Thứ Bảy, ngày 30 tháng 6 năm 2012

Đảng, nhà nước có chịu nắm tay nhân dân?


Biển Đông và đường Lưỡi bò luôn là chủ đề nóng lâu nay. Vấn đề Quốc gia đại sự rất cần bàn thảo công khai như một hội nghị Diên hồng nhưng đã bị đảng, nhà nước cố tình giấu giếm. Thêm vào đó, việc chính quyền đàn áp người biểu tình tuần hành chống Trung quốc một cách hèn hạ đã gây ra mâu thuẫn sâu sắc giữa đảng, nhà nước và nhân dân kể từ tháng 6 năm 2011.

Cần nói rõ, đảng, nhà nước Việt nam có đủ thông tin về cuộc chiến pháp lý xoay quanh chủ quyền trên biển Đông.Trung Quốc đã chuẩn bị dư luận trong nước từ năm 1950 về đường lưỡi bò“ và thực tế, đã lấn dần từng bước, đặt trước việc đã rồi chờ thời cơ thích hợp đưa “đường lưỡi bò” thành vấn đề tranh chấp có lợi cho Trung quốc. Trung Quốc đã thúc dục, gây sức ép với Việt Nam đồng thuận theo cách “gác bỏ tranh chấp, cùng nhau khai thác, lấy tiền đổi đất, đất đổi hòa bình”. Việc không nên làm là đảng, nhà nước đã không muốn chia sẻ thông tin và bàn thảo với nhân dân. Và, vì những lý do gì, tuy không nói ra nhưng ai cũng hiểu.

Nhưng thái độ trịch thượng của Trung quốc và sự nhẫn nhục của nhà cầm quyền cộng sản đã làm dấy lên một không khí bất bình sâu sắc trong nhân dân nhất là giới trí thức yêu nước. Đánh dấu việc này là sự ra đời của Bản tuyên cáo đặc biệt do một số nhân sỹ khởi xướng.

Phía đảng, nhà nướcViệt Nam tuy lo lắng trước mưu đồ của Trung quốc nhưng lại rất e ngại làn sóng chống đối của nhân dân mà họ gán cho là “lực lượng thù địch”. Sự suy thoái đạo đức, lối sống trong nhiều cán bộ đảng viên cao cấp của đảng đã làm mất hết niềm tin trong nhân dân. Đó là một nguy cơ đe dọa sự lãnh đạo độc tôn của đảng. Điều đó đã buộc họ phải tìm một giải pháp hòa hoãn, ve vãn Trung quốc, đổi lại được Trung quốc bảo vệ, đồng tình ủng hộ nhằm níu giữ quyền lãnh đạo đất nước. Chính vì vậy, Đảng chủ trương hướng dư luận vào sự ứng xử “phù hợp, kiềm chế, không có những hành động tự phát”, không để nhân dân tự do tham gia vào những hoạt động không chính thống, đảm bảo nguyên tắc không làm phức tạp thêm tình hình giải quyết tranh chấp giữa hai đảng Việt nam, Trung quốc.

Quan điểm của nhân dân và giới trí thức yêu nước coi việc giải quyết vấn đề biển Đông trong hòa bình thuộc trách nhiệm của Chính phủ nhưng điều đó không có nghĩa người dân không được lên tiếng khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa vì đó là sự thật lịch sử hiển nhiên và hoàn toàn có đủ căn cứ pháp lý.

Có thể nói đảng, chính phủ đã quá yếu đuối nhu nhược trước Trung quốc. Nhưng sai lầm lớn nhất của đảng là dùng sức mạnh để đè bẹp lòng yêu nước của nhân dân. Điều đó trên thực tế đã không làm được mà còn đẩy nhân dân vào thế đối đầu với đảng, chính phủ. Có người cho rằng, hạ mình trước Trung quốc và đàn áp biểu tình yêu nước là hành động còn tệ hơn cả Lê Chiêu Thống trước đây trong lịch sử vì bè lũ Lê Chiêu thống chỉ mới bán rẻ Tổ quốc chứ chưa từng dám ra tay đàn áp đồng bào mình.

Kinh nghiệm cho thấy khi phát sinh mâu thuẫn giữa kẻ thống trị và kẻ bị trị thì chưa bao giờ sức mạnh bạo lực đem lại một kết quả tốt cho cả hai bên mà chỉ đẩy nhanh quá trình sụp đổ của một thể chế đi ngược lòng dân.

Có thể một vài nhà lãnh đạo đã tự an ủi về sự kiện Thiên An Môn 1989 và hy vọng dùng kinh nghiệm của đảng cộng sản Trung quốc dùng sức mạnh có thể đè bẹp được phong trào chống đối của nhân dân. Những gì diễn ra tại Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh cho thấy vẻ bề ngoài, chủ trương này đã chấm dứt được các cuộc biểu tình tuần hành tại hai thành phố. Nhưng nếu theo dõi các diễn biến xã hội một cách sâu sắc, người quan sát am tường chắc chắn sẽ có những cảm nhận về những con sóng ngầm sôi sục, tiềm ẩn sức mạnh ghê gớm đang lan tỏa rộng lớn hơn bao giờ hết trong tất cả các tầng lớp nhân dân. Nguy cơ đó là có thật và từng được nhiều trang mạng, nhiều báo chí quốc tế đăng tải.

Có thể đứng trước sự thật đó, đảng, nhà nước phải tính đến những điều chỉnh phù hợp. Ngày 21/6/2012 Quốc hội đã thống nhất cao khi thông qua Luật biển và hải đảo, khẳng định hai quần đảo Hoàng sa, Trường sa là thuộc chủ quyền Việt nam, điều mà mới năm ngoái, đảng, chính phủ ngăn chặn không cho những người biểu tình thể hiện vì lo sợ mất lòng Trung quốc.

Điều đó đem lại luồng gió mới tươi mát, làm dịu không khí oi nồng những ngày hè tháng 6 và làm dịu mắt những ánh nhìn của dân với đảng.

Nhưng sự cứng cỏi của Việt nam khiến Trung quốc cho rằng lâu nay, nhân dân Việt nam đã quá chán ghét nhà cầm quyền Hà nội và đây là lúc thuận lợi để kiếm cớ thực hiện ngay các hành động leo thang xâm lược nước ta.

Những ngày qua, Trung Quốc có một loạt hành động ngang ngược, tráo trở xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam xé bỏ Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 trong vấn đề biển Đông.

Những bước đi đầy toan tính: thành lập “thành phố Tam Sa”, ồ ạt điều động lực lượng bán quân sự xuống biển Đông. Đồng thời hỗn láo nhất là việc nhà cầm quyền cộng sản Trung quốc cho phép mời thầu quốc tế tại chín lô dầu khí nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN. Việc đó không khác gì đem nhà của chúng ta ra rao bán quốc tế.

Cách đây chưa lâu các nhà lãnh đạo Việt nam còn nói dối về một “Biển Đông không có gì mới” và tiếp tục ca ngợi Trung quốc trên đất Cuba, trên truyền thông chính thống thì nay, hành động ăn cướp trơ tráo của Trung quốc là cách thức rất có tính toán của họ nhằm hạ nhục nhà cầm quyền cộng sản Việt nam trước dư luận Quốc tế và trong con mắt nhân dân cả nước.

Nhưng Trung quốc vẫn nhầm lẫn sau rất nhiều sai lầm trong quá khứ khi chuẩn bị tiến hành xâm lược Việt nam. Người Việt nam luôn biết đoàn kết lại trước các cuộc xâm lăng từ bên ngoài và sẽ chiến thắng bằng mọi giá.

Nhân dân trông đợi đảng, chính phủ nắm bàn tay của nhân dân, ủng hộ nhân dân trong các hoạt động biểu tình tuần hành ôn hòa trong khuân khổ Hiến pháp, thể hiện sự đoàn kết toàn dân biểu thị tình cảm yêu nước thiêng liêng trước sự xâm lăng ngang ngược của Trung quốc.

Nhưng cho đến nay, nhân dân chưa thấy một nhà lãnh đạo đảng, nhà nước, chính phủ đưa ra một tuyên bố mạnh mẽ nào về tình hình biển Đông. Điều đó làm cho nhân dân không thể không hoài nghi về thái độ thỏa hiệp ngầm nào đó giữa Hà nội và Bắc Kinh.

Nếu lần này đảng, nhà nước một lần nữa vẫn tỏ ra cứng rắn, coi nhân dân là “các thế lực thù địch”, đàn áp các cuộc biểu tình ôn hòa ủng hộ luật Biển của Quốc hội thì câu trả lời sẽ trở nên quá rõ ràng: Nhà cầm quyền đã bán mình cho Trung quốc.

Nhân dân sẵn sàng cho mọi hy sinh để bảo vệ quyền biểu tình, quyền thể hiện sự quyết tâm bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. Lần này Nhân dân vẫn còn hy vọng đảng, nhà nước có cách ứng xử hợp lòng dân, đặt chủ quyền Biển đảo Tổ quốc lên trên hết.
Mai Xuân Dũng
Theo Mai Xuân Dũng blog

Thứ Sáu, ngày 29 tháng 6 năm 2012

Tiến sĩ Lê Minh Phiếu: “Cần một công ước đầy đủ giá trị pháp lý để đảm bảo hoà bình trên Biển Đông”


Tiến sĩ Lê Minh Phiếu, tốt nghiệp tại đại học Montesquieu, Bordeaux IV (Pháp), một chuyên gia nghiên cứu về những tranh chấp pháp lý trên Biển Đông đồng thời là thành viên quỹ Nghiên cứu vì Biển Đông, nói rằng “đây là một bước đi mới bất chấp pháp lý, rất hung bạo và trắng trợn của Trung Quốc trong quá trình bành trướng trên Biển Đông”.
Trung Quốc không hề tôn trọng những gì họ đã ký trong DOC. Trong ảnh là bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh (phải) tiếp bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt tại Hà Nội năm 2010.
Trung Quốc không hề tôn trọng những gì họ đã ký trong DOC, chúng ta cần phải có công cụ pháp lý gì để bảo vệ chủ quyền của mình trên Biển Đông?

Hiện tại DOC có rất nhiều hạn chế. Thứ nhất, DOC không phân định rõ ràng giữa các vùng có tranh chấp và không tranh chấp. Thứ hai, các quy định trong DOC không rõ ràng và thiếu cụ thể dẫn đến việc tuỳ tiện trong giải thích như Trung Quốc vẫn thường làm để tranh thủ hướng có lợi cho mình. Thứ ba và quan trọng nhất, DOC không phải là một điều ước quốc tế và không có ràng buộc về mặt pháp lý, nó chỉ thể hiện sự cam kết chính trị và ràng buộc các quốc gia về mặt đạo đức. Và chúng ta đều thấy Trung Quốc thể hiện cái “đạo đức” đó theo cách nào.

Ngay sau khi DOC được các bên ký kết vào tháng 7.2011, có nhiều nước đã hối thúc Trung Quốc ký kết bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) nhằm khắc phục những hạn chế về giá trị pháp lý của DOC. Có rất nhiều quốc gia kỳ vọng COC sẽ là một bước tiếp theo của DOC, một công cụ pháp lý thật sự để bảo đảm hoà bình trên Biển Đông. Mỗi COC có giá trị pháp lý bắt buộc hay không tuỳ thuộc vào mong muốn của các bên cũng như bối cảnh ký kết. Một văn bản sẽ được công nhận như một điều ước quốc tế nếu nó thoả mãn những tiêu chí được quy định bởi Công ước Viên 1969 về luật Điều ước quốc tế. Đã có nhiều án lệ tại toà án Công lý quốc tế ghi nhận về tính pháp lý của các bộ quy tắc ứng xử như vậy.

Trung Quốc luôn tự xưng chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam, nhưng vùng thăm dò dầu mỏ lại cách rất xa hai quần đảo này, họ căn cứ vào đâu?

Chúng ta dễ thấy việc công bố mời thầu thăm dò dầu mỏ là do công ty CNOOC làm chứ không phải do Chính phủ Trung Quốc trực tiếp đứng ra gọi thầu. Ai cũng hiểu đứng đằng sau CNOOC chính là Chính phủ Trung Quốc. Chủ quyền pháp lý của một quốc gia luôn song hành tồn tại với chủ quyền thực tế và chủ quyền kinh tế. Trung Quốc chưa bao giờ đưa ra được một bằng chứng đáng tin cậy về chủ quyền pháp lý nhưng trên thực tế họ đang dùng sức mạnh để vi phạm vào chủ quyền thực tế và kinh tế của Việt Nam. Lần này dùng một công ty dầu khí ra mặt để tranh chấp, họ đang chơi trò “ném đá giấu tay”.

Những lô dầu khí chúng ta nói đến, hoàn toàn không nằm trong vùng tranh chấp ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng phía Trung Quốc lại tự cho rằng những vị trí này nằm trong “đường lưỡi bò” mà họ tự vẽ ra để chiếm Biển Đông. Với “đường lưỡi bò” nguỵ xưng này, họ tuyên bố rằng hơn 80% diện tích Biển Đông thuộc về Trung Quốc. Thậm chí, yêu sách trái cơ sở pháp lý một cách rõ ràng này cũng đã được Trung Quốc đệ trình lên Liên hiệp quốc vào tháng 5.2009, sự vô lý này của Trung Quốc lại không được đưa ra xét xử. Mở rộng vùng tranh chấp vào tận thềm lục địa của Việt Nam, Trung Quốc đang đi một bước đi đầy nguy hiểm và lộ liễu với ý đồ bành trướng trên Biển Đông, sau những gì họ đã làm với chủ quyền Việt Nam.

Chúng ta làm sao để đưa vấn đề này ra toà án quốc tế hoặc làm sao để có một bên thứ ba can thiệp nhằm chặn đứng sự bành trướng này?

Lâu nay Trung Quốc không bao giờ công nhận thẩm quyền của bất kỳ trọng tài hay toà án quốc tế nào trên Biển Đông. Không chỉ bởi vì họ dựa vào sức mạnh quân sự để hành xử ngang ngược mà bởi vì họ không có bất kỳ một bằng chứng chủ quyền nào trên Biển Đông của chúng ta. Điều này làm chúng ta không thể đưa vấn đề ra trước toà án quốc tế, nhưng như chúng tôi đã nói ở trên, điều phải làm trước mắt đó là buộc Trung Quốc ký vào COC, và COC đó phải có giá trị pháp lý bắt buộc. Để như thế, các nước ASEAN, đặc biệt là Việt Nam, Philippines và Malaysia, vốn là những bên liên quan nhiều nhất trong tranh chấp, cần cố gắng để đưa ra một điều khoản ràng buộc về mặt pháp lý của COC. Nếu có thể, các bên có thể dùng tên gọi khác phổ biến hơn được dùng cho điều ước quốc tế, ví dụ như hiệp ước hay hiệp định…

Tuy vậy, việc này khó khả thi trong khuôn khổ ASEAN – Trung Quốc bởi các nước ASEAN không đủ mạnh để gây áp lực lên Trung Quốc. Trong khi đó, những nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc rất quan ngại đến tình hình tranh chấp trên Biển Đông. Do vậy, để có thể đạt được một COC có giá trị pháp lý, nên đàm phán văn kiện trong một khuôn khổ có sự tham gia hay “xúc tác” của Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản, Úc. Thượng đỉnh Đông Á là một khuôn khổ lý tưởng để thực hiện điều này.

Nhà nước và người dân Việt Nam có thể phản ứng gì trước những xâm phạm ngang ngược như vậy của chính quyền Trung Quốc?

Chúng ta đã thấy bộ Ngoại giao Việt Nam trao công hàm phản đối, đây là một việc làm hoàn toàn đúng đắn về mặt công pháp quốc tế trên cương vị Nhà nước. Tổng công ty Dầu khí quốc gia đã họp báo phản đối, vì đây là đơn vị có quyền khai thác đang bị xâm phạm. Đối với người dân Việt Nam, chúng ta có quyền phản đối việc làm vi phạm đến chủ quyền quốc gia, miễn những việc làm đó nằm trong quy định của pháp luật và Hiến pháp. Nếu chúng ta nhượng bộ sẽ mất biển nên không thể nhượng bộ được.
Trung Bảo thực hiện
Nguồn: SGTT

Để dân không sợ hãi

Phát biểu của Chủ tịch Trương Tấn Sang trên báo Tuổi trẻ và trong buổi tiếp xúc với cử tri Quận 1 Tp HCM về công cuộc chống tham nhũng của Đảng ta ngày 25 tháng 6 vừa rồi đã làm nức lòng dân chúng. Ông nói “ Chấp nhận đau đớn để chống tham nhũng”, “nhất định phải làm trong sạch Ðảng, trong sạch bộ máy nhà nước, không còn cách nào khác” vì đó là “mệnh lệnh của nhân dân”. 

Những gì Trương Chủ Tịch phát biểu bỗng khơi gợi lại không khí “ Nhìn thẳng vào sự thật”, Những việc cần làm ngay” những năm chín mươi thế kỉ trước. Cũng như cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã kêu gọi “ Hãy tự cứu mình trước khi trời cứu” bằng cách tự mình vượt qua và chống lại “ sự im lặng đáng sợ”, dân chúng rất phấn khởi khi nghe Trương Chủ Tịch khẳng định mạnh mẽ: “Tại sao người khác nói mà mình không dám nói? Phải nói để sáng rõ và có một chân lý. Biết mà không nói là có lỗi rất lớn, nếu là dân thì có lỗi với đất nước, đảng viên thì có lỗi với Đảng. Nếu tất cả chúng ta sợ hết thì đất nước sẽ như thế nào, Đảng sẽ ra sao? Không thể được đâu, phải hành động thôi!” 

Vâng, phải hành động thôi, công cuộc chống tham nhũng chỉ thành công khi và chỉ khi dân chúng bước qua sợ hãi để nói lên sự thật. Nhưng làm thế nào để dân không sợ hãi? Đó là vấn đề căn bản, là chìa khóa của tiến trình dân chủ. Bác Hồ đã dạy: “Dân chủ là làm sao cho dân mở miệng, đừng để cho dân sợ không dám mở miệng” Chính Trương Chủ Tịch cũng đã thừa nhận: “Chúng tôi cũng cảm thấy có lỗi để cho dân và đảng viên sợ”. 

Mừng thay cuối cùng Đảng và Nhà nước đã nhận ra lỗi “để cho dân sợ”. Một khi nhận ra lỗi rồi thì tất nhiên Đảng và Nhà nước “ phải hành động thôi” để cho dân bước qua sự sợ hãi. Cách tốt nhất là để cho dân mở miệng tự do. Sẽ không còn chuyện mở miệng “lề trái hay lề phải”, bởi vì nói như Giáo sư Ngô Bảo Châu: “Bám theo lề là việc của con cừu, không phải việc của con người tự do”. Trương Chủ Tịch cũng đã diễn đạt rất rõ ràng:“ Cuộc sống đang diễn ra như thế nào thì cần nói thế đó, không được quy kết thế này thế kia. Những gì dân còn muốn nói với người đại biểu của mình, muốn lãnh đạo biết, hay các phản ánh của báo chí thì suy cho cùng những ý kiến đó cũng nhằm mong muốn phản ánh sự thật, phản ánh những điều nóng bỏng của cuộc sống, mong muốn sớm được giải quyết, chứ không có ý làm cho vấn đề nóng lên hay làm phức tạp thêm.” 

Hoan hô Trương Chủ Tịch! Hy vọng từ nay những gì làm cho dân sợ “ đấu tranh không biết tránh đâu” sẽ bị loại bỏ. Mọi sự mở miệng của dân đều được tôn trọng và lắng nghe. Lãnh đạo nước nhà từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài đều như Trương Chủ Tịch “ Muốn nghe sự thật chứ không phải đến và mất thời gian để nghe những lời hoa mỹ, không đúng sự thật”. Bà Lê Hiền Đức sẽ không bị quấy nhiễu và bôi nhọ, để rồi sẽ có hàng nghìn hàng vạn tấm gương chống tiêu cực như bà Lê Hiền Đức. Các bloggers trọng công lý yêu sự thật sẽ không bị khinh bỉ, bị ghẻ lạnh, không còn bị đám côn đồ khoác áo thương binh hành hung, quậy phá như blogger Nguyễn Xuân Diện; để rồi sẽ có hàng vạn blogs phản biện của dân tha hồ lên tiếng mà không bị đám hackers đen chặn phá và đánh sập, không bị chính quyền đưa vào cái gọi là “sổ đen”. Các nhà báo chống tiêu cực sẽ không còn bị dọa nạt, bị thóa mạ và đánh đập, không còn bị những đòn trả thù đểu cáng và đê tiện, không phải vào tù vì “lỗi nghiệp vụ” như Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Văn Hải, Hoàng Khương… 

Khi đó hà cớ gì công cuộc chống tham nhũng lại không thành công, có phải thế không thưa Trương Chủ Tịch? 

Nguyễn Quang Lập

Thế hệ nhân nhượng


Lâu rồi mình mới ngồi bình yên, không vội vàng nói chuyện với một người bạn cũ. Thấy anh lúc nào cũng mang vẻ mặt buồn tênh. Hỏi sao? Cười chả nói gì sất. Lại gạn: chuyện vợ con thế nào? Vẫn thế. Cái giọng cũng nhẹ tênh. Không cải thiện được chút nào ư? Cải cái gì? Bản tính khó đổi, núi sông khó dời. Già rồi, an phận, bằng lòng, mặc kệ…Cuộc sống cứ thế trôi qua. Chỉ đôi lúc bâng khuâng nhìn bạn bè, nhìn đời, nhìn lại mình, thấy tui tủi. Chả làm nên công cán gì. Không phải mơ ước làm một cuộc lấp sông, dời bể, mà chỉ cần được làm một việc mình yêu thích sao mà khó thế? Được sống đúng mình sao mà khó vậy? Ngoảnh đi nhìn lại thấy trên đầu tóc sang mùa. Con cái nhìn bố như nhìn người xa lạ đáng thương, vậy thôi. Công việc ư? Học một nghề nhưng làm nghề khác. Vẫn phải bám vào chỗ đó vì miếng cơm manh áo không chỉ cho mình mà cho vợ con, những kẻ ràng buộc với ta vì hợp đồng mang tính đạo đức nhiều hơn là tình yêu. Vậy mà tiêu tốn hết cả đời người? Đấy, chuyện cá nhân đã vậy, chứ nhìn ra xã hội nản lòng nữa…Ép mình sống như ép dầu. Xả hết chút lực tàn mà không biết để làm gì? Không phương hướng, niềm tin, an ủi…Giả vờ mà sống. Cười nhạt mà đáp lễ, mà đãi đằng. Căm ghét đến tận xương tuỷ và vẫn nói là không có gì, vẫn coi là bạn bè, mời mọc nhau ly rượu, vại bia. Nhìn lên cao nữa thấy lộn mửa mà cứ gọi là đồng chí, cứ xếp nhau đảng viên nhiều cái tốt, cứ hứa hẹn, nói đúng những gì họ cần mình nói cửa miệng. Lá phiếu đại hội đảng bộ trông mong vào mấy cữ thịt chó, thịt thú rừng đãi đằng, vận động nhóm nọ, băng kia. Cần bằng cấp để đề bạt hả? Khó gì, cứ đăng ký học rồi trả tiền thuê người học hộ, còn mình đi đánh quả kiếm tiền. Lúc tổ chức hỏi để cân nhắc là rút trong hồ sơ ra đầy đủ bằng nọ, chứng chỉ kia. Lên chức là để học cách nói dối bài bản hơn, nhiều hơn và biết cách sống lá mặt lá trái hơn. Mẹ tụi nó, biết là nó nghĩ đểu nhưng hễ gặp mình là nó khen, khen đến mức mình muốn chui xuống lỗ nẻ cho đỡ ngượng vì mình đâu được như thế? Nhưng nếu không nghe nó nói vậy thì thấy nhơ nhớ, thấy tức tức…Lâu dần quen nghe nói dối. Rồi tin là mình giỏi như vậy thật mới bỏ mẹ. Đến lúc tàn hơi, sợ tất tật từ cháu chắt, con cái đến vợ già. Miếng cơm đăng đắng trong miệng. Cháu vòi vĩnh là đáp ứng liền. Con gắt không dám ngẩng mặt lên. Vợ chỉ mới nói nặng một câu cũng giật mình. Lo nhất bây giờ là bị ốm nặng. Chắc chả ai trông nom tử tế đâu? Nếu bị bệnh nặng á? Sẽ cắn lưỡi chết tức thì. Mình nghe mỏi tai quá bèn hỏi đầy nghi ngờ: Anh bi quan quá. Hay tuổi già là như vậy? Cứ nghĩ quá lên những gì có ở thực tế? Anh bạn cười trừ, thôi đi cô, là tôi đang cố lạc quan đấy. Rồi anh nhìn bâng quơ trời đất, hỏi, này, người Việt mình có thật lạc quan không? Sao tụi Tây nó cứ bảo vậy nhỉ? Nước mình thì có gì để lạc quan chứ? Mấy nghìn năm lịch sử thì toàn chiến tranh? Đời sống bám vào cây lúa có sung sướng bao giờ đâu? Xã hội thì bị Khổng Nho đè nén, mất hết tự nhiên? Sau thì lại đến họa đấu tranh giai cấp, nhìn nhau, chém giết như quân thù quân hằn, cho đến tận lúc này? Thế thì căn cớ, nguồn cơn nào để lạc quan? Mình tặc lưỡi, chắc càng khổ càng cố lạc quan để dễ sống chăng? Thế thì phải gọi là phép thắng lợi tinh thần chứ, sao gọi đó là phẩm chất con người được?

Nói cô nghe, ví như biển Đông bây giờ thằng Tàu cứ chềnh ềnh tàu và người nó ra đấy thì “cực lực phản đối”, “VN lên án”; “đề nghị” liệu có khiến nó rút đi không? Luật biển mới ra đời làm nhiều người nao nức có bắt “nó” chấp hành không? Không, đúng không nào? Bao giờ thì giải quyết được cái ao chung ấy? Có mà khươm mươi niên. Có dám đưa nó ra toà án quốc tế không? Không. Trừ khi chả còn anh em gì sất, chỉ còn quốc gia, dân tộc, nói chuyện bằng lẽ phải, luật lệ. Mà cái đó chắc chả dễ gì có ngay. Thế thì lạc quan nỗi gì? Còn xã hội thì sao? Nói cô nghe nhé: kinh tế đang rơi tự do, vậy dám bảo “đã qua thời kỳ khó khăn” là do tính lạc quan à? Dân đói rã họng ra đấy mà bảo họ yên tâm, vui cười sao được? Hay bắt họ lấy niềm tin vào đảng, chính phủ, chế độ để thay cơm ăn hàng ngày? Đất mất mà cứ bắt họ cư xử như thể đang được hưởng ân sủng to lớn nên phải đầy lòng biết ơn là sao? Một kẻ cướp đất với một kẻ bị cướp đất mà đòi hai bên bắt tay nhau để “giải quyết hài hoà” chuyện cưỡng chế thì có được không? Đấy không thể gọi là lạc quan nữa, đó là sự khốn nạn khi bắt người ta cười khi cha mẹ họ vừa mất đi…Đạo đức xuống cấp như thể con người không còn gì phải e dè, muốn thú tính bao nhiêu cũng được, vậy mà bắt học trò luận về thói dối trá, vô cảm ư? Đúng là lạc quan quá mất. Lạc quan đến mức như mắc chức cuồng. Còn gì nữa nhỉ? Còn cái “chả còn gì” nữa cô ạ…Hết rồi. Vì sao thế hả anh? Anh ngồi hút thuốc không trả lời, trầm ngâm, buồn, rất buồn…Đúng là chả thấy chút lạc quan, dù một ánh mắt nhìn lại người nói chuyện.

Rất lâu anh mới ngước lên nhìn ra mặt hồ choi chói nắng…Tôi ngẫm rồi. Tại mình hết. Nhiều thế hệ chỉ biết sống nhân nhượng. Nhân nhượng cả cái ác nên giờ trả giá. Nhân nhượng với cái ác lâu, nhiều và đểu đến mức nghĩ nó là tốt đẹp. Này cô, mới đây tôi tìm thấy một bài thơ lưu lạc trên facebook của một cậu nào đó tên Gia Hiền. Ai oán lắm. Chắc bạn đó còn trẻ. Trẻ lắm nhưng nhiều nỗi ưu tư và đau đớn. Người vẫn biết đau đớn, tủi hổ thì còn đáng yêu và đáng tôn trọng. Thế hệ mình chỉ nhân nhượng nên thế hệ sau chịu nhân quả chỉ biết cúi đầu. Lát tôi đưa cô đọc. Thế thì còn gì để lạc quan hả cô? Nhìn vào đâu mà sống? Mình già rồi thế nào cũng xong vì coi như đời mình bỏ. Nhưng còn tụi trẻ? Không lẽ bảo chúng nó cứ sống cúi đầu như chúng nó nghĩ và viết ra vậy? Mà bảo chúng khùng lên, nổi loạn lên thì mình có lo được cho chúng không? Có bảo đảm rằng chúng nó sẽ gặt hạnh phúc hơn thế hệ mình không? Chả dám lạc quan như thế. Hư hỏng nhân cách đến cả chục thế hệ cô ạ…Thậm chí cháu tôi, tôi còn không dám lạc quan rằng chúng sẽ thành người hay ho hơn mình? Vì sao ư? Nhìn quả “đồi Ngô” với lại chuyện học hành hôm nay thì dám mơ gì? Đấy, tháng 7 này lũ cháu lại cắp sách đến trường khi hè vừa mới được nghỉ một tháng. Ăn cắp cả tuổi thơ con trẻ thì nền giáo dục ấy còn dạy dỗ được ai? Thôi, câu nhận xét “lạc quan” của tây xin trả lại cho tây. Mình lần hồi sống qua ngày tháng chờ chết cô ạ. Còn thì, đời cua cua máy, đời cáy cáy đào. Trời sinh voi sinh cỏ. Chắc đây là câu lạc quan nhất của người Việt mình đấy…

Cuối chầu café hầu như chỉ nghe anh bạn nói. Nói như mộng du, tự sự chỉ mình mình nghe…Nói đến mức lúc ngẩng lên, mắt anh như không còn thấy gì nữa. Tất cả chìm trong nỗi trống vắng, hoang lạnh. Thì thôi, cứ như là lời trăng trối khi còn sống vậy. Nghe rồi để khỏi nhớ là cuộc đời nhiều thế hệ đã đi qua như thế nào…
Thế hệ tôi, một thế hệ cúi đầu 
Thế hệ tôi, một thế hệ cúi đầu
Cúi đầu trước tiền tài, cúi đầu sau mông người khác
Cúi đầu trước chính mình, cúi đầu bạc nhược
Chỉ ngầng đầu…
…vì…
…đôi lúc…
…phải cạo râu!
Thế hệ tôi, cơm áo gạo tiền níu thân sát đất
Cuộc sống bon chen
Tay trần níu chặt
Bàn chân trần không dám bước hiên ngang.
Thế hệ tôi, nhận quá nhiều những di sản hoang mang
Đâu là tự do, đâu là lý tưởng?
Đâu là vì mình, và đâu là vì nước
Những câu hỏi vĩ mô cứ luẩn quẩn loanh quanh…
Thế hệ tôi, ngày và đêm đảo lộn tanh bành
Đốt ngày vào đêm, và đốt đêm không ánh sáng
Nếu cho chúng tôi một nghìn ngày khác
Cũng chẳng để làm gì, có khác nhau đâu?
Thế hệ tôi, tự ái đâu đâu
Và tự hào vì những điều huyễn hoặc
Tự lừa dối mình, cũng như lừa người khác
Về những niềm tin chẳng chút thực chất nào!
Chúng tôi nghe và ngắm những siêu sao
Chỉ với mươi lăm nghìn cho vài ba tin nhắn
Văn hóa ngoại giao là trà chanh chém gió
Và nồi lẩu tinh thần là những chiếc I-phone
Thế hệ tôi, ba chục đã quá già
Và bốn chục, thế là đời chấm hết
Không ghế để ngồi, thì thôi, ngồi bệt
Mối lo hàng ngày là tiền trong tài khoản có tăng lên?
Thứ đắt nhất bây giờ là từng lạng NIỀM TIN
Thứ rẻ nhất, lại là LỜI HỨA
Sự dễ dãi đớn hèn khuyến mại đến từng khe cửa
Có ngại gì mà không phản bội nhau?
Không, tôi không đại diện thế hệ mình đâu!
Và thế hệ tôi cũng không đại diện cho điều gì sất!
Trăm năm sau, lịch sử sẽ ghi vài dòng vắn tắt:
Có một thế hệ buồn, đã nhạt nhẽo đi qua…
Gia Hiền
Thùy Linh

Ý đồ biến biển của Việt Nam thành “vùng tranh chấp”


Khu vực 9 lô dầu khí mà PetroVietnam đang thăm dò khai thác và Trung Quốc đang mời thầu không phải là khu vực tranh chấp. Nó nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam. Câu hỏi có thể đặt ra là, vậy Trung Quốc căn cứ vào đâu để công khai mời thầu quốc tế ở địa điểm này? 
Câu trả lời là: Trung Quốc căn cứ vào đường lưỡi bò mà họ đơn phương đưa ra và muốn cả thế giới phải công nhận.
Bản đồ những lô dầu khí mà Trung Quốc đang mời chào, công bố trên website của Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC), cho thấy, cả 9 lô đều nằm trong vùng biển thuộc đường lưỡi bò, và dọc theo đường 9 đoạn “tai tiếng” này.
Trong thông báo của mình, đăng trên mạng ngày 23-6, CNOOC tuyên bố: “Hiện nay, 9 lô dầu khí trải dài trên diện tích 160.124,38 km2 đang được mở ngỏ cho các hoạt động hợp tác thăm dò và khai thác giữa CNOOC và các công ty nước ngoài. Xin mời tham khảo vị trí của các lô trong bản đồ đính kèm: Bản đồ Vị trí các lô mở trong vùng biển thuộc quyền tài phán của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, dành cho hoạt động hợp tác với nước ngoài trong năm 2012”. Tiếp sau đó là phần mô tả địa điểm và diện tích của từng lô, thủ tục để bắt đầu tiến hành hợp tác, và thông tin về địa chỉ liên hệ.
Trái với UNCLOS
Trước hành động đó của CNOOC, ông Đỗ Văn Hậu, Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN), đã tuyên bố ngày 27-6: “Đây là việc làm sai trái, không có giá trị, trái với Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) 1982 và không phù hợp với thông lệ dầu khí quốc tế”. PVN “cực lực phản đối và yêu cầu CNOOC hủy bỏ ngay hoạt động mời thầu, nghiêm túc tuân thủ thỏa thuận về những nguyên tắc giải quyết vấn đề tranh chấp trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, cũng như tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982”.
Văn bản quan trọng mà Trung Quốc vi phạm là UNCLOS 1982, ra đời ngày 10-12-1982, mà Trung Quốc ký phê chuẩn và tham gia vào ngày 7-6-1996. Với việc đưa ra đường lưỡi bò để đòi chủ quyền đối với 75% diện tích biển Đông, Trung Quốc đã hành xử một cách “phi UNCLOS”. Chẳng hạn, kèm với tấm bản đồ đường lưỡi bò được công bố chính thức lần đầu tiên ra thế giới ngày 7-5-2009, Bắc Kinh chỉ nói chung chung rằng họ “có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo trong biển Đông và các vùng biển lân cận; có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan cũng như đáy biển và lòng đất của những vùng biển này”. Nhưng họ không hề xác định tọa độ, phạm vi cho “vùng biển lân cận”, “vùng biển liên quan”, và cũng không dùng tới các thuật ngữ của UCNLOS, như nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa… để định nghĩa “biển” của họ.
Đã ký phê chuẩn UNCLOS, nhưng lại đưa ra yêu sách hoàn toàn phi UNCLOS, và rồi công khai mời thầu những lô dầu khí trong một vùng biển nghiễm nhiên cho là của mình – những hành động đó cho thấy sự mâu thuẫn, lật lọng trong chính sách của Trung Quốc trên biển Đông.
Điều nguy hiểm cho Việt Nam
Việc dựng ra một đường lưỡi bò không tọa độ, rồi mời thầu trong vùng biển nằm trong ranh giới lưỡi bò là hành động vi phạm UNCLOS 1982 thấy rõ. Nhưng bên cạnh đó, rất có thể Trung Quốc còn có những ý đồ kín đáo hơn.
Ngày 27-6, học giả Mỹ Matt Taylor Fravel, Giáo sư khoa học chính trị, Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), đã có bài viết trên tờ The Diplomat, trong đó, ông nhận định: “Không như các lô mà CNOOC mời thầu trong năm 2010 và 2011, các lô mới này (9 lô dầu khí đang được Trung Quốc chào mời) nằm hoàn toàn trong vùng tranh chấp trên biển Đông. Như bản đồ (đăng tải trên website của CNOOC) cho thấy, các lô này nằm ngoài khơi bờ biển miền Trung của Việt Nam, trải rộng hơn 160.000 km2. Rìa phía tây của một số lô có vẻ như nằm cách bờ biển Việt Nam không đầy 80 hải lý, nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Tất cả các lô đều chồng lấn ít nhất là một phần với (các lô) của PetroVietnam, kể cả những điểm có tiềm năng dầu khí, mà các công ty nước ngoài đang tiến hành hoạt động thăm dò”.
GS. Matt Taylor Fravel cũng viết: “Có lẽ các công ty nước ngoài ít có khả năng hợp tác với CNOOC để đầu tư ở các lô đang tranh chấp. Tuy nhiên, hành động của CNOOC rất có ý nghĩa, vì một số lý do. Việc tuyên bố mời thầu cho thấy một bước đi mới trong nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố quyền chủ quyền tại vùng biển này. Chẳng hạn, mới tuần trước thôi, Trung Quốc đã nâng địa vị hành chính của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ cấp huyện lên cấp vùng, thuộc tỉnh Hải Nam”.
“Việc một công ty nhà nước của Trung Quốc chào mời các lô dầu khí không chỉ củng cố quyền tài phán mà Trung Quốc đòi hỏi, mà còn tăng cường cơ sở pháp lý cho các lập luận của Trung Quốc phản bác mọi hoạt động của Việt Nam tại vùng biển này. Trong quá khứ, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã phản đối các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí của Việt Nam, với lưu ý rằng rằng chúng diễn ra trong vùng biển của Trung Quốc. Giờ đây thì Trung Quốc có thể khẳng định là những hành động đó vi phạm luật pháp của Trung Quốc trong lĩnh vực khai thác tài nguyên”.
Nghĩa là, mặc dù thừa nhận rằng “một số lô… nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế” của Việt Nam, nhưng GS. Fravel cũng đã mặc nhiên coi đây là khu vực chồng lấn, tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nói cách khác, Bắc Kinh đã phần nào thành công trong việc biến vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam thành vùng tranh chấp. Từ đây, đi đến quan điểm “gác tranh chấp, cùng khai thác”… biển của Việt Nam chỉ là một bước ngắn.
* * *
The nine offshore blocks where PetroVietnam have been taking exploration and development activities and China has recently offer for joint cooperation with foreign companies, in fact, are not located in disputed areas. Rather they lie entirely within Vietnam’s exclusive economic zone and 200-mile continental shelf. A potential question to raise is: On what basis does China openly offer for bidding in the area?
The answer is: China relies upon the infamous “ox-tongue” line that they unilateral delineate and claim for recognition from the international community.
The attached map of the locations of the nine blocks being offered, published on CNOOC’s website on June 23th, 2012, shows the whole nine blocks located in the seas bounded by the ox-tongue line or the nine-dotted line.
In response to CNOOC’s action, Mr. Đỗ Văn Hậu, CEO of PetroVietnam, on Thursday declared, “This undertaking is wrongful, invalid, and runs counter to UNCLOS 1982 as well as international oil and gas practices. This constitutes a grave violation of Vietnamese sovereignty, sovereign rights and national interests of Vietnam, further complicates the situation and causes tension on the East Sea.
Anti-UNCLOS
One of the important agreements that China keeps violating is the United Nations Convention on the Law of the Sea of December 10th, 1982, whichChina ratified on June 7th, 1996.
However, by using their nine-dotted line to claim territory over 75% of the Southeast Asian Sea, China proves to be anti-UCNLOS. Along with the nine-dotted line map submitted to the international community for the first time on May 7th, 2009, Beijing gave a vague statement that they have “indisputable territory over islands in the South China Sea and contiguous seas; territorial rights and jurisdiction over related seas as well as the seabed and subsoil of the areas.” But they failed to address the exact the meaning of “contiguous seas”, “related seas”, and avoided using UNCLOS’s technical terms such as “internal waters”, “territorial seas”, “exclusive economic zone”, “continental shelf”, etc. to define their territorial claim.
What lies behind China’s move
On Thursday Matt Taylor Fravel, an Associate Professor of Political Science and member of the Security Studies Program at the Massachusetts Institute of Technology, wrote on The Diplomat.
“Unlike the blocks that CNOOC offered in 2010 and 2011, the new ones are located entirely within disputed waters in the South China Sea.  As this map shows, the new blocks lie off Vietnam’s central coast and comprise of more than 160,000 square kilometers. The western edge of some blocks appear to be less than 80 nautical miles from Vietnam’s coast, well within that country’s Exclusive Economic Zone. All the blocks overlap at least partially with PetroVietnam’s, including potentially ones where foreign oil companies have ongoing exploration activities.
Foreign companies may be unlikely to cooperate with CNOOC to pursue investments in disputed blocks. Nevertheless, CNOOC’s action is significant for several reasons.  To start, the announcement of these blocks reflects another step in China’s effort to strengthen its jurisdiction over these waters. Just last week, for example, China raised the administrative status of the Paracel and Spratly Islands from county- to prefectural-level withinHainan Province.
The delineation of exploration blocks by a Chinese state-owned oil company not only enhances China’s claimed jurisdiction but also strengthens the legal basis of China’s ongoing opposition to Vietnam’s activities in these waters. In the past, China’s Foreign Affairs Ministry challenged the legality of Vietnam’s exploration and development activities by noting that they were in Chinese waters. Now, China can assert that such actions violate domestic laws related to resource development.”
Despite the fact that these blocks are located “well within the country’s Exclusive Economic Zone”, Professor Fravel apparently takes it for granted that this is part of the overlapping, disputed areas between Vietnam andChina.
In other words, it seems Beijing has somewhat succeeded in transforming Vietnam’s Exclusive Economic Zone into disputed ones, thereby they move closer to the actualization of “Setting aside dispute, pursuing joint development” policy in other nation’s seas.
Đoan Trang
Nguồn: Đoan Trang blog

Vi phạm luật pháp quốc tế

Nhà báo Nguyễn Thông đã nhận xét “Bạc Nhược” về bài viết của tác giả luật gia Nguyễn Chương Thanh dưới đây. HDTG xin trích dẫn lại lời của ông: Thực ra bài viết cũng chả có gì mới so với những thông tin tràn lan trên báo chí, mạng xã hội mấy ngày qua, chỉ liệt kê lại những sự kiện, ít sự phân tích cần thiết để khẳng định thái độ của chúng ta trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Nếu thế thì cũng cứ cho là được đi, nhưng tệ hại ở chỗ, người viết đã kết thúc bài bằng nội dung như thế này (nguyên đoạn):
“Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Trung Quốc, sẵn sàng cùng Trung Quốc thúc đẩy mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam hoan nghênh và sẵn sàng mời các công ty nước ngoài, trong đó có các công ty dầu khí Trung Quốc, tham gia hợp tác cùng Tập đoàn dầu khí Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, phù hợp với luật pháp Việt Nam, luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982″.Theo nguyên tắc lập luận phổ thông nhất, khi nói “Việt Nam luôn coi trọng…” thì ý tiếp sau phải là “nhưng Việt Nam sẽ kiên quyết giáng trả những hành động khiêu khích, sẽ bảo vệ chủ quyền đến cùng, bằng mọi giá…”. Nhưng không, chả biết vị luật gia thay mặt cho ai, chứ theo tôi, dứt khoát không phải là thay mặt cho dân.
Tưởng thể hiện bản lĩnh, sự kiên quyết, thái độ quyết liệt như thế nào trước sự khiêu khích láo xược của bọn xâm lược Trung Quốc, ai ngờ hạ mình xin xỏ, năn nỉ vô cùng yếu ớt. May ở chỗ, đây chỉ là quan điểm cá nhân chứ không phải của nhà nước, của chính quyền. Và buồn, thất vọng ở chỗ, dẫu sao người viết cũng là một luật gia, tức người có học, thậm chí hạng cao trong những người có học. Dân vẫn gọi những người này là trí thức với thái độ tôn trọng. Nhưng trí thức mà bạc nhược, đớn hèn đến mức ấy thì đáng buồn thay.
* Việc Trung Quốc chào thầu 9 lô dầu khí thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam
Ngày 23.6.2012, Tổng công ty dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC) thông báo chào thầu quốc tế đối với một số khu vực trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam. Điểm gần nhất cách đảo Phú Quý (tỉnh Bình Thuận) chỉ có 30 hải lý. Tổng diện tích vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bị xâm phạm là hơn 160.000 km2. Hành động đó đã xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Hành động đó cũng đã vi phạm các cam kết quốc tế của Trung Quốc với tư cách là một thành viên của Công ước luật Biển năm 1982, một bên ký Tuyên bố năm 2002 về ứng xử của các bên ở biển Đông cũng như các cam kết trong quan hệ song phương giữa hai nước Việt – Trung.


Theo quy định của các điều 56 và 57 Công ước luật Biển năm 1982, quốc gia ven biển có vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để đo chiều rộng lãnh hải nước mình. Trong vùng đặc quyền kinh tế của mình, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với việc thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý mọi tài nguyên thiên nhiên cũng như đối với các hoạt động khác ở đó. Điều 76 của Công ước luật Biển năm 1982 quy định rõ, quốc gia ven biển có thềm lục địa tối thiểu 200 hải lý và có quyền mở rộng thềm lục địa của mình đến 350 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải hoặc không quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2.500 mét (đường nối các điểm có độ sâu 2.500 mét ở biển) theo đúng trình tự mà công ước đã quy định. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với thềm lục địa của mình. Điều 77 của Công ước luật Biển năm 1982 nêu rõ, các quyền này mang tính đặc quyền, nghĩa là nếu quốc gia ven biển không thăm dò thềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thỏa thuận rõ của quốc gia ven biển đó. Chỉ có nước ven biển mới có quyền thăm dò, khai thác tài nguyên ở thềm lục địa của mình.
Lộ rõ ý đồ phi lý
Việc phía Trung Quốc mời thầu quốc tế tại các khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam thực chất là để thực hiện hai ý đồ: thứ nhất, biến các vùng biển của Việt Nam mà theo pháp luật quốc tế, hoàn toàn không phải là khu vực có tranh chấp, thành vùng biển tranh chấp; thứ hai, mở rộng tranh chấp trên biển giữa hai nước. Việc làm đó nằm trong một loạt hoạt động gần đây của Trung Quốc để thực hiện yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc ở biển Đông và làm cho tình hình biển Đông trở nên phức tạp hơn và căng thẳng hơn.
Phù hợp với các quy định đó của công ước, Việt Nam có vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý và thềm lục địa rộng tối thiểu 200 hải lý ở biển Đông. Nước ta cũng đã nộp hai Báo cáo quốc gia lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc về ranh giới thềm lục địa của Việt Nam ngoài 200 hải lý. Thực hiện quyền chủ quyền của mình theo đúng Công ước luật Biển năm 1982, Nhà nước ta đã và đang tiếp tục triển khai các hoạt động thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Trong phạm vi thềm lục địa của Việt Nam, Nhà nước ta đã phân lô dầu khí và đang thực hiện nhiều hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí. Ở nhiều khu vực, Nhà nước ta đã cho phép các công ty nước ngoài đầu tư để thăm dò khai thác dầu khí theo luật Khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Phạm vi khu vực mà Tổng công ty dầu khí hải dương Trung Quốc kêu gọi mời thầu quốc tế chính là các lô dầu khí 128, 129, 130, 131, 132, 145, 146, 147, 148, 149, 150, 151, 152, 153, 154, 155 và một phần các khu vực khác ở gần bờ biển một loạt các tỉnh như Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bình Định, Ninh Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bến Tre.
Thông tin diện tích, độ sâu các lô dầu Trung Quốc mời thầu – Đồ họa: Hoàng Đình
Trung Quốc tham gia Công ước luật Biển năm 1982 từ ngày 7.6.1996. Từ thời điểm đó, Trung Quốc có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của công ước này. Bằng việc mời các công ty nước ngoài tham gia đấu thầu ở các lô dầu khí trong thềm lục địa Việt Nam, Trung Quốc không những xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền biển, đảo của Việt Nam mà còn vi phạm nghĩa vụ của Trung Quốc với tư cách là một thành viên của Công ước luật Biển năm 1982.

Vi phạm Tuyên bố DOC 2002  và các thỏa thuận song phương Việt Nam – Trung Quốc

Năm 2002, Trung Quốc và ASEAN đã ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (thường được gọi tắt là Tuyên bố DOC năm 2002). Theo tuyên bố đó, Trung Quốc và ASEAN khẳng định lại cam kết của mình tôn trọng mục tiêu và các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Công ước luật Biển năm 1982, Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á, năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình và các nguyên tắc phổ cập khác của pháp luật quốc tế. Khi đi vào các vấn đề cụ thể, Trung Quốc và ASEAN cam kết không tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc gia tăng các tranh chấp và ảnh hưởng tới hòa bình và ổn định ở biển Đông. Với việc ký Tuyên bố năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc về ứng xử của các bên ở biển Đông, Trung Quốc có nghĩa vụ tuân thủ các cam kết nêu trên. Trong các Hội nghị cấp cao giữa ASEAN và Trung Quốc và các hội nghị khác, đại diện Trung Quốc ở các cấp đều khẳng định tuân thủ Tuyên bố DOC năm 2002. Tuyên bố chung của các nguyên thủ và Thủ tướng các nước ASEAN và Trung Quốc về đối tác chiến lược ASEAN – Trung Quốc thông qua tại Bali (Indonesia) ngày 8.10.2003 đã coi việc thực hiện DOC là một biện pháp trong hợp tác an ninh giữa ASEAN và Trung Quốc.

Với việc mời các công ty nước ngoài đấu thầu các lô dầu khí trong thềm lục địa của Việt Nam, Trung Quốc đã đi ngược lại các cam kết của mình theo Tuyên bố năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc về ứng xử của các bên ở biển Đông, đặc biệt là cam kết không có hành động làm cho tình hình phức tạp thêm.

Trong những năm qua, với nỗ lực của cả hai bên, quan hệ hợp tác và hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc đang được tăng cường trên các lĩnh vực. Cuối tháng 11.2011, nhân chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, hai bên ra Tuyên bố chung khẳng định tiếp tục kiên trì phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” để trân trọng, giữ gìn phát triển tốt quan hệ hai Đảng, hai nước Việt – Trung, thúc đẩy quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc phát triển một cách ổn định, lành mạnh, lâu dài. Tuyên bố chung nêu rõ, trước khi tranh chấp được giải quyết dứt điểm, hai bên cùng gìn giữ hòa bình, ổn định trên biển Đông, không có hành động làm phức tạp hóa, mở rộng tranh chấp, đồng thời hai bên nỗ lực thực hiện Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc.

Trong Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa hai nước ký ngày 11.10.2011, hai bên cam kết “nghiêm chỉnh tuân thủ thỏa thuận và nhận thức chung mà lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc và tinh thần của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông”. Hành động nói trên của Trung Quốc đã đi ngược lại các cam kết trong Tuyên bố chung và Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa hai nước.

Trước hành động phi pháp này của phía Trung Quốc, đại diện Bộ Ngoại giao nước ta đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội trao công hàm phản đối, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam phát biểu và Tập đoàn dầu khí Việt Nam đã họp báo quốc tế phản đối việc Trung Quốc xâm phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp của Việt Nam. Chúng ta  cực lực phản đối và yêu cầu phía Trung Quốc hủy bỏ ngay việc mời thầu sai trái nói trên, không có hành động làm phức tạp tình hình ở biển Đông và mở rộng tranh chấp, nghiêm túc tuân thủ Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 và tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC).

Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Trung Quốc, sẵn sàng cùng Trung Quốc thúc đẩy mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam hoan nghênh và sẵn sàng mời các công ty nước ngoài, trong đó có các công ty dầu khí Trung Quốc, tham gia hợp tác cùng Tập đoàn dầu khí Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, phù hợp với luật pháp Việt Nam, luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982.
Hội Luật gia VN phản đối Trung Quốc mở thầu 9 lô dầu khí
* Thành lập “thành phố Tam Sa” là xâm phạm chủ quyền Việt Nam
Chiều qua 28.6, Hội Luật gia VN phát đi thông cáo cực lực phản đối  CNOOC công bố mời thầu quốc tế thăm dò – khai thác tại 9 lô dầu khí trên biển Đông nằm sâu trong thềm lục địa của VN và yêu cầu phía Trung Quốc hủy bỏ ngay việc mời thầu sai trái trên, không có hành động làm phức tạp tình hình ở biển Đông và mở rộng tranh chấp. Theo Hội Luật gia VN, việc làm của CNOOC đã vi phạm nghiêm trọng Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (điều 58, 76, 77…) mà chính Trung Quốc là quốc gia thành viên; vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của VN; đi ngược lại Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) giữa Trung Quốc và các quốc gia thành viên ASEAN ký năm 2002, cũng như Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc ký tháng 10.2011. Hội Luật gia VN yêu cầu phía Trung Quốc tuân thủ nghiêm túc các công ước và tuyên bố trên. Đồng thời, Hội Luật gia kêu gọi giới luật gia các nước trên thế giới có tiếng nói bảo vệ công lý, bảo vệ Công ước Luật biển 1982 và đề nghị các công ty dầu khí quốc tế tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, không tham gia dự thầu 9 lô dầu khí mà CNOOC công bố mời thầu.
Hội Luật gia VN cũng đồng thời cực lực phản đối việc Quốc vụ viện Trung Quốc cho thành lập thành phố “Tam Sa”, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền không thể tranh cãi của VN đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Mai Hà
Luật gia Nguyễn Chương Thanh
Theo Thanh Niên

Đằng sau một lời hứa không thành của bà Bộ trưởng

Tháng 6-2009, vấn đề lao động nước ngoài đã được đưa ra Quốc hội với phát biểu nổi tiếng của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB và XH “Nếu tôi nhận trách nhiệm chung chung rằng đó là trách nhiệm của tôi, thì làm sao tôi sửa được, vì tôi không cấp giấy phép cho họ vào VN”. Tất nhiên sau đó bà hứa trước QH sẽ chấn chỉnh tình trạng gần 50% lao động nước ngoài đang “không phép” ở Việt Nam.

Suốt 4 năm qua, việc “phân tích rõ trách nhiệm của từng cơ quan”, rồi xác định trách nhiệm “ở mức độ nào” để “được đặt ra một cách khách quan, từ đó mới tìm ra đang cần sửa chỗ nào” dường như vẫn đang tiến hành. Đây có lẽ chính là lý do khi vấn đề “thương nhân Trung Quốc”, rồi “bác sĩ Trung Quốc”, rồi “Ngư dân Trung Quốc” lại được đặt ra trên diễn đàn QH và ngay trong buổi Chủ tịch nước tiếp xúc cử tri sau kỳ họp. Quá nhiều ví dụ để thấy người nước ngoài vào Việt Nam thuộc diện “cổ cồn thì ít mà áo bạc thì nhiều”. Ở Dự án thủy điện Sông Bung 4, nhà thầu Trung Quốc Sinohydro dù chỉ đăng ký 50 “kỹ sư, chuyên gia” nhưng đã đưa sang 296 lao động. 186 trong đó thuộc diện “cửu vạn”. Báo chí thậm chí còn bắt được ảnh mấy ông “Chuyên gia” chân tay to đang chổng mông… quai búa. Hay ở công trường Nhà máy nhiệt điện Nông Sơn, 197 cửu vạn Trung Quốc tá túc, ăn ngủ tại khu vực công trường trong khi chỉ có 30 người có giấy phép lao động.

Nghĩ cũng lạ khi công dân của “nền kinh tế số 2 thế giới” lại phải sang làm cửu vạn thuê ở một quốc gia “đang phát triển”.

Nhắc đến phát ngôn của bà Bộ trưởng cũng như tình trạng lao động nước ngoài từ năm 2009 để cho thấy đây không phải là vấn đề mới. Cái mới, chỉ là sự bùng nổ của những Hoa Đà, Biển Thước tân thời. Là chuyện con cháu họ Lã tung hoành từ Nam chí Bắc mua kể cả những thứ không ai mua, làm những việc thậm chí không ai lý giải nổi.

Cho đến hôm qua, Cục trưởng Cục Việc làm, Bộ LĐ-TB và xã hội Lê Quang Trung tiếp tục công bố hiện có hơn 31.000 lao động nước ngoài đang làm việc trái phép tại Việt Nam. Chủ yếu đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản.

Nói đây là sự “tiếp tục” là bởi tình trạng này không có gì mới. Năm 2008 có 52.633 lao động nước ngoài tại VN. Năm 2009 là 55.428 người. Năm 2010 là 56.929 người. Và đến tháng 5-2011 là 74.000 người. Thống kê 2010 cho thấy chỉ có 47,05% đã được cấp giấy phép lao động. Tình trạng “lạm phát cửu vạn nước ngoài” tất nhiên đi đôi với việc “thiểu phát việc làm phổ thông trong nước”.

Nói “tiếp tục” còn là bởi Bộ chủ quản vẫn nhất quán biện pháp quản lý thuần túy chỉ là việc “đưa ra các con số”.

Báo chí sau đó đã gọi đây là những lao động “chui”. Nhưng khi nó được thể hiện bằng các con số trong báo cáo thì rõ ràng không thể gọi là “chui” được.

Câu hỏi “tại sao”, 4 năm sau lời hứa của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB và XH trước QH không thể không đặt ra.

Từ năm 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 105/2003/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Đến năm 2008, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định 34 quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài tại Việt Nam. Và nghị định này được sửa đổi bằng Nghị định 46 năm 2011.

Cái thiếu không phải là thiếu luật, thiếu quy định.

Cái thiếu đằng sau những cái lắc đầu “Không biết”, “Không rõ” là thiếu trách nhiệm.

Còn nhớ hồi tháng 2-2010, báo chí bắt dính một vụ việc khá hy hữu trên đường phố Thủ đô khi một người nước ngoài bị CSGT dừng xe máy vì lỗi không đội mũ bảo hiểm. Người này sau đó đã dựng xe máy giữa đường, thản nhiên rút thuốc lá ra hút, mặc kệ sự bất lực của cảnh sát. Cảnh tượng chướng tai gai mắt chưa từng thấy nhưng cũng mang tính biểu tượng chưa từng thấy. Dường như ở Việt Nam, cho dù đến cả sự kiện hàng trăm công nhân Trung Quốc tấn công, đập phá nhà dân, thì xử lý người nước ngoài là hơi bị hiếm. Một khả năng lý giải do sự “bó tay” đang lan tràn trong việc quản lý, xử lý là do cơ quan chức năng không biết… ngoại ngữ. Hoặc họ còn mãi nghĩ xem đó là trách nhiệm của ngành nào. Nhưng đúng nhất là vì sự tự ti.

Đào Tuấn
Theo Đào Tuấn blog

TEPCO Nhật Bản dừng xuất khẩu hạt nhân

Tokyo, 28/06/2012 (AFP)- Bản tin ngày thứ Năm cho biết, Công ty Năng lượng Điện Tokyo đang dừng các kế hoạch xuất khẩu công nghệ nhà máy điện hạt nhân của mình vì đang gặp khó khăn trong việc giải quyết thảm nạn Fukushima.

Nhật báo Mainichi Shimbun nhận định, việc quay lái của một trong những cơ sở lớn nhất thế giới này có lẽ là một sự thất bại của chính sách thúc đẩy công nghệ hạt nhân, đã từng là một niềm tự hào của Nhật Bản.

Tờ báo viết tiếp, Điện lực Tokyo, được biết dưới tên gọi TEPCO, sẽ rút kế hoạch cung cấp và vận hành hai lò phản ứng hạt nhân tại một nhà máy ở Việt Nam.

Dự án này do công ty Phát triển Năng lượng Hạt nhân Quốc tế, có trụ sở đóng ở Tokyo thành lập năm 2010 bằng nguồn công quỹ, của các nhà sản xuất các máy móc hạng nặng, và các công ty năng lượng bao gồm TEPCO, để khuếch trương việc xuất khẩu năng lượng hạt nhân.

Cũng theo tờ Mainichi, vào ngày thứ Tư, ông Naomi Hirose, Chủ tịch TEPCO cho biết: “Các kỹ sư năng lượng của chúng tôi vẫn còn cần phải làm nhiều việc nữa để nhằm ổn định và gỡ bỏ các lò phản ứng” ở nhà máy Daiichi Fukushima bị hư hại.

Ông cho biết rằng “Hẳn là không thể” dừng lại các nhiệm vụ nội bộ và khuếch trương việc xuất khẩu.

Theo bản tin của Jiji Press, TEPCO đã dự kiến sẽ gửi các kỹ sư của công ty đến nhà máy điện của Việt Nam để vận hành và bảo trì trong khi nhận [huấn luyện] các kỹ sư Việt Nam tại các nhà máy điện của mình.

Công ty Phát triển Năng lượng Hạt nhân Quốc tế cho biết là họ chưa nhận được thông báo nào từ TEPCO cả.

Một quan chức ẩn danh cho biết: “Chúng tôi đã xác nhận với Điện lực Tokyo rằng sẽ tiếp tục hợp tác với dự án (Việt Nam)”.

Hiện tại vẫn chưa có một bình luận chính thức nào từ phía TEPCO về ý kiến này cả.

Tình trạng nóng chảy lò phản ứng do thảm nạn sóng thần ở Fukushima vào Tháng Ba năm 2011 đã đẩy Nhật Bản vào cơn khủng hoảng hạt nhân, vì các lò phản ứng bị rò rỉ đã gây ra nạn ô nhiễm đất nông nghiệp trên diện rộng và buộc phải di dời hàng chục nghìn người ra khỏi nơi cư trú.

Công việc dọn dẹp này phải cần đến nhiều thập niên, cùng với sự cảnh báo của các nhà khoa học cảnh báo rằng một số khu vực phải bỏ hoang.

TEPCO công bố con số thiệt hại khủng lên đến 781 tỷ Yên trong năm tài khóa tính đến tháng Ba, do các chi phí liên quan đến thảm họa, cũng như việc tăng nhập khẩu nguồn năng lượng trầm tích để bù lại sự thiếu hụt năng lượng hạt nhân.

Vào thứ Tư đã có một cuộc họp vượt tầm kiểm soát của các cổ đông đã biểu quyết quốc hữu hóa toàn bộ (effective nationalization) công ty.
Bản tiếng Anh:
Japan‘s TEPCO to drop nuclear exports
TOKYO, June 28, 2012 (AFP) – Tokyo Electric Power Co. is to abandon plans to export its nuclear power plant expertise as it struggles to cope with the Fukushima disaster, news reports said Thursday.

The turnaround by one of the world’s largest utilities would be a blow to Japan’s once-proud policy of promoting its nuclear technology, the Mainichi Shimbun daily said.

Tokyo Electric, known as TEPCO, will withdraw from a scheme to supply and run two nuclear reactors at a plant in Vietnam, the paper said.

The project is being undertaken by International Nuclear Energy Development, a Tokyo-based company set up in 2010 by public funds, heavy machinery makers, and power companies including TEPCO, to promote nuclear power exports.

“Our atomic power engineers still need to do a lot more to stabilise and decommission the reactors” at the crippled Fukushima Daiichi plant, TEPCO president Naomi Hirose said Wednesday according to the Mainichi.

“It is impossible” to abandon the domestic task and promote exports, he was quoted as saying.

TEPCO had been expected to send engineers to the Vietnam plant for operations and maintenance while accepting Vietnamese engineers at its plants, according to Jiji Press news agency.

International Nuclear Energy Development said it had not been informed of any change of plan by TEPCO.

“We have confirmed with Tokyo Electric that it will continue to cooperate in the (Vietnam) project,” said an official who declined to be named.

No immediate comment was available from TEPCO.

Tsunami-sparked meltdowns at Fukushima in March 2011 threw Japan into nuclear crisis as leaking reactors polluted vast areas of farmland and forced tens of thousands of people from their homes.

The clean-up is expected to take decades, with scientists warning that some settlements may have to be abandoned.

TEPCO posted a massive 781 billion yen net loss in the fiscal year to March on disaster-related costs, as well as increased imports of fossil fuels to make up for a nuclear power shortfall.

A boisterous shareholders’ meeting on Wednesday rubber-stamped the effective nationalisation of the company.

Thứ Năm, ngày 28 tháng 6 năm 2012

Dứt khoát Biển Ðông không phải là 'Ao nhà' của Bắc Kinh

Trong vài tuần qua, trước nguy cơ can thiệp cả chiều sâu và diện rộng của Mỹ, Nga và một số nước lớn trên thế giới, cùng với những phản ứng quyết liệt, thái độ dứt khoát của các nước ASEAN, nhà cầm quyền Bắc Kinh chuyển sang chiến thuật mới về ứng xử ngoại giao: “Giải pháp mềm”. Tuy nhiên, tuyên bố ứng xử theo phương sách mới, ngụy trang bằng khẩu khí hòng sử dụng chiến thuật “cây gậy và củ cà rốt” của TQ vừa thoát ra cửa miệng quen thói dối trá, thậm chí “chưa kịp gió bay”, thì ngày 21-6, Quốc hội VN thông qua Luật Biển. Đây là cú đau điếng mà TQ chưa thể ngờ tới, lâu nay cứ tưởng VN nghe mọi thứ răm rắp. Nhưng, TQ đã nhầm và quá chủ quan, cái gì cũng chỉ có giới hạn! Nhà cầm quyền TQ hãy thắp hương mà hỏi các đời vua thua trận ở VN mấy đời cố tổ xa xưa. Sẽ chẳng đem lại lợi ích gì khi coi thường và chọc giận Việt Nam. Không kìm được sự tức tối bởi lòng tham, Trung Quốc lại lộ nguyên hình “cá mập đầu búa trên Biển Đông”.

Nhà cầm quyền Bắc Kinh đã lồng lên phản ứng quyết liệt, đủ trò tung hô, gào thét bác bỏ Luật biển của VN, công bố thành lập thành phố Tam Sa để tăng thêm quyền lực cho việc quản lý HS-TS. Tiếp đến, ngày 23/6 điều mà cả thế giới “bật ngửa”, TQ trơ tráo kêu gọi đấu thầu 9 lô khai thác nằm sâu trong vùng 200 hải lý thuộc EEZ(vùng đặc quyền kinh tế) của VN theo UNCLOS. Sự khiêu khích và hành động trắng trợn ấy càng thể hiện cái chủ đích tham vọng từ lâu là coi Biển Đông là cái “ao nhà” của Trung Quốc. Do vậy, Trung Quốc đã thẳng thừng đưa ra những tuyên bố ngang ngược, coi thường Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hiệp quốc (UNCLOS),  không tôn trọng cam kết quốc tế, hùng hổ chà đạp lên cái gọi là phương châm“16 chữ vàng” và xổ toẹt quan hệ “4 tốt” mà chính lãnh đạo TQ đã giao kết với VN.

Biển Đông quyết không thể là cái “ao nhà” của Trung Quốc mà nhà cầm quyền Bắc Kinh lộng hành, tùy tiện muốn làm gì cũng được. Đó là thái độ dứt khoát của Việt Nam. Đó cũng là khẩu hiệu hành động kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển-đảo của Việt Nam.

Khi VN kiên quyết ra Luật Biển, TQ hậm hực, càng ráo riết tìm cách dấn tới để cô lập VN hơn nữa. Tuy TQ đã tuyên bố là “trỗi dậy hòa bình”, “hợp tác chặt chẽ thân thiện với ASEAN”, nhưng thực sự họ lại đang thực hiện tham vọng lãnh thổ, lãnh hải bằng nhiều hình thức, cả biện pháp đe dọa quân sự. Những hành động xâm phạm vùng biển VN như cắt cáp thăm dò địa chấn, phá hoại tàu Bình Minh 02, bắt cóc ngư dân bắt VN phải chuộc, nhiều lần cho tàu hải giám xâm phạm sâu vào vùng biển VN, cài người nuôi bè cá ở Cam Ranh, Vũng Rô, nay lại dấn lên trắng trợn rêu rao đấu thầu 9 lô mỏ dầu của Việt Nam.

Hành động của TQ đã vi phạm nghiêm trọng Tuyên bố về ứng xử của Các bên ở biển Đông và Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982. Trong tình huống ấy, bắt buộc chúng ta phải hành động đáp trả trước sự khiêu khích trắng trợn của nhà cầm quyền Bắc Kinh và bất cứ ai  theo chân của TQ xâm phạm chủ quyền lãnh hải của VN , không thể nhân nhượng yêu sách đòi QHVN bãi bỏ luật biển vừa được thông qua một cách phi lý. Ngày 26/6/2012, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lương Thanh Nghị nêu rõ: “Đây là hành động phi pháp và không có giá trị, xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia chính đáng của Việt Nam, vi phạm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 mà chính Trung Quốc là quốc gia thành viên, làm phức tạp tình hình và gây căng thẳng ở Biển Đông. Việt Nam cực lực phản đối và yêu cầu phía Trung Quốc hủy bỏ ngay việc mời thầu sai trái trên, không có hành động làm phức tạp tình hình ở Biển Đông và mở rộng tranh chấp, nghiêm túc tuân thủ Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)”.

Trước hết cần khẳng định khu vực mà Tổng công ty dầu khí hải dương Trung Quốc thông báo mở thầu quốc tế nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, đây hoàn toàn không phải là khu vực có tranh chấp về chủ quyền với bất cứ ai. Việc phía Trung Quốc ngang nhiên mời thầu quốc tế thăm dò và khai thác dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam là hành động hết sức ngang ngược và không có giá trị, xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia chính đáng của Việt Nam, vi phạm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 mà chính Trung Quốc là quốc gia thành viên, làm phức tạp tình hình và gây căng thẳng ở Biển Đông. Chiều 27-6, Petro VN đã tổ chức cuộc họp báo phản đối việc chào thầu dầu khí phi pháp của Trung Quốc, đồng thời khẳng định việc mời thầu tại các lô nằm trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là trái Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển, Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Đỗ Văn Hậu đề nghị các công ty dầu khí quốc tế không dự thầu. Trong vụ việc Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) mời thầu thăm dò - khai thác tại 9 lô trên Biển Đông, Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí, ông Đỗ Văn Hậu, cho biết: Đây cũng là lần đầu tiên một doanh nghiệp Trung Quốc công khai mời thầu hoạt động dầu khí tại vùng đặc quyền của Việt Nam. Mặc dù trước đó, bản thân CNOOC và PVN cũng đã có quan hệ với nhiều hợp đồng thăm dò, khai thác chung, trong đó có việc thăm dò chung vùng cấu tạo vắt ngang trong Vịnh Bắc Bộ.

Qua kiểm tra, xác minh tọa độ, PVN xác định tất cả các khu vực này đều nằm sâu trong thềm lục địa của Việt Nam. Khu vực rộng hơn 160.000 km2 này cũng nằm chồng lên các lô 128 - 132 và 145 - 156 mà PVN đã và đang tiến hành các hoạt động dầu khí lâu nay. Đây cũng là khu vực không có tranh chấp trên biển.

Theo lãnh đạo PVN, vùng biển phía Trung Quốc gọi thầu chỉ cách bờ biển Quảng Ngãi 76 hải lý, cách phía bắc Nha Trang 60 hải lý. Khoảng cách gần nhất đến vùng giữa Nha Trang và Phan Thiết chỉ là 57 hải lý. Vùng này cũng chỉ cách đảo Phú Quý 30 hải lý và là nơi được Petro VN tiến hành các hoạt động dầu khí từ lâu. Năm 2011, tàu Bình Minh 02 cũng bị tàu Trung Quốc cắt cáp trên vùng biển này. “Trong trường hợp phía Trung Quốc hoặc doanh nghiệp trúng thầu cố tình phớt lờ ý kiến của Việt Nam, PVN vẫn sẽ phản đối đến cùng”, ông Hậu quả quyết.

Hiện nay, tập đoàn PVN có 3 dự án thăm dò (chưa có hoạt động khai thác) với các đối tác nước ngoài là Gazprom (Nga), Exxon Mobil (Mỹ), ONGC (Ấn Độ) và một hợp đồng do chính PVN thực hiện. Lãnh đạo của PVN khẳng định, các hợp đồng này là phù hợp với luật pháp quốc tế, trên cơ sở quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam, do đó, sẽ tiếp tục được triển khai bình thường, bất chấp việc gọi thầu của phía CNOOC. Theo kế hoạch, sắp tới PVN sẽ mở rộng việc hợp tác, thăm dò, khai thác ở các khu vực hiện chưa có dự án. Các hội thảo, buổi làm việc với đối tác cũng sẽ được tiến hành bình thường.

 Rõ ràng, sự ra đời của Luật Biến VN từ lâu vẫn là cái gai lớn nhất mà Trung Quốc cố tình né tránh. Nay sự thể xảy ra theo đúng quy luật và nhu cầu của VN như vậy, TQ coi đó là một trong những lý do cấp bách khiến TQ gia tăng các hành động cơ bắp ở biển Đông, nhằm dọn đường cho hoạt động khai thác dầu khí vốn nằm trong chiến lược lâu dài của họ. Trước đó, ngày 23/5, sau khi Tổng Công ty Dầu khí ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC) chính thức khoan giếng dầu đầu tiên ở vùng nước sâu thuộc Biển Đông. Khu vực giàn khoan 981 hoạt động cách Hồng Công khoảng 320 km về phía Đông Nam (ngày 9/5),  TQ đã cho hạ thủy giàn khoan dầu lớn và hiện đại nhất của họ tại Thượng Hải. Nó sẽ giúp nâng cao năng lực khai thác của TQ, vốn lâu nay chỉ có giàn khoan hoạt động được ở các vùng biển sâu 500 mét. Theo Hoàn Cầu Thời Báo, việc triển khai giàn khoan dầu này sẽ  giúp TQ có một sự hiện diện mạnh mẽ hơn tại vùng biển chưa được khai thác ở nam phần Nam Hải, tức là biển Đông, và “nam phần Nam Hải” tức là vùng biển nam biển Đông, có thể thuộc quần đảo Trường Sa hoặc thậm chí xa hơn nữa về phía Nam, nơi TQ không có chủ quyền nhưng lại nằm trong phạm vi “đường lưỡi bò” đầy tham lam của họ. Đây chính là một bước đi nữa của nhà cầm quyền Bắc Kinh mong sớm hiện thực hóa tham vọng biến biển Đông thành “ao nhà”, mưu đồ vươn vòi bạch tuộc mà chính quyền Bắc Kinh đang ráo riết theo đuổi.

Việc Trung Quốc đẩy mạnh chương trình thăm dò và khai thác tại biển Đông không chỉ là hành động thách thức chủ quyền của các nước trong vùng mà còn đặt ra nhiều hệ luỵ nghiêm trọng. Dàn khoan dầu khổng lồ mà Trung Quốc dự định triển khai trên biển Đông chính là một pháo đài quân sự nguỵ trang và là công cụ hiện thực hoá yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, biến biển Đông cùng các tài nguyên của nó thành của riêng cho Trung Quốc. Với đà này, không ai hy vọng Tuyên bố DOC  hoặc là  bộ Quy ước hay COC sẽ được Trung Quốc quan tâm thực hiện nghiêm chỉnh. Và do đó, tình hính an ninh trên Biển Đông sẽ còn tiềm ẩn và bộc lộ nhiều bất ổn do Trung Quốc chủ động và rất muốn gây ra.

Những hành động trắng trợn, ngang ngược và bất chấp mọi sự như trên càng thể hiện tham vọng thâm căn cố đế từ trong máu của đại Hán  luôn tìm mọi cơ hội kể cả bằng vũ lực hòng biến biển Đông thành “ao nhà” của chúng. Trước thực trạng đó, một sự đoàn kết ASEAN sẽ khiến TQ mất rất nhiều lợi thế nước lớn và đâu dễ làm liều được mãi. Chính vì thế, TQ một mặt phản đối quốc tế hóa vấn đề biển Đông, một mặt gia tăng các hoạt động ngoại giao với từng nước riêng rẽ, mà một trong những mục đích của nó là phá vỡ khối đoàn kết ASEAN bằng cách gia tăng nghi kỵ giữa các nước trong khối, khăng khăng một mực đòi chỉ “đối thoại song phương”. Đó là chiến thuật “chia để trị”, như kiểu người ta tách bó đũa ra để dễ dàng bẻ gãy từng chiếc vậy. Việc cố tình thò dài “cái lưỡi bò”, cố tình “lấn sân” không ngán ai của Trung Quốc đối với Việt Nam và gần đây với Philppines khiến các nước ASEAN phải nhận diện rõ hơn bản chất tham vọng bành trướng muốn bao chiếm hết ít nhất 80% Biển Đông. Sự đoàn kết của các nước ASEAN trong lúc này cần phải thể hiện bằng hành động thực sự kiên quyết bảo vệ từng góc biển, từng hòn đảo, chứng tỏ cho TQ thấy rằng, dứt khoát Biển Đông không thể là cái “ao nhà” của Bắc Kinh.

Đại tá Bùi Văn Bồng
6/2012 

Bớ làng nước ơi, giặc vào đến tận trong nhà rồi

Chúng coi mình không ra gì, không thèm đếm xỉa đến chủ quyền lãnh thổ của mình, không thèm quan tâm đến sự phản đối của mình, chúng vứt vào sọt rác cái gọi là “tình hữu nghị truyền thống” mà mình đang hết sức nâng niu. Chúng là bọn lãnh đạo cộng sản Trung Quốc, là giặc, là quân láo xược. Khi chúng cố ý trêu tức, khiêu khích Việt Nam bằng hàng loạt những vụ việc liên tiếp trong thời gian rất ngắn (bắt tàu ngư dân Việt, ra lệnh cấm đánh bắt cá, đưa giàn khoan khủng vào vùng tranh chấp, lập thành phố Tam Sa, mời thầu khai thác dầu khí, thậm chí ngày 26.6 còn lên giọng phản đối việc VN ghép đặt quốc kỳ bằng gốm trên đảo Trường Sa lớn…) thì có nghĩa chúng đã đói lắm rồi, không ẩn mình chờ thời nữa. Dưới đây là một bằng chứng:
Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu khẳng định CNOOC đang mời thầu quốc tế 9 lô ngoài khơi Việt Nam là hoàn toàn trái với thông lệ quốc tế
Theo lãnh đạo PVN, vùng biển phía Trung Quốc gọi thầu chỉ cách bờ biển Quảng Ngãi 76 hải lý, cách phía bắc Nha Trang 60 hải lý. Khoảng cách gần nhất đến vùng giữa Nha Trang và Phan Thiết chỉ là 57 hải lý. Vùng này cũng chỉ cách đảo Phú Quý 30 hải lý và là nơi được PVN tiến hành các hoạt động dầu khí từ lâu. Năm 2011, tàu Bình Minh 02 cũng bị tàu Trung Quốc cắt cáp trên vùng biển này.
Xin xem kỹ, từ chỗ mà chúng coi như của chúng (9 lô) chỉ cách đảo Phú Quý có 30 hải lý, tức hơn 55 cây số, với ta thì đó là biển gần, ngay cả ngư dân ta đi đánh bắt cá cũng chỉ coi là vùng gần bờ. Nay thì rõ mấy thằng China nuôi cá bè ở vịnh Cam Ranh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thế nào.
Bản đồ chỉ rõ 9 lô dầu khí mà Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) mở thầu quốc tế hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam.

Tự dưng cứ chập chờn hình ảnh cha con An Dương Vương quất ngựa chạy vào đến núi Mộ Dạ khi đã muộn.
28.6.2012
Nguyễn Thông
Xêm thêm thông tin về việc này tại đây:
Bản đồ chỉ rõ 9 lô dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam
Petrovietnam phản đối CNOOC của Trung Quốc gọi thầu phi pháp

Thứ Tư, ngày 27 tháng 6 năm 2012

‘Sự ngạo mạn nguy hiểm của Trung Quốc’


Đưa tàu trở lại bãi cạn Scarborough, mời thầu dầu khí ở ngay trong thềm lục địa Việt Nam… cung cách ứng xử của Trung Quốc đang ngày càng nguy hiểm và ngạo mạn.
Bài viết “Sự ngạo mạn nguy hiểm của Trung Quốc” (China’s Dangerous Arrogance) đăng trên The Diplomat cho rằng việc Trung Quốc tìm cách độc chiếm vùng biển châu Á và đe dọa quyền tự do hàng hải quốc tế đang trở thành vấn đề không chỉ đối với các nước láng giềng.
Theo bài viết, thái độ quyết đoán của Trung Quốc về ngoại giao và quân sự rõ ràng được thúc đẩy bởi sự tự tin thái quá và khiến cho người khác cảm thấy vô cùng lo ngại, đặc biệt về tự do hàng hải.
Thái độ tự tin thái quá của Trung Quốc thường được thể hiện qua những tuyên bố của Hồng Lỗi, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc.
Khi Trung Quốc có nhiều ảnh hưởng, nước này càng trở nên quyết đoán hơn trong lĩnh vực ngoại giao. Thái độ quyết đoán này ngày càng gia tăng cùng với sức mạnh hải quân của Trung Quốc và khiến cho người ta tự hỏi liệu nó có biến thành ngạo mạn, đặc biệt ở Biển Đông.
Sự kết hợp giữa hoạt động hải quân ráo riết và các tuyên bố chủ quyền biển đảo của Trung Quốc cho thấy chỉ dấu đáng báo động: sự quyết đoán của Trung Quốc về đòi hỏi chủ quyền đang tăng lên nhanh chóng cùng với sự giàu có và nhận thức về quyền lực. Trung Quốc đang đi ngược với ý nguyện của cộng đồng thế giới, khi không chỉ muốn biến tây Thái Bình Dương thành “vùng cấm” đối với các thế lực bên ngoài mà còn coi vùng biển này là một phần trong phạm vi ảnh hưởng của nước này.
Điều này thể hiện rất rõ ràng trong thái độ của Trung Quốc đối với Biển Đông. Bắc Kinh đã từng ám chỉ Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc, giống như các khu tự trị Tây Tạng, Tân Cương và vùng lãnh thổ Đài Loan. Trên thực tế, Trung Quốc đã dẫm đạp khái niệm chung của cộng đồng quốc tế về tự do hàng hải, hàng không… trong một thế giới toàn cầu hóa. Trung Quốc đã thách thức các nguyên tắc của cộng đồng quốc tế về luật pháp, tự do đi lại và đặt mình ở vào vị thế đối đầu với Mỹ.
Đối với các khu vực nhất định, Trung Quốc hoặc độc quyền thống trị hoặc nói với các nước khác “đừng có can thiệp vào”. Trên thực thế, theo quan điểm của Trung Quốc, những khu vực này “không phải là của chung”. Trung Quốc coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” nhằm hạn chế cộng đồng thế giới thực thi những quyền chính đáng của mình theo luật pháp quốc tế.
Bắc Kinh tùy tiện tuyên bố chủ quyền đối với 80% diện tích Biển Đông và dành cho mình cái quyền kiểm soát các hoạt động hàng hải và nghiên cứu ở vùng biển này, chứ không chỉ kiểm soát đánh cá và các nguồn tài nguyên dưới đáy biển trong phạm vi cái gọi là các Khu vực độc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zones) của Trung Quốc. Nếu không bị phản đối, thái độ quyết đoán biến thành ngạo mạn của Trung Quốc sẽ dẫn tới nhiều rủi ro về luật pháp vì luật pháp quốc tế dựa trên những chuẩn mực đã được các nước công nhận.
Trung Quốc coi việc Mỹ hoạt động cái gọi là bên trong chuỗi đảo thứ nhất của nước này là xâm phạm chủ quyền. Bắc Kinh có cách diễn giải “ngược đời” về Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) cũng như thẩm quyền của nước này trong phạm vi các Khu vực độc quyền kinh tế EZZ, kể cả ở các khu vực đang có tranh chấp.
Sự kết hợp giữa chiến lược pháp lý với lực lượng hải quân của Trung Quốc cho thấy không giống như các bên tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông khác, Trung Quốc hậu thuẫn tuyên bố chủ quyền của họ bằng sức mạnh quân sự.
Minh Bích
Theo Đất Việt/The Diplomat

Gia đình Việt Nam và vài vấn đề cần báo động


Nhân ngày gia đình Việt Nam 28/6
Cùng với những thay đổi của các thiết chế xã hội qua nhiều thời kỳ lịch sử và những thay đổi về kinh tế, chính trị … ; những giá trị có tính nền tảng của một gia đình tại Việt Nam, theo dòng chuyển này, cũng thay đổi không ngừng. Đáng buồn là xu hướng thay đổi này dường như là tiêu cực và đáng báo động, đặc biệt là sự băng hoại nghiêm trọng về các giá trị đạo đức của một bộ phận không nhỏ người Việt Nam.
Chắc hẳn chúng ta vẫn chưa quên, tại huyện Lý Nhân, Hà Nam, chỉ để có tiền đi chơi game, đứa cháu Đinh Quang Vinh đã lạnh lùng dùng then cửa và ghế gỗ đập nhiều nhát vào đầu, trán bà nội rồi dùng chiếc kéo nhọn đâm tiếp vào vùng ngực trái của nạn nhân sau đó ung dung lấy 20.000đ chỉ để có tiền mua quà tặng bạn gái nhân ngày Giáng sinh, Phan Thanh Tùng ở thôn Quỳnh Đô, Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội đã nhẫn tâm giết chính bà nội của mình chỉ để cướp đôi khuyên tai trị giá 400.000 đồng, …
Trẻ con đã vậy, người lớn cũng không kém. Từ Trần Thúy Liễu rồi Cao Thị Liễu đốt chồng đến Nguyễn Văn Tuyên, Đinh Lệnh Tuấn giết vợ dã man …
Hàng trăm vụ việc cháu giết bà, con giết cha, vợ chồng giết nhau, anh em sẵn sàng sát hại nhau để tranh giành tiền tài, của cải, đất đai … như vậy đã xảy ra trong thời gian gần đây quả là một hồi chuông dài, nhức buốt đối với một xã hội văn minh. Cái gì là nguyên nhân, là những yếu tố khiến các giá trị tốt đẹp của mỗi gia đình thay đổi lạc lối đáng kinh sợ theo vòng xoáy bất trị như vậy trong xã hội Việt Nam hiện nay?:
 1. Một nền giáo dục thiếu định hướng:
Khi nền giáo dục luôn ở trạng thái loay hoay, thiếu định hướng, các giá trị cuộc sống không được chú trọng, xã hội lo chạy các loại “giấy chứng nhận tốt nghiệp mầm non”,  “giấy chứng nhận tốt nghiệp tiểu học”“giấy chứng nhận tốt nghiệp THCS”“bằng  tốt nghiệp THPT” … và hàng chục các loại giấy tờ, chứng chỉ, bằng cấp khác thì các bậc cha mẹ sẽ không ngần ngại chen lấn, xô đổ cả cổng trường để cố tìm cho ra các địa chỉ có thể bảo đảm con em mình sau này sẽ có được chúng. Những con số đẹp đến điếng người về tỷ lệ tốt nghiệp THPT gần đây của các trường, các địa phương vừa là nền tảng của quảng cáo giáo dục theo kiểumỳ ăn liền không nóng, không nổi mụn vừa là tiền đề luẩn quẩn cho mọi nổ lực cải cách giáo dục. Khi sinh viên đại học phải uể oải, thậm chí nằm gục xuống bàn đánh giấc sau khi điểm danh để bảo đảm mình đã hiện diện trong các lớp học, tham gia những môn học vô giá trị hoặc chỉ có những giá trị mờ ảo, không dành cho chính họ và chính thực tế cuộc sống của họ sau khi tốt nghiệp thì bản chất còn lại của nền giáo dục, ý niệm hướng đến chỉ là những tấm giấy vừa kể trên. Tình trạng ăn bằng cấp, ngủ bằng cấp, mơ cũng toàn bằng cấp, tử tự vì bằng cấp … đang ngồn ngộn như là một hiện thực đang chiếm gần hết thời gian, sức lực, trí tuệ, cảm xúc của các thế hệ thì những giá trị có tính nhân văn khác, kể cả những giá trị về các mối quan hệ trong gia đình, xã hội cũng khó có chỗ mà chen chân. Họ không được học cách để kiểm soát chính mình. Và, chẳng có gì để ngạc nhiên khi có những cơn mưa phao vần vũ vào các mùa thi ồn ào.
2. Ngồn ngộn những bất công:
Nói như Bill Gates: “Thế giới vốn không công bằng. Bạn biết điều này chứ? Dù bạn có nhận thấy sự bất công trong xã hội hay không thì cũng đừng hy vọng làm thay đổi được nó. Việc cần làm là hãy thích nghi với nó”. Ai đã dạy các thế hệ Việt Nam thích nghi với sự bất công? Lớp học nào trong hệ thống giáo dục Việt Nam dạy họ về điều này? Môn học nào, thực tiễn nào có thể mở ra cho họ một con hẽm để nhận diện sự bất công cho nên cơm nên khoai? Triết học về giai cấp? Giáo dục công dân? 5 bài học lý luận chính trị? Chủ nghĩa duy vật biện chứng hay duy tâm lạc lõng?…  Nhan nhãn trong thực tiễn cuộc sống là cảnh những cô chiêu cậu ấm không cần nổ lực vẫn có được những tấm giấy chứng nhận, vẫn có xe xịn, gái đẹp, vẫn có đầy tiền để chơi games, để tặng bạn gái những món quà mơ ước, vẫn không bị phạt khi vi phạm giao thông, vẫn là những bà chủ, ông chủ, giám đốc, tổng giám đốc tại các công ty, tập đoàn hoành tránh và danh giá … Và khi những nổ lực phải thức suốt đêm của các bậc cha mẹ để xô đổ cổng trường, nổ lực mài nhẫn đũi quần trong các trường học, nổ lực kiếm tiền chân chính bằng trí tuệ, kiến thức … của họ so ra không bằng và không giống ai cộng thêm khả năng thích nghi với sự bất công quá kém cỏi đã đẩy họ vào góc tối, sự tỉnh táo không còn, tuệ nhuệ trở nên bạc nhược thì tội ác diễn ra và nhiều giá trị tốt đẹp, kể cả những giá trị về gia đình dần bị đẩy lùi, nguy cơ tiến tới -∞ là điều phải cảnh báo.
3. Kỹ năng sống là thứ xa xỉ:
Nước Mỹ ngày 11/9/2011 hay nước Nhật sau sự kiện thảm khốc Fukushima đã cho cả thế giới một bài học vô giá về kỹ năng sống, cách vượt qua những thảm họa, sự kỹ cương, tình thương, tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng. Các thế hệ Việt Nam sẽ ra sao một khi xảy ra những thảm họa tương tự trong khi sẵn sàng giẫm đạp lên nhau để xin ấn đền Trần hay cảnh lợi dụng tai nạn để hôi lợn và típ sắt xe container ở địa bàn xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An vào ngày 06/05 vừa qua? Trường học hay xã hội sẽ dạy họ, truyền cho họ về những mất mát, đau thương của đồng loại? Cái gì giúp họ có thể liên hệ với chết chóc, đau buồn của đồng loại với chính những chết chóc, đau buồn của chính họ, giả hoặc với chính những người thân trong gia đình họ để có được sự cảm thông, chia sẻ, để họ có thể rơi nước mắt và hành xử một cách con người? Nước mắt khi đã không hề rơi khi họ hạ sát chính người thân của mình, đập vỡ chính sự sống và các mối liên hệ ngay trong ngôi nhà của mình thì nước mắt sẽ rơi ở đâu khi kỹ năng sống đối với họ luôn là những thứ xa xỉ, không thể với tới?
4. Ích kỷ sẽ là mồ chôn cho các giá trị tốt đẹp của gia đình và xã hội:
Trong bài diễn văn đọc tại nhà thờ lớn nhất thế giới đêm Giáng Sinh – nhà thờ St Peter (còn có tên là nhà thờ Quo Vadis), Đức Giáo hoàng Bennedict XVI nói về nhiều vấn đề, trong đó Ngài đặc biệt nhấn mạnh rằng sự tồi tệ hiện nay của thế giới phần lớn là do con người “chỉ chăm chăm nhìn vào quyền lợi cá nhân ích kỷ của chính mình”; và, vì thế, “biến chúng ta thành tù nhân của quyền lợi và khát vọng của mình”…
Từ ích kỷ của các nhóm lợi ích, ích kỷ về việc xác định tầm nhìn, ích kỷ về vai trò thủ lĩnh chính trị, ích kỷ về kinh tế, ích kỷ với cả sự tồn vong của của một hay nhiều cộng động, ích kỷ với cả sự tồn vong của dân tộc, nhân loại, ích kỷ để độc diễn kiến thức, ích kỷ để sinh danh, đẻ lợi, ích kỹ cuối cùng là để dẫn đến một kết cục thảm bại khó tránh. Sai lầm, xung đột, tệ nạn hay sự tha hóa về đạo đức, đồi bại trong tư duy, ác ôn trong hành động luôn tiềm ẩn những nguy cơ làm vỡ sự liên kết của xã hội nói chung và các gia đình nói riêng. Ích kỷ có thể lay lan, truyền nhiễm, ích kỷ có thể bị tiêm nhiễm cho nhiều thế hệ con người. Ích kỷ thậm chí còn thể hiện ngay cả trong game show Việt Nam Got Talent cớ đấy! Ích kỷ sẽ gây họa cho dân tộc, cộng động và dần dà vào tận các ngỏ ngách của hàng triệu gia đình.
 5. Phản biện xã hội bị đè nén:
Ngày 18/9/2007, bốn nông dân ở xã Vĩnh Thành gồm: Nguyễn Thuận Trưởng, Ngô Minh Phiện, Lê Văn Lương và Nguyễn Văn Vinh gửi đơn tới ngành chức năng tố cáo cán bộ xã Vĩnh Thành lập danh sách khống, rút hàng trăm triệu đồng tiền đền bù giải phóng mặt bằng công trình tỉnh lộ 70 (qua năm xã của huyện Vĩnh Linh) và Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng TW khẳng định, việc đấu tranh của bốn nông dân trên. Tuy nhiên, những nông dân dũng cảm và khảng khái này đang có dấu hiệu bị trù dập. Thầy giáo Đỗ Việt Khoa, người dũng cảm tố cáo tiêu cực thi năm 2006 ở Hà Tây cũng không tránh nổi cảnh bị trù dập. Vai trò phản biện xã hội của người Việt Nam rõ ràng đang có dấu hiệu bị đè nén. Đấy là một vài điển hình, xảy ra đối với một vài vấn đề nhỏ. Và còn bao nhiêu rường hợp, bao nhiêu vấn đề quan trọng khác liên quan đến giáo dục, đến kinh tế, chính trị, thực thi pháp luật, đến quốc gia đại sự mà ở đó sự phản biện đang bị đè nén? Bao nhiêu đứa con trong gia đình được thoải mái trình bày, được phản đối cha mẹ, ông bà, được được bày tỏ và được tôn trọng? Còn bao nhiêu ông bố bà mẹ một hai bắt con phải phải răm rắp làm theo sự sắp đặt của mình? Và, ngay từ trong gia đình, phản biện đã bị đè nén, tâm lý bị đè nén ngay từ trong trứng nước sẽ có dịp vỡ òa và thảm họa giá đình cũng đã xảy ra từ hệ lụy của nó.
Thực trạng vẫn đầy rẩy những tội ác, thảm họa nhưng đâu đó vẫn còn có những tấm gương về sự hiếu thảo, về tình yêu, về lòng nhân ái, những câu chuyện cảm động về gia đình. Tuy nhiên, liệu nó có được nhân rộng, nó có biến thành nhận thức chung nhất, nền tảng nhất của một xã hội văn minh hay chỉ là Cristiano Ronaldo của đội tuyển bóng đá Bồ Đào Nha trong mùa Euro 2012. Nếu thế thì đúng là thảm cảnh và người Việt Nam có thực sự hạnh phúc với tin “Người Việt Nam hạnh phúc thứ 2 trên thế giới”, rồi “Việt Nam là nước hạnh phúc thứ 2 trên thế giới” theo đánh giá của Quỹ Kinh tế mới (NEF) dựa trên chỉ số hành tinh hạnh phúc (HPI).
MỘT VÀI CON SỐ LIÊN QUAN
Công việc của người vợ và chồng khi kết hôn:
+ Lao động kỹ thuật: chồng: 25,7%; vợ: 20,8%
+ Lao động giản đơn: chồng: 57,4%; vợ: 73,6%
+ Nhân viên văn phòng/ dịch vụ: chồng: 3,3%; vợ: 4,1%
+ Không làm việc: chồng: 2,5%; vợ: 6,9%

Nơi ở của các cặp vợ chồng sau khi kết hôn:

+ Sống riêng hoàn toàn: 23,7%
+ Ở chung với gia đình chồng nhưng ăn riêng: 1,3%
+ Ở chung, ăn chung với gia đình chồng: 64,8%
+ Ở chung với gia đình vợ nhưng ăn riêng: 0,6%
+ Ở chung, ăn chung với gia đình vợ: 8,4%
Các hình thức khác: 1,1%
Ly hôn: 
+ Vợ đứng đơn ly hôn: 47%
+ Chồng đứng đơn ly hôn: 28,1%
+ Cả hai vợ chồng cùng đứng đơn: 13%
Nhóm tuổi càng cao, số lần kết hôn càng nhiều:
Nữ kết hôn lần 2 Nam kết hôn lần 2+ Nhóm tuổi 18-30: 0,8% + Nhóm tuổi từ 18-30: 0,7%
+ Nhóm tuổi 51-60: 4,8% + Nhóm tuổi 51-60: 5,6%
Nguyên nhân ly hôn: 
+ Mâu thuẫn về lối sống: 27,7%
+ Ngoại tình: 25,9%
+ Kinh tế: 13%
+ Bạo lực gia đình: 6,7%
+ Lý do sức khoẻ: 2,2%
+ Xa nhau lâu ngày: 1,3%
42.5% dân số là hộ độc thân (người từ 40 tuổi (nữ), 45 tuổi (nam) chưa từng có vợ/ chồng) trong đó chủ yếu là nữ. Nguyên nhân:
+ Không tìm được người phù hợp: 28,7%
+ Hoàn cảnh gia đình (đau ốm, neo đơn, kinh tế khó khăn…): 28,1%
+ Thích cuộc sống tự do: 12,6%
Mức độ hài lòng với cuộc hôn nhân:
(độ tuổi từ 18-60)
+ Rất hài lòng: 30,1%
+ Hài lòng: 62,4%
+ Phần lớn hài lòng: 6%
+ Phần lớn không hài lòng: 1,2%
+ Rất không hài lòng: 0,3%
(Nguồn: Kết quả điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006- Bộ VH,TT&DL)
Jalau Anưk
Theo Inrasara