Thứ Bảy, ngày 16 tháng 6 năm 2012

Truy tìm trọng phạm có tên là “Trách nhiệm”


Sẽ rất khó để có thể tìm ra “trách nhiệm” bởi dù các vị Bộ trưởng, hoặc mở mồm ra là nhận trách nhiệm hay “đến chết vẫn nói không”, thì đến giờ, chẳng ai rõ “Trách nhiệm” nó mồm ngang mũi dọc ra sao.
Quốc hội kỳ này, dù chỉ chất vấn có 4 vị bộ trưởng, nhưng lại được mùa “nhận trách nhiệm” và “nói không với trách nhiệm”. Ngoài Bộ trưởng Thăng nhận trách nhiệm, thì hăng nhất là Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng với 4-5 lần nhận trách nhiệm: Một phần trách nhiệm về việc độc quyền xăng dầu. Một ít trách nhiệm việc kéo dài độc quyền điện lực. Một tẹo trách nhiệm việc thủy điện tràn lan… Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường thì nhận trách nhiệm về 500 vụ khiếu kiện kéo dài. Thậm chí ông còn cương quyết “nhận thay trách nhiệm” cho “Bộ trưởng nhiệm kỳ trước” đã chót hứa cấp xong GCN QSDĐ vào năm 2010 mà giờ vẫn chưa xong.
Nhận trách nhiệm về độc quyền kéo dài và còn kéo dài độc quyền, song Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng nói “Xóa bỏ độc quyền là việc cần thận trọng”, vì thế, câu chuyện độc quyền 17 năm e cũng không thể sớm hơn. Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang lúc thì nói 2015, khi lại bảo 2013 sẽ cấp song GCNQSDĐ. Để được một câu này, ông nhăn nhó kêu khó quá nhiều. Và nếu như ông không thực hiện được lời hứa, vì có quá nhiều cái khó, thì đã có trường hợp lời hứa của “bộ trưởng tiền nhiệm” để sau này ông có thể xin QH thông cảm.
Hôm qua, dù không có trong danh sách chất vấn, Bộ trưởng Thăng vẫn được các vị đại biểu QH mời trả lời, bởi, như lời đại biểu Đỗ Mạnh Hùng, dù ông Thăng đã có trả lời, nhưng “văn bản trả lời dài năm trang rưỡi nhưng chỉ có một dòng rưỡi nói về trách nhiệm là chưa cung cấp thông tin kịp thời cho báo chí”. Đáp lại, ông Thăng cũng rất ngắn gọn “nhận trách nhiệm”. Thực ra, trước đó, trên 3 tờ báo, Bộ trưởng Thăng nói nguyên nhân việc bổ nhiệm “thuyền trưởng Vinalines Dương Chí Dũng là vì… Vinalines mất đoàn kết nội bộ. Và giờ, khi nhận trách nhiệm, Bộ trưởng “xin nhận” đã “chưa thực sự sâu sát…còn nóng vội…chưa cân nhắc thận trọng”. Tất nhiên, ông thòng thêm “trách nhiệm của tập thể lãnh đạo Bộ GTVT”. Tất nhiên, ông vẫn khẳng định việc “bổ Dũng” là đúng quy trình, đúng thẩm quyền.
Nói chính xác việc Bộ trưởng Thăng nhận trách nhiệm vì không thể không nhận trách nhiệm.
Nhận trách nhiệm, vì thế, có cũng như không.
Còn nhớ khi vụ Vinashin ra trước QH tháng 11 năm ngoái, trong khi Thủ tướng nhận trách nhiệm với tư cách người đứng đầu Chính phủ thì các vị Bộ trưởng “trốn hết”. Đến nỗi đại biểu QH Vũ Hồng Hà cũng thấy ái ngại: “Trong khi Thủ tướng nhận trách nhiệm về phần mình, các thành viên Chính phủ lại trả lời trước QH không thành viên nào nhận thiếu sót, trả lời “vô can”.
Đến hôm qua, màn hài kịch kinh điển này lại tái diễn khi nghe 2 vị tư lệnh ngành trả lời câu hỏi trách nhiệm. Bộ trưởng KHĐT Bùi Quang Vinh thì than phiền “Các vụ Vinashin và Vinalines, Bộ không nắm được vì không có báo cáo, trong các dự án đầu tư có sai phạm, Vinalines chỉ báo cáo đại diện chủ sở hữu mà không báo cáo với các bộ, ngành quản lý”. Vị Bộ trưởng thậm chí còn nêu ra một ví dụ sinh động: “Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Trung ương đến mà họ còn không tiếp”. Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ thì điềm đạm như một ông giáo làng, tự tin như một luật sư: “Kết luận thanh tra không có câu nào nói đến trách nhiệm của Bộ KHĐT và Tài chính”.
Thế còn 4.600 tỷ nợ nần của Vinalines? Thế còn những cái ụ tàu? Thế còn vị thuyền trưởng họ Dương? Thế còn vấn đề trách nhiệm?
Không lẽ đó vẫn tiếp tục là trách nhiệm của Thủ tướng? Không lẽ đó là trách nhiệm của một mình “thuyền trưởng” Dương Chí Dũng?
Mở mồm ra là nhận trách nhiệm hay “đến chết vẫn nói không” với trách nhiệm, thoạt nghe tưởng là ngược nhau. Nhưng thực ra, cũng chẳng mấy khác nhau, bởi dù nhận, dù không, đến giờ, cũng chẳng ai rõ “Trách nhiệm” nó mồm ngang mũi dọc ra sao. Nếu cần một thực tiễn, người ta thậm chí không cần phải nhíu mày khi vụ Vinashin vẫn còn sờ sờ ra đó.
Câu chuyện nhận, hay không nhận trách nhiệm từ vụ Vinashin cho thấy vấn đề trách nhiệm là cực kỳ “hữu hạn” khi tiếp nối ngay sau đó là Vinalines với một kịch bản y hệt. Vì thế, điều mà người dân và cử tri quan tâm hôm nay không phải là việc các bộ, ngành có nhận trách nhiệm hay không, không phải họ đã nhận hay từ chối trách nhiệm như thế nào, mà là việc họ sẽ làm gì để không còn những vụ bổ nhiệm “thuyền trưởng” đúng quy trình một cách bất thường, để không còn những con tàu đắm như Vinashin, Vinalines. Bởi suy cho cùng, người đang phải “chịu trách nhiệm”, hay đúng hơn là đang phải gánh “hậu quả của trách nhiệm” từ các vụ “chìm tàu”- chính là nhân dân. Bằng tiền túi của chính mình.
Còn nếu,“trách nhiệm” nó “ảo” đến mức sai phạm được hiểu như là tại “số”, thì nên đọc chú Đại Bi, thứ mà một nhà sư đã tặng Bộ trưởng Thăng: Nguyện đấng đại bi Quán Âm Bồ Tát ngàn tay nâng đỡ, ngàn mắt chiếu soi, khiến cho chúng con duyên chướng trong ngoài dứt sạch hạnh nguyện vina.
Đào Tuấn

Thứ Sáu, ngày 15 tháng 6 năm 2012

Các giải pháp giảm tội phạm

Buổi chiều ngày 14-6, Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang trả lời chất vấn cùa ĐBQH: “Vì sao tội phạm gia tăng, trong đó có tội phạm vị thành niên, giải pháp ra sao?” Theo ông, tội phạm gia tăng là do các nguyên nhân sao đây: Tình hình kinh tế xã hội có nhiều khó khăn; Tình trạng xuống cấp đạo đức nghiêm trọng; Ảnh hưởng của văn hóa đồi trụy và bạo lực du nhập; Các văn bản pháp luật còn bất cập; Các biện pháp phòng ngừa tội phạm của ngành công an và của các ngành chưa đầy đủ; Sự vào cuộc của các ngành, các đoàn thể còn nặng về hình thức, chưa có nội dung thật thiết thực. Từ đó, ông cho rằng phải tiến hành đồng bộ các biện pháp tổng hợp sau đây: Ngành công an phải chủ động lập kế hoạch phòng chống tội phạm và phối hợp với các ngành có liên quan, tập trung nhằm trước hết là các loại tội phạm nguy hiểm; Đảm bảo cuộc sống bình yên cho nhân dân với các biện pháp: Xây dựng khu dân cư văn hóa; Xây dựng lực lượng chính trị nòng cốt cho đảm bảo an ninh; Xây dựng phong trào quần chúng phát hiện, ngăn chặn tội phạm; Tổ chức đợt cao điểm trấn áp loại tội phạm đang nổi lên rồi đưa vào thực hiện thường xuyên;Tập trung phá những vụ án nghiêm trọng để đưa ra xét xử kịp thời. Đối với tội phạm vị thành niên, ông cho rằng phải tăng cường giáo dục ở gia đình, nhà trường và xã hội.

Nội dung trả lời của Bộ trưởng Trần Đại Quang hoàn toàn đúng ở trách nhiệm của ngành công an. Tuy nhiên nếu hỏi trách nhiệm của Chính phủ, thì không chỉ đặt vấn đề trong phạm vi đó mà phải bàn thêm một số điều. Bởi vì làm giảm tội phạm không thể chỉ là trách nhiệm của ngành công an. Đó là trách nhiệm quản lý nhà nước bằng các chính sách kinh tế – xã hội. Cùng với tăng trưởng kinh tế, phải có biện pháp giảm khoảng cách giàu nghèo, phải chống đặc quyền đặc lợi, phải làm sao để mọi người phải được bình đẳng trong cơ hội làm ăn, học hành, trị bệnh và trước pháp luật. Các chính sách về đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa, đầu tư công, chống tham nhũng đều phải minh bạch, không để bất cứ một thất thoát của công nào dù nhỏ, không quy được trách nhiệm cá nhân.Chính hiện tương tham nhũng của quan chức không bị trừng trị đã kích thích lối tranh đoạt phi pháp trong dân gian. Bởi vậy phải tạo được môi trường pháp lý trong sạch, có hệ thống pháp luật đầy đủ, không bị “nhóm lợi ích” thao túng, xây dựng các cơ quan bảo vệ pháp luật mạnh, gồm những cán bộ nghiệp vụ giỏi, đạo đức tốt. Đảm bảo không còn án sai, án oan, không có chạy án, những hiện tượng đã làm cho người dân có ý nghĩ ra tay tự xử tốt hơn đưa ra tòa án xử, mua tòa án tốt hơn tin tòa án.

Khi số đông người dân có niềm tin rằng nhà nước đảm bảo được sự công bằng, kẻ ăn cắp của công chắc chắn sẽ bị pháp luật trừng trị, tòa án là nơi thực thi công lý thì những hành vi phi pháp sẽ giảm thiểu. Khi những vị lãnh đạo, bậc cha chú, người thày sống liêm khiết, gương mẫu, hòa nhã, rộng lượng thì lớp thanh thiếu niên mới có gương sáng để mà noi theo.

Tống Văn Công
Theo Viet-Studies

“Bất cứ ai làm cho đất nước suy hèn đều có tội với Tổ tông và dân tộc”

Hoàng Sa ơi, Việt Nam ơi,
Hoàng Sa mãi mãi của người Việt ta
Ðừng ai vô cảm Hoàng Sa
Ðể mà mang tội ông cha muôn đời
Cũng đừng làm nước suy đồi,
Lịch sử phán xét ôi thôi còn gì!
Mỗi người kế hoạch khả thi
Sao cho nội lực ai bì kịp ta!
Xâm lăng, tàm thực tránh xa
Ðừng hòng làm nhục nước nhà Việt Nam,
Biển Ðông bắt nạt ngư dân!
Ðừng hòng xử ép, nào thân nỗi gì!

Tháng 8 năm 2011, tôi cùng nhà cựu ngoại giao Dương Danh Dy nói chuyện về Hoàng Sa & Trường Sa tại Trường Ðại học Ngoại thương ở Hà Nội. Một nữ sinh viên đã phát biểu một câu nói bất hủ: “Bất cứ ai vô cảm với Hoàng Sa & Trường Sa đều có tội với Tổ tông và dân tộc,” sau khi nghe tôi nói: “Bất cứ ai làm cho đất nước suy hèn đều có tội với Tổ tông và dân tộc”!

Tôi cũng đã từng nói: “Sự thật lịch sử chỉ có một. Lịch sử rất công bằng và nghiêm khắc với bất cứ ai kể cả nhà sử học”!
TS Nguyễn Nhã thuyết trình tại Hội thảo San José tháng tư 2010 hoangsa.org
Gần đây xảy ra câu chuyện giữa một du học sinh Việt Nam với các du học sinh Trung Quốc, du học sinh Việt Nam trên đã tỏ ra rất lúng túng khi trao đổi về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Ðông!

Từ hồi tôi còn trẻ, hơn 30 tuổi cho đến nay đã bảy mươi tư tuổi, tôi vẫn đeo đuổi đi tìm sự thật về chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa.

Ngày 20 tháng 1 năm 1975, nhân kỷ niệm một năm ngày Trung Quốc dùng võ lực cưỡng chiếm Hoàng Sa, tôi cùng Võ sư Trần Huy Phong và GS Ngô Gia Hy tổ chức triển lãm trưng bày tư liệu lịch sử minh chứng chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa & Trường Sa ở Thư viện Quốc Gia tại Sài Gòn. Với tính cách Trưởng ban tổ chức, tôi phát biểu, đã xúc động không cầm được nước mắt và như báo Sóng Thần hồi ấy đưa tin mọi người ôm nhau khóc ròng!

Trong cuộc hội thảo quốc tế về Biển Ðông lần thứ ba tại Hà Nội cuối năm 2011 vừa qua, một học giả Trung Quốc đã phát biểu rằng trong các thế kỷ vừa qua Trung Quốc đã bị các nước phương Tây xử ép và làm nhục; thời nay đã khác và kêu gọi các nước Á Ðông đoàn kết với Trung Quốc! Tức thì tôi đã phát biểu rằng vậy thì Trung Quốc có chia sẻ với Việt Nam đang bị xử ép và làm nhục không?

Cũng trong hội thảo quốc tế trên, để phản bác một học giả khác của Trung Quốc phát biểu rằng sự kiện Trung Quốc đăng ký với Ủy ban Ðăng ký Thềm lục địa LHQ “Ðường lưỡi bò” ở Biển Ðông chỉ là sự kế thừa lịch sử. Tôi đã hỏi rằng vậy quý học giả đã kế thừa, tiếp cận được hay không sự kiện lịch sử năm 1909, chính quyền Quảng Ðông cho là Paracels tức Hoàng Sa là đất vô chủ (res-nullius), đã tổ chức chiếm hữu theo phương cách phương Tây như đem tàu chiến đến bắn 21 phát súng, cắm cột mốc chủ quyền… và đã tiếp cận được hay không biết bao tài liệu của phương Tây bằng nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha,… Paracel đã thuộc về từ lâu chủ quyền của xứ An Nam hay Cochin China – Xứ Ðàng Trong của Ðại Việt hay chưa? Và có biết đến luận án tiến sĩ sử học của tôi về “Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa & Trường Sa” hay không? Và để lấp đầy sự khác biệt về lịch sử, tôi đề nghị nên có một hội thảo quốc tế về chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa.

Ngày 16 tháng 6 năm 2012, từ Việt Nam, mặc dù tuổi đã cao, tôi vẫn cố lặn lội đến Boston, chỉ cốt nói với các du học sinh tại trường Ðại học Harvard, một đại học uy tín chất lượng cao nổi tiếng trên thế giới về sự thật lịch sử chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa với ước mong các bạn du học sinh ở trường Harvard giúp tôi hoàn chỉnh bản tiếng Anh hơn 500 trang hồ sơ tư liệu về chủ quyền củaViệt Nam tại Hoàng Sa & Trường Sa, cùng giúp tôi đưa đến các thư viện có trong danh sách mà năm 1960, Headquarters, U.S. Pacific Broadcasting and Visual Activity AP0331 đã gửi tài liệu “Analysis on The Spratley-Paracel Islands Dispute,” No 010660.

Trong hơn 500 trang tư liệu kể trên,tôi chỉ mong các bạn lưu ý, tập trung thảo luận và quảng bá 3 thông tin chi tiết cụ thể sau đây:

Một là Ðại Việt sử ký tục biên (1676-1789) do các sử thần thời Lê – Trịnh biên soạn theo lệnh của Trịnh Sâm năm 1775, đã nói rõ về hoạt động của đội dân binh Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải và có đoạn viết: “Ðặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào đội ấy, cắt lượt nhau đi thuyền đến đảo mò tìm sản vật. Mỗi năm cứ tháng Ba ra đi, mang lương ăn sáu tháng, đi thuyền ra biển ba ngày ba đêm mới đến đảo…”, “Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy được…” (Quyển 2, từ tờ 82b-85a).

Hai là Ðại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 52 (đời vua Gia Long) một lần nữa lại ghi rõ ràng: “Năm Bính Tý, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816), vua Gia Long ra lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy trình…”. Trong khi những tài liệu của những người phương Tây từng hoạt động trong Triều Gia Long như Chaigneau, Taberd đã công bố những hành động của vua Gia Long cụ thể hơn. Chaigneau, đã viết trong hồi ký Le mémoire sur la Cochinchine:  “Chỉ đến năm 1816, đương kim hoàng đế đã chiếm hữu quần đảo ấy” hay Giám Mục Taberd viết: “Chính là vào năm 1816 mà ngài (vua Gia Long) đã long trọng cắm tại đó lá cờ của xứ Ðàng Trong. Gutzlaff năm 1849 đã cho biết chính quyền Việt Nam thời Gia Long đã thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt Nam”. Ðặc biệt năm 1838, Giám mục Taberd đã vẽ bản đồ có tọa độ An Nam Ðại Quốc Họa Ðồ đính kèm trong cuốn tự điển Latin – An Nam ghi rõ Paracel seu Cát Vàng; seu tiếng Latin có nghĩa hay là.

Ba là phúc tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836) trong tập châu bản Minh Mạng 55 trang 336, ghi lời châu phê của vua Minh Mạng: “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước, rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ: “Năm Bính Thân (Minh Mạng thứ 17), họ tên cai đội thủy quân phụng mệnh đi đo đạc, cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu”. Vua cũng phê rằng, “thuyền đi đâu, phải cắm cột mốc đến đó để lưu dấu”. Phúc tấu cũng còn ghi chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhật được phái từ Thuận An vào Quảng Ngãi để đi công tác Hoàng Sa.

Trong khi chính sử, Ðại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 (đời vua Minh Mạng), viết rất rõ quan điểm của Bộ Công và hoạt động của Bộ này tại Hoàng Sa: “Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836) (năm Ðạo Quang thứ 16 đời nhà Thanh) Bộ Công tâu: ‘Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta, rất là hiểm yếu, từng sai vẽ bản đồ riêng về hình thế xa rộng, ta mới chỉ vẽ được một, rồi lại cũng chưa biết vẽ nên làm thế nào. Hàng năm, thường phái người đi xem xét cho khắp để thông thuộc đường biển. Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần Tháng Giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp 1 chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa. Không cứ là đảo nào, bãi cát nào, phàm khi thuyền đến nơi, tức thì cứ chiếu chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, và nước biển, bãi biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở bình dị thế nào, phải xem xét đo đạc rõ ràng, vẽ thành bản đồ…’”.

Ðại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 còn chép: “Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật điều binh thuyền đi đem theo 10 cái bài gỗ dựng bàn dấu mốc, chủ quyền”. Mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ Hán: “Minh Mạng thập thất niên (1836), Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa đương độ chí thủ lưu chí đẳng tự”.

Với kiến thức về pháp lý quốc tế từ đầu thế kỷ đến nay cùng những thông tin lịch sử cụ thể trên thì chắc chắn các bạn không thể lúng túng khi tranh luận với các bạn trẻ Trung Quốc về Hoàng Sa & Trường Sa. Dù thế nào đi chăng nữa, dù lý của kẻ mạnh như thế nào chăng nữa thì lịch sử dân tộc ta không cho phép chúng ta hèn yếu. Như tôi đã từng nói: “Muốn lấy lại Hoàng Sa, giữ những gì còn lại của Trường Sa thì mỗi người Việt Nam phải có một kế hoạch nhỏ xây dựng nội lực đất nước hùng cường”.

Ðầu thế kỷ 20, cụ Phan Bội Châu đã khởi xướng phong trào Ðông Du hầu canh tân đất nước hùng cường để cứu nước. Nay chúng ta đang có phong trào thế giới du. Không có cách nào khác, trước những nguy cơ chưa từng có tại Biển Ðông, các bạn trẻ Việt Nam không phân biệt chính kiến, hãy cùng nhau dẹp bỏ những gì “xấu xí” của người Việt như quá ham những tư lợi hại nước hại dân, thiếu đoàn kết, đố kỵ khích bác lẫn nhau… mà phải có lòng yêu nước chân chính có tâm, có tầm như người Nhật Bản để cùng nhau xây dựng nội lực đất nước hùng cường. Mong vậy thay!
Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, Tiến sĩ Sử học
Nguồn: Người Việt
———————————————————
Tiến sĩ Sử học Hãn Nguyên Nguyễn Nhã: Đưa Hoàng Sa – Trường Sa ra với thế giới

Lê Thanh Phong

Ngày 29.4.2012, Tiến sĩ Nguyễn Nhã lên đường sang Mỹ để thực hiện một công việc mà ông cho rằng rất quan trọng đối với ông, đó là hoàn thành bản dịch ra tiếng Anh công trình “Hồ sơ tư liệu chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa” mà ông đã dày công nghiên cứu thực hiện trong mấy chục năm qua.
Đảo Trường Sa Lớn – Ảnh: Đỗ Hùng
Quen biết với Tiến sĩ Nguyễn Nhã đã lâu, qua nhiều lần trao đổi, làm việc, mới hiểu được ông là người có niềm đam mê rất lớn về nghiên cứu sử học và ông đã lựa chọn đường đi “sử học” của mình là Hoàng Sa – Trường Sa. Ông từng tâm sự, trước đây khi làm đề cương luận án tiến sĩ về đề tài này, một người bạn thân trong giới khoa học khuyên ông “không nên nhảy vào ổ kiến lửa”, còn một vị giáo sư khác lại phát biểu trong hội đồng xét duyệt đề cương luận án rằng “đề tài này phải là cấp quốc gia, một cá nhân không làm được”. Ông biết, không phải họ không tin vào năng lực nghiên cứu khoa học và sử học của ông, nhưng có một điều gì đó khiến họ không tin là ông sẽ làm được, ít nhất là khó tiếp cận được các nguồn thông tin, tư liệu thuộc loại “thâm cung bí sử” này.

Nhưng những lời can gián chân thành đó không ngăn được ông. Ông chọn một con đường quá chông gai, khó tìm được sự hợp tác. Vào thời điểm đó, ít ai nhận ra tầm quan trọng của nó, nhưng đến bây giờ, ai cũng có thể hiểu được rằng, may mà có một Nguyễn Nhã dấn thân vào con đường khoa học với đề tài lịch sử liên quan đến chủ quyền của quốc gia trên biển Đông và hai quần đảo phên giậu của tổ quốc, ngay từ khi ông còn là chủ biên Tập san Sử Địa số 29, đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa (1975).

TS Nguyễn Nhã nói vui, nhưng thực lòng rằng, ông có cái tật không chữa được, đó là đã say mê cái gì rồi làm cho tới cùng và cái mà ông say mê bao nhiêu năm qua là đi tìm mọi chứng cứ, tư liệu lịch sử để chứng minh chủ quyền của VN trên biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa. Ông đã làm được khá nhiều, nhưng với ông thì vẫn chưa tới cùng, ở cái tuổi ngoài 70, ông vẫn còn mang nỗi khát khao được đi thêm một chặng nữa với Hoàng Sa và Trường Sa, xem đó như là sứ mệnh của đời mình.

Chặng đó là gì, như ông nói, là phải đưa được công trình khoa học chứng minh chủ quyền của VN trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ra với thế giới. Trong thời gian qua, TS Nguyễn Nhã và các cộng sự, với sự giúp đỡ của Quỹ biển Đông, đã dịch công trình “Hồ sơ tư liệu chủ quyền của VN tại Hoàng Sa và Trường Sa” ra tiếng Anh. Công trình này gồm có ba phần. Phần thứ nhất là tư liệu của Bộ Tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương và các tài liệu của phương Tây từ thế kỷ 19 trở về trước, chứng minh chủ quyền của VN trên biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa. Phần thứ hai là các tham luận của TS Nguyễn Nhã tại các hội thảo về biển Đông được tổ chức tại VN, Pháp và Mỹ. Phần thứ ba là toàn văn luận án tiến sĩ “Quá trình xác lập chủ quyền của VN tại Hoàng Sa và Trường Sa” của TS Nguyễn Nhã, có thêm phần phụ lục bổ sung các tư liệu mới. Theo TS Nguyễn Nhã, năm trước, ông gửi hồ sơ tư liệu này cho Văn phòng Quốc hội Mỹ, ông Jim Webb – Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain và Hội Địa lý quốc gia Mỹ, cùng Trung tâm Nghiên cứu chiến lược quan hệ quốc tế Mỹ.

Chuyến đi Mỹ lần này TS Nguyễn Nhã sẽ cùng các chuyên gia hoàn thiện bản dịch tiếng Anh và sau đó sẽ gửi cho thư viện các trường đại học có ngành học Châu Á học ở Mỹ và gửi cho Thư viện Quốc hội Mỹ. Thư viện này có chi nhánh nhiều nơi trên toàn nước Mỹ. TS Nguyễn Nhã cho biết, trong chuyến đi năm 2011, ông đã gặp gỡ, trao đổi với các nhà khoa học VN và Mỹ về các vấn đề chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa – Trường Sa, nói chuyện với cộng đồng người Việt, có cả người Mỹ về đề tài biển Đông, giới thiệu về công trình nghiên cứu của ông. Các buổi trao đổi đó rất được giới khoa học và Việt kiều quan tâm. Có nhiều người đề xuất về việc in và quảng bá công trình bằng tiếng Anh, đó cũng là sự động viên để ông xúc tiến nhanh công trình bản tiếng Anh.

Lần này, mục tiêu đặt ra là phải giới thiệu đến với các trường đại học và các cơ quan, tổ chức quan tâm đến vấn đề biển Đông, để họ có cơ hội tiếp cận với sự thật lịch sử rằng, VN có chủ quyền và quyền tài phán trên biển Đông và Hoàng Sa -Trường Sa. TS Nguyễn Nhã khẳng định, VN là quốc gia mạnh nhất về tư liệu lịch sử chứng minh về chủ quyền, chưa có một quốc gia nào có đủ chứng cứ lịch sử được như vậy. Riêng Trung Quốc thì hoàn toàn không có mà chỉ suy diễn. Ông nói: “Cái mạnh của VN là chứng cứ lịch sử đầy đủ, không khai thác thế mạnh đó là uổng phí. Tôi quá sốt ruột nên phải bắt tay vào làm. Trong nước đã làm được một bước, bước tiếp theo là công bố cho cộng đồng thế giới biết về chủ quyền của VN trên biển Đông”.

Trả lời về vấn đề các nguồn tài trợ để thực hiện những công việc quan trọng này, TS Nguyễn Nhã cười nhưng cũng có đôi chút tâm tư, bởi vì không có bất cứ nguồn tài trợ nào từ Nhà nước hay các tổ chức, mà là tiền riêng và sự hỗ trợ của bạn bè, người thân. Ông tự bỏ tiền túi ra để mua vé máy bay, sang Mỹ thì có người thân đưa đón, lo ăn ở. Thế thôi. Nhưng mà biết làm sao được, lòng yêu nước thương nòi có ai tính toán bằng tiền bạc, kể cả máu xương.
L.T.P.
Nguồn: Lao động

Bài học Hòa Bình

Cái nghèo kỷ lục, nghèo không ngóc đầu lên nổi và tình trạng thất nghiệp, không có việc làm đang là một trong những vấn đề xã hội bức xúc nhất ở nông thôn Việt Nam.
10 năm trước, ngày 6-12-2002, Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc của QH, Đại biểu QH Bùi Thị Bình nói về “bài học Hòa Bình” như là một điển hình cho tình trạng “mang con bỏ chợ”: “Công trình hoàn thành cả (mấy) chục năm nay mà hậu quả xã hội vẫn còn đeo đẳng”. Người phụ nữ dân tộc Mường này hẳn đã rất đau lòng khi nói ra trước Quốc hội câu truyền miệng của người Hòa Bình “Chạy vì nước nhưng không có nước, chạy vì điện mà không có điện”.

10 năm sau, ngày 13-6-2012, “bài học Hòa Bình” một lần nữa lại được nhắc lại khi Đại biểu QH Nguyễn Thái Học (Phú Yên) công bố tỷ lệ hộ nghèo ở khu tái định cư thủy điện Hòa Bình. 40 năm kể từ khi hòn đá đầu tiên được ném xuống Sông Đà, tỷ lệ hộ nghèo không giảm mà đang tăng, từ 34% năm 2007, lên đến 49%, chưa tính đến 30% hộ cận nghèo. Đó là tình trạng mà Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình Bùi Văn Tỉnh năm ngoái từng thừa nhận: 94% hộ khu TĐC làm nông nghiệp nhưng đất sản xuất ít nên hàng năm người dân vẫn phải vay tiền ngân hàng để mua lương thực. Do: “Không có quy hoạch khu tái định cư”, “Di dân theo kiểu chuyển vén” (ở tạm, chạy theo) và “Không ổn định cuộc sống cho bà con”.

Vấn đề không chỉ là Hòa Bình, khi ở Phú Yên nơi có nhiều công trình thủy điện, tỷ lệ hộ nghèo trên 60%, có xã trên 80%. Hay điển hình là khu tái định cư thủy điện Bản Vẽ với tỷ lệ hộ nghèo đạt đỉnh 89,58%.

Vấn đề càng không phải chỉ là tái định cư thủy điện. Trong 5 năm qua, thống kê ở 20 tỉnh, thành phố đã có 298.093 lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, nhưng chỉ có 177.894 lao động có việc làm. Theo Bộ NN&PTNT việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã tác động đến đời sống của trên 627.000 gia đình, 95.000 lao động, 2,5 triệu nhân khẩu nông nghiệp. Trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất ở có 1,5 lao động không có việc làm, mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc làm phải chuyển đổi nghề nghiệp.

Cái nghèo kỷ lục, nghèo không ngóc đầu lên nổi và tình trạng thất nghiệp, không có việc làm đang là một trong những vấn đề xã hội bức xúc nhất ở nông thôn Việt Nam.

Đây là hậu quả trực tiếp khi “Chúng ta” đã lấy đi một diện tích đất rất lớn, tước đi cái “cần câu cơm” của nông dân, khiến quy hoạch sử dụng đất tại các địa phương bị phá vỡ, người nông dân phải nhường đất đai, ruộng vườn, nhà cửa, di dời đến nơi tha phương cầu thực, nhưng đời sống ngày một khó khăn do thiếu đất sản xuất và những bất cập trong công tác đền bù, hỗ trợ tái định cư.

Báo cáo giám sát của Ủy ban thường vụ QH đưa ra một thực tế gây bức xúc. Đó là chênh lệch quá lớn giữa giá bồi thường khi thu hồi đất và giá bán nhà đầu tư bán trên thị trường. Một ví dụ là trong khi đền bù cho dân với giá từ 4.000 đến 13.500 đồng/m2, thì nhà đầu tư sau khi chuyển đổi đã bán với giá từ 30 – 50 triệu đồng/m2. “Một ngàn lần chênh lệch” có vẻ là lý do thuyết phục nhất cho tình trạng 70% khiếu tố là về đất đai.

Nhưng sau khi thu hồi của dân, đất đai đã được sử dụng thế nào?

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy cả nước có 267 KCN với tổng diện tích 72.000ha và 650 cụm công nghiệp tốn 28.000ha đất. Tuy nhiên, có tới hơn 50% diện tích đến giờ vẫn bỏ hoang. Thêm vào đó là tình trạng 365.000ha đất bỏ hoang hóa, cấp sai đối tượng, chuyển nhượng trái pháp luật, sử dụng sai mục đích và vô số các dự án bị “treo” xuyên thế kỷ của 10.796 tổ chức, cá nhân trên toàn quốc.

Thưa các vị đại biểu QH, kể từ hôm 6-12-2002 , khi “bài học Hòa Bình” được phát biểu một cách cay đắng, như một tiếng kèn báo động trước QH, các vị đã làm gì thêm để giúp người Hòa Bình giảm nghèo?

Thưa “Chúng ta”, đã gần 40 năm qua, chúng ta đã làm gì? Để giúp những người dân Hòa Bình nói riêng và nông dân mất đất nói riêng không rơi vào đói nghèo.

Tại phiên chất vấn về đất đai, Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé (Tiền Giang) đã đặt một câu hỏi “chính xác đến từng centimet”: 70% đơn thư khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai. Tại sao kết quả giải quyết của ta đạt được rất cao, trên 90%, mà người dân vẫn còn khiếu nại nhiều? liệu các giải pháp ta đưa ra như thế có vấn đề không?

Chỉ tiếc là câu hỏi “giải pháp có vấn đề” đã không được trả lời. Vì thế, có thể 10 năm sau, “bài học Hòa Bình” sẽ vẫn còn được nhắc lại, chỉ có điều, sẽ ở trên diện rộng hơn rất nhiều.

Đào Tuấn
Theo Đào Tuấn blog

Thứ Năm, ngày 14 tháng 6 năm 2012

Một chữ Dân

“Một chữ” là mượn cách diễn đạt của Lê Quý Đôn để nói về chữ DÂN khi nghĩ về ông Sáu Dân nhân ngày ông ra đi. Trong “Lời nói cuối sách” của cuốn “Quần thư khảo biện” viết năm 1757, nhà bác học Việt Nam thế kỷ 18 viết : : “Kinh Dịch nói : “Biến động trong thiên hạ chính đáng chỉ có một [lý] thôi. Chí lý thay chữ”một”. Lấy chữ “một” ấy mà xuyên suốt mọi việc thì dù bốn bể chính châu cách trở, ngàn xưa trăm đời xa xôi, mọi trao qua đổi lại, mọi xem xét đánh giá đều vẫn rõ ràng như bày ra trước mắt, rành rọt như trỏ bàn tay vây” [tr. . Xin được mượn cách diễn đạt ấy để nói đôi điều về cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt vào cái ngày ông đã tuyệt đối nằm xuống, để rồi hôm nay là ngày Giỗ lần thứ tư của ông, 11.6.2012.
Đúng là “thời gian, theo quy luật khắc nghiệt của nó, sẽ xòa mờ đi tất cả; nhưng cũng còn một quy luật khác, mạnh mẽ không kém: có những điều, những con người mà thời gian, ngược lại, sẽ chỉ soi sáng thêm lên, vừa ngày càng rõ ràng, rỡ ràng, vừa như mãi còn bí ẩn, Như ngọn núi kia, càng đứng xa ra mới càng đo được hết tầm cao và chiều sâu"**. Ông Sáu Dân nằm xuống vậy là đã bốn năm. Trước những diễn biến của thời cuộc trong bốn năm qua, càng ngẫm ra được về sự thiếu vắng của con người ấy. Trong câu chuyện đời thường của bạn bè quanh chén trà bè bạn, một câu nói quen thuộc thường bật ra "Phải chi lúc này còn ông Sáu Dân". Đó là một xót xa hay một lời khen tặng? E cả hai!
Vì rằng, Thời gian là ân huệ trong sự nghiệt ngã. Quả thật, "càng đứng ra xa mới càng đo được hết tầm cao và chiều sâu" của con người ấy. Để rồi trong cái "tầm cao" và "chiều sâu" của người cần tiếp tục được khám phá ấy, nếu ngay bây giờ đây thì chỉ một [chữ] thôi như cách của Lê Quý Đôn “ lấy chữ “một” ấy mà xuyên suốt mọi việc” thì đó chính là chữ “DÂN”!
Chính chữ ấy là chìa khóa để giải mã “hiện tượng Võ Văn Kiệt“. Vì, nói đến dân tộc, trước hết và sau cùng là phải nói đến “dân”. Nói đến sức mạnh đại đoàn kết dân tộc cũng chính là nói đến DÂN, là sự gắn bó, thông cảm, tin tưởng và khoan dung giữa những “người trong một nước phải thương nhau cùng” trong tự tình dân tộc vốn trầm tích trong tâm hồn Việt Nam, truyền thống Việt Nam. Nhờ chân thành lắng nghe ý chí và nguyện vọng của dân, ra sức mở rộng dân chủ để khởi động và phát huy đến mức cao nhất trí tuệ của dân, mà ông có được tầm nhìn vượt xa lên phía trước. Với tầm nhìn ấy, Sáu Dân thường đưa ra những ý tưởng mang tính đột phá có sức gợi mở lớn trên những vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối nội và đối ngoại. Mà “đột phá” được  là vì biết tắm mình trong biển cả nhân dân, học được từ dân tính năng động sáng tạo để bồi đắp cho trí tuệ của mình, khiến cho trí óc không bị xơ cứng vì những công thức cũ kỹ cứng nhắc, những giáo điều ẩm mốc đã bị cuộc sống vượt qua. Đột phá được là nhờ thật sự tin dân, học dân, phát huy dân.
Có phát huy dân chủ mới phát hiện và quy tụ được hiền tài, làm bừng nở trí tuệ và tài năng của mỗi người Việt Nam trong và ngoài nước, trước hết là của thế hệ trẻ, nguồn sinh lực của Tổ quốc. Có vậy mới tìm ra được giải pháp cho mọi tình huống. Khái niệm Dân trong khối óc và trái tim của ông gắn làm một với dân chủ.
Từ cuộc sống nhẫn nại và quyết liệt của đồng bào mình, ông tiếp thu những nét thâm thúy và mộc mạc hòa quyện trong sự thông tuệ dân gian thấm đẫm chất văn hóa. Cùng với cái đó là những cố gắng tự làm giàu trí tuệ của mình bằng sự học hỏi và lắng nghe chuyên gia, những trí thức mà ông thật lòng quý trọng. Đó là suối nguồn bất tận làm nên một nhân cách văn hóa Sáu Dân, vừa có sự dung dị nhưng không kém sâu lắng, vừa bộc trực, hồn nhiên nhưng không thiếu phần minh triết và tế nhị trong ứng xử, trong quyết sách, những điều thể hiện một tầm vóc Võ Văn Kiệt. Bình sinh, những ý tưởng của ông Sáu Dân từng gây được ấn tượng mạnh cho những ai đang ưu tư về vận nước, cho những trái tim biết rung động với những ngang trái của cuộc đời, những đầu óc dám vượt qua những hạn hẹp trói buộc của định kiến để không chịu dẫm chân lên những lối mòn quen thuộc, hướng suy nghĩ vào những tìm tòi, những tháo gỡ.
Một nhà trí thức Việt Nam sống ở nước ngoài có một đôi lần gặp ông, đã hiểu ra được một điều rất giản dị nhưng thật độc đáo “Tại sao ông Sáu Dân để lại nhiều tình cảm đặc biệt nơi người trí thức? Chỉ đứng trên lĩnh vực trí thức mà thôi, câu trả lời là: Tại vì, ở cương vị quyền hành, ông đã biết nhìn và nhận người trí thức như vậy. Và tại vì, ở cuối đời, khi chỉ còn cây bút và hai bàn tay không, ông đã làm nhiệm vụ của một người trí thức-một người trí thức như thế ”. Và rồi, với Cao Huy Thuần, vị giáo sư đang giảng dạy tại Đại học Paris ấy thì “một người trí thức như thế” là người “không đánh mất khả năng tự phê phán, để biết tự mình khai phóng, tự mình đổi mới, tự mình phát triển, tự mình mở cửa cho tiến bộ, để trật tự và ổn định không đồng nghĩa với bất biến, ù lì ”.
Đương nhiên, khi thẳng thắn đặt ra những vấn đề gai góc và nhạy cảm này ông Sáu Dân hiểu rằng sẽ gặp những lực cản không nhỏ và dai dẳng. Điều này dễ hiểu. Thế nhưng, thực tiễn đã chứng minh rằng, những vấn đề ông đặt ra, sớm muộn rồi đã được cuộc sống chấp nhận. Mà một khi tư tưởng đã thâm nhập được vào cuộc sống, một khi tư tưởng ấy được nhân dân đón chờ, tư tưởng sẽ biến thành sức mạnh vật chất quét sạch những rào cản.
Nhờ coi trọng dân, chân thành lắng nghe ý chí và nguyện vọng của dân, khởi động và phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của dân mà ông Sáu Dân có được tầm nhìn vượt xa lên phía trước. Cho nên,”chỉ cần một chữ, chữ dân“, hiểu thật rõ “ý dân là ý trời” thì mọi diễn biến phức tạp trong đời sống đang hàng ngày hàng giờ đặt ra một cách bức xúc như chuyện đất đai và khiếu kiện cho đến chuyện Quốc Hội bàn thảo những đạo luật như Luật biểu tình, Luật phòng chống tham nhũng…thì mọi trao qua đổi lại, mọi xem xét đánh giá đều vẫn rõ ràng như bày ra trước mắt, rành rọt như trỏ bàn tay vây“. Không dựa vào dân, lấy ý chí và nguyện vọng của thước đo cho mọi đúng sai của đường lối chính sách, của chủ trương giải pháp, không biết hoặc không dám phát huy sức mạnh của dân, lấy đó làm điểm tựa cho cuộc chỉnh đốn Đảng và cơ cấu lại nền kinh tế đang đứng trước những thách đố nghiệt ngã mà chỉ dừng lại những lời rao giảng đạo đức hoặc những khẩu hiệu suông thì “ mọi trao qua đổi lại, mọi xem xét đánh giá” sẽ chỉ lãng phí sức người, sức của, vừa cản trở sự phát triển, vừa xói mòn niềm tin của dân.
Nhân ngày Giỗ của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nhắc lại bài học về dân tưởng cũng là một việc thiết thực và có ý nghĩa.
Tương Lai
_____________
*    Lê Quý Đôn. “Quần thư Khảo biện” NXBKHXH. Hà Nội 1995, tr.465
**.. Võ Văn Kiệt. Người thắp lửa. NXB Trẻ. 2010, tr.310
[bản gốc của tác giả]
Theo NLG

Hai bộ ở đâu?


Chia sẻ tại Quốc hội hôm qua về quản lý nhà nước đối với sai phạm của Vinalines, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ chắc cú “không có trách nhiệm của Bộ Tài chính và Bộ KH&ĐT”!
Lý do, theo bộ trưởng, là Thanh tra Chính phủ “không bảo thế”!
Dĩ nhiên là nếu đem kết luận Thanh tra ra so thì chả thấy cơ quan này đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo kiểm điểm đối với hai bộ trên do tiếp tay hoặc chí ít là buông lỏng quản lý, đối với các hoạt động mua sắm tài sản cố định tại Vinalines.
Nhưng nói hai bộ này chẳng có trách nhiệm gì, tất cả sai phạm đều do ông cựu chủ tịch (đã trốn) gây ra liệu có thuyết phục được cử tri hay không?
Chẳng hạn đối với Bộ KH&ĐT, cơ quan giúp Chính phủ gác cửa về quản lý hoạt động đấu thầu, mua sắm công, lẽ nào không biết, không hướng dẫn, không kiểm tra việc mua sắm hàng loạt gói thầu cực lớn là những con tàu cũ, ụ kém… trị giá cả trăm tỉ đồng của ban lãnh đạo Vinalines suốt một thời gian dài, kể cả khi Vinashin đổ bể với sự chuyển dịch công nợ?
Đặc biệt hơn, Bộ Tài chính với các công cụ sắc bén, như Tổng cục Hải quan (gác cửa mảng xuất nhập khẩu), Cục Tài chính DN (gác cửa mảng công nợ, chế độ tài chính DN…), Thanh tra và nhất là bộ máy hùng hậu của Tổng cục Thuế có chức năng kiểm soát chi phí, doanh thu, lợi nhuận, lỗ lã… cả công ty mẹ và hàng chục công ty con, công ty sân sau, công ty đối tác… của Vinalines, lẽ nào cũng “chẳng biết gì” để hôm nay bộ trưởng cứng cỏi bảo “không có trách nhiệm” gì?!
Thực tế ai cũng hiểu là hoạt động kinh doanh của DN là tương đối tự chủ, nhất là DN tư nhân. Mọi quyết định đầu tư, kinh doanh mà ông chủ đưa ra, nếu lời thì ông ta hưởng, nếu lỗ thì ông ta chịu. Tuy thế không phải vì tôn trọng sự tự chủ đó mà cơ quan nhà nước không nắm được những hoạt động này, bởi theo quy định ít nhất mỗi tháng một lần cơ quan thuế đã phải được báo cáo về việc sử dụng hóa đơn GTGT, việc nộp thuế TNCN cho cán bộ và chuyên gia, việc nộp thuế TNDN… Mỗi quý hoặc theo niên độ kế toán, cơ quan thuế còn trực tiếp kiểm tra quyết toán, chi phí, khấu hao tài sản cố định cũng như việc thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước…
Cả hệ thống đồ sộ như thế, DN trốn vài đồng thuế còn khó, nói chi những con tàu, ụ nổi cũ rích không sinh lãi (thậm chí gây lỗ lớn) hằng ngày!
Hơn thế đối với DN nhà nước việc quản lý còn chặt chẽ hơn vì còn có sự phối hợp liên ngành, giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành (Tài chính, KH&ĐT) và cơ quan chủ quản như Cục Hàng hải, Bộ GTVT… Do đó khi thấy bộ trưởng chơi chữ trước Quốc hội, nhiều cử tri đã không thể không đặt câu hỏi: Nếu không có trách nhiệm gì thì thực sự hai bộ đã ở đâu, đã làm những việc gì thời gian qua trước những hoạt động của Vinalines?
Blogger Bút Lông
Theo Bút Lông site

Thay đổi thái độ, gạt bỏ lòng tham để khôi phục niềm tin

Cách đây mấy tháng, một người bạn tôi là Tổng biên tập một tờ tạp chí bảo tôi: “Ông viết cho tôi một bài về Nghị quyết IV!”. Tôi từ chối vì nghĩ rằng, đây là việc lớn, có hàng triệu người quan tâm và hàng trăm người viết rồi. Nhưng nay lại đã có Nghị quyết V, trong khi việc chuẩn huấn Đảng theo lời kêu gọi của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chưa thấy thực hiện được là bao. Nghĩ thế, tôi viết bài này xin góp một tiếng nói.
Sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian để hiểu nhân dân hơn
Văn học dân gian là một loại hình văn học mà ở đó ý chí, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân được bày tỏ rõ ràng và đầy đủ nhất. Sinh thời cụ Vũ Ngọc Phan đã làm được một công việc hết sức có ý nghĩa là sưu tầm, nghiên cứu và chỉ rõ những giá trị to lớn của văn học dân gian.
Không chỉ ở Việt Nam , mà các dân tộc trên thế giới đều coi trọng văn học dân gian, nghiên cứu kỹ càng để hiểu được nhân dân nghĩ gì về thời họ đang sống. Tôi có cái may mắn được các giáo sư người Nga hướng dẫn tỷ mỷ điều này. Hơn thế nữa, tôi được tham gia sưu tầm, nghiên cứu và tự hiểu được nhiều điều qua văn học dân gian Nga hiện đại.
Tôi xin được đưa ra vài ví dụ.
+ Trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, một đơn vị Hồng quân bị quân Đức bao vây. Người chỉ huy Hồng quân muốn phá vòng vây. Ông hô xung phong nhiều lần nhưng không người lính nào hưởng ứng vì hỏa lực quân Đức quá mạnh. Suy nghĩ một lúc, ông hô to: “Xung phong không mất tiền!”. Thế là tất cả những người lính của ông vùng dậy, lao lên. Quân Đức trở tay không kịp…
Câu chuyện này phản ánh tâm lý thích tất cả những gì không mất tiền của người dân Liên Xô ở giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội: y tế, giáo dục không mất tiền; bánh mì, đường trắng ở các nhà ăn không mất tiền…
Được nghe những câu chuyện như thế này rất thú vị. Nhưng tôi phát hoảng khi nghe loại chuyện đả phá lãnh đạo.
+ Hai người đàn ông Nga gặp nhau:
- Này, cậu có biết là Sidorov bị bắt hôm qua rồi không?
- Thế à, vì sao bị bắt?
- Vì anh ta bảo bộ trưởng ngu.
- Thế là anh ta bị bắt vì tôi lăng mạ người khác?!
- Không, anh ta bị bắt vì tội làm lộ… bí mật quốc gia.
+ Tổng bí thư ĐCS Liên Xô ra thành phố Ngôi Sao gặp các nhà du hành vũ trụ và nói:
- Người Mỹ đã lên mặt trăng rồi, các anh phải lên mặt trời!
- Kính thưa Tổng bí thư! Mặt trời nóng lắm…
- Anh tưởng tôi không biết đấy à?! Tôi đâu có ngu để bắt các anh lên đó vào ban ngày! Các anh lên đó vào ban đêm!
Đây là những câu chuyện vui xuất hiện vào cuối những năm bảy mươi của thế kỷ XX, khi Liên Xô lâm vào tình trạng trì trệ, lãnh đạo tại vị quá lâu, bảo thủ, lạc hậu, không nắm bắt được tình hình, không đáp ứng được đòi hỏi thực tế.
Còn năm 2008, ông Putin sau 2 nhiệm kỳ làm Tổng thống, đã rút lui. Ông Medvedev làm Tổng thống và bổ nhiệm ông Putin làm Thủ tướng. Lúc đó đã xuất hiện câu chuyện như sau:
+ Một buổi sáng năm 2023, Putin và Medvedev ngủ dậy. Putin hỏi:
- Hôm nay ai là Tổng thống, ai là Thủ tướng ấy nhỉ?
- Tôi nhớ không chính xác lắm,- Medvedev trả lời,- hình như tôi là Thủ tướng.
- Vậy ông chạy đi mua bia đi!
Câu chuyện này cho thấy đại bộ phân nhân dân Nga chấp nhận và mong muốn ông Putin và ông Medvedev thay nhau (và liên kết với nhau) lãnh đạo nước Nga.
Ở Việt Nam văn học dân gian cũng phát triển rất mạnh mẽ và thể hiện khá chính xác tâm trạng của nhân dân. Trong chiến tranh, những câu nói nôm na đã trở thành thành ngữ, thành khẩu hiệu: Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người! Xe chưa qua, nhà không tiếc!…Thể hiện quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do, thống nhất nước nhà của nhân dân ta.
Hiện nay thì khác. Nạn học giả, bằng thật, chạy chức, chạy quyền, tham nhũng… đã làm nhân dân mệt mỏi, mất lòng tin. Trong hoàn cảnh như vậy có rất nhiều chuyện tiếu lâm ra đời. Tôi xin đưa ra vài, ba chuyện để chứng minh.
Nạn học giả, bằng thật bị chế giễu:
+ Một Phó Giáo sư trẻ đến gặp một Giáo sư già nhờ thẩm định, nhận xét một luận án tiến sỹ. Anh ta tái mặt khi thấy vị Giáo sư đáng kính viết: “Tôi thấy bản luận án này không có chút giá trị khoa học nào”. Ậm ừ một lúc rồi anh ta cũng nói:
- Kính thưa Giáo sư! Đây là luận án của một nhân vật sắp tới sẽ đóng vai trò quan trọng trong bộ máy của Đảng và Nhà nước. Vì vậy mong Giáo sư nhận xét thế nào để có thể bảo vệ thành công!
- Buộc phải thế à?- Vị Giáo sư hỏi lại.
- Bắt buộc phải như thế ạ!
Vị Giáo sư đáng kính nhăn mặt và đặt bút viết tiếp: “…nhưng nó không thua kém bất kỳ bản luận án nào loại như thế này được bảo vệ trước nó”.
Niềm tin mù quáng bị mang ra cười cợt:
+ Một phóng viên về công tác ở một thành phố miền trung – nơi có tinh thần cách mạng kiên cường nhất – và rất ngạc nhiên khi thấy người dân nơi đây không dùng ô hay áo mưa đi ngoài phố dưới trời mưa tầm tã. Anh chặn một người đàn ông luống tuổi và lẽ phép hỏi:
- Thưa cụ, tại sao mọi người không dùng ô hay áo mưa ạ? Lạ lùng thật đấy!
- Có anh lạ thì có! Mọi người không dùng ô hay áo mưa vì đài Đảng  báo: Hôm nay ngày nắng, đêm không mưa.
- Nhưng thực tế là đang mưa mà…
- Anh không tin vào đài Đảng à?! Đài Đảng đã nói “ngày nắng, đêm không mưa” thì phải tin là như vậy chứ!
Thói nói dối bị bóc mẽ:
+ Tôi có anh bạn to cao, đẹp trai, ăn nói rất có duyên và có nhà to với đầy đủ tiện nghi, nhưng mãi chưa lấy được vợ. Tôi chất vấn:
  -   Cậu cũng có tuổi rồi đấy, bằng tuổi cậu người ta đã có con vào đại học, sao cậu vẫn độc thân?
-  Thì chưa có người yêu, chưa cô gái nào đồng ý làm vợ mình, làm sao mà cưới?
    -   Vậy cậu không biết tán gái à? Thích cô nào thì cứ khen người ta, rồi tỏ tình, rồi hứa hẹn là xong ngay thôi mà!
    -   Mình cũng đã làm thế, nói còn hay hơn cậu, nhưng tất cả các cô gái đều nói: “Anh nói như Đảng nói ấy, ai mà tin được?!”.
Những câu chuyện trên đây chứng tỏ niềm tin của nhân dân và Đảng đã bị giảm sút. Điều này nhiều vị lãnh đạo đã nhận định và chỉ ra rồi. Có điều những vị đó nói bằng ngôn ngữ chính luận, còn dân thì nói bằng những chuyện vui, ngắn gọn nhưng sâu sắc.
Đảng lãnh đạo toàn diện và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng những gì chưa làm được thì cũng phải thẳng thắn thừa nhận để khắc phục. Hiện tượng thành tích thì nhận, khuyết điểm thì chối đã đi vào ca dao: Mất mùa là bởi thiên tai/Được mùa do có thiên tài Đảng ta.
Có một câu ca dao ra đời lâu lắm rồi, ít nhất là trước Cách mạnh tháng Tám 1945, nhưng nay được nhiều bà mẹ ngâm nga ru con: Con ơi nhớ lấy câu này/Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan. Không phải ngẫu nhiên nhiều người lại nhớ tới câu ca dao này.
Nhìn vào thực tế, thay đổi cách nói, cách nhìn nhận, trả lại những gì mình không xứng đáng hưởng
Từ trước đến nay, nhiều người nói: Dân biết ơn Đảng. Thời cải cách ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, dân biết ơn Đảng là đúng. Nay dân đang bị mất đất, khó biết ơn Đảng lắm. Hơn nữa, qua mấy cuộc chiến tranh tàn khốc, nhân dân đã hy sinh hàng triệu con em mình để có một đất nước thống nhất và phát triển như hiện nay. Nhưng những thành quả cách mạng, thành quả của chiến thắng, Đảng hưởng là chính chứ dân được hưởng mấy. Vì vậy bây giờ phải nói: Đảng biết ơn dân mới đúng. Nếu Đảng thừa nhận điều này thì dân cũng được an ủi phần nào.
Tuy nhiên, để khôi phục lòng tin, không chỉ đơn giản có thế. Trong tình hình hiện nay, muốn khôi phục lòng tin của nhân dân, Đảng phải làm những việc mạnh mẽ và cụ thể, và có thể hơi “đau đớn”.
Trước hết, một số lãnh đạo cao cấp từ trung ương đến địa phương phải từ bỏ đặc quyền đặc lợi của mình. Tôi xin gợi ý cụ thể thế này:
Trước đây Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh có rất nhiều biệt thự công vụ. Nay phần lớn số biệt thự đó đã trở thành nhà tư nhân, thuộc quyền sở hữu của cựu hoặc cán bộ lãnh đạo cao cấp. Theo tôi, nếu các vị này tự nguyện trả lại (còn các vị ấy nhận nhà khác ở xa hơn, nhỏ hơn, vừa để ở thôi) để tiếp tục làm nhà công vụ thì rất hay. Bởi vì, Bộ xây dựng cho hay, hiện nay Hà Nội cần phải xây mới hàng trăm biệt thự công vụ. Xây mới cũng được thôi nhưng làm gì có đất ở gần Quảng trường Ba Đình nữa?! Mà nhà công vụ thì cần phải gần Hội trường Ba Đình đang được xây dựng lại.
Tôi gợi ý điều này bởi vì tôi có quen một người – anh quê ở xứ Nghệ, vào TP Hồ Chí Minh công tác, làm đến chức Ủy viên thường vụ Thành ủy, nay đã về hưu. Điều anh có vẻ băn khoăn là mình không làm gì được nhiều nhưng nay được sở hữu ngôi biệt thự tới cả ngàn cây vàng. Anh không đủ mạnh mẽ để tự mình trả lại ngôi biệt thự đó, nhưng bây giờ nếu Đảng chủ trương như vậy, biến thành phong trào, chắc chắn anh vui lòng trả.
Ngoài ra, trong thời gian gần đây, cán bộ từ cấp thứ trưởng trở lên ở Hà Nội được mua đất giá ưu đãi ở Hồ Tây, Mỹ Đình và một số nơi khác. Tôi có mấy người bạn hàm thứ trưởng được hưởng điều này nên tôi biết rõ. Tôi cho rằng điều này là không hợp pháp vì sau khi bước vào thời kỳ đổi mới, theo đuổi nền kinh tế thị trường, Nhà nước Việt Nam không có chủ trương bao cấp nhà ở, đất ở nữa. Vì vậy những ai được mua đất giá ưu đãi nên tự nguyện nộp lại phần chênh lệch.
Việc cán bộ được mua đất giá ưu đãi không chỉ có ở cấp trung ương mà các cấp địa phương cũng có. Vì thế, nếu thực hiện được điều này, ngân sách sẽ có thêm một khoản tiền không nhỏ.
Chắc nhiều người sẽ nói rằng: Lấy tiền đâu ra mà nộp? Có phải quan chức nào cũng có sẵn tiền mặt đâu!
Đúng là như vậy, tôi lại có một gợi ý tiếp theo, mà nếu thực hiện được, sẽ có tiền.
Ta đang chắt chiu từng đồng ngoại tệ, sao lại mang hàng tỷ USD gửi ngân hàng nước ngoài?
Thời gian gần đây, một số nguồn tin nước ngoài công bố một danh sách những người Việt Nam có tài khoản ở các ngân hàng nước ngoài với số tiền khá lớn. Là người có kinh nghiệm nên tôi không vội tin ngay (có nhiều con số khó tin lắm!) mà tham khảo ý kiến của một người kỳ cựu trong ngành ngân hàng. Bà ta nói: “Chúng tôi có biết chuyện này và chúng tôi có danh sách riêng. Số tiền thì ít hơn, nhưng số người thì nhiều hơn”.
Như vậy thì chẳng có gì để nghi ngờ là một số lượng ngoại tệ đáng kể của chúng ta đã bị chuyển bất hợp pháp ra nước ngoài. Nhân dịp thực hiện Nghị quyết IV, Đảng nên động viên những ai đã chuyển ra nước ngoài, hãy chuyển trở về. Nếu họ không tự nguyện làm, Quốc hội, Trung ương Đảng nên vào cuộc.
Từ xưa đến thời gian gần đây, ngân hàng nước ngoài, nhất là các ngân hàng ở Thụy Sỹ giữ bí mật tuyệt đối cho khách hàng. Nhưng từ sau những biến động trong “mùa xuân Ả rập”, nhất là sau khi Gaddafi ở Libya bị lật đổ, một số ngân hàng đã đồng ý tiết lộ và hợp tác giải quyết. Nếu cơ quan có uy tín, có quyền lực của Nhà nước Việt Nam đặt vấn đề, có thể họ sẽ hợp tác. Nhưng trước hết nên dựa vào tinh thần tự nguyện, trách nhiệm đảng viên của những người có tài khoản ở nước ngoài. Nếu họ tự nguyện chuyển tiền về là tốt nhất.
Xin được lưu ý một điều!
Trên đây là những gợi ý có tính đề nghị của tôi. Còn một việc nữa tôi chỉ lưu ý vì vấn đề này mới, chưa biết nó tác động tiêu cực hay tích cực đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội nước ta.
Đó là việc hiện nay có khá nhiều con cái của các quan chức cao cấp được đề bạt nắm giữ những chức vụ quan trọng. Trước hiện tượng này, người dân bàn tán sôi nổi và tỏ vẻ lo sợ là cái cảnh Con vua nối nghiệp làm vua/Con sãi ở cháu lại quét lá đa sẽ tái diễn. Hơn nữa, điều này không giống với thế hệ lãnh đạo lớp trước. Những người con của các ông Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Trần Duy Hưng, Văn Tiến Dũng, Chú Huy Mân, Lê Trọng Tấn… được đào tạo rất bài bản (100 người được xem là “hạt giống đỏ” được chính Bác Hồ chủ trương gửi đi học ở Liên Xô từ năm 1954) nhưng họ hầu như không tham gia chính trường, không có cấp, hàm cao trong bộ máy lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Điều này chứng tỏ thế hệ lãnh đạo lớp trước rất có ý thức giữ gìn hình ảnh của mình nên họ được kính trọng, được dân tin.
Tôi chưa dám kết luận là việc con cái các vị lãnh đạo cao cấp được bố trí nắm giữ những chức vụ quan trọng làm ảnh hưởng xấu đến niềm tin của dân vào Đảng. Tôi chỉ nói rằng hiện tượng này đang đặt ra những nghi vấn, những bàn tán xôn xao trong dân. Vì vậy tốt hơn hết Đảng cần nói rõ về điều này, phân tích và giải thích cái lợi, cái hại của nó. Người làm việc này thích hợp nhất có lẽ là ông Tô Huy Rứa vì ông giữa chức Trưởng Ban Tổ chức trung ương, đồng thời có cô con gái mới 24 tuổi đã giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị một doanh nghiệp xây dựng. Đây chưa hẳn là việc không tốt, nhưng nó cần được giải thích rõ ràng, minh bạch để dân hiểu.
Trên đây là những ý kiến của tôi đóng góp vào việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị trung ương IV của Đảng: Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. Có thể sẽ có người cho rằng, những đề nghị và gợi ý của tôi gay gắt, thẳng thắn và quyết liệt quá. Đúng vậy, nhưng để giải quyết những vấn đề cấp bách thì phải có những biện pháp quyết liệt. Nếu không làm quyết liệt như vậy, mọi việc sẽ không có gì chuyển biến.
Hồ Bất Khuất

Thứ Tư, ngày 13 tháng 6 năm 2012

Chuyện không chỉ của… Đồi Ngô

Đồi Ngô là nỗi buồn của GD, nhưng là lời cảnh báo cho xã hội về chất lượng thi cử, chất lượng GD. Đừng quá gay gắt với những “sai phạm” của thí sinh đã quay clip vừa qua, mà nên coi đó là tiếng chuông cảnh tỉnh. Vì Đồi Ngô chỉ là “mắt xích” của guồng máy GD mà thôi.
Các phương tiện truyền thông mấy ngày gần đây liên tục đưa tin, bình luận về sai phạm thi cử ở Hội đồng thi Trường THPT dân lập Đồi Ngô (Bắc Giang), thông qua một clip được tung lên mạng phản ảnh những vi phạm qui chế thi của thí sinh.
“Tiêu cực nhỏ” chống lại… “tiêu cực lớn”
Khi được hỏi về sai phạm này, các quan chức phụ trách mảng giáo dục của Quốc hội, Chính phủ đều coi đây là vụ việc nghiêm trọng vi phạm qui chế và phải xử lý nghiêm minh.
Việc thí sinh quay clip cũng được đề cập và cho rằng “không thể lấy tiêu cực chống tiêu cực” (Ý nói là mang dụng cụ quay phim chụp ảnh vào là vi phạm qui chế). Nhưng đó là “tiêu cực nhỏ” chống lại… “tiêu cực lớn”.
Trường THPT Dân lập Đồi Ngô, nơi đã xảy ra tiêu cực trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2012 
Hành động vi phạm qui chế thi của giám thị coi thi, thí sinh ở Đồi Ngô đã rõ. Địa phương để xẩy ra vụ việc đáng tiếc trên đã nhanh chóng nhận khuyết điểm và hứa sẽ điều tra xác minh, xử lý nghiêm túc. Không chỉ ngành GD buồn mà cả những người đứng đầu địa phương cũng buồn.
Vâng, để những chuyện như vậy xẩy ra ở địa phương mình quản lý điều đó ai mà chả buồn. Nhưng người viết bài này cho rằng tình trạng trên đâu chỉ có mỗi một Bắc Giang, một Đồi Ngô. Đồi Ngô đâu chỉ có là chuyện… riêng biệt.
Có quan chức “kêu” giật mình, nhưng nhiều người quan tâm đến GD nước nhà khi nghe thông tin về Đồi Ngô đều chả…giật mình. “Hiện tượng” Đồi Ngô nếu không nói là phổ biến thì cũng xẩy ra ở nhiều nơi.
Còn nhớ mấy năm trước, “hiện tượng” gian lận thi cử ở Trường THPT Vân Tảo (Hà Tây cũ) đã làm nóng dư luận. Khen chê đều có cả. Thầy giáo Đỗ Việt Khoa bị lãnh đạo sở tại coi như một “tội đồ”, dám phanh phui tiêu cục (hay sự thật) của trường và rộng hơn là của ngành GD.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục- Đào tạo lúc đó đã đến thăm động viên, nhưng số phận người dám chống ‘tiêu cực’ thì lận đận cho đến tận bây giờ. Sau sự kiện đó, phong trào “Hai không” được phát động rầm rộ. Tỷ lệ đỗ của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm đó- 2007, tự nhiên tụt hẳn. Dư luận xã hội cho là đúng chất lượng, nhưng ngành GD thì buồn…
Nhưng chỉ ngay kỳ thi năm sau, GD các tỉnh như có cuộc “lội dòng” ngoạn mục, với tỉ lệ tốt nghiệp cao ngất. Các tỉnh thành đều đạt tỉ lệ tốt nghiệp đến 80-90%. Thậm chí có địa phương tỉ lệ này còn cao hơn.
Thông tin từ Sở GD- ĐT các tỉnh thành Tiền Giang, Cà Mau, Bến Tre, Đồng Tháp, Cần Thơ… cho biết, tỉ lệ tốt nghiệp của các tỉnh thành này đều đạt từ 90% trở lên. Tỉ lệ tốt nghiệp THPT của tỉnh Quảng Nam là 97,8%, tăng hơn 3% so với năm 2010. Lần đầu tiên  Quảng Nam có đến 16 trường THPT (trong tổng số 44 trường) đỗ tốt nghiệp 100%.
Ngay tỉnh Bắc Giang lúc đó, tỉ lệ tốt nghiệp cũng cao ngất. Ông Ngô Thanh Sơn, Phó Giám đốc Sở GD-ĐT Bắc Giang – nơi có đến 11/16 trung tâm GD thường xuyên đỗ tốt nghiệp 100%, giải thích: “Do có biện pháp phân loại học sinh yếu kém, tổ chức ôn tập tốt. Học sinh hệ GD thường xuyên lại được cộng điểm khuyến khích 3-4 điểm nên tỉ lệ đỗ cao”…
Tỉ lệ đỗ cao nhưng thực chất, chất lượng ra sao thì “ai cũng hiểu chỉ có ngành GD cố tình… không hiểu”. Ngay giữa Thủ đô, cứ đến kỳ thi, các máy photocopy ở các cửa hàng phải chạy hết công suất. Báo chí đã có quá nhiều những bài phóng sự về vấn nạn này. Mà chẳng nói đâu xa, ngay sau buổi thi, nhiều sân trường, “phao” rải trắng sân trường.
Một chuyện khi mới nghe cứ tưởng như chuyện bịa, đó là học sinh phải “nộp tiền chống trượt”. Điều này chắc nhiều người, nhất là các ông bố bà mẹ có con thi không ngạc nhiên, nhưng những người quản lý GD không biết có ngạc nhiên không?
Lần đầu nghe cụm từ này cách đây dăm bẩy năm, người viết chẳng biết đó là tiền gì. Hỏi ra thì mới biết đó là khoản tiền nộp để chống trượt đúng nguyên nghĩa của từ.
Học sinh thì có thể chống được trượt, nhưng cũng có nghĩa, họ đã “trượt” những bước đầu tiên của cách sống gian lận với đời. Còn GS Nguyễn Minh Thuyết thì cho rằng: Cuộc vận động “Hai không” đã không thành công!
Một giáo viên dạy ở miền núi, nhân chuyện Đồi Ngô đã trải lòng về việc dạy và học: Nếu giáo viên chấm bài thẳng thừng, thì phải có đến khoảng 90% thí sinh phải thi lại hoặc đúp lớp.
Mà thẳng thừng thì lại liên quan đến thành tích của nhiều …sếp. Rồi không được khen thưởng, không được thăng chức, không được giữ chức, không được nâng lương trước thời hạn. Nên nếu giáo viên nào không nghe, không làm đúng theo ý của sếp thì bị rất nhiều thứ. Nên giáo viên cũng thế, cứ …trượt theo ý sếp. Vì lúc nào sếp cũng đúng!
Nói “hiện tượng” Đồi Ngô nhưng đó là thực trạng chung. Bệnh dối trá, gian lận vẫn là căn bệnh trầm kha của nền GD, chi phối đến mọi mặt. Chúng ta nên nhìn thẳng vào sự thật này nếu muốn chất lượng GD của nước nhà phát triển. Để từ đó phải có biện pháp giải quyết nó chứ không nên né tránh hay dấu giếm.
Đã có nhiều cuộc đổi mới hay cải cách GD rất tốn kém nhưng hiệu quả GD thì cả xã hội bây giờ… gánh chịu. Và nếu GD cứ tiếp diễn thực trạng này, thì những năm tiếp theo vẫn còn nhiều những Đồi Ngô.
Đồi Ngô hay Vân Tảo không thể là “hiện tượng” cá biệt, chỉ có điều… “thưa các đồng chí chưa bị lộ” vì chưa có người lên tiếng đấy thôi. Và chắc chắn, khó có ai đủ dũng cảm lên tiếng, như Đỗ Việt Khoa, hay như thầy trò của Trường THPT dân lập Đồi Ngô (Bắc Giang) mới đây.
Cứ nhìn vào “điểm sàn” các kỳ thi tuyển sinh đại học, sẽ rõ về chất lượng. Tỉ lệ thí sinh đủ “điểm sàn” để từ đó, các trường lấy làm căn cứ xét tuyển theo tiêu chí riêng của trường mình hàng năm thường thấp. Nhiều trường không đủ số lượng thí sinh đạt “điểm sàn” để tuyển vào, nhất là các trường đại học dân lập.
Mấy năm vừa qua khối C luôn trong tình trạng báo động. Báo động không chỉ do số thí sinh xin dự tuyển mà còn là chất lượng của nó. Nhiều thí sinh thi vào khối này điểm rất thấp, thậm chí điểm môn Lịch sử là zero (điểm 0) phổ biến đến nỗi, nhiều vị GS chuyên ngành lên tiếng cho là thảm họa. Thế nhưng thật lạ, trả lời về vấn đề này, người có trách nhiệm trong ngành GD cho là… bình thường.
Vậy căn nguyên do đâu? Có nhiều ý kiến lý giải về vấn đề này, tuy nhiên có điều dễ nhận thấy yếu kém khuyết điểm là do chính những người làm công tác GD tạo nên.
Mấy năm gần đây, chúng ta bàn nhiều đến triết lý GD, giảm tải, chương trình sách giáo khoa, đến bỏ thi các cấp… Cái gốc cơ bản nhất, nền tảng nhất của GD đến nay vẫn còn loay hoay thì sao nói đến chất lượng?
Nếu chúng ta coi tốt nghiệp THPT là phổ cập thì xử sự với nó sẽ khác, không thể tổ chức một kỳ thi tốn kém nhiều tiền của của nhân dân. Nói như GS. TS Hoàng Xuân Sính đây là kỳ thi “giả vờ”.
Mấy thập kỷ trước, tuy xã hội còn nhiều khó khăn, hạn chế, điều kiện cơ sở vật chất, giáo trình… rõ ràng không thể so sánh với bây giờ, nhưng GD lại có những thế hệ học sinh, sinh viên khai mở tư duy sáng tạo. Bây giờ, điều kiện dạy và học thuận lợi hơn rất nhiều, thì học sịnh lại học một cách thụ động, giáo viên dạy theo kiểu nhồi nhét, giết chết tư duy sáng tạo.
Đã có nhiều cuộc đổi mới hay cải cách GD rất tốn kém nhưng hiệu quả GD thì cả xã hội bây giờ… gánh chịu. Và nếu GD cứ tiếp diễn thực trạng này, thì những năm tiếp theo vẫn còn nhiều những Đồi Ngô.
Vâng. Đồi Ngô là nỗi buồn của GD, nhưng là lời cảnh báo cho xã hội về chất lượng thi cử, chất lượng GD. Đừng quá gay gắt với những “sai phạm” của thí sinh đã quay clip vừa qua, mà nên coi đó là tiếng chuông cảnh tỉnh. Vì Đồi Ngô chỉ là “mắt xích” của guồng máy GD mà thôi.
Nguyễn Đăng Tấn
Theo TVN

Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son: Nhiều blog lợi dụng dân chủ


Đối thoại trực tuyến với nhân dân chiều 12/6, Bộ trưởng Thông tin – Truyền thông Nguyễn Bắc Son nhận định: Có nhiều blog lợi dụng sự dân chủ, lợi dụng thuận lợi trong tác nghiệp trên mạng, lợi dụng việc chúng ta chưa có điều kiện chế tài quản lý các blog, dẫn tới có những hành vi vi phạm đạo đức…
Không có báo lá cải
Trước băn khoăn của độc giả Thái Thị Ngọc Lan (Ninh Bình) về “hiện tượng một số tờ báo tranh luận chỉ trích nhau là lá cải, làm hao mòn niềm tin của người đọc”, Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son khẳng định luật Báo chí quy định rõ, báo chí là phương tiện thông tin, truyền thông hữu hiệu của Đảng, Nhà nước, các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, là diễn đàn của nhân dân.
“Chúng ta không có báo lá cải”, ông Son nhấn mạnh.
Trước một số ý kiến cho rằng báo phải “lá cải” một chút để tăng doanh thu, Bộ trưởng Son cho rằng “đó là vi phạm đạo đức người làm báo, vì mục tiêu lợi nhuận trước mắt mà làm mất đi chữ tín lâu dài”. Những hiện tượng như giật tít câu khách, đưa tin không đúng sự thật… cần phải được kiên quyết chấm dứt trong thời gian tới.
“Trong điều kiện khó khăn chung, nhiều cơ quan báo chí cũng có khó khăn. Nhưng các nhà báo, các cơ quan báo chí vẫn giữ vững và phát huy vai trò, tác dụng của mình, không có cạnh tranh”, ông Son nói. “Dĩ nhiên, có nơi có lúc chúng ta vẫn phải đấu tranh trong nội bộ để nền báo chí lành mạnh hơn, hiệu quả hơn”.
Độc giả Trần Viết Lân (Hải Phòng) thì lo ngại về một số vụ việc tiêu cực, phóng viên viết bài sai lệch sự thật nhằm mục đích không trong sáng, thậm chí vi phạm pháp luật và đã bị xử lý, trong khi “báo chí và phóng viên đáng nhẽ phải là những tấm gương tốt đối với xã hội”.
“Việc sai phạm trên là sự thật và thời gian vừa qua, Bộ Thông tin – Truyền thông cũng như Sở Thông tin – Truyền thông các tỉnh, thành cũng đã quyết liệt xử lý, tuy nhiên vẫn còn có những hạt sạn trong hoạt động tác nghiệp báo chí”, ông Son nói.
Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son chỉ ra hiện cả nước có 17.000 nhà báo được cấp thẻ, là những nhà báo được đào tạo về trình độ nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, bản lĩnh chính trị, cập nhật được hoạt động tác nghiệp báo chí hiện đại ngày nay.
“Nhưng cũng có một số ít nhà báo có hành vi tiêu cực và đã bị xử lý nghiêm minh. Cụ thể, trong năm 2008, chúng ta đã thu thẻ 15 nhà báo, trong đó có tổng biên tập, phó tổng biên tập. Năm 2010 vừa qua, Bộ Thông tin – Truyền thông đã xử phạt 51 trường hợp, phạt tiền 254,5 triệu đồng, thu hồi 4 thẻ nhà báo…”, Bộ trưởng cho biết.
Chưa chủ trương lập tập đoàn báo chí
Trước của hỏi của độc giả Ngọc Hà (Hải Phòng) về việc liệu Bộ Thông tin – Truyền thông có ý định tư nhân hóa báo chí hoặc cho thành lập Tập đoàn báo chí không, Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son khẳng định luật Báo chí ghi rõ, báo chí ở nước CHXHCN Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân.
“Như vậy, đến giờ phút này, không có báo tư nhân trong xã hội ta”, Bộ trưởng Son nói.
“Còn tập đoàn báo chí là mô hình đã xuất hiện ở một số nước trên thế giới. Hiện, tại Việt Nam, một số cơ  quan báo chí đang có tới 2, 3, 4 loại hình báo chí, nhưng chúng ta chưa có tập đoàn báo chí. Bộ Thông tin – Truyền thông cũng xin khẳng định chúng tôi chưa có ý định hoặc đề xuất, chủ trương hình thành tập đoàn báo chí”, ông Son nói
Độc giả Hải Hường (Gia Lai) lại băn khoăn trước tình trạng một số blog, trang mạng cá nhân thường xuyên đăng viết bài nói ngược lại chủ trương đường lối, bài xích cá nhân, đưa thông tin một chiều, không được kiểm chứng, gây hoang mang trong dư luận, chia rẽ nội bộ.
Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son cho rằng blog có cả mặt tốt và mặt chưa tốt. “Các blog, trang thông tin điện tử là những công cụ hữu hiệu để tương tác giữa độc giả với nhau, người dân với người dân, người dân với các tổ chức chính quyền các cấp, các địa phương. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển bùng nổ thông tin, để chúng ta có thể tìm hiểu, hiểu biết xã hội quốc tế, trong ngoài nước, có cơ hội để nắm nhiều thông tin hơn, giao dịch với nhiều đối tượng khác trong xã hội, nâng cao học tập hiểu biết… Đấy là mặt đúng, tốt của nó”, ông Son nói.
“Nhưng ngược lại, trong sự phát triển này, có nhiều blog lợi dụng sự dân chủ đó, lợi dụng thuận lợi trong tác nghiệp trên mạng, lợi dụng việc chúng ta chưa có điều kiện chế tài quản lý các blog, dẫn tới có những hành vi vi phạm đạo đức của công dân, ảnh hưởng tới quyền tự do chân chính của người khác”, Bộ trưởng Son nhận định.
Theo Bộ trưởng Thông tin – Truyền thông, đây là hành vi không chỉ luật Báo chí mà phải cả các luật khác có chế tài xử lý. “Về phía cơ quan quản lý truyền thông, chúng tôi hiện đã và đang đang soạn thảo nghị định sửa đổi Nghị định 97 về quản lý hoạt động trên Internet, trong đó có quản lý Internet, game online và blog”, ông Son nói. “Trong quá trình xây dựng chắc chắn sẽ xin ý kiến độc giả”.
Chung Hoàng
Theo VietNamNet