Thứ Bảy, ngày 14 tháng 7 năm 2012

Ý kiến chuyên gia về vấn đề các vụ cưỡng chế

Ngày 25/5/2012, Thủ tướng có yêu cầu lãnh đạo tỉnh Hưng yên giải trình, báo cáo lại cụ thể quá trình cưỡng chế đất đại tại Văn giang, trong đó có việc lực lượng cưỡng chế gây thương tích cho người dân và nhà báo. Với tinh thần hưởng ứng Nghị Quyết HN TƯ 3, 4, 5 K XI, xin có một số thông tin để góp phần làm rõ thêm Về vụ cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang. Trên một số mặt chủ yếu sau đây.

Cũng như vụ cưỡng chế tại Tiên lãng, vụ cưỡng chế tại Văn giang tiếp tục vi phạm điều 40 của Luật đất đai 2003 nhưng lại lộ ra là một hoạt động có tổ chức, với quy mô lớn hơn, có bài bản đầy đủ hơn, hình thành một dây chuyền bảo kê rộng để có thể thực hiện cưỡng chế với sự chống đối thấp hơn của dư luận xã hội. Thực trạng đó phản ánh quy mô và tác động rộng lớn của “nhóm lợi ích”, đồng thời phản ánh một thực tiễn phổ biến trên thế giới là “có sự móc nối giữa lực lượng maphia của thế giới ngầm với một số cán bộ có thế lực của hệ thống chính quyền. Tuy nhiên trong việc này, có một kẽ hở nhưng không rõ nhóm lợi ích đã bịt chưa? Luật có kẽ hở để nhóm lợi ích có thể lợi dụng là tại khoản 1, điều 40 của Luật đất đai 2003 có ghi là “dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ”. Do đó phải rà soát lại là Chính phủ đã ban hành quy định nào chưa và theo đó, có thể liệt Ecopark vào danh mục dự án đầu tư lớn không ? Nếu không có văn bản quy định theo chiều hướng này thì việc tỉnh Hưng yên cưỡng chế thu hồi đất để giao cho Vihajico là hoàn toàn sai điều 40, khoản 2 của Luật đất đai 2003.
Có hoạt động hạn chế, vô hiệu hóa vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, thông qua hoạt động hạn chế vai trò của các phóng viên. Tại vụ Tiên Lãng, Thành phố Hải Phòng mới khống chế được hoạt động tuyên giáo, báo chí, truyền thông trực thuộc TP, sử dụng lực lượng tại chỗ, bao gồm cả lực lượng xã hội đen, để khống chế, hạn chế hoạt động của phóng viên. Thế nhưng đến vụ Văn Giang thì vừa có sự hạn chế các phương tiện thông tin đưa tin, vừa có tình hình lực lượng cưỡng chế lại đi tới hành hung, bắt giữ phóng viên, tức sự khống chế lại phát triển lên mức cao hơn.

Việc khống chế hoạt động của phóng viên còn thể hiện trong vụ cản trở phóng viên đến thu thập thông tin tại địa điểm Biệt thự giá khủng của con Bí thư Hải dương. Nói chung, không thể coi nhẹ hoạt động của “nhóm lợi ích BĐS nói riêng và nhóm lợi ích nói chung” trên lĩnh vực khống chế các phương tiện truyền thông.

Đặc biệt là với vụ án trang trại Phường Đồng tâm, TP Vĩnh yên (Vĩnh phúc) núp danh lập trang trại để nuốt biến đất trang trại thành nền biệt thự để kinh doanh. Sau gần 1 năm điều tra, ngày 14/10/2011, công an tỉnh Vính phúc đã có kết luận và đến 12/2011 đã ra lệnh truy nã Nguyễn Anh Quân là chủ mưu, đã kịp trốn ra nước ngoài. Nhiều báo, trang mạng điện tử đã kịp thời phản ánh và cung cấp thông tin về vụ này và, qua đó, phát hiện những khuất tất trong quá trình điều tra, kết luận và khởi tố. Trong hoàn cảnh đó, một số người có hành vi tiêu cực liên quan đến quá trình này đã phản công lại bằng gửi đơn tố cáo  báo điện tử tamnhinnet lên nhiều cơ quan và lãnh đạo Nhà nước, trong đó có gửi lên cả tới Chủ tịch nước. Đồng thời Lãnh đạo Báo,,Ban biên tập và phóng viên báo điện tử tamnhin nét bị đe dọa, qua mạng. Qua đó thì có thể thấy lực lượng khống chế phóng viện đã phát triển lên trình độ cao có thể sử dụng hệ thống mạng, dùng cả đến cơ quan công quyền chứ không còn ở những người có trình độ thấp như tại vụ Tiên Lãng, Văn Giang. Mặt khác, đã có Công an đến trụ sở của tamnhinnet để theo dõi tình hình dân đến tố cáo.

Qua các sự kiện chủ yếu như đã nêu ở trên, có thể sơ bộ kết luận là:

Từ sau vụ cưỡng chế trái pháp Luật tại Tiên Lãng, các nhóm lợi ích trên thị trường BĐS đã có phản ứng tích cực thúc đẩy cưỡng chế tại nhiều nơi. Do thấy các phương tiện thông tin đại chúng và dư luận không có phản ứng mạnh mẽ như đối với vụ Tiên Lãng nên, qua vụ cưỡng chế tại Văn Giang và qua việc các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh những khuất tất trong vụ xét xử vụ án trang trại phường Đồng Tâm, các nhóm lợi ích trên thị trường BĐS đã tích cực phản công, trước mắt là chĩa mũi nhọn vào giới phóng viên, báo chỉ để hạn chế thông tin đến với dư luận xã hội để họ dễ bề hành động.

Tình hình chính quyền thiên về lợi ích của chủ đầu tư, không quan tâm đúng mức đến lợi ích của công nhân cũng đã mở rộng đến tình hình không qua tâm đúng mức đến lợi ích của nông dân. Xu thế này không thể coi thường.

Do đó, quá trình đấu tranh trên lĩnh vực này phải là cuộc đấu tranh có tổ chức, có sự chỉ đạo khách quan của cơ quan có trách nhiệm thì mới có khả năng đối phó thành công trước sự phản công của các nhóm lợi ích trên thị trường BĐS.

Quá trình từ dự án Ecopark đến cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang

Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) được thành lập vào ngày 19/8/2003 và đến khi dự án Ecopark được Chính phủ phê duyệt thì quá trình này có một số đặc điểm chủ yếu sau :

Dự án Ecopark sử dụng 500 ha, vốn đầu tư 3.989 tỷ nên là dự án thuộc nhóm A, phải do Chính phủ phê duyệt. Do đó UBND tỉnh Hưng Yên có trình xin sự phê duyệt của Chính phủ.

Vì là dự án đổi đất lấy công trình nên thủ tục xem xét phải theo Quyết định 22/2003/QĐ-BCT. Thực hiện chức năng thẩm định, Bộ KH&ĐT có công văn số 3796/BKH/TĐ&GSĐT (18/6/2004) trong đó xác định “phương án đền bù giải phóng mặt bằng dự án chưa đảm bảo tính khả thi; hồ sơ pháp lý của chủ đầu tư, khả năng tài chính cho việc thực hiện dự án… chưa đủ, vi phạm Thông tư 04/2003/TT-BKH của Bộ hướng dẫn thảm định dự án đầu tư”.

Ngày 28/6/2004, Chủ tịch UBND tỉnh Hưng yên vẫn lập tờ trình 704/TT-UB gửi lên TTg xin cho thu hồi đất để giao cho chủ đầu tư là Công ty đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng.

Ngày 30/6/2004, Chính phủ có Quyết định 742/QĐ-TTg cho phép thu hồi đất (tức 1 ngày trước khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực).

Dự án Ecopark đã được sự ủng hộ của một số tổ chức trong và ngoài nước sau đây:

- Năm 2012, dự án Ecopark đã được trao giải thưởng Bất động sản châu Á-TBD tại Malasia.

- Công ty bất động sản Sevills (chuyên kinh doanh văn phòng, nhà ở thuộc loại lớn nhất nước Anh) đã tham gia giai đoạn I của Ecopark và, vào năm 2009, đã ký thỏa thuận với Vihajico để được độc quyền bán nhà tại Ecopark. Theo thông cáo báo chí của Sevillis thì Sevills đã nghiên cứu thị trường VN từ 1995, có đặt trụ sở tại HN và TP HCM,  đã tuyển đến hơn 800 nhân viên.

- Bristish University Việt nam (thuộc London Univercity) vào tháng 11/2011 đã ký hợp đồng với Vihajico để xây dựng trường Đại học Anh quốc tại Ecopark.

- Cũng trong năm 2012, Ecopark còn được Hội Kiến trúc sư VN trao giải thưởng kiến trúc xanh.

- Dự án Ecopark cũng tranh thủ được sự đồng tình của Bộ Công an nên Bộ đã cử lực lượng trực thuộc Bộ tham gia vụ cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang.

Sau khi xẩy ra vụ cưỡng chế tại Văn Giang,  GS Phạm quang Tuấn, công tác tại Úc, đã cùng 27 người khác ký tên vào một bức thư gửi lãnh đạo Đại học London (London University) đề nghị tác động đến lãnh đạo Bristish University Việt nam (thuộc London University) và lãnh đạo Công ty Sevills là hai tổ chức có liên quan đến dự án Ecopark để họ gây áp lực với chủ đầu tư Vihajico phải xin lỗi người dân và thực hiện đền bù thỏa đáng hơn. Viện phó Đại học London đã có thư trả lời GS Phạm quang Tuất cho biết sẽ nghiên cứu thêm về vấn đề này và thông báo là Bristish University Việt nam chưa phải là thành viên của Đại học London vì họ chỉ mới đang ký xin gia nhập Đại học London. (BBC Tiếng Việt, ngày 13/5/2012).

Theo Ông Bùi huy Thành, CVP UBND tỉnh Hưng Yên, trả lời phóng viên báo Tuổi trẻ, dự án khu đô thị-thương mại-du lịch Văn Giang (Ecopark) là một dự án đổi đất lấy công trình. Theo đó công trình mà tỉnh cần là tuyến đường từ chân cầu Thanh trì – Thành phố Hưng Yên, dài khoảng 22 km, trong đó có 5,3 km đi qua khu đô thị Ecopark. Để có được công trình đó, tỉnh chấp nhận đổi 500 ha đất cho Vihajico để xây dựng khu đô thị Ecopark. Do chủ đầu tư đã thực hiện việc xây dựng cơ sở hạ tầng tầng thuộc Huyện Văn Giang nên Tỉnh phải có trách nhiệm giao đủ đất thuộc dự án cho chủ đầu tư nên đã thực hiện việc cưỡng chế như đã triển khai.

Lực lưỡng cưỡng chế có quy mô lớn, có thể nói là chưa từng có. Tuy nhiên, thông tin đưa ra có những sai số cụ thể: (i) tin đưa về số lượng lực lượng cưỡng chế có tin là chỉ có 1.000 người nhưng cũng có tin đưa ra con số 3.000 người. (ii) tin đưa là lực lượng cưỡng chế chỉ sử dung 2 quả lựu đạn hơi cay để giải tán khoảng 300 người chống cưỡng chế. Nhưng lại có tin đưa ra là lực lượng cưỡng chế nổ súng bắn hơi cay mù mịt, có đánh đập người chống cưỡng chế. (iii) có tin 2 cảnh sát bị xây sát nhẹ vì trúng đá do người chống cưỡng chế ném nên đã phải đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Huyện. Ngoài ra còn khởi tố vụ án “chống người thi hành công vụ” để tạm giữ hơn 20 người dân.

Đại bộ phận những người bị cưỡng chế thu hồi đất là người dùng đất đó để sản xuất kinh doanh cây cảnh nên thu nhập cao, mức đền bù tuy đã được chủ đầu tư nâng lên nhưng không đủ bù đắp thiệt hại (Nhân dân 24/4/2012, trong bài “làm gì để bảo vệ 3,81 triệu ha đất trồng lúa” có đưa tin là trong năm 2009, thu nhập bình quân tính theo GDP/ha của đất trồng lúa là 9,1 triệu đồng trong khi đất kinh doanh phi nông nghiệp là 2,1 tỷ đồng, tức cao gấp 230 lần đất trồng lúa. Thông tin này cho thấy việc nông dân trồng cây cảnh không chấp nhận giá đền bù của chủ đầu tư là có căn cứ thực tế).

Trong quá trình thực hiện cưỡng chế, có hai phóng viên VOV của đài TNVN, Nguyễn Ngọc Năm và Hán Phi Long, được cử đi tìm hiều tình hình cưỡng chế tại Văn Giang vào ngày 24/4/2012 bị CA đánh và bắt đưa về Viện kiểm sát nhân dân Huyện Văn Giang.

Ngày 9/5/12, Hội Luật gia VN chính thức có công văn đề nghị Bộ CA, tỉnh ủy và UBND tỉnh Hưng yên làm rõ vụ nhà báo, luật gia Nguyễn ngọc Năm bị hành hung khi đang tác nghiệp tại Văn Giang.

Ngày 9/5/12, Ủy ban bảo vệ nhà báo, tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại New York đã lên án vụ hành hung 2 nhà báo tại Văn Giang.

Đài TNVN đã có công văn, ngày 9/5/2012 gửi Ban tuyên giáo TƯ, Bộ Thông tin truyền thông, Hội nhà báo VN và UBND tỉnh Hưng Yên yêu cầu làm rõ vấn đề. Chiều ngày 10/5/2012, Thiếu tướng Trần Huy Ngạn, GĐ CA Hưng Yên đã đến đài TNVN làm việc với lãnh đạo đài. Cùng tham dự có đại diện A87 (Bộ CA), VP đài TNVN, lãnh đạo trung tâm-tin đài TNVN và 2 nhà báo. Theo Ông Ngạn thì việc xẩy ra ngoài ý muốn của tỉnh. Tham gia cưỡng chế có CA của xã, huyện, tỉnh và một số CA của Bộ và dân phòng. Lãnh đạo đài TNVN khẳng định là Đài cử 2 phóng viên đi tác nghiệp tại đây và hoạt động theo đúng pháp luật. Do đó yêu cầu CA Hưng Yên nhanh chóng điều tra, xử lý nghiêm những người hành hung, bắt giữ 2 phóng viên của đại. Theo tin chính thức của VOV thì đã nhận được giấy mời của CA Hưng Yên, đến 16/5/2012 làm việc với tỉnh (gồm cả VP UBND tỉnh) để làm rõ vụ việc.

Liên chi hội nhà báo VOV có kiến nghị với Liên chi hội nhà báo VN, thông tin về vụ này và đề nghị có ý kiến. Ông Hà Minh Huệ, PCT Liên chi hội nhà báo VN cho biết vì mới nhân được thông tin một chiều nên chưa có thể nói quan điểm của mình, cần có thêm thông tin của phía tỉnh.

Chánh văn phòng UBND, Bùi huy Thành, tỉnh Hưng Yên yêu cầu làm rõ những căn cứ đánh hai nhà báo như đòi hỏi phải có bản gốc của video clip, chứng thực thương tích,…thì mới có thê có căn cứ kết luận. Cách đòi hỏi phải có chứng cứ cụ thể là đùng nhưng lại hạn chế vào những chứng cứ đó mà không đề cập đến những nhân chứng, vật chứng khác và bảo đảm cho các nhân chứng không bị chính quyền làm khó dễ. Do đó, trong chừng mực nhất định, yêu cầu của Ông Thành cũng thể hiện việc muốn áp đặt quan điểm của chính quyền. Clip các lực lượng cưỡng chế đánh người là rõ và có thể xác định những người thuộc lực lượng bảo vệ đánh người là ai, từ đó, làm rõ những chứng cứ cụ thể. Dù người bị đánh không phải là nhà báo thì đấy cũng là hành vi phạm pháp. Đánh nhà báo cũng là hành vi phạm pháp theo tội danh “chống người thi hành công vụ” là 2 nhà báo đó.

Tại Hội nghị trực tuyến về công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo do TTg chủ trì ngày 2/5, có mặt lãnh đạo của 63 tỉnh, thành, Bộ, ngành. Theo yêu cầu của PTTg Nguyễn Xuân Phúc, Phó CT UBND tỉnh Hưng Yên, Nguyến khắc Hào, báo cáo là việc cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang là theo đúng Luật đất đai. Sau 8 năm từ khi có quyết định thu hồi đất, tỉnh vẫn chưa hoàn thành việc giao đất cho chủ đầu tư do dân khiếu kiện liên tục….. Do đó tỉnh phải thực hiện việc cưỡng chế. Cho là trong vụ việc này, có sự móc nối chặt chẽ giữa các phần tử chống đối trong và ngoài nước, dựng video clip giả về việc lực lưỡng cưỡng chế đàn áp dân. Các phương tiện thông tin đại chúng nói ít trong khi phía bên kia phản ứng nhanh, đưa tin liên tục.

Trước ngày cưỡng chế, dân đã dựng lều, tụ tập để chống đối và CVP UBND tỉnh  Bùi Văn Thành đã yêu cầu các phóng viên không được có mặt tại nơi cưỡng chế để “đảm bảo an toàn tuyệt đối”

Một số nhận xét về quá trình trên.

Cho tới nay, chỉ mới có báo Người cao tuổi, ngày 24/4/2012 lên tiếng xác định cưỡng chế tại Văn Giang là sai luật đất đai.

Theo Luật đất đai 2003, điều 40, khoản 1 về thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế thì dự án Ecopark không thuộc phạm vi thu hồi đất để phát triển kinh tế mà là dự án sản xuất kinh doanh nên thuộc phạm vi điều chỉnh của khoản 2 “Đối với dự án sản xuất kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất”. Do đó quyết định cưỡng chế thu hồi đất của tỉnh là trái Luật đất đai 2003. Đặc biệt lưu ý là lãnh đạo tỉnh Hưng Yên cũng làm theo TP Hải Phòng trong vụ cưỡng chế tại Tiên Lãng là vận dụng Luật đất đai 1993 để biện minh cho việc cưỡng chế thu hồi đất. Theo điều 145 của Luật đất đai 2003 thì Luật đất đai 2003 thay thế Luật đất đai 1993 và Luật bổ sung một số điều được ban hành vào các năm 1998 và 2001. Vì thế nên lãnh đạo tình Hưng Yên không thể dựa vào các điều khoản của Luật đất đai trước đó để biện minh cho quyết định của mình là đúng luật, coi dự án Ecopark thuộc diện đề án có thể thi hành cưỡng chế theo điều 40, khoản 1 của Luật đất đai.

            – Dự án Ecopark là dự án đổi đất lấy công trình. Chủ đầu tư là Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) chứ không phải chủ đầu tư là UBND tỉnh Hưng yên. Do đó, đây là dự án đầu tư sản xuất kinh doanh, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt. Theo điều 40, khoản 2 của Luật đất đai thì nhà đầu tư phải tiến hành thương thảo với người đang sử dụng đất và chính quyền chỉ có thể đứng làm trung gian chứ không có quyền thu hồi đất cho nhà đầu tư.

Về nội dung của dự án Ecopark. Tổng diện tích đất giao cho dự án Ecopark là 500 ha và được sử dụng như sau:
            – 33,85% diện tích dùng để xây nhà ở.
            – 22,28% diện tích được dùng phục vụ thương mại.
            – 21,86% diện tích dùng để trồng cây xanh và mặt nước (phục vụ du lịch sinh thái).
            – 17,13% diện tích phục vụ giao thông.
            – 4,88% diện tích phục vụ quản lý công cộng của Ecopark.

Với cơ cấu sử dụng đất như vậy dự án Ecopark thực chất là dự án sản xuất kinh doanh (đầu tư xây dựng khu đô thị-thương mại-du lịch), thuộc phạm vi điều chỉnh của điều 40, khoản 2 của Luật đất đai 2003. Toàn bộ vốn đầu tư là thuộc Vihajico chứ không thuộc vốn từ NS của UBND tỉnh Hưng Yên. Nếu Vihajico chấp nhận đầu tư xây dựng đường giao thông từ Hà Nội về Hưng Yên để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông của tỉnh, theo tinh thần đổi đất lấy công trình thì, so với tổng mức đầu tư mà Vihajico bỏ ra, kinh phí đầu tư đó không lớn. Mặt khác, việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đó còn có tác động đến khía cạnh tạo điều kiện thuận lợi để khai thác Ecopark vì nếu không có giao thông thuận lợi đưa khách đến Ecopark thì Ecopark sẽ không có đầu ra và, do đó, không thể đảm bảo hiệu quả mong đợi. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nằm trong quy hoạch phát triển mạng lưới giao thông của Tỉnh và, về cơ bản, vốn đầu tư thuộc về ngân sách. Trong trường hợp này thì  UBND tỉnh có thể sử dụng phương thức cho Vihajico thuê một diện tích nào đó trong quỹ đất mầu mỡ của nông dân để giao cho Vihajico, qua đó thu về số tiền cần thiết để đầu tư xây dựng tuyến đường từ cầu Thanh trì đến TP Hưng Yên.

Từ đó, có thể nói là UBND tỉnh Hưng Yên thực hiện cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang vừa sai luật đất đai 2003, vừa phục vụ cho lợi ích của chủ đầu tư là chủ yếu chứ không phải phục vụ cho sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh (và phục vụ đời sống nhân dân Văn Giang) là chủ yếu vì công trình được dùng để cho Vihajico đổi lấy đất, về thực chất, còn để đảm bảo hiệu quả kinh tế của dự án Ecopark. Do đó đã buộc nông dân phải chấp nhận giá đền bù quá thấp do Vihajico đưa ra, so với phần lợi nhuận mà Vihajico thu được từ dự án. Để đánh giá đúng mức hơn sai lầm của vụ cưỡng chế tại Văn Giang của UBND tỉnh Hưng yên, cần đối chiếu với vụ thỏa thuận thu hồi đất tại ngã ba Tràng tiền-Hai Bà Trưng, đối diện với Trung tâm thương mại Tràng Tiền. Sự việc như sau:

Công ty cổ phần Thời đại mới T&T là chủ đầu tư của dự án thành lập Trung tâm Thương mại – Văn phòng cho thuê trên mảnh đất này.

Công ty phải thương lượng với người đang sử dụng căn nhà đó để xác định giá đền bù. Suốt thời gian dài hai bên không đi được đến thỏa thuận vì không thống nhất được giá đền bù nên không thực hiện được việc giải tỏa địa bàn để Công ty thực hiện đề án đầu tư của mình.

Trong trường hợp đó, lãnh đạo TP HN phải vào cuộc và cuối cùng hai bên đã thống nhất được giá đền bù là 500 triệu đồng/m2. Đấy là giá cao kỷ lục, vượt xa khung giá của TP đã ban hành. Như vậy không có chuyện UBND TP Hà nội cưỡng chế người dân phải nhận mức đền bù do Công ty đưa ra và cũng không cưỡng chế thu hồi đất tức đã thực hiện đúng điều 40, khoản 2 của Luật đất đai.

Trong khi đó thì tại Văn Giang, tuy UBND tỉnh Hưng Yên có tham gia vào quá trình thương thảo giá đền bù giữa hai bên nhưng người dân vẫn không chấp nhận giá do chủ đầu tư và UBND tỉnh thống nhất đưa ra vì quá thấp so với nguồn lợi mà người dân thu được từ sản xuất kinh doanh cây cảnh. Trong trường hợp này, UBND tỉnh Hưng Yên đã không tiếp tục làm theo đúng luật và tiền lệ đã hình thành tại Hà nội nên đã thực hiện cưỡng chế người dân trên hai bình diện chủ yếu : (i) Buộc người dân phải chấp nhận giá đền bù được chủ đầu tư và UBND đơn phương thống nhất. Qua đó, UBND đã đứng ra bảo vệ quyền lợi của chủ đầu tư, không tôn trọng quyền lợi của người dân. (ii) Thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất để giao cho chủ đầu tư nên đã vi phạm điều 40, khoản 2 của Luật đất đai.

Phải chăng từ đó, có thể kết luận là UBND tỉnh Hưng Yên vừa làm sai luật, vừa đứng về phía bảo vệ quyền lợi của chủ đầu tư, coi thường quyến lợi hợp pháp của người dân, không thể hiện đúng nhiệm vụ là đại diện của nhân dân, phục vụ nhân dân.

Qua vụ hành hung, bắt giữ 2 nhà báo, lộ ra thông tin chính thức là có cả lực lượng của Bộ CA tham gia vào cưỡng chế. Thực tế đó cho thấy việc UBND tỉnh Hưng Yên thực hiện việc cưỡng chế đã được sự đồng tình của cơ quan cấp TƯ, tổi thiểu là của Bộ CA. Trước đây, trong trường hợp vụ Tiên Lãng, Trung Tướng Phạm quý Ngọ, Thứ trưởng Bộ CA được cử tham gia vào vụ xét sử cưỡng chế tại Tiên Lãng, sau một đêm xem xét lại hồ sơ, đã tự điều chỉnh nhận thức, công nhận là cưỡng chế sai Luật để báo cáo với TTg. Đối với trường hợp cưỡng chế tại Văn Giang, lãnh đạo Bộ CA có xem xét sự kiện một các nghiêm túc, như Trung tướng Phạm Quý Ngọ, trước khi có quyết định ủng hộ tỉnh Hưng yên trong cưỡng chế tại Văn Giang không?

Quy mô của vụ cưỡng chế tại Văn Giang lớn gấp nhiều lần (có thể cả trăm lần) so với quy mô cưỡng chế tại Tiên Lãng. Thế nhưng dư luận xã hội và các phương tiện thông tin báo chí có thái độ ứng xử khác biệt. Tại vụ Tiên Lãng, các phương tiện truyền thông và tuyên giáo của TP và Huyện đều ủng hộ việc cưỡng chế thu hồi đất nhưng dư luận xã hội và các phương tiện truyền thông đại chúng đều lên tiếng phản đối một cách mạnh mẽ vả rộng rãi. Tại vụ Văn Giang, dường như dư luận xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng không có phản ứng gì rõ rệt và mạnh mẽ như tại vụ cưỡng chế tại Tiên Lãng. Tại sao có sự khác biệt đó? Phải chăng là từ sau vụ Tiên Lãng đến vụ Văn Giang, đã có những vụ cưỡng chế từ Bắc Giang đến Vụ bản nhưng dư luận xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng hầu như không lên tiếng như đối với vụ Tiên Lãng nên đã tạo cơ hội để thực hiện tiếp vụ cưỡng chế tại Văn Giang với quy mô lớn hơn?

Về việc PCT UBND tỉnh Hưng Yên đánh giá là có sự móc nối giữa các thế lực chống đối trong và ngoài nước để gây ảnh hưởng xấu đối với chính quyền thì cần lưu ý là tuy không có lệnh cấm phóng viên đến tác nghiệp trong vụ cưỡng chế tại Văn Giang nhưng CVP UBND tỉnh, Ông Bùi Văn Thành “đã yêu cầu các phóng viên không được có mặt tại đây với lý do đảm bảo an toàn cho phóng viên”. Thế nhưng thực tế lại cho thấy sự uy hiếp an toàn của phóng viên lại từ lực lượng cưỡng chế trong khi người dân chống cưỡng chế lại bảo vệ phóng viên.

Nhìn chung, không thấy có bằng chứng nào thể hiện vai trò của các thế lực chống đối trong và ngoài nước đứng ra tổ chức chống cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang, tuy chắc các thế lực đó lợi dụng vụ cưỡng chế này để xuyên tạc thêm. Trong thực tế, chỉ mớỉ có tác động từ bên ngoài là trí thức việt kiều, đấu tranh đòi hỏi các đối tác nước ngoài của Vihajico phải tác động trở lại với Vihajico chứ không phải kích động người dân đứng lên chống việc UBND tỉnh Hưng Yên thực hiện cưỡng chế tại Văn Giang. Nhưng lại có biểu hiện rõ ràng là trong thực tế, Vihajico còn tranh thủ (lobby) được ba tổ chức nước ngoài như đã nêu ở trên. Ngoài ra Vihajico còn tranh thủ được sự ủng hộ trong nước từ Hội kiến trúc sư VN và sự đồng tình của Bộ Công an để Bộ cử người tham gia cưỡng chế. Phải chăng Công ty đầu tư phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico) đã có hoạt động lobby trong và ngoài nước để ủng hộ đề án Ecopark ? Hoạt động lobby này có dừng lại ở các đối tượng trên không ? Phải chăng việc tranh thủ đó đã củng cố thêm quyết tâm của UBND tỉnh Hưng Yên để triển khai việc cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang ?

Theo Tạp chí Mặt trận Tổ Quốc số 105 tháng 7

Trông người mà ngẫm đến ta

Cuối tháng 6 vừa qua, tôi được mời tham dự hội thảo với chủ đề “Củng cố và phát triển mạng lưới đô thị Đông Nam Á” với sự tham gia của các nhà khoa học và các nhà quản lý đại diện cho tất cả các thành phố lớn của ASEAN.
Những tiết học và chương trình giáo dục thế này cần phải “phủ sóng” với tần suất cao hơn.
Sau phần khai mạc, một chuyện bất ngờ đã xảy ngoài chương trình nghị sự. Đó là khi GS Tereso Tullaos, một nhà khoa học nổi tiếng của Philippines, lên diễn đàn đọc thư của một số nhà trí thức và người dân Việt Nam gửi Tổng thống Philippines và đại sứ Philippines tại Việt Nam phản đối Trung Quốc lấn chiếm bãi cạn Scarborough và bày tỏ tình cảm ủng hộ Chính phủ Philippines. GS Tullaos vừa đọc thư vừa rơi nước mắt. Ngoài việc nhờ tôi chuyển lời cám ơn vì bức thư, ông đã lớn tiếng đặt câu hỏi tại sao khi Philippines gặp nguy khốn chỉ có Việt Nam và Philippines bày tỏ thái độ kiên quyết phản đối đường chín khúc, trong khi các nước khác trong khối Asean giữ thái độ yên lặng hoặc trung lập. Câu hỏi của GS Tullaos làm cho không khí hội thảo chùng xuống và có phần nặng nề, làm cho nhiều người ngượng ngùng nhìn xuống đất, nhưng nó đã phản ánh một thực tế, Asean chưa phải là một cộng đồng mạnh, thống nhất cao. Một số nước không có biển cho rằng đó không phải là việc của họ, một số khác vì lợi ích kinh tế nên đã không bày tỏ thái độ, một số khác nữa lừng khừng vì thiếu thông tin, trong khi làn sóng tuyên truyền của Trung Quốc quá mạnh mẽ.

Người dân yêu đất nước, người dân phẫn nộ trước sự lộng hành, lộng ngôn của Trung Quốc, nhưng tình cảm máu thịt đó không thể chỉ xuất phát từ trái tim mà cần phải được nuôi dưỡng bằng sự thật chân lý, bằng kiến thức và sự hiểu biết.
Trong vài tháng gần đây, nếu ai đến Trung Quốc hay có điều kiện xem báo chí, các chương trình trên truyền hình, radio của Trung Quốc phát đi bằng nhiều thứ tiếng khác nhau mới thấy Trung Quốc đang huy động có chủ đích toàn bộ sức mạnh của bộ máy truyền thông đại chúng với tần số, tần suất rất cao, dày đặc, phủ sóng rộng khắp để tuyên truyền về chủ quyền biển đảo của Trung Quốc. Thậm chí, nội dung này được mang vào cả trong các diễn đàn quốc tế, trong chương trình giảng dạy cho học sinh, sinh viên. Các học giả nổi tiếng của Trung Quốc hàng đêm lên truyền hình tung ra các luận điệu, trưng ra các bằng chứng lịch sử (văn bản, bản đồ, đồ cổ, hình ảnh) để nói rằng Biển Đông là của họ, đường chín khúc là phải đạo. Họ đã đạt được mục đích. Bằng chứng là hầu hết người Trung Quốc lục địa và người Trung Quốc hải ngoại đều hiểu rằng những gì Việt Nam, Philippines đang làm là không “phải đạo”, là “phi nghĩa” và chuẩn bị gây hấn với Trung Quốc. Hơn nữa, Việt Nam và Philippines còn đang mở cửa mời Mỹ quay trở lại châu Á để chà đạp lên các giá trị văn hoá, đạo đức truyền thống. Nhà cầm quyền Trung Quốc thành công trong chiến dịch tuyên truyền không chỉ với người bình dân mà cả với giới trí thức và phần nào thành công trên trường quốc tế. Cách đây mấy ngày, tôi báo cáo chuyên đề khoa học cho tám nghiên cứu sinh của Mỹ đến từ trường đại học California và nhận thấy họ hiểu quá sai lệch về những gì đang diễn ra ở khu vực Biển Đông.

Có một thực tế không phủ nhận được là truyền thông về vấn đề Biển Đông của ta rất yếu ớt. Rõ ràng chúng ta có chính nghĩa, có rất nhiều bằng chứng về lịch sử, địa lý, dân số và pháp lý về Hoàng Sa, Trường Sa nhưng thử hỏi bao nhiêu người dân được nghe, được thấy nó trên báo chí và đặc biệt là trên truyền hình. Người dân yêu đất nước, người dân phẫn nộ trước sự lộng hành, lộng ngôn của Trung Quốc, nhưng tình cảm máu thịt đó không thể chỉ xuất phát từ trái tim mà cần phải được nuôi dưỡng bằng sự thật chân lý, bằng kiến thức và sự hiểu biết. Ngay cả các trí thức Việt Nam nếu không được trang bị những kiến thức như thế rất khó nói trong các hội nghị, hội thảo quốc tế. Thật tiếc là những thông tin tối cần thiết như thế lại không được trình bày ngọn ngành hàng đêm trên truyền hình quốc gia (không phải như là một điểm tin hay một thông báo ngắn gọn). Lẽ nào vì thời gian phát sóng một giờ quá đắt, lẽ nào các nhà khoa học của chúng ta không tự tin và không đủ kiến thức?…

Bối cảnh quốc tế hiện nay cho thấy, đã đến lúc và không thể muộn hơn phải đẩy mạnh chiến lược truyền thông quốc gia và quốc tế một cách bài bản để toàn thế giới biết sự thật, từ đó tìm được sự quan tâm ủng hộ của những người có lương tri. Song song đó là việc giao nhiệm vụ cho các trường đại học, các học giả, các bộ ngành có trách nhiệm mang những thông tin này chuyển ra thế giới qua các kênh thông tin khác nhau. Và hơn hết, cần công bố cho toàn dân biết một cách tường tận và khoa học về Biển Đông. Đó chính là cách nuôi dưỡng tình yêu tổ quốc một cách có lý trí, chứ không đơn thuần chỉ xuất phát từ tình cảm.
TS Nguyễn Minh Hòa
Theo SGTT

Ông Nguyễn Thế Thảo bị Trung Quốc lợi dụng!?

Báo chí đưa tin chiều 13/7/2012, ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà nội đã phát biểu trước kỳ họp bế mạc của Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội.

“Về an ninh trật tự, ông Thảo đặc biệt lưu ý tình trạng tập trung đông người kéo về Hà Nội khiếu kiện có tổ chức theo chỉ đạo của đối tượng xấu. “Lợi dụng tình hình trên, các thế lực thù địch và số cơ hội chính trị đã kích động người dân, nhất là số người đi khiếu kiện ở các địa phương biểu tình để gây áp lực với chính quyền phải giải quyết những khiếu nại, yêu sách”, ông Thảo nói”.

Chủ tịch UBND Hà Nội cũng cho rằng trong các vụ tụ tập, biểu tình phản đối Trung Quốc, cũng có đa số là những người khiếu kiện đất đai bị lợi dụng để gây phức tạp về an ninh – trật tự”. (Không để dân bị xúi giục tụ tập biểu tình -Vietnamnet)

Lời phát biểu của ông Thảo có một ý cũ và một ý mới nhưng đều khó chấp nhận.

Nói về ý mới, ông Thảo cho rằng, vừa qua, những người nông dân khiếu kiện về đất đai bị lợi dụng tham gia vào cuộc biểu tình chống Trung Quốc để gây phức tạp về an ninh – trật tự.

Ai xúi giục, lôi kéo họ đây? Họ biểu tình chống Trung Quốc là trách nhiệm công dân của họ. Không thể nói những người dân oan không có tình yêu đối với Tổ quốc. Việc họ bị cướp đất, đi đấu tranh đòi quyền lợi và việc đi biểu tình chống Trung Quốc là hai chuyện khác nhau. Cảm phục những người nông dân vừa bị cướp đất, vừa bị đánh mà vẫn không quên trách nhiệm của một con dân nước Việt.

Còn ý cũ, vẫn là những luận điệu mà chính quyền, báo chí nói ra rả từ hơn một năm nay. Đó là việc gán cho những người biểu tình bị thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị lợi dụng, lôi kéo, kích động.

Nói thế, ông Thảo đã đứng ở vị trí bề trên mà nhìn xuống dưới, coi thường những người biểu tình. Ông làm như thể họ là những người không hiểu biết nên dễ bị lợi dụng, còn ông mới là người kiên định. Nói thế là ông đã xúc phạm đến họ. Họ không còn là bầy cừu để cho kẻ khác chăn dắt.
Xin hỏi ông, tại sao ông không lợi dụng họ mà lại nhường sân cho cái thằng vô hình nào đó. Trong tay ông có đủ hệ thống đảng và chính quyền đến tận tổ dân phố, một bộ máy tuyên truyền bằng báo chí, bằng hệ thống loa phường, bằng những buổi huấn thị, lên lớp công khai và cả một bộ máy cảnh sát, an ninh khổng lồ giám sát nhất cử nhất động của từng người dân. Vậy mà các ông lại không lợi dụng được họ mà để mấy thằng thù địch chẳng biết mắt ngang mũi dọc thế nào nó lợi dụng mất. Nói như vậy, có phải là ông đã thừa nhận là ông thua kém chúng nó không?

Và, khi ông nhận xét về những người biểu tình như thế, khi ông chủ trương không để dân bị xúi giục tụ tập biểu tình, ông có nghĩ rằng ông đang bị Trung Quốc nó lợi dụng không?

Người dân có đủ tai, mắt để nghe những lời nói phải, để nhìn xem ai là người làm được những gì cho họ và cho đất nước, ai là kẻ đang phá hoại đất nước, phá hoại cuộc sống và tương lai của họ.

13/7/2012
Nguyễn Tường Thụy

Thứ Sáu, ngày 13 tháng 7 năm 2012

Chiến tranh tâm lý

Được ba mua cho chiếc thuyền điều khiển từ xa, hai anh em Tèo và Tí hí hửng mang vào sở thú chơi. Tèo ỷ lớn, cứ giành chơi một mình. Tí tủi phận kiếm giấy báo xếp thuyền thả xuống nước, ai ngờ cũng bị Tèo điều khiển tàu đâm chìm nghỉm. Tí khóc nức nở: 

– Hu hu… Anh xấu quá, chơi kiểu gì kỳ vậy? 

Tèo thản nhiên đáp: 

– Tao chơi kiểu Trung Quốc! 

Hai anh em chơi một hồi đói bụng, kéo nhau vào quán. Tí móc túi lấy tiền mua hết cho phần mình, mặc Tèo đứng ngó. Tèo bực bội hỏi: 

– Ê, sao không mua cho tao ăn với? Hồi sáng ba cho tiền là cho chung cả hai đứa mà? 

– Tiền trong túi em là của em. Của ai nấy ăn! 

– Mày ăn kiểu gì kỳ vậy? 

– Em ăn theo kiểu Mỹ! 

Tèo nhăn mày ngẫm nghĩ rồi dụ khị: 

– Thôi, đừng ăn kiểu Mỹ nữa, nên ăn theo kiểu Trung Quốc hay hơn. 

Tí cảnh giác, nghi ngờ hỏi: 

– Thôi đi, anh chơi kiểu Trung Quốc lấy mạnh hiếp yếu, giờ tới ăn cũng muốn ăn giật hả? 

Tèo cười: 

– Bậy nè, ăn kiểu Trung Quốc nó khác với chơi… 

– Khác là khác làm sao? 

– He he, đó là thứ gì cũng ăn, dơ mấy cũng ăn, ăn cả tai heo bằng nhựa, bánh bao nhân bìa cáctông, trứng giả luộc bằng nước tiểu, nước tương làm từ tóc người, xúc xích có giòi… 

– Oẹ Oẹ! Anh nói làm em mắc ói quá, hết muốn ăn rồi! Thôi còn nhiêu đây, muốn ăn giộng gì thì nuốt hết đi! 

Người già chuyện
Theo SGTT

Nội chính sẽ đối đầu với tham nhũng chính quyền?


Không thể đẩy những chiến sĩ chống tham nhũng ra mặt trận với tư thế tay không vũ khí. Cần đến sự cộng hưởng của Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng cùng Ban Nội chính trung ương chăng?
Logic tham nhũng
Nói về tham nhũng trong hệ thống chính quyền – một chủ đề đã từ ít nhất 6 năm qua được coi là quốc nạn, có lẽ không cần nhắc lại những kết quả hoặc con số phòng chống mà vẫn bị giới chức trong Đảng đánh giá là “còn quá khiêm tốn”.
Điều dễ hiểu là đỉnh điểm của những vụ việc đã tưởng như đỉnh điểm trong quá khứ – vụ án Vinashin với con số thất thoát hàng trăm ngàn tỷ đồng cùng rất nhiều khuất tất vẫn chưa được làm rõ, có thể gián tiếp và cả trực tiếp liên đới với trách nhiệm một số quan chức nào đó, vẫn là một cái gai nhọn trong đồng tử xã hội.
Cũng ít nhất trong 6 năm qua, nếu tính từ thời điểm vụ PMU 18 “khép” lại, tham nhũng lại chính là logic tự thân của nó. Một khi những vụ án khổng lồ như Vinashin không được xử lý thấu đáo, hiển nhiên cái logic như thế đã hiện hình những vụ án khác như Vinalines.
Chỉ vào năm 2011, cụm từ “lợi ích nhóm” dường như mới chín muồi để được bật ra một cách công khai, và hơn thế nữa là logic của sự công khai này đã dẫn đến một khái niệm ghê gớm hơn nhiều: “Nhóm lợi ích”.
Năm 2011 cũng là thời gian đặc trưng cho một cuộc suy thoái kinh tế chưa từng có nhưng cũng không đáng có, với một trong những nguyên nhân chính gây ra nó là thực tế điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, dù vẫn được giới chức chính quyền cho là “linh hoạt và uyển chuyển”, nhưng lại làm cạn kiệt sức đề kháng của ít nhất một phần ba số doanh nghiệp. Tỷ lệ lạm phát – dù được cho là “tăng ở mức kiềm chế”, nhưng liệu có ý nghĩa gì khi tỷ lệ thất nghiệp thực tế chắc chắn đã khác xa với số liệu vài ba phần trăm của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội?
Đó cũng là bối cảnh mà cụm từ “nhóm lợi ích” được kết cấu thêm cái đuôi của nó: nhóm lợi ích ngân hàng. Trong nguyên năm 2011 và nửa đầu năm 2012, cụm từ này trở nên thịnh hành đến nỗi chỉ cần nhìn vào nó, người ta đã có thể hình dung ra hố phân hóa thu nhập giữa ngành ngân hàng và các doanh nghiệp khác lên đến ít nhất vài chục lần.
Logic điều hành chính sách kinh tế hoàn toàn có thể dẫn dắt logic đặc quyền và tiếp nối là đặc lợi. Ít nhất trong nửa cuối năm 2011, trùng với thời gian Chính phủ mới được hình thành, dư luận xã hội về cách hành xử thiên vị cho nhóm lợi ích ngân hàng là không hề nhỏ. Thậm chí, còn diễn ra quá nhiều phản ứng dư luận về những nhóm lợi ích bao cấp khác như Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng công ty kinh doanh xăng dầu Việt Nam – những địa chỉ đã được hưởng ưu ái đến bất thường, đầy nghi vấn và cũng luôn tiềm ẩn mưu toan đổ lỗ kinh doanh trái ngành lên đầu hàng chục triệu người dân đóng thuế.
Chưa bao giờ kể từ năm 1975 đến nay, logic tham nhũng lại hoàn thành “chức trách nhiệm vụ” của nó một cách “xuất sắc” như thế.
Kinh tế càng khó khăn, xã hội lại càng bị điêu đứng bởi nạn tham nhũng từ cấp cao đến tận cấp cơ sở, tạo nên một “mặt bằng văn hóa tham nhũng” chưa từng có tiền lệ, đẩy đất nước vào nguy cơ của một cơn hoạn nạn, mà nếu không được chỉnh đốn thật sự quyết liệt, sẽ không còn cơ hội nào cho niềm tin dân tộc hồi phục.
Không quá cường ngôn, như lời của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, tham nhũng và nhóm lợi ích sẽ gây ảnh hưởng vô cùng lớn đến sự tồn vong của chế độ.
Logic của chống tham nhũng
Phải làm gì để chống tham nhũng và các nhóm lợi ích đang không thèm giấu mặt?
Nguyện vọng của Đảng cũng là ý nguyện của dân. Không thể đẩy những chiến sĩ chống tham nhũng ra mặt trận với tư thế tay không vũ khí.
Nhưng một đất nước với 90 triệu dân lại không thể không có vũ khí. Một cách tương ứng, Đảng cũng luôn có và sẽ có vũ khí chống tham nhũng nếu những người lãnh đạo Đảng tỏ ra kiên quyết và biết cách hành động một cách thực chất.
Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng chính là vũ khí đó. Đó là một cơ chế và bộ máy có sẵn, chỉ là nên vận dụng nó như thế nào, phân định rạch ròi những nhân sự khách quan có quyền quyết định vận hành nó, và cuối cùng là cần tập trung hỏa lực của nó vào đối tượng nào mà thôi.
Trong một thời gian dài, Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng đã thuộc về Chính phủ. Lẽ tất nhiên cơ quan này phải được đảm trách và chỉ đạo bởi cấp thấp nhất là một phó thủ tướng. Còn người chịu trách nhiệm chính về hoạt động và kết quả của nó là Thủ tướng.
Kết quả cũng đã có, ít nhất trong 6 năm qua. Song như những đánh giá lặp đi lặp lại qua từng năm về mức độ “còn quá khiêm tốn”, rõ ràng cơ chế Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng trực thuộc chính quyền đã không thích ứng nhanh, đầy đủ trách nhiệm và cả công tâm với diễn biến tham nhũng – vốn đã tăng vọt theo cấp số nhân tại các cấp chính quyền thừa hành có điều kiện trực tiếp đụng chạm với người dân và doanh nghiệp.
Cũng bởi thế, việc Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng được chính thức đưa về quyền lãnh đạo và chỉ đạo của Tổng bí thư có thể được xem không chỉ như một sự kiện chính trị mà còn là một tín hiệu tốt lành về dân sinh.
Cùng với Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng, một vũ khí khác mà Đảng có thể dựa vào và có thể đạt được kết quả khích lệ nếu biết vận dụng – Ban Nội chính trung ương và hệ thống ngành dọc của cơ quan này.
Được tái lập sau một thời gian dài ngắt quãng, giờ đây đang có hơi hướng cơ quan nội chính sẽ được nhấn mạnh hơn, không chỉ về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc phòng mà đặc biệt là công cuộc chống tham nhũng.
Cần nhắc lại, trong thời gian trước khi Việt Nam mở cửa kêu gọi đầu tư nước ngoài, hệ thống nội chính đã có một vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống thanh sát của Đảng. Cơ quan này thường thể hiện rõ vai trò của nó tại một số thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng…
Còn vào giai đoạn mở cửa, một trong những minh họa tiêu biểu nhất về vai trò của cơ quan nội chính lại là thành phố Đà Nẵng.
Được coi là “môi trường đáng sống nhất cả nước”, một địa chỉ được bảo đảm an ninh trật tự và ít sắc màu tham nhũng, Đà Nẵng cũng ghi nhận sự đóng góp của một số cơ quan hệ đảng, mà theo Bí thư Thành ủy thành phố này – người được dư luận gần đây nhận định là “Hiện tượng Nguyễn Bá Thanh”, vai trò của Ban Nội chính là “rất cần thiết”.
Sự cần thiết ấy có tác động và ý nghĩa gì đối với hệ thống chính quyền đương nhiệm? Thời gian sẽ trả lời câu hỏi đó.
Viết Lê Quân
Theo DDSG

Trung Quốc gây hấn đưa 30 tàu cá đến Trường Sa

Lại thêm một hành vi gây hấn mới của Trung Quốc trên biển Đông. Lúc 10g ngày 12-7 (giờ Việt Nam), Trung Quốc xua 30 tàu cá đến khu vực gần đảo Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Số này được chia thành hai biên đội gồm sáu tổ nhỏ từ cảng Tam Á.
30 tàu cá Trung Quốc trên đường tiến ra Trường Sa -Ảnh: Chinanews.com 
Báo Tin Tức Trung Quốc nêu rõ mỗi tàu cá có trọng tải từ 140 tấn trở lên, chở được 15-16 ngư dân. Trong 30 tàu này có một tàu tiếp tế nặng khoảng 3.000 tấn cung cấp nước, nhiên liệu và các nhu yếu phẩm cho các tàu cá còn lại do thời gian đánh bắt kéo dài khoảng 20 ngày.30 tàu cá trên sẽ đánh bắt tại Đảo đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Ngư dân tỉnh Hải Nam mỗi năm thường tự tổ chức các đợt đánh bắt cá kéo dài khoảng một tháng, nhưng đây là lần đầu tiên có sự tham gia tổ chức của Hiệp hội ngư dân.
Nhật báo Trung Quốc cảnh báo: Những tàu lần này khác hẳn các tàu trước đây, khi được trang bị hệ thống định hướng và thủy thủ trên tàu rất chuyên nghiệp.
Rõ ràng Trung Quốc đang tìm cớ gây hấn khi Tân Hoa xã loan báo họ đã cử các phóng viên túc trực trên tàu cá để “liên tục đưa tin về hoạt động đánh bắt cá”. Tàu tuần tra và các căn cứ của Trung Quốc cũng được đặt trong tình trạng luôn sẵn sàng ứng phó với các “tình huống bất ngờ” có thể xảy ra để “bảo vệ” việc đánh bắt cá.
Tàu cá Trung Quốc tiến ra biển
Trong diễn biến khác, Chánh văn phòng nội các Nhật Bản Osamu Fujimaru cho biết Nhật Bản đã gửi thư phản đối thứ 2 đến chính quyền Bắc Kinh sau khi Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản (JCG) lại phát hiện một tàu tuần tra Trung Quốc ở gần quần đảo Senkaku hôm 12-7.
Theo báo Japan Times, tàu Ngư chính 33001 bị phát hiện vào sáng ngày 12-7 tại đảo Kuba nằm trong lãnh hải thuộc quyền tài phán Nhật Bản. Đến giữa trưa có thêm 2 tàu khác kéo đến đây.
Khi lực lượng tuần tra Nhật Bản tra hỏi qua điện đàm về mục đích xuất hiện của tàu Ngư chính 33001 tại khu vực này thì phía tàu Trung Quốc phản hồi rằng “đang giám sát vùng biển của Trung Quốc”.
Ông Fujimaru cho biết đơn vị bảo vệ bờ biển Nhật Bản đã được ra lệnh “duy trì cảnh giác cao độ và tiếp tục giám sát tình hình”.
Trước đó một ngày, Nhật Bản đã triệu hồi đại sứ Trung Quốc để phản đối việc Bắc Kinh điều ba tàu tuần tra gồm các tàu Ngư chính 35001, 204 và 202 đến gần quần đảo Senkaku ngày 11-7.
Hoàng Ngọc- Tấn Khoa
Theo Tuổi Trẻ
Phó chủ tịch UBND huyện Lý Sơn Phạm Thị Hương xác nhận, tình hình tàu cá Trung Quốc xâm nhập vào gần vùng biển gần Lý Sơn thì huyện đã biết. “Cụ thể bao nhiêu vụ thì huyện không nắm rõ”. Nhận xét chung của nhiều người cho rằng, thời gian qua tàu cá Trung Quốc gia tăng sự thâm nhập vào gần bờ biển miền Trung để đánh bắt hải sản. Ngư dân Dương Tân ở xã An Hải, huyện Lý Sơn nói cùng với tàu to và công suất lớn, tàu cá Trung Quốc thường đi chung hàng đoàn từ 30 – 50 chiếc trở lên. Theo dõi của ngành chức năng cho thấy, vùng biển từ thành phố Đà Nẵng – Quảng Ngãi, hiện có khoảng 100 tàu cá Trung Quốc lén ra vào đánh bắt hải sản. Khi gặp ngành chức năng Việt Nam hay các nước, các tàu cá này kết lại thành bè lớn, bảo vệ lẫn nhau hoặc tản ra, chặt lưới, thả vật cản tàu của ngành chức năng truy đuổi. (SGTT)
Xem thêm trên Dân TríSGTTTiền PhongGDVN; Thanh Niên

Điện hạt nhân – Hãy nhìn thẳng vào thực lực của mình

Đất nước chúng ta hiện đang trong một thời kỳ khó khăn chưa bao giờ thấy. Khó khăn về mọi mặt.
Không nói đến những đe dọa của kẻ thù phương Bắc đã đi tới những bước cực kỳ nguy hiểm trong cả một kế hoạch rất lớp lang của chúng nhằm thực hiện âm mưu cướp nuốt biển Đông, làm cho mọi tài lực vật lực của đất nước thế nào cũng phải dồn vào đấy để đối phó nếu như không muốn làm “đồng chí chư hầu”, cũng như sự quan tâm của giới tinh hoa phải tập trung vào nguy cơ tồn vong của Tổ quốc mà có khi bớt kịp thời tỉnh táo trước nhiều mối đe dọa đến từ nhiều phương diện khác của đời sống.
Ảnh chụp từ trên không nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi, ngày 24/03/2011, sau tai nạn động đất sóng thần. Reuters
Nền kinh tế của đất nước thực tình đang suy kiệt vì tham nhũng tràn lan. Hầu hết tập đoàn nhà nước đều bị các nhóm lợi ích thao túng làm thâm thủng nghiêm trọng, không tập đoàn nào không thua lỗ liểng xiểng. Những vụ động trời như Vinashin, Vinalines… thì phương cách giải quyết nhùng nhằng thiếu triệt để, bắt các ngân hàng phải xóa nợ cho những “quả đấm thép rỉ” ấy để có một con số “dễ ăn dễ nói” khi công bố với thiên hạ nhưng về bản chất vẫn không có gì thay đổi, cuối cùng khốn khó lại chồng lên đầu người dân, đẩy họ đến tình cảnh phải chạy ăn từng bữa trong đời sống hàng ngày. Các ngân hàng cũng đang trong một cuộc cạnh tranh khốc liệt thôn tính lẫn nhau, nợ xấu ngân hàng, nợ xấu nhà nước đều đến mức báo động. Hàng trăm doanh nghiệp đã phải ngừng hoạt động vì thua lỗ. Chỉ số CPI lên cao ngất ngưởng.
Trong khi đó, hầu như không một dự án đầu tư lớn nhỏ nào không “rủi ro về kỹ thuật”, từ những hạng mục hoành tráng dành cho kỷ niệm nghìn năm Thăng Long bây giờ kiểm lại nhiều hạng mục không thể đưa vào sử dụng, đến những đoạn đường cao tốc trọng yếu vừa làm đã nứt lún, rồi những nhà máy lớn như Dung Quất chạy cà rịch cà tàng, nhiều lần phải ngừng để “duy tu”, cho đến một đập thủy điện cỡ nhỏ như Đập sông Tranh 2 mà vừa xây nước đã thấm như lỗ cống khiến nguy cơ tai họa treo trên đầu hàng vạn người dân.
Tất nhiên, tình trạng kỹ thuật kém cỏi chính là bắt nguồn từ tham nhũng mà ra. Tham nhũng nên mua lấy các dây chuyền công nghệ lạc hậu (nhất là dây chuyền thải ra từ ông anh 4 tốt nhằm lũng đoạn toàn diện và từ trong bề sâu nền công nghệ của nước mình), mua lấy các máy móc, vật tư phế thải của nước ngoài đem về “tân trang” lại. Cũng có thể nghi ngờ một phần không nhỏ ngân sách mua vật liệu, ngân sách thiết kế, thi công đã chui hết vào túi các quan nên đâu còn cái gì đạt chất lượng như kế hoạch “quy mô”, “to tát” mà các vị chủ đầu tư từng thuyết “như sấm động” khi bắt đầu trình nhà nước thông qua dự án. Còn mọi  khâu thanh tra giám sát thì lại chẳng có gì làm được triệt để. Nhiều công trình cứ gọi là vận hành nhưng vẫn không ai dám đoán trước đến bao giờ thì sự cố sẽ phát sinh.
Trong một tình trạng bi hài như thế, ngành giáo dục, nơi cung cấp con người cho công cuộc công nghiệp hoá, khốn thay, lại là một đe dọa đối với tương lai của lớp trẻ. Sự yếu kém về chất lượng của giáo dục đã xuống gần đến đáy. Trường đại học mở ra nhan nhản nhưng khối trường ở nhiều tỉnh có đầu vào mà không tính được đầu ra. Lãng phí xây trường, lãng phí tiền học không biết bao nhiêu rồi đến khi ra trường lại phải lếch thếch trở về làm người cày ruộng, hoặc chạy vào Sài Gòn, Bình Dương xin làm công nhân cơ bắp.
Phác qua một vài nét để chúng ta thấy cho hết thực chất tình hình công nghiệp nước ta đang đứng ở trình độ nào. Ấy vậy mà từ mấy năm qua, bao nhiêu mộng tưởng đã được đắp xây trong đầu nhiều vị chấp chính mới  kỳ vĩ làm sao, giống như những tòa lâu đài được dựng trên những sa bàn hoặc vẽ lên rất đẹp trong bản vẽ vi tính của ngành kiến trúc.
Xin được đơn cử một vài việc.
Nào là “làm tàu cao tốc”.  Có người đã từng đứng trước Quốc hội ngẩng cao đầu nói “Yên tâm làm tàu cao tốc đi. Với đà tăng trưởng hiện nay, đến 2020, GDP sẽ đạt gần 300 tỷ USD; 2030 là 700 tỷ USD; 2040 đạt 1.200-1.400 tỷ USD và đến 2050 sẽ gấp đôi số đó. GDP bình quân đầu người đến 2050 dự kiến lên 20.000 USD, thay vì mức hơn 1.000 USD hiện nay. Nếu cứ lấy ngưỡng an toàn vay nợ là 50% GDP, đến 2020, ViệtNamcó thể vay 150 tỷ mà vẫn an toàn”.
Nào là “khai thác bauxite”. Có người đã hung hăng chửi bới nhân sĩ trí thức đưa kiến nghị dừng khai thác bauxite ở Tây Nguyên từ 2009 là “ăn phải bả của bọn thù địch”, đòi ngăn cản một dự án thế nào cũng lãi to. Ngay cả khi vụ bùn đỏ ởHungarybục ra rồi mà người ta còn nói cứng “Từ nay đến năm 2010, giá alumin sẽ dao động từ 350 đến 650 USD/tấn. Còn về nhu cầu thị trường, trong vòng 10 năm tới, thế giới sẽ cần từ 20 đến 40 triệu tấn alumin. Đối với 2 dự án ở Tây Nguyên, sau khi đã tính hết các chi phí, thuế và kết quả, dự án sẽ vẫn có hiệu quả khoảng từ 14 -20%”.
Vân vân…
Những kế hoạch hết sức huy hoàng chỉ có trong tưởng tượng của các vị, rốt cuộc đã lần lượt bị thực tế –  từ nước ngoài dội đến – “quật” cho những cú chát chúa, hoặc kế hoạch nào cứ “cố đấm ăn xôi” thì hiện đang phải trả những cái giá mà người thực hiện đều biết rõ nếu nói ra là “há miệng mắc quai”, nên mãi đến nay vẫn cứ ấp a ấp úng. Ấy vậy mà những cái đầu nóng rực vẫn cứ tiếp tục nóng, vì khoản vay nước ngoài rất hời hay vì gì không biết, từ vài năm lại đây lại thấy nẩy nòi “Dự án xây hai nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận”. Sau tai họa Fukushima của nước Nhật làm cả thế giới thất điên bát đảo, tại Hội thảo An toàn nhà máy điện hạt nhân và dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, diễn ra vào cuối tháng 11 – 2011 ở thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, người ta vẫn khăng khăng kết luận: “Các nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận được xây dựng trên cơ sở các lò phản ứng nước nhẹ VVER thế hệ thứ 3 và 3+, có hệ số an toàn rất cao, theo thiết kế của Nga”. Một ông Tiến sĩ Nga, ông Alexander Kukshinov, Trưởng phòng quan hệ quốc tế của Công ty Atomstroyexport (Nga) cũng trấn an quan chức nhà nước và người dân Ninh Thuận trong Hội thảo đó: “Sau sự cố nhà máy điện hạt nhân Fukushima, những cuộc thử nghiệm ứng suất của lò phản ứng VVER đã đảm bảo mức độ an toàn theo thiết kế của các nhà máy điện hạt nhân Nga, chứng tỏ khả năng chống chịu các tác động bên ngoài mang tính thảm họa”.
Vâng, trong lòng người dân Việt Nam liệu có một ai có thể thờ ơ không ngày đêm cầu khấn mong cho dự án Ninh Thuận sẽ không gặp phải một “trục trặc kỹ thuật” chết người nào, bởi vì nếu gặp phải trục trặc thì chưa nói đến cái gì sẽ ập lên đầu người Việt ở Ninh Thuận và cả ở đồng bằng sông Cửu Long, chắc chắn cả một dân tộc Chăm anh em ruột thịt với người Kinh đang cư trú yên bình ở Ninh Thuận mấy trăm năm nay sẽ… bị xóa sổ. Nhưng cầu mong là một chuyện còn sự thật đang là ẩn số trong tương lai thì lại là một chuyện hoàn toàn khác. Các ông người Nga khẳng định đầy quả quyết như ta thấy đấy, song các ông có chịu ngoảnh nhìn lại quá khứ việc xây điện hạt nhân của mình như thế nào hay không?
Với quan điểm hãy nhìn thẳng và nhìn cho kỹ vào thực lực mọi mặt của đất nước hôm nay – mặt bằng kỹ thuật, trình độ con người, đạo đức xã hội, cơ chế quản lý… – thêm vào đấy là những hiểm họa cận kề từ bọn bành trướng phương Bắc đòi hỏi phải nâng sức đề kháng và cố kết lòng dân, chúng tôi vẫn quả quyết cho rằng nước Việt Nam chúng ta tuyệt nhiên chưa nên ôm lấy một dự án vượt quá tầm với về mọi mặt.  Hãy dừng lại Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận khi mọi chuyện đang còn xoay trở kịp.

Bảo vệ ngư dân là bảo vệ chủ quyền

Trung Quốc vừa cướp 3 tàu, toàn bộ ngư cụ của 6 tàu,  hải sản  đánh bắt được, tất cả trị giá hơn 4 tỉ đồng. Ngư dân ta đã bị lực lượng Kiểm ngư của họ dùng dùi cui điện, còng tay, uy hiếp bắt giữ. Thuyền trưởng Võ Quốc Việt hạ cần tăng ga chỉ vì sợ hỏng máy, đã bị đấm thẳng vào mặt ngã nhào. Chúng phơi nắng anh em ta, mỗi ngày chỉ cho nấu cơm một lần vào buổi  chiều. Tất cả phải lăn tay vào biên bản về “tội xâm phạm lãnh hải Trung Quốc”(?) trước khi thả về. Và giờ đây, trước mắt những người vừa trở về  là câu hỏi: Làm sao  trả được vốn vay mua tàu, ngư cụ đã bị cướp sạch? Làm sao tiếp tục ra khơi, bám biển đây? Cả nước phải có trách nhiệm cùng với ngư dân trả lời những câu hỏi ấy!
Toàn dân đã nhiệt liệt hoan nghênh Luật Biển Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21-6-2012, phạm vi bao gồm quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa. Tinh thần của Luật này là, Nhà nước, cùng mọi tổ chức yêu nước và toàn thể nhân dân có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển. Khuyến khích đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ  khai thác, phát triển kinh tế biển và đảm bảo yêu cầu quốc phòng, an ninh. Trong tình hình Trung Quốc đơn phương gây hấn trên Biển Đông, ngư dân không chỉ là lực lượng đi đầu hoạt động khai thác thủy sản mà còn có vai trò khẳng định chủ quyền biển đảo. Hàng ngày có 10.000 tàu đánh cá giương cờ đỏ sao vàng ra khơi. Họ là những dân binh không có vũ khí, chỉ có trái tim nóng hổi dòng máu Việt, dám làm “cột mốc sống” trên lãnh hải thiêng liêng. Do đó, bảo vệ ngư dân có ý nghĩa là bảo vệ chủ quyền quốc gia. Tất cả 90 triệu người Việt Nam cần  hiểu rõ ý nghĩa ấy để  tích cực làm mọi việc vì ngư dân, vì đất nước.

Trong  thời gian ngắn, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam đã tổ chức Nghiệp đoàn Nghề cá ở khắp  các vùng tập trung ngư dân; Đã vận động Phong trào Tấm lưới nghĩa tình giúp ngư dân. Mới đây, Liên Đoàn Lao Động TP HCM  kêu gọi cơ quan, doanh nghiệp, cán bộ, CNVC, LĐ hưởng ứng phong trào nói trên, đóng góp tiền của nhằm giúp cho ngư dân Hoàng Sa, Trường Sa khắc phục khó khăn do Trung Quốc cướp tàu, đòi tiền chuộc. Nhiều ngư dân lâm nạn đã được cứu trợ. Ngư dân Mai Phụng Lưu, người được mệnh danh là “sói biển”,  bốn lần bị cướp tàu,  được quỹ Tấm lưới nghĩa tình trao tặng khoảng tiền cao nhất là 200 triệu đồng. Anh hết sức cảm động, hứa sẽ không bao giờ rời biển, bỏ nghề, dù số tiền đó chưa thấm vào đâu so với số bị thiệt hại. Không phải riêng Mai Phụng Lưu mà, nói chung cho đến nay sự giúp đỡ đều chưa đủ bù thiệt hại  về vật chất cho  bà con, huống hồ nhiều người còn phải hi sinh cả tính mệnh! Vây xin đề nghị:

1 – Cần mở rộng  sự giúp đỡ ngư dân thành phong trào của  cả nước, bao gồm mọi giới, mọi ngành, giống như phong trào “Vì miền Nam ruột thịt” thời chống Mỹ. Nên có quy chế hỗ trợ cho ngư dân thực sự bị cướp tàu và ngư cụ, một số tiền tương đương với mức tổn thất để họ có thể nhanh chóng tiếp tục hành nghề.

Đề án xây dựng lực lượng Kiểm ngư của  Bộ NN và PTNT cần được khẩn trương xúc tiến và hoàn tất, để ngư dân có chỗ dựa, yên tâm trên vùng biển nước nhà.

2- Trong khi, ta chưa giải quyết được những tranh chấp phi lý của Trung Quốc về chủ quyền biển đảo, có thể vận dụng những  thực tế sau đây để tạm  giàn xếp với họ:

Trung Quốc vẫn  thường xuyên đưa hàng trăm tàu cá vào sâu trong lãnh hải chúng ta, đến sát đảo Cồn Cỏ (Quảng Bình). Ta chỉ xua họ ra, không bắt, cũng không phạt. Ít nhất ta tổ chức cuộc gặp, đòi họ đối xử tương tự như vậy đối với ngư dân ta. Ta và Thái Lan từng  phối hợp cùng tuần tra các ngư trường, đã  tránh được những va chạm căng thẳng. Vậy ta có thể đề nghị phía  Trung Quốc cùng tuần tra như thế? Cuối năm 2011, Malaisia và Indonexia đã thỏa thuận: khi tàu cá hai bên xâm phạm lãnh hải của nhau thì chỉ xua đuổi, chứ không bắt bớ. Hoàng Sa là của Việt Nam bị  đánh chiếm, họ càng không được bắt bớ. Giữa ta và Trung Quốc từ ngoại giao đến quốc phòng đều có đường dây nóng (riêng hải quân hai bên cũng đã thiết lập đường dây nóng),vậy  không có lý gì để họ muốn làm gì thì làm mà phía ta cứ im lặng ?
Tống Văn Công

Người Ếch- những lời trấn an và “hiện thực 5 ngàn đồng”

Hình như tất cả những loại bệnh tật, của những người không chịu nổi giá kịch khung của viện phí hoặc sự phi mã của giá thuốc đều được coi là “lạ” cả.
Tháng 5-2012, Báo cáo Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) đưa ra một con số kinh ngạc về số tiền mà người dân một tỉnh miền núi phải “chi ngoài quy định” cho y bác sĩ: 5 ngàn đồng. Nói kinh ngạc là bởi số tiền “lót tay” 5 ngàn đồng cho thấy đời sống cán bộ y tế ở cơ sở đang ở vào tình trạng rách rưới, đến mức ăn cả vào sự túng quẫn đến thảm hại của những người bệnh. Và đôi khi, vì rách rưới, hoặc khó khăn- người ta rất dễ chặc lưỡi cho những “bàn tay dưới gầm bàn”.

Nhưng “nỗi khổ 5 ngàn” chưa phải là tất cả. Báo chí ngày hôm qua đã công bố một phát hiện: Càng là các tỉnh nghèo thì càng muốn thu viện phí ở mức “kịch trần”. Cụ thể: 14 tỉnh thành áp dụng từ 80-90% khung viện phí. 16 tỉnh thậm chí đề xuất áp dụng mức 90-100% mức kịch khung viện phí.

Chẳng hạn như ở tỉnh miền núi Lai Châu. Những người dân có thu nhập bình quân 10,5 triệu đồng (năm 2011), chỉ bằng 1/3 mức bình quân chung cả nước sẽ phải trả viện phí ngang với mức kịch trần của một bệnh viện hạng đặc biệt. Nhân đây cũng phải mở ngoặc là trước đó, đã có tới 32 bệnh viện cũng đã đề xuất “kịch trần” chỉ với lý do đó là bệnh viện “hạng đặc biệt” hoặc “loại 1”.

Thế còn câu chuyện mức kịch trần của các tỉnh nghèo? Vì nghèo nên phải tận thu. Hay là phải triệt thu đến mức kịch trần vì còn khó khăn. Dù với lý do nào thì đó cũng không phải là lý do để viện phí “đè đầu cưỡi cổ” dân nghèo bất chấp họ sống ra sao, thu nhập thế nào.

Câu trả lời cho câu hỏi “Vì sao” được Phó TGĐ Bảo hiểm xã hội VN Nguyễn Minh Thảo đưa ra ngay sau đó: “Các địa phương miền núi có điều kiện kinh tế khó khăn, cuối năm vẫn còn dư tiền của quỹ bảo hiểm y tế nên muốn xây dựng viện phí cao nhằm tăng nguồn thu cho cơ sở khám chữa bệnh”. Chưa hết, ông Thảo nêu trường hợp Lào Cai “Giá vật tư đã được mua cao hơn 1,5-2 lần so với địa phương khác, nên viện phí phải… cao theo”.

Hóa ra viện phí không phải chỉ gồm những chi phí sạch.

Nhớ hồi ban hành khung giá viện phí mới, một lãnh đạo Bộ Y tế đã trấn an dư luận, rằng sẽ tùy tình hình kinh tế xã hội địa phương, tùy thu nhập và đời sống dân cư, HĐND các tỉnh, TP sẽ quyết mức phù hợp. Câu trả lời hôm nay đã có. Những tỉnh mà đời sống người dân còn khó khăn nhất như Lào Cai và Đắk Lắk thì mức đề xuất là “kịch trần”. Ở Sóc Trăng cá biệt có ngày giá giường bệnh được đề nghị áp dụng bằng 129% mức tối đa được cho phép. Hay Sơn La mức giá trung bình được đề xuất ở 420 dịch vụ lên tới 113% so với khung.

Cùng ngày với câu chuyện đua nhau “kịch khung” giá viện phí, còn có thêm những câu chuyện bi hài khác. Báo người lao động dẫn lời một bác sĩ khẳng định: Rất nhiều loại thuốc khi đến được tay người bệnh giá đã bị đội lên hàng chục lần, thậm chí cả trăm lần. Ở ngay Hà Nội, xuất hiện thêm một “bệnh lạ” mà báo chí gọi là “Người ếch”.

Hình như tất cả những loại bệnh tật, của những người không chịu nổi giá kịch khung của viện phí hoặc sự phi mã của giá thuốc đều được coi là “lạ” cả.
Đào Tuấn

Thứ Năm, ngày 12 tháng 7 năm 2012

Nhìn khách quan, biện chứng về tham nhũng!

Dù ông Nguyễn Phú Trọng được cho là giáo sư tiến sĩ về chính trị nhưng tôi không tin rằng ông  hiểu những gì mình nói khi phát biểu: Hư hỏng, tham nhũng, nhìn vào đâu cũng thấy, sờ vào đâu cũng có… song phải có cái nhìn khách quan, biện chứng để không mất phương hướng… 

Không thể nào chối cãi tình trạng tham nhũng càng lúc càng nghiêm trọng như hiện nay là do hệ thống đầy lỗi nầy tạo ra. Một hệ thống nhà nước mà ba quyền không phân lập, tất cả đều nằm trong tay của đảng kể cả đệ tứ quyền là quyền tự do ngôn luận của người dân thì không thể nào không đẻ ra tham nhũng.

Từ xưa đến nay, đảng luôn luôn hô hào chống tham nhũng, luôn luôn kêu gọi cán bộ đảng viên phải học tập đạo đức Hồ Chí Minh, phải luôn giữ mình thanh liêm trong sạch để tránh xa mọi cám dỗ, để khỏi bị lôi vào vòng xoáy tham nhũng.

Thế nhưng tham nhũng càng lúc càng tăng chứ không hề suy giảm, cả về lượng lẫn chất.

Tất cả những lời kêu gọi hoặc hứa hẹn chống tham nhũng của các vị lãnh đạo cao cấp của đảng đưa ra đều có tính mị dân vì không thể nào đứng trong hệ thống nầy mà chống được tham nhũng.

Chống tham nhũng là tạo ra cơ chế hợp lý để hạn chế, ngăn ngừa và chế tài hiệu quả những hành vi tham nhũng chứ không chỉ hên xui dựa vào đạo đức của các cá nhân có chức quyền trong hệ thống. Cơ chế hợp lý đó là một nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập để các cơ quan quyền lực kiểm soát lẫn nhau bên cạnh sự kiểm soát của toàn dân thông qua cơ quan dân cử và các cơ quan ngôn luận. Các vị có giám làm vậy hay không rồi mới nói đến chuyện chống tham nhũng.

Nhìn khách quan về tham nhũng là phải nhìn như vậy, nghĩa là phải đứng ra ngoài hệ thống nhìn vào. Một cái nhìn từ bên ngoài, không bị hệ thống chi phối mới được gọi là cái nhìn khách quan.

Nhìn biện chứng về tham nhũng nghĩa là phải gắn tệ nạn tham nhũng nầy vào hệ thống sản sinh ra nó, để thấy sự vận động của nó theo sự vận động của hệ thống hầu nhìn nhận ra căn nguyên, thực trạng và tìm ra được giải pháp hợp lý để triệt tiêu nó. Điều đó có nghĩa là muốn chống tham nhũng hiệu quả thì phải thay đổi hệ thống đầy lỗi sản sinh ra nó.

Ông Trọng phán: nhìn tham nhũng phải nhìn khách quan, biện chứng để không mất phương hướng nhưng ông lại đứng trong hệ thống đẻ ra tham nhũng để nhìn và khi nhìn thì ông lại không gắn sự vận động của tệ nạn tham nhũng vào với sự vận động của hệ thống nên chính ông đang mất phương hướng khi nói ra những điều nầy.

Ông có dám đứng ra ngoài hệ thống để nhìn vào không? Ông có dám thay đổi hệ thống này không?

Hoặc giả là ông nói cho có chữ trong kinh sách để lòe mọi người là ông có trình độ lí luận chứ ông cũng không một chút hiểu biết gì về những điều mình nói.

Do vậy, với tôi, ông Trọng cũng chỉ là một anh cử nhân văn chương không hơn không kém, còn những bằng cấp cao hơn về chính trị của ông tôi không tin chút nào.
Huỳnh Ngọc Chênh

Đâu phải thời Chiến quốc

“Hà Nội sẽ đớn đau vì giúp Mỹ quay lại”, Hoàn Cầu Thời Báo của Trung Quốc đã cảnh cáo như vậy trong bài xã luận phát đi lúc 0g20 sáng thứ tư 11-7, sau chuyến thăm Hà Nội của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton.

Bài xã luận bắt đầu bằng răn đe rằng Việt Nam sẽ đớn đau nếu dựa vào sự hậu thuẫn của Mỹ, và kết thúc bằng bức bách rằng nếu muốn sống, Việt Nam phải chọn Trung Quốc!

Hoàn Cầu Thời Báo (HCTB) quá tự tin khi đánh giá rằng “Việt Nam đã thừa nhận mô hình phát triển của Trung Quốc” để rồi vừa khuyên, vừa “nhát ma” rằng “Để cho Mỹ quay trở lại (châu Á), Việt Nam sẽ dễ dàng trở thành một trong những nạn nhân đầu tiên nếu như Đông Á bị chìm trong các rối loạn chính trị”! Có một điều cơ bản mà HCTB đã quên hay không biết, đó là suốt trong mấy ngàn năm Việt Nam vẫn tồn tại như là Việt Nam chính là nhờ dựa trên nền tảng tư tưởng “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân… Đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” (Bình Ngô đại cáo).

Cũng thế khi hù dọa rằng các giá trị phương Tây sẽ biến Việt Nam thành nạn nhân đầu tiên khi Đông Á rối rắm, có lẽ HCTB đã quen e ngại phe đối lập Trung Quốc vốn sốt ruột mơ “giấc mơ hoa”, mà không biết rằng người Việt đủ tri thức và từng trải để hiểu rằng “giấc mơ Mỹ” không như trong sách vở. Cho dù hiến pháp Mỹ đã bãi bỏ nạn nô lệ từ năm 1865, song 1 triệu người Mỹ (trên tổng dân số Mỹ năm đó là 35 triệu người) đã phải chết và bị thương trong bốn năm nội chiến vì vấn nạn nô lệ này. Một thế kỷ sau, người Mỹ da đen vẫn cứ phải sống trong cảnh phân biệt màu da,“separate but equal” (bình đẳng song tách biệt với nhau). Mãi đến 20-4-1971, Tối cao pháp viện Mỹ mới phán quyết đen trắng bình đẳng lên xe buýt! Thế cho nên, HCTB, nếu có lo sợ chuyện “dân chủ, nhân quyền” thì hãy lo cho bên xứ mình trước đã.

Tất cả những thuyết giáo và hù dọa trên nhằm dẫn đến việc công khai ép buộc: “Con đường sống còn duy nhất cho Việt Nam là phối hợp với Trung Quốc nhằm hạn chế chính sách “đóng trụ” của Mỹ tại châu Á. Thay vì là một mắt xích trong sợi xích ngăn chặn Trung Quốc của Mỹ, Việt Nam có thể là một (tiền) đồn chống lại sự can dự sâu sắc của Mỹ tại châu Á”.

Đã là thế kỷ thứ 21 rồi chớ đâu phải thời Chiến quốc cách đây hai mươi mấy thế kỷ để cứ đòi chinh phạt, quy phục chư hầu tranh ngôi bá chủ! “Bài binh bố trận ngăn chặn Trung Quốc” ở đâu chưa thấy, song đã thấy Trung Quốc giương bản đồ “lưỡi bò” chiếm gần hết biển Đông, xua tàu bè húc đuổi thiên hạ, thôn tính lãnh hải và tài nguyên thiên hạ khơi khơi khai thác, thậm chí đem rao bán! Và giờ đây ra tối hậu thư: “Để sống còn hãy là (tiền) đồn chống Mỹ, bằng không sẽ đau đớn đó nhe!”.

HCTB quên nhiều điều lắm và nhất là quên mô tả viễn tượng sau: thần phục Trung Quốc rồi “cái đường lưỡi bò” đó vẫn cứ tròng vào cổ Việt Nam và các nước khác, và rằng “liên doanh khai thác” dầu khí lúc đó bất quá cũng chỉ là làm phu phen cho “ông chủ lớn” là Tập đoàn dầu khí hải dương, Trung Quốc, và ra khơi đánh cá ngừ đại dương là dưới sự cho phép của Cục Ngư chính và Cục Hải giám Trung Quốc hoặc của chính quyền thành phố Tam Sa! Viễn tượng đó “sung sướng” hay “đớn đau”, cứ đi hỏi đứa con nít sẽ rõ.
Danh Đức
Theo Tuổi Trẻ

Eric Schmidt tuyên bố: Đại trường thành lửa Trung Quốc sẽ sụp đổ

Sự xâm nhập của công nghệ và thông tin tại Trung Quốc (TQ) cuối cùng sẽ làm cho Đại trường thành lửa sụp đổ và thậm chí dẫn đến cởi mở chính trị trong hệ thống TQ, theo quan điểm của Chủ tịch hội đồng quản trị hãng truyền thông Google, ông Eric Schmidt.
Schmidt, người đã từ chức Tổng giám đốc hãng Google năm ngoái, hiện nay là người đứng đầu hội đồng quản trị đồng thời là người phát ngôn chính của Google. Ông đi khắp hành tinh này để nói chuyện với nhiều nhóm cử tọa và thăm dò những quốc gia mà Google có thể bành trướng hoạt động. Ông được gọi là “Đại sứ trên toàn Thế giới” của Google, một danh hiệu ông không theo đuổi nhưng cũng không từ chối. Schmidt đã ngồi xuống trả lời một cuộc phỏng vấn dài của The Cable [một blog của Foreign Policy] bên lề Lễ hội Ý Kiến Aspen (Aspen Ideas Festival ) 2012 vào tuần trước.

“Tôi tin rằng cuối cùng chế độ kiểm duyệt chắc chắn thất bại”, Schmidt tuyên bố, khi được hỏi liệu chế độ kiểm duyệt Internet của TQ có đứng vững không. “TQ là chính phủ duy nhất chủ trương một chế độ kiểm duyệt rất năng động. Họ không lấy làm hổ thẹn về điều đó”.

Schmidt tin tưởng rằng khi chế độ kiểm duyệt TQ thất bại, sự xâm nhập thông tin khắp TQ cũng sẽ đưa đến tiến trình tự do hóa chính trị và xã hội, một tiến trình sẽ thay đổi bản chất của mối quan hệ giữa chính phủ và người dân TQ.

“Tự thâm tâm tôi tin rằng người ta không thể xây dựng một xã hội tri thức hiện đại với lối ứng xử như thế, đó là quan niệm của tôi”, ông nói. “Tôi nghĩ rằng hầu hết nhân viên của hãng Google cũng đồng ý điều đó. Câu hỏi tự nhiên tiếp theo là khi nào [TQ sẽ thay đổi] thì không ai biết cách trả lời. [Nhưng] trong một thời gian đủ dài, tôi có tin rằng đường lối kiểm duyệt đó sẽ chấm dứt không? Tôi nghĩ rằng đó là điều chắc chắn”.

Theo quan điểm của Schmidt, đòi hỏi tự do thông tin tại TQ đi song đôi với đòi hỏi hiện đại hóa kinh tế, nhưng chế độ kiểm duyệt do nhà nước chủ trương đã giới hạn cả hai.

Ông nói: “Chúng tôi mạnh dạn tranh luận rằng quí vị không thể xây dựng một nền kinh tế có chất lượng cao và rất tinh vi với chế độ kiểm duyệt này. Đó là quan điểm của chúng tôi”.

Chính phủ TQ là cơ cấu bảo hộ với tư cách nhà nước của một chế độ kiểm duyệt mạng và tình báo mạng năng động nhất thế giới, với một sự hữu hiệu đáng phải giật mình, theo Schmidt. Google và Bắc Kinh đã bắt đầu xung khắc nhau từ năm 2010, khi công ty này công bố sẽ không kiểm duyệt từ tìm kiếm trên Google.cn và bắt đầu thuyên chuyển phần lớn hoạt động của nó tại TQ sang Hồng Kông. Sự di chuyển này diễn ra tiếp sau một loạt tấn công các địa chỉ Gmail năm 2010, nhắm vào các nhà tranh đấu nhân quyền TQ, một sự kiện mà nhiều người nghi ngờ có bàn tay dính líu của chính phủ TQ.

Gần đây hơn, Google đã theo một phương cách táo bạo hơn nhằm giúp người sử dụng chống lại chế độ kiểm duyệt mạng của chính phủ, bằng cách làm những việc như là cảnh báo những người sử dụng Gmail khi Google tình nghi tài khoản (accounts) của họ đang nằm trong tầm ngắm của các cuộc tấn công mạng do nhà nước bảo trợ và cho người sử dụng biết các từ mà họ tìm kiếm có thể bị các bộ phận lọc (filters) của chế độ kiểm duyệt của nhà nước TQ từ chối.

Schmidt không trình bày việc Google tập trung chú ý vào sự đàn áp trên mạng do nhà nước bảo trợ là một trận chiến giữa Google và TQ. Ông giải thích rằng chính sách của Google tập trung vào việc giúp người sử dụng hiểu được những gì đang xảy ra cho tài khoản của họ và cung cấp dụng cụ cho họ tự bảo vệ mình.

“Chúng tôi tin tưởng vào việc trao quyền cho những người có quan tâm về tự do phát biểu”, ông nói. “Chứng cớ mà chúng tôi có được hôm nay là những cuộc tấn công mạng của TQ chủ yếu là tình báo công nghiệp… Chính các bí mật thương mại là những gì họ cố gắng đánh cắp, thứ đến là các vấn đề nhân quyền, rằng rõ ràng là, họ đang cố tình vi phạm nhân quyền của dân chúng. Đấy là hai điều mà chúng tôi biết được, nhưng tôi tin chắc còn có những vi phạm khác nữa”.

Google vẫn còn có hàng trăm kỹ sư làm việc bên trong TQ và vẫn duy trì một doanh nghiệp quảng cáo đang phát triển nhanh chóng ở đó. Nhưng chính phủ TQ đang làm nhiều điều tương ứng để làm cho việc sử dụng Google trở nên khó khăn ở bên trong TQ. Có nhiều tuần các dịch vụ Gmail chạy rất chậm; rồi một cách kỳ bí, nó chạy trơn tru trở lại, Schmidt nói. Các máy kiểm duyệt TQ thường gây ra những khoảng thời gian ngưng trệ có tính trừng phạt (punitive timeouts) đối với những người sử dụng đã cho vào khung tìm kiếm những từ cấm. Còn YouTube, do Google làm chủ, thì hoàn toàn không thể hiển thị (visible) tại TQ.

“Gần như chắc chắn đó là một trường hợp cho thấy chính phủ TQ sẽ tiếp tục tạo ra những khó khăn cho việc sử dụng các dịch vụ của Google”, Schmidt nói. “Sự xung đột diễn ra ở một mức độ khá cơ bản: Chúng tôi muốn thông tin [trôi chảy] vào TQ, nhưng cũng ở một mức độ khá cơ bản chính phủ TQ lại không muốn điều đó xảy ra.”

Trong khi đó, Schmidt đã và đang liên tục đi vòng quanh thế giới để mở rộng các biên cương xa xôi của Google. Chuyến du hành quốc tế vừa qua đã đưa ông đến 4 quốc gia đang có xung đột hoặc xung đột vừa chấm dứt: Afghanistan, Libya, Pakistan, và Tunisia.

“Tôi trở nên đặc biệt quan tâm về việc bành trướng hoạt động của Google tại những nước hơi bất bình thường (wacky countries) – nghĩa là, những nước có vấn đề”, ông nói. “Ta không thể thấu rõ vấn đề nếu không đến đó và chứng kiến tận mắt. Nếu đưa ra được cảm tưởng và sự phán đoán của mình thì lại càng có ích”.

Schmidt tin rằng công nghệ điện thoại thông minh (smartphone technology) có khả năng mang lại hiệu ứng cách mạng trên những phương cách sinh họat của dân chúng trong thế giới đang phát triển. Ông cũng đang nghiên cứu các phương cách mà điện thoại thông minh có thể được sử dụng để chống nạn tham nhũng và chống chế độ cai trị tồi dở tại những nước nghèo. Schmidt cũng nhận thấy rằng việc bành trướng các hoạt động của Google vào những thị trường đang trỗi dậy (emerging markets) là một động thái kinh doanh đúng lúc.

“Bằng chứng là doanh nghiệp thu nhiều lợi nhuận nhất tại hầu hết mọi quốc gia thoạt đầu là khu vực viễn thông. Chuyện khôi hài là, ai cũng biết rằng cướp biển Somali cần phải sử dụng điện thoại cầm tay, nhưng nhờ đó mà doanh nghiệp hợp pháp hoạt động mạnh nhất và phát triển nhanh nhất tại Somalia là công nghiệp viễn thông”, ông nói.

Những cuộc cách mạng Mùa Xuân Ả Rập cho thấy rằng những hệ thống thông tin cởi mở có khả năng khuyến khích và tạo ra những thay đổi chính trị – theo quan điểm của Schmidt.

“Tôi nghĩ rằng tất cả những quốc gia mà tôi đang nói đến đều có chế độ kiểm duyệt rất năng động, nhưng họ đã không kiểm duyệt được Internet. Họ tự nối dây các hệ thống điện thoại, truyền hình bị họ kiểm soát, báo chí bị họ kiểm soát; thật rất khó cho dân chúng tìm nghe các tiếng nói bất đồng chính kiến thực sự mới mẻ, ngoại trừ lên Internet. Vì vậy, ta có thể cho rằng sở dĩ những biến cố đã xảy ra tại các nước ấy là do chính phủ không thể kiểm duyệt hết mọi phương tiện truyền thông. Và đó là lý do hiển nhiên vì sao chúng tôi nhiệt tình cổ vũ sự cởi mở và tính minh bạch”, ông nói.

Không như tại TQ, Google đã đóng một vai trò tích cực ở những vùng khác của thế giới bằng cách phát triển các công cụ để phổ biến những thông tin có để được sử dụng để nuôi dưỡng các chế độ dân chủ năng động hơn, chẳng hạn các dự án của Google nhằm tổ chức và quảng bá thông tin bầu cử cũng như các dữ liệu về ứng cử viên tại những nước như Ai Cập.

“Chúng tôi đang góp tay vào các cuộc bầu cử. Vì vậy chúng tôi đang cố gắng giúp các cơ quan tuyển cử đưa thông tin đến các ứng cử viên, và đây là những nước mà Google có vai trò trung tâm trong lãnh vực công”, Schmidt nói.

Google cũng đang mở rộng vai trò của mình trong việc thu thập các dữ liệu về các nhân vật chính quyền và về hành vi của họ để hỗ trợ người dân trong cuộc chiến chống tham nhũng, nhưng về điểm này, Schmidt cảnh báo rằng chỉ khi nào đất nước có được một hệ thống pháp lý để truy tố các thành phần bất hảo, những dữ liệu này mới có thể tạo ra sự thay đổi.

“Người ta cần đến dữ liệu, và sau đó người ta cần đến một ai đó có quyết tâm truy tố kẻ dối trá”, ông nói. “Tất cả những gì mà người ta phải làm là nắm được thông tin trong tay và tiếp theo đó hình phạt phải được áp dụng một cách công minh, thì mới mong thay đổi những đất nước này một cách nhanh chóng”.

Chỉ nắm được thông tin thôi cũng chưa đủ để lật đổ một chế độ, nhưng rốt cuộc, chế độ nào chống lại sự cởi mở thông tin thì nhất định chỉ chuốc lấy thất bại, ông nói.

Trần Ngọc Cư dịch
Nguồn: Foreign Policy, ngày 9-7-2012.