Thứ Bảy, ngày 04 tháng 8 năm 2012

Biển Đông sục sôi & sự im lặng kỳ lạ từ phía Việt Nam

Sau khi thành lập thành phố Tam Sa, bầu cử lập chính quyền, thành lập lực lượng đồn trú và Bộ tư lệnh vũ trang Tam Sa, Trung Quốc tiếp tục huy động một lực lượng hùng hậu trên 2 vạn (23.268) tàu cá ùn ùn tràn xuống biển Đông. Thậm chí không thèm giấu diếm khi công khai ý định cung cấp vũ khí và huấn luyện quân sự cho 10 vạn ngư dân.
Dư luận quốc tế sôi sùng sục. Tổng thống Philippines tuyên bố sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để bảo vệ lãnh hải, mua tàu chiến Mỹ và công khai đề nghị Washington hỗ trợ “kiềm chế tham vọng của Trung Quốc”. Thủ tướng và Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản tuyên bố sẵn sàng huy động lực lượng phòng vệ đáp trả. Bộ Ngoại giao Mỹ ngay lập tức ra tuyên bố về vấn đề Biển Đông, cùng lúc Thượng viện Mỹ cũng ngay tức thời thông qua “nghị quyết biển Đông” bày tỏ rõ thái độ trước những động thái mới của Trung Quốc.
          Chưa bao giờ biển Đông nóng đến thế.
          Dân tình sục sôi. Nhân sĩ trí thức đệ đơn đòi nhà nước cho phép tổ chức biểu tình. Trong khi từ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội, Thủ tướng đến Bộ Ngoại giao, Quốc phòng đều im lặng. Chỉ thấy mỗi một ông Chủ tịch hội nghề cá Việt Nam lên tiếng.
          Sự im lặng khiến dân chúng nổi giận.
          Trong khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng lại long trọng tổ chức họp mặt để “tỏ lòng biết ơn” quân đội Trung Quốc nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Giải phóng quân. Đoàn thanh niên thì tổ chức lực lượng sang Trung Quốc tổ chức “chương trình hữu nghị thanh niên Việt-Trung”.
          Tối qua ngồi nhậu bàn kháo chuyện này, giáo sư Chu Hảo kháy một câu: Bộ Chính trị đang bận kiểm điểm nhau!
          Chợt nhớ sử xưa kể chuyện Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cởi áo tắm cho Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải, gạt mối thù nhà lo thù nước, bắt tay cùng nhau đồng tâm đánh Nguyên Mông.
          “Bài toán đoàn kết tăng nội lực cha ông ta đã có sẵn lời giải. Ở thế kỷ XIII chắc chả có mối thù nhà nào lớn hơn giữa cha Trần Hưng Đạo và cha Trần Quang Khải. Vậy mà hai ông còn tự tay tắm cho nhau, ngày đêm cùng lo toan việc nước. Có vậy triều Trần mới là một triều đại cường thịnh đã không cho phép kẻ xâm lược dù là mạnh nhất thời đó trú đóng lâu trên lãnh thổ mình” (Phạm Ngọc Cương).

Trương Duy Nhất

Mỹ thông qua nghị quyết ủng hộ vai trò của ASEAN về vấn đề Biển Đông


Theo phóng viên TTXVN tại Washington, tối 2.8 Thượng viện Mỹ đã nhất trí thông qua nghị quyết ủng hộ vai trò của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong vấn đề Biển Đông, đồng thời hối thúc các bên hữu quan sớm thông qua một bộ quy tắc mang tính ràng buộc pháp lý nhằm bảo đảm quyền tự do hàng hải tại vùng biển quan trọng này của thế giới.
Bản nghị quyết mang mã số S.Res 524 do hai Thượng nghị sỹ của đảng Dân chủ là John Kerry và Jimm Webb; ba Thượng nghị sỹ của đảng Cộng hòa là John McCain, Richard Lugar và James Inhofe và Thượng nghị sỹ độc lập Joseph Lieberman đưa ra Thượng viện ngày 23.7.
Nghị quyết S.Res 524 được đăng tải trên website bộ Ngoại giao Mỹ hôm qua 3.8.
Nghị quyết vừa được Thượng viện Mỹ thông qua tái khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ đối với bản tuyên bố DOC năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc; khẳng định ASEAN đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường hòa bình, ổn định và sự phồn vinh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương; xác định Biển Đông là một khu vực hàng hải sống còn; ủng hộ nỗ lực của ASEAN cùng Trung Quốc sớm ký kết Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC) mang tính ràng buộc pháp lý.
Nghị quyết ủng hộ mục tiêu trong Hiến chương ASEAN theo đó nhất thể hóa ASEAN về kinh tế, chính trị và văn hóa, góp phần củng cố hòa bình, ổn định và sự thịnh vượng của khu vực.
Nghị quyết cho rằng Mỹ đang tăng cường hợp tác chính trị, an ninh, kinh tế ở Đông Nam Á thông qua ASEAN và đang tiếp tục tăng cường vai trò đối tác với ASEAN và các nước khác trong khu vực nhằm giải quyết các vấn đề xuyên quốc gia từ biến đổi khí hậu đến an ninh biển. Nghị quyết cho biết Chính phủ Mỹ hoan nghênh một nước Trung Quốc phát triển hòa bình và thịnh vượng tôn trọng luật lệ, luật pháp và các tổ chức quốc tế; góp phần vào hòa bình và an ninh.
Nghị quyết cho rằng, trong lúc chưa tìm được một giải pháp hòa bình cho các tranh chấp về quyền tài phán và lãnh thổ, các nước ASEAN và Trung Quốc đã cùng nhau cam kết “tự kiềm chế khi tiến hành các hoạt động để tránh làm phức tạp hoặc làm leo thang các tranh chấp, trong đó có việc kiềm chế việc đưa người ra ở trên các đảo, bãi đá, đảo san hô hoặc các bãi cạn hiện chưa có người ở; đồng thời xử lý các bất đồng theo những cách thức mang tính xây dựng.
Theo TTXVN

Chủ nghĩa bá quyền và cách ứng xử của Việt Nam


Người ta thường nói về “tham vọng bá quyền” của Trung Quốc như một lời cảnh báo đối với thế giới, nhất là với các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam. Ít người nói với chúng ta rằng tham vọng đó không phải là nguy cơ mà là một thực tế; và ở vị trí nước láng giềng của Trung Quốc, Việt Nam cần có sự chuẩn bị và thái độ ứng xử thích hợp.
Việt Nam - nạn nhân khó tránh khỏi
Bá quyền, theo nghĩa chung, được định nghĩa là quốc gia siêu cường duy nhất, mạnh tới mức chi phối tất cả các nước khác trong hệ thống – khu vực nếu là bá quyền khu vực, và thế giới nếu là bá quyền toàn cầu.
Từ trước đến nay, chưa một quốc gia nào trở thành bá quyền toàn cầu. Theo học giả người Mỹ John Mearsheimer, trở ngại chính là “khó khăn trong việc áp đặt quyền lực của mình lên một nước đối thủ nằm ngoài khu vực của mình”. Ví dụ, Mỹ tuy là nước mạnh nhưng không thể khống chế châu Âu theo cách mà Mỹ áp dụng ở châu Mỹ.
Ngoài ra, nếu bị đại dương ngăn cách, các nước thường không có khả năng tấn công chống lại nhau: “Biển rộng là trở ngại lớn, phát sinh ra nhiều vấn đề triển khai lực lượng cho bên tấn công”. Mearheimer lấy Anh và Mỹ làm ví dụ. Hai nước này chưa bao giờ bị một quốc gia lớn khác xâm lược. Cũng vì bị đại dương cản bước, mà Mỹ chưa bao giờ xâm lược châu Âu và Đông Bắc Á, còn Anh không cố gắng tấn công quân sự vào châu Âu lục địa.
Từ đây, Mearsheimer đưa ra một khẳng định: Cách tốt nhất mà một nước lớn có thể trông đợi là trở thành bá quyền khu vực và kiểm soát các quốc gia kề cận nó, có chung đường biên giới với nó, các quốc gia mà nó có thể tiếp cận dễ dàng bằng đường bộ.
Địa vị của Trung Quốc hiện nay ở châu Á cho thấy đất nước hơn một tỷ dân này đã và đang ở tâm thế trở thành bá quyền khu vực, và sẽ là một thực tế dễ hiểu, dễ lý giải nếu họ muốn chi phối, kiểm soát các quốc gia láng giềng, trong đó có Việt Nam. Hơn thế nữa, với những đặc thù về địa chính trị, địa kinh tế của mình, Việt Nam không tránh khỏi là đối tượng đặc biệt đáng lưu ý trước mắt bá quyền khu vực.
Trở thành bá quyền – ham muốn cố hữu trong quan hệ quốc tế
Cần phải khẳng định ngay rằng, xu hướng trở thành bá quyền không phải là tham vọng của riêng Trung Quốc. Nó là ham muốn của bất kỳ một nước nào có vai trò nhất định khi tham gia vào quan hệ quốc tế (Nga, Pháp, Đức,Italy, Nhật Bản, Hàn Quốc, v.v…
Từ năm 1933, nhà nghiên cứu chính trị quốc tế Frederick Schuman đã viết rằng, do không có một cơ quan quyền lực trung ương đứng trên lập ra và thực thi các quy tắc ứng xử trên toàn cầu, nên mỗi quốc gia đều đơn độc, dễ bị tổn thương và do đó buộc phải ích kỷ.
Nước nào cũng phải tự cứu lấy mình. Điều này luôn đúng, cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn, bởi vì nếu một quốc gia bị thua thiệt trước mắt thì rất có thể họ sẽ không tồn tại được lâu dài. Cách tốt nhất để tự cứu là phải trở nên hùng mạnh hơn các nước khác trên nhiều phương diện, không chỉ là quân sự hay kinh tế. Kịch bản lý tưởng là trở thành bá quyền trong hệ thống, nếu không đạt tới phạm vi toàn cầu thì cũng phải là khu vực.
Thế nên, không có gì lạ nếu Trung Quốc muốn thực hiện tham vọng bá quyền ở châu Á ngày nay. Lợi ích của họ càng bành trướng, thì họ càng có xu hướng vươn tới địa vị bá quyền hơn nữa, để bảo vệ bằng được lợi ích đó.
Không nên đặt câu hỏi tại sao Bắc Kinh luôn muốn mở rộng tầm ảnh hưởng kinh tế – chính trị – quân sự tại khu vực châu Á Thái Bình Dương. Bởi vì dù có an toàn đến đâu thì một nước lớn cũng không cảm thấy đủ về an ninh; và càng lớn mạnh, họ càng cần tăng cường an ninh để duy trì địa vị của mình.
Nước lớn kìm chân nhau, nước nhỏ tận dụng
Cùng với xu hướng khao khát trở thành bá quyền, mỗi nước lớn đều có xu hướng ngăn cản nước lớn khác xâm nhập vào vùng ảnh hưởng của mình. Ví dụ, Mỹ – bá quyền khu vực Tây bán cầu – tất yếu phải tìm cách kiểm soát Trung Quốc – nước đang có tham vọng bá quyền ở châu Á – bởi sợ Trung Quốc xâm phạm vào sân sau của Mỹ.
Hơn nữa, theo John Mearsheimer, “nếu một nước có khả năng làm bá quyền xuất hiện, các nước lớn khác trong khu vực đó sẽ tìm cách kiềm chế”. Từ nhận định đó, ta có thể thấy rằng hai nước lớn khác ở Đông Á là Nhật Bản và Hàn Quốc không dễ chấp nhận để Trung Quốc vươn lên địa vị bá quyền khu vực. Áp dụng lý thuyết này, Việt Nam có thể tận dụng quan hệ với các nước lớn trong khu vực (Nhật Bản, Hàn Quốc) và thế giới (Mỹ, Anh, Pháp) để gây rào cản đối với Trung Quốc.
Tất nhiên, điểm cốt yếu là, để chống lại bá quyền, các nước đối tượng của bá quyền không còn cách nào khác là phải liên tục nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, thúc đẩy sự thịnh vượng về kinh tế.
Một điều mà những quốc gia nạn nhân cần đặc biệt lưu ý, là không có sự mặc cả giữa bá quyền và đối tượng của bá quyền. Nói cách khác, tham vọng bá quyền của một nước lớn sẽ không bao giờ dừng lại, chính bởi cái nguyên tắc “tự cứu” nói trên. Nước nhỏ không thể thỏa thuận với nước lớn rằng sự bành trướng của nước lớn sẽ chỉ giới hạn ở một mức độ nào đó để không ảnh hưởng tới nước nhỏ.
Bá quyền luôn không đơn thuần là sức mạnh bạo lực, vì vậy, để có được bá quyền, không thể thiếu được cách cư xử mang tính đồng thuận, chấp nhận và góp phần, một phần hoặc toàn thể, của những kẻ bị bá quyền.
Và cách ứng xử của Việt Nam
Frederick Schuman viết rằng, trong chính trị quốc tế, Chúa chỉ cứu những ai biết cách tự cứu mình, và để tự cứu, không loại trừ khả năng các nước lập liên minh với nhau. Nước càng yếu thế về kinh tế – quân sự, thì càng phải phát triển sức mạnh ngoại giao và sự liên kết với các nước khác. Điều tối kỵ là một quốc gia vừa nhỏ yếu vừa bị cô lập trên thế giới.
Như TS. quan hệ quốc tế Vũ Hồng Lâm nhận định, nếu những sức ép mà Trung Quốc gây cho Việt Nam được dư luận quốc tế quan tâm thì điều đó sẽ khiến Trung Quốc phải cân nhắc hơn trong quan hệ với Việt Nam, nhất là khi Trung Quốc lại luôn muốn tự vẽ mình như một nước lớn thân thiện.
“Trỗi dậy hòa bình”, không gây hấn với các quốc gia khác, dồn mọi nỗ lực vào tăng trưởng kinh tế – đó là hình ảnh mà Bắc Kinh ra sức tạo dựng trước thế giới. Trong một bài diễn văn kéo dài hai tiếng rưỡi đồng hồ tại Đại hội Đảng lần thứ 17, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào phát biểu chi tiết về các vấn đề kinh tế, tài chính, công nghiệp, xã hội và môi trường, tuy nhiên hoàn toàn bỏ qua lĩnh vực ngoại giao.
Nhưng trên thực tế, các chính sách kinh tế – đầu tư – thương mại mà Bắc Kinh thi hành tại Đông Nam Á, những đòi hỏi vô lý về chủ quyền ở Biển Đông, cùng những tranh cãi liên miên về đường biên giới với Nga và Ấn Độ, đã khiến Trung Quốc mang hình ảnh của một láng giềng nước lớn, bành trướng và khó chịu.
Việt Nam và các nước trong khu vực không thể trông đợi Trung Quốc sẽ “trỗi dậy hòa bình” như chủ thuyết ngoại giao (chưa bao giờ được công bố) của họ. Cũng vậy, Trung Quốc “khó lòng tơ tưởng đến việc họ có thể lặng lẽ bước lên vũ đài thế giới mà không gây ra mảy may chú ý nào”. Đó là nhận định của Fareed Zakaria trong cuốn “The Post-American World” (Thế giới hậu Mỹ), có lẽ cũng là điểm mà Việt Nam - nước láng giềng liền kề biên giới Trung Quốc – không nên bỏ qua.
Đoan Trang

Thứ Sáu, ngày 03 tháng 8 năm 2012

Chính phủ sau một năm ra mắt: Đã làm được những gì?


Cách đây tròn một năm, ngày 3.8.2011,  Chính phủ mới với 4 phó thủ tướng, 18 vị bộ trưởng và 4 thủ trưởng cơ quan ngang bộ và đứng đầu người đứng đầu cao nhất là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng-tái đắc cử nhiệm kỳ thứ 2 đã chính thức ra mắt. Trong 4 phó thủ tướng thì có 2 phó thủ tướng mới là phó thủ tướng Vũ Văn Ninh và phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Còn trong 22 vị lãnh đạo các bộ và cơ quan ngang bộ, chỉ có 7 vị là tái cử còn lại là những người mới được bổ nhiệm.
Vào thời điểm Chính phủ mới ra mắt, nền kinh tế Việt Nam cũng đã đứng trước rất nhiều khó khăn. Theo nghị quyết về tình hình kinh tế-xã hội tháng 8.2011 thì những khó khăn chung là: lạm phát cao, mặt bằng lãi suất cao ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh; thu hút đầu tư giảm; thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản giảm sút; tỷ lệ hộ nghèo giảm chậm hơn kế hoạch đề ra; đời sống nhân dân, nhất là người nghèo, công nhân ở các khu công nghiệp, vùng miền núi, dân tộc thiểu số… còn nhiều khó khăn; tệ nạn xã hội, tai nạn và ùn tắc giao thông còn nhiều bức xúc…
Nhưng một năm sau khi các thành viên Chính phủ mới nhậm chức, kinh tế-xã hội tháng 7.2012 so với tháng trước đó tuy có một số tín hiệu tốt hơn nhưng nhìn toàn diện, nền kinh tế đã khó khăn hơn rất nhiều so với một năm trước đó: lạm phát tuy giảm nhưng lại có dấu hiệu giảm phát (CPI 2 tháng liên tục âm), lượng tồn kho hàng hóa cao cho thấy sản xuất-kinh doanh tiếp tục khó khăn, trì trệ; số doanh nghiệp giải thể, phá sản lớn trong khi số lượng doanh nghiệp đăng ký mới giảm mạnh. Tính đến ngày 20.7.2012, cả nước có gần 40 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập với tổng số vốn trên 247,2 nghìn tỷ đồng, giảm 12,7% về số lượng doanh nghiệp. Sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 7 chỉ tăng 3,2% so với tháng 6. Nhận định chính thức của Chính phủ được đưa ra: tình hình chung, cả nước vẫn đang gặp nhiều khó khăn, thách thức, tổng dư nợ tín dụng còn thấp, nợ xấu của các ngân hàng thương mại chưa được giải quyết triệt để, thậm chí có xu hướng tăng theo thời gian…
Thực tế, trên nhiều lĩnh vực, sau hơn một năm, cũng chưa có chuyển biến gì lớn. Trong lĩnh vực công thương, nông nghiệp…sản xuất, kinh doanh khó khăn, trì trệ như các con số thống kê đã cho thấy. Trong lĩnh vực ngoại thương, tuy kim ngạch xuất khẩu tăng, nhập siêu giảm rất mạnh nhưng con số nhập siêu thấp thời điểm này cũng chỉ cho thấy sản xuất, kinh doanh khó khăn, tiêu thụ chậm lại nên các doanh nghiệp hạn chế nhập khẩu nguyên, phụ liệu, nhiên liệu..để sản xuất chứ không phải do những cố gắng kìm chế nhập siêu. Trong ngành y tế, dịch bệnh xảy ra nhiều, tình trạng quá tải ở các bệnh viện chưa có dấu hiệu được cải thiện…Ở các lĩnh vực như giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ…cũng chưa có những dấu hiệu cải cách, thay đổi nào đáng kể.
Nói như vậy không có nghĩa là bộ máy Chính phủ mới yếu kém, ít hoạt động để cải cách, thay đổi. Bởi chỉ mới một năm hoạt động, khó có thể dễ dàng thay đổi một nền kinh tế đã có những dấu hiệu “ốm yếu” từ trước; không dễ thay đổi nhiều vấn đề yếu kém, trì trệ đã tích tụ từ nhiều năm. Ngay tại thời điểm Chính phủ mới ra mắt, đã có rất nhiều vấn đề lớn, kéo dài nhiều năm chưa được giải quyết: nợ công lớn, nhập siêu kéo dài nhiều năm có ảnh hưởng không nhỏ đến cân đối kinh tế vĩ mô, lạm phát cao và kéo dài khiến đời sống người dân, hoạt động sản xuất –kinh doanh khó khăn; hiệu quả hoạt động của khối doanh nghiệp nhà nước kém…Thời điểm Chính phủ mới ra mắt, chính sách tiền tệ thắt chặt được thực hiện quyết liệt nhằm giảm lạm phát nhưng cũng kéo theo những cái giá phải trả rất đắt tính đến thời điểm này: 6 tháng đầu năm nay, cả nước đã có 26.324 giải thể, ngừng họat động, tăng 5,4% so với cùng kỳ. Cùng với tình trạng doanh nghiệp phá sản, giải thể, số lượng người thất nghiệp tăng kéo theo nhiều vấn đề xã hội, tội phạm gia tăng…
Trong các thành viên Chính phủ khóa 2011-2016, sau một năm công tác, người ta cũng đã thấy có những bộ trưởng đã có những hoạt động nhất định để cải tiến, thay đổi trong công việc nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong lĩnh vực mình phụ trách. Việc hàng tuần, lần đầu tiên, các bộ trưởng thay nhau xuất hiện, trả lời câu hỏi trực tiếp của người dân, doanh nghiệp tại các cuộc phỏng vấn trực tuyến do cổng Thông tin điện tử của Chính phủ và một số cơ quan báo chí tổ chức là một tín hiệu đáng chú ý. Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, của các doanh nghiệp, một số chính sách lớn của các bộ cũng đã được đưa ra như bộ Tài chính đã đề xuất nhóm giải pháp tài chính hỗ trợ doanh và được Chính phủ, Quốc hội phê chuẩn, áp dụng việc miễn, giảm một số loại thuế, phí: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng…với tổng nguồn kinh phí khoảng 29.000 tỷ đồng. Hay mới đây bộ này đã trình ra được dự án luật sửa đổi luật thuế thu nhập cá nhân nâng mức khởi điểm chịu thuế lên 9 triệu đồng…cũng là một hoạt động đáng chú ý. Một số bộ, ngành khác cũng làm được vài việc vừa vừa …như bộ Lao động có chính sách nâng chế độ nghỉ ốm đau thai sản, tăng lương…
Một chủ trương lớn trong Chính phủ đã và đang được nhiều bộ quyết liệt thực hiện là thị trường hóa một số sản phẩm thiết yếu như thị trường hóa giá than, giá điện, giá nước, giá xăng dầu; cả học phí và viện phí cũng đã được đưa dần lên…Mặc dù điều này gây ra những phản ứng nhất định với các đối tượng bị tác động nhưng đây đúng là một việc nên làm và thực tế, việc thực hiện cũng đã đem lại một số kết quả bước đầu như với giá xăng dầu, bởi chính sách giá bao cấp trước nay luôn làm cho thị trường méo mó, không phản ánh đúng chi phí, hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, đáng tiếc, chủ trương ấy lại chưa đi cùng với việc hạn chế kinh doanh độc quyền như với tập đoàn Điện lực hay tập đoàn Than-Khoáng sản, tập đoàn Xăng dầu, xây dựng một môi trường cạnh tranh trong các lĩnh vực này…
Tất nhiên, nhìn tổng thể thì những việc mà các bộ trưởng trong Chính phủ khóa này đã và đang thực hiện dù đã có một số điểm tích cực nhưng cũng chưa thực sự tạo ra những chuyển biến lớn để nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng khó khăn để sớm phục hồi, tiếp tục phát triển. Có vị bộ trưởng tỏ ra rất hăng hái trong thời kỳ đầu nhậm chức như bộ trưởng Đinh La Thăng nhưng sau một năm, người ta cũng chỉ thấy cái ông làm được rõ ràng nhất chỉ là “trảm” vài nhà thầu chậm tiến độ còn nhìn tổng thể trong ngành, chưa thấy có nhiều tiến bộ. Ở một số vị bộ trưởng tái cử như bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng, bộ trưởng Giáo dục và đào tạo Phạm Vũ Luận hay bộ trưởng Tư pháp hà Hùng Cường…về cơ bản, người ta cũng chưa thấy sau một năm, hiệu quả quản lý ở các bộ này tiến triển bao nhiêu. Nhưng ngay ở một số bộ có bộ trưởng mới như: bộ Tài nguyên và môi trường, bộ Khoa học và công nghệ thì cũng rất khó nới trong một năm qua, đã có sự chuyển biến tích cực nào ở các lĩnh vực do các bộ này quản lý.
Đáng lo ngại là vẫn có những quan điểm, chủ trương chưa được thống nhất ngay trong chính bộ máy Chính phủ để sớm định hình các quyết sách lớn, giải quyết những vấn đề vướng mắc, tồn tại của nền kinh tế. Ví dụ như quan điểm đối với việc duy trì vị thế “chủ đạo”, “nòng cốt” của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong nền kinh tế…như nhiều phát ngôn, thậm chí cả văn bản của Chính phủ vẫn ghi rõ hay thực hiện chính sách xây dựng một môi trường cạnh tranh, hoàn toàn bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế, “cái gì tư nhân làm được hãy để cho tư nhân làm” như bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư Bùi Quang Vinh đã phát biểu trước Quốc hội kỳ họp vừa rồi ?.
Vẫn biết rằng, mới chỉ một năm thì hàng loạt vấn đề khó khăn của đất nước, trong nhiều lĩnh vực quản lý cũng không dễ gì xử lý được triệt để ngay. Có hàng loạt yếu kém đã tồn tại trong nhiều lĩnh vực, qua nhiều khóa Chính phủ gần đây như đầu tư công dàn trải, kém hiệu quả; tình trạng kém hiệu quả, lỏng lẻo trong quản lý vốn ở khối doanh nghiệp nhà nước; nợ xấu trong hệ thống ngân hàng; sự lạc hậu của chương trình giáo dục đào tạo từ giáo dục phổ thông đến giáo dục đại học, sự lạc hậu, yếu của của hệ thống cơ sở hạ tầng…Vấn đề là, người dân mong muốn được thấy những chính sách mới khoa học, rõ ràng, đúng đắn, sự quyết liệt, tâm huyết của các thành viên Chính phủ khóa mới trong việc thực hiện các chính sách đó để từng bước, giải quyết được những vấn đề này, tiếp tục đưa Việt Nam phát triển đúng hướng. Vâng, các bộ trưởng, còn tới 4 năm nữa hết nhiệm kỳ, tuy đã làm được một vài việc nhưng vẫn còn quá nhiều việc phải làm…
Mạnh Quân

Dương Danh Dy: “Giới truyền thông còn nhiều việc phải làm”

“Giới truyền thông còn nhiều việc phải làm” Đó là ý kiến của ông Dương Danh Dy, nguyên tổng lãnh sự VN tại Quảng Châu (Trung Quốc) từ năm1993-1996, trong chiến lược bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa… 
* Trong thời gian công tác tại Bắc Kinh, Quảng Châu, theo quan sát của ông, Trung Quốc đã tiến hành công việc tuyên truyền như thế nào với người dân về vấn đề biển Đông?
- Không có hình thức gì họ không tận dụng, từ báo mạng, báo giấy đến báo hình; từ hình thức xã luận, biện luận, tùy bút, truyện ngắn, phim tài liệu và ngay cả phim truyện; từ sách giáo khoa cho đến tạp chí nghiên cứu; từ vấn đề xã hội cho tới vấn đề lịch sử… Có thể nói họ đã tận dụng mọi phương tiện có trong tay để tuyên truyền trong hơn 20 năm qua.
Trưng bày bản đồ Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa
Bảo tàng Lịch sử quốc gia cho biết tấm bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” (Nhà xuất bản Thượng Hải in năm 1904, không bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa) đã được chuyển tới phòng trưng bày chuyên đề Di sản văn hóa biển VN (địa chỉ 216 Trần Quang Khải, Hà Nội) từ tháng 8 đến tháng 12-2012. Ngoài ra, bản sao của tấm bản đồ này cũng sẽ được trưng bày tại một địa chỉ nữa của bảo tàng là 25 Tôn Đản.
Một số lỗi trong bản dịch lời tựa bản đồ này đã được TS Mai Hồng chỉnh sửa, chuyển lại cho Bảo tàng Lịch sử quốc gia chiều 2-8.
Đặc biệt, tất cả những đề cập về VN thường xoay quanh những vấn đề không có lợi cho VN. Vào một số trang báo chính thức nào cũng có thể tìm thấy những bài viết bôi đen VN: Thời Báo Hoàn Cầu, Phượng Hoàng, Trung Quân Võng (trang mạng quân sự), Thiết Huyết… Cần nói thêm, trong những trang mạng Trung Quốc mà tôi đọc hằng ngày cũng có một số trang như Thanh Niên, Quang Minh (mạng của tri thức) hầu như không có bài viết xuyên tạc VN.
Công tác thông tin của chúng ta còn một số hạn chế để cho Trung Quốc đưa tới toàn dân họ một hình ảnh không đúng về VN. Việc này cũng khiến một bộ phận người nước ngoài đồng tình, tin vào các luận điệu của Trung Quốc.
* Sự lên tiếng của một số học giả Trung Quốc chỉ trích nhà cầm quyền nước họ về các chính sách trên biển Đông có sức mạnh đến đâu với dư luận nước này, theo tìm hiểu của ông?
- Việc một số học giả như Lý Lệnh Hoa, Thịnh Hồng, Chu Phương của Trung Quốc lên tiếng thật đáng quý, thể hiện quan điểm của những người Trung Quốc có lương tri.
* Vậy với đối tượng là người dân Trung Quốc và quốc tế, công việc tuyên truyền của ta về biển Đông nên được tiến hành như thế nào?
- Theo tôi, khoan nhắc tới người nước ngoài, trước hết chúng ta cần phải cung cấp đầy đủ cho mọi người dân VN những thông tin liên quan tới những vấn đề mang tính quốc gia, tìm cách thức tỉnh một số người còn mơ hồ… Mặt khác, phải có những biện pháp tuyên truyền quảng bá có hiệu quả, làm cho phần lớn nhân dân Trung Quốc thấy được những việc không đúng. Cuối cùng, cần làm cho nhân dân thế giới yêu chuộng hòa bình thấy được những hành xử hiện nay của Trung Quốc là bá quyền, nước lớn, không phù hợp với luật pháp quốc tế…
Chúng ta có thể sử dụng ngoại giao nhân dân, thông qua các đoàn thể duy trì tình hữu nghị. Song đây chỉ là việc làm bề nổi. Trọng tâm vẫn phải là những hoạt động của phương tiện truyền thông.
Giới truyền thông thật sự còn nhiều việc phải làm. Chúng ta phải vạch trần những mặt trái của Trung Quốc một cách đúng mực, đúng sự thật. Tất cả những công trình khoa học liên quan đến biển đảo nên có thêm phần dịch ra tiếng Anh và tiếng Trung. Một khi dư luận quốc tế đồng tình, điều tôi tin chắc là chỉ cần chúng ta lên tiếng, trình bày, giải thích, vận động khôn khéo… là họ không những ủng hộ mà những phát biểu, những bài viết, những hành động cụ thể của họ sẽ có tác động tích cực vào nội bộ nhân dân Trung Quốc.
* Trong các nước đang đối diện với vấn đề biển Đông, ông có thông tin về việc họ xử trí như thế nào để tuyên truyền, thể hiện quan điểm chủ quyền?
- Nhìn chung trên vấn đề biển Đông, các nước có liên quan trong khu vực đều bị động trước những âm mưu, ý đồ và nhất là những hành động cụ thể của nhà cầm quyền Bắc Kinh tại đây.
Nga Linh phỏng vấn
Theo Tuổi Trẻ
CHUNG TAY BẢO VỆ TÊN MIỀN HOÀNG SA – TRƯỜNG SA: Báo Lao Động kêu gọi bảo vệ chủ quyền trên mạng

Thị trường và phi thị trường

* Vì sao những biện pháp phi thị trường lại được dư luận trông chờ và không bị doanh nghiệp phản ứng mạnh? Vì sao hiện tượng này sẽ có những hệ quả xấu về lâu về dài?
Nếu đứng về lý, rất dễ bác bỏ yêu cầu của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đối với các ngân hàng thương mại phải giảm lãi suất cho những khoản vay cũ về dưới 15%. Luật các tổ chức tín dụng quy định tại điều 91: Tổ chức tín dụng được quyền ấn định mức lãi suất huy động vốn; Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất. NHNN không có cơ sở pháp lý nào để yêu cầu các ngân hàng thương mại hạ lãi suất cho những khoản đã cho vay bình thường. Đây là giao kết dân sự giữa hai bên, không liên quan gì đến NHNN. Các ngân hàng thương mại đã huy động vốn dài hạn với lãi suất cao thì cũng phải cho vay cao tương ứng nếu không muốn thua lỗ.
Thế nhưng trên thực tế, hầu như không có sự phản đối công khai nào từ phía các ngân hàng thương mại. Họ chỉ đối phó bằng các chiêu thức thường thấy như trì hoãn, chọc lọc người vay để giảm lãi suất, đặt ra những điều kiện bổ sung… Công khai chỉ thấy các lời trần tình, cần thêm thời gian, cần sự đồng thuận của hội đồng quản trị, cần cân nhắc rủi ro… Trong khi đó, không ít phương tiện thông tin đứng về phía doanh nghiệp đi vay để chất vấn giới ngân hàng: “Hạ lãi suất, không lẽ là chuyện đùa?” Quan chức NHNN cũng khẳng định sẽ xử lý các ngân hàng không chịu giảm lãi suất cho các khoản vay cũ.
Không lẽ tinh thần tôn trọng nguyên tắc thị trường trong lãnh vực ngân hàng đã lụi tàn? Nguyên do chính là vì giới ngân hàng từng bỏ lơ nguyên tắc thị trường để được hưởng lợi từ lâu nay khó lòng nói khác.
Nếu áp dụng đúng nguyên tắc và tôn trọng luật lệ một cách đằng thẳng, nhiều ngân hàng không thể nào vượt qua yêu cầu tăng vốn điều lệ mấy năm trước, không thể nào cho nhiều dự án “sân sau” vay vượt quá tỷ lệ quy định, không thể nào cho vay vượt quá mức huy động… Tình trạng sở hữu chéo giữa các ngân hàng cũng không dễ diễn ra. Quan trọng hơn cả, tình hình nợ xấu không thể che giấu và báo cáo sai lệch như thời gian qua được. Vì nỗi lo cho sự an toàn của cả hệ thống, NHNN từng đối xử với mọi ngân hàng, cả tốt lẫn xấu như nhau, không công khai sức khỏe của từng ngân hàng để khách hàng chọn lựa, không xử lý mạnh các sai phạm của một số ngân hàng khác…
Sự nương nhẹ của cả hai bên dẫn tới tình trạng như hiện nay khi NHNN điều hành thị trường bằng mệnh lệnh hành chính và hướng điều hành là tùy thuộc vào lợi ích hay mục tiêu ngắn hạn. Cứ mãi như thế, biết bao giờ mới khởi động quá trình tái cơ cấu thật sự hệ thống ngân hàng, làm cho nó lành mạnh và hoạt động đúng nguyên tắc thị trường?
* * *
* Thu nhập đầu người của Việt Nam tính trên cơ sở cân bằng sức mua (PPP) đang giảm mạnh. Để dễ hình dung, hãy lấy một ví dụ được đơn giản hóa: cách đây 5 năm, khi tỷ giá tiền đồng là khoảng 16.000 đồng ăn 1 đô-la Mỹ, tiền công hớt tóc là 16.000 đồng. Lúc đó so với giá hớt tóc bên Mỹ đến 10 đô-la, dân Việt Nam chỉ cần tốn chừng 1 đô-la. Nay giả thử giá hớt tóc bên Mỹ không thay đổi nhưng ở Việt Nam đã lên trên 40.000 đồng; với tỷ giá trên 20.000 đồng ăn 1 đô-la Mỹ, người ta phải bỏ ra chừng 2 đô-la mới đủ tiền hớt tóc.
Lạm phát cao trong nhiều năm liền trong khi tỷ giá thay đổi chậm hơn tốc độ lạm phát là nguyên nhân cho tình trạng nói trên. Việc thổi phồng giá trị tài sản các loại nói ở phần trước cũng là tác nhân quan trọng. Nếu trước đây mặt bằng giá cả tương đối rẻ ở Việt Nam là một lợi thế thì nay lợi thế đó đang dần biến mất.
Nhiều nhà đầu tư nước ngoài than, chi phí ở Việt Nam tăng vọt trong khi doanh thu tính bằng tiền đô-la không tăng với mức tương ứng, làm hoạt động của họ ngày càng thêm khó khăn. Chi phí này gồm nhiều thứ, từ lương công nhân, tiền thuê đất, mua nhà xưởng, tiền điện, nước, xăng dầu, giá các nguyên liệu đầu vào mua ở Việt Nam. Lương công nhân đắt đỏ hơn một phần thì lương giới quản lý càng đắt đỏ bội phần vì đã tăng nhanh trong những năm qua.
Tình hình này càng gay gắt ở những doanh nghiệp xuất khẩu, làm hàng Việt Nam mất tính cạnh tranh trên thị trường thế giới. Thế là nhà xuất khẩu quay sang ép giá nông dân, làm giá đủ loại nông sản đang giảm mạnh.
Thu nhập đầu người tính theo PPP giảm là quá trình mà mọi nước đang phát triển phải đi qua nhưng ở Việt Nam trong những năm qua, quá trình nay diễn ra quá nhanh chóng. Hậu quả là mức sống của người dân, nhất là dân nghèo, đang giảm sút. Nếu trước kia họ tự an ủi, thu nhập của họ dù chỉ bằng 1 phần 10 thu nhập của một người bạn bên Mỹ nhưng hớt tóc cũng chỉ tốn ít hơn 10 lần; nay thì hết có chuyện so sánh như thế, không chỉ chuyện hớt tóc mà còn học phí cho con, tiền khám chữa bệnh, tiền đi lại…
Khổ nổi nhiều nơi không để ý đến yếu tố này mà chỉ khăng khăng so sánh với giá ở các nước khác mỗi khi muốn lập luận cho thuận tai việc tăng giá một mặt hàng hay dịch vụ nào đó.
Nguyễn Vạn Phú

Thứ Năm, ngày 02 tháng 8 năm 2012

Một hàng rào sắt, một chiếc barie


Nhiều DN tâm sự về một sự “đồng quy ư tận”, đại ý: DN không vay vốn được chết đã đành. Ngân hàng không cho vay được rồi cũng chết theo. Thật sai lầm, thật quá ngây thơ.
Phiên họp thường kỳ tháng 7 của Chính phủ đã chính thức thừa nhận con số: Có tới 30,3 ngàn DN phải giải thể trong 7 tháng đầu năm. Nguyên nhân, cũ rích: Khó khăn từ việc đói vốn, và tồn kho hàng hóa, nhấn mạnh là trong bối cảnh các Ngân hàng đang thừa tiền, đang ế vốn. Điều gì đã ngăn cản giữa nơi thừa và nơi thiếu, giữa nơi “úng vốn” và nơi “khát vốn”? Một “hàng rào sắt”- như cách nói của TS Lê Xuân Nghĩa,thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia. Hoặc “một chiếc barie”- như lối ví von của VOV- một cơ quan truyền thông thuộc Chính phủ.
Dù lý giải cách gì thì khoảng cách 6%, giữa lãi suất tiền gửi 9%/năm và định hướng lãi suất 15%/năm, đều lọt túi ngân hàng. Và dù kê ra chi phí gì, giới ngân hàng vẫn không thay đổi được một sự thật là 6% cho việc “buôn nước bọt”, là tỷ lệ quá lớn, lớn đến mức bất hợp lý và nhẫn tâm khi mà, trừ người trung gian là ngân hàng, cả người có tiền gửi và người cần tiền vay đều phải chịu thiệt.
Nhiều chuyên gia tài chính ngân hàng đã thẳng thắn đặt vấn đề “việc hạ lãi suất của ngân hàng chỉ là chiêu “giả vờ cứu doanh nghiệp”. Bởi chiếc “hàng rào sắt” được các ngân hàng dựng lên bất chấp cam kết của Thống đốc “Lãi suất 15% sẽ ổn định trong 1 năm”.
Một tờ báo điện tử dẫn chuyện Giám đốc doanh nghiệp kinh doanh hệ thống phần mềm: Kể từ khi chính thức có thông tin giảm lãi suất các khoản vay cũ, ông đã gọi điện đến ngân hàng Đ để hỏi về việc hạ lãi suất cho khoản vay 2 tỷ đồng mà doanh nghiệp của ông đang vay. Cán bộ tín dụng ở ngân hàng Đ lạnh lùng: “Chưa có gì cụ thể. Mọi căn cứ để triển khai thực hiện còn chờ lãnh đạo ngân hàng họp và sẽ đưa ra chỉ đạo cụ thể”. Và quan trọng nhất là câu trả lời bắt đầu bằng hai chữ “tuy nhiên” sau đây: “Tuy nhiên chưa biết thời điểm nào sẽ thực hiện”. Có nghĩa là các ngân hàng đều sẽ chấp hành mệnh lệch của Thống đốc, đưa lãi suất khoản vay cũ về 15%. “Có” chứ không phải “Không”. Nhưng là “sẽ”. Còn bao giờ “sẽ” thì chưa biết.
Nếu còn thắc mắc xin xem lại phát biểu, cũng của Thống đốc: Việc đưa lãi suất về 15% đối với các khoản nợ cũ chỉ là “đề nghị” của NHNN, “mong” các Ngân hàng thương mại “chia sẻ”, “hỗ trợ”, là “trách nhiệm dành cho nhau”. “Chứ không phải bảo tôi ra quy định đấy, anh bắt buộc phải làm”. Đây là những từ ngữ không dùng trong văn phạm hành chính. Và những quy định nói ra mồm mà không có sự ràng buộc pháp lý, hoặc hành chính thì DN biết làm gì hơn là “ngửa mặt than trời”?
Nếu nói những “chiếc barie”, những “hàng rào sắt” được dựng lên chỉ thuần túy vì lý do bảo vệ lợi nhuận của giới nhà băng e rằng sẽ đúng, nhưng chưa đủ. Bởi giới ngân hàng cũng đang nhấp nhổm với “cục máu đông” nợ xấu đang gây tắc nghẽn toàn bộ các huyết mạch của nền kinh tế. TS Lê Xuân Nghĩa cho cách duy nhất giải quyết “cục máu đông” nợ xấu phải là sự can thiệp từ Chính phủ. Việc mua bán nợ sẽ giúp có “tiền tươi thóc thật” chứ không phải là tiền ảo chảy vào nền kinh tế”. Nhưng nếu cứ chờ giải quyết hết “cục máu đông” ngân hàng mới mở hầu bao thì chỉ sợ bấy giờ chẳng còn DN nào để cho vay.
Có lần, nhiều DN tâm sự về một sự “đồng quy ư tận”, đại ý: DN không vay vốn được chết đã đành. Ngân hàng không cho vay được rồi cũng chết theo. Thôi thì cùng chết.
Sai. Nhầm. Và quá ngây thơ. Có ế là ế tiền giá rẻ chứ có bao giờ đồng tiền bị ế, bị tồn kho. Còn nợ xấu ư. Chẳng phải là 100 ngàn tỷ đang được chuẩn bị bỏ ra để mua lại đó sao.
Đào Tuấn

Hãy để chúng chết đi…


Chúng ta có thể thường thỏa mãn mọi đòi hỏi về công lý khi ngồi im và không làm gì cả. Adam Smith (We may often fulfill all the rules of justice by sitting still and doing nothing).
Năm 1976, New York ngập chìm trong công nợ vì chánh phủ thành phố liên tục tiêu xài cho những chương trình gọi là “xã hội” và cho “phe nhóm”. Ngân sách gia tăng cùng hệ thống quan chức và sưu cao thuế nặng khiến các doanh gia bỏ chạy khỏi New York. Đối diện với thảm họa phá sản, thành phố kêu gọi chánh phủ liên bang cứu trợ khẩn cấp. Tổng thống Ford trả lời với một câu nói đi vào lịch sử, “Drop Dead” (Hãy chết đi). Hơn 90% dân Mỹ hoan nghênh quyết định sáng suốt này.
Các giải pháp cho kinh tế Việt
Chưa bao giờ tôi thấy các chuyên gia Việt Nam hăng hái và bận rộn như lúc này. Ngày nào cũng có vài ba giải pháp trên các báo cho đủ mọi vấn đề kinh tế. Và chưa bao giờ các thành phần kinh tế lại khóc than ỉ ôi như thế này. Ai cũng xin chánh phủ cứu giúp với OPM (tiền người khác) và tốt nhất là “cho luôn” thì khỏi phải hạch toán lôi thôi.
Về nợ xấu ngân hàng, nhà nước đề nghị một công ty mua bán nợ xấu 100 ngàn tỷ, nhưng vài ông viện nghiên cứu nói 30 tỷ là đủ rồi. Một chuyên gia có giấy phép thì cho rằng 200 ngàn tỷ là tối thiểu ; trong khi vài ông không có giấy phép thì đòi 600 ngàn tỷ. Suy ngẫm lại, không ai biết nợ xấu nó tròn méo thế nào, số tiền thực sự là bao nhiêu, nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ bao nhiêu, các thanh tra có kiểm soát được con số này từ những ngân hàng quốc doanh, bao nhiêu phần trăm nợ xấu là cho các công ty con hay cháu của các chủ ngân hàng vay mượn ? Còn chuyện mua nợ xấu để bán cho ai, với giá nào, thu tiền ra sao, ai được ưu tiên…thì cũng có vài chục giải pháp đề nghị.
Qua đến việc giải cứu các doanh nghiệp, nhất là trong lãnh vực bất động sản và vật liệu xây dựng, các chuyên gia còn năng động hơn vì chuyện nhà cửa thì ngay cả các bác xe ôm cũng là “sư tổ”. Dễ hiểu nhất là lấy tiền chánh phủ (OPM) mua nhà tặng cho người nghèo (phải có phong bì và xe Lexus); rồi gay cấn hơn là hạ lãi suất xuống còn 5% hay 8% hay 10%? Gói kích cầu 29 ngàn tỷ coi như “cuốn theo chiều gió” vì xứ này người có thu nhập thật sự chẳng ai đóng thuế cả. Còn chuyện giãn hay khoanh nợ theo nghị quyết thì các ngân hàng đã âm thầm làm cả chục năm nay, không ai thắc mắc. Rồi chuyện mua “hàng tồn kho”? Người tình tôi đang đòi một bộ áo lót “Victoria’s Secret” cho mùa hè. Liệu chánh phủ có mua đủ hàng? Tình trạng hiện tại đã chứng minh cho các giải pháp này..
Các bác lãnh đạo kinh tế còn dọa tung ra giải pháp là gia tăng tiêu xài và đầu tư công. Ngân sách của chánh phủ Việt Nam (34% của GDP) đã cao hơn hẳn Thái Lan (18%) và Singapore (19%) tạo một gánh nặng khủng cho các doanh nghiệp tư nhân. Công thêm với đầu tư, chi tiêu và lỗ lã của những doanh nghiệp nhà nước, nền kinh tế bắt buộc phải èo uột vì thân hình chỉ nặng có 34 kg mà lại phải vác một ba lô nặng 66 kg. Chả trách ngày nào dân cũng đi uống bia để phục hồi sinh lực, mai còn vác tiếp. Một xã có 2 ngàn hộ dân mà phải nuôi 500 quan chức; bây giờ nuôi thêm 100 ông thì chắc cạp đất mà ăn? Xây thêm vài chục ngàn cây số đường cao tốc thì GDP sẽ tăng trưởng ngay, nhưng chất lượng chỉ tốt cho các cỗ xe bò thì coi như vất tiền cho các ngân hàng ngoại quốc.
Tam thập lục kế, dĩ đào vi thượng
Tuần vừa rồi, tôi ghé nhà một người bạn ăn tối. Vợ chồng hắn có 2 đứa song sinh 2 tuổi và 1 đứa 4 tuổi. Khi vừa nhập tiệc thì 3 đứa tranh nhau đồ chơi và đồ ăn, cãi nhau ỏm tỏi và la khóc lớn hơn cả các diễn viên trong một phim tình bi đát của Việt Nam. Hai vợ chồng thử mọi giải pháp, từ các gói cứu trợ đến các dọa dẫm trừng phạt. Sau 20 phút, bọn hắn thua cuộc và không ai ăn uống gì được. Tôi đề nghị một giải pháp đơn giản: 5 người lớn sẽ ra tiệm ăn và để lại căn nhà cho 3 đứa bé và 2 bà ô sin. 15 phút sau, từ quán ăn, ông chồng gọi điện thoại về, bà ô sin xác nhận là lũ trẻ đã vui vẻ chơi đùa và ăn uống trong hòa thuận.
Thực ra, các thành phần kinh tế của mọi quốc gia cũng giống như lũ trẻ. Họ thích tạo những quấy phá ôn ào để nhận những ban phát “miễn phí” từ các nguồn lực tài chánh hay hành chánh. Khi họ biết chắc chắn rằng những ân huệ này sẽ không đến, họ sẽ phải chịu đựng và tìm giải pháp khác, sáng tạo từ trí óc, con tim và ý chí.
Trở lại câu chuyện New York, mọi thành phần có lợi ích nơi đây cũng kêu la và nguyền rủa chánh phủ liên bang vài tháng sau quyết định của Ford. Nhưng họ đã làm những gì phải làm: cân bằng ngân sách, cởi bỏ thủ tục rườm rà, năng động trong việc khuyến khích các doanh nhân, kêu gọi đầu tư… Năm năm sau, tình thế ổn định. Với một tư duy quản trị sáng tạo mới mẻ, chánh phủ và người dân đã đạt những thành tích ấn tượng đem New York về lại vị trí hàng đầu của Mỹ.
Giải pháp của Alan
Cho nên, nếu các bác hỏi tôi về nợ xấu, tôi sẽ nói “Hãy Để Chúng Chết Đi”. Ngân hàng nhà nước chỉ cần bảo đảm khoảng 100 triệu đồng tối đa cho mỗi người gởi tiền, và chúng ta có thể chấp nhận sự sụp đổ của vài chục ngân hàng không hề hấn gì.
Hỏi về các doanh nghiệp bất động sản, tôi sẽ nói “Hãy Để Chúng Chết Đi”. Các căn hộ và các lô đất sẽ bị hạ giá rẻ mạt, tạo một cơ hội tuyệt vời cho nhũng người dân có thu nhập trung bình.
Hỏi về các doanh nghiệp nhà nước, tôi sẽ nói “Hãy Để Chúng Chết Đi”. Dòng tiền OPM đã cạn kiệt. Các anh chị nào có lãi thì cứ tiếp tục. Còn lỗ lã thì tôi bán ngay cho các nhà đầu tư, nội hay ngoại. Trên hết, mọi đặc lợi đặc quyền sẽ chấm dứt. Chỉ khi đối diện thực sự với cạnh tranh thị trường, chúng ta mới biết ban quản trị nào có trí tuệ và đởm lực để sinh tồn.
Hòi về các đơn vị hành chánh cần thêm tiền để đốt, tôi sẽ nói ““Hãy Để Chúng Chết Đi”. Thay vì ăn nhậu sáng trưa chiều tối bằng OPM, chúng tôi sẽ dậy các bạn một kỹ năng quan trọng mà các bạn không hề biết. Đó là làm việc và phục vụ.
Sự hủy diệt trong sáng tạo
Nhiều thân hữu sẽ hỏi tôi là ông không lo ngại gì về những xáo trộn xã hội và nạn thất nghiệp khi các công ty thi nhau lăn ra chết? Tôi xin thưa rằng KHÔNG. Bởi vì 2 lý do. Thứ nhất là số tài sản nhàn rỗi trong dân được ước tính là khoảng 50 tỷ đô la bởi các nguồn dữ liệu đáng tin cậy. Số vàng và đô la này đang bị rút giấu vì dân không tin tưởng vào tương lai kinh tế OPM với lối điều hành dựa trên “quan hệ và xin cho”. Khi họ nhận ra là chánh phủ không can thiệp vô ích vào cách kiếm tiền của một thị trường tự do, dòng tiền này sẽ chảy vào nền kinh tế tạo một cú hích ngoạn mục. Các Việt kiều và các nhà đầu tư nước ngoài cũng sè có khả năng bơm thêm 20 tỷ đô la, dư đủ để kích thích nền kinh tế xứ này.
Lý do thứ hai là tôi tin vào tài năng và sự bền bỉ của doanh nhân Việt. Chỉ trong vòng 5 năm khi đến Mỹ, phần lớn những người dân thất học và không vốn đã gây dựng cho mình và con cái những tài sản đáng kể. Hiện nay, 3 triệu Việt Kiều tại Mỹ tạo ra một GDP ngang hàng với 90 triệu dân Việt Nam trong nước, dù họ không có dầu khí, khoáng sản hay đất đai để bán. Một triệu Việt Kiều khác ở Âu Châu, Úc và toàn thế giới củng đã có những thành công tương tự.
Một giải pháp thật đơn giản mà tôi đề nghị lên các bác lãnh đạo kinh tế là “đừng làm gì cả”.  Hãy tin dân và giao quyền lại cho các doanh nghiệp tư nhân tự ứng xử. Trong sáng tạo và hồi sinh sẽ có mồ hôi và nước mắt. Trong quá trình trưởng thành, các em thường phải chịu nhiều gian truân đau đớn. Vài em sẽ không qua khỏi. Nhưng đây là định luật của thiên nhiên.
Cùng nhau đi nghỉ hè
Nắng mùa hè vẫn đang rực rỡ, cùng trò chơi Olympic đang tưng bừng bên Luân Đôn. Tại sao các bác không nhân cơ hội này mà đem vợ con du ngoạn nhỉ? Bác nào không thích thể thao thì qua Hawaii tắm ở Black Sand Beach (cát đen tuyền và mịn). Bác nào ghét Mỹ thì có thành phố San Á hay Macau của Trung Quốc. Các bác sẽ vui vẻ thỏai mái và khi về lại quê hương sau kỳ nghỉ, các bác sẽ thấy bọn trẻ không còn mè nheo la ó nữa. Đời chẳng đẹp lắm sao?
T.S Alan Phan, Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa
T/S Alan Phan là một doanh nhân bôn ba làm ăn trên 43 năm qua tại Mỹ và Trung Quốc. Ông cũng là tác giả của 8 cuốn sách Anh và Việt ngữ về kinh tế tài chánh của các nền kinh tế mới nổi. Ông tốt nghiệp tại các đại học Penn State, American Intercontinental (Mỹ), Sussex (UK) và Southern Cross (Úc). Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com.

Nguy cơ chưa từng thấy trên biển Đông

Tàu cá TQ chuẩn bị đổ bộ ra biển Đông

Ngày 1/8, tờ Nhân dân Nhật báo vừa đăng bài xã luận với tựa đề khá giật gân: “Nguy cơ chưa từng thấy từ bên ngoài”. Tuy nhiên, bài xã luận này không nói rõ nguy cơ chưa từng thấy đó là gì. Cơ quan ngôn luận  của đảng Cộng sản Trung Quốc vốn thường chỉ đăng tải các bài xã luận mang tính chủ trương-đường lối chỉ đạo về những sự kiện mà Bắc Kinh xem là cực kỳ quan trọng. Bài xã luận lấp lửng nước đôi khiến cho dư luận thêm nóng lên về vấn đề biển Đông. Người ta nghĩ ngay đến việc một tờ báo lớn nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc tung tin về “nguy cơ từ bên ngoài” phải chăng  để che khuất sự rối ren từ bên trong với sự đấu đá rất quyết liệt giữa các phe cánh giành giật ghế tại Đại hội 18 Đảng CSTQ sắp tới trong nội bộ chóp bu?  Điều dự cảm này của thiên hạ cũng là lẽ đương nhiên, bởi vì cái trò hề tầm thường này của Trung Quốc, con bài “kéo dư luận ra khỏi Bắc Kinh” trước mỗi kỳ đại hội Đảng đã thành lối mòn, bản cũ soạn lại thôi.
            Tuy nhiên,  những động thái quốc tế trong mấy ngày gần đây, cho thấy sự bối rối của Trung Quốc trước những diễn biến trên thế giới và khu vực đều là sự “nằm ngoài dự kiến” của nhà cầm quyền Trung Quốc. Mấy năm qua, khi kinh tế toàn cầu lâm vào cảnh suy thoái kéo dài, khủng hoảng tài chính lan rộng, nhưng Trung Quốc vẫn chưa bị ảnh hưởng nhiều. Những nước tư bản kếch sù hơn hẳn Trung Quốc trước đây, nay bỗng nhiên bị lép vế trước một nước được coi là đứng vững của nền kinh tế mới nổi, đang đà phất nhanh này.  Cũng có những nước tư bản có thế lực nay đang trở thành con nợ của Trung Quốc mặc dù luôn bị các nước thúc ép phá giá đồng nhân dân tệ. Vì thế, Trung Quốc đang hí hửng với “thế thượng phong”, đĩnh đạc bước vào Đại hội 18 với một khí thế hùng hổ.  Giới cầm quyền Trung Nam Hải nghĩ rằng khi bước vào năm 2012 sẽ không có nước nào dám đụng đến con rồng Trung Quốc. Ngỡ rằng cơ hội đoạt vai trò bá chủ toàn cầu đã đến rồi chăng ?
          Thế nhưng, Trung Quốc bước vào năm Con Rồng này lại xảy ra nhiều diễn biến “xui xẻo” đến thế. Trước hết, bung xé từ nội bộ ra là vụ Bạc Hy Lai, rồi tiếp đến hai Hội nghị ASEAN tại Phnompenh mặc dù mất tiền bồi dưỡng cho Campuchia, nhưng Trung Quốc vẫn không đạt được ý định khống chế trên thế mạnh khuynh loát và phá vỡ sự đoàn kết của các nước ASEAN. Ngược lại, trên thực tế nhà cầm quyền Bắc Kinh đã tự chuốc lấy sự cảnh giác, dè chừng và né tránh của các nước ASEAN. Tưởng như quậy phá biển Đông sẽ là  cú đòn hiểm hóc đe dọa được các nước Đông Nam Á nhưng tiếc thay điều Trung Quốc không thể ngờ việc vận dụng những chiến thuật tưởng như khôn khéo và mưu lược ấy đã phải trả giá quá đắt. Họ đã đẩy các nước Đông Nam Á càng nghiêng nhiều hơn với Mỹ, Nhật, Nga, Ấn Độ, những đối thủ đáng gờm của Trung Nam Hải. Và dĩ nhiên, việc sẽ đến đang đến. Mỹ và Nga xuất hiện trên vũ đài chính trị-quân sự ở khu vực Châu Á-TBD như một sự răn đe, lên tiếng hỗ trợ, tuyên bố sẽ bảo vệ các nước đồng minh (Nhật, Hàn) và các nước yếu trong tổ chức ASEAN khi có sự biến do Trung Quốc gây ra.
Chiến lược Châu Á-Thái Bình Dương mà Mỹ tạm gác, nay lại được khơi ngòi một cách chính thức qua việc Mỹ tuyên bố công khai xác nhận chiến lược mới với thế giới. Mặt khác, Nhật đã công khai phê phán sự hiếu chiến của Trung Quốc qua “sách trắng về quốc phòng” vừa mới được công bố. Sự cô lập của TQ còn thể hiện qua cuộc tập trận 24 nước trên Thái Bình Dương (Rimpac)Trung Quốc đã không được mời tham gia. Gần đây, Nga càng tỏ ra quan tâm mạnh mẽ tình hình trên biển Đông và với khu vực  Đông nam Á tích cực hơn. Bản Tuyên bố chung Việt –Nga được đưa ra qua chuyến thăm Nga của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang mới rồi là một quả đắng cho Trung Quốc…Phải chăng tất cả những động thái  ấy đang làm điên đầu nhà cầm quyền Trung Nam Hải, ngày càng cảm thấy bị bao vây, cô lập ?
          Trong khi kinh tế trong nước không tránh được cơn suy thoái, nội bộ tranh giành quyền lực trong Đảng CSTQ cho nhiệm kỳ  rối ren lại phải đối phó với sự thất thế trong các quan hệ đối ngoại như đã nêu trên, giới cầm quyền Bắc Kinh lúng túng đến điên đầu thì cũng không có gì là lạ.
Thế nhưng, để che đậy cho những hành động leo thang ứng phó với sự đoàn kết giữa các nước trong khu vực về vấn đề tự do hàng hải trên biển Đông, Trung Quốc lên tiếng một mặt rêu rao là “sẵn sàng phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác trong các mặt, trong đó có quan hệ an ninh-quốc phòng với ASEAN, cùng thúc đẩy hoà bình, ổn định và phồn vinh trong khu vực, vấn đề Nam Hải cần phải giải quyết thông qua đàm phán giữa các nước đương sự”, như phát biểu trên đài truyền hình CRI hôm 31-7 của Đại tá Cảnh Nhạn Sinh, người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Trung Quốc nhưng trên thực tế thì lập ra cái gọi là thành phô Tam Sa để quản lý hành chính các quần đảo trên biển Đông, đưa ban chỉ huy và lực lượng quân sự đến trú đóng để sẵn sàng tác chiến và tiến hành diễn tập quân sự bắn đạn thật trên vùng biển  tiếp giáp vớiTrường Sa, không kê tổ chức đánh bắt thủy hải sản rầm rộ trong vùng biển thuộc chủ quyền VN với sự bảo vệ của đội tàu “Hải Giám” !
          Rõ ràng, người ta nhận diện ra ngay cái trò “cây gậy và củ cà rốt”  vốn đã quen dùng thành một thứ bài bản ngoại giao của Trung Quốc từ xưa đến nay. Trong khi “củ cà rốt” vừa giơ lên hôm trước (như phát biểu của đại tá Cảnh Nhạn Sinh trong buổi họp báo ngày ngày 31-7), thì ngay hôm sau (1-8) Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt đã mạnh miệng tuyên bố rằng Trung Quốc đang đối mặt với “nguy cơ chưa từng thấy từ bên ngoài”, và Tướng Liệt cũng không ngần ngại đưa ra “con phăng teo”, công khai thúc giục quân đội tăng cường chuẩn bị cho mọi cuộc đối đầu quân sự.
          Vì vậy, bên cạnh sự nhìn nhận cái trò tung hỏa mù bên ngoài, khỏa lấp những lình xình đấu đá trong nội bộ, chúng ta không nên  quá chủ quan, cần đề phòng sự manh động, chiến thuật chớp nhoáng cưỡng đoạt bất ngờ theo thói quen chụp giật, ăn cướp  có từ huyết thống của đế quốc Đại Hán nhằm lập thành tích chào mừng đại hội Đảng !. Những nỗ lực về hiện đại hóa quân sự của  nước này cho thấy nhà cầm quyền Trung Nam Hải vẫn không từ bỏ mục đích độc chiếm biển Đông, có khả năng TQ đanghuy động lực lượng hành động gấp để chủ động tạo ra “việc đã rồi” trước khi Mỹ, Nga, Nhật và các nước ASEAN chưa kịp triển khai các bước chiến lược mới trên vùng biển Đông, và cả trước khi Luật biển của Việt Nam được thực thi.
Âm mưu này được tiết lộ qua phát biểu ngang ngược của Đại tá Cảnh Nhạn Sinh, rằng “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo và vùng biển xung quanh trên Nam Hải, Trung Quốc thành lập cơ quan tương ứng trên lãnh thổ của mình, là công việc nội bộ của Trung Quốc, không liên quan gì tới các nước khác”. Ông Cảnh Nhạn Sinh cũng nói bất chấp lẽ phải ,một cách không biết ngượng: “Việc thiết lập khu cảnh bị tại thành phố Tam Sa là sự sắp xếp bình thường được tiến hành theo quy định hữu quan của Trung Quốc về hoạch định khu vực hành chính và thành lập cơ quan quân sự…” trên quần đảo Hoàng Sa của VN đang bị TQ chiếm giữ.
          Cùng với việc phong cấp Thượng tướng cho 6 sĩ quan quân đội, vừa chuẩn bị nhân sự với chủ đích tăng cường bộ máy của quân ủy TƯ cho nhiệm kì tới, một mặt vừa cải tổ lại hệ thống cán bộ chỉ huy chủ chốt trong quân đội để chuẩn bị chiến tranh, mặt khác  ráo riết đẩy nhanh tốc độ hiện đại hóa các loại tàu chiến như tàu sân bay, tàu khu trục, tuần dương, tàu ngầm, tàu đổ bộ loại lớn…đồng thời tăng cường trang bị vũ khí tối tân, tên lửa chống tàu sân bay của địch thủ, máy bay tác chiến trên biển, các loại tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm xa cho Hạm đội Nam Hải.
Bên cạnh đó, động thái ráo riết nhất là trong những ngày qua, các tàu cá Trung Quốc đã tụ tập tại cảng Tam Á ở tỉnh Hải Nam để chuẩn bị ra khơi, theo thông tin của Tân Hoa xã. Theo tờ Nhật báo Hải Nam, có 8.994 tàu cá với 35.611 ngư dân sẽ đổ xô xuống biển Đông trong những ngày tới.  Hiện chưa rõ những khu vực mà ngư dân Trung Quốc sẽ đánh bắt tại biển Đông. Tất cả những hành động này có thể hiểu là đây là một sự chuẩn bị và sẵn sàng dùng vũ lực mạnh của Trung Quốc, rõ ràng đang là “nguy cơ chưa từng thấy trên biển Đông”.
 Nhật báo Hải Nam cho biết, từ hôm 31/7, các ngư dân ở Hải Nam đã tích cực chuẩn bị cho việc đổ ra biển đánh bắt. Các ngư dân Trung Quốc đã làm sạch tàu thuyền, nạp nhiên liệu, tích trữ lương thực chờ khi lệnh cấm đánh bắt cá (mà Trung Quốc đơn phương áp dụng ở Biển Đông) được giải tỏa. Trước đó, ngày 15/5, Trung Quốc đơn phương tuyên bố lệnh cấm đánh bắt cá, áp dụng với hầu như toàn bộ Biển Đông, lệnh cấm đánh cá có hiệu lực từ 12h ngày 16/ 5 đến 12h ngày 1/8. Lệnh này bị các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam bác bỏ bởi không có cơ sở pháp lý nào mà là một sự áp đặt đơn phương phi lý. Thật vậy, ngay sau khi Trung Quốc tuyên bố áp đặt “lệnh” cấm này, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị đã lên tiếng phản đối, nói rằng quyết định của Trung Quốc là “đơn phương” và “không có giá trị”. Ông Lương Thanh Nghị nói: “Việc Trung Quốc đơn phương thi hành lệnh cấm đánh bắt cá ở biển Đông là vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC), làm cho tình hình biển Đông phức tạp thêm”. Khi đó, phía Philippines cũng đã ra tuyên bố bác bỏ lệnh cấm phi lý nói trên của Trung Quốc.
Trước hàng loạt hành động gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông trong thời gian vừa qua cựu Ngoại trưởng Ấn Độ và Australia cùng một số học giả quốc tế khác đã kêu gọi Trung Quốc phải tôn trọng các quy tắc chung và dừng ngay những hành động vi phạm luật pháp quốc tế trước khi quá muộn. Ngay cả nhà bình luận nổi tiếng của trang báo mạng Phượng Hoàng (Hong Kong, Trung Quốc) Tiết Lý Thái cũng cảnh báo, Trung Quốc sẽ vấp phải nhiều khó khăn và thách thức từ cộng đồng quốc tế nếu cứ khăng khăng tuyên bố về “đường lưỡi bò”.
Những tình huống mới này đang đặt ra nhiệm vụ cấp bách cho các nước tiếp giáp biển Đông với Trung Quốc, trực tiếp nhất là Việt Nam mà “điểm nóng” là vùng biển quần đảo Trường Sa. Lúc này phải thực sự cảnh giác cao độ, hãy gác lại quan hệ giả tạo “16 chữ vàng” và tinh thần “4 tốt”,  cần đặt vận mệnh Tổ quốc, chủ quyền dân tộc lên trên hết, tỉnh táo, nhạy bén và chủ động với mọi tình huống, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của tổ quốc. Không thể nhân nhượng thêm được nữa, chúng ta càng nhân nhượng chúng càng lấn tới !
Đại tá Bùi Văn Bồng
Nguồn: Bùi Văn Bồng blog

Thư công dân gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang


Kính gởi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang
Thưa ngài,
Vào tháng 4 năm 2011, tôi có gởi một bức thư cho ngài Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết để chia sẽ suy nghĩ của một công dân với vị nguyên thủ quốc gia của mình về vụ án tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ. Dẫu biết rằng vị trí nguyên thủ quốc gia của chúng ta chưa thật rõ ràng như nhiều quốc gia tiến bộ trên thế giới. Dẫu biết rằng mong muốn có được một nguyên thủ đúng nghĩa mà thành tựu dân chủ của loài người đã khẳng định, là một viễn ảnh xa mờ. Nhưng tôi vẫn tiếp tục viết như đã viết cho người tiền nhiệm của ngài, để ngài thấy rằng mong muốn của tôi về sự có được NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA QUỐC GIA nó thôi thúc đến nhường nào.
Thưa Chủ tịch,
Chắc ngài có biết yêu cầu của 42 nhân sĩ trí thức Sài Gòn gởi cho Chính quyền (Thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 27/7 mới đây. Tôi muốn chia sẻ tâm trạng của tôi với ngài về sự kiện này. Hầu hết 42 vị đó tôi đều biết tiếng (thậm chí có người còn là quen biết gần gũi) và dành cho tất cả lòng kính trọng. Nhưng ở mặt khác, tôi biết chắc rằng chính quyền thành phố, trong đó có những người thân quen của tôi, đang bận bịu lo đối phó, xử lý sự kiện này. Ngày mà 42 nhân sĩ trí thức tuần hành trên đường phố Sài Gòn để khẳng định quyết tâm bảo vệ chủ quyền, tôi sẽ đi theo, và ngày đó tôi cũng sẽ gặp các người quen của mình ở hai vị thế không tránh khỏi bẽ bàng. Tình cảnh tréo ngoe này của cá nhân tôi không xuất phát từ sự xung đột lợi ích của những quan hệ đời thường, mà lại từ mối bận tâm lớn lao: Sự tồn vong của Tổ Quốc. Bi kịch của đất nước đó cũng là bi kịch của cá nhân tôi.
Thưa ngài,
Ông nội của ngài và ông nội của tôi đều sống trong triều vua Thành Thái, chắc ngài vẫn nhớ câu thơ của vua trước khi cất bước lưu đày: “Muôn dân nô lệ lầm than / Tham chi bệ ngọc ngai vàng riêng ta”. Tình cảnh ông cha chúng ta là tình cảnh nô lệ và cũng chỉ mỗi một thứ nô lệ giặc Tây mà thôi. Nhưng giờ đây, tôi không chắc là Tổ quốc này đã thoát vòng nô lệ trên cả hai mức độ – quốc gia và thân phận mỗi con người – hay chưa. Nô lệ ý thức hệ, nô lệ quá khứ, nô lệ tổ chức và nghĩa nào đó vẫn còn nô lệ ngoại bang. Tôi ham muốn biết bao vị nguyên thủ của Tổ quốc tôi chỉ còn mỗi “nô lệ” vào những giá trị mà toàn dân đều tin tưởng, tôi ham muốn biết bao vị nguyên thủ của tổ quốc tôi chỉ còn mỗi “nô lệ” vào những giá trị mà loài người đã khẳng định và không ngừng vun đắp.
Thưa Chủ tịch,
Chắc ngài cũng có những giấc mơ. Giấc mơ của tôi là mỗi buổi sáng thứ Hai khi đi qua số 127 Trương Định, quận 3 [trụ sở Thành uỷ TP HCM – BVN], nhìn mọi người chào cờ tôi sẽ không còn cảm giác chơ vơ như một người xa lạ. Miễn đó là cờ của Tổ quốc, trái tim tôi sẽ dạt dào cảm xúc nếu mỗi sáng đầu tuần được chào cờ với bất cứ đồng bào nào của tôi và ở bất cứ nơi nào trên mảnh đất này. Nếu gì lý do nào đó, mà giấc mơ của tôi không giống như của ngài thì đó lại thêm một bi kịch của riêng tôi và nó sẽ tiếp tục đè nặng lên tương lai của con tôi.
Chúc ngài được nhiều sức khỏe.
Nguyễn Bùi An
P/S: Tôi chắc rằng có nhiều người Việt Nam như tôi còn tin ngài và lo cho an nguy của cá nhân ngài.