Thứ Bảy, ngày 23 tháng 6 năm 2012

Gian nan vẫn còn đấy!

Luật biển đã được thông qua từ cấp quốc gia. Gã nhà thơ ham chơi không nhảy tưng, không hét lên ầm ĩ. Hắn nằm ngả người trên ghế dựa, nghĩ và nhớ.

Hắn nhớ những gương mặt bừng bừng hào khí lẫn niềm phẫn nộ xuống đường một năm trước. Hắn nhớ những gương mặt hắc ám lén lút hay công khai của bọn sai nha tấn công, đàn áp những con người trẻ tuổi đang đòi công lý , chủ quyền cho lãnh hải Việt Nam. Hắn nhớ những tên bồi bút bôi nhọ chính đồng bào mình bằng phương tiện đang có trong tay. Hắn nhớ những kẻ từng đập bàn và lệnh cấm bằng mồm khi chiếc áo U-NO được in và chương trình “cùng ngư dân bám biển” phát động trên tờ báo mang tên Sài Gòn Tiếp Thị mà mỗi chiếc áo góp vào đấy số tiền cộng lại không bé mọn để ngư dân Việt Nam mua sắm lại phương tiện bị tịch thu , tài sản bị cướp bóc, sinh mệnh bị đe dọa bằng tiền chuộc.Hắn nhớ và cười khẩy vào tư cách không còn Việt Nam của những kẻ ấy.

Hắn nhớ mồ hôi, máu đã đổ xuống của những con người thực sự bám biển. Đối mặt với hiểm nghèo hàng ngày không chỉ vì miếng cơm manh áo mà còn là để im lặng nhưng quyết liệt khẳng định từng bãi đá, từng luồng cá của vùng biển thuộc chủ quyền đất nước hằng bao đời của cha ông mình. Hắn nhớ những gương mặt mỗi ngày hả hê vục xuống nồi lẩu cá trên bàn rượu linh đình mà chưa từng biết ngậm ngùi lẫn cảm ơn những ngư dân, đồng bào nghèo khó ấy.

Hắn nghĩ và nhớ một năm của đời mình. Chỉ một năm ngắn ngủi mà dài,mà đáng sống như cả một đời dù biết rõ, không có điều gì của cuộc đời mà không trả giá. Huống chi đấy là vấn đề sống còn của đất nước. Hắn nhớ đến sự phản bội, sự đê tiện và nhớ cả đến lòng can đảm, sự trung thực, bất khuất trước cường quyền từ những con người trẻ tuổi lẫn không còn trẻ tuổi.

Nụ cười không nở ra trên môi hắn. Nó âm thầm nở ra trong tâm hồn hắn cùng giọt lệ cũng âm thầm…Sao gian nan quá, vất vả đến thế chỉ để TÁI KHẲNG ĐỊNH chủ quyền lãnh hải của đất nước mình.

Mà gian nan vẫn còn đấy.

Suốt bao đời chưa thấy hết…
Đỗ Trung Quân
Theo FB Đỗ Trung Quân

Đất đai, nguyên lý và thước đo thực tế

Đây là bản gốc bài viết của TS Nguyễn Sỹ Phương đã được đăng trên báo SGTT hôm qua:  Hạn chế gam màu xấu trong bức tranh thu hồi đất: làm rõ chủ sở hữu pháp lý. Chúng tôi xin đăng lại nguyên văn để độc giả hiểu thêm về cái gọi là “tự do báo chí” ở xứ ta.
Mặc dù thông tin trong bài là những đóng góp bổ ích, hoàn toàn mang tính khoa học và thực tiễn, không hề đụng chạm đến Đảng hay Chính quyền, thế nhưng vẫn bị thế lực vô hình nào đó cấm cản. Vậy thì, đến bao giờ dân trí và đất nước Việt Nam mới có thể “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”? Ai chịu trách nhiệm với những cấm cản vô hình đó? Chẳng nhẽ các thế lực vô hình này không hề chịu bất cứ một ràng buộc nào của pháp luật, không chịu sự giám sát của nhà nước và nhân dân?
BTV trang Ba Sàm
Đất đai bất ổn tranh chấp chiếm tới 70% người dân khiếu kiện, lên đến đỉnh điểm đối đầu với chính quyền điạ phương như Văn Giang, Tiên Lãng, được Bộ trưởng Thông tin – Truyền thông Nguyễn Bắc Son cho rằng: “Luật không sai mà tổ chức thực hiện sai“ có thể gây ngộ nhận, mọi trách nhiệm thuộc về cơ quan hành chính thực thi. Luật sinh ra không phải chỉ để chế tài người dân, mà quan trọng hơn, cả cơ quan công quyền tham gia vào mối quan hệ luật pháp đó, cả hai phải tuân thủ những quy phạm, chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự định sẵn, nhằm mục đích tối thượng bảo đảm lợi ích cho người dân vốn là chủ nhân đất nước. Vì vậy, chừng nào lợi ích đó chưa bảo đảm thì chừng đó, không riêng gì tổ chức thực hiện, toàn bộ quy trình từ soạn thảo, thông qua, ban hành, thực hiện, áp dụng, đều phải xem lại; thực trạng bất ổn tranh chấp đất đai tới mức hiện nay càng đặt ra đòi hỏi bức bách đó. 

Nguyên thủy, đất đai trong nền kinh tế thị trường (KTTT) có chức năng vừa tạo ra giá trị gia tăng như mọi tư liệu sản xuất, đầu tư như vốn, dự trữ như vàng, trao đổi ngang giá như tiền, vừa là tư liệu tiêu dùng, nên không nằm ngoài bản chất nền kinh tế, tham gia quyết định trở lại nó. Chuyển sang nền  kinh tế quản lý tập trung (KTQLTT), phủ định sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, đất đai cũng không ngoại lệ, không còn quyền sở hữu pháp lý, chỉ còn đóng vai trò tư liệu tiêu dùng, tức quyền sử dụng; nhà nước đáp ứng nhu cầu sử dụng đó cho công dân, nên đất đai lẽ tự nhiên được coi là sở hữu toàn dân, hiểu theo nghĩa chính trị, nhà nước quản lý, phân bổ vì lợi ích toàn dân. Giải thích tại sao đất đai trong KTQLTT hiếm khi tranh chấp, càng không thể khủng hoảng như thường thấy trong nền KTTT, bởi nó không phải đối tượng kinh doanh, không thụôc phạm trù thị trường.

Cần phân định khái niệm sở hữu toàn dân“là của chung“, khác với khái niệm “quyền sở hữu pháp lý“ của riêng từng cá thể vốn chỉ được xác lập một khi bao hàm đầy đủ cả 3 quyền: chiếm hữu (xác lập chủ sở hữu đối với đối tượng sở hữu bằng văn bản pháp lý), định đoạt (mua bán tức thay đổi chủ sở hữu, thừa kế, cho tặng), và sử dụng. Với nội hàm “nhà nước quản lý phân bổ vì lợi ích toàn dân“, khái niệm sở hữu toàn dân không phải riêng có trong nền  KTQLTT mà được sử dụng mặc nhiên ở mọi quốc gia, thể chế. Bởi tất cả những gì, từ con người tới tài sản, vật chất, tinh thần… thuộc quốc gia nào đều sở hữu của quốc gia đó. Thực tế cả 2 nền KTQLTT và KTTT, ở mọi quốc gia, đất đai được dành cho phát triển cơ sở hạ tầng, mạng lưới giao thông, điện, nước, các công trình công cộng, nhà trường, bệnh viện… bất cứ lúc nào cần, không hề phụ thuộc khái niệm sở hữu toàn dân được đặt ra hoặc hiến định hay không.  Sở hữu toàn dân, vì vậy, dù mặc định hay hiến định, bản chất vẫn là một khái niệm chính trị liên quan tới lợi ích chung toàn dân, quốc gia, không thể thay thế khái niệm sở hữu pháp lý dùng để phân biệt lợi ích cùng trách nhiệm pháp lý của từng người dân đối với tài sản của họ trong quốc gia đó.

Ở ta, đất đai tranh chấp giữa người dân lẫn nhau và với chính quyền tới mức đối đầu hiện nay chính do thiếu khái niệm sở hữu pháp lý về đất đai bắt buộc phải có trong KTTT, gây nên khoảng trống pháp lý trên thị trường đất đai. Thị trường được định nghĩa là nơi mua bán, chuyển quyền sở hữu pháp lý từ người bán sang người mua, ngang giá với số tiền người mua phải trả cho người bán theo thoả thuận. Vì vậy, một khi quyền sở hữu pháp lý, bất kỳ sở hữu gì, không được thiết lập, thị trường sẽ khó tránh khỏi “mua như cướp, bán như cho“, chính là bản chất tranh chấp, đối đầu về đất đai hiện nay, bởi xung khắc lợi ích giữa „cho“ và „cướp“, mà cưỡng chế Văn Giang hay Tiên Lãng là 1 điển hình. Để khắc phục khoảng trống pháp lý, nhằm tạo lập thị trường kinh doanh đất đai theo đòi hỏi bắt buộc của nền KTTT, nội hàm quyền sử dụng đất được luật pháp nước ta bổ sung thêm quyền mua bán, thừa kế, vốn thuộc nội hàm quyền định đoạt (mặc dù mâu thuẫn với hệ thống khoa học pháp lý thế giới, vi phạm nguyên lý logic học, hệ lụy không thể hội nhập với họ trong  phạm trù đất đai). Nhưng quyền chiếm hữu nằm trong quyền sở hữu pháp lý đất đai – yếu tố nhà nước xác nhận chủ sở hữu pháp lý (không liên quan tới chủ sở hữu chính trị đối với đất đai, của toàn dân do nhà nước đại diện, đã được hiến định), để bảo vệ trước tranh chấp và quy trách nhiệm chủ sở hữu đối với đối tượng sở hữu, hiện vẫn chưa được xác lập; đất đai vì vậy vẫn luôn trong tình trạng có thể xảy ra tranh chấp giữa người dân với nhau hoặc với nhà nước; bất cứ ai được quyền sử dụng nó đều bất an, kể cả cơ quan nhà nước, trong khi lại kích thích lòng tham lạm dụng hoặc chiếm đoạt đối với nhà chức trách hành xử.

Ở các quốc gia hiện đại, do đất được thừa nhận có chủ sở hữu pháp lý, chủ nhân có quyền chiếm hữu, định đoạt, sử dụng nó, nên được pháp luật bảo vệ chặt chẽ trước khả năng tranh chấp, hay chiếm đoạt; chủ sở hữu bị chế tài không để đất mình sở hữu gây thiệt hại lợi ích các bên liên quan. Ở Đức, hàng năm, chủ đất phải đóng phụ phí, như tiền  bảo hiểm đất để bồi thường những thiệt hại ngộ xảy ra trên thửa đất đó, phải đóng tiền thoát nước mưa nước thải, phải đóng thuế đất để nhà nước chi cho công việc quản lý lĩnh vực đất đai. Chỉ riêng tổng phụ phí, nếu một thửa đất không sinh lời, thì chỉ chừng dăm bảy chục năm sau sẽ ngang bằng trị giá đất khởi thuỷ; giải thích tại sao ở Đức không thiếu chủ đất hiến tặng đất cho nhà nước hay cho tổ chức, hội đoàn, hoặc bán giá 1 Euro.

Tới lượt mình, với chức năng quản lý tài nguyên đất đai, nhà nước họ đã tạo dựng được một hệ thống pháp lý và bộ máy quản lý hành chính đất đai chặt chẽ bảo đảm quyền sở hữu pháp lý đất đai vốn thuộc quyền cơ bản của con người được hiến định bất khả xâm phạm; nhờ đó, nhà  nước họ có đủ mọi căn cứ để giải quyết “thu hồi“ thoả đáng khi thực hiện quyền sở hữu toàn dân về mặt chính trị đặt ra; trên thực điạ, mọi thửa đất đều có cọc mốc chìm đóng chết phân định ranh giới với các thửa đất liền kề, với đường đi, không thể bị lấn chiếm hay thoái thác trách nhiệm khi gây thiệt hại; hồ sơ được lưu trữ tại Toà án, cùng mọi cơ quan chức năng liên quan. Mọi giao dịch mua bán, xây dựng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, “thu hồi“ (quốc hữu hoá)… đều được luật pháp quy định chi tiết, thể hiện trên các giấy tờ hồ sơ lưu trữ. Việc đất được nhà nước “thu hồi“ cho mục đích công, bao giờ cũng mang lại may mắn cho chủ sở hữu, lợi ích cao hơn bán nó, nên không thể xảy ra đối đầu; mua bán là giao dịch dân sự thuận mua vừa bán không thể tranh chấp, không liên quan gì tới nhà nước để can thiệp, ngoại trừ chính họ vi phạm hợp đồng 2 bên dẫn tới kiện cáo. Giá đất tại bất cứ thửa nào thuộc khu vực nào, muốn mua hoặc bán chỉ cần gọi điện tới cơ quan quản lý đất đai, lập tức nhận được ngay giá chính xác đúng thực tế trên thị trường tại thời điểm đó. Không thể rửa tiền tham nhũng hay lậu thuế bằng mua bán đất, bởi chủ sở hữu bao giờ cũng có tên trong danh sách đóng thuế đất, và với những giao dịch thanh toán vượt quá ngưỡng luật định đều được tự động chuyển qua cảnh sát kinh tế chịu trách nhiệm trước pháp luật thụ lý, khó có thể thoát. Còn bán giá thấp trên giấy tờ, tiền chênh lệch nhận ngoài sổ sách, sẽ gặp phải chế tài, nhà nước có quyền mua trước đối với bất cứ thửa đất nào lúc bán. Không như ở ta, giá bán trên hợp đồng có thể thấp tới 10 lần giá thị trường do nhà nước công bố; đất đai vì vậy không chỉ bất ổn tranh chấp, mà còn trở thành nền kinh tế ngầm, đầy thực ảo, không thể kiểm soát; đó mới là trách nhiệm quản lý kinh tế tài chính của nhà nước về đất đai đáng quan tâm nhất, nếu thực sự coi đất đai là tài sản vô giá sở hữu bởi và vì toàn dân.

Thực tế đất đai yên ổn của họ, chắc chắn cả người dân lẫn nhà chức trách nước ta đều mong muốn. Nhưng không một yên ổn nào có thể đạt tới, nếu không bắt đầu từ một  nền móng vững chắc; đất đai vì vậy phải cải cách từ nền tảng Hiến pháp tới mọi đạo luật liên quan, cùng bộ máy chuyên môn thực thi, một khi thực tế vốn là “thước đo của chân lý“ đã kiểm chứng, không thể bác bỏ.
22-06-2012
TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức
Nguồn: Ba Sàm

Thứ Sáu, ngày 22 tháng 6 năm 2012

Tại sao những giá trị châu Á không hề cản trở dân chủ

Bắt đầu từ giữa những năm 1980, làn sóng dân chủ hóa thứ ba đã quét qua châu Á, mang nền chính trị đa đảng sôi động đến cho các chế độ độc tài trước đây như Hàn Quốc và Đài Loan. Tuy vậy, ngày nay, theo tính toán của Doh Chull Shin, trong 16 nước Đông Á và Đông Nam Á hiện nay chỉ bao gồm sáu nền dân chủ đang hoạt động – một tỷ lệ kém hơn so với mức trung bình trên toàn thế giới là cứ 10 nước thì có 6 nền dân chủ. Khu vực này tiếp  một số chế độ độc tài dai dẳng nhất của thế giới. Trong khi đó, Campuchia, Philippines, và Thái Lan đã từ lâu chơi trò bập bênh giữa các chính phủ được bầu và không được bầu. Thêm vào đó,thành công kinh tế cũng như sự ổn định chính trị của Trung Quốc đã khiến cho quốc gia này trở thành một mô hình nghiên cứu đáng ghen tị bởi những “ông lớn” trên khắp thế giới. Vậy, mô hình này có ý nghĩa như thế nào đối với châu Á mà sao quá khó khăn để dân chủ bám rễ?
Một phần giải thích có thể bắt nguồn từ nền văn hóa. Tuy nhiên, các cuộc thảo luận về văn hóa đôi khi có thể bóp méo hơn là soi rọi mối quan hệ giữa các giá trị và nền quản trị. Đây chính là cuộc tranh luận kéo dài về việc liệu các giá trị truyền thống châu Á có tương thích với nền dân chủ – một tranh cãi mà cuốn sách của Shin cố gắng giải quyết bằng cách tách biệt những gì là huyền thoại khỏi những sự kiện và những gì là giả định khỏi bằng chứng.

CÁC GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH

Cuộc tranh luận về các giá trị châu Á khởi phát vào những năm 1990 từ các nhà lãnh đạo của Malaysia và Singapore, những người lo ngại sự chấm dứt Chiến tranh Lạnh và áp lực của Mỹ đối với Trung Quốc về nhân quyền và dân chủ sau sự kiện Thiên An Môn sẽ làm mất ổn định khu vực.Trong bài phỏng vấn của Tạp chí Foreign Affairs năm 1994 với Fareed Zakaria (“Văn hóa là số mệnh,” Tháng Ba / Tháng Tư 1994), nhà lãnh đạo Singapore khi đó, Lý Quang Diệu, cảnh báo các nước phương Tây “không nên gán một cách bừa bãi hệ thống của họ lên những xã hội vốn không thể dung nạp.” Lý tuyên bố rằng dân chủ kiểu phương Tây, với sự nhấn mạnh về các quyền cá nhân, không phù hợp với các nền văn hóa hướng vê gia đình của khu vực Đông Á.Trong một bài phát biểu một vài năm trước đó, Lý đã lập luận rằng các xã hội châu Á sẽ phát triển mạnh không phải bằng cách áp dụng các mô hình kinh tế, các chuẩn mực xã hội, và các chiến lược quản trị phương Tây mà bằng cách bảo tồn những gì ông mô tả là năm mối quan hệ (ngũ thường) quan trọng nhất đối với đạo Khổng: “Một là, lòng yêu thương giữa cha và con (nhân); hai là,  nghĩa vụ giữa người cai trị và dân chúng (nghĩa); ba, sự tôn kính giữa vợ và chồng (lễ); bốn là, tôn kính người có tuổi (kính), và năm là, đức tín giữa những người bạn (tín)”.

Những quan điểm của Lý, và quan điểm tương tự của những người khác, trở thành giả thuyết “các giá trị châu Á”. Theo quan điểm này, không chỉ các giá trị châu Á xung đột với dân chủ tự do phương Tây, mà cả những giá trị từng là yếu tố chính đằng sau sự tăng trưởng kinh tế mà  các nước châu Á hưởng thụ trong những năm 1990. Nhưng giả thuyết này chưa bao giờ được chấp nhận rộng rãi, ngay cả trong khu vực. Như Kim Dae-jung, một nhà bất đồng chính kiến Hàn Quốc – người sau này trở thành Tổng thống của Hàn Quốc, lập luận trong số tiếp theo của Tạp chí Foreign Affairs (“Văn hóa là số mệnh? Các giá trị kháng dân chủ của câu chuyện thần thoại châu Á,” Tháng Mười Một / Tháng Mười hai năm 1994) thì trở ngại lớn nhất để dân chủ hóa ở châu Á không phải là văn hóa khu vực, cái mà Kim cho là: “đã có cả một di sản triết học và truyền thống định hướng dân chủ “, mà là “sự kháng cự của các nhà cầm quyền độc tài và những người biện hộ cho họ.” Kim buộc tội Lý về việc thúc đẩy một quan điểm về văn hóa Châu Á là “không những không đáng ủng hộ mà còn có mục đích phục vụ nhu cầu riêng.”

Cuộc tranh luận đã trở nên gay gắt từ đó đến nay. Tuy nhiên, trong quá trình tranh luận đã lộ ra rất nhiều những ý tưởng mơ hồ và mâu thuẫn về “các giá trị châu Á”. Vậy, “các giá trị châu Á” thực sự đòi hỏi những gì?

THEO KHỔNG TỬ THÌ NÊN LÀM GÌ?

Shin đi theo hướng nghiên cứu đó bằng cách nhìn lại lịch sử của Khổng giáo: rà soát các văn bản cổ điển của triết học, lên biểu đồ tiến hóa của Khổng giáo theo thời gian, và ghi chép biên niên sử lan truyền Khổng giáo từ Trung Quốc tới Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, và Việt Nam, sáu quốc gia mà ông đã phân loại thuộc nhóm “Châu Á Khổng giáo “, dựa trên ảnh hưởng lâu dài của Khổng tử ở những nơi này. Ông xác định năm giá trị tiếp tục định hình nền văn hóa của các xã hội này ngày nay: chủ nghĩa tập thể thứ bậc (sự trung thành với các nhà lãnh đạo nhóm), chế độ tuyển chọn nhân tài gia trưởng (sự cai trị nhân từ của một giới tinh hoa đạo đức), sự nhân nhượng và thích nghi giữa các cá nhân (tránh xung đột với những người khác), nhấn mạnh lợi ích cộng đồng và sự hài hòa (hy sinh lợi ích cá nhân cho cộng đồng), và chủ nghĩa gia đình kiểu Khổng giáo (đặt gia đình lên trên bản nhân). Những đặc điểm này được cho là mang lại  hiệu ứng mang tính khu vực trong đó đánh giá  tập thể cao hơn cá nhân và sự hài hòa cao hơn sự tự khẳng định. Shin thiết kế việc đo lường xem mỗi giá trị này mạnh mẽ như thế nào ở các nước châu Á khác nhau bằng cách phân tích dữ liệu từ hai dự án nghiên cứu quan điểm được tiến hành trong giai đoạn 2005-8: một cuộc khảo sát ở 57 quốc gia do Hiệp hội Khảo sát Các Giá trị Thế giới thực hiện và một cuộc Khảo sát Phong vũ biểu Châu Á ở 13 quốc gia . (Tôi là thành viên của ủy ban chỉ đạo Khảo sát Phong vũ biểu châu Á, và là đồng chủ biên một cuốn sách với Shin và các cộng sự khác dựa trên những phát hiện về làn sóng trước đây  từ cuộc khảo sát.)

Các nhà phê bình coi nghiên cứu về văn hóa dựa trên khảo sát là khiếm khuyết dưới ba góc độ. Thứ nhất, nếu văn hóa là  cái gì đó được chia sẻ bởi tất cả các thành viên trong xã hội, xem văn hóa như là việc phân bổ các giá trị và các quan điểm giữa các cá nhân sẽ bỏ qua biểu hiện văn hóa như một trải nghiệm mà cộng đồng cùng chia sẻ. Thứ hai, bằng cách giản đơn văn hóa xuống còn một loạt các mục câu hỏi, phương pháp khảo sát tỏ ra quá đơn giản hóa những quan điểm vốn phức tạp, nhiều lớp. Thứ ba, định dạng câu hỏi vô hình chung buộc người trả lời lựa chọn trong số các câu trả lời cứng nhắc có thể không phản ánh đầy đủ niềm tin của họ.

Dẫu biết tất cả những điều đó, phương pháp khảo sát vẫn không thể không có. Không có cách tiếp cận nào khác tốt hơn thế để tìm ra những điều chung nhiều người đang thực sự tin tưởng vào. Và phương pháp này cũng chỉ  rườm rà hơn chút ít so với phương pháp “biểu lộ” cũ rích theo đạo diễn và tuyên bố rằng tất cả các thành viên của quốc gia chia sẻ một số chuẩn mực mơ hồ. Việc Shin sử dụng dữ liệu là đặc biệt chuyên nghiệp. Ví dụ, ông đo sức mạnh của chủ nghĩa gia trưởng ở mỗi nước trên cơ sở  số người trả lời Khảo sát Phong vũ biểu châu Á đã nhất trí với hai mệnh đề: “Mối quan hệ giữa chính phủ và dân chúng nên giống như mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái” và “các lãnh đạo chính phủ giống như ông chủ của một gia đình; tất cả chúng ta nên tuân theo quyết định của họ “. Shin kết hợp những dữ liệu này với câu trả lời đối với hai mệnh đề về  chế độ tuyển chọn nhân tài : “Nếu chúng ta có các nhà lãnh đạo chính trị ngay thẳng về mặt đạo đức , chúng ta có thể phó mặc họ quyết định tất cả mọi thứ” và “Nếu có thể, tôi không muốn tham gia trong các vấn đề chính trị.” Ông sử dụng bốn câu hỏi để tạo ra một thang điểm gắn với chế độ tuyển chọn nhân tài  gia trưởng.  Ông nhận thấy đây là giá trị mà công dân của các chế độ độc tài ở Trung Quốc, Singapore, và Việt Nam theo đuổi cao nhất và công dân của các chế độ dân chủ ở Nhật Bản và Đài Loan ít theo đuổi nhất, theo đúng như giả thuyết các giá trị châu Á dự đoán.

Tuy nhiên, dữ liệu của Shin cho thấy một vài phát hiện mâu thuẫn với giả thuyết đang bàn. Trước hết, các giá trị của những người châu Á Khổng giáo không hề là “Khổng giáo hơn” so với những người ở nơi khác; mà quả thực, lại thường ít hơn. Có một tỷ lệ nhỏ hơn công dân trong khu vực  “tôn thờ” chế độ tuyển chọn nhân tài gia trưởng so với khu vực châu Á Không Khổng giáo theo định nghĩa của Shin bao gồm Indonesia, Malaysia, Mông Cổ, Philippines, và Thái Lan. So với sáu khu vực khác trong Khảo sát Giá trị Thế giới, châu Á Khổng giáo chỉ ở vị trí thứ tư về  hệ thống thứ bậc, sau thế giới Hồi giáo, châu Phi và Mỹ Latinh. Một giải thích thỏa đáng cho những phát hiện này là các giá trị Khổng  giáo không hề mang tính đặc sắc Châu Á; thay vào đó, những giá trị này thuộc về một nhóm các giá trị truyền thống mang tính phổ quát. Giải thích đó được ủng hộ bởi một thực tế là các quốc gia châu Á Khổng giáo không hoàn toàn đồng nhất về chuẩn mực và niềm tin. Có ít hơn bảy phần trăm người Nhật Bản tuân thủ các giá trị về thứ bậc, so với hơn 40% của người Việt Nam; hơn một nửa số người  Hàn Quốc theo chủ nghĩa quân bình, so với chỉ 30% của Trung Quốc.

SỬ DỤNG (VÀ LẠM DỤNG) VĂN HÓA

Sự kiện chủ nghĩa truyền thống là khác nhau giữa và trong các xã hội hầu như không đáng ngạc nhiên: một số phiên bản của phát hiện đó được đúc kết thành phương pháp khảo sát tích hợp từ các dữ liệu cấp độ vi mô. Phát hiện của Shin có ý nghĩa bởi nó xác nhận một lý thuyết thống trị về một trong những lý do chính vì sao các giá trị cá nhân và do đó các giá trị của các nhóm quần chúng thay đổi theo thời gian. Các giá trị truyền thống thường phổ biến trong số những người châu Á lớn tuổi, ít học, và có thu nhập thấp – nói cách khác, đó là những người ít tiếp xúc với các ý tưởng, công nghệ, và các hoạt động kinh tế đang ngày càng định dạng cuộc sống hiện đại ở thế giới phát triển và đang phát triển. Các học giả làm việc với các dữ liệu khảo sát cho thấy lâu nay các quan niệm truyền thống mất dần đi khi người dân di chuyển ra các thành phố, biết đọc biết viết, tiếp thu giáo dục chính thức, làm việc trong các doanh nghiệp hiện đại, và hòa mình với các phương tiện truyền thông hiện đại. Vì thế Shin lập luận rằng việc đa dạng giá trị trên toàn châu Á bắt nguồn từ những tác động không đồng đều của hiện đại hóa.

Các nền dân chủ cũng có thể ảnh hưởng hoặc khai thác văn hóa thành lợi thế riêng của mình. Shin phát hiện trên thực tế rằng sinh sống trong một nền dân chủ có tác động lớn hơn quá trình hiện đại hóa trong việc thay đổi quan điểm của dân chúng về  giá trị truyền thống. Ông đã cho thấy một con người với giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, và thu nhập nào đó nhiều khả năng sẽ từ bỏ cam kết của mình đối với các giá trị truyền thống nếu người đó sống trong một quốc gia dân chủ hơn là nếu họ sống trong một hệ thống độc tài. Điều này phản ánh thực tế rằng một hệ thống dân chủ, một khi đặt đúng nơi, sẽ thúc đẩy các giá trị giữa các công dân của nó và những người này giúp nền dân chủ ấy hoạt động. Một số hình thức của chủ nghĩa truyền thống châu Á thậm chí có thể hữu ích cho nền dân chủ. Theo Shin, người Khổng giáo ủng hộ thuyết  gia đình mạnh để giúp cố kết niềm tin và sự khoan dung trong xã hội rộng lớn hơn, trái ngược với nhận thức phổ biến cho rằng lòng trung thành tuyệt đối lại không tương thích với các chuẩn mực dân chủ. Cũng không phải chế độ lựa chọn người tài gia trưởng là một trở ngại cho dân chủ hóa: trong thực tế, điều đó dường như có khả năng thúc đẩy việc bảo vệ các chế độ dân chủ cũng y như bảo vệ chế độ độc tài. Giả thuyết các giá trị châu Á đã thất bại trong việc giải thích khả năng các chế độ định hình  văn hóa, điều vốn được xem như là một nguồn tài nguyên được khai thác bởi các chế độ và các đối thủ của họ trên cả hai mặt của sự phân chia dân chủ – độc tài. Các giá trị của công dân không phải là điều duy nhất xác định kiểu chính phủ một xã hội sẽ có.

Nhưng các chế độ không hề bó tay trong việc chống lại các lực lượng này. Các chính phủ độc tài có thể sử dụng các hệ thống giáo dục và tuyên truyền để thuyết phục công dân rằng các quy tắc hiện hành mà họ có là đủ dân chủ. Shin thấy rằng hầu hết người châu Á nói rằng họ thích sống trong một nền dân chủ, nhưng sự ủng hộ cho dân chủ giảm mức độ khi họ được truy vấn về những nguyên tắc cơ bản làm nền tảng cho dân chủ chính hiệu. Điều nổi bật hơn cả là khoảng trống giữa ủng hộ cho dân chủ như là một thương hiệu và ủng hộ cho dân chủ như là một tập hợp các thủ tục được thể hiện rõ ràng hơn trong những hệ thống độc tài so với trong những hệ thống phi độc tài. Ví dụ, ở Trung Quốc, 65% số người được hỏi ủng hộ dân chủ trên nguyên tắc, nhưng chỉ có 28% cho rằng cơ hội thay đổi chính phủ thông qua bầu cử là cần thiết để có dân chủ, và ít hơn bốn phần trăm nói rằng sự tự do chỉ trích người nắm quyền lực là điều cần thiết.

Bằng cách nuôi dưỡng những giá trị phi tự do trong lòng công dân của mình, một số chế độ châu Á được bên ngoài phân loại là độc tài, chẳng hạn như Trung Quốc và Việt Nam, có thể miêu tả bản thân mình là dân chủ trước các công dân của họ. Thực tế các quốc gia đã thành công hơn trong việc tự huyễn hoặc này so với các chế độ độc tài nhất ở những nơi khác cho thấy có ít điều để nói về các giá trị của công dân nước họ hơn so với việc bàn về các kết quả kinh tế sống động và hệ thống tuyên truyền tinh vi.

Các nền dân chủ cũng có thể ảnh hưởng hoặc khai thác văn hóa thành lợi thế riêng của mình. Shin phát hiện trên thực tế rằng sinh sống trong một nền dân chủ có tác động lớn hơn quá trình hiện đại hóa trong việc thay đổi quan điểm của dân chúng về  giá trị truyền thống. Ông đã cho thấy một con người với giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, và thu nhập nào đó nhiều khả năng sẽ từ bỏ cam kết của mình đối với các giá trị truyền thống nếu người đó sống trong một quốc gia dân chủ hơn là nếu họ sống trong một hệ thống độc tài. Điều này phản ánh thực tế rằng một hệ thống dân chủ, một khi đặt đúng nơi, sẽ thúc đẩy các giá trị giữa các công dân của nó và những người này giúp nền dân chủ ấy hoạt động.

Một số hình thức của chủ nghĩa truyền thống châu Á thậm chí có thể hữu ích cho nền dân chủ. Theo Shin, người Khổng giáo ủng hộ thuyết  gia đình mạnh để giúp cố kết niềm tin và sự khoan dung trong xã hội rộng lớn hơn, trái ngược với nhận thức phổ biến cho rằng lòng trung thành tuyệt đối lại không tương thích với các chuẩn mực dân chủ. Cũng không phải chế độ lựa chọn người tài gia trưởng là một trở ngại cho dân chủ hóa: trong thực tế, điều đó dường như có khả năng thúc đẩy việc bảo vệ các chế độ dân chủ cũng y như bảo vệ chế độ độc tài.

Giả thuyết các giá trị châu Á đã thất bại trong việc giải thích khả năng các chế độ định hình  văn hóa, điều vốn được xem như là một nguồn tài nguyên được khai thác bởi các chế độ và các đối thủ của họ trên cả hai mặt của sự phân chia dân chủ – độc tài. Các giá trị của công dân không phải là điều duy nhất xác định kiểu chính phủ một xã hội sẽ có.

MỘT GIẢ THUYẾT SAI LẦM

Do văn hóa không phải là một cái lồng sắt nên người ta phải xem xét các yếu tố khác để dự đoán tương lai của nền quản trị ở châu Á. Một chỉ báo quan trọng là kết quả thực hiện. Xét cho cùng, sự ổn định của một chế độ nào đó phụ thuộc phần lớn vào năng lực của chế độ ấy đáp ứng nhu cầu của công dân của mình. Kinh tế trì trệ, bất bình đẳng thu nhập, và tham nhũng sẽ làm suy yếu tính hợp pháp của bất kỳ chính phủ nào.
Tuy nhiên, phát hiện của Shin hàm ý  rằng hệ thống độc tài dễ bị tổn thương hơn trước các cuộc khủng hoảng về tính hợp pháp  so với hệ thống dân chủ. Ở các  nước độc tài châu Á, một tỷ lệ cao công dân xem dân chủ vừa là điều mong muốn vừa là sự hợp lý đối với đất nước mình. Ngược lại, ở các quốc gia mà dân chủ đã thay thế chế độ độc tài mất uy tín (ví dụ: lãnh đạo quân sự tại Hàn Quốc, chế độ độc đảng tại Đài Loan, và chế độ cai trị kiểu hoàng đế tại Nhật Bản), sự ủng hộ cho các  giải pháp thay thế chế độ độc tài thay đổi  từ 4% đến 17%. Các nền dân chủ châu Á đã chứng minh năng lực ứng phó với tác động của hoạt động yếu kém bởi trên thực tế công dân ở các nước này luôn nhìn thấy chính quyền của họ hợp pháp ngay cả khi có đấu tranh. Trong khi đó, các nước láng giềng độc tài có thể tránh cuộc khủng hoảng tính hợp pháp bằng cách ém nhẹm tham nhũng và giữ nền kinh tế tăng trưởng. Khi nền kinh tế hoặc các hệ thống phúc lợi xã hội của họ  “trục trặc”, công dân sẽ có xu hướng đòi hỏi quyền lợi nhiều hơn từ phía chính phủ.

Văn hóa tương tác với các lực lượng kinh tế-xã hội, các thể chế chính trị, thực hành chế độ, và giới lãnh đạo để xác định số phận của chế độ, và không có bất cứ yếu tố duy nhất nào là nguyên nhân chính yếu. Giả thuyết các giá trị châu Á đã sai lầm khi tuyên bố rằng dân chủ không thể tồn tại ở châu Á. Tuy nhiên, điều tương tự cũng đúng khi phản biện rằng hiện đại hóa sẽ tự động hủy diệt các chế độ độc tài ở khu vực. Họ có thể sống sót trong một thời gian dài tới đây. Tuy nhiên, cửa đặt cược vào văn hóa đang được xếp chồng lên nhau chống lại họ.

Andrew J. Nathan

ANDREW J. NATHAN  là Giáo sư Khoa học Chính trị Lớp 1919 tại Đại học Columbia và là đồng tác giả, cùng với Andrew Scobell, của cuốn sách sắp xuất bản mang tên Trung Quốc Kiếm tìm An ninh

Dịch từ bài Confucius and the Ballot Box  (KHỔNG TỬ VÀ THÙNG PHIẾU BẦU CỬ)

Bản dịch của Quang Thành
Theo Viet-Studies

Luật Biển, báo chí và nhân dân

 Ai sẽ là người bảo vệ chủ quyền nếu không phải là nhân dân! Ai sẽ là người thực thi các bộ luật ngoài nhân dân! Nhưng liệu người dân có thể thực thi các bộ luật khi nó được các tòa báo “dấu kín”. Liệu họ có thể bảo vệ chủ quyền biển đảo nếu như hoàn toàn mù tịt, không biết bộ luật đó nói về cái gì!
Một bộ luật mà người dân có muốn cũng không thể biết có thể gọi là gì nếu như không phải là một bộ luật bí mật?

Điều mà báo chí quan tâm nhất trong phiên bế mạc kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII, có lẽ chính là việc QH có thông qua luật Biển? Và báo chí sẽ đưa những gì, đưa như thế nào về dự án được xem là quan trọng nhất trong kỳ họp lần này?

Câu hỏi thứ nhất có thể trả lời ngay: Hóa ra các vị đại biểu QH không kém như người ta tưởng. Căn cứ vào bản giải trình tiếp thu, thì trong các phiên thảo luận mà báo chí không được phép tham dự và đưa tin trước đó, rất nhiều đại biểu đề nghị quy định rõ về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngay tại Điều 1 của dự thảo Luật. Có ý kiến thậm chí đề nghị cần quy định trong Luật này vị trí địa lý của các đảo, quần đảo. Điều này đã được Ban soạn thảo tiếp thu và ngay trong điều 1 luật Biển, chủ quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được khẳng định. Khoảng 10h20 phút sáng qua, Quốc hội với 495/496 đại biểu tán thành đã thông qua luật Biển Việt Nam.

Chỉ có một điều đáng nói. Đó là vị đại biểu thứ 496. Dù không đồng ý thông qua hay không bỏ phiếu thông qua thì vị đại biểu duy nhất này cũng đã tạo ra sự ngạc nhiên đến sững sờ đối với những người chứng kiến. Thật khó có thể cắt nghĩa “lá phiếu thứ 496” này.

Có lẽ là tình cờ khi luật Biển, một bộ luật có ý nghĩa cách mạng- được thông qua đúng vào ngày báo chí cách mạng Việt Nam 21-6. Chỉ có điều, báo chí không “cách mạng” như người ta tưởng. VietNamNet là tờ đầu tiên đưa tương đối chi tiết luật Biển vào buổi trưa 21-6. Có điều, bài báo được gỡ xuống gần như ngay sau đó. Không cần phải đọc báo sáng nay cũng biết: Luật Biển chỉ được thể hiện dưới dạng tin một dòng. Đại khái QH thông qua luật Biển. Không chi tiết. Ngoại trừ trường hợp cực khó cắt nghĩa, là một bài to uỵch trên báo Nhân dân dưới dòng tít: “Quốc hội thông qua luật Biển Việt Nam”.

Nguyên Bộ trưởng Bộ 4T Lê Doãn Hợp, trong ngày báo chí cách mạng đã khẳng định hùng hồn: “Không có vùng cấm nào, chỉ có báo chí ngại không vào thì thành vùng cấm”. Đã không có “vùng cấm” mà báo chí lại chỉ đưa “tin một dòng”- không chi tiết, không bình luận về một bộ luật được quan tâm nhường đó thì chỉ có một khả năng: Các nhà báo, các tòa soạn cho rằng dân không được phép biết, hoặc không cần biết.

Tháng 8 năm ngoái, đại biểu QH Dương Trung Quốc đã có phát biểu vô cùng thẳng thắn xung quanh báo cáo về tình hình Biển Đông, một “báo cáo không đầy 1 tiếng và không có thảo luận”, rằng: Trừ một vài nội dung chi tiết, còn về căn bản nếu những nội dung báo cáo đó được trình bày cho dân chúng thì chỉ có tốt trở lên, dân sẽ tin hơn vào những gì Chính phủ đã làm. Nó làm sáng tỏ phần nào những băn khoăn, trăn trở của dân và quan trọng hơn là sự ủng hộ của dân được tổ chức, được huy động có hiệu quả”. Vị đại biểu, đồng thời là một nhà sử học nhấn mạnh:”Cái gì cần tế nhị trong quan hệ ngoại giao ta phải giữ, nhưng với dân thì không cần đến sự tế nhị mà cần sự tin cậy, thẳng thắn. Cái gì cần mềm mỏng với ngoại giao thì cũng cần mềm mỏng trong “nội giao”, đừng tạo ra những khoảng cách, những xung đột không đáng có giữa Chính phủ và nhân dân, cho dù sự cảnh giác là cần thiết”.

21-6 năm nay thì lại là một bộ luật “bí mật”.

Ai sẽ là người bảo vệ chủ quyền nếu không phải là nhân dân! Ai sẽ là người thực thi các bộ luật ngoài nhân dân! Nhưng liệu người dân có thể thực thi các bộ luật khi nó được các tòa báo “dấu kín”. Liệu họ có thể bảo vệ chủ quyền biển đảo nếu như hoàn toàn mù tịt, không biết bộ luật đó nói về cái gì!

Và liệu một bộ luật còn có giá trị thực thi nếu như chỉ vài trăm vị, dù là đại biểu dân cử được bàn, được biết?
Đào Tuấn

Con voi thương lái Trung Quốc chui lọt lỗ kim!


Mấy tháng nay, thương lái Trung Quốc thao túng, lừa đảo, gây rối loạn thị trường khắp nơi. Họ tung hoành từ vùng duyên hải, đồng bằng , đến các vùng rừng núi xa xôi.
Họ không chỉ làm chủ khâu mua bán mà còn tác động đến sản xuất kinh doanh của nhiều địa phương: Thúc đẩy người dân Bến Tre lập cơ sở chế biến thạch dừa; kích thích nông dân Vĩnh Long bỏ lúa trồng khoai lang; làm cho nông dân nhiều tỉnh bỏ lúa thơm trồng lúa thường; Tranh mua trái cây làm cho nhà máy chế biến hoa quả Tiền Giang ngừng hoạt động…Họ sử dụng điêu luyện những chiêu thức: Đầu tiên là trả giá cao, kêu gọi bà con ta “ luôn luôn lấy chữ tín làm đầu”; Họ ứng tiền trước mà tỏ ra không hề sợ mất; Cuối cùng là một cú lừa gom sạch cả vốn, cả lời của bà con ta, làm hằng chục cơ sở sản xuất phá sản, hàng ngàn ha khoai không nơi tiêu thụ…

Nhiều địa phương cho rằng không thể quản lý nổi thương lái Trung Quốc! Bởi vì họ sang bằng visa du lịch, họ không đăng ký kinh doanh, không lập công ty, không ký hợp đồng mua bán mà chỉ giao dịch miệng, sử dụng các đại lý, chủ vựa, người Việt Nam mua gom hàng. Họ được bà con ta tin cậy, không ai thắc mắc tố cáo, khiếu nại gì, cho nên mặc dù họ thực hiện những thương vụ rất lớn mà vẫn êm ru: Đến tận kho mua từ 10.000 đến 50.000 tấn gạo; Chỉ riêng huyện Bình Minh (Vĩnh Long) họ lập 22 kho tập kết khoai lang; Họ bao tiêu 90% thạch dừa ở tỉnh Bến Tre; Họ lập đường dây thu mua cua rầm rộ ở thị trấn Năm Căn…

Tình hình trên chứng tỏ thương lái Trung Quốc hoạt động không quá kín đáo, khiến cho các cơ quan chức năng không thể nào hay biết. Vậy thì hãy xét thêm, vì sao hành tung của họ không được nghi vấn, cảnh báo? Xin được nói cho công bằng là, đã có một người cảnh báo, nhưng như ném đá ao bèo, có lẽ vì món lợi trước mắt quá lớn, nên không ai muốn nghe. Ngày 5 tháng 8 năm 2011, giáo sư Vũ Cao Đàm có bài viết khuyên nông dân Vĩnh Long hãy cảnh giác chớ ham lợi trước mắt mà bỏ lúa trồng khoai. Giáo sư nhắc lại chuyện đã qua rất đáng nghi vấn của thương lái Trung Quốc, như họ thu mua với giá rất cao các loại hàng hóa: móng trâu, rể hồi, cáp quang…sau đó để lại nhiều hậu quả xấu. Có thể nông dân Vĩnh Long không có điều kiện đọc bài viết ấy, nhưng các cơ quan chức năng và Hội Nông dân cũng không bén nhạy để giúp đỡ họ. Năm nay, trong khi thương lái Trung Quốc mua dứa (khóm) với giá 4000 đồng đến 6000 đồng/ kg thì thời điểm ấy ở Vân Nam Trung Quốc giá dứa trung bình chỉ có 3000 đồng/kg. Tại sao các cơ quan quản lý kinh tế của chúng ta không chú ý chuyện không bình thường đó? Được biết Hiệp hội lương thực Việt Nam có chỉ đạo các các doanh nghiệp thành viên nên cẩn trọng khi làm ăn với thương lái Trung Quốc. Rất tiếc ý kiến đó không được phổ biến chi tiết và rộng khắp đến mọi người nông dân.

Tại sao các cơ quan quản lý chỉ ngồi chờ đối tượng tới đăng ký mà không có biện pháp ngăn chặn những hành vi kinh doanh phi pháp không cần đăng ký? Chúng ta có nhiều cơ quan có chức năng quản lý sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, nhưng không có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Các cấp chính quyền và các đoàn thể cũng không có sự phối hợp cùng bàn bạc xử lý những hiện tượng xảy ra bất thường. Con voi thương lái Trung Quốc lọt qua lỗ kim không phải vì chúng có tài thánh mà chỉ vì không ai trong chúng ta thấy mình có trách nhiệm!

 20-6-12
Tống Văn Công

Thứ Năm, ngày 21 tháng 6 năm 2012

Tin nóng: Chủ quyền Hoàng Sa được ghi ngay tại điều 1 luật Biển


Với 495/496 đại biểu QH bỏ phiếu tán thành, Quốc hội đã thông qua luật Biển Việt Nam với việc xác định chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa…được ghi ngay trong điều 1.
Luật Biển chính là cơ sở pháp lý cao nhất cho việc đòi lại chủ quyền quần đảo Hoàng Sa đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép, đồng thời sẽ là thứ « vũ khí pháp lý » để xử lý bằng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam đối với các cá nhân, tàu thuyền nước ngoài vi phạm. 

Điều 3 của Luật ghi nhận rõ “biện pháp hòa bình” là nguyên tắc để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia. Theo báo cáo giải trình, việc ghi nhận nguyên tắc này hoàn toàn không loại trừ quyền phòng vệ chính đáng của nước ta, bởi vì ngay trong Hiến chương Liên hợp quốc cũng thừa nhận quyền tự vệ chính đáng của cá nhân hay tập thể khi thành viên của Liên hợp quốc bị tấn công vũ trang. Trong khi đó, khoản 1 Điều 5 quy định việc thực hiện các biện pháp cần thiết (bao gồm cả quyền tự vệ chính đáng) nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo đã hàm ý Việt Nam có quyền sử dụng các biện pháp vũ lực, phòng vệ chính đáng khi cần thiết. 

Luật Biển thừa nhận quyền qua lại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải Việt Nam nhưng quy định rất cụ thể các hành vi bị coi là gây phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh của Việt Nam: 

a) Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. 

b) Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác; thực hiện các hành vi trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế được quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc. 

c) Luyện tập hay diễn tập với bất kỳ kiểu, loại vũ khí nào, dưới bất kỳ hình thức nào. 

d) Thu thập thông tin gây thiệt hại cho quốc phòng, an ninh của Việt Nam. 

đ) Tuyên truyền nhằm gây hại đến quốc phòng, an ninh của Việt Nam. 

e) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện bay lên tàu thuyền. 

g) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện quân sự lên tàu thuyền. 

h) Bốc, dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu thuyền trái với quy định của pháp luật Việt Nam về hải quan, thuế, y tế hoặc xuất nhập cảnh. 

i) Cố ý gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường biển. 

k) Đánh bắt hải sản trái phép. 

l) Nghiên cứu, điều tra, thăm dò trái phép. 

m) Làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống thông tin liên lạc hoặc của thiết bị hay công trình khác của Việt Nam. 

n) Tiến hành hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua. 

Theo Luật Biển, Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có quyền truy đuổi tàu thuyền nước ngoài vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam nếu các tàu thuyền này đang ở trong nội thủy, lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam. Quyền truy đuổi được tiến hành sau khi lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển đã phát tín hiệu yêu cầu tàu thuyền vi phạm hay có dấu hiệu vi phạm pháp luật dừng lại để tiến hành kiểm tra nhưng tàu thuyền đó không chấp hành. Việc truy đuổi có thể được tiếp tục ở ngoài ranh giới của lãnh hải hay vùng tiếp giáp lãnh hải Viêt Nam nếu được tiến hành liên tục, không ngắt quãng. Quyền truy đuổi cũng được áp dụng đối với hành vi vi phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, vi phạm trong phạm vi vành đai an toàn và trên các đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. 

Việc QH thông qua Luật Biển Việt Nam là một động thái mạnh mẽ, cần thiết trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Điểm đáng lưu ý nhất là dù các phiên thảo luận luật Biển là thảo luận kín. Nhưng đến hôm qua, báo chí đã có quyền tiếp cận toàn bộ bộ luật này.
Đào Tuấn

Vỡ trận


Hồi bé đọc Tam Quốc, mình rất nhớ đoạn này, nói theo ngôn ngữ trồng cải bây giờ thì là “Những giờ phút cuối cùng của Vân Trường”:

Quan Công đuổi đánh hơn hai chục dặm, lại nghe có tiếng reo, thì là Hàn Đương ở mé hang núi đổ ra, Chu Thái ở mé hữu kéo đến; Tưởng Khâm quay đánh ập lại. Quan Công vội rút lui. Đi chưa được vài dặm, thấy trên gò núi Nam Sơn, có một số người tụ ở đấy, khói bốc nghi ngút. Trên núi có lá cờ trắng bay phấp phới, đề bốn chữ: “Kinh Châu thổ nhân”. Họ gọi ơi ới: “Những người bản xứ, mau mau ra hàng đi”.

Quan Công giận lắm, muốn lên núi giết bọn ấy. Bỗng ở trong hang núi lại có hai toán quân của Đinh Phụng, Từ Thịnh đổ dậy đất, chiêng chống rầm trời, vây khốn Quan Công mà đánh, tướng sĩ thủ hạ dần dần tán hết. Đánh nhau mãi đến mờ mờ tối, Quan Công trông ra bốn phía núi, thấy toàn là quân Kinh Châu, người thì gọi anh tìm em, kẻ thì réo con gọi cha, tiếng kêu như ri, rủ nhau đi mất cả. Quan Công quát ngăn lại cũng không được.

Thấy đoạn này minh họa rõ cho cái ý “vỡ trận”. Mà hình như kinh tế, giáo dục, báo chí nước Nam ta giờ đang ầm ầm rơi vào thế ấy.

Bấy giờ báo chí đói lắm, nhiều tòa báo phải tung quân đi các nơi trồng cải, bắt doanh nghiệp làm thịt, mò cả vào làng showbiz thịt “sao”, có khi đói quá ăn thịt lẫn nhau. Người nào yếu, mắt mờ chân run không theo được, đành nằm nhà chờ chết hoặc kêu khóc đợi ứng cứu. Báo điện tử câu view điên cuồng, bọn quân sư nghĩ ra ngày càng nhiều tít bệnh hoạn, dân tình tuy vẫn vào đọc, nhưng thực bụng sợ lắm.

Báo sĩ nhiều người thấy tình hình trồng cải, làm thịt dân rối ren như thế, trong lòng không nỡ, muốn viết khác đi, nhưng phi cải ra, động cái gì cũng bị triều đình hạch tội. Số báo sĩ nao núng, muốn bẻ bút về quê làm ruộng ngày càng nhiều. Lắm kẻ sinh phẫn chí, tối ngày uống rượu rồi trông mặt về phía “Trung ương” mà khóc hu hu, tổng biên tập quát ngăn lại cũng không được. Tiếng kêu than vang trời dậy đất…

Vỡ trận rồi còn đâu? Nước Nam ta từ ngày có báo điện tử đã bao giờ suy đến thế này chăng, trời hỡi trời?
Đoan Trang

Cách mạng blogger ở Việt Nam?

Nhân ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả bài viết của bà Marianne Brown, nói về công lao đóng góp của các blogger, giúp thay đổi việc chuyển tải thông tin của các cơ quan truyền thông trong nước như thế nào. Các blogger, những nhà báo mạng, những người được mệnh danh “ăn cơm nhà vác ngà voi”, mặc dù không được lãnh lương, không được cấp kinh phí, không được chính thức trao quyền tác nghiệp, thế nhưng tiếng nói của các blogger đã góp phần không nhỏ trong việc cải thiện thông tin của báo chí nước nhà.
Việc viết blog, đưa tin của các blogger với tinh thần trách nhiệm, đứng về quyền lợi của người dân, bênh vực những người cô thế, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, mặc dù không được đảng và nhà nước vinh danh, khen ngợi, nhưng các blogger thật sự trở thành nơi tin tưởng, gửi gắm, không những cho người dân, mà còn là nơi để các quan chức chính quyền địa phương nhớ tới, khi cần được giúp đỡ. Xin mọi người hãy cùng vinh danh các blogger, các nhà báo mạng, những nhà báo công dân, những “chiến sĩ thông tin”, đã âm thầm, lặng lẽ làm việc trong thời gian qua và trong tương lai sau này.
BTV trang Ba Sàm
Giới blogger Việt Nam đang ngày càng thúc đẩy việc đưa tin trong nước. Tin tức mạnh mẽ hơn sẽ tốt cho sự phát triển ở Việt Nam. 
Khi lực lượng an ninh cố đuổi một gia đình nông dân nuôi cá khỏi mảnh đất của họ ở huyện Tiên Lãng, miền bắc Việt Nam, họ không nghĩ sẽ bị đáp trả lại bằng súng đạn và mìn. Trận chiến sau đó đã kết thúc với sáu viên công an vào bệnh viện và bốn người đàn ông bị buộc tội âm mưu giết người.

Vụ việc này đã bùng nổ ở nhiều mức độ khác nhau. Trong một hành động hiếm hoi ở một đất nước mà tin tức bị chính phủ kiểm duyệt nghiêm ngặt, các phóng viên được phép điều tra kỹ lưỡng sự việc này. Thật vậy, một cựu viên chức ngoại giao phương Tây cho biết, lúc đó ông không hề thấy các phương tiện truyền thông trong nước đưa tin về câu chuyện này với cùng chiều sâu như các blogger.

Dần dà, càng có nhiều chi tiết hơn được đưa ra ánh sáng, tiết lộ nguyên nhân sự việc là do chính quyền địa phương đã không giữ lời hứa, cũng như sự điều hành yếu kém của họ. Một số quan chức đã bị xử lý kỷ luật do sự tham gia của họ.

Việc đưa tin tức như vậy là rất bất thường ở Việt Nam, đất nước được xếp hạng 172 trên tổng số 179 nước về chỉ số tự do báo chí năm 2011-2012 của tổ chức Phóng viên Không biên Giới. Các biên tập viên phải gặp Bộ Truyền thông vào thứ Ba hàng tuần để được “hướng dẫn” những điều có thể và không thể đưa tin. Mặc dù có một số tờ báo đi xa hơn những báo khác trong việc đưa tin về các vấn đề về tham nhũng, nhưng chuyện tự kiểm duyệt là phổ biến. Do đó, sự kiện [Tiên Lãng] đã làm cho một số người hy vọng rằng mọi thứ có thể thay đổi, nhưng chỉ vài tháng sau đó, vào ngày 24 tháng 4, một cuộc phản kháng khác ở tỉnh Hưng Yên, ngoại ô Hà Nội, đã cho thấy bằng chứng ngược lại.

Hình ảnh hàng trăm cảnh sát được trang bị dụng cụ chống bạo động đối mặt với người dân Văn Giang đã được đăng tải trên blog, lan truyền ngay lập tức. Những người phản đối yêu cầu được bồi thường cao hơn cho mảnh đất đã bị chính quyền địa phương lấy để xây một thành phố vệ tinh ở vùng ngoại ô Hà Nội. Nhưng bất chấp những tin tức nóng bỏng, báo chí địa phương vẫn im bặt.

Một tổ chức phi chính phủ, Trung tâm Nghiên cứu Truyền thông Phát triển (Red Communication), hoạt động nhằm nâng cao chất lượng báo chí ở Việt Nam. Giám đốc Trần Nhật Minh cho biết, các phóng viên không có được tự do như nhau để đưa tin về các cuộc phản kháng ở Văn Giang như họ đã có ở Tiên Lãng.

Ông nói: “Trước đó, các nhà chức trách Văn Giang đã tổ chức một cuộc họp báo. Chính quyền địa phương yêu cầu các phóng viên đưa tin về câu chuyện theo tài liệu của họ (chính quyền) và không được đến hiện trường vì lý do an toàn“.

Trong vài tuần sau đó, một số thông tin được lọc qua. Tuy nhiên, khi hai người đàn ông xuất hiện trong video bị công an ở chỗ phản kháng (Văn Giang) đánh đập, được nhận diện là các nhà báo của một đài phát thanh nhà nước, sự cố này bắt đầu trở thành tiêu đề của các bài báo.

Một nhà báo Việt Nam, Nguyễn Thị Hung* cho biết: “Sự kiện Văn Giang cho thấy, chính phủ đã thất bại trong việc bịt miệng các phương tiện truyền thông trong nước. Đã có lệnh là không đưa tin về vụ việc này, nhưng chuyện hai phóng viên của Đài Tiếng nói Việt Nam bị đánh đập là cái cớ để mọi người đưa tin về sự việc đó“.

Việc đưa tin về cuộc tấn công kéo dài khoảng một tuần, và đã không đi sâu vào các chi tiết về những lý do đằng sau cuộc phản kháng [của người dân]. Nhưng mặc dù tin tức về trường hợp Văn Giang đã bị kềm chế, giám đốc Minh nói rằng chuyện thay đổi không phải là viễn vông (**). Ông nói: “Tình hình hiện nay không giống như vài năm trước đây. Trước kia, nếu có một dự án mà nhà nước phải lấy đất của dân, thì các nhà báo chỉ có thể đưa tin từ quan điểm của nhà nước“.

Ông nói rằng, các cuộc biểu tình phản đối tịch thu đất là phổ biến và đã diễn ra trong thời gian dài, nhưng báo chí hiếm khi nói tới. Thường chỉ có [người dân] trực tiếp ở địa phương đó quan tâm, nhưng đa số độc giả sống ở các thành phố, nên đơn giản là hầu hết các tổ chức thông tin không quan tâm đến các vấn đề của nông dân.

Tuy nhiên, cuộc chiến giữa những người nông dân và các nhà chức trách ở Tiên Lãng đã thay đổi điều đó. Trước tiên, độc giả bị thu hút do mức độ bạo lực, và rồi sau đó độc giả kinh hoàng trước mức độ điều hành yếu kém của các cơ quan có thẩm quyền.

Ông Minh cho biết: “không gian cho các cuộc biểu tình [chống tịch thu] đất đai trên báo chí hiện nay lớn hơn nhờ sự việc Tiên Lãng”. Ông nói thêm rằng, sự kiện này đã làm cho vấn đề “nóng”, có nghĩa là sẽ có nhiều trường hợp như thế sẽ được đưa tin.

Đại sứ Anh ở Việt Nam nói, việc đưa tin như thế, nếu thành hiện thực, cũng có thể giúp thúc đẩy nỗ lực phát triển cho Việt Nam.

Anh quốc là nước tài trợ hàng đầu về chống tham nhũng ở Việt Nam, cũng như tài trợ các chương trình đào tạo cho truyền thông trong nước. Đại sứ Antony Stokes cho biết, vai trò của truyền thông là đưa thông tin ra ánh sáng một cách chuyên nghiệp và độc lập. Đây là điều cơ bản trong đấu tranh chống tham nhũng.

Ông nói: “Có một chút thách thức và chúng tôi muốn làm việc với chính phủ Việt Nam để giải quyết thách thức đó“.

Ông Stokes nói rằng, ông hy vọng sẽ giúp các phương tiện truyền thông tự do hơn, không bị các ảnh hưởng chính trị, điều này sẽ giúp thúc đẩy phát triển.

Ông nói thêm: “Các phương tiện truyền thông có thể đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định các cá nhân tham nhũng. Tuy nhiên, có khả năng là các cá nhân cảm thấy bị đe dọa bởi điều này“.

Phạm Văn Linh*, hiện làm việc cho một tờ báo Việt Nam, cho biết, ông tin rằng hệ thống kiểm duyệt không thay đổi và thậm chí có thể trở nên nghiêm ngặt hơn.

Linh nói: “Tin tức phụ thuộc vào các nhóm lợi ích của chính phủ và những người mà các biên tập viên nhận được sự hỗ trợ từ [họ]“. Ông tin rằng chính phủ hạn chế các phương tiện truyền thông bởi vì họ sợ mất kiểm soát ý kiến của công chúng.

Ông nói: “Nếu chính quyền mất kiểm soát thì chế độ sẽ mất“.

Nhà báo [Nguyễn Thị] Hung nói, cô nghĩ rằng hạn chế vẫn còn nằm trong từng trường hợp cụ thể, nhưng lực lượng thực sự cần cho sự thay đổi là viết blog. Điều thú vị trong sự kiện Văn Giang là nó đã được kích hoạt gần như toàn bộ, nhờ quy mô đưa tin của các blogger.

Cô nói: “Blog đang thúc đẩy việc đưa tin trong nước bằng cách đưa thêm nhiều thông tin hơn vào các diễn đàn công cộng. Chính phủ không thể đảo ngược các thông tin đã công bố trên internet“.

Một số phóng viên tiếp cận các hạn chế bằng cách viết blog dưới bút danh. Tuy nhiên, ảnh hưởng gia tăng của dạng truyền thông này đã không được chính phủ bỏ qua. Nội dung trên các blog ngày càng được sử dụng trong các bản cáo trạng ở tòa án mà có thể kết thúc bằng các bản án tù.

Blogger Lê Đức Thích* cho biết, anh thường xuyên bị cảnh sát đi theo và công việc của anh bị giám sát chặt chẽ. Anh nói: “Họ cố gây áp lực để tôi không viết về các vấn đề nhạy cảm”. Cũng đã có các tin tức cho biết, blogger Nguyễn Xuân Diện ở Hà Nội, là một trong những người đầu tiên loan tin về các cuộc biểu tình ở Văn Giang, đã bị sách nhiễu và buộc phải đóng blog của anh.
Theo một số nhà phân tích, luật pháp Việt Nam có thể phục vụ cho việc đàn áp hoặc nuôi dưỡng sự phát triển chất lượng báo chí. Một tài liệu của phía lập pháp đã làm dấy lên mối quan ngại trong cộng đồng quốc tế là dự thảo Nghị định về sử dụng internet, trong đó dự kiến sẽ được phát hành trong tháng này. Đại sứ quán Mỹ ở Việt Nam đã đưa ra ý kiến riêng về dự thảo trong một bức thư gửi cho chính phủ Việt Nam, công bố hôm thứ năm ngày 7 tháng 6. Nghị định có thể buộc những người sử dụng internet đăng ký sử dụng với tên thật và bắt buộc các trang tin tức phải được sự chấp thuận của chính phủ trước khi đăng tải.

Đại Sứ quán [Mỹ] cho biết, các quy định về hành vi bị cấm trên internet làquá bao la và mơ hồ, và do đó có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến các quyền cá nhân về tự do ngôn luận ở Việt Nam“.

Tuy nhiên, không phải ai cũng bi quan về các quyền của nhà báo và của các blogger ở Việt Nam. Ông Minh, Giám đốc Red Communication nói rằng, có những quy định của luật pháp hiện hành có thể giúp cải thiện việc đưa tin, nhưng hiếm khi được thực hiện. Ông nói, theo điều 6 và điều 8 của Nghị định 02, “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí và xuất bản“, các nhà báo có quyền không bị cản trở, và các cơ quan chính phủ có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho họ.

Ông Minh nói: “Sau sự kiện Hưng Yên, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam nói rằng, chúng ta nên chờ xem các phóng viên có hành động đúng theo quy định của pháp luật hay không. Nhưng điều này là sai. Theo quy định của pháp luật, các phóng viên được phép tác nghiệp ở tất cả mọi nơi trong lãnh thổ Việt Nam, nên họ có mặt ở đó là đúng“.

Trong khi viết blog giúp thúc đẩy việc đưa tin lên các mức độ mới, ông Minh nói rằng mọi người sẽ đưa tin nhiều hơn khi họ biết các quyền của họ.

Ông nói: “Khi các nhà báo hiểu luật pháp, họ sẽ tự tin hơn và họ sẽ ít tự kiểm duyệt hơn“.

20-06-2012
Marianne Brown
 
Người dịch: Dương Lệ Chi

Tác giả: Bà Marianne Brown là phóng viên cho báo DPA – Deutsche Presse-Agentur (báo Đức), chi nhánh Hà Nội. Bà cũng có các bài viết ở báo Guardian và VOA News, ngoài các tờ báo khác.
* Tên đã được đổi để tránh bị nhận diện.
————–
(**) Ghi chú của BTV: Dựa vào ngữ cảnh của đoạn văn, có lẽ câu này phải là “change is not in the air.”
Nguồn: The Diplomat
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012

Thư chúc mừng “Ngày nhà báo Việt Nam”


Thưa các đồng chí.
Vừa qua trên một số mạng thông tin có nhiều luồng dư luận khác nhau về ngày 21/6, ngày kỷ niệm Nhà báo Việt Nam.
Có một số bài viết và xì ta tút trên Facebook đã nhận định thiếu khách quan, trung thực, thậm chí bôi nhọ, xuyên tạc vai trò báo chí cách mạng. Thí dụ có trang mạng viết: ” Ngày 21/6 hàng năm được chính thức công nhận là ngày nhà báo Việt Nam. Xin được có lời chúc mừng 700 quán bán hoa hoặc còn gọi là 700 cái loa cơm, ngày càng vững bước trên con đường mịt mờ vô định. Trừ một số anh chị em đang âm thầm với công việc phản ảnh sự thật và công lý, hầu hết các đồng chí khác đã làm cho cánh đồng hoa thành cánh đồng cải theo định hướng của các con sâu. Trải qua nhiều năm tháng nỗ lực phấn đấu vì sự nghiệp mình giầu nước mạt, các đồng chí đã trưởng thành từ chỗ nhỏ lẻ đến chỗ đông đảo tới hơn 1.700 đồng chí như hiện nay. Từ chỗ trong sáng các đồng chí đã trở nên không ai nhìn thấy gì. Từ chỗ đứng về phía những kẻ nghèo khổ bị áp bức, các đồng chí đã vươn lên trở thành những người trưởng thành về nhận thức chính trị, để đứng trong hàng ngũ những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, có rất nhiều vàng, rất nhiều bất động sản và rất nhiều hữu động sản như cổ phiếu, trái phiếu”…
Để đáp lại những quan điểm lệc lạc như trên tôi xin có bài phát biểu dưới đây để góp phần thiết thực chào mừng lễ kỷ niệm ngày Nhà báo Việt Nam.
Thưa các đồng chí. Thưa các bạn.
Trong không khí tưng bừng cả nước đã và đang tổ chức nhiều hoạt động thi đua chào mừng hướng đến kỷ niệm 87 năm ngày báo chí cách mạng Việt Nam 21-6-1925; 21-6-2012 tôi xin nhiệt liệt chào mừng và gửi tới các đồng chí nhà báo, các cộng tác viên, các nhà quản lý và Ban tuyên giáo lời chúc mừng nồng nhiệt nhất nhân dịp lễ sinh nhật vẻ vang này.
Nhìn lại chặng đường 86 năm qua, báo chí cách mạng Việt Nam nói chung và cơ quan báo Nhân dân, TTXVN, VTV, HTV, Petro Time, CCB…nói riêng đã đạt được nhiều bước tiến tích cực, hoàn thành nhiệm vụ đảng và nhà nước giao phó, xứng đáng với lòng tin yêu của đảng và sự hoài nghi ngày càng tăng của Nhân dân
Là một trong những mũi nhọn trong rất nhiều mũi nhọn như “quả mít” báo chí đã phát triển đầy đủ các loại hình: báo in, báo hình, báo nói, báo điện tử. Phát huy truyền thống của báo chí cách mạng Việt Nam, những năm qua, báo chí đã làm tròn sứ mệnh cao cả của “Người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể”, đưa các chủ trương, đường lối, nghị quyết của đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, thực sự là tiếng nói của đảng bộ, chính quyền, là diễn đàn tin cậy của đảng, nhất định không để các tầng lớp nhân dân, cá nhân nắm diễn đàn nên đã đóng góp to lớn vào sự nghiệp phát triển KT-XH trong những năm qua, phục vụ tốt sự nghiệp công nghiệp hoá các doanh nghiệp Vina như Vinashin, Vinaline… hiện đại hoá quê hương đất nước, hội nhập Quốc tế trên diện rộng và đi vào chiều sâu với các nước bạn như Trung quốc, Cuba, Cộng hòa dân chủ nhân dân triều tiên.
Trong suốt chặng đường phát triển, báo chí ta đã thực sự là cầu nối giữa đảng, nhà nước với chính quyền địa phương các cấp, góp phần quan trọng tăng cường sức mạnh của hệ thống chính trị, giữ vững vai trò là lực lượng xung kích trên mặt trận chính trị tư tưởng, đảm bảo Quốc phòng – An ninh và an sinh xã hội, đưa đất nước ta tiến nhanh, tiến vững mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội để minh chứng cho chân lý lớn của thời đại là chủ nghĩa Mác-lê mãi mãi vô địch, bất chấp Liên xô trước đây và hệ thống XHCN có bị sụp đổ ra sao.
Nhân kỷ niệm 86 năm ngày báo chí cách mạng Việt Nam, một lần nữa chúng tôi nhiệt liệt chúc mừng các nhà báo, cán bộ, nhân viên các cơ quan báo chí nước ta; ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp tích cực của các cá nhân như các đồng chí Hán Phi Long, Nguyễn Ngọc Năm trong dịp phục vụ công tác cưỡng chế đất đai ở Văn giang vừa qua, góp phần tích cực vào thành công chung của báo chí cách mạng và tiếp tục nỗ lực phấn đấu xây dựng báo chí của đảng ngày càng phát triển, đáp ứng với yêu cầu đổi mới báo chí vì sự nghiệp xây dựng CNXH và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ ngăn chặn các tầng lớp nhân dân tiếc xúc với các trang mạng điện tử như Gúc gồ. Tiên lãng, Phây xờ búc vân vân…
Xin chúc các đồng chí sức khỏe và hạnh phúc
Chào thân ái và Quyết thắng.
Lê Văn Củ

Aung San Suu Kyi, Diễn từ Nobel

Bài phát biểu của bà Aung San Suu Kyi ở buổi nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình tại Oslo- Na Uy ngày 16 tháng 6 năm 2012 (tức 21 năm sau ngày giải thưởng được công bố)
Kính thưa Đức Vua và Hoàng hậu, Quý Ngài, Quý vị thành viên Ủy Ban Nobel Na Uy, các bạn thân mến, 

Cách đây đã rất lâu, có khi tưởng như trong nhiều kiếp trước, tôi ở Oxford ngồi nghe chương trình Desert Island Discs trên đài phát thanh với con trai tôi, cậu bé Alexander. Đây là một chương trình rất phổ biến (và hình như vẫn còn tiếp tục ) phỏng vấn những nhân vật nổi tiếng đủ mọi thành phần về những gì họ sẽ chọn nếu được mang theo đến một hoang đảo 8 đĩa hát, một quyển sách ngoài Thánh kinh và toàn bộ tác phẩm của Shakespeare, và một vật xa xỉ. Hai mẹ con thích thú nghe và khi chương trình chấm dứt, Alexander hỏi tôi có nghĩ là ngày nào đó sẽ được mời lên nói ở Desert Island Discs không. “Tại sao không?”, tôi trả lời vui. Alexander , vì biết là chỉ có những người nổi tiếng mới được mời lên tham dự, nên thật tình hỏi tôi nghĩ là được mời với lý do gì. Ngẫm nghĩ một lúc, tôi trả lời : ”Có thể vì mẹ được giải Nobel văn chương” và hai mẹ con cùng bật cười. Viễn tượng ấy đẹp thật đấy nhưng cũng rất xa vời. 

(Tôi không nhớ tại sao đã trả lời như thế, có lẽ vì lúc ấy vừa đọc một quyển sách của một tác giả đoạt giải Nobel, hay vì nhân vật phát biểu trên chương trình Desert Island hôm ấy là một nhà văn nổi tiếng.) 

Năm 1989, khi người chồng đã quá cố của tôi, Michael Aris, đến thăm lúc tôi bị quản thúc lần đầu, anh bảo tôi là John Finnis, một người bạn, đã đề cử tôi cho giải Nobel hoà bình. Tôi cũng bật cười. Thoạt tiên Michael có vẻ ngạc nhiên và anh hiểu ra ngay tại sao tôi cười. Giải Nobel hoà bình ư ? Viễn tượng đẹp thật đấy nhưng hầu như bất khả ! Thế thì tôi đã cảm thấy gì khi thật sự được trao giải Nobel hoà bình ? Câu hỏi ấy tôi đã được nghe nhiều lần và đây quả là dịp hay nhất để suy nghĩ về ý nghĩa của giải Nobel hoà bình đối với tôi và ý nghĩa của hoà bình đối với tôi. 

Như tôi đã nhiều lần trả lời phỏng vấn, tin được giải Nobel hoà bình đến với tôi qua đài phát thanh một buổi tối. Không hẳn là bất ngờ vì tôi đã được nhắc nhở đến như một trong những người có nhiều khả năng được giải trong nhiều buổi phát thanh từ tuần trước. Khi viết bài diễn từ này, tôi đã rất cố gắng nhớ lại phản ứng đầu tiên của mình khi nghe tin. Hình như là, tôi không chắc lắm : “Ơ, hoá ra là họ chọn mình thật.” Không biết là thực hay là mơ vì lúc ấy tôi cũng mơ hồ về hiện thực của chính bản thân. 

Trong những tháng ngày bị quản thúc, tôi nhiều khi cảm thấy mình không còn thuộc về thế giới thực. Đây căn nhà, thế giới của tôi, và đây thế giới của những người khác cũng không có tự do nhưng sống chung trong nhà tù như một cộng đồng. Và kia là thế giới của những người tự do, mỗi thế giới là một hành tinh theo đuổi quỹ đạo riêng của mình trong một vũ trụ dửng dưng. Giải Nobel hoà bình đã đưa tôi trở lại thế giới của những con người khác, ngoài khu vực cách biệt tôi sống, đã cho tôi có lại nhận thức của hiện thực. Tất nhiên điều này không xảy ra ngay lúc ấy nhưng với thời gian và các phản ứng về quyết định trao giải đến qua các kênh truyền thông, tôi dần dần hiểu ý nghĩa của giải Nobel. Nó đã cho tôi đã trở lại thành con người thực, đã đưa tôi vào trở lại cộng đồng lớn của nhân loại. Và quan trọng hơn nữa, giải Nobel đã làm thế giới chú ý đến cuộc tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền ở Miến Điện. Chúng tôi sẽ không bị bỏ quên. 

Bị bỏ quên. Người Pháp nói ra đi là chết một phần. Bị bỏ quên cũng là chết một phần. Là mất đi một phần những gì gắn chặt chúng ta với đồng loại. Khi tôi gặp những người Miến tị nạn và lao động di trú trong chuyến đi thăm Thái Lan gần đây, nhiều người kêu to :”Xin đừng quên chúng tôi !”. Họ muốn nói : “Đừng quên nỗi cơ cực của chúng tôi, đừng quên làm những gì có thể làm được để giúp chúng tôi, đừng quên là chúng tôi cũng thuộc về thế giới của mọi người.” Khi Uỷ ban giải Nobel trao giải hoà bình cho tôi, họ đã xác nhận những người bị kềm kẹp và phong toả ở Miến Điện cũng là một phần của thế giới, họ đã xác nhận nhân loại là một. Cho nên, đối với tôi, nhận giải Nobel hoà bình là tự mình nới rộng những khát vọng dân chủ và nhân quyền của mình ra ngoài biên giới lãnh thổ. Giải Nobel hoà bình đã mở rộng một cánh cửa trong trái tim tôi. 

Có thể giải thích hoà bình trong quan niệm người Miến là hạnh phúc đạt được khi không còn những nhân tố chống đối sự hài hoà và trong lành. Từ ngữ “nyein-chan” có nghĩa nôm na là cơn mát dịu an lành sau khi lửa tắt. Lửa của khổ đau và xung đột đang hoành hành trên thế giới. Trong nước tôi, sự thù địch vẫn tiếp diễn ở vùng Bắc, bạo loạn cộng đồng ở vùng Tây dẫn đến đốt nhà, chém giết chỉ vài hôm trước khi tôi lên đường đến đây. Tin tức về những sự kiện tàn ác nhan nhản từ những nơi khác trên trái đất. Những bản tin về đói kém, bệnh tật, di tản, thất nghiệp, nghèo túng, bất công, kỳ thị, định kiến, cuồng tín đến với chúng ta như cơm bữa. Đầy rẫy khắp nơi là những thế lực tiêu cực gặm nhấm nền tảng của hoà bình. Hiển nhiên khắp nơi là sự lãng phí vô ý thức những tài nguyên vật chất và nhân lực cần thiết để giữ gìn sự hài hoà và hạnh phúc trong thế giới của chúng ta. 

Đệ nhất thế chiến là một sự phí phạm kinh hoàng tuổi trẻ và tiềm lực, một sự phung phí cay nghiệt những thế lực tích cực của trái đất chúng ta. Thơ ca của thời kỳ ấy có ý nghĩa sâu sắc đối với tôi vì tôi đọc chúng lần đầu ở tuổi của những người thanh niên phải đối mặt với viễn tượng vừa chớm nở thì đã héo tàn. Một người lính Mỹ trẻ trong quân đội Lê dương Pháp viết trước khi chết trận năm 1916 là anh ta sẽ gặp tử thần “ở một chiến tuyến gay go nào đó”, “trên con dốc loang lổ của một ngọn đồi bị bằm dập”, “vào nửa đêm trong một thành phố rực lửa”. Tuổi trẻ, tình yêu và cuộc sống vĩnh viễn tiêu tán trong những nỗ lực phi lý để giành chiếm những nơi chốn không tên và không đi vào ký ức. Và để làm gì ? Gần một thế kỷ sau, chúng ta vẫn chưa tìm được câu trả lời thoả đáng. 

Tuy một cách ít hung bạo hơn, chúng ta phải chăng vẫn mang tội coi thường và khinh suất tương lai chúng ta và nhân loại ? Chiến tranh không phải là lĩnh vực duy nhất hoà bình bị bóp chết. Ở nơi nào sự khổ đau không được ghi nhận, ở nơi đó có mầm mống của xung đột vì sự khổ đau gây ô nhục, gieo rắc cay đắng và nung nấu lửa giận. 

Sống trong cách ly cũng có mặt tích cực là tôi có dư thì giờ để suy ngẫm về ý nghĩa của câu chữ và những châm ngôn tôi đã được học và chấp nhận trong cả cuộc đời. Là Phật tử, từ khi còn bé tôi đã được nghe nói đến “duhkha”, thường được dịch là khổ não. Gần như mỗi ngày, tôi nghe quanh tôi những người lớn tuổi, và có khi cả những người chưa gọi là già, lẩm bẩm “dukha, dukha” khi họ đau nhức hay bực mình vì một chuyện vớ vẩn nào đó. Song chỉ trong những năm tháng bị quản thúc tôi mới thật sự nghiên cứu bản chất của sáu nỗi khổ chính: sinh, lão, bệnh, tử, phải sống xa người thân yêu, buộc phải sống chung đụng với người mình không ưa thích. Tôi suy nghĩ về từng nỗi khổ, không trong bối cảnh tôn giáo mà trong cuộc sống thường, hàng ngày. Nếu khổ đau là một phần không thể tránh của cuộc đời, chúng ta phải cố giảm nhẹ càng nhiều càng tốt bằng những cách thực tiễn và trần tục. Tôi ngẫm nghĩ về hiệu quả của những chương trình bảo vệ bà mẹ và trẻ em, trước và sau khi sinh; về những cơ cấu thích đáng cho người già; về các dịch vụ y tế toàn vẹn; về sự chăm lo tận tuỵ cho những người bệnh tật, già yếu. Tôi đặc biệt thắc mắc về hai nỗi khổ cuối: phải sống xa người thân và sống gần người dưng. Đức Phật đã phải trải nghiệm những gì trong chính cuộc đời của ngài để đưa hai trạng thái này vào danh sách những nỗi khổ lớn ? Tôi nghĩ đến những kẻ bị tù đày và những người tị nạn, những người lao động xa xứ và những nạn nhân của nạn buôn người, đến hằng hà vô số những người lưu lạc trên trái đất, bị bứng ra khỏi quê hương làng mạc, biệt ly gia đình bạn bè, bắt buộc phải sống cả cuộc đời giữa những người xa lạ không phải ai cũng chào đón họ. 

Chúng ta may mắn sống trong một thời kỳ mà phúc lợi xã hội và giúp đỡ nhân đạo được công nhận như một việc không chỉ nên làm mà còn phải làm. Tôi may mắn sống trong một thời kỳ mà số phận của những tù nhân lương tâm ở bất cứ đâu đã trở thành mối quan tâm của mọi người ở khắp nơi, dân chủ và nhân quyền được chấp nhận rộng rãi, dù không phải trong mọi nước, như quyền mỗi người đều có từ khi sinh ra. Biết bao lần trong những năm tháng bị quản thúc tôi đã tự động viên qua những đoạn tâm đắc nhất của lời nói đầu Bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền: 

…. Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn sợ hãi và nghèo khó, được tuyên xưng là ước vọng cao nhất của con người. 

…. Nhân quyền nhất thiết phải được bảo vệ bằng luật pháp, để con người không bị bắt buộc phải dùng đến biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức … 

Nếu ai hỏi tôi tại sao tôi đấu tranh cho nhân quyền ở Miến Điện, những đoạn trên là câu trả lời. Nếu ai hỏi tôi tại sao tôi đấu tranh cho dân chủ ở Miến Điện, lý do là vì tôi tin rằng những thể chế và thực tiễn dân chủ cần thiết để đảm bảo nhân quyền.



Trong năm qua, có những dấu hiệu cho thấy các cố gắng của những người tin vào dân chủ và nhân quyền đã bắt đầu có kết quả. Đã có những thay đổi trong chiều hướng tích cực; đã có những bước tiến tới dân chủ hoá. Nếu tôi chủ trương lạc quan một cách thận trọng, không phải là vì tôi không tin ở tương lai mà là vì tôi không muốn khuyến khích một sự tin tưởng mù quáng. Nếu không tin ở tương lai, không tin chắc rằng những giá trị dân chủ và quyền cơ bản của con người không những cần thiết mà còn khả thi cho xã hội chúng tôi, phong trào của chúng tôi đã không thể tồn tại trong suốt những năm tháng bị truy diệt ấy. Có người đã ngã xuống ở vị trí tranh đấu, có người đã bỏ hàng ngũ, nhưng một thành phần nòng cốt vẫn vững vàng kiên quyết . Khi hồi tưởng về những năm đã qua, tôi sửng sốt trước số đông đảo những người vẫn kiên trì trong những lúc gian khổ nhất. Họ tin tưởng vào chính nghĩa với một niềm tin không mù quáng mà dựa vào một đánh giá sáng suốt : họ biết sức chịu đựng của chính mình, họ hết sức kính phục những khát vọng của nhân dân đồng bào. 

Tôi có mặt với quí vị ngày hôm nay là nhờ những thay đổi gần đây trong nước tôi, và những thay đổi ấy đã có thể xảy ra là nhờ quí vị và những người yêu hoà bình và công lý khác đã góp phần làm thế giới nhận thức tình hình của chúng tôi. Trước khi nói tiếp về Miến Điện, tôi xin phép được nói cho những tù nhân lương tâm của chúng tôi. Vẫn còn có những tù nhân ấy ở Miến Điện. Điều đáng lo là sau khi những tù nhân nổi tiếng nhất được trả tự do, những người khác, không ai biết tên tuổi, sẽ bị bỏ quên. Tôi đứng đây vì tôi đã từng là một tù nhân lương tâm. Khi quí vị nhìn và nghe tôi đây, tôi xin quí vị nhớ đến câu nói rất đúng và vẫn thường nghe này: chỉ một tù nhân lương tâm thôi cũng đã là quá nhiều. Những người chưa được trả tự do, chưa được hưởng công lý ở nước tôi đông hơn con số một nhiều lắm. Tôi mong quí vị nhớ đến họ và làm tất cả những gì có thể làm để họ được thả trong thời hạn nhanh nhất và vô điều kiện. 

Miến Điện là nước tập hợp nhiều sắc tộc và niềm tin vào tương lai chỉ có thể dựa vào một tinh thần đoàn kết thật sự. Từ khi chúng tôi giành được độc lập năm 1948, chưa có lúc nào chúng tôi có thể nói cả nước được hoà bình. Chúng tôi đã không xây dựng được sự tin cậy và cảm thông cần thiết để xoá bỏ các nguyên nhân xung đột. Những thoả thuận ngừng bắn áp dụng từ đầu thập niên 1990 cho đến 2010 đã đem lại hi vọng nhưng sụp đổ chỉ trong vài tháng. Chỉ một hành động thiếu suy nghĩ là đủ để chấm dứt một thời gian dài ngừng bắn. Trong những tháng qua, thương thuyết giữa chính quyền và các lực lượng sắc tộc đã có tiến bộ. Chúng tôi hi vọng các thoả thuận ngừng bắn sẽ dẫn đến giải pháp chính trị dựa trên ước vọng của dân chúng và tinh thần đoàn kết. 

Đảng Liên minh quốc gia cho dân chủ của chúng tôi và bản thân tôi sẵn sàng đóng mọi vai trò trong công cuộc hoà giải dân tộc. Những biện pháp cải cách được nội các của Tổng thống U Thein Sein đưa vào áp dụng chỉ có thể giữ vững được với sự hợp tác thông minh của tất cả mọi thế lực trong nước: quân đội, các sắc tộc, các đảng phái, các phương tiện truyền thông, các đoàn thể của xã hội dân sự, giới kinh doanh và nhất là công chúng. Có thể nói cải cách chỉ có hiệu quả khi đời sống người dân được nâng cao và ở đây cộng đồng quốc tế đóng vai trò then chốt. Các viện trợ phát triển và giúp đỡ nhân đạo, các hiệp ước song phương và luồng đầu tư cần phải được phối hợp và điều chỉnh để đảm bảo một sự phát triển xã hội, chính trị và kinh tế cân bằng và bền vững. Tiềm năng của đất nước chúng tôi rất to lớn. Nó phải được nuôi dưỡng và phát huy để tạo một xã hội không những phồn thịnh hơn mà còn hài hoà và dân chủ hơn trong đó nhân dân chúng tôi có thể sống hoà bình, an toàn và tự do. 

Hoà bình trong thế giới chúng ta là một tổng thể không thể chia cắt. Ngày nào các thế lực tiêu cực còn thắng thế các thế lực tích cực ở bất cứ đâu, tất cả chúng ta đều bị đe doạ. Có thể e rằng chả bao giờ có thể trừ diệt tất cả mọi thế lực tiêu cực. Câu trả lời đơn giản là : “Không!”. Bản chất của con người là có cả tiêu cực lẫn tích cực. Song con người cũng có khả năng củng cố tích cực và giảm thiểu hoặc vô hiệu hoá tiêu cực. Hoà bình tuyệt đối trong thế giới chúng ta là mục tiêu không thể đạt được. Nhưng đấy là một mục tiêu chúng ta phải tiếp tục đeo đuổi, không lúc nào rời mắt như người đi trong sa mạc dõi theo ngôi sao dẫn dắt mình đến nơi an toàn. Dù chúng ta không thực hiện được hoà bình vẹn toàn trên trái đất này, những nỗ lực chung để tiến đến hoà bình sẽ gắn bó các cá nhân và quốc gia trong tinh thần tin cậy và hữu nghị, giúp cộng đồng nhân loại của chúng ta trở thành một nơi an toàn và nhân ái hơn. 

Tôi dùng chữ “nhân ái” sau khi đã cân nhắc kỹ, có thể nói sau nhiều năm cân nhắc kỹ. Trong những cái may của cơn hoạn nạn, và xin nói ngay chúng không nhiều đâu, cái may nhất, quí giá nhất đối với tôi là bài học rút ra về giá trị của sự nhân ái. Mọi nghĩa cử nhân ái tôi nhận được, lớn hay nhỏ, đã thuyết phục tôi là sự nhân ái dù nhiều bao nhiêu cũng vẫn không đủ trong thế giới của chúng ta. Nhân ái là đáp lại với nhạy cảm và tình người những khát vọng và nhu cầu của người khác. Một thoáng nhân ái thôi cũng làm nhẹ bớt một tâm hồn u uất. Nhân ái có thể làm đổi đời. Na Uy đã là tấm gương sáng của sự nhân ái, cho người lưu vong có lại mái nhà, cho người bị tước quyền sống yên ổn và tự do tại quê hương họ có nơi ẩn náu. 

Người tị nạn có mặt khắp mơi trên thế giới. Khi tôi đến trại tị nạn Maela ở Thái Lan vừa qua, tôi gặp những người tận tuỵ hàng ngày tìm cách giúp cuộc sống người trong trại bớt khó khăn vất vả. Họ lo lắng về hiện tượng “mạnh thường quân nản lòng”, cũng có thể gọi là hiện tượng “nản lòng trắc ẩn”. “Mạnh thường quân nản lòng” thể hiện cụ thể qua sự giảm sút các luồng tài trợ. “Nản lòng trắc ẩn”, khó thấy hơn, làm giảm sút sự quan tâm. Cái này là hậu quả của cái kia. Chúng ta có thể nào tự cho phép nản lòng trắc ẩn? Đáp ứng nhu cầu của những người tị nạn có tốn kém hơn cái giá sẽ phải trả nếu thờ ơ, thậm chí ngoảnh mặt làm ngơ trước khổ đau của họ ? Tôi kêu gọi các mạnh thường quân mọi nước hãy đáp ứng nhu cầu của những người đi tìm, có khi vô vọng, một chốn nương thân. 

Tại Maela, tôi đã có những trao đổi rất bổ ích với những viên chức Thái trách nhiệm quản lý tỉnh Tak nơi có trại này và nhiều trại khác. Họ cho tôi biết một số vấn đề lớn nhất của các trại tị nạn: vi phạm luật bảo vệ rừng, sử dụng ma tuý trái phép, nấu rượu lậu, những khó khăn trong việc bài trừ các bệnh sốt rét, lao, sốt xuất huyết và thổ tả. Những quan ngại của cơ quan quản lý cũng chính đáng như những quan ngại của người tị nạn. Những nước đón nhận người tị nạn cũng phải được coi trọng và giúp đỡ cụ thể để khắc phục những khó khăn gắn liền với trách nhiệm của họ. 

Nói cho cùng, mục đích của chúng ta là tạo ra một thế giới không còn người lưu vong, vô gia cư và vô vọng, một thế giới trong đó mỗi mảnh đất thật sự là nơi ẩn náu cho phép tất cả sống trong tự do và hoà bình. Mọi ý nghĩ, mọi câu nói, mọi hành động làm tăng lên sự tích cực và trong lành đều đóng góp cho hoà bình. Mỗi người trong chúng ta đều có thể có những đóng góp ấy. Chúng ta hãy nối tay nhau chung sức tạo một thế giới hoà bình trong đó chúng ta có thể an nhiên đi vào giấc ngủ và thức dậy trong hạnh phúc. 

Uỷ ban Nobel đã kết luận bản thông cáo ngày 14.10.1991 bằng câu : “ Trao giải Nobel hoà bình… cho Aung San Suu Kyi, Uỷ ban Nobel Na uy có dụng ý vinh danh những nỗ lực bền bỉ của người phụ nữ này và bày tỏ sự ủng hộ đối với những dân tộc đang đấu tranh trong nhiều nơi trên thế giới cho dân chủ, nhân quyền và hoà giải dân tộc bằng những phương tiện hoà bình.” Khi tôi gia nhập phong trào dân chủ ở Miến Điện, tôi không hề nghĩ ngày nào đó sẽ được trao giải thưởng hay vinh dự gì. Giải thưởng chúng tôi mong có được là một xã hội tự do, yên ổn và công bằng trong đó đồng bào chúng tôi có thể phát huy tất cả mọi tiềm năng. Sự vinh dự nằm trong nỗ lực ấy. Lịch sử đã cho chúng tôi cơ hội cống hiến mọi sức lực cho chính nghĩa mà chúng tôi tin tưởng. Khi Uỷ ban Nobel chọn vinh danh tôi, tôi đã bớt cô đơn đi tiếp trên con đường mình đã tự nguyện chọn. Vì thế tôi tạ ơn Uỷ ban, nhân dân Na uy và nhân dân mọi nước, sự hỗ trợ ấy đã củng cố niềm tin của tôi vào sự phấn đấu chung cho hoà bình. Xin được cảm tạ. 
Bà Aung San Suu Kyi (trái) đến dự lễ trao giải Nobel tại tòa thị chính Oslo, sau 21 năm bà được giải - Ảnh: Reuters


Bản tiếng Việt : Đỗ Tuyết Khanh
Nguồn: Diễn đàn

Thứ Tư, ngày 20 tháng 6 năm 2012

Vì sao Bộ trưởng # xứng đáng được “nâng bi”


Cho dù được coi là “thánh bão”, là Bộ trưởng nổ nhất trong lịch sử hành chính nước Việt từ cổ chí kim, là có một vẻ đẹp “không một nếp nhăn” như kiều nữ Ngọc Trinh, Bộ trưởng # cũng rất xứng đáng được “nâng bi”.
Đơn giản, bởi câu chuyện không hề tiếu lâm là giờ đây ông chính là “hotboy nước Việt”, khi mà ông xuất hiện ở đâu là báo chí đổ xô đến đó, khi cứ ở đâu cái tên có 4 dấu gạch của ông xuất hiện, bà con đổ xô vào…ném đá . Nhưng quan trọng hơn cả là những gì ông làm đang cho thấy ông không phải là một chính khách “cả nhiệm kỳ không kỷ luật một ai” (vì sợ “không có người làm việc” chẳng hạn).
Báo chí đã tiếc hùi hụi khi kỳ họp Quốc hội lần này, Bộ trưởng # đã không “đi thi”, trong khi hot girl Ngọc Trinh hai tuần nay đột nhiên… cấm khẩu. Tiếc cho dân chúng không được nghe những lời lẽ cách mạng về sự cần thiết phải đột phá bằng việc “đánh phí” thật cao. Hay đơn giản hơn, nghe ông lý luận về cái mặt cầu Thăng Long. Hoặc giả đó là việc ông cứu vớt Vinalines bằng việc đưa “cái tổ mất đoàn kết” lên Cục Hàng hải. Khi mà Bộ trưởng # không đi thi, còn Ngọc Trinh thôi khoe về “vẻ đẹp mịn màng không một nếp nhăn tri thức” thì quả là tai họa cho báo chí.
Cũng may, Bộ trưởng là “con người hành động”. Ông lại vừa làm nóng dư luận khi đòi đuổi cổ những nhà thầu kém. Báo VietNamNet dẫn lời Bộ trưởng gọi những chủ đầu tư là “ông”: “Nếu nhà thầu không làm được thì đuổi thẳng chứ các ông đừng có phần trăm, phần nghìn các ông nhận rồi các ông không nói được… Còn nếu nhà thầu kém, tư vấn kém các ông không đuổi được thì chứng tỏ các ông có vấn đề với nhà thầu”.
Phát ngôn của Bộ trưởng đúng về logic nhưng sai trong việc sử dụng chi tiết. Nếu chỉ là “phần nghìn” thì DN các loại đã không chất đống hàng loạt đến thế. Câu trả lời đúng” phải là “phần trăm phần chục”.
Dù sai cơ bản khi định lượng phần trăm, dù từ ngữ có vẻ “du côn vùng không phải nông thôn”, nhưng rõ ràng, đây là một phát ngôn được lòng dân. Từ Bắc vô Nam rồi lại ngược Trung, từ nhà quê ra thành phố, bà con đã chịu khổ quá nhiều vì chuyện những công trình chậm tiến độ rồi.
Nhớ hồi “thị sát” đường vành đai 3, Bộ trưởng đã “cầm cái” cho một cuộc độ hy hữu với con bạc là hai vị Tổng giám đốc: Nếu không thông xe đúng tiến độ đường vành đai 3 (bắc Linh Đàm- Thanh Xuân), họ sẽ tự mình… đá ghế.
Vụ độ này đang mang tới một kết quả rất khả quan. Trao đổi với VnExpress.net, Tổng “cược ghế” Vũ Xuân Hòa cho biết đường sẽ thông xe vào 30-6, vượt tiến độ 5 tháng. Thậm chí, đoạn nút giao Thanh Xuân đến nút Trần Duy Hưng có thể vượt tiến độ 14 tháng. Đoạn đến cầu Mai Dịch vượt tiến độ 5 tháng. Đấy, cả chục lý do, cả trăm cái khó xưa nay vẫn được đưa ra để lý giải cho việc chậm tiến độ, không có cái nào khó hơn việc rời cái ghế.
Hoan hô Bộ trưởng #. Hoan hô ông thần “đổ bác”. Giá như ông tổng nào cũng “độ cái ghế”. Giá như đoạn đường nào cũng được Bộ trưởng “cầm cái”. Và giờ ngẫm ra lời ca sĩ Bảo Thái hay Thái Bảo gì đó nói không sai: “Bộ trưởng # đến đâu văn nghệ tới đó”.
Nhưng nói đi cũng phải nói lại, vụ “độ ghế” này Bộ trưởng đã “ra đề” trước là vượt tiến độ nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng công trình. Cứ phải nhắc lại ở đây làm bằng chứng để khỏi, nói dại miệng, mấy hôm nữa cái mặt đường nó nham nhở như mặt cầu Thăng Long, các vị Tổng lại đổ tại chuyện “vượt tiến độ”.
Cũng chỉ trong cuộc thị sát ngắn ngủi này, Bộ trưởng yêu cầu “phải dẹp trạm thu phí Tào Xuyên ngay”, bởi: “Trạm thu phí còn thu thì các ông còn chần chừ trong khi người dân rất bức xúc, họ không đi đường của các ông sao các ông vẫn thu phí của dân”.
Hai chữ “dân” được nói ra trong chỉ riêng cái câu này, với lợi ích và sự bức xúc của “người dân” được đặt cao hơn lợi ích nhà thầu.
Với tư cách là một “nhân dân”, xin cảm ơn Bộ trưởng.
Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, “lời nói vì dân” phải bắt đầu từ “cái tâm vì dân”. Bởi cái khổ “lầm than” (vì bụi, vì khói xe lúc tắc đường) của người dân thật chẳng thấm tháp gì so với nỗi uất ức trong lòng trước những chính sách “thọc tay vào túi người dân”.
Đào Tuấn