Thứ Bảy, ngày 21 tháng 7 năm 2012

Chiếm đoạt biển Đông và dầu khí!

“Đường lưỡi bò” cùng các lực lượng hải quân, hải giám, ngư chính... của Trung Quốc chính là “Vạn lý trường thành trên biển Đông” mà Trung Quốc mới dựng nên vào thế kỷ 21 này.
Nói tới tham ô, người ta có thể tham ô vì thiếu thốn này nọ, song cũng có thể vì tham lam. Một khi vì cả nhu cầu lẫn tham lam thì đó là tai họa khôn lường! Những gì đang và sẽ diễn ra trên biển Đông cho thấy cả hai động cơ đó.
Với dân số 1,3 tỉ người và sẽ không dừng ở đó, với một nền kinh tế tăng trưởng ở ngưỡng 10% trong suốt thập niên trước, năm ngoái mới hạ nhiệt xuống còn 9,2% (1), Trung Quốc càng ngày càng thèm khát nhiên liệu.

Thật vậy, vào năm 1980 dân số Trung Quốc mới còn là 981,2 triệu người, đến 1985 đã vượt qua 1 tỉ (1,050 tỉ), đến 1990 lên đến 1,135 tỉ, năm 2000 những 1,262 tỉ, và cuối năm ngoái là 1,337 tỉ người, thì sức ép dân số (tăng 35% từ năm 1980 đến 2011) lên nhu cầu năng lượng là quá lớn, nhất là khi tăng trưởng cứ phải liên tục "nóng". Ngay cả việc đã có đến 500 triệu người thoát khỏi cảnh nghèo khó trong 30 năm qua vốn là một thành tựu phát triển song cũng là một nguồn tiêu thụ năng lượng gia tăng bên cạnh tiêu thụ năng lượng cho sản xuất, giao thông...

Bài toán an ninh năng lượng

Thành ra, nếu như tiêu thụ năng lượng còn "bình bình" chạy lấy đà trong giai đoạn 1980-1990, sang giai đoạn 1990-2000 đã "cất cánh", thì sang đến giai đoạn 2000-2010 bốc lên như tên lửa! Điều đó giải thích tại sao từ vị trí nước xuất khẩu dầu hỏa cho đến đầu thập niên 1990, chỉ mười năm sau Trung Quốc đã trở thành nước nhập khẩu dầu nhiều thứ nhì thế giới (sau Mỹ) và chiếm đến hơn 1/3 lượng dầu tiêu thụ của thế giới (2).

Cũng may là Trung Quốc còn đủ than để khai thác và sử dụng, lượng than tiêu thụ (gần phân nửa lượng than tiêu thụ toàn thế giới) vẫn còn là nguồn năng lượng lớn nhất (71%), trong khi dầu hỏa mới 19% và thủy điện chỉ 6%.

Năm 2010, Trung Quốc sản xuất 4,3 triệu thùng dầu/ngày, nhưng tiêu thụ đến 9,2 triệu thùng/ngày (tăng khoảng 900.000 thùng/ngày so với năm trước), do đó phải nhập khoảng 4,8 triệu thùng/ngày. EIA (Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ) dự kiến Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng tiêu thụ dầu trong các năm 2011 và 2012 vào khoảng 1,1 triệu thùng/ngày, trong khi khả năng sản xuất chỉ thêm được có 290.000 thùng/ngày, đạt 4,5 hay 4,6 triệu thùng/ngày (3). Từ đó, có thể thấy sức ép nhập khẩu dầu càng tăng, có thể lên đến 800.000 thùng/ngày.

Theo Oil & Gas Journal (OGJ), Trung Quốc có nhiều mỏ dầu lớn ở khu vực đông bắc, các khảo sát cho thấy trữ lượng dầu "chắc có" ước tính khoảng 20,4 tỉ thùng dầu (vào tháng 1-2011), tăng 4 tỉ thùng so với hai năm trước. Theo kế hoạch năm năm lần thứ 10 (2000-2005), từ năm 2001 Trung Quốc quyết định thiết lập một chương trình dự trữ dầu hỏa chiến lược do chính phủ quản lý nhằm bảo vệ quốc gia khỏi nguy cơ bị cắt nguồn cung từ các nước xuất khẩu dầu mà Trung Quốc vẫn đang nhập.

Cho đến nay, Trung Quốc vẫn trông mong vào hai "vựa dầu" Đại Khánh của Tập đoàn CNPC, nằm ở đông bắc (năm 2010 sản xuất khoảng 797.000 thùng/ngày) và Thắng Lợi của Tập đoàn Sinopec ở vịnh Bột Hải (khoảng 547.000 thùng/ngày). Tuy nhiên, hai mỏ dầu này cùng các mỏ nhỏ khác, khai thác từ những năm 1960, nay cũng đang cạn, sản lượng sẽ giảm trong những năm tới.

Những thăm dò và khai thác mới đây trong đất liền tại các tỉnh phía tây như Tân Cương, Tứ Xuyên, Cam Túc, Nội Mông và ở ngoài khơi, trong vịnh Bột Hải (ở phía bắc, gần Bắc Kinh) và nhất là trong biển Nam Hải (4) của Trung Quốcđang rất được tập trung chú ý (xem bản đồ). Nhìn lên bản đồ sẽ thấy vị trí "tập trung chú ý" trên Nam Hải (biển Đông của Việt Nam) nằm sau lưng đảo Hải Nam và chếch một chút xuống phía nam, không xa khu vực đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đang chiếm từ năm 1974.

Năm 2009, tổng lượng dầu mà Tập đoàn CNOOC khai thác được trong Nam Hải (quanh khu vực Châu Giang) chỉ là 191.000 thùng/ngày. Các thăm dò cho thấy vào năm đó trữ lượng "chắc có" của CNOOC trong Nam Hải vào khoảng 957 triệu thùng. CNOOC và Conoco Phillips đang khai thác mỏ Phiên Ngung, sản lượng cao nhất chỉ được 60.000 thùng/ngày. Đến năm 2010, CNOOC tìm ra được dầu ở khu vực Ân Bình, cũng trong Nam Hải, có thể khai thác được 30.000 thùng/ngày. Các số liệu trên cho thấy triển vọng khai thác dầu trong Nam Hải là rất thấp.
Lòng tham phát tác không kiềm chế

Tháng 5-2010, CNOOC gọi thầu 13 lô trong Nam Hải, song vẫn về phía Trung Quốc, như có thể thấy trên bản đồ. Cuối tháng 5, đầu tháng 6 năm ngoái, phía Trung Quốc hai lần cắt cáp uy hiếp các hoạt động thăm dò của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đùng một cái, tháng 6 năm nay, CNOOC gọi thầu chín lô trong biển Đông thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Trước đó, vào ngày 9-5 năm nay, Trung Quốc kéo giàn khoan khổng lồ CNOOC 981 đến khu vực cách Hong Kong 320km về phía đông nam, bắt đầu khai thác khí đốt trong một khu vực rộng 25km2 và ở độ sâu 2.335m, một kỹ sư địa chất Thi Hòa Sanh của CNOOC cho biết (5).

Thế nhưng, nếu như khu vực giàn khoan này khai thác đích thực ở vị trí đó, thì theo các kết quả thăm dò đã nêu, liệu việc đầu tư cả tỉ USD cho giàn khoan khổng lồ nước sâu này có hợp lý?

Câu trả lời có thể tìm thấy trong phát biểu của chính kỹ sư địa chất Thi Hòa Sanh vừa nêu: "Về lâu về dài sẽ tìm thấy hơn 700 triệu tấn dầu cùng 1,2 ngàn tỉ m3 khí tự nhiên trong khu vực này". Nếu như viên kỹ sư này dừng lại ở khu vực bắc Nam Hải (tức trong vùng đặc quyền của Trung Quốc), thì cũng trong bài báo này lại công bố một viễn tượng khác cùng những con số khác lớn hơn gấp nhiều: "Ước tính Nam Hải có từ 23 đến 30 tỉ tấn dầu và 16 ngàn tỉ m3 khí tự nhiên... Khoảng 70% dự trữ dầu và khí ở Nam Hải nằm trong khu vực nước sâu có diện tích 1,54 triệu km2".

Hai số liệu khác nhau đến thế là do kỹ sư địa chất Thi Hòa Sanh chỉ tính trữ lượng trong sở hữu của Trung Quốc trong phần Nam Hải, còn số liệu khổng lồ kia là của toàn thể biển Đông? Tức nay khai thác ở đó, mai khai thác ở chỗ khác trên cùng khắp biển Đông trong "đường lưỡi bò", bất chấp chủ quyền của thiên hạ. Bởi thế chủ tịch CNOOC Vương Nghi Lâm mới sảng khoái tuyên bố: "Các giàn khoan nước sâu là vũ khí chiến lược thúc đẩy sự phát triển công nghiệp dầu hỏa xa bờ và còn là biên cương di động của chúng ta".

Thôn tính tài nguyên dầu khí biển Đông như thế không khác gì thôn tính tài nguyên sông Mekong bằng cách đắp cả tá đập ở thượng nguồn, bất kể hạ nguồn có bị cạn kiệt ra sao. Thật ra, ngay cả khi khai thác thủy điện "vô tội vạ" như đã thấy (cho dù thủy điện chỉ cung cấp 6% năng lượng), người ta cũng đã cho thấy "thương thân" còn chưa màng đến, huống hồ thương thiên hạ!

Hữu Nghị
Theo Tuổi Trẻ cuối tuần
__________
(1) www.chinadaily.com.cn/business/2012-01/.../content_14460323.htm
(2), (3) http://www.eia.gov/countries/cab.cfm?fips=CH
(4) Trong bài này, từ Nam Hải được sử dụng khi trích phát biểu phía Trung Quốc hoặc khu vực đó sát về phía Trung Quốc không chồng lấn với Việt Nam, còn từ biển Ðông được sử dụng khi nói chung.
(5) China begins deep water drilling in South China Sea, Xinhua 9-5-2012

Việt Nam trước diễn biến mới của khu vực

Đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông qua tổ chức ASEAN của Việt Nam đang gặp trở ngại. Trong khi Trung Quốc ngày càng hành động hung hăng, ngang ngược, bất chấp, gây nên tình hình hết sức nguy hiểm trên Biển Đông. Có vẻ như Trung Quốc đã đem chiến tranh đến trước cửa Việt Nam
ASEAN, tổ chức có nội gián
Ít nhất, Trung Quốc là nước đã chứng minh tính đúng đắn một nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin, đó là “Tập trung dân chủ”. 
“Tập trung” là danh từ, “dân chủ” là tính từ. Dân chủ bổ nghĩa cho Tập trung.
Tập trung dân chủ, theo Mác như “cái bì đựng khoai tây”. Cái bì là TT còn DC là như củ khoai tây. Không có cái bì thì củ khoai tây mỗi củ lăn mỗi đường.
Đòn hiểm của Trung Quốc bắt đầu từ cơ sở lý luận này đã làm cho ASEAN như những củ khoai tây không bao bì. “Sự đồng thuận” hay “dân chủ” trong ASEAN đã nguy cơ phá vỡ khối. ASEAN nguy cơ sẽ phân hủy để biến đổi từ chất này sang chất khác.
Trung Quốc đã biến ASEAN thành một khối “hữu danh vô thực”, Trung Quốc hỷ hả với chiến thắng này là không thể phủ nhận. 
Tuy nhiên, Trung Quốc có vui mừng quá sớm chăng khi mà chính “chiến thắng” này của Trung Quốc là nguyên nhân để cho trong khu vực Đông Nam Á này sẽ hình thành nên một tổ chức mới, với cơ cấu, thành phần, nguyên tắc hoạt động mới để có một sức mạnh mới, thực chất?
Chỉ tội cho Campuchia, Trung Quốc biến Campuchia như một kẻ chỉ điểm và vì lợi ích của mình, Trung Quốc lại buộc Campuchia lộ nguyên hình mà không nghĩ đoái hoài đến số phận “chỉ điểm viên” của mình sống ra sao khi bị lộ?
Ơi Campuchia thân mến và khốn khổ, ơi Campuchia ít đọc sách Tàu! Campuchia không biết Trung Quốc là con cháu của Tào Tháo mà Tào Tháo thì luôn diệt kẻ phản bội khi đã dùng xong bởi một nguyên tắc: “Hắn phản bội người người thân thiết của nó được thì ta nó tha gì” hay sao?
Thương thay cho người dân Campuchia, bị diệt 3 triệu người rồi, giờ biết còn bị nữa không? Hay ông Hun-Xen có kế thượng sách?
Vậy là, chiến lược bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông của Việt Nam nói riêng và các quốc gia ven biển Đông Nam Á nói chung, thông qua kênh ASEAN, từ DOC đến COC là viễn vong, ảo tưởng.
Việt Nam, Philipines thất vọng khi Hội nghị bộ trưởng NG khối ASEAN lần đầu tiên sau 45 năm không ra được thông cáo chung. Đương nhiên, Mỹ cũng không thể vui khi Trung Quốc ghi bàn, không thể vui khi ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á này bị Trung Quốc thách thức.
Dư luận cho rằng, Trung Quốc thắng keo vừa rồi chỉ ở cấp độ chiến thuật.
Đúng vậy, bởi vì đây chỉ là nguyên nhân gây ra sai lầm chiến lược của Trung Quốc.
Nếu như Trung Quốc chỉ hạn chế được COC (không đáng sợ cho Trung Quốc vì chỉ có ASEAN và Trung Quốc mà thôi) thì cũng chính Trung Quốc mở lối, tạo áp lực, thúc đẩy các quốc gia có tranh chấp quyết tâm hơn trong việc quốc tế hóa khu vực tranh chấp, mà đối tượng lúc này là những đối thủ không mấy dễ chịu cho Trung Quốc như Mỹ, Nga, Nhật, Ấn…và với công cụ hữu hiệu là UNCLOS mà Trung Quốc không ưa.
Về quân sự, Mỹ và không ai trong các cường quốc bậc trung như Nga, Nhật, Ấn… muốn Trung Quốc chiếm trọn Biển Đông vì hậu quả khôn lường.
Vì thế, hỗ trợ và tăng cường sức mạnh cho các quốc gia ven biển Đông Nam Á để kiềm chế Trung Quốc là sách lược đúng đắn, đôi bên cùng có lợi mà các cường quốc bậc trung hướng tới. Và, chưa biết chừng một NATO của Đông Nam Á đang phôi thai bắt đầu từ sự hung hăng, hiếu chiến của Trung Quốc khi họ không còn chỗ để lùi.
Như vậy, tình hình ở khu vực Đông Nam Á, điều mà Inđônêxia, Singapo lo sợ đã xảy ra là: “Trong ASEAN bắt buộc phải có sự lựa chọn khắc nghiệt giữa Mỹ và Trung Quốc”.
Việt Nam, đêm trước của cuộc chiến tranh?
Mũi nhọn tranh chấp trên Biển Đông mà Trung Quốc hướng tới là Việt Nam.
Nếu như giữa hòa bình và chiến tranh có một ranh giới tiếp giáp, thì có thể nói Trung Quốc đã đi hết ranh giới này với Việt Nam. Chỉ cần Trung Quốc hành động dấn thêm một bước là xung đột sẽ xảy ra, chiến tranh sẽ xảy ra mà không cần thời gian tạo cớ.
Diễn biến gần đây cho thấy nguy cơ đó là không thể coi thường và do vậy phải cảnh giác cao độ.
Việc mời thầu quốc tế trong EEZ của Việt Nam chẳng hạn, sự ngang ngược được coi như “rao bán nhà hàng xóm”.
Điều gì sẽ xảy ra nếu Trung Quốc hành động cho giàn khoan xuống khai thác trong 09 lô dầu khí này của Việt Nam?
Tiếp theo, Trung Quốc hùng hổ tổ chức 30 tàu cá xuống Trường Sa.
Điều gì sẽ xảy ra nếu 30 tàu cá dả dạng đó tràn vào EEZ của Việt Nam?
Tất cả đó là những điều mà coi như Trung Quốc đã dồn Việt Nam đến đường cùng. Việt Nam đời nào ngồi yên nhìn chủ quyền lãnh hải bị cướp trắng trợn. Vì thế chắc chắn xung đột, chiến tranh xảy ra là không tránh khỏi.
Nếu như chỉ là thách thức, khiêu khích bình thường đúng nghĩa của 2 từ đó thì sự kiên nhẫn sẽ là đối trọng. Nhưng thách thức trắng trợn, khiêu khích ngang ngược thì thực chất đó là hành động chiến tranh, tấn công trước vào đối phương, buộc đối phương không đánh lại không được.
Có thể đây chỉ là hành động của các nhóm lợi ích có thế lực lớn trong nội bộ Trung Quốc mà Bắc Kinh trục lợi, thông qua “đám âm binh” đó, Trung Quốc chơi bài ngửa, không thèm che đậy ý đồ, dọa dẫm gây sức ép.
Nhưng dù sao đây là hành động hết sức nguy hiểm bởi nạn binh đao có thể bắt đầu từ “đám âm binh” thiếu kiểm soát này.
Trung Quốc đã đem chiến tranh đến trước cửa nhà Việt Nam. Việt Nam đang như ở đêm trước của cuộc chiến tranh.
Sự lựa chọn nào cho Việt Nam?
Đương nhiên, đã đến nước này nếu chọn Trung Quốc, “xin hòa hiếu” với Trung Quốc, nói thẳng toẹt ra là đầu hàng, thì…chắc chắn Việt Nam không bao giờ chọn cách này.
Ngả theo Mỹ để chống Trung Quốc?
Ở thời điểm hiện nay, đây là một bí ẩn mà dư luận rất quan tâm. Điều chắc chắn là ngả theo Mỹ hay không còn tùy thuộc vào Trung Quốc.
Lâu nay, chính sách quốc phòng của Việt Nam chủ trương không liên minh với ai để chống nước thứ 3. Vì thế Việt Nam không ngả theo Mỹ để chống Trung Quốc và lại càng không ngây thơ theo Trung Quốc để chống Mỹ. Nhưng khi Trung Quốc liều lĩnh, tham lam cướp đảo, cướp biển của Việt Nam thì…trẻ con nó vẫn hiểu được.
Có điều không phải muốn ngả theo Mỹ là được ngay.
Nếu như với Bắc Triều Tiên, điều kiện tiên quyết để thỏa thuận hòa bình là Mỹ yêu cầu Bắc Triều Tiên phải ngừng ngay chế tạo vũ khí hạt nhân, thì với Việt Nam, Mỹ cũng hành xử như vậy về nhân quyền để bãi bỏ cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam là sai lầm.
Mỹ chưa hiểu Việt Nam đấy thôi. Mỹ quan trọng lý do nhân quyền theo kiểu Mỹ, nhưng với Việt Nam lý do đó không quan trọng, vì đường nào Việt Nam cũng đang từng bước tiếp cận nền dân chủ mà trong bản Tuyên ngôn độc lập Việt Nam đã trân trọng ghi.
Thả người này, người kia, thậm chí thả cả hàng nghìn người như ông tiến sỹ vớ vẫn nào đó cũng chẳng là gì với Việt Nam. Việt Nam không quan trọng chuyện đó. Việt Nam quan trọng là vấn đề lòng tin.
Mỹ chỉ có thể gây hại cho Việt Nam chứ không đời nào Việt Nam đủ sức gây hại cho Mỹ. Mỹ bỏ cấm vận cho Việt Nam nhưng nếu Việt Nam chưa có dấu hiệu đáp ứng sự tử tế của Mỹ thì cấm vận lại, Mỹ có quyền nói được, làm được cơ mà.
Thế hệ 5X đã ít, từ thế hệ 6X trở đi ở Việt Nam, chẳng ai căm thù Mỹ, vậy tại sao Mỹ không đưa tay ra, Mỹ là nước lớn, là số 1 thế giới, Mỹ sợ cái gì?.
Điều này chứng tỏ Mỹ và Việt Nam thiếu lòng tin nhau; Mỹ chưa hiểu Việt Nam, còn thù hận Việt Nam… trong khi lẽ ra phải ngược lại.
Trong chuyện này có lẽ ông TNS McCain là hiểu Việt Nam nhất, ông nói: “Chúng tôi mong đợi sự tiến bộ (nhân quyền) chứ không phải là sự thay đổi tức thì”.
Đúng vậy, cái gì cũng phải có thời gian. Thời gian sẽ làm cho 2 nền văn hóa tiếp cận nhau hơn, các hệ thống giá trị về đạo đức trở nên gần gũi hơn.
Việt Nam mong chờ ở Mỹ sự tử tế để khiến Việt Nam tin cậy. Mỹ tử tế với Việt Nam, có lẽ đó là thứ vũ khí hiệu nghiệm nhất, hiệu quả thu được tuyệt vời nhất mà B52, tàu chiến hay cấm vận…không thể làm được.
Thực tế cho thấy, với Việt Nam, Nhật đã giúp Việt Nam tăng cường an ninh trên biển sau chuyến thăm của Ngoại trưởng Việt Nam. Chắc chắn việc Mỹ bỏ cấm vận vũ khí sát thương với Việt Nam là vấn đề thời gian vì đó còn là lợi ích của Mỹ, việc đó, tuy chưa phải là nhu cầu bức thiết của Việt Nam nhưng là biểu tượng cho sự gần gũi nhau hơn, dễ dàng lựa chọn, tiếp cận các bước đi tiếp cho tương lai gần.
Tuy nhiên, nếu ai đó cho rằng Việt Nam ngả theo Mỹ là Việt Nam yên bình, không sợ gì ông Trung Quốc là nhầm lớn. Mỹ có quyền lợi của Mỹ. Mỹ và Trung Quốc có thể mặc cả trên lưng Việt Nam (nỗi đau còn đó khi Mỹ bán đứng Hoàng Sa thân yêu của Việt Nam cho Trung Quốc) chứ không đời nào Mỹ đánh Trung Quốc cho Việt Nam.
Đành rằng “Khi 2 con voi làm tình thì cỏ dưới chân chúng sẽ bị giẫm nát”. Nhưng khi cỏ dưới chân 2 con voi đó có “tổ kiến lửa” thì…ngu gì mà rủ nhau đến đó làm tình.
Cho nên, Việt Nam phải tự mình làm lấy việc đó bằng sức mạnh tinh thần và vật chất. Việt Nam phải là một nhân tố quan trọng, có quyền “ra giá” cho sự mặc cả của họ nếu như có sự mặc cả.
Và, đó chính là sự lựa chọn duy nhất đúng cho Việt Nam trong tình hình hiện nay.
Làm thế nào để có sức mạnh tinh thần? Làm thế nào để cả nước đồng lòng, đồng bào trong và ngoài nước kết tinh thần yêu nước thành một làn sóng nhấn chìm quân xâm lược? Nếu như bọn tham nhũng, “lợi ích nhóm” đã làm chao đảo kinh tế và lòng tin thì chúng chẳng ngại ngần gì bán nước để yên vị, hưởng lợi, vậy làm gì để diệt bọn chúng?...Câu trả lời dành cho lãnh đạo Việt Nam.
Lê Ngọc Thống
Theo Viet-Studies

Học giả Trung Quốc phân tích sự đuối lý của “Đường lưỡi bò”


9 lô dầu khí mà Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc thông báo mời thầu nằm ở phía Đông “đường 9 đoạn”, tuy nhiên nó lại nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển.
Ông Tiết Lý Thái – học giả, nhà bình luận nổi tiếng của trang báo mạng Phượng Hoàng (Hồng Kông, Trung Quốc) trong bài viết đăng trên tờ báo mạng trên ngày 20/7 cho rằng, tranh chấp chủ quyền tại Nam Hải (Biển Đông) giữa Trung Quốc và Việt Nam có dấu hiệu ngày càng căng thẳng trong thời gian qua, trong đó việc Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) thông báo mời thầu quốc tế vào cuối tháng 6 vừa qua khiến tình hình càng thêm phức tạp.
9 lô dầu khí mà Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc thông báo mời thầu nằm ở phía Đông đường 9 đoạn, tuy nhiên nó lại nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển.
Ông Tiết Lý Thái cho rằng: Nếu Trung Quốc giải thích và muốn cộng đồng quốc tế công nhận đường 9 đoạn là đường biên giới quốc gia thì khó khăn sẽ không hề nhỏ, ít nhất sẽ gặp phải những thách thức sau:
Thứ nhất, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc mới đầu chỉ vẽ ra 11 đoạn trên bản đồ nước mình, mà không hề tiến hành phân định biên giới trên biển với các nước láng giềng xung quanh, cũng chưa từng có động thái hòng nhận được sự công nhận của cộng đồng quốc tế. Về bình diện luật pháp quốc tế cũng chưa có sự giải thích rõ ràng, chi tiết nào. Nói một cách nghiêm túc thì đây mới chỉ là “tự nói lời của mình”.
Thứ hai, cho đến hiện nay, Trung Quốc vẫn chưa nói rõ, đường 9 đoạn là đường biên giới quốc gia đứt khúc hay là đường giới tuyến trên biển truyền thống. Đến một định nghĩa cũng không có, hơn nữa cũng chưa ghi rõ kinh độ, vĩ độ trên vị trí địa lý, mà đơn thuần chỉ là vẽ ra các đường đứt đoạn trên bản đồ của mình, thì làm sao mà thuyết phục được người khác?
Tiếp theo, nếu như Bắc Kinh nhấn mạnh đường 11 đoạn mà Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đưa ra ban đầu là đường biên giới quốc gia không thể xâm phạm, thì thử hỏi tại sao sau khi nước Trung Quốc mới được thành lập, để thể hiện “tình cảm” của mình với Việt Nam, Trung Quốc lại tự xóa đi 2 đoạn trên bản đồ trong khu vực vịnh Bắc Bộ? Phải chăng Trung Quốc coi việc sửa đường biên giới quốc gia như trò đùa?
Thêm nữa theo học giả này, nếu như Bắc Kinh khẳng định đường 9 đoạn là đường biên giới quốc gia, sau khi thống nhất đất nước vào năm 1975, trong thời gian 30 năm, Việt Nam đã chiếm hữu đến 30 hòn đảo lớn nhỏ một cách liên tục, mà Bắc Kinh trong các lần phản đối ngoại giao lại không hề có lần nào nêu ra vấn đề trên?. Điều này là hoàn toàn không bình thường.
Cuối cùng, Biển Đông là tuyến vận tải của hơn 80% hàng hóa chiến lược của khu vực Đông Bắc Á, trong đó bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, của hơn 40 % hàng hóa chiến lược của hầu hết các quốc gia phương Tây. Nếu như nói tuyến đường vận tải trên Biển Đông là tuyến đường sinh mạng của các quốc gia phương Tây cũng không có gì là quá.
Nếu “đường 9 đoạn” được tuyên bố là đường biên giới quốc gia của Trung Quốc, khi Mỹ và các đồng minh chuyển dịch lực lượng quân sự giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, bất cứ lúc nào, họ  đều có thể bị coi là ở vị trí phi pháp và sẽ bị cản trở mạnh mẽ. Như vậy liệu cộng đồng quốc tế có chấp nhận tuyên bố của Trung Quốc?
Học giả Tiêt Lý Thái cho rằng: ngày nay, cư dân mạng Trung Quốc không ngừng hô hào những luận điệu hiếu chiến trong thế giới ảo. Tuy nhiên sau khi thoát khỏi thế giới ảo, chúng ta phải trở về thế giới thực tại./.
Xuân Dần
Theo Tiền Phong

ASEAN ra Tuyên bố về Biển Đông

Ngoại trưởng các nước ASEAN đã đạt được một Tuyên bố về nguyên tắc 6 điểm về Biển Đông, tạo cơ sở để đảm bảo các bên liên quan tôn trọng, tuân thủ trong hành xử ở Biển Đông và khẳng định các hành vi vi phạm những nguyên tắc này sẽ ảnh hưởng tới ASEAN.
Theo Tuyên bố, các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN nhắc lại và tái khẳng định cam kết của các Quốc gia thành viên ASEAN về việc:
1. Thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) (2002).
2. Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC (2011).
3. Sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông.
4. Tôn trọng hoàn toàn các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.
5. Tất cả các bên tiếp tục kiềm chế và không sử dụng vũ lực
6. Giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.
Các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN quyết tâm tăng cường tham vấn trong ASEAN nhằm phát huy các nguyên tắc nêu trên, phù hợp với Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (1976) và Hiến chương ASEAN (2008).
Tại cuộc họp báo chiều 20/7, thay mặt nước Chủ tịch ASEAN luân phiên đương nhiệm, công bố nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về vấn đề biển Biển Đông, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Campuchia Hor Namhong cho biết đây là kết quả tham vấn giữa các Ngoại trưởng ASEAN sau khi Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa thực hiện hoạt động ngoại giao con thoi trong những ngày qua.
Ông Natalegawa  đã gặp các ngoại trưởng ASEAN, trong đó có cuộc các cuộc gặp trực tiếp các Ngoại trưởng Philipines, Việt Nam và Campuchia, để thống nhất nguyên tắc chung về vấn đề này.
Thông báo của ASEAN được đưa ra sau một tuần Hội nghị các Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 45 diễn ra tại Phnom Penh, kết thúc ngày 13/7, đã không ra được Tuyên bố chung do bất đồng về việc đề cập đến vấn đề tranh chấp Biển Đông, trong đó nước Chủ nhà Campuchia đã không đồng ý đề cập đến việc Philipin và Việt Nam đã nêu lên vấn đề này tại các cuộc hội nghị.
Theo TTXVN

Bẫy lang băm

Cách đây hơn một năm, thế giới vồ vập đọc cuốn sách Chết dưới tay Trung Quốc (Death by China) của hai tác giả người Mỹ là Peter Navarro và Greg Autry, được mạng bán sách Amazon xếp vào loại sách hay.

Ở nước ta, cuốn sách đã sớm được một vài trang web dịch và đăng tải (toàn văn xin xem http://sites.google.com/site/vanhocfamily). Gần đây nhất, trên báo Pháp Luật TP.HCM, nhà báo Đoan Trang đã làm một tổng thuật công phu về cuốn sách này, được bạn đọc đặc biệt chú ý. Chú ý vì hai tác giả đã cảnh báo rất nhiều sự hủy diệt thế giới đang đến từ Trung Quốc (TQ), từ sữa bẩn chứa mélamine, đồ chơi làm bằng nhựa độc hại đến chủ nghĩa thực dân mới và bành trướng Đại Hán. Lời cảnh báo từ hai học giả Mỹ: “Quốc gia đông dân nhất thế giới sẽ nhanh chóng biến thành kẻ ám sát hiệu quả nhất hành tinh” đang nhãn tiền. Liệu một TQ đang trỗi dậy có oan hay không, thế giới sẽ phán xét không phải qua lời nói mà qua hành động của họ.
Với người Việt, chưa nói về mối nguy chết người từ sự ngạo ngược phi lý và phi pháp có tên TQ ở Biển Đông và vùng lãnh hải Việt Nam, rất nhiều bệnh nhân đã sập bẫy phòng khám TQ và ít nhất đã có ca một phụ nữ chết đang được điều tra xem có phải đã thực sự chết theo nghĩa đen dưới tay “bác sĩ” TQ trong Phòng khám Maria (Hà Nội) hay không. Sự cố này làm chúng ta giật thót mình: từ lâu rồi, người bệnh sập bẫy đã “chết” theo nhiều cách, nhiều kiểu dưới tay lang băm TQ ở trong nước hoặc bên kia biên giới phía Bắc. Một hai triệu đồng một thang thuốc mà không chữa được bệnh cũng là một kiểu “chết” với người nghèo. Tại TP.HCM, 7/7 “phòng khám bệnh TQ” mới bị kiểm tra đều vi phạm nhiều hay ít pháp luật nước ta. Vì sao bệnh nhân lại sập bẫy phòng khám TQ dễ dàng đến thế?

Con nai vàng ngơ ngác hay con người sập bẫy đều do bị lừa với những cái mồi hấp dẫn. Các phòng khám này đã có rất nhiều chiêu để lừa người bệnh đến với mình, nhiều thủ đoạn xảo trá để moi tiền, “chặt chém”. Trước hết và phổ biến nhất là quảng cáo “nổ” văng miểng. Nào phương pháp đông lạnh khối u đã cứu được 35% người bị ung thư giai đoạn cuối. Nào u tiền liệt tuyến không cần mổ mà chỉ cần uống thuốc Đông y, không khỏi trả lại tiền. Nào bác sĩ “dày kinh nghiệm” nhưng đa số đều dưới 30, rất nhiều vị chỉ là “giúp việc bác sĩ” hay học tại chức. Quảng cáo không được phép cho mình là nhất nhưng phòng khám TQ luôn tự xưng cái gì mình cũng nhất, kể cả “hiện đại nhất” thế giới. Nổ vậy mà cũng có khối người nghe và tin! Tin vì các nội dung quảng cáo đều được duyệt và cho phép. Vì chúng xuất hiện dày đặc ngay trên báo chí và truyền hình nước ta.

Bệnh nhân sập bẫy vì chính họ nhẹ dạ và cả tin, vì thói “bụt chùa nhà không thiêng”. Trong y học cổ truyền, mỗi vùng đất đều có cây thuốc và cách điều trị thích hợp. Họ có Hoa Đà, Trọng Cảnh. Ta có Tuệ Tĩnh, Hải Thượng. Thuốc Nam tuy dược lực không mạnh bằng thuốc Bắc nhưng lại thích hợp với tạng người nhỏ bé, nhẹ cân và cơ địa người Việt. Mê mẩn vì nhầm tưởng thuốc Bắc hay hơn thuốc Nam, rẻ rúng thuốc Nam nên ào ạt đến phòng khám TQ hay sang cả TQ để chữa trị bệnh nan y. Một số trước khi buộc chấp nhận cái chết còn mất luôn cả gia tài cho lang băm bên xứ người.

Bệnh nhân sập bẫy vì con đường dẫn tới phòng khám TQ được mở rộng trong khi các con đường khác nhiều “ổ gà”. Nạn “chất đống bệnh nhân” ở phòng khám và bệnh viện tuyến trên, y bác sĩ do ta đào tạo có trình độ thấp, sự èo uột có vẻ đang teo dần theo năm tháng của y học cổ truyền từ đào tạo lớp trẻ đến tiếp thu kinh nghiệm của lớp già, lại bị đòn cạnh tranh hào nhoáng, dối trá của quá nhiều phòng khám TQ hiện nay.

Cuối cùng, dân sập bẫy vì người chăm lo cho dân mất cảnh giác, vô trách nhiệm trong kiểm tra kiểm soát và đặc biệt quá dễ dãi khi cho phép người TQ không đủ tiêu chuẩn hành nghề và “nổ” quảng cáo! Quan như thế thì dân không sập bẫy mới lạ! Trong khi thịt bẩn, rau bẩn, hoa quả độc hại tràn qua biên giới theo đường tiểu ngạch và cả chính ngạch thì những ông lang băm không kiếm ăn ra ở nhà mình tất tả chạy sang giăng bẫy trên đất ta. Tiên trách kỷ, hậu trách nhân, chỉ có hoàn thiện chính mình mới mong thoát được cạm bẫy!
Nguyễn Quang Thân
Theo PNO

Chủ quyền biển đảo, điều kiện cần và đủ

“Bối cảnh quốc tế hiện nay cho thấy, đã đến lúc và không thể muộn hơn phải đẩy mạnh chiến lược truyền thông quốc gia và quốc tế một cách bài bản để toàn thế giới biết sự thật, từ đó tìm được sự quan tâm ủng hộ của những người có lương tri. Song song đó là việc giao nhiệm vụ cho các trường đại học, các học giả, các bộ ngành có trách nhiệm mang những thông tin này chuyển ra thế giới qua các kênh thông tin khác nhau. Và hơn hết, cần công bố cho toàn dân biết một cách tường tận và khoa học về Biển Đông”. Luận điểm rắn chắc trên của TS Nguyễn Minh Hoà, ẩn dưới tựa đề bài viết nhè  nhẹ của SGTT “Trông người mà ngẫm tới ta“ đã khích lệ bao người đọc đang khắc khoải trước nguy cơ tồn vong của quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, lãnh thổ, lãnh hải thiêng liêng của tổ quốc, lo lắng đứng ngồi không yên bởi hiện tại đã bị mất chủ quyền một phần, phần còn lại luôn bị đe doạ tranh chấp, tương lai càng không có gì bảo đảm chắc chắn, nếu một khi đã quá muộn.
Luận điểm đó không xuất phát từ bất cứ một học thuyết cao siêu nào, mà rút ra từ thực tế Trung Quốc đang làm (trông người) và xa hơn ở bất cứ quốc gia nào từ cổ chí kim muốn tránh tranh chấp, cùng tồn tại cạnh quốc gia láng giềng nào, đều phải làm vậy để giữ độc lập, bảo toàn lãnh thổ, nếu không, chỉ còn cách trông chờ vào hoà khí nhân nhượng,  phó mặc số phận cho láng giềng định đoạt. Tuy nhiên, luận điểm vẫn là luận điểm; mọi luận pháp đưa ra dù hưá hẹn thần kỳ tới mấy cũng chỉ mang tính lựa chọn, nằm trên ý tưởng, trong thời đại thế giới phẳng ngày nay, đều có thể tiếp nhận, học hỏi từ bất kỳ quốc gia nào và tại bất cứ thời điểm nào, trong toán học vì vậy chỉ được coi là điều kiện cần, tức là tiền đề, muốn biến thành hiện thực không thể không đặt ra các câu hỏi về khả năng thực hiện nó, tức  điều kiện đủ.

Thực tế, mọi nhà nước sinh ra trước hết đều vì chủ quyền lãnh thổ; người dân sinh ra để mưu sinh; truyền thông là một ngành nghề, lĩnh vực; các trường đại học là những cơ sở đào tạo; học giả là các cá nhân độc lập; các bộ ngành đều có chức năng riêng của nó; khoa học dù liên quan tới biển đảo cũng chỉ là khoa học, có thể tìm trong lưu trữ thư viện. Trong khi đó, chủ quyền lãnh thổ nước nào cũng chỉ có thể giữ vững một khi hệ thống chính trị đặt dưới khát vọng đông đảo người dân. Sức mạnh đó lý giải tại sao người dân Mỹ từng buộc được chính phủ họ phải chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Chức năng của mọi cơ quan nhà nước, kể cả chức năng liên quan tới chủ quyền lãnh thổ, trong một nhà nước pháp quyền, chỉ có thể thực hiện đầy đủ một khi nó bị chế tài, nghĩa là phải có văn bản lập pháp và cơ quan tư pháp độc lập, để bảo đảm chức năng đó được thực thi, (ngoại trừ chiến tranh, tổng động viên). Khi và chỉ khi nhà nước và xã hội được thiết chế bảo đảm cả chính trị lẫn luật pháp như vậy, mới có thể nói tới điều kiện đủ, bảo đảm giữ vững chủ quyền, lãnh thổ, biển đảo tổ quốc một cách hoà bình.

 Hiên tại, dù muộn so với Liên Hiệp Quốc ban hành Công ước Biển 1982, ngày 21/6/2012, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Biển, quy định đầy đủ các nguyên tắc, chính sách quản lý và bảo vệ biển; phạm vi và  quy chế các vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa; quy chế các đảo, quần đảo Việt Nam, trong đó có Trường Sa và Hoàng Sa; các hoạt động trong vùng biển Việt Nam; tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ; bảo vệ tài nguyên và môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; phát triển kinh tế biển; tuần tra kiểm soát trên biển; hợp tác quốc tế về biển.

Cũng như tất cả mọi văn bản lập pháp, để Luật Biển Việt Nam được thực thi, vấn đề còn lại phải giải quyết là trách nhiệm cá nhân đứng đầu mọi tổ chức cơ quan đảng và nhà nước liên quan. Cá nhân nào đứng đầu tổ chức, cấp Đảng nào phải chịu trách nhiệm chính trị, và cá nhân nào đứng đầu cơ quan, cấp nhà nước nào phải chịu trách nhiệm pháp lý để đẩy mạnh chiến lược truyền thông quốc gia đã nêu trong điều kiện cần ở trên, được điểu chỉnh trong luật biển? Tương tự như vậy đối với giao nhiệm vụ cho các trường đại học, các học giả, bộ ngành về Biển Đông ? hay công bố một cách khoa học về Biển Đông cho toàn dân?

Sở dĩ phải tìm cá nhân chịu trách nhiệm chính trị, bởi quốc gia nào ngày nay cũng có đảng cầm quyền chịu trách nhiệm với quyết định chính trị của đất nước. Mọi chính sách, kết quả thực hiện nó, vì vậy phải được coi là thước đo đúng sai của quyết định chính trị, và phải được bảo đảm bằng sinh mạng chính trị của người đứng đầu tổ chức, cấp chính trị ra quyết định đó. Chính nguyên lý trên đã buộc Westerwelle Chủ tịch đảng FDP, Phó Thủ tướng Đức, phải thôi cả 2 chức, trong đó có lý do, đại diện cho Chính phủ Đức bỏ phiếu trắng đối với nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp Quốc về Libyen, bị dư luận Đức phản đối kịch liệt. Trách nhiệm pháp lý được đặt ra bởi đây là công việc nhà nước, bất kỳ cơ quan, cấp nhà nước mang tính pháp nhân nào cũng phải có cá nhân chịu trách nhiệm pháp lý đối với nó. Cá nhân đó có quyền khởi kiện và chịu bị kiện trước toà khi pháp nhân đó bị thiệt hại hoặc gây thiệt hại cho người khác, pháp nhân khác, phải từ chức hoặc bị cách chức khi để pháp nhân đó không thực hiện đủ chức năng luật định.

Chỉ khi bị ràng buộc trách nhiệm chính trị và pháp lý về mặt cá nhân, mang tính sống còn như vậy, mọi tổ chức đảng, cơ quan nhà nước mới có thể tự động hoàn thành chức năng của mình không cần đến bất cứ chỉ thị, nhắc nhở nào từ cấp nào đối với công việc của họ; lúc đó tiếng nói của người dân mới được lắng nghe, đóng vai trò đích thực là tiếng nói của chủ nhân đất nước; và cũng chỉ khi đó mới có thể nói đến sức mạnh toàn dân, nhất là trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ vốn mang tính quyết định; họ hoàn toàn yên tâm hành động, bởi được pháp luật che chở bảo hộ, không phải lo ngại phân tâm, hay phải trông chờ nghe ngóng, từ thể hiện lòng yêu nước thông qua biểu tình phản đối xâm phạm lãnh thổ, được tôn vinh trọng thị, đến ủng hộ tinh thần tiền của cho biển đảo, vận động thế giới với một đội ngũ  hơn 3 triệu người Việt hải ngoại, tới nghiên cứu khoa học về biển Đông, điều tra rõ ràng chính xác các xâm phạm chủ quyền lãnh hải không thể chỉ chung chung cho là tầu lạ, bởi không thể đối phó với một đối thủ vô hình, không tên…

Rốt cuộc, quốc gia nào cũng vậy, trách nhiệm chính trị và pháp lý sẽ quyết định số phận, tiền đồ đất nước, kể cả chủ quyền lẫn lãnh thổ; thiếu nó mọi đất nước đều sẽ hoặc rơi vào hỗn loạn mạnh ai nấy sống hoặc mãi mãi trì trệ tụt hậu, nói gì đến chủ quyền lãnh thổ.

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức

Ghi chú: Bài viết đã được đăng trên Sài Gòn Tiếp thị sau khi biên tập, bỏ bớt một số đoạn. Tuy nhiên, hiện chỉ còn trên SGTT giấy, còn trên mạng đã bị gỡ bỏ.
Theo Ba Sàm

Khoảng cách từ kê khai tới công khai

Vấn đề kê khai, còn chưa thực sự đi kèm với công khai, còn bị ngăn cách bởi những cái dấu “mật”.
Thanh tra Chính phủ vừa hoàn thành dự thảo sửa đổi Luật Phòng chống tham nhũng với lần đầu tiên, lương, phụ cấp của các lãnh đạo DNNN được đưa vào mục “công khai, minh bạch”. Dự thảo cũng quy định về nghĩa vụ giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm từ 100 triệu đồng trở lên so với lần kê khai gần nhất. Và với việc bổ sung, tăng cường kê khai tài sản, đây chính là việc cụ thể hóa quy định tại NQ TƯ 4 về một số vấn đề cấp bách về công tác xây dựng Đảng hiện nay “Thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản theo quy định của Đảng và Nhà nước. Kê khai phải trung thực và được công khai ở nơi công tác và nơi cư trú”. Cơ quan chức năng kỳ vọng nó sẽ trở thành “vũ khí” chống tham nhũng, tiêu cực- đã và đang là những “quốc nạn”.

Có người cho rằng lỗ hổng lớn nhất ở quy trình quản lý xã hội Việt Nam hiện này chính là quản lý tài sản. Bởi suy cho cùng, tài sản là thước đo từ năng lực, cho đến phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên. Việc tăng cường các biện pháp quản lý, giải trình nguồn gốc tài sản, vì thế, chính là khắc phục những bất cập trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Tuy nhiên, lương cũng như phụ cấp chỉ là những thu nhập chính thức, tồn tại song song với những thu nhập không chính thức.

Và vấn đề kê khai, còn chưa thực sự đi kèm với công khai, còn bị ngăn cách bởi những cái dấu “mật”.

Tại kỳ họp quốc hội vừa rồi, sau khi vụ tư dinh bạc tỷ của Bí thư tỉnh ủy Hải Dương được đưa ra công luận, báo chí dẫn lời một vị đại biểu QH cho rằng “không có lý do gì để các bản (kê khai) này phải đóng dấu mật”, bởi “Muốn bảo vệ tốt nhất là công khai”. Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp, ĐBQH Đinh Xuân Thảo thậm chí còn nói đến “mô hình Na Uy” mà “Việt Nam mìn cũng nên như thế”, có nghĩa là “muốn tìm thông tin tài sản của vị nào cứ gõ tên vào máy tính là có thể xem toàn bộ”.

Quyền có và sử dụng tài sản của công dân là một quyền được pháp luật bảo hộ. Nhưng đối với cán bộ, đảng viên thì việc kê khai tài sản và công khai việc kê khai đó, phải là một trong những yêu cầu bắt buộc. Bởi kê khai, mà không gắn liền với công khai thì đó chỉ là kiểu kê khai “đóng kín”, thiếu hoàn toàn sự giám sát từ người dân, từ công luận.

Khi vụ án “ván cờ bạc tỷ” kết thúc bằng những án tù giam cho những “con bạc”, nguyên là những quan chức nhà nước, một nghi án khác lại được mở ra: Vì sao Phó Giám đốc sở, một quan chức “cỡ hột mè hột cải”, lại có vài mảnh đất, mấy căn nhà, hàng chục tỷ để nướng trong những ván cờ tiền tỷ? Có điều, nghi án này sẽ không bao giờ trở thành một vụ án, bởi, như thực tế, với cơ chế kiểm soát hiện nay, với khoảng cách lớn giữa kê khai và công khai, sẽ rất khó để biết, để kiểm chứng nguồn gốc tài sản của cán bộ công chức.

Đào Tuấn

Thứ Sáu, ngày 20 tháng 7 năm 2012

Tàu đổ bộ Trung Quốc xuất hiện tại Trường Sa

Một phát hiện khá thú vị khi tin này được đăng trên Thanh Niên và VOV của blogger Gốc Sậy: Cả hai báo điều đưa vào mục “Thế Giới“. Vậy là sao? Đây là chuyện xảy ra trên lãnh hải Việt Nam, Trung Quốc đang ngang ngược xâm phạm một cách trắng trợn!? Bà con xem hình chụp bên dưới, cuối bản tin.
Chiếc máy bay do thám của hải quân Philippines theo dõi hoạt động của đội tàu cá Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa (Việt Nam) đã phát hiện một tàu đổ bộ Trung Quốc tại bãi đá Su Bi.
Hình ảnh tàu đổ bộ 934 của Hải quân Trung Quốc trong quần đảo Trường Sa do máy bay trinh sát của Philippines chụp được. Ảnh: Philippines Star
Theo tờ Philippine Star ngày 20.7, tàu đổ bộ lớp Ngọc Đình (072-II) số 934 được trang bị ba khẩu pháo và một bãi đáp trực thăng, dùng để chở binh lính hoặc hàng hóa.

Chiếc tàu được một máy bay do thám thuộc Bộ Tư lệnh miền Tây của Philippines phát hiện. Chiếc máy bay này vốn được triển khai để theo dõi hoạt động của đội tàu cá Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa.

Tàu đổ bộ Trung Quốc hiện thả neo tại bãi đá Su Bi thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép, theo nguồn tin của tờ Philippine Star.

Hiện tại, đội tàu gồm 30 chiếc tàu cá Trung Quốc đang đánh bắt trái phép tại bãi đá Su Bi dưới sự yểm trợ của một tàu ngư chính, bất chấp sự phản đối từ phía Việt Nam.

Vào ngày 13.7, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng khẳng định việc 30 tàu cá từ tỉnh Hải Nam của Trung Quốc tới đánh bắt ở quần đảo Trường Sa là hành động phi pháp.

“Lập trường của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được khẳng định nhiều lần. Hoạt động khai thác của ngư dân Trung Quốc ở khu vực quần đảo Trường Sa là phi pháp, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này. Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc có trách nhiệm giáo dục, hướng dẫn ngư dân tôn trọng chủ quyền, lãnh thổ của Việt Nam, tuân thủ luật pháp quốc tế”, đại diện Ủy ban Biên giới quốc gia thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố.

Vào tuần trước, một tàu hộ vệ tên lửa lớp Giang Hồ của Trung Quốc đã mắc cạn tại bãi Trăng Khuyết thuộc quần đảo Trường Sa trước khi được giải cứu.
Sơn Duân

Từ Sihanouk đến Hun Sen

Sihanouk và Hun Sen, hai nhà lãnh đạo nổi tiếng của Cambodia, cách nhau một thế hệ. Cả hai đều là những người “rất Cambodia” – nghĩa là thường xuyên “thay đổi” các quan điểm chính trị, miễn sao có lợi cho mình.
Sihanouk là một ông hoàng có tài ngoại giao khéo léo, tranh thủ được nhiều cường quốc trên thế giới giúp đỡ, lại có uy tín cao đối với nhân dân Cambodia.
Phạm Văn Đồng và Sihanouk
Ông ta cũng nổi tiếng với tính khí thất thường, hay thay đổi. Còn Hun Sen, phải công nhận ông ta là người có tài – tất nhiên, không phải cái luận án Tiến sỹ chính trị “Tính đặc thù của quá trình cách mạng Campuchia” làm tại VN. Từ chỗ chỉ có thể nói đôi chút tiếng Anh, đến Hội nghị quốc tế Pari về vấn đề Cambodia năm 1991, ông ta đã có thể trả lời phỏng vấn bằng tiếng Anh. Cũng như ông hoàng Sihanouk, Hun Sen còn viết sách, sáng tác âm nhạc, song có lẽ kiến thức về “y học” thì không thể bằng người đồng cấp nước láng giềng Cambodia!

Sau năm 1954, VN tạm thời chia làm hai miền Nam, Bắc. Sihanouk thường xuyên yêu sách với VNCH về vấn đề biên giới, cho quân đội quấy nhiễu buộc cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu phải viếng thăm Cambodia để giải quyết. Vấn đề biên giới giữa hai nước đã được giải quyết bằng việc hai bên mặc nhiên công nhận Hiệp ước về biên giới Việt – Miên do Pháp và Miên hoàng ký năm 1873. Lúc bấy giờ, Phnom Pênh không có quan hệ ngoại giao với Hà Nội.

Nhưng, sau chuyến viếng thăm đáp lễ của Sihanouk đến VNCH, bỗng nhiên quan hệ giữa Cambodia và VNCH xấu hẳn đi. Cố vấn Ngô Đình Nhu bí mật chỉ đạo việc giúp đỡ cho hai nhân vật chống Sihanouk là Sam Sary và Sơn Ngọc Thành nhằm lật đổ Chính phủ Sihanouk. Song, Sihanouk rất khôn khéo, chẳng bao lâu Sam Sary bị Sihanouk bắt và bị giết. Không chịu thất bại, lần này Ngô Đình Nhu đặt lòng tin vào Đáp Chuôn, tỉnh trưởng Siem Reap – một người chống Sihanouk và có tham vọng lật đổ Sihanouk. Nhu tặng ông ta 100 ký vàng để nhờ ông ta lật đổ Sihanouk. Thế nhưng, mọi âm mưu của VNCH đều bị Sihanouk theo dõi chặt chẽ nên khi Đáp Chuôn chuẩn bị đảo chính, Sihanouk bèn đem quân tấn công Siem Reap, bắt và xử bắn Đáp Chuôn tại chỗ. Thêm nữa, hai sĩ quan truyền tin VNCH được Nhu bí mật phái đến bên cạnh Đáp Chuôn để liên lạc với Sài Gòn cũng bị xử tử với tang vật là điện đài, sổ ghi chép và 270 ký vàng thoi để trả công cho phe chống đối. Đại sứ VNCH là Ngô Trọng Hiếu bị trục xuất khỏi Cambodia.

Sihanouk quay sang thân với Hà Nội và để cho “Việt Cộng” đứng chân trên đất Cambodia. Rõ ràng, Sihanouk rất quyền biến và thay đổi bạn bè rất nhanh.

Vào trung tuần tháng 3.1970, Sihanouk vừa đặt chân đến sân bay Mátxcơva, Thủ tướng Liên Xô Kosyghin ra đón và nói với ông ta, ngài có thể ở lại Mátxcơva đêm nay nếu ngài muốn, nhưng sáng mai ngài nên trở lại Pnom Pênh. Ngài đừng để Campuchia rơi vào tay bọn Lon Nol, Xirich Matắc. Quả nhiên, mấy hôm sau, Sihanouk đã bị Lon Nol – kẻ cầm đầu cuộc đảo chính phế truất. Sihanouk quyết định đi Bắc Kinh tìm sự giúp đỡ của TQ. Từ đây, Sihanouk trở thành một con bài trong tay người TQ lắm thủ đoạn, nhiều mưu kế.

“Ngài vẫn là Quốc trưởng duy nhất của Cambodia, chúng tôi không công nhận bất cứ ai khác” – Chu Ân Lai nói với Sihanouk ngay bên cạnh chân cầu thang máy bay vừa hạ cánh. Chớp thời cơ, ngày hôm sau, Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng nhanh chóng tới Bắc Kinh gặp Sihanouk. Ông nồng nhiệt chào đón Sihanouk và nói, “thế là bây giờ chúng ta cùng là bạn chiến đấu và chúng tôi rất tự hào được nhìn thấy ngài đứng trong cùng một chiến hào với chúng tôi”. Sihanouk yêu cầu VNDCCH gửi cán bộ huấn luyện quân sự. Ông Đồng đáp, tôi sẽ nói với tướng Giáp gửi giúp ngài những cán bộ xuất sắc.

Chính phủ đoàn kết dân tộc Vương quốc Campuchia được thành lập trên đất TQ và hầu hết các bộ của nó đều nằm ở TQ. Sihanouk hoàn toàn phụ thuộc vào TQ.

Sihanouk tự hào được Chu Ân Lai lo lắng cho mọi thứ, ngay cả chuyện ông ta thích các món ăn Pháp cũng được Chu lưu tâm tới. Mỗi khi cần di chuyển, Chu luôn dành cho Sihanouk những chuyến tàu đặc biệt xa hoa hoặc chuyên cơ. Chính phủ TQ đã chuyển Bộ ngoại giao đặt tại một tòa nhà rộng rãi, to đẹp đi nơi khác để dùng làm tư dinh cho Sihanouk đã bị phế truất, đồng thời còn tuyên bố đây là “lãnh thổ” bất khả xâm phạm của Sihanouk, muốn sử dụng đến bao giờ cũng được. Ngoài ra còn có nhân viên phục vụ, đội ngũ đầu bếp tài giỏi, một ban thư ký lớn và các dịch vụ của một hoàng cung, nhân viên văn phòng, người làm vườn, một đội xe con, một trung tâm thể thao và cả một phòng chiếu phim riêng. Khi Sihanouk đặt vấn đề “trả tiền”, Mao nói với ông ta: “Chúng tôi không phải là bọn lái súng. Về một số lĩnh vực khác, có thể nói chuyện cho vay hoặc trả tiền sau, nhưng về vũ khí thì không”. Rồi Mao tiếp, “tôi đề nghị ngài đưa thêm nhiều người đến đây nữa. Ngài càng có thêm nhiều người đi theo, tôi càng vui mừng. Càng nhiều người đoàn tụ chung quanh ngài, tôi càng vui sướng. Ngài chớ nên quá quan tâm những chuyện vặt này. Hãy tập hợp nhiều người hơn nữa ở đây. Nếu họ không ra trận được thì cứ đến đây với ngài. Sáu trăm, một nghìn, hai nghìn, hơn nữa cũng được. TQ luôn luôn sẵn sàng tiếp nhận và cung cấp cho họ mọi thứ cần thiết”.

Cho nên, chúng ta không ngạc nhiên khi Sihanouk sáng tác bài hát “Nhớ Trung Hoa” để “dâng tặng nhân dân TQ”. Rồi ông ta tiếp tục sáng tác một bản nhạc với tựa đề: “Ôi Trung Hoa, Tổ quốc yêu dấu thứ hai của tôi”!

TQ nhìn rất xa khi sử dụng con bài Sihanouk. Dù được Chu Ân Lai ưu ái như vậy, song Sihanouk đâu có biết, Chu nói với Tiến sỹ Kissinger trong một cuộc hội đàm, “Sihanouk thường xuyên nói với người khác những gì tôi nói với ông ta, thậm chí cả những điều tôi chưa từng nói với ông ta. Do đó, bằng lời khuyên của ngài và kinh nghiệm bản thân, chẳng bao giờ chúng tôi nói với ông ta toàn bộ vấn đề”.

TQ, một mặt ủng hộ Sihanouk, mặt khác lại ủng hộ Khmer Đỏ. TQ biết rằng nếu ủng hộ Sihanouk sẽ tạo cho Khmer Đỏ cơ hội có một không hai để truyền bá chủ nghĩa cộng sản ở Cambodia và như thế, TQ sẽ có được một đồng minh vô điều kiện. Lịch sử đã chứng minh điều đó.

Sihanouk cũng được VNDCCH giúp đỡ rất nhiều. VNDCCH đã từng tổ chức cho ông ta trở về Cambodia qua con đường Trường Sơn, sau thời sống gian lưu vong tại Bắc Kinh. Ông ta rất nhiều lần gặp các nhà lãnh đạo VNDCCH như Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp. Tuy nhiên, Hà Nội cũng nhiều lần khó chịu vì trò chơi hai mặt của ông ta.

Đến đây, chúng ta trở lại với Hun Sen. Phải thừa nhận, ông ta là một nhân vật xuất sắc của Cambodia. Với quyền tự vệ chính đáng và để cứu nhân dân Cambodia khỏi họa diệt chủng, VN đã tấn công Cambodia, quét sạch bọn Pôn Pốt và ở lại Cambodia mười năm, song cũng phải trả giá khá đắt. Hun Sen được VN cứu vớt và đưa lên hàng ngũ lãnh đạo Cambodia. Hơn ai hết, Hun Sen biết rõ điều đó. Và thời gian mấy chục năm qua có vẻ như ông ta là đồng minh đáng tin cậy của VN. Song, thế giới đã thay đổi rất nhiều. Đứng trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của TQ trên đường trở thành một cường quốc, giữa VN và TQ, Hun Sen chọn ai?

Lịch sử dường như một lần nữa lặp lại. Chúng ta nhớ lại Sihanouk đã ngả theo TQ như thế nào. Bây giờ đến lượt Hun Sen. Họ đều là những người Cambodia đặc trưng. Từ Sihanouk đến Hun Sen, TQ luôn luôn giữ vai trò chi phối Cambodia. Thông điệp mà Hun Sen gửi cho VN thật quá rõ ràng: Hun Sen hoàn toàn ngả theo TQ trong vấn đề tranh chấp biển Đông. Phải chăng, kẻ nào chi nhiều tiền, kẻ đó là người điều khiển?

Con đường duy nhất để một đất nước trở thành đối tác được tôn trọng và tin cậy của thế giới là đất nước đó phải phát triển hùng mạnh, phải hòa nhập với thế giới văn minh. Hành động của Hun Sen tại Asian 45 không có gì khó hiểu. Và vì vậy, phải chăng, VN chỉ có thể tự trách mình?
Lê Mai

Thứ Năm, ngày 19 tháng 7 năm 2012

Sáng suốt như Hunxen

Ông và đảng của ông là con cờ do đảng VN dựng lên để đánh bọn Pôn Pốt, tiêu diệt mối nguy diệt chủng của dân tộc ông cũng là mối nguy thọc sườn vào VN.

Trong những năm đất nước ông chuyển qua chế độ dân chủ đa đảng, ông và đảng của ông vẫn dành được thắng lợi qua bầu cử cũng nhờ vào sự giúp đỡ ngấm ngầm nhưng không nhỏ của đảng VN.

Ông và đảng của ông chỉ là học trò nhỏ của đảng VN, nhưng ông thông minh, sắc sảo lại có tâm, có tầm nên nhanh chóng vượt qua mặt các vị thầy của mình, trở thành một nhà lãnh đạo đầy tự tin và có vị thế ở Đông Nam Á.

Ông và đảng của ông mang ơn đảng VN rất nhiều nhưng không vì thế đảng của ông bắt nhân dân ông phải đội ơn đảng VN suốt đời với cái vòng kim cô theo kiểu “4 tốt 16 chữ vàng”. Mà đảng của ông có muốn làm vậy cũng không được vì bên cạnh đảng ông còn có những đảng khác giám sát.

Có lẽ cũng nhờ vậy mà ông và đảng ông biết đặt lợi ích đất nước và dân tộc lên trên lợi ích của đảng ông, không vì sự tồn tại bằng mọi giá của ông và của đảng ông mà hy sinh sinh sự tồn vong của đất nước và hạnh phúc của dân tộc ông.

Vì vậy:

Ông và đảng ông đã linh hoạt theo tình thế, chọn Trung Cộng để chơi thay vì khư khư vì ơn nghĩa của riêng ông và đảng ông mà muôn đời bám đít đảng VN.

Đó là sự chọn lựa sáng suốt khi biết đặt quyền lợi của tổ quốc và nhân dân lên trên quyền lợi của bè nhóm, đảng phái.

Ngược lại với ông là đảng VN.

Trung Cộng không những chẳng giúp được gì nhiều cho đảng VN như đảng VN đã giúp đảng ông mà còn lợi dụng đảng VN đánh Mỹ giúp họ cho “đến người dân VN cuối cùng” để rồi họ thừa cơ cướp lấy Hoàng Sa.

Rồi họ còn vì muốn làm thân với Mỹ để kiếm chác mà xua quân qua biên giới dạy cho VN một bài học đẫm máu. Nhờ vậy, ngày nay họ trỗi dậy lớn mạnh vào hàng thứ hai thế giới. Ỷ thế, họ hung hăng xua tàu vào với ý định công khai cưỡng đoạt toàn bộ biển Đông của VN và của các nước Đông Nam Á.

Thế nhưng,

Đảng VN vẫn cứ khư khư bám vào họ, vẫn “4 tốt 16 chữ vàng” với họ, vẫn bắt toàn dân VN phải khúm núm, quị lụy mang cái ơn không bao giờ có của họ.

Ấy là đảng VN, không giống như đảng ông, đã vì sự tồn tại bằng mọi giá của mình mà phải làm như vậy.

Giữa VN và Trung Cộng, đảng ông đã biết chọn Trung Cộng.

Giữa Trung Cộng và Mỹ, đảng VN đã không biết chọn Mỹ.

Hunxen! Tôi rất giận ông về chuyện ông đã gây ra bất lợi vừa rồi cho đất nước chúng tôi nhưng tôi kính nể ông vì ông là một nhà lãnh đạo sáng suốt, có tâm, có tầm.

Hạnh phúc cho nhân dân ông và bất hạnh cho nhân dân chúng tôi.
Huỳnh Ngọc Chênh
Theo Huỳnh Ngọc Chênh blog

Chủ nghĩa dân tộc lành mạnh

Mấy hôm nay, truyền thông của khu vực và cả thế giới sôi nổi bình luận về sự kiện hội nghị ASEAN ở Phnom Penh không ra được tuyên bố chung. Có 3 chủ đề nổi bật: Một là Trung Quốc cao giọng cho rằng đây là thắng lợi của họ; họ cám ơn nước chủ nhà đã “bảo vệ lợi ích cốt lỏi” của Trung Quốc. Tuy nhiên, một nhà nghiên cứu uyên thâm về Châu Á lại cho rằng, Trung Quốc chỉ thắng về chiến thuật, nhưng sẽ thất bại chiến lược. Bởi vì họ đã làm cho nhiều nước lo ngại, đang tìm mọi cách để chống lại. Hai là, có phải Việt Nam bị thất bại? Các nhà bình luận sáng suốt có ý kiến ngược lại: Tính chính đáng về lịch sử và về pháp lý, cùng với quan điểm chủ trương xử lý tranh chấp bằng thương lượng hòa bình của Việt Nam đã thu phục tình cảm của cộng đồng quốc tế. Đó chính là sức mạnh to lớn sẽ giúp Việt Nam giành thắng lợi cuối cùng. Ba là lợi ích dân tộc đã khiến nước chủ nhà đặt lợi ích quốc gia mình lên trên khối thống nhất ASEAN. Dư luận rất đông đảo kể cả của những nước không có quyền lợi trực tiếp ở Biển Đông cũng chê trách cho đó là sự thiển cận, ích kỷ. Cả ba chủ đề kể trên đều cho thấy sự chi phối của chủ nghĩa dân tộc. Vậy lấy gì để phân định chân lý đây?

Từ lâu, nhân loại đã phân biệt chủ nghĩa dân tộc lành mạnh với chủ nghĩa dân tộc sô vanh (Ph. Nicolas Chauvin). Chủ nghĩa dân tộc lành mạnh bảo vệ lợi ích của dân tộc mình, nhưng không theo nước mạnh, lấn át nước yếu. Chủ nghĩa dân tộc lành mạnh giúp cho các dân tộc chọn liên minh đúng đắn với những quốc gia tiến bộ của thời đại, khởi đầu có thể yếu thế, nhưng dần dần lớn mạnh và cuối cùng giành được thắng lợi. Ngược lại, chủ nghĩa dân tộc sô vanh khuyến khích chạy theo lợi ích hẹp hòi, sẵn sàng tước đoạt lợi ích của các dân tộc khác, chụp giật lợi ích trước mắt, nhưng cuối cùng sẽ thua thiệt thảm hại. Nhân loại đã ghi nhận sự thắng thua như vậy trong suốt hàng ngàn năm lịch sử, cuối cùng là ở cuộc thế chiến thứ hai với kết cục thảm bại của phe trục. Lịch sử ba nước Đông Dương cũng có những chứng minh vô cùng sinh động về sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc lành mạnh và tác hại khủng khiếp của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Trong khi quân Nhật tràn vào đè bẹp chính quyền thực dân Pháp và tiến đánh như chẻ tre cả Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, thì Việt Nam trong tình trạng “một cổ hai tròng” vẫn “gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay”. Chủ nghĩa dân tộc lành mạnh đã cho ta nhãn quan sáng suốt để chọn đúng đồng minh chính nghĩa. Suốt gần nửa thế kỷ chúng ta chẳng những giành độc lập cho dân tộc mình mà còn đem xương máu giúp Campuchia, Lào giành độc lập, đặc biệt đã giúp nhân dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng.

Mấy hôm nay, dù rất lấy làm tiếc, nhưng Việt Nam vẫn cố gắng không gây sứt mẻ tình cảm với Campuchia, người bạn mà mình từng hy sinh xương máu vì nhau. Có lẽ qua dư luận của khu vực và thế giới đã đủ làm cho các bạn Campuchia giật mình, nhớ lại bài học chưa xa: Ai là kẻ nuôi dưỡng, hỗ trợ, xui giục Khơ me đỏ thi hành chính sách đối nội diệt chủng, chém giết không ghê tay đồng bào mình; đối ngoại chống Việt Nam, người bạn chung chiến hào chống thực dân, đế quốc? Kịch bản của kẻ ấy hôm nay có khéo léo hơn, nhưng bản chất thì vẫn là kích thích lợi ích dân tộc hẹp hòi. Báo The Nation (Thái Lan) cho rằng, “sớm hay muộn Campuchia cũng sẽ nhận ra rằng hành động của nước này đã hủy hoại lòng tin của khối ASEAN” và “nó cũng phương hại đến nổ lực của Campuchia giành chiếc ghế không thường trực của Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc vào năm tới”. Đó là cái hại dễ thấy ngay, còn nếu nhìn sâu vào bản chất của hai bên: cậy mạnh hiếp yếu, bảo vệ chủ quyền và bành trướng xâm lược; ngang ngược áp đặt và tôn trọng luật pháp… thì sẽ thấy chính nghĩa và phi nghĩa rất rạch ròi. Và lịch sử chưa bao giờ cho phép ai nhập bọn với kẻ phi nghĩa mà được an toàn !
Tống Văn Công
Theo Viet-Studies

Vì sao Hun Sen đổi thái độ với Việt Nam?

Hôm 13 tháng 7 năm nay, Hội nghị bộ trưởng ngoại giao ASEAN lần thứ 45 tổ chức tại Phnom Penh chấm dứt trong không khí chia rẽ gay gắt và thái độ của Campuchia trong vụ việc này đã làm nhiều người kinh ngạc.
Dư luận tố cáo Campuchia là con ngựa mồi của Trung Quốc, là kẻ phá vỡ khối đoàn kết ASEAN.
Nhưng thực ra Campuchia không phải là con sâu làm rầu nồi canh hay con ngựa mồi của Trung Quốc.
Campuchia, cũng như Lào, Việt Nam và Myanmar, chỉ là phần nổi của tảng băng bành trướng từ phương bắc xuống vùng biển phía nam.
Tác nhân chính trong việc chia rẽ hay phân tán nội bộ khối ASEAN là Trung Quốc.
Ông Hun Sen từng được Việt Nam đưa về lãnh đạo Campuchia sau thời Pol Pot
Từ hơn mười năm qua, Bắc Kinh đã âm thầm mở rộng vòng đai ảnh hưởng xuống các quốc gia phía nam trong mục tiêu truy tìm những nguồn năng lượng mới. Chiến lược mở rộng vòng đai ảnh hưởng của Trung Quốc khá giản dị: mua chuộc sự trung thành bằng tiền.
Trong thời gian từ 1994 đến 2011, Trung Quốc đã đầu tư tổng cộng 8,8 tỷ USD vào Campuchia và trở thành nhà đầu tư lớn nhất. Đầu tư của Trung Quốc tập trung vào các ngành thủy điện, khoáng sản, dệt may, ngân hàng, tài chánh, du lịch và công nghiệp, và gần đây hơn vào công tác dò tìm dầu khí trong nội địa Campuchia.
Những khoản đầu tư trực tiếp từ các doanh nghiệp Trung Quốc khoảng 1,19 tỷ USD, chủ yếu vào các ngành khai thác gỗ rừng, khoáng sản, xây dựng và khách sạn. Bắc Kinh còn hứa cho Phnom Penh vay với lãi suất thấp vào bảy lãnh vực chính như tài chánh, y tế, hàng không,thông tin, giao thông, vận tải, đặc biệt là 430 triệu USD để nâng cấp các cơ sở hạ tầng và 20 triệu USD để xây dựng quân y viện và trương đào tạo quân sự.
Trung Quốc còn là nhà tài trợ phát triển cơ sở hạ tầng lớn nhất tại Campuchia với hơn 2,1 tỷ USD như xây dựng và nâng cấp các quốc lộ (1, 2, 3, 4, 6, 7) nối liền biên giới Lào và cao nguyên phía đông đến Vịnh Thái Lan và cảng Kompong Som.
Ngoài ra, về thương mại, hai bên cam kết nâng kim ngạch thương mại song phương từ 2,56 tỷ USD lên 5 tỷ USD.
Đó là chưa kể những khoảng tiền mua chuộc, đút lót cho các cấp lãnh đạo Khmer từ trung ương đến địa phương để được dễ dàng trong việc khai thác tài nguyên và xây dựng cơ sở.
Số người Trung Quốc hiện diện chính thức trên lãnh thổ Campuchia khoảng 350.000 người, trong đó 200.000 người thường trú tại thủ đô Phnom Penh.
Trước những khoản tiền khổng lồ này, không một cấp chính quyền nào của Campuchia có thể làm ngơ.
Dư luận lo sợ rằng Campuchia sẽ trở thành một thuộc địa của Trung Quốc trong nội bộ ASEAN như Myanmar đã từng và đang cố vùng vẫy để thoát ra.
Nhưng có một yếu tố ít ai nhắc tới, đó là tính thực tiễn của các cấp lãnh đạo Khmer: chính sách đu dây hay thái độ hai mặt, nghĩa là biết ngả theo phe mạnh nhất để giữ gìn và bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ.
Cố thoát gọng kìm
Từ thế kỷ thứ 17 đến nay, các cấp lãnh đạo Campuchia đã áp dụng thái độ hai mặt để thoát khỏi thế gọng kìm giữa Việt Nam và Thái Lan và đã thành công.
Đối với Phnom Penh, Trung Quốc ngày nay giống như Pháp hồi cuối thế kỷ 19 là cường quốc bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ Campuchia trước sự “chèn ép” của Thái Lan, như tại đền Preah Vihear, và Việt Nam trong việc phân chia ranh giới dọc khu vực Takeo và Svay Rieng.
Chính vì thế, trước những tranh chấp hiện nay trên Biển Đông, thái độ của Phnom Penh là trung lập, cũng như Sihanouk trước kia trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1965-1975).
Từ chối ủng hộ Việt Nam và Philippines và không ghi vào bản tuyên bố chung cuộc tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, sau hội nghị cấp bộ trưởng ngoại giao ngày 13 tháng 7 vừa qua, nằm trong lô gích này.
Là một quốc gia nhỏ bé và yếu kém, lại nằm giữa hai gọng kềm Việt Nam và Thái Lan, Campuchia luôn bị thiệt thòi trong việc xác định làn ranh phân chia lãnh thổ và lãnh hải với cường quốc khu vực.
Trong Vịnh Thái Lan, thềm lục địa và khu đặc quyền kinh tế của Campuchia bị teo lại bởi những hải đảo thuộc chủ quyền Việt Nam và Thái Lan, các cấp lãnh đạo Khmer đã tỏ ra bực tức trước sự thiệt thòi này nhưng không biết giải quyết bằng cách nào.
Trên đất liền cũng thế, Campuchia không có tiếng nói mạnh để ấn định làn ranh phân chia lãnh thổ với Việt Nam và Thái Lan theo ý mình.
Để bảo vệ địa vị lãnh đạo của mình, các cấp chính quyền Khmer trước kia đã biết cậy nhờ sự che chỡ của Việt Nam và Thái Lan để loại trừ đối thủ, bù lại các thế lực bảo vệ được hưởng những quyền lợi mong muốn.
Ngày nay thế lực này là Trung Quốc, không những thế quốc gia Campuchia còn được giúp đỡ trực tiếp, phản ứng tự nhiên của các cấp chính quyền Khmer là ngả theo Trung Quốc.
Quốc gia bị thiệt thòi nhất trước sự trở mặt này có lẽ là Việt Nam. Chính quyền Hun Sen đã do chính chế độ công sản Việt Nam dựng lên sau khi xua quân đánh đuổi Pol Pot năm 1979.
Cho tới năm 2010, tuy bề ngoài chính quyền Hun Sen vẫn rất gắn bó với Việt Nam nhưng trong lòng đã ngả theo Trung Quốc.
Chính quyền cộng sản Việt Nam đã tốn rất nhiều tiền bạc và xương máu tại Campuchia để rồi đi đến kết quả bi đát này.
Sai lầm chính của chính quyền cộng sản Việt Nam trong suốt thời gian qua là đã giúp Hun Sen tiêu diệt và bóp nghẹt những tiếng nói đối lập nên nay Hun Sen tự do lộng hành vì không còn ai phản đối và đã có thái độ phản trắc trong hội nghị ASEAN về ngoại giao.
Đối với ASEAN, sự trở mặt của Campuchia không quá tai hại để có thể làm mất tình đoàn kết nội bộ.
Mối lo ngại chính của các quốc gia ASEAN là sự gặm nhắm từ từ nhưng chắc chắn của Trung Quốc về chính trị và kinh tế trên năm quốc gia trên bán đảo Ấn-Trung (Indochina), đó là Myanmar (Miến Điện), Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.
Gần đây Myanmar đã thức tỉnh và đang cố vùng vẫy thoát khỏi màng nhện mà Trung Quốc đã giương ra.
Trường hợp của Lào và Campuchia thì khó hơn vì hai nước này ngày nay đã gần như nằm gọn trong vòng tay của Trung Quốc, doanh nhân Trung Quốc đã nắm toàn bộ mọi sinh hoạt mọi kinh tế và thương mại.
Trường họp Việt Nam thì còn đang dùng dằng, vì một mặt quần chúng Việt Nam vẫn còn sáng suốt nhìn thấy sự xâm thực ảnh hưởng của Trung Quốc và mặt khác các cấp lãnh đạo cộng sản Việt Nam đang phân vân chọn lựa giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, ai là người giúp họ duy trì quyền lãnh đạo trên đất nước.
Cũng may, con bài Campuchia đã sớm lộ tẩy để thấy âm mưu bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông.
Vấn đề còn lại của ASEAN là làm sao bảo vệ được những bí mật trao đổi nội bộ để không bị Trung Quốc làm áp lực thêm.
Trục trặc kỹ thuật trong vụ việc vừa qua buộc các quốc gia ASEAN phải có một thái độ khác với Trung Quốc, nếu muốn trở thành một khối thống nhất về kinh tế và chính trị.
TS Nguyễn Văn Huy
Bài thể hiện quan điểm riêng của tiến sỹ Nguyễn Văn Huy từ Paris, Pháp.
Nguồn: BBC