao món tiền cứu trợ này tôi đã được sự hợp tác đầy đủ của chính quyền Quảng Ngãi: Ủy ban Nhân dân tỉnh, Sở Ngoại vụ, Quỹ Hỗ trợ nghề cá, cũng như những người có trách nhiệm ở huyện và xã. Họ đã giúp tôi rất nhiệt tình và hiệu quả trong việc tập họp các gia đình. Họ đã đi theo tôi và có mặt trong tất cả các lần trao quà cứu trợ. Họ đã cho phép tôi phát biểu tuyệt đối tự do tất cả những gì tôi muốn nói với các ngư dân và gia đình họ. Tóm lại, tôi có thể khẳng định rằng về phía các nhà cầm quyền địa phương quả thật đã có một ý chí rõ rệt muốn cho mọi người biết tình cảnh thật của ngư dân và tạo thuận lợi cho sự cứu trợ đối với họ.
Với một số ngư dân bị Trung Quốc giam giữ 49 ngày tại đảo Phú Lâm (Hoàng Sa) và với chủ tàu Lê Vinh bị cướp phương tiện hành nghề
Nhưng còn các nhà cầm quyền trung ương thì sao?
Về điểm này tôi xin thú thật là tôi khá lo lắng và quả thật tôi nghĩ rằng một số trung tâm quyền lực cần một cái la bàn bởi vì họ đang thả mặc cho sóng gió và không ai biết họ định đưa con thuyền đến đâu.
Tôi biết chắc là Trung Quốc sẽ tiếp tục khủng bố ngư dân Bình Châu và Lý Sơn, chúng sẽ tiếp tục đối xử tàn tệ với họ, cướp thuyền cá của họ khiến họ tan gia bại sản bởi chúng muốn họ bỏ trống biển và để cho ngư dân Trung Quốc tha hồ tự do trên vùng biển ấy. Đấy là một sự thật. Nhưng khi tôi phát biểu những lo lắng của mình, thì câu trả lời chính thức luôn luôn là: “Không nên làm mất lòng Trung Quốc, họ quá mạnh; họ có thể dùng bạo lực, có thể phát động chiến tranh.” Vậy nên, nếu ta muốn có hòa bình, thì phải tránh tất cả những gì những gì khiến Trung Quốc không bằng lòng. Tức: đừng chiếu phim Hoàng Sa Việt Nam, nỗi đau mất mát: Sự thật trong phim này quá gay gắt sẽ làm Trung Quốc nổi giận. Nhất là đừng nói chuyện chính quyền tỉnh Quảng Ngãi đã giúp ông Lê Vinh, người bị hải quân Trung Quốc cướp mất tàu, 555 triệu đồng để ông có thể mua một chiếc tàu mới. Lộ chuyện ấy ra sẽ khiến người Trung Quốc căm ghét ông Lê Vinh và họ sẽ thủ tiêu ông ấy trong lần ra khơi sau. Mọi sự phải giữ kín trong nội bộ ta thôi, thậm chí phải tuyệt mật. Đối với người Trung Quốc việc ta giúp ngư dân là phạm tội và “người-Trung-Quốc-cái-gì-cũng-biết-và-ở-đâu-cũng-có-mặt” sẽ tiến hành những hành động khủng bố, trực tiếp trên biển, nhưng còn cả trên mặt trận kinh tế nữa… Cho nên: im lặng!
Duy nhất được phép là những phản đối lặp đi lặp lại của người phát ngôn Bộ Ngoại giao mỗi lần có gây hấn, mà Bắc Kinh chẳng thèm lập tức phản bác. Trong khi đó tình hình ngày càng xấu đi. Trung Quốc củng cố các căn cứ hành chính và quân sự của họ ở Hoàng Sa. Họ tấn công các tàu thuyền Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Họ đưa tàu quân sự của họ bảo vệ ngư dân của họ cướp bóc vùng biển mà Philippines đòi chủ quyền. Họ uy hiếp hạm đội Ấn Độ …
Khi các công dân Việt Nam, dù thiếu thông tin, quyết định phản ứng một cách hòa bình, xuống đường, viết các bài phản đối, thì liền bị đàn áp, nhiều khi nặng nề, đến bị bỏ tù. Tôi không thể không nhớ lại cách đây đúng một năm, ngày 5/6/2011, tôi và các bạn từng tranh đấu trong phong trào phản chiến ngày trước và nhiều bạn trẻ đã cùng xuống đường trong tinh thần ôn hòa để phản đối hành động cắt cáp của Trung Quốc đối với tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam. Sau đó, đã có thêm 10 lần xuống đường của người dân để phản đối Trung Quốc gây hấn. Những cuộc bày tỏ lòng yêu nước một cách tuyệt đối hòa bình ấy đã gặp không ít chuyện đáng giận từ lối hành xử lúng túng, đánh đập thô bạo, bắt bớ của những người nhân danh chính quyền nữa. Ở đây, có một nghịch lý ái quốc thật lạ lùng của nhà cầm quyền: để tránh cho nhân dân mình khỏi ăn dùi cui ngoại bang, chính họ phải cho đồng bào mình ăn đòn! Chưa bao giờ người Việt ta lại được tự phục vụ tuyệt đến thế!
Các nhà cầm quyền bảo hãy tin ở chúng tôi. Chúng tôi thương lượng ở cấp cao nhất. Tôi muốn hỏi: Có thể nói cho tôi biết đến nay những cuộc thương lượng rất bí mật ấy đã dẫn tới đâu? Đã mang lại kết quả gì tích cực cho nước Việt Nam, cho nhân dân Việt Nam? Trung Quốc có bao giờ dù chỉ một lần nói lên một lời lấy làm tiếc là đã đánh đập, nhấn chìm, bỏ tù, làm cho sạt nghiệp các ngư dân Việt Nam mà ta có thể tính con số lên đến hơn một nghìn người trong mười năm gần đây? Không hề! Trái lại họ càng gia tăng gây hấn, ngăn cấm ngư dân Việt Nam cùng lúc ngư dân Trung Quốc trên hàng chục tàu thuyền xuất hiện gần bờ biển Việt Nam. Trung Quốc có chịu từ bỏ “đường lưỡi bò” bành trướng muốn xâm chiếm 80% Biển Đông, vốn là tài sản chung của các nước ven bờ trong đó không có Bắc Kinh? Không hề! Trái lại, họ không ngừng rêu rao các tham vọng chủ quyền của họ mỗi khi có cơ hội và triển khai chiến lược chính trị, ngoại giao, kinh tế và quân sự để đơn phương áp đặt chúng trên bình diện khu vực và quốc tế. Từ năm 2002 các cuộc thương lượng ở cấp cao có đưa Bắc Kinh trở lại tôn trọng DOC mà họ đã ký? Không hề! Cả những cuộc thương lượng ấy lẫn những cuộc thăm viếng “16 chữ vàng” và “4 tốt”, cả những đường dây điện thoại gọi là nóng không ngăn được Trung Quốc tiến tới, gây hấn, dữ dằn hay lén lút hơn. Đấy là sự thật. Kiên nhẫn, im lặng, chờ đợi, “khéo léo”, chẳng gì đẩy lùi được mối hiểm nguy. Trái lại, điều đó lại tạo điều kiện cho Trung Quốc lặng lẽ chiếm lĩnh trận địa. Ta càng lùi, họ càng lấn tới. Ngôn ngữ nước đôi “16 chữ vàng” với lại “4 tốt” và những phản đối ngoại giao đã thành lệ chỉ làm hại Việt Nam. Một số lãnh đạo Việt Nam thăm Trung Quốc, thường là sau khi dư luận Việt Nam có phản ứng bất bình, hòa giọng với lãnh đạo Trung Quốc tuyên bố: “Đừng để cho các lực lượng phản động chia rẽ chúng ta”. Nhưng khi Trung Quốc tấn công ngư dân Việt Nam thì bọn phản động ở đâu? Đã đến lúc chấm dứt cái trò ngôn ngữ nước đôi đó đi, đừng che giấu bất cứ sự thật nào bởi vì điều đó phá vỡ, làm suy giảm hay gây phẫn nộ dư luận công chúng trong nước, đánh lạc hướng các bạn bè của Việt Nam trên thế giới, kìm hãm các liên minh mà Việt Nam cần để tồn tại. Ở Pháp tôi đã gặp nhiều lãnh tụ cộng sản hay các đảng cánh tả không hề biết có các cuộc gây hấn của Trung Quốc chống Việt Nam. Trong những điều kiện đó làm sao có được sự ủng hộ của họ? Làm sao dộng viên được toàn bộ giới trẻ Việt Nam để họ sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc khi không có bất cứ chương trình quốc gia nào về lịch sử và địa lý trình bày một chương nào về Hoàng Sa và Trường Sa? Có những sự lãng quên cực kỳ vô trách nhiệm và thậm chí đáng nghi ngờ.
Những sự im lặng, chờ đợi, sợ hãi, cấm doán ấy, mà ta không biết đích xác nguồn gốc, là hết sức nguy hiểm cho đất nước và nhân dân Việt Nam. Ai cũng biết – và nhân dân Việt Nam càng biết hơn ai hết – rằng càng lùi bước mãi trước một kẻ xâm lược lớn mạnh và quyết đoán thì cuối cùng sẽ bị đẩy vào chân tường. Và khi đã áp lưng vào tường rồi, thì đã quá muộn: không còn đường lui và tránh được tai họa nữa. Thương lượng với Hitler, cúi đầu trước y bằng hiệp ước Munich không ngăn được y xâm chiếm châu Âu hai năm sau đó! Tôi sợ những khoảnh khắc kinh hoàng ấy vì tôi đã từng nhìn thấy chiến tranh, tôi yêu quý hòa bình hơn bất cứ điều gì khác. Đấy là lý do tôi trả lời những người im lặng và khuất phục nhân danh hòa bình rằng thái độ của họ làm tăng nguy cơ xâm lược và chiến tranh. Phương cách duy nhất để tránh cuộc đối đầu chết người cho cả nhân dân Việt Nam lẫn nhân dân Trung Quốc là ngẩng cao đầu. Nắm lấy lại la bàn của một tinh thấn ái quốc chân chính, song quả quyết tự vệ. Bình tâm, và đầy phẩm cách. Cùng lúc với việc thông báo những sự kiện tích cực giữa hai nước, phải dũng cảm tố cáo các cuộc xâm lấn, tất cả các cuộc xâm lấn, một cách khách quan. Tố cáo với trong nước cũng như ngoài nước. Phải bảo vệ ngư dân của mình như Trung Quốc bảo vệ ngư dân của họ. Thực sự bảo vệ ngư dân bằng hỗ trợ quân sự. Liên tục, thường xuyên. Ngư dân Việt Nam không giống như ngư dân mà Trung Quốc gửi đến những khu vực tranh chấp. Đấy không phải là những ngư dân ngụy trang, những binh lính được huấn luyện và trang bị vũ khí, sẵn sàng cho các cuộc đối đầu. Ngư dân Việt Nam là ngư dân thật, những người lao động thật sự trên biển cả… Mặc những lời hoa mỹ về hỗ trợ nhiên liệu và những vật dụng khác, họ hoàn toàn đơn độc giữa biển khơi, đối mặt với một lực lượng hải quân được trang bị tận răng, với những binh sĩ tàn bạo được lệnh uy hiếp họ và coi họ là kẻ thù. Sẵn sàng hy sinh tính mệnh, cả kinh tế gia đình, tương lai con cái, những người anh hùng bình thường ấy là những người duy nhất giương cao lá cờ của Việt Nam trên biển cả cuả Tổ quốc bị ngoại bang xâm chiếm. Không có bất cứ lực lượng nào hỗ trợ cho họ: cả lực lượng Biên phòng chỉ bảo vệ bờ biển, lẫn hải quân không dám ra khơi xa, cả không quân. Tôi không thể kìm nổi bất bình khi nghe các diễn từ của những vị lãnh đạo cao cấp, bình yên trong tiện nghi sang trọng, khuyên ngư dân hãy tự bảo vệ lấy mình. Làm sao họ có thể tự bảo vệ khi đối mặt với một bộ máy sẵn sàng nghiền nát tất cả đang chờ họ và hoàn toàn tự do hành động? Họ ở giữa đấu trường, tay không đối mặt với sư tử.
Ngẩng cao đầu cũng còn có nghĩa là Nhà nước phải bước lên tuyến đầu và nhận lãnh lấy trách nhiệm xã hội của mình trước vô số nạn nhân mà bộ phim Hoàng Sa Việt Nam nỗi đau mất mát chỉ mới nói đến một phần rất nhỏ. Là phải tổ chức một chế độ đặc biệt ưu tiên hỗ trợ cho những người vợ góa và con cái mồ côi của những ngư dân mất tích trên biển ở Hoàng Sa. Một chế độ cho phép họ sống đàng hoàng không phải phụ thuộc vào sự giúp đỡ của láng giềng hay bạn bè. Đấy sẽ là chút biết ơn tối thiểu đối với những hy sinh và hiểm nguy mà họ gánh chịu. Đấy sẽ là một sự hỗ trợ tinh thần to lớn đối với họ. Tiền không thiếu. Tôi sẽ không kể đến hàng triệu đô la, là tiền đóng thuế của dân, đã biến mất trong những cái túi không đáy của một số doanh nghiệp Nhà nước. Ngẩng cao đầu không phải là một hành động hiếu chiến, đấy là một hành động tự trọng và tự vệ tối thiểu. Ngược lại cúi đầu là khuyến khích sự khinh miệt và gây hấn. Tình hình những tháng vừa qua chứng minh rằng mỗi sự khẳng định kháng cự kiên quyết trước bành trướng Trung Quốc đã tiết chế thái độ của họ trên trận địa.
Đúng là đám lãnh đạo đã thả những con sói ra trên các phương tiện thông tin mà họ điều khiển. Đe dọa và cả kêu gọi chiến tranh đã được tung ra. Nhưng bạo lực công khai, kể cả cái gọi là “cây gậy nhỏ” chưa bao giờ bộc lộ. Vì sao? Đơn giản là vì Trung Quốc không thể tự cho phép một cuộc phiêu lưu quân sự đầy hiểm nguy đối với Việt Nam hay với nước nào khác. 2012 không phải là 1979! Một mặt, một cuộc xung đột vũ trang, dù hạn chế là khá hấp dẫn đối với những con diều hâu ở Bắc Kinh: nó cho phép họ đánh lạc hướng dư luận ngày càng bất bình vì tham nhũng, cưỡng chế đất đai của nông dân, đàn áp, bất bình đẳng xã hội khổng lồ, phá hoại môi trường… bằng một thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Nhưng mặt khác, một cuộc xâm lược quân sự chắc chắn sẽ giáng một đòn kìm hãm nặng nề, thậm chí một cú chấm dứt định mệnh đối với phát triển kinh tế, là cái đảm bảo thật sự duy nhất cho ổn định chính trị. Đấy sẽ là khởi đầu của kết thúc chế độ. Sẽ tạo ra một cơ hội đặc biệt để gắn kết lâu dài mặt trận liên minh đang hình thành giữa ASEAN, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, Nga. Ngay cả các nước châu Âu cũng sẽ công khai vào cuộc! Không, Trung Quốc chẳng được lợi chút gì khi dùng vũ lực bất hợp pháp. Nó quá cần thế giới. Nó quá cần hòa bình. Đấy là “Đại cục” của Bắc Kinh và những người lãnh đạo của họ quá biết điều đó.
Vậy thì thưa các ngài hãy thôi đi chuyện ngăn chúng tôi thở vì lo sợ các nhà lãnh đạo Trung Hoa buộc tội các ngài cướp mất ôxy của họ! Hãy nắm lấy lại cái la bàn đã quá nhiều lần bị lạc mất. Hãy có được thái độ xứng đáng với những khẳng định chủ quyền của chúng ta, bên cạnh những người bạn của chúng ta trên toàn cầu.
Sẽ khiến cho người láng giềng to lớn của chúng ta nể trọng ta hơn, để mà xây dựng một nền hòa bình chân chính bền vững mà cả Trung Quốc và Việt Nam đều rất cần.
Lý Sơn, ngày 4/ 6/ 2012
André Menras – Hồ Cương Quyết
Nguyên Ngọc dịch từ nguyên văn tiếng Pháp.