Thứ Bảy, ngày 28 tháng 7 năm 2012

Biển và nỗi niềm của người dân biển


con cá ở trên bờ sẽ sớm nhớ biển mà chết chứ có lý do gì đâu mà rắc rối. Ông lại về với biển, với cái nghiệp mà cha ông đã tạo vết hằn trên vỏ não. Những ai không phải người xứ biển sẽ chẳng thể hiểu được điều này. Cứ nhìn vào đôi mắt của Sói biển Mai Phụng Lưu khi nói về Hoàng Sa, về biển, về tôm cá…thì sẽ cảm nhận được điều này
Tôi vốn sinh trưởng nơi xóm nghèo ven biển miền Trung, không xa bờ biển mấy. Đêm nằm có thể nghe tiếng gió vi vu, lao xao thổi qua những rặng phi lao của rừng phòng hộ ven biển. Những hôm gió to, lắng tai có thể nghe tiếng sóng xô vào bờ cát. Xóm tôi nằm gần cái chợ nhỏ phía bên kia sông mà dân quanh vùng gọi tên “chợ An Cư”.
Sáng nào, cũng thấy người dưới bến gánh cá chạy qua xóm mang lên chợ bán. Vốn tính tò mò nên tôi cũng thường hay tìm hiểu các giống cá ở vùng biển quê mình. Cho nên, tôi có thể nhận ra và kể tên vanh vách tất cả các loài cá có thể ăn được và không thể ăn được dù chẳng phải dân chài lưới.
Ngày trước, bao nhiêu tàu to thuyền lớn, chở được nhiều người thì dân tình đều sử dụng vào việc vượt biên cả. Chính quyền có cấm đoán, bỏ tù cỡ nào đi nữa thì dân trong vùng vẫn cứ quyết tâm giữ phương châm “một ở với Mỹ, hai ở với Khỉ” mà bỏ xứ ra đi, đầu óc tôi bé dại chẳng hiểu vì sao. Lần hồi, dân chài lưới trong vùng chỉ còn lại mấy cái thuyền be bé hoặc thuyền thúng chỉ đi được ven bờ. Bởi vậy, con cá con tôm đánh bắt được chỉ be bé chứ không to như bây giờ. Vả lại, người lớn bảo rằng mấy con tôm-cua-cá loại to to ngon ngon cũng như mấy loại cây trái, sản vật to to ngon ngon …ta dành để biếu các anh trong khối XHCN. Còn thì dân chúng trong nước vốn đã chịu khổ quen rồi, có cái ăn cũng đã hạng phúc chứ đòi hỏi chi cao sang.
Hồi đó, nhà ngoại tôi nghèo-hình như thời gian ấy không có người giàu thì phải-thường chỉ mua được loại cá rất nhỏ đem về kho, ngoại tôi gọi đấy là cá “long hội”. Sau này, lớn lên chút xíu mới biết “long hội” tức “lôi họng” bởi thịt cá thì ít mà xương dăm thì nhiều, ăn mà không nhằn cho kỹ thì nó lôi toạt cả họng. Bạn bè tôi phần nhiều đều có gia đình làm nghề đi biển nên tôi biết rất rõ cái sự cực khổ vô cùng tận của cái nghề này. Có khi phải đánh đổi bằng chính sinh mạng của mình cho miếng ăn.
Năm nào đến mùa bão lũ thì các xóm chài ảm đạm, tang tóc vô cùng. Đứng trước biển, nhìn cái thuyền cá ở ngoài khơi như một cái chấm nhỏ, lúc nhô lên lúc hụp xuống giữa hai con sóng mới thấy cái sự nguy hiểm của biển khơi. Ấy vậy mà dân miệt biển, từ đời cha cho chí đời con cứ đi về hướng ấy, chẳng hiểu vì sao. Ừ, dân chài cũng giống như cái giống rùa biển vậy, rùa con nở ra cứ lao về phía biển mặc bao nguy hiểm chực chờ. Có người bảo, trên vỏ não của dân chài xứ biển có một vết hằn, cái vết hằn như vết hằn của loài rùa biển đó bao đời nay dẫn họ đi về phía biển, bảo cho họ mùa nào gió lộng, nơi nào đàn cá tụ tập, nhìn màu nước-hơi gió mà đoán có bão dông…
Người ta bảo, trẻ con Mông Cổ mới sinh ra đã có thể cưỡi được ngựa. Cái luận ấy có phần hơi thái quá, nhưng thực ra, nói như thế không phải không có cơ sở. Chỉ bởi chúng ta không phải hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn nên không sao hiểu được. Cũng như người Tàu không sao hiểu được tại sao ngư dân Lý Sơn dù bị bắt, bị tịch thu phương tiện đi biển, bị đánh đập, thậm chí bị giết chết…cũng vẫn cứ dong buồm đến Hoàng Sa. Cũng chẳng riêng chi ngư dân Lý Sơn, dân biển khắp dải đất miền Trung vốn thừa hưởng cái gen thạo nghề đi biển từ chính ông cha mình cả ngàn đời nay mà dong buồm thẳng tiến Hoàng Sa, Trường Sa…sang tận quần đảo Nam Dương, Phi-luật-tân, tiến xa mãi về phía biển Tây. Xem trong sử sách, Chế Bồng Nga chả phải hàng năm vào mùa gió thuận mà dong buồm đánh phá Đại Việt đấy sao. Ai còn nghi ngờ điều này thì mua cuốn “Có 500 năm như thế” của tác giả Hồ Trung Tú mà đọc.
Nhân kể về nghề đi biển làm tôi nhớ lại chuyện của một bác trong xóm. Ông này vốn nghề đi biển cha truyền con nối. Có lần bị bão đánh chìm tàu, vốn sức khỏe hơn người lại thêm giỏi nghề bơi lội nên ông giữ được mình sống sót. Qua cơn bão, ông cứ vậy thả mình trên nước mấy ngày đêm. Sau, ông được một tàu bạn tìm thấy, cứu lấy mạng sống. Sống sót trở về, ông thề độc sẽ bỏ nghề đi biển. Nhưng được đâu vài ba tháng, ông lại lọ mọ xuống bến. Rõ rằng, con cá ở trên bờ sẽ sớm nhớ biển mà chết chứ có lý do gì đâu mà rắc rối. Ông lại về với biển, với cái nghiệp mà cha ông đã tạo vết hằn trên vỏ não. Những ai không phải người xứ biển sẽ chẳng thể hiểu được điều này. Cứ nhìn vào đôi mắt của Sói biển Mai Phụng Lưu khi nói về Hoàng Sa, về biển, về tôm cá…thì sẽ cảm nhận được điều này.Vì vậy mà tôi đồ rằng, mấy ông lãnh đạo nhà mình toàn dân trên núi mới cam lòng, thản nhiên bỏ mặc ngư dân xứ mình cho bọn Tàu nó hành hạ, đánh đập dù rằng miệng vẫn cứ hô hào ngư dân bám biển.
Dân miệt biển không ngại biển cả khó lường, không sợ bão biển hung dữ bởi đấy cái nghiệp Trời mà họ đã trót mang. Nhưng dân miệt biển riết rồi cũng sức tàn lực kiệt với giặc Tàu mà chán biển, bỏ biển mất thôi. Rồi cũng sẽ có ngày họ đứng trên bờ nhìn về phía biển mà oán thán mặc cho ai đó hô khẩu hiệu “giúp ngư dân bám biển”. Loài cá vốn không thể sống trên cạn. Và dân miệt biển cũng không thể sống mà thiếu biển.
Con cá sống vì nước, chúng ta sống vì biển. Xưa, tổ tiên ta có tục xăm mình cho giống với loài giao long, thuồng luồng để tránh cái vạ bị các loài ấy gây họa nhân mạng. Cũng bởi dòng giống nhà ta chuyên nghề chài lưới, sống với sông nước, không thể tách rời. Bởi thế mà người Việt mải miết theo sông, ra bể rồi xuôi xuống Nam sinh cơ lập nghiệp cho đến ngày nay. Giống người Hán vốn ở nơi đại lục, đồng cỏ vốn quen nghề du mục, chăn thả. Giống dân ấy chưa bao giờ quen với nghề đi câu hay chài lưới nên hùng cứ trên mạn Bắc mà mở rộng lãnh thổ cho đến ngày nay. Không thấy trong sử sách nhắc đến việc người Hán thạo nghề sông nước, đi biển tài tình mà thống lĩnh đại dương như người Anh-đại-lợi, người Hòa-lan…Nói cho ngay, người Hán thiếu nước thiếu biển thì không chết. Nhưng nước Nam ta thiếu biển ắt hẳn chịu cảnh diệt vong như con cá không thể sống thiếu nước vậy.
Đặng Ngữ
Theo FB Đặng Ngữ

Đánh đĩ chính trị


Trước hết, cần mở rộng khái niệm đĩ. Không phải cứ bán trôn nuôi miệng mới gọi là đĩ. Phàm những ai bán danh dự để kiếm tiền đều có thể gọi là đĩ cả.
Đĩ theo quan niệm hẹp tạm gọi là đĩ tình. Còn theo khái niệm mở rộng thì có đĩ buôn người, đĩ môi giới (hối lộ, chạy chọt), đĩ báo chí … Có loại đĩ hiến thân không trực tiếp lấy tiền mà là để tiến thân do khát quyền lực (loại này mới kinh) người ta thường gọi là đĩ cao cấp.
Tóm lại có nhiều loại đĩ lắm. Trong đó, loại đĩ dễ kiếm tiền nhất là đĩ chính trị. Loại đĩ này hơn hẳn những loại đĩ khác là không những kiếm bộn tiền mà còn có cả danh vọng nữa.
Vào Đảng CSVN (sau đây gọi tắt là Đảng) là để hy sinh cho lý tưởng cộng sản, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, đó là những đảng viên chân chính, mặc dù tôi chẳng thích phấn đấu cho cái gọi là “lý tưởng cộng sản”. Tuy vậy, tôi vẫn cứ kính trọng thành phần đảng viên này dù không biết họ là ai, ở đâu, có hay không có.
Nhưng vào Đảng với mục đích để thăng quan tiến chức, bóc lột nhân dân, vơ vét cho bản thân, gia đình và họ hàng được nhiều chứ không phải như những gì họ tuyên thệ khi vào Đảng thì gọi làđĩ chính trị.
Dưới đây, tôi không dám nói đến những đảng viên chân chính mà chỉ nói đến đĩ chính trị thôi.
So với đĩ tình thì đĩ chính trị nguy hiểm hơn rất nhiều. Người ta cứ hay nói đến chuyện chân dài với các đại gia. Xét cho cùng thì đám chân dài chỉ vi phạm về đạo đức, về thuần phong mỹ tục thôi. Việc họ làm chẳng chết ai, chẳng ảnh hưởng đến bố con thằng nào. Của họ thì họ cho hay đổi chứ có phải của chính quyền đâu.
Nhưng đĩ chính trị thì có sức tàn phá ghê gớm. Nó làm khánh kiệt ngân sách quốc gia vì tham nhũng; tàn phá đất nước; phá hoại giá trị văn hóa, tinh thần của nòi giống; làm băng hoại đạo đức xã hội; làm suy giảm lòng tin của dân chúng đối với chế độ. Tóm lại, nó làm suy yếu đất nước và có thể dẫn đến mất nước bất cứ lúc nào.
Cứ bảo vào Đảng là để hy sinh, khổ trước nhân dân, sướng sau nhân dân nhưng hãy để ý mà xem, thông thường ai cứ vào Đảng là được đề bạt nhanh, tỉ lệ thuận với số tiền kiếm được. Hy sinh gì.
Vậy trong số 3,6 triệu đảng viên, bao nhiêu phần trăm đảng viên vì lý tưởng cộng sản, bao nhiêu vì động cơ vị kỷ. Điều này mọi người đều có thể đoán được. Nếu có một cái máy thẩm định được chính xác thì kết quả hẳn sẽ cho một con số kinh ngạc.
Có đảng viên cộng sản nào dám trả lời thật những câu hỏi sau:
Đồng chí có tin vào chủ nghĩa Mác – Lê Nin không?
Đồng chí có phấn đấu cho lý tưởng cộng sản không?
Đồng chí vào Đảng có phải để hy sinh nhiều hơn quần chúng, sướng sau quần chúng không?
Vân vân …
Tôi đoán có 99% nói dối. Nếu còn 1% nói thật, tức là bằng 1% x 3600000 = 36000 (ba mươi sáu nghìn đảng viên) cũng là đã quá nhiều. Điều đó đồng nghĩa với việc loại ra một lúc 36 nghìn đảng viên vì Đảng đâu chấp nhận những đảng viên không có lý tưởng cộng sản.  Không có lý tưởng cộng sản thì sao gọi là đảng viên cộng sản.
Vào đảng CSVN không khó mà cũng chẳng dễ.
Không khó là Đảng không kén chọn văn hóa, đại học cũng được, lớp mấy cũng xong. Chỉ cần cứ im im làm việc, chăm chỉ tham gia các phong trào, đừng bày tỏ thái độ gì. Lâu thì vài năm, mau thì một năm, tự dưng người ta cho đi học một buổi rồi bảo viết đơn, thế là vào.
Chẳng dễ tức là khó. Nhất là đối với mấy anh gọi là có học như có bằng đại học là dễ bị soi nhất. Anh nào có chí thì cũng trầy trật lắm mới đạt được nguyện vọng. Họ thường có tật như hay nói thẳng, nhiều lúc mải chuyên môn, không có thời gian hút thuốc lào, tán chuyện vặt thì bị coi là không quần chúng. Cánh này lại ưa sạch sẽ, hay tắm gội, quần áo lúc nào cũng phẳng phiu, đó là nhiễm phong cách tiểu tư sản.
Chả thế mà cơ quan tôi trước đây cứ thấy năm nay kết nạp một cô nhà bếp, năm sau kết nạp một cậu lái xe hay bảo vệ.  Không kết nạp thì không đạt chỉ tiêu còn mấy cậu kỹ sư cứ đợi hết đợt nọ đến đợt kia. Thỉnh thoảng tổ chức lại cho anh ta đi học lớp đối tượng do ông bí thư trình độ 4/10 giảng về đường lối của Đảng, về chủ nghĩa duy vật biện chứng, về các cặp phạm trù, về kinh tế chính trị Mác – Lê Nin hay chủ nghĩa xã hội khoa học để nuôi hy vọng cho anh ta cho anh ta đừng phá. Loại này mà vào Đảng là nguy hiểm lắm, vì nó đe dọa cái ghế của sếp.
Có là đảng viên thì mới đề bạt được. Vì vậy mới sinh ra sếp văn hóa lởm khởm chỉ đạo kỹ sư làm việc. Mà cánh này thấy chỉ đạo sai khó mà không cãi nên cứ thế tiếp tục đóng vai quần chúng.
Cuối cùng thì một anh kỹ sư tư chất thông minh với bao nhiêu công lao học hành, tốn bao nhiêu tiền của vẫn không bằng anh nhân viên tạp vụ không cần đi học, không biết viết cái đơn vào đảng mà phải đi nhờ mấy đứa quần chúng. Vì vậy mới có chuyện sếp xuất thân từ công nhân, từ cán bộ phong trào. Đến cỡ nào đó vẫn có đủ bẳng cử nhân, thạc sĩ mặc dù không biết sếp học vào lúc nào và có làm nổi toán cấp 2 không.
Sau này, tình trạng ấy có đỡ đi. Tỉ lệ sếp không biết chữ dần dần co lại. Nhưng về cơ bản vẫn lấy tiêu chuẩn có phải là đảng viên hay không để đề bạt, cất nhắc.
Nói thế để thấy rằng, đầu tư vào chính trị là có hiệu quả nhất, tuy không phải ai cũng làm được vì có người thạo nghề này nhưng không thạo nghề khác hoặc bị con lương tâm nó cắn rứt.
Nhân dịp có cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, tôi chỉ đề nghị một việc đơn giản là cứ đảng viên nào không tin vào chủ nghĩa Mác – Lê Nin, không vì lý tưởng cộng sản thì cho ra khỏi Đảng hết. Chỉ e rằng nếu làm đúng như thế thì không biết “Đảng ta” còn lại được người nào không, nếu còn thì mấy người lơ thơ này có đủ số lượng để gọi là một đảng chính trị không.
27/7/2012
Nguyễn Tường Thụy

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 7 năm 2012

Phim “Hoàng Sa Việt Nam: nỗi đau mất mát” sắp chiếu tại Quảng Ngãi

Tác giả André Menras
Chiều 27-7, ông André Menras (Hồ Cương Quyết) cho biết, cách nay khỏang 1 tuần, ông có tiếp xúc và làm việc với lãnh đạo Sở Ngoại vụ và Đài Truyền hình – Phát thanh tỉnh Quảng Ngãi, để giới thiệu bộ phim “Hoàng Sa Việt Nam: nỗi đau mất mát”, do ông làm biên kịch kiêm đạo diễn, viết và cùng đọc lời bình.
Tại các cuộc tiếp xúc và làm việc, lãnh đạo 2 cơ quan trên hoan nghênh bộ phim, hứa sẽ cho công chiếu rộng rãi tại các huyện trong tỉnh, với một đề nghị: nên lồng tiếng Việt theo tiếng địa phương, để người dân Quảng Ngãi dễ hiểu hơn (bản gốc lồng tiếng Việt do André trực tiếp nói, hơi khó nghe). André chấp nhận đề nghị này và hoàn toàn tin tưởng vào lời hứa của các vị lãnh đạo 2 cơ quan trên.
Dài đúng 1 tiếng đồng hồ, “Hoàng Sa Việt Nam: nỗi đau mất mát” phản ánh chân thực đời sống ngư dân huyện duyên hải Bình Châu và huyện đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi). Đi biển ngư trường Hoàng Sa vốn là nghề truyền thống của ngư dân 2 huyện này từ mấy trăm năm nay. Biển Hoàng Sa nhiều cá tôm, nhưng đầy giông bão. Vượt lên khó khăn, nguy hiểm, nhiều thế hệ ngư dân vẫn bám biển mưu sinh, góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam.
Những năm gần đây, Trung Quốc ngang ngược chiếm đóng nhiều đảo ở Hoàng Sa, áp đặt vô căn cứ lệnh cấm khai thác hải sản; bắt bớ, bắn giết, cướp tài sản, giam cầm, đòi tiền chuộc đối với ngư dân Việt Nam bị bắt giữ trái pháp luật, gây biết bao đau thương tang tóc, đẩy nhiều gia đình ngư dân vào cảnh đói nghèo khốn cùng, nợ nần chồng chất…
Bộ phim được khởi quay tại Quảng Ngãi và dựng phim tại TP Hồ Chí Minh trong hơn 1 tháng (5-6/2011), với sự giúp đỡ của chính các ngư dân địa phương. Sau khi được công chiếu tại Pháp, Đức, Ba Lan, Sec … Hội ADEP France Vietnam đã mở một tài khoản đặc biệt để giúp đỡ các góa phụ, trẻ mồ côi nghèo khó ở 2 huyện trên.
Thế nhưng, điều không thể tưởng tượng nổi đã xảy ra: tại buổi (dự định) chiếu phim tối 29-11-2011 ở TP Hồ Chí Minh, lực lượng an ninh đã ngăn cản, đối xử thô bạo và phi pháp đối với André và bạn bè của ông, lén ghi hình mọi người đến dự khán *. André gọi bọn chúng là “chó chết” – “phản động cực đoan – lưu manh – côn đồ” – “thế lực hắc ám trong bóng tối” – “thân Tàu” – “bán nước”… vì Bộ Ngoại giao VN đã tạo điều kiện thuận lợi để phim được thực hiện, cơ quan văn hóa cũng OK.
André cũng cho biết, sắp tới, ông sẽ sang Pháp và một số nước ở châu Âu, theo lời mời của các cộng đồng dân cư ở đây, để tiếp tục giới thiệu bộ phim và thuyết trình về hoàn cảnh khó khăn của ngư dân Việt Nam, kêu gọi giúp đỡ họ.
 André Menras là người gốc Pháp. Ngày 25-7-1970, ông cùng bạn là Jean Pierre Debris đã trèo lên tượng đài Thủy quân lục chiến (trước Nhà hát lớn Sài Gòn), phất cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và rải truyền đơn kêu gọi phản chiến. Cả 2 bị chính quyền Sài Gòn bắt giam và tòa án binh kết án 4 năm tù giam (Debris) và 3 năm (André). Bị giam ở khám Chí Hòa, André được những người tù cộng sản đặt tên VN là Hồ Cương Quyết, Debris là Hồ Tất Thắng (theo họ Hồ của Hồ Chí Minh). Bị đày ra Côn Đảo, cuối 1972, cả 2 được trả tự do và bị trục xuất về Pháp. André từng tham gia nhiều cuộc biểu tình tại TP HCM để phản đối Trung Quốc gây hấn ở biển Đông.
 Hy vọng kế hoạch công chiếu “Hoàng Sa Việt Nam: nỗi đau mất mát” được suôn sẻ, không lặp lại bi kịch đáng xấu hổ: “Kế hoạch vinh danh tri ân liệt sĩ Gạc Ma, Trường Sa bị ngăn chặn!” *
Võ Văn Tạo
Theo Ba Sàm

Những người thương binh trở về từ chiến tranh biên giới 1979

Bài đăng trên báo in SGTT hôm nay 27.7.2012
Cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc bắt đầu từ năm 1979 và mãi đến 1989 mới thực sự kết thúc đi qua đã lâu. Nhưng ở quê cũ của tôi-một vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội xưa- nay đã thành phố, phường (phường Việt Hưng-quận Long Biên), những dấu vết, nỗi đau của cuộc chiến ấy vẫn luôn được thấy, ở đâu đó, trên những bước đi khập khễnh, những đôi nạng gỗ…của những người thương binh trở về từ vùng biên giới Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng…
Khi chiến tranh biên giới nổ ra, tôi còn quá nhỏ, mới 5 tuổi, chưa hiểu được những gì diễn ra. Mãi cho đến những năm 1983-1984, tôi mới bắt đầu hiểu lờ mờ thế nào là chiến tranh khi tận mắt đã thấy, hàng ngày, hàng đoàn tàu, hàng đoàn xe nối nhau chở pháo, xe tăng…rầm rập theo đường sắt, đường bộ từ Hải Phòng, qua cầu Chui, ngược lên phía Bắc; máy bay chiến đấu, máy báy phản lực luyện tập, đuổi nhau gầm rít đinh tai, nhức óc suốt ngày từ sân bay quân sự Gia Lâm-cách nhà chỉ 5-700 m. Lúc đó, thanh niên cả thủ đô và vùng ngoại thành Hà Nội được gọi lính để đi huấn luyện, chiến đấu trên các mặt trận: Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn rất nhiều. Xã tôi cũng thế, thanh niên được động viên, nô nức đi tòng quân. Cứ mỗi đợt như vậy, chúng tôi ai có người nhà đi lính, cũng được đi theo đưa tiễn tại khu vực xã Cổ Bi, cách đó 3-4 km. Rất bùi ngùi, bịn rịn. Nhưng, 1-2 năm sau, có khi chỉ 5-6 tháng, đã thấy, có những ông anh trẻ trung, vui vẻ trong làng khi ra đi phấn khởi thế nào, bây giờ đã trở về đầy tủi buồn trên cáng hoặc đôi nạng gỗ…
Cho đến ngày hôm nay, nhiều người thương binh mà tôi còn biết, còn nhớ tên từ thời đó vẫn còn sống trong làng (nay gọi là tổ 3-tổ 4 của Phường Việt Hưng-Long Biên). Cuộc sống của họ cũng đã thay đổi rất nhiều theo quá trình đô thị hóa. Nhưng, ký ức chiến tranh, đối với những người không may mắn trong cuộc chiến ấy, dường như vẫn chưa mấy phai mờ. Cách nhà cũ của tôi không xa, là nhà anh Lương Văn Liên, thương binh hạng 2/4, bị mất hơn nửa bàn chân trong trận đánh chiếm lại cao điểm 300 gần khu vực cửa khẩu Thanh Thủy-Hà Giang vào tháng 6.1984- nơi cũng được mệnh danh là một “cối xay thịt” bởi quân 2 bên nướng vào đây, chết, bị thương rất nhiều . Điểm cao này bị một đơn vị quân đội Trung Quốc chiếm giữ nhiều ngày và bị đơn vị của anh Liên (thuộc trung đoàn 141 tăng cường cho sư đoàn 356 tại Hà Giang) đánh bật ra trong vòng chưa đến nửa ngày.
Hồi tưởng lại trận đánh này, anh Liên nói: “Trước trận này, đơn vị chúng tôi đóng quân ở Tràng Định-Lạng Sơn, sau tăng cường sang cho mặt trận ở khu vực Thanh Thủy-Hà Giang. Lúc chiếm lại cao điểm 300, hầu như không tổn thất mấy về người nhưng sau đó, bên Trung Quốc dập pháo trở lại rất mạnh. Tôi bị trúng một mảnh đạn pháo, ngất đi. Tỉnh dậy vẫn còn trên núi, còn chưa kịp được bông băng đầy đủ. Ngớt trận pháo, tôi được đưa về tuyến dưới đề điều trị”. Liên bị thương khá nặng, anh không chỉ mất nửa bàn chân mà cả cơ thể, bị dính mảnh đạn rất nhiều, phải qua phẫu thuật, điều trị nhiều lần, có lúc tưởng chết. Mấy năm sau, anh mới lành bệnh và được xuất ngũ, bố trí làm công nhân ở Xưởng may Thương binh 875 gần nhà. Hơn 10 năm trước, xưởng may cũng bị thua lỗ, phá sản, anh về nhà, giúp vợ đi mua lợn, mổ thịt, bán ở chợ trong làng.
Cũng gần nhà anh Liên, có một người khác mà tôi cũng đã quen biết khi còn nhỏ-anh Âu Văn Lừng, thương binh hạng ¾. Anh Lừng đi lính năm 1984 thuộc trung đoàn 567, sư đoàn 322 đóng quân tại Cao Bằng sau cũng tăng cường sang mặt trận Hà Giang. Anh bị thương khá nặng trong trận đánh diễn ra ngày 31.5.1985, chiếm lại đỉnh 6B. Cũng giống như trường hợp anh Liên, anh Lừng nói: “Thực ra đánh thì rất nhanh, chúng tôi ém quân từ 5 giờ sáng, có lực lượng đặc nhiệm hỗ trợ nên chỉ chưa đầy 1 tiếng lấy lại được. Nhưng kiểu như bên kia họ cú vì đợt đó, mình chiếm lại hầu hết các điểm cao nên hàng tuần sau, đạn pháo bắn rất nhiều; bắn dày đặc từ Thanh Thủy đến Yên Minh. Chỗ tôi đóng quân cũng bị bắn phá ác liệt, nên cả mấy tháng, nép trong khe đá tránh đạn, người ngợm bẩn thiut, tóc không cắt được trông ai cũng như thổ phỉ. Nhiều tuần cơm chẳng có mà ăn, toàn ăn đồ hộp hoặc vớ được cái gì ăn cái đó”. Lừng cũng bị mảnh đạn pháo làm hư hại cả 2 mắt, đến nay chỉ còn nhìn thấy lờ mờ và bị găm nhiều mảnh vào phần mềm. Sau khi được đưa xuống tuyến dưới điều trị một thời gian, năm 1986, anh được phục viên về làng.
Cho đến nay, cũng như anh Liên, anh Lừng có một cuộc sống khá bình dị: thầu một ao cá nhỏ, giúp việc cho vợ đi chợ làng. Hai người có một cô con gái còn nhỏ, sống trong một căn nhà cấp 4. Hàng tháng lĩnh trợ cấp thương binh khoảng 1,5 triệu đồng/tháng. Những ngày như 27.7 này, có thêm độ 1,2 triệu đồng và quà cáp khác do thành phố, lãnh đạo quận, phường…trao tặng. Kém may mắn hơn anh Liên, anh Lừng, anh Âu Xuân Long, thương binh bậc 4 bị dính đạn ngay trong trận đánh đầu tiên do phía Trung Quốc đơn phương tấn công vào thị xã Lạng Sơn tháng 2.1979. Không may nữa là anh bị bắt làm tù binh, đưa sang bên kia biên giới và sau này được trao trả lại cho phía Việt Nam. Hôm qua (26.7), khi tôi đến thăm, anh không có nhà. Vợ anh cho biết, hàng ngày, anh vẫn đi làm thêm về xây dựng cho nhà này, nhà kia nhưng càng về già, nhất là những hôm trái nắng, trở giời, anh trở lên rất khó tính do những mảnh đạn còn trong đầu gây nhức, buốt.
Một người cậu của tôi-Âu Xuân Tuyến cũng bị thương khá nặng trong một trận đánh ở mặt trận Vị Xuyên-Hà Giang năm 1985. Cậu tôi mất mấy ngón tay trái nhưng tệ hại hơn là bị sức ép quá mạnh và nhiều mảnh đạn pháo găm vào người gây nhiều di chứng sau này. Hơn 10 năm trước, nhờ ai đó mai mối, cậu tôi lấy vợ nhưng chỉ đúng một ngày sau, cô vợ mới cưới đã bỏ cậu tôi đi mất vì chỉ qua đêm tân hôn, cô này nhận ra người chồng của mình rất không bình thường. Vâng, quê cũ của tôi như vậy đó. Có rất nhiều thanh niên đã lên đường nhập ngũ, tham gia bảo vệ tổ quốc thời chiến tranh biên giới phía Bắc. Một số người đã nằm lại, có người không tìm thấy xác ở các mặt trận Hà Giang, Lạng Sơn
Nhưng cũng có nhiều người trở về với những vết thương khó lành, những vết thương còn gây đau đớn, tiếp tục cuộc sống nghèo, bình dị từ đó đến nay. Họ vẫn được sống dựa một phần vào tiền trợ cấp của nhà nước tùy theo mức độ thương tật, vẫn được thăm hỏi, trao quà, động viên vào ngày lễ, tết, ngày 27.7 và rất ít phàn nàn. Nhưng điều khiến tôi cảm động ở những người anh thương binh sống ở làng, xóm mình ngày xưa mà mới đây gặp lại là dường như, thái độ của họ với đội quân bên kia chiến tuyến, bên kia biên giới phía Bắc, vẫn không thay đổi. Những người thương binh ấy cho biết, hàng ngày vẫn đọc báo, nghe đài, biết chuyện Trung Quốc vẫn chiếm đóng Hoàng Sa, một phần Trường Sa, vẫn bắt bớ nhiều ngư dân Việt Nam ra biển, vẫn ngang ngược đe dọa sử dụng vũ lực, lấn chiếm biển, đảo Việt Nam…Bày tỏ sự phẫn nộ với các hành vi ấy, nhà nước cần phải làm nhiều hơn là chỉ lên tiếng phản đối yếu ớt các hành vi vi phạm chủ quyền-bởi như thế, nó chỉ khiến quốc gia bên kia biên giới tiếp tục lấn lướt, âm mưu chiếm đoạt nốt biển, đảo của Việt Nam mà thôi.
Mạnh Quân

Cần hành động thực chất!


Tính từ ngày 31-8-1858, ngày thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược nước ta, qua các cuộc khởi nghĩa yêu nước trước Cách mạng tháng Tám 1945 và hai cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, hàng triệu người đã ngã xuống cho nền độc lập và sự nghiệp thống nhất đất nước.
Từ khi có Đảng Cộng sản, nhiều đảng viên trung kiên đã dấn thân và hy sinh trước nhất trong các cuộc đấu tranh của dân tộc, vì vậy được nhân dân tin cậy, nuôi dưỡng, chở che. Dưới mưa bom, bão đạn, trong ngục tù tra tấn, các thương binh, liệt sĩ hy sinh thân thể, tính mạng, không ai mơ tưởng sẽ được vinh thân, phì gia sau ngày chiến thắng. Chủ nghĩa xã hội, với nhiều cán bộ kháng chiến, là đất nước hòa bình, độc lập, thống nhất, nhân dân được ăn no, mặc ấm, học hành, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, không hề là sự giàu có của bản thân mình. Sau ngày giải phóng miền Nam, không ít người không nhận nhà riêng, xin được ở tập thể như thời chiến khu, thậm chí từ chối nhà lầu, xe hơi do họ hàng đem cho.
Tiếng Việt gọi người thoát chết qua một nguy nạn là sống sót, tức là có người khác đã chết thay cho mình. Không ít người sống sót qua chiến tranh hiện đang nắm quyền lực ở những cấp khác nhau, cùng với quyền lực còn trở nên giàu có, thậm chí cực giàu.
Một chân lý xuyên suốt từ cổ chí kim: Quyền và tiền dễ làm con người thoái hóa, biến chất, điều này không miễn nhiễm với bất kỳ ai. Căn bệnh “quan cách mạng” mà Hồ Chí Minh chỉ ra từ rất sớm (đành rằng khó tránh trong điều kiện Đảng cầm quyền), tiếc thay, ngày càng nặng hơn. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI đã xác định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, … phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí….”.
Con số thống kê chính thức về khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam năm 2011 là 9,2 lần, đó là bình quân toàn xã hội. Nếu tính cả số lượng tài sản mà nhiều người giàu còn chưa kê khai, cách biệt chắc phải hơn nhiều. Trong kinh tế thị trường, nhờ tài năng, sức lực và cả may mắn, người dân được làm giàu hợp pháp và không hạn chế; có người giàu, cực giàu, kẻ nghèo, cực nghèo là tất nhiên, dù không ai muốn. Điều đáng phê phán là sự giàu có bằng cách lạm dụng chức vụ và kết bè cánh để trục lợi trên tài sản và lợi ích quốc gia, che chắn nhau khi phạm tội, vô cảm với dân, bất chấp vận nước. Trong khi đó, ở nhiều vùng miền, nhất là ở nông thôn, còn hàng chục triệu người nghèo, trong đó không ít gia đình thương binh, liệt sĩ. Và nhân dân, với vô vàn tai mắt và va chạm trong cuộc sống hằng ngày, đã chứng kiến và biết rõ hơn ai hết những ông bà “quan cách mạng” dùng chức quyền để vun vén tài sản ra sao, kiêu căng, hống hách, ức hiếp dân như thế nào.
Tháng 5-1965, đến thăm Khổng Miếu ở Trung Quốc, Hồ Chí Minh nhắc lại lời Khổng Tử: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên. Đã công bằng thì không nghèo, đã hòa mục thì không thiếu. Lòng dân đã yên thì không sợ nghiêng đổ”. Người còn kể: “Khổng Tử thường nêu “dân vi bang bản”(dân là gốc của nước) và “quốc dĩ dân vi bản” (nước lấy dân làm gốc). Tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội năm nay, nhà sử học Dương Trung Quốc đã dẫn một câu đối của danh tướng Hoàng Ngũ Phúc thời hậu Lê: “Nước lấy dân làm gốc, nước bình yên, nước hãy để dân yên. Dân lấy nước làm lòng, khi nhiễu sự dân ra gánh vác”.
Nhân ngày Thương binh Liệt sĩ năm nay, chợt nghĩ: Những buổi lễ hoành tráng, những bài diễn văn thống thiết, những phong bì và túi quà, dù chỉ vài trăm ngàn đồng, sẽ thực sự có ý nghĩa đối với nhân dân, trong đó có những gia đình thương binh, liệt sĩ, nếu trong 364 ngày còn lại, họ được chứng kiến những hành động có kết quả cụ thể, thực chất, của cán bộ, đảng viên lãnh đạo ở mỗi cấp, mỗi ngành trong việc “tu thân, tề gia, trị quốc”, đúng nghị quyết hay điều lệ Đảng và quy định của pháp luật. Không làm được như vậy thì việc tưởng niệm các thương binh, liệt sĩ chỉ còn là hình thức, thậm chí là sự báng bổ.
LS Trương Trọng Nghĩa
Theo PLTP

Ký ức về đồng đội ngã xuống ở Trường Sa


Biết con đi rồi nhà cửa vắng thêm một người
Ôi mẹ vì con từng hi sinh cả cuộc đời
Mẹ ơi ! việc lớn chông gai là đây
Tình núi non cao ngất trời không thể sánh tình mẹ thương phút này
Mẹ ơi ! ở bữa cơm nghèo chiều nay cành vắng chim non rẽ bầy
Xin mẹ hãy mừng nhìn về tương lai !
“Trường Sa luôn trong trái tim tôi và những đồng đội nằm ở đó”, ông Dũng cất giọng sang sảng, tay đặt lên ngực đen sạm, in những vết sẹo do mảnh đạn pháo. Ký ức về những đồng đội hy sinh ở Gạc Ma (thuộc quần đảo Trường Sa) năm 1988 ùa về.
Cựu binh Trần Thiên Phụng chụp ảnh với vợ trước ngày lên đường nhập ngũ. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Sau Tết Nguyên đán năm 1988, ở tuổi 23, chàng thanh niên Dương Văn Dũng rời quê nhà ở Cẩm Lệ (Đà Nẵng) và bạn gái trong thôn để lên đường nhập ngũ tại Trung đoàn 83, Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam. Ngày 12/3/1988 sau bữa cơm chiều vội vàng ở cảng Cam Ranh (Khánh Hòa), mọi người khẩn trương chuẩn bị hành lý, vật dụng tập kết lên tàu bắt đầu chiến dịch CQ-88 trực chỉ ra xây dựng đảo Gạc Ma (thuộc quần đảo Trường Sa).
“Nhiệm vụ của chúng tôi lúc đó là xây dựng và cắm cờ chủ quyền trên đảo. Ai cũng háo hức vì lần đầu được ra đảo xa. Trên tàu mọi người say sưa ca hát, có người say sóng nhưng vẫn đầy hứng khởi vì ra đảo sẽ được thỏa sức vẫy vùng cùng sóng biển”, ông Dũng kể.
Sau gần một ngày rẽ sóng ra khơi, khoảng 5h chiều 13/3, hai tàu vận tải HQ 604 và 505 đến địa phận đảo Gạc Ma. Cảm giác được nhìn thấy những mỏm đá san hô, dải cát vàng giữa biển khiến ai cũng thích thú. Các thủy thủ dự định dựng ngôi nhà nhỏ xinh ngay trên mặt san hô.
Chỉ ít giờ sau khi có sự xuất hiện của hải quân Việt Nam, phía Trung Quốc bất ngờ cho tàu lớn ra uy hiếp. Tuy nhiên, theo ông Dũng, mọi người trong đoàn vẫn tiếp tục vận chuyển vật liệu lên đảo.
Cùng có mặt trên tàu HQ 604 năm đó, thương binh Trần Thiên Phụng (trú TP Đông Hà, Quảng Trị) mắt đỏ hoe kể về buổi tối 13/3/1988. “Giữa biển đêm, binh nhất Hoàng Ánh Đông (quê Quảng Bình) ngồi tựa vào cây đàn ghi ta, vừa đệm vừa hát bài Lạy mẹ con đi, ai nghe cũng rưng rưng vì nhớ nhà, nhớ mẹ. Có đứa bảo, đi đảo lần này vẫn chưa kịp chào từ biệt mẹ. Thấy như mình có lỗi với mẹ vậy!”, ông Phụng kể.
Nỗi nhớ đồng đội đã mãi nằm lại đảo Gạc Ma luôn thường trực trong tâm trí cựu binh Đức. Ảnh: Nguyễn Đông
3h sáng 14/3, tranh thủ nước rút, hải quân Việt Nam đã bơi vào đảo cắm cờ chủ quyền và vận chuyển vật liệu bằng chiếc ca nô nhỏ buộc dây từ tàu xuống. Theo ông Phụng, lúc này ca nô của Trung Quốc gây hấn bằng việc cắt những sợi dây dẫn vận chuyển vật liệu từ tàu HQ 604 vào đảo. Mọi người vẫn kiên trì bám đảo và được lệnh không nổ súng để giữ hòa khí. Tuy nhiên, đến 7h sáng, phía Trung Quốc bất ngờ bắn súng chỉ thiên.
Ông Phan Văn Đức (45 tuổi, trú phường Mân Thái, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng), là người trực tiếp vận chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma. Ánh mắt nhìn xa xăm về phía biển, ông nhớ lại, giữa loạt đạn rền vang, Trung úy Trần Văn Phương vẫn hiên ngang giữ ngọn cờ chủ quyền và hô vang: “Thà hi sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để cho máu mình tô thắm lá cờ truyền thống của hải quân Việt Nam anh hùng”. Sau khi trung úy Phương nằm xuống, đồng đội Nguyễn Văn Lanh lao lên, khi gục ngã bàn tay anh vẫn bám chắc ngọn cờ.
Do không tương quan về lực lượng và vũ khí chiến đấu, tàu vận tải HQ 604 trúng đạn, từng chiến sĩ vẫn cố bám trụ trên con tàu chìm dần giữa biển. Ông Dũng, ông Phụng may mắn trụ trên một khúc gỗ nổi. Còn ông Đức khi bị trúng đạn ở vai cũng rướn sức ngụp lặn và bám vào một khúc gỗ cho đến khi được tàu cứu hộ của Hải quân Việt Nam vớt đưa vào đảo Sinh Tồn.
Trong lễ truy điệu những chiến sĩ đã hy sinh trên đảo tổ chức tại cảng Cam Ranh, lần đầu tiên trong đời ông Đức đã khóc. “Tôi khóc vì nỗi đau vừa mất đi những người đồng đội đêm trước còn ngồi tâm sự, kể chuyện người yêu mà nay đã mãi nằm lại nơi biển lạnh”, cựu binh Đức kể.
Người lính Trường Sa năm xưa đang mưu sinh. Ảnh: Nguyễn Đông
Nhiều năm đã trôi qua, những lúc một mình đi dọc mé biển, ông Đức lại hướng ánh mắt đăm chiêu về phía biển xa. “Ngần ấy năm là quãng thời gian tôi bị ám ảnh bởi những đồng đội. Nhiều khi như người mất hồn đi lang thang dọc bãi biển Sơn Trà, có lẽ hồn tôi đã ở lại với Gạc Ma rồi!”, người đàn ông gày gò nói.
Còn với ông Phụng, những vết thương trên thân thể luôn gợi ông nhớ về Trường Sa, về những đồng đội sát cánh cùng nhau, dù trong số họ, nhiều người đã mãi hòa máu mình vào lòng đảo Gạc Ma. Lạy mẹ con đi - bài hát cuối cùng của 64 đồng đội nằm xuống vẫn văng vẳng trong tim họ.
“Lạy mẹ con đi ôm ấp linh hồn Việt Nam
Lạy mẹ con đi noi theo chí hùng ngàn năm
Vắng con mẹ buồn là bởi ý thiên khơi nguồn
Nhưng còn gì hơn tình nước vẫn trong tình con…”
Ngày 14/3/1988, khi các tàu vận tải cùng với bộ đội Việt Nam đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đảo Cô Lin, Gạc Ma và Len Đao, thì các tàu chiến của đối phương lao đến ngang ngược và bất chấp luật pháp quốc tế, dùng pháo lớn bắn vào các tàu HQ-604 ở đảo Gạc Ma, HQ-605 ở đảo Len Đao và HQ-505 ở đảo Cô Lin; cho quân đổ bộ lên đảo Gạc Ma nhổ cờ Tổ quốc, nổ súng vào bộ đội gây cho chúng ta nhiều tổn thất…” - Theo Lịch sử vùng III Hải quân 1975 – 2005.
Nguyễn Đông
Theo VnExpress




Thứ Năm, ngày 26 tháng 7 năm 2012

Nên công bố cho cả thế giới biết


Mấy hôm nay trên báo Tuổi Trẻ có loạt bài về “Bản đồ Trung Quốc 1904 không có Hoàng Sa, Trường Sa” bà con đón xem tại đây. Theo “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” mà TS Mai Hồng hiến tặng Bảo tàng Lịch sử quốc gia sáng 25-7 là bản đồ toàn lãnh thổ Trung Quốc, được Nhà xuất bản Thượng Hải in năm 1904, trong đó hoàn toàn không có Hoàng Sa, Trường Sa.
Tiến sĩ Mai Hồng giải thích cho người xem nội dung chữ Hán cổ trên bản đồ của Trung Quốc năm 1904 mà ông đã hiến tặng Bảo tàng Lịch sử quốc gia sáng 25-7
Dưới đây là một số đề nghị cần thiết phải thực hiện ngay:
Theo tôi, chúng ta nên sao chụp bản đồ này thật nhiều bản, in bằng nhiều thứ tiếng, nhất là tiếng Trung Quốc rồi phổ biến cho cả nước và các nước khác trên thế giới. Qua đó tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là nhân dân Trung Quốc, để họ sớm thấy được việc làm sai trái của chính quyền nước họ. Long (huynhlongsisco@…)
Trên Quê Choa của nhà văn Nguyễn Quang Lập đề nghị: Qua việc này mình đề nghị bà con ra sức phát tán, tuyên truyền cái bản đồ này cho dân trong nước, đặc biệt dân TQ.  Báo lao động đã có một đề xuất rất hay: Vụ bản đồ Trung Quốc 1904 không có Hoàng Sa,Trường Sa: Phải cho dân Trung Quốc cùng biết (Tại đây) Vậy những ai biết tiếng Tàu hãy gia nhập thế giới mạng của Tàu để tuyên truyền cái bản đồ này.
Ngoài ra hãy phóng to bản đồ này lên các pano dựng ở các khách sạn, chỗ vui chơi, nơi đông người qua lại, trước cửa đại sứ quán TQ, nơi có người Tàu cư trú. Hãy in bản đồ này ở bìa 3, bìa 4 các sách giáo khoa từ lớp 1 đến đại học và tất cả các cuốn sách của các nhà xuất bản.
Trang nhất các tờ báo, các website báo chí lề phải hãy luôn để một góc in bản đồ này. 
Còn đây là tấm bản đồ quý:
Dòng chữ Hán này đọc từ phải sang có nghĩa: Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ
Tiến sĩ Mai Hồng chỉ vào tấm toàn đồ Trung Quốc, dừng lại ở cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam. Không hề có Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) trong tấm bản đồ quý và chính thống này – Ảnh: Việt Dũng
Một số bài viết liên quan:

Anti-China?

Trong các cuộc tuần hành hòa bình mang tính tự phát, thể hiện quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo diễn ra hiện nay ở Hà Nội và nhiều thành phố khác, nhân dân cả nước và cộng đồng quốc tế đã có dịp cảm nhận một cách sinh động truyền thống yêu nước vốn luôn thường trực trong huyết quản con người Việt Nam mỗi khi sơn hà gặp nguy biến.
Nhân dân có nhiều sáng kiến như mặc áo NO-U (nói không với đường lưỡi bò), giương cao Quốc kỳ và bản đồ Tổ quốc gắn liền lãnh hải có Hoàng Sa – Trường Sa, ủng hộ Luật Biển mới được Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước đã phê chuẩn, ủng hộ Luật quốc tế UNCLO và quy tắc ứng xử COC, v.v. Tất cả đã cho thấy kẻ xấu không dễ gì xúi giục người tham gia tuần hành để kích động họ có những hành vi gây rối trật tự xã hội. Thời nay yêu nước không thể chỉ bằng trái tim nóng, mà còn cần cả cái đầu tỉnh táo và cách hành xử mưu lược nhưng quyết đoán và bản lĩnh nữa. Phân biệt rõ kẻ thù là quan trọng, nhưng phải hiểu được nội tình cũng như lực lượng của đối phương mới đảm bảo thắng lợi.

Trên một số biểu ngữ trong các cuộc tuần hành thấy thấp thoáng khẩu hiệu ANTI-CHINA khiến dư luận dễ lầm tưởng đây là một cuộc kỳ thị sắc tộc giữa hai quốc gia, và nếu như vậy sẽ có cảnh nhân dân hai nước đối đầu nhau một cách không cần thiết. Việc xâm chiếm Biển Đông trắng trợn bất chấp luật pháp quốc tế và lịch sử là mưu đồ và hành động phiêu lưu của một bộ phận hiếu chiến trong giới cầm quyền Bắc Kinh vốn được nuôi dưỡng bởi chủ nghĩa Đại Hán đã lỗi thời. Thực tế là trong nhân dân Trung Quốc cũng có những tiếng nói dũng cảm, tôn trọng sự thật và kiên quyết phản đối hành động xâm lược này. Ví dụ như nhiều học giả Trung Quốc trong cuộc hội thảo ngày 14/6 /2012 do Viện Kinh tế Thiên Tắc tổ chức cùng trang báo mạng Sina.com cùng biên tập viên Tân Hoa Xã Chu Phương đã cực lực phản đối chính sách sử dụng vũ lực ở Biển Đông, đòi xóa bỏ cái gọi là thành phố Tam Sa của Trung Quốc hay giáo sư Ngô Kiến Dân – một nhà ngoại giao kỳ cựu của Trung Quốc, người đã từng là phiên dịch tiếng Pháp cho các lãnh tụ Trung Quốc như Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai – đã thẳng thắn tuyên bố chính sách của lãnh đạo Bắc Kinh hiện nay ở Biển Đông là một thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan không thể chấp nhận được. Cùng quan điểm đó là học giả, nhà bình luận nổi tiếng của trang mạng Phượng Hoàng (Hồng Kông, Trung Quốc), ông Tiết Lý Thái, ngày 20/7/2012 đã phân tích kỹ lưỡng sự đuối lý về mọi mặt yêu sách “đường lưỡi bò” của Bắc Kinh.

Cũng nên nhìn nhận một thực tế là người dân Trung Quốc hiện nay cũng đang là nạn nhân của tệ tham nhũng tràn lan, bất bình đẳng giàu – nghèo, cướp đất, ô nhiễm môi trường, cắt xén an sinh xã hội, đàn áp tôn giáo và vi phạm nhân quyền rất nghiêm trọng. Hàng trăm triệu cư dân các tỉnh phía Nam Trung Quốc sát Việt Nam vốn dĩ là hậu duệ của các quốc gia Bách Việt trước đây sau đó đã bị người Hán từ Phương Bắc tràn xuống thôn tính và đồng hóa vô cùng tàn bạo. Có lẽ Việt Nam là tộc người duy nhất trong khối Bách Việt đó còn tồn tại như một quốc gia độc lập, có chủ quyền, văn hóa và chữ viết riêng. Những mâu thuẫn âm ỉ giữa người Hán và các sắc dân thiểu số khác vẫn là một vấn đề nan giải trong xã hội Trung Hoa ngày nay. Trước áp lực ngày càng gia tăng, khi mà hàng năm có tới hàng trăm ngàn cuộc biểu tình, bạo loạn, nên nhà cầm quyền phải tìm cớ gây chiến bên ngoài để làm lạc hướng quần chúng bằng thứ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, mà kết cục luôn là mất mát và tổn thất về nhân mạng, của cải vật chất của từng gia đình nhân dân Trung Quốc vốn ngày nay chỉ được có một con. Nguồn tài nguyên dầu mỏ và hải sản cướp được từ vùng biển các quốc gia ASEAN sẽ không giúp kinh tế Trung Quốc phát triển bền vững mà đó chính là quả bom hẹn giờ không dễ gì có thể gỡ được khiến quốc gia này đi vào ngõ cụt. Lịch sử oai hùng của các đế quốc xưa nay đều kết thúc ở những cuộc viễn chinh bên ngoài diễn ra cùng mâu thuẫn và bất ổn bên trong sau những tham vọng bành trướng không tưởng của giới cầm quyền. Đế chế La Mã, Nguyên- Mông, Đức Quốc Xã, Liên Xô hùng mạnh một thời đều không cưỡng nổi số phận đó và dường như lịch sử lại đang lặp lại với những ai không chịu từ đó mà rút ra bài học.

Trong một thế giới “phẳng” với công nghệ truyền thông internet tiên tiến nên chăng cần có những diễn đàn chung cho nhân dân và trí thức Việt Nam – Trung Quốc trao đổi về những vấn đề biển đảo, những mối quan tâm chung rất thiết thực của họ trong đời sống hiện nay như đấu tranh chống quan tham tại địa phương, bảo vệ quyền con người được sống trong một môi trường nhân văn, lành mạnh và hòa bình… Sự trao đổi thông tin tạo sự hiểu biết lẫn nhau trong nhân dân sẽ góp phần ngăn chặn những ý đồ hiếu chiến từ những kẻ cầm quyền. Và nếu Việt Nam chúng ta biết xây dựng cho mình một xã hội tự do – dân chủ, lành mạnh hơn những hình mẫu xã hộibất hợp lý mà người dân Trung Quốc đang phải chịu đựng thì sức thuyết phục cho chính nghĩa Việt Nam lại càng được củng cố trong tâm trí cộng đồng quốc tế, trong đó có số đông của 1,3 tỷ nhân dân Trung Hoa. Chính nghĩa phải là sự hướng thiện và hội nhập với những giá trị nhân đạo chung của nhân loại mà không thể song hành với mọi hình thức đàn áp toàn trị đang đi vào quá khứ.

Kêu gọi tinh thần dân tộc hẹp hòi hay kích động tâm lý chiến tranh xâm lược một quốc gia khác theo lối huênh hoang “dạy cho ai đó một bài học” trên thực tế luôn đem lại thất bại cho chính kẻ gây chiến. Thế giới ngày nay của cộng đồng các dân tộc văn minh với những chế tài nghiêm ngặt không còn là khu rừng hoang cho những kẻ hiếu chiến, tham lam mặc sức hoành hành.

Vậy thì khi đi tuần hành hòa bình thể hiện lòng yêu nước bảo vệ biển đảo quê hương, nên chăng chúng ta cũng cần có tinh thần tranh thủ sự đoàn kết quốc tế và biết phân hóa đối phương bằng cách thay khẩu hiệu ANTI-CHINA (chống Trung Quốc) bằng ANTI-CHINESE AGGRESSORS (chống những kẻ xâm lược Trung Quốc)?

Cái cốt cách “lấy đại nghĩa để thắng hung tàn” của dân tộc Việt Nam ta như Nguyễn Trãi đã tuyên ngôn mấy trăm năm trước đến hôm nay vẫn nguyên thế.

Thăng Long – Hà Nội 25/7/2012

TS Phạm Gia Minh
Nguồn: Bauxite VN

(1) Tienphongonline 19/7/2012
(2) tamnhin.net 16/7/2012
(3) VOV online, tin từ phóng viên Xuân Dần từ Bắc Kinh.
(4) Đất Việt Online 24/7/2012

Chết vì tay Trung Quốc: “Sát thủ” hacker đỏ

Trung Quốc đã xây dựng được một đội “hacker đỏ” chuyên nghiệp, mối đe dọa có sức phá hoại tương đương một mạng lưới điệp viên dày đặc, mà xét cho cùng có khi lại hiệu quả hơn sử dụng điệp viên. Bởi lẽ thay vì phải chi hàng tỷ đô la cho việc đào tạo gián điệp, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật cao thì hoàn toàn có thể làm mọi thứ chỉ qua mạng.

Hai tác giả Peter Navarro và Greg Autry đưa ra một loạt lời buộc tội: “Những “tin tặc đỏ” đã xâm nhập vào mạng của NASA, Lầu Năm Góc, Ngân hàng Thế giới; tấn công Phòng Công nghiệp và An ninh trực thuộc Bộ Thương mại Mỹ dữ dội đến mức cơ quan này phải phá bỏ hàng trăm máy tính; xóa sạch mọi ổ cứng của dự án Máy bay chiến đấu Lockheed Martin F-35; và gần như ném bom rải thảm hệ thống kiểm soát không lưu của Không lực Hoa Kỳ”.

Trong chiến dịch tranh cử Tổng thống Mỹ năm 2008, hacker đỏ của Bắc Kinh còn đột nhập vào máy chủ email của cả phe Obama lẫn phe McCain và Nhà Trắng. “Tại một trong những sự vụ trơ trẽn nhất trong lễ tân ngoại giao, máy tính của Bộ trưởng Thương mại Mỹ và một số nhân viên đã bị đánh cắp, bị cài đầy phần mềm gián điệp, nhân một chuyến công du của bộ trưởng tới Bắc Kinh”.

Cuốn sách đưa ra những lời buộc tội có thể khiến người đọc… ù tai. Chẳng hạn, nói về một chiêu thức hành nghề của tin tặc thời hiện đại: Thời xưa, ngành tình báo phải sử dụng tới mỹ nhân kế như Mata Hari để moi thông tin từ “đối tác”. Thời nay, “ngoài những gái điếm và các phòng khách sạn đầy “bọ” (thiết bị nghe trộm – PV) ở Thượng Hải, các điệp viên Trung Quốc còn tặng cho con mồi của họ thẻ nhớ đầy virus, thậm chí cả camera kỹ thuật số. Theo Cục Tình báo MI5 của Anh, một khi được gắn vào máy tính của nạn nhân, những thiết bị này sẽ cài đặt ngay phần mềm cho phép hacker giành quyền kiểm soát”.

Làm hacker cũng giống một ngôi sao nhạc rock

Death by China đưa ra một số lý giải, có lẽ khá đơn giản, về mục tiêu hành động của tin tặc Trung Quốc. Cuốn sách cho rằng hacker đỏ muốn làm gián đoạn hoạt động của các trang web ở phương Tây, bằng cách đánh sập hoặc tấn công từ chối dịch vụ. Ngoài ý muốn phá hoại, hacker đỏ cũng nhắm đến việc ăn cắp những thông tin có giá trị như số thẻ tín dụng, thông tin cá nhân hoặc hơn thế: Bí quyết công nghệ, bí mật thương mại, hồ sơ mời thầu và dự thầu, tình hình tài chính của một công ty nào đó, rồi thông tin về vũ khí, quân sự.

Nhưng đó mới là bề nổi, tức là mục tiêu mà các hacker hướng đến. Còn bản chất của việc họ hành động như thế lại là chuyện khác. Navarro và Autry trích dẫn một trao đổi trên diễn đàn hội thảo về an ninh thông tin của hacker Trung Quốc. Hỏi: “Khi nào chúng ta tiến hành hack?”. Đáp: “Nếu đó là vấn đề có ảnh hưởng tới chúng ta trên bình diện quốc tế, thì khi ấy chúng ta sẽ huy động các thành viên tổ chức tấn công”.

Câu trả lời hé lộ một phần nguyên nhân của hiện tượng tin tặc: Đó là tinh thần dân tộc bị đẩy tới mức cực đoan ở một bộ phận người dân Trung Hoa. Death by China trích lời một chuyên gia về tin tặc Trung Quốc, ông Scott Henderson, nói rằng ở nước này, làm hacker “cũng giống như làm ngôi sao nhạc rock”, đó là “một sự nghiệp mà có đến một phần ba trẻ em tuổi đi học ở Trung Quốc mơ ước”.

Có bàn tay chính quyền phía sau?

Phần gây tranh cãi nhất của chương này có lẽ nằm ở những khẳng định rằng chính quyền Trung Quốc đứng sau các chiến dịch tấn công trên mạng. Lập luận của hai tác giả cuốn sách là: Không thể có chuyện hacker hoạt động mà không có bàn tay dẫn dắt của Bắc Kinh, nhất là khi chính quyền Trung Quốc vốn có chế độ kiểm soát internet ngặt nghèo nhất thế giới. Không hacker nào có thể thoát khỏi tay chính quyền một khi cơ quan an ninh và cảnh sát đã muốn bắt và xử lý. Ví dụ một hacker ở tỉnh Hồ Bắc can tội đột nhập vào website của cơ quan nhà nước và thay ảnh chân dung một quan chức bằng ảnh cô gái mặc bikini. Người này nhanh chóng bị bắt và kết án 1,5 năm tù. Vụ việc đã được đăng tải trên tờ Nhân Dân Nhật Báo.

Trong khi đó thì rất nhiều vụ tin tặc nghiêm trọng khác lại không được điều tra. Navarro và Autry dẫn ra một loạt trường hợp hacker Trung Quốc tấn công mạng nước ngoài và hành động của họ hoàn toàn có thể làm phương hại quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và nước nạn nhân, vậy mà họ vẫn không bị trừng trị. Ví dụ như khi Thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koizumi đi thăm ngôi đền chiến tranh Yasukuni, hacker Trung Quốc đã xóa website của ngôi đền này, ghi đè lên đó hàng chữ: “Gái đái lên toilet Yasukuni”. Còn khi Liên hoan Phim Melbourne ở Úc chiếu phim tài liệu về một nhà lãnh đạo người Duy Ngô Nhĩ, hacker Trung Quốc đánh phá website của liên hoan phim dữ dội đến mức ban tổ chức không bán được vé qua mạng. Một số nhóm tin tặc như Liên đoàn Hắc khách Trung Quốc (China Hacker Union) được cho tồn tại và hoạt động công khai, thậm chí mở cả văn phòng.

Bạn đọc có thể thấy lập luận buộc tội của Death by China chưa đủ thuyết phục, vì dù sao đi nữa, “án tại hồ sơ” song cuốn sách lại không chỉ ra được một bằng chứng mạnh mẽ nào cho thấy mối liên hệ giữa chính quyền và hacker Trung Quốc, chẳng hạn một chủ trương bằng văn bản chính sách…

Tuy vậy, việc cảnh giác với những tin tặc bị kích động bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan vẫn luôn là điều cần thiết, nhất là khi Việt Nam có nguy cơ là đích ngắm của tội phạm mạng: Năm 2010, một báo cáo của Công ty An ninh mạng McAfee cho thấy 58% tên miền cấp 1 .vn đã trở thành mục tiêu của hacker. Trong khoảng hai ngày 8 và 9-6-2011, hàng loạt website ở Việt Nam đã bị hacker Trung Quốc đánh phá, trong đó có các trang web của Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa (HSO), Anh Ba Sàm, và Trung tâm biên phiên dịch quốc gia trực thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam. Tháng 8-2011, McAfee xác định “cơ quan chính phủ Việt Nam nằm trong số 72 tổ chức chính phủ trên thế giới là mục tiêu của đợt tấn công lớn nhất mà tin tặc tiến hành để lấy dữ liệu mạng, được McAfee phát hiện”.

Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao khi đó, bà Nguyễn Phương Nga, cho biết: “Chúng tôi rất quan tâm đến những thông tin mà McAfee đưa ra. (…) Việt Nam đã, đang và sẽ nỗ lực hợp tác cùng cộng đồng quốc tế phòng, chống các hành vi phá hoại an ninh mạng”.

* * *
Tháng 5-1999, trong chiến dịch NATO tấn công Nam Tư, máy bay Mỹ ném bom trúng Đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade, làm chết ba công dân Trung Hoa. Hàng ngàn email từ Trung Quốc đã “dội bom” làm sập website của Nhà Trắng. Tin tặc cũng chiếm website của Đại sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh, chèn lên trang chủ dòng chữ “đả đảo bọn man rợ”. Tháng 3-2008, hãng tin CNN (Mỹ) đưa tin về bạo loạn ở Tây Tạng. Ngay sau đó website của CNN bị phá và ghi đè dòng chữ “Tây Tạng đã, đang và sẽ luôn luôn là một phần của Trung Quốc” (Wikipedia).
Đoan Trang

Ai còn tin Trung Quốc là bạn, giơ tay lên?

Sau bao nhiêu biến cố thăng trầm, đánh nhau máu chảy thành sông, xác chất thành gò, đến năm 1990, Việt Nam và Trung Quốc lại bắt tay làm lành với nhau. Kể từ đó đến nay, bộ máy tuyên truyền của cả hai phía đều dùng hết nội công thâm hậu của mình để nhả ngọc phun châu, nói với nhau những lời có cánh, nào là bạn vàng bốn tốt, nào là đồng chí môi hở răng lạnh, nào là vân vân… Đến nỗi nghe đi nghe lại nhàm cả tai.

Thế nhưng, giả sử bây giờ thử tập trung ngẫu nhiên một nhóm người bất kỳ không kể tuổi tác, thành phần rồi hỏi: Ai còn tin Trung Quốc là bạn, giơ tay lên? Liệu có bao nhiêu người giơ tay nhỉ? Chắc chắn không nhiều. Vì sao? Đơn giản, vì thằng trẻ con nó cũng thừa biết thế nào là Trung Quốc. Hàng giả từ đâu vào Việt Nam? Trung Quốc. Sữa, thực phẩm chứa chấn ung thư từ đâu tới? Từ Trung Quốc. Phụ nữ bị bắt cóc rồi thì bán đi đâu nhiều nhất? Sang Trung Quốc. Ai khai thác Bô xít ở Tây nguyên? Trung Quốc. Ai bắt bớ đánh đập ngư dân Việt Nam? Vẫn là Trung Quốc. Ai chiếm biển đảo của ta? Trung Quốc chứ ai nữa.

Thế thì tại sao ta vẫn gọi Trung Quốc là bạn? Chịu, không biết, nghe nói thế thì biết thế, nhưng không bao giờ tin thế. Không bao giờ Trung Quốc là bạn của Việt Nam, đừng tiếp tục lừa dối nhau điều đó!

Đó là nói trong nhân dân, còn trong hàng ngũ lãnh đạo của đảng, nhà nước, bạn hãy tưởng tượng xem, giả sử trong một cuộc họp của Bộ chính trị, đặt ra câu hỏi như trên: Ai còn tin Trung Quốc là bạn, giơ tay lên?

Có bao nhiêu cánh tay giơ lên nhỉ?

Đó là những cánh tay của ai nhỉ?
Nguyễn Văn Thiện

Thứ Tư, ngày 25 tháng 7 năm 2012

Lương tri Trung Hoa

Ngày 22.7, Trung Quốc (TQ) khai trương hoạt động trái phép trạm thu phát sóng di động (BTS) 3G trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của VN. Ngày 23.7, họ tổ chức cuộc họp “Hội đồng Nhân dân khóa 1” của cái gọi là “thành phố Tam Sa”, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của VN.

Từng ngày, họ ngang nhiên xâm phạm chủ quyền nước ta, chà đạp lên chính chữ ký của họ thỏa thuận DOC, cam kết cùng đối thoại, hợp tác vì ổn định và tin cậy trong khu vực.

Để chống lại có hiệu quả những bước leo thang của TQ, rất nhiều việc đặt ra trước chúng ta: Trước hết, mọi người VN cần nhận thức sâu sắc trách nhiệm trước họa ngoại xâm, đoàn kết, sẵn sàng gánh vác mọi việc để nâng cao nội lực của đất nước, đặc biệt là kinh tế và quốc phòng. Về đối ngoại, phải tranh thủ bạn bè ở các quốc gia yêu chuộng hoà bình, làm cho nhân loại tiến bộ hiểu chúng ta, một dân tộc yêu chuộng hòa bình và công lý, đang là nạn nhân của chủ nghĩa bành trướng, bá quyền. Khơi dậy lương tri Trung Hoa là một việc vô cùng hệ trọng trong cuộc đấu tranh này. Phải luôn luôn phân biệt rạch ròi giữa một số thế lực hiếu chiến tại TQ với nhân dân Trung Hoa vốn sống theo đức nhân của Khổng Tử với nội dung là “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều gì mình không muốn thì đừng gây cho người khác”).

Tất cả thế lực bạo quyền, xâm lược xưa nay đều rất coi trọng việc tuyên truyền, đầu độc quần chúng bằng những điều dối trá. Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Đức quốc xã Goebbels nổi tiếng với câu: “Nói 10 lần người ta chưa tin, thì nói 100 lần họ sẽ tin”.

Trung Quốc còn cao thủ hơn, họ đưa vào sách giáo khoa các vùng biển và các quần đảo mà họ đơn phương cho rằng thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Họ cho phát hành 23.527 tạp chí nghiên cứu biển Nam Trung Hoa (biển Đông) minh họa luận điệu dối trá của họ. Trong 10 năm, họ khuyến khích cho làm 238 luận văn tiến sĩ về biển Đông và các quần đảo, có nội dung xác định chủ quyền Trung Quốc; họ tổ chức 516 cuộc hội thảo về biển Đông, biển Đông Bắc, các quần đảo và cho phổ biến rộng rãi trên hệ thống truyền thông, vu cáo các nước trong đó có VN chiếm đoạt biển, đảo của Trung Quốc.

Họ luôn luôn đòi hỏi chúng ta phải kiềm chế, coi trọng đại cục, không làm rối tình hình, không đưa tin những vụ va chạm (do họ gây ra) lên báo chí, nhưng họ làm ngược lại, ngày nào cũng ra rả vu khống, đe dọa VN, kích động chủ nghĩa dân tộc Đại Hán trong nhân dân Trung Quốc.

Chắc chắn những người có lương tri muốn nói lên lòng mong muốn sự công bằng với lân bang láng giềng từng một thời “môi hở răng lạnh” không khỏi bị các thế lực hiếu chiến răn đe. Trong tình hình như vậy, chúng ta vô cùng xúc động trước sự trỗi dậy của lương tri Trung Quốc. Năm ngoái, giữa lúc căng thẳng do tàu hải giám Trung Quốc liên tục cắt cáp 2 hai tàu thăm dò của ta, Đài Truyền hình Phượng Hoàng (Hồng Kông) mời GS Vũ Cao Phan trả lời phỏng vấn. GS đã được dịp nói rõ Hoàng Sa vốn là của VN, do đó không thể “gác tranh chấp, cùng khai thác”.

Năm nay, giữa lúc Trung Quốc hung hăng diễu võ dương oai thì hàng loạt các trí thức, nhà nghiên cứu lên tiếng rất mạnh mẽ, vạch rõ những sai trái không thể bào chữa của nhà cầm quyền. Biên tập viên Tân Hoa xã Chu Phương: “Hãy lập tức xóa bỏ cái gọi là “thành phố Tam Sa”, bởi vì nó là trò cười quốc tế điển hình”.

Nhà nghiên cứu Lý Lệnh Hoa: “Đường lưỡi bò chiếm 80% biển Nam Trung Hoa là do Trung Quốc tự vẽ”. GS Hà Quang Hộ cho rằng “đòi hỏi vô lý là không biết giữ nhân tình”.

GS Trương Thư Quang: “Quyền lợi của Trung Quốc cần phải được các nước thừa nhận”. GS Trương Kỳ Phạm khuyên nhà cầm quyền đừng theo luật rừng, nên theo luật biển v.v… Lương tri từ các trí thức sáng suốt và dũng cảm chắc chắn sẽ nhanh chóng lan tỏa đến 1,3 tỉ người, trở thành lương tri Trung Hoa.

Theo Lao Động
Chuyên gia Dương Danh Dy: Trung Quốc sẽ còn kiếm cớ khiêu khích
“Chúng ta phải kiên quyết bảo vệ chủ quyền, bảo vệ sự an toàn của ngư dân chúng ta nhưng bằng những phương cách linh hoạt và khôn khéo”.
Chuyên gia về Trung Quốc Dương Danh Dy đã khẳng định như vậy trong cuộc trao đổi với phóng viên NTNN

Thưa ông, vừa rồi báo chí Trung Quốc có đưa tin về việc phía Trung Quốc thành lập một đơn vị cấp sư đoàn để huấn luyện, chỉ huy các hoạt động quân sự cho lực lượng ngư dân của Trung Quốc trên đảo Phú Lâm – Hoàng Sa (Việt Nam). Ông đánh giá thế nào về động thái này từ phía Trung Quốc?

- Đúng như tôi đã từng dự báo, tất cả những động thái này đều nằm trong ý đồchiến lược của Trung Quốc và họ sẽ chưa dừng lại.

Từ việc thành lập thành phố Tam Sa, tuyên bố mời thầu 9 lô dầu khí trong vùng biển chủ quyền VN, rồi đề xuất vũ trang cho tàu cá, ngư dân của họ…, tất cả đều là đường đi nước bước đã được họ tính toán kỹ lưỡng.

Trước đây, có nhiều ý kiến cho rằng về chiến lược tại Biển Đông, Trung Quốc coi như đã “hết bài”.

Theo tôi, đó là ý kiến rất chủ quan. Đến năm nay vừa đúng 50 năm tôi nghiên cứu về Trung Quốc, trong đó có 34 năm sống và làm việc ở nước họ nên tôi rất hiểu người Trung Quốc.

Họ đủ khôn ngoan để xoay xở, giở nhiều ngón nghề để kiếm cớ khiêu khích ta. Chắc chắn khi chưa đạt được mục đích thì Trung Quốc chưa dừng lại!

Vậy theo ông, Việt Nam phải hành động thế nào để đáp trả lại những động thái này từ phía Trung Quốc?

- Tôi cũng đã từng nói, khi GDP của Trung Quốc đứng thứ hai thế giới thì họ bắt đầu xem trọng lợi ích của họ ở Biển Đông, coi đây là yếu tố sống còn, cốt lõi. Thế nên họ đã vạch ra cả một chiến lược với những bước đi bài bản và lâu dài.

Hơn lúc nào hết, ngay lúc này, chúng ta phải khơi dậy được lòng yêu nước, tự hào dân tộc, sự đoàn kết nhất trí một lòng trong nhân dân bằng cách tuyên truyền đúng đắn và chính xác về tình hình Biển Đông.

Mặt khác, chúng ta phải kiên quyết bảo vệchủ quyền, bảo vệ an toàn của ngư dân nhưng bằng những phương cách linh hoạt và khôn khéo.

Nếu như họ định vũ trang cho ngư dân, tàu cá thì chúng ta cũng phải sớm thành lập lực lượng dân quân tự vệ trên biển, tăng cường sức mạnh quân sự trên biển, kêu gọi cộng đồng giúp đỡ, hỗ trợ cho ngư dân của ta để họ cùng nhau đoàn kết, vững tâm bám biển.

Còn về phản ứng của chúng ta thời gian qua, theo cá nhân tôi, như vậy là cần thiết. Nhưng chúng ta cũng cần phải biết hơn 92% cư dân mạng của Trung Quốc đồng tình với việc sử dụng quân sự ở Biển Đông.

Chúng ta phải thấy rõ điều này để có hướng tuyên truyền đúng đắn, làm cho người dân hiểu đúng về tình hình thực tế ở Biển Đông cũng như những nguy cơ có thể xảy đến!

- Xin cảm ơn ông!
Hải Phong thực hiện
Theo Dân Việt