Thứ Bảy, ngày 11 tháng 8 năm 2012

Phải chặn đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990


Trong lịch sử ngoại giao Việt Nam kể từ sau khi đất nước đã hoàn thành sự nghiệp độc lập thống nhất ngày 30-04-1975 cho đến hôm nay, sự kiện hội nghị bí mật Thành Đô tháng 9-1990 giữa hai đoàn đại biểu cấp cao hai nước Việt – Trung để bình thường hóa quan hệ là một thất bại nhục nhã của nước ta, bẻ ghi con đường phát triển của nước ta dẫn đến tình hình đất nước như hôm nay: Một lần nữa Trung Quốc lại trở thành mối uy hiếp trực tiếp và nguy hiểm nhất đối với độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và con đường phát triển của nước ta.
          Tóm tắt lịch sử đã xảy ra: Không thể nào chấp nhận được thắng lợi của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, ngay sau 30-04-1975 Trung Quốc đã tạo ra cái “bẫy Campuchia”, khuyến khích Khmer đỏ khiêu khích vũ trang đánh Việt Nam và đến tháng 4-1977 Khmer đỏ đã tiến hành chiến tranh lớn tấn công diện rộng toàn vùng biên giới Tây Nam nước ta giáp Campuchia; đồng thời ngày 17-02-1979 Trung Quốc huy động 60 vạn quân phát động cuộc chiến tranh quy mô lớn ồ ạt tiến công toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam, với cái đích kiêu ngạo “Dạy cho Việt Nam một bài học”. Với chiến lược căng Việt Nam ra cả hai đầu mà đánh, hai cuộc chiến tranh dã man này nhằm mục đích khuất phục nước ta, trên thực tế đến 1989 mới thực sự im tiếng súng ở biên giới phía Bắc và ở Campuchia. Song cả hai cuộc chiến tranh này đã thất bại, vì Trung Quốc không thực hiện được mục tiêu chiến lược của nó là khuất phục Việt Nam, hơn thế nữa Việt Nam đã đánh tan Khmer đỏ và cứu được nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng. Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc luôn là đòi hỏi chiến lược của Việt Nam, song tình hình nêu trên cho thấy dù bị sức ép quyết liệt từ phía Trung Quốc và bị bao vây cấm vận vì vấn đề Campuchia, Việt Nam không ở trong thế yếu. Song vào thời điểm cuối những năm 1980 và đầu năm 1990 các nước Liên Xô Đông Âu sụp đổ. Diễn biến này được lãnh đạo nước ta lúc ấy coi là hệ quả phản công của chủ nghĩa đế quốc, và lo rằng nạn nhân kế tiếp có thể là Việt Nam. Với tư duy như vậy, sau nhiều nỗ lực khác không thành vì bị Trung Quốc luôn gây sức ép, lãnh đạo nước ta đã chấp nhận hai đòi hỏi quan trọng nhất của Trung Quốc là rút quân khỏi Campuchia và loại bỏ Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch để mở đầu cho quá trình bình thường hóa quan hệ. Ngày 3 và 4 tháng 9-1990 cuộc họp cấp cao Thành đô được tiến hành, Việt Nam tham gia với mong muốn bình thường hóa quan hệ và liên minh với Trung Quốc để cùng nhau bảo vệ chủ nghĩa xã hội, bất chấp việc Trung Quốc tháng 3-1988 đánh chiếm thêm 7 đảo và bãi đá của ta ở Trường Sa, bất chấp công cuộc đổi mới của nước ta bắt đầu từ năm 1986 mang lại thành quả bất ngờ và nhanh chóng cải thiện tình hình kinh tế nước ta trong những năm ấy.
          Sai lầm nghiêm trọng thứ nhất là tư duy ý thức hệ đã mù quáng không nhìn ra sự sụp đổ của các nước LXĐÂ cũ tạo ra một cục diện quốc tế mới cho phép nước ta thực hiện triệt để độc lập tự chủ, từ đây có thể đi cùng với cả trào lưu tiến bộ thế giới để bảo vệ và phát triển đất nước mình, không cần phải gắn nước ta vào phe nào hay nước lớn nào. Cơ hội này đã bị vứt bỏ, chẳng những thế mà còn bị xem là nguy cơ lớn nhất đối với đất nước – thực ra là nguy cơ lớn nhất đối với chế độ chính trị.
          Sai lầm nghiêm trọng thứ hai là lẫn lộn hai thứ làm một giữa bình thường hóa quan hệ quốc gia – quốc gia và liên minh ý thức hệ. Từ đó có ảo tưởng liên minh ý thức hệ có thể giải quyết và vượt qua được những mâu thuẫn hay xung đột lợi ích quốc gia, là cách tốt nhất để bảo vệ quốc gia và chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tư duy như vậy, trên thực tế phía ta đã chấp nhận bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc trên thế yếu và gần như với bất cứ giá nào.
          Bình thường hóa quan hệ Việt Trung kể từ Thành Đô 9-1990, Việt Nam được hưởng một thời kỳ hòa hoãn nhất định với Trung Quốc, song đó là thời kỳ hòa hoãn trên thế yếu và có nhiều sai lầm nghiêm trọng về ý thức hệ. Thực tế diễn ra trong suốt thời gian này cho đến nay là phía Việt Nam đã làm tất cả có thể để hòa hiếu, nhân nhượng, giữ gìn đại cục, với cái đích trung tâm là gìn giữ mối quan hệ chiến lược số một với Trung Quốc. Nhưng toàn bộ thời gian này phía Trung Quốc lại triệt để khai thác mối quan hệ hữu nghị như thế cho việc phát huy tối đa sự can thiệp của quyền lực mềm vào toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam, gây ra không ít khó khăn cho Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại. Đặc biệt là Trung Quốc đã xuất khẩu ngoạn mục “nguy cơ diễn biến hòa bình” vào Việt Nam, để chính Trung Quốc có điều kiện tốt nhất tác động, ảnh hưởng và diễn biến Việt Nam về mọi mặt.
          Nhìn lại hơn 20 năm qua, điểm lại toàn bộ những việc trong quan hệ hai nước đã làm được, từ đàm phán biên giới trên bộ và dưới biển, phát triển quan hệ kinh tế, việc Trung Quốc trúng thầu hàng trăm công trình kinh tế quốc gia quan trọng của Việt Nam, thuê đất, thuê rừng, bô-ít Tây Nguyên, ti-tan ven biển miền Trung, những hoạt động tăng cường quan hệ thực ra là nhằm tăng cường chi phối nhân sự nước ta, những hoạt động tăng cường giao lưu.., tất cả đều chịu sự chi phối sâu sắc của quyền lực mềm Trung Quốc.
          Những sai lầm, yếu kém chủ quan của ta, do chính ta tự gây nên, cần phải được nhìn nhận khách quan và phê phán nghiêm khắc, không thể đổ thừa cho bất kỳ ai bên ngoài.
Dù khẳng định dứt khoát như thế, vẫn phải đánh giá nghiêm khắc: Tổng hợp tình hình hơn 20 năm qua, thực tế đang diễn ra là quan hệ Việt – Trung càng phát triển, thì Việt Nam càng lệ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc về kinh tế và chính trị, bị uy hiếp nhiều hơn về đối ngoại và quốc phòng. Thực tế này, cùng với ảnh hưởng chính trị nói chung của Trung Quốc vào đối nội của Việt Nam một mặt đang kìm hãm nghiêm trọng toàn bộ sự phát triển của Việt Nam nói chung, mặt khác gây ly tán đến mức nguy hiểm giữa nhân dân và lãnh đạo đất nước, khiến cho trấn áp và mất dân chủ trong đối nội phải gia tăng, đồng thời thực tế này cũng khuyến khích tham nhũng tiêu cực phát triển. Những vụ trấn áp biểu tình vừa qua chống yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông nói lên nhiều điều và càng đổ dầu thêm vào lửa bức xúc trong nhân dân.
Hiện nay, đất nước có rất nhiều yếu kém bên trong, lệ thuộc và hèn yếu về đối ngoại, nguyên nhân của thực trạng này – ngoài cac lẫm lỗi chủ quan của ta – có nguyên nhân chi phối rất nghiêm trọng của ảnh hưởng Trung Quốc.
Ngày nay, lợi ích quốc gia đòi hỏi phải lọai bỏ xu thế đang diễn ra là quan hệ Việt – Trung  càng phát triển thì Việt Nam càng lệ thuộc vào Trung Quốc và tương lai phát triển của Việt Nam càng bị chặn đứng. Ngày nay quốc gia đang đứng trước nguy cơ Trung Quốc tìm cách tiếp tục lấn chiếm biển đảo của đất nước trên Biển Đông. Sau 37 năm độc lập thống nhất, đất nước đang lâm nguy.
Những yếu kém của ta trước đây đã dẫn đến Thành Đô 1990. Không loại trừ nguy cơ những yếu kém hiện nay của nước ta có thể tái lập một Thành Đô 1990 đời mới, với hệ quả là vứt bỏ cả thế giới đang đứng về phía chính nghĩa của nước ta, để quay lại hòa hiếu với Trung Quốc và để đẩy tiếp cả đất nước xuống bùn đen!
Cả nước phải đồng lòng nhất trí loại bỏ nguy cơ mới này. Muốn có được quan hệ hữu nghị thực sự, hợp tác bình đẳng cùng có lợi giữa Việt Nam – Trung Quốc, càng nhất thiết phải loại bỏ nguy cơ Thành Đô 1990 đời mới!
Để mỗi chúng ta có những căn cứ các đáng về mối lo nguy cơ mới, trong phần phụ lục kèm theo bài này, xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc một số trích dẫn trong tài liệu nghiên cứu của anh Dương Danh Dy về Hội nghị Thành Đô 9-1990.

Phụ lục
Một số ý trích dẫn từ tài liệu nghiên cứu
Hội nghị Thành Đô, tháng 9 năm 1990
Dương Danh Dy, Hà Nội, tháng 10 -2011
“…Ngoài những nhân nhượng “vô nguyên tắc” về CPC như đã trình bày trên, phía Việt Nam đã không hề(hay không dám) đề cập tới nguyên nhân tạo ra bất đồng trong quan hệ Việt Trung trong hơn 10 năm qua nhất là cuộc chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979  do Ban lãnh đạo Bắc Kinh cố tình, chủ động gây ra.. Phía Việt Nam đã hoàn toàn cho qua vấn đề sau khi nghe Giang Trạch Dân nói trong diễn văn: quan hệ hai nước từ nay  “hãy gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”…
Chúng ta không đòi Trung Quốc phải bồi thưòng chiến tranh(trong khi đã nêu vấn đế Mỹ  bồi thường chiến tranh là điều kiện tiên quyết để bình thưòng hoá quan hệ hai nuớc) nhưng tại sao trong đàm phán bí mật lại không dám nói dù chỉ là một lời với Trung Quốc  về cuộc chiến tranh tàn ác đó và buộc họ chí ít phải nói ra câu “lấy làm tiếc” về hành động phi nghĩa của mình? Nhượng bộ “vô nguyên tắc” này của Việt Nam đã làm cho Trung Quốc dưòng như  giành được “vị thế chính nghĩa”  trước dư luận quốc tế và nhất là trong đông đảo nhân dân Trung Quốc dù họ mang hơn 60 vạn quân chính qui  xâm lược, giết hại nhiều đồng bào ta, tàn phá nhiều cơ sở vật chất của ta  tại vùng 6 tỉnh  biên giới Việt Nam. Làm cho một bộ phận ngưòi trên thế giới cho rằng những vu cáo bịa đặt của Trung Quốc: “Việt Nam  xua đuổi nguời Hoa”, “Việt Nam xâm lược Cămpuchia”… là  đúng, việc thế giới “ lên án, bao vây cấm vận Việt Nam” là cần thiết, việc Trung Quốc “cho Việt Nam một bài học” là phải đạo v.v.… trong khi chính chúng ta mới là ngườì có công lớn trong việc đánh tan bọn Khơme đỏ, cứu nhân dân Cămpuchia khỏi nạn diệt chủng. Tóm lại là đã làm cho khá nhiều người trong thời gian khá dài hiểu lầm, ác cảm với Việt Nam.
…Cho tới khi đặt bút viết những dòng này mặc dù đã mất nhiều công sức tìm hiểu, người viết vẫn chưa biết ai là người đề xuất chủ trương cấm không được nói lại chuyện cũ với Trung Quốc, khiến cho trong hơn 20 năm qua, trên các phương tiện truyền thông của Việt Nam không hề có một tin tức nào động chạm tới Trung Quốc( ngay cả tên tuổi, nghĩa trang của các liệt sĩ hy sinh trong cuộc đấu tranh yêu nước thần thánh trên cũng bị cố tình lảng tránh không dám công khai nói tới, thậm chí bị lãng quên).
…Cần phải nói ra đây một sự thực là trong khi đó, báo, mạng chính thống của Trung Quốc vẫn ra sức tung hoành, không hề bị một sự cấm đoán, hạn chế nào, ngày ngày tìm hết cách để “bôi xấu, xuyên tạc” Việt Nam về mọi mặt, đến nỗi phần lớn ngưòi dân Trung Quốc bình thường khi được hỏi về Việt nam cũng thốt lên, Việt Nam là “kẻ vô ơn bội nghĩa, là kẻ ăn cháo đá bát..”. Theo tài liệu chính thức của Trung Quốc trong một cuộc điều tra công khai, đã có tới “80% dân mạng Trung Quốc(tức khoảng 300 triệu ngưòi-chủ yếu là thanh niên và người có học) tán thành dùng biện pháp vũ lực với Việt Nam tại Biển Đông” Cảm tình, ấn tưọng tốt đẹp của đa số nhân dân Trung Quốc về một nước Việt Nam anh dũng trong chiến đấu, cần cù trong lao động, hữu nghị với Trung Quốc trước đây  dường như không còn nữa. Hậu quả tai hại này chưa biết bao giờ mới xoá bỏ được…
…Chấp nhận yêu sách trắng trợn của phía Trung Quốc “gạt bỏ mọi chức vụ trong và ngoài đảng đồng chí Nguyễn Cơ Thạch, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch HĐBT kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam”, rồi lợi dụng mọi cơ hội đế đến đại hội VII ĐCSVN chính thức làm được việc đó khi đồng chí là một trong số rất ít người lãnh đạo  có  tư duy sáng tạo, am hiểu tình hình quốc tế, có sức khoẻ dồi dào,  có uy tín quốc tế, nhất là đối với các nước phương tây là một việc làm thể hiện sự yếu kém về bản lĩnh và sự tha hoá về tình nghĩa cộng sản, là một việc làm dại dột “vác đá tự ghè chân mình”…
…Có thể có ngưòi không đồng ý nhận định này, nhưng người viết bài này luôn cho rằng rằng Nguyễn Cơ Thạch là số ngưòi hiếm có trong hàng ngũ lãnh đạo đảng ta lúc đó, ông am hiểu  sâu sắc  tình hình quốc tế, có quan hệ tương đối tốt với một số chính khách phương tây và đặc biệt là người sớm thấy rõ âm mưu ý đồ đen tối của Trung Quốc đối với Việt Nam, đang tích cực vạch trần và ra sức chống lại mọi ý đồ bành trướng bá quyền của họ khiến ban lãnh đạo Bắc Kinh  thấy rằng nếu không cương quyết ép ban lãnh đạo Việt Nam loại bỏ  Nguyễn Cơ Thạch thì Việt Nam sẽ “sớm thoát khỏi vòng tay của Trung Quốc”, sẽ  nhanh chóng có “ vai trò quan trọng trong khu vực và thế giới”, điều mà bất kỳ ban lãnh đạo Trung Quốc thế hệ nào cũng đều không bao giờ muốn. Có thể nói mà không sợ quá mức rằng, nếu Nguyễn Cơ Thạch còn trong ban lãnh đạo cấp cao Đảng ta một nhiệm kỳ nữa thì việc bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ và việc Việt Nam gia nhập Asean chắc chắn không phải mãi đến năm 1995 mới thực hiện, chậm hơn việc bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc tới gần 5 năm….
…Ban lãnh đạo Bắc Kinh các thế hệ, lo sợ ảnh hưỏng của Nguyễn Cơ Thạch tới mức, mặc dù ông buộc phải nghỉ hưu và mất đã khá lâu mà hơn hai mươi năm sau ngày bình thưòng hoá quan hệ Việt Trung, tại Đại hội lần thứ XI ĐCSVN tháng 1 năm 2011 họ còn không muốn để con trai ông làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam ( lời nguời lãnh đạo đảng ta lúc đó nói, tôi được nguyên đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Trọng Vĩnh trực tiếp  cho biết)
Chỉ một ví dụ cụ thể này là đủ nói rõ vấn đề
 …Không thể dùng các từ ngữ thông thưòng để đánh giá các hậu quả trên mà phải dùng từ “ cái giá phải trả bằng xương máu” mới phản ánh đúng bản chất của vấn đề.  “Hội nghị Thành Đô” đã, đang và sẽ còn mang lại cho đất nước chúng những hậu quả “to lớn”, “cay đắng” , “nhục nhã”…! Nếu những người có trách nhiệm, không dám công khai toàn bộ tư liệu về hội nghị này và nghiêm chỉnh đánh giá lại “kết quả”
…Vì vậy một vấn đề cũng quan trọng không kém mà ngưòi viết xin mạnh dạn khởi đầu  trước: từ những cái giá phải trả đó chúng ta cần rút ra những bài học gì? Cần ghi nhớ những bài học nào?
(1)Những ngưòi lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta lúc đó hầu như không nắm được những thay đổi, những diễn biến lớn trên trường quốc tế, nhất là về các nước xhcn Đông Âu, tình hình Liên Xô, tình hình Mỹ cũng như tình hình đối thủ trực tiếp của mình lúc đó là Trung Quốc.  Từ  đó  đã có những nhận định rất sai lầm để rồi đưa ra những quyết định rất sai lầm.
Thắng lợi của Công đoàn Đoàn kết tại Ba Lan, sự kiện “bức tường Berlin” bị nhân dân Đức xoá bỏ, việc Yelsin giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tại Cộng hoà liên bang Nga, Goovachov từ bỏ chủ nghĩa xã hội và đảng cộng sản… đã không làm cho một số ngưòi trong ban lãnh đạo chúng ta thấy rằng chủ nghĩa xã hội đã không còn được nhân dân ở chính ngay những nước đó ưa thích, theo đuổi, sự sụp đổ của họ là lẽ tất nhiên, Trong tình hình như thế mà lại chủ trương “bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chống đế quốc”, ”Mỹ và phương tây muốn cơ hội này để xoá cộng sản. Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới.  Rõ ràng là nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc”(Hồi ký Trần Quang Cơ)
Không thấy hết những khó khăn trong ngoài nước của Trung Quốc lúc đó. Trong nước họ vừa xẩy ra “sự kiện Thiên An Môn”, Triệu Tử Dương bị cách chức Tổng Bí thư, nội bộ lãnh đạo cấp cao bất đồng sâu sắc, một bộ phận nhân dân bất mãn với ĐCSTQ … Do đàn áp đẫm máu học sinh sinh viên, Trung Quốc bị các nước phương tây chủ yếu cấm vận về chính trị, kinh tế, quân sự(có hạng mục như xuất khẩu kỹ thuật cao trong quân sự đến nay vẫn chưa huỷ bỏ)Họ ở vào thế không có lợi nhiều mặt khi bình thường hoá quan hệ với ta, nhưng do mấy nhà lãnh đạo chúng ta lúc đó đánh giá không đúng tình hình nên không những không sử dụng được lợi thế của mình, mà còn bị Trung Quốc “dắt mũi” kéo theo, thiệt đơn thiệt kép trong xử lý quan hệ cũ và trong giai đoạn bình thường quan hệ mới, cho tới tận bây giờ và cả trong tương lai nữa.
(2)Bằng những thoả thuận tại Hội nghị Thành Đô, mấy nhà lãnh đạo  chủ yếu của Đảng ta lúc đó đã tự đánh mất bản lĩnh”kiên cường, bất khuất, không sợ  địch”mà nhiều thế hệ lãnh đạo đã nêu cao, để  sẵn sàng nhận sai  về phần mình trước “kẻ thù”, tuỳ tiện đổ lỗi cho ngưòi tiền nhiệm. Người viết bài này không hiểu vì sao, người đại diện cho Đảng ta, một nhân vật có tinh thần sáng tạo lớn với ý chí kiên cường đã tích cực phát triển  đường lối “cải cách và đổi mới” và chỉ đạo toàn Đảng toàn dân  thu được những thành tích to lớn rất quan trọng bước đầu, thế nhưng trước đối thủ Trung Quốc hình như chỉ còn là chiếc bóng, mất hết cảnh giác cách mạng gật đầu tin tưởng và làm theo mọi đề xuất mang đầy chất lừa bịp “vì chủ nghĩa  xã hội” “vì đại cục”… của Trung Quốc, thậm chí chấp nhận để họ can thiệp vào công việc nhân sự cấp cao của đảng ta.
Bài học này, cần được phân tích sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, một mặt để thấy rõ sai lầm quá khứ, một mặt để ngăn chặn, phá tan những âm mưu, mánh khoé mới của ngưòi “láng giềng 4 tốt” của “những đồng chí” luôn rêu rao “16 chữ vàng” đang không ngừng vận dụng những “thành quả cũ” vào trong quan hệ với Việt Nam  chúng ta hiện nay và trong tưong lai….
…”
Hết
Võng Thị, Hà Nội, ngày 11 tháng 8 năm 2012
Nguyễn Trung
Nguồn: Viet-Studies

Lãnh đạo Tp.HCM trả lời về kiến nghị tổ chức biểu tình


Chỉ có ba trong 42 người ký tên vào kiền nghị tổ chức biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược được UBND TP HCM mời đến làm việc, đó là các anh Lê Công Giàu, Nguyễn Quốc Thái và Cao Lập. Qua cuộc gặp mặt ấy, những người được mời đã ghi nhận lại nội dung buổi làm việc. Đây là bản ghi nhận chỉ gởi riêng đến những người cùng ký đơn nhưng không được mời để những người nầy nắm được sự việc. Tuy nhiên vì thư kiến nghị đã được đăng công khai và thu hút sự quan tâm của đông đảo mọi người nên tôi thấy cần thiết và mạo muội đăng công khai bản ghi nhận mà cá nhân tôi vừa nhận được.
Ghi nhận về cuộc họp ngày 7-8-2012 với lãnh đạo TP.HCM
Vào lúc 13giờ 30 ngày 07-08-2012 theo thư mời của UBND Tp Hồ Chí Minh , chúng tôi gồm Lê Công Giàu , Nguyễn Quốc Thái và Cao Lập là 3/42 công dân  ký tên vào văn bản đề nghị tổ chức biểu tình chống hành động khiêu khích và sai trái của nhà cầm quyền Trung Quốc đã có buổi làm việc với UBND TP. HCM tại văn phòng tiếp dân số 15 Nguyễn Gia Thiều Quận 3 . Do lãnh đạo thành phố chỉ mời 3 người chúng tôi nên chúng tôi thấy có trách nhiệm phải báo cáo những nội dung chủ yếu đến các anh chị không tham dự  cuộc họp   nói trên .
   Thành phần tham dự :
       Ông Lê Minh Trí : Phó Chủ Tịch UBND TP. HCM
      Ông Nguyễn Thành Tài : Chuyên viên cao cấp của UBNDTPHCM
       Ông Phạm Văn Thành : Chủ nhiệm văn phòng tiếp công dân TP. HCM
       Ông Lâm Văn Ba :   Phó Văn phòng UBND TP.HCM
      Đại diện ban Tuyên Giáo Thành ủy, đại diện sở Tư pháp và các nhân viên giúp việc của văn phòng tiếp công dân
      Và chúng tôi gồm Lê Công Giàu , Nguyễn Quốc Thái và Cao Lập
Mở đầu cuộc họp ông Lê Minh Trí cho biết do ông chủ tịch UBND TP.HCM bận nên ủy nhiệm ông chủ trì cuộc họp này . Ông trình bày :
     Trong quá trình lãnh đạo đất nước và dân tộc, Đảng Cộng sản VN đã lãnh đạo thành công các cuộc cách mạng bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước. Đảng đã chứng tỏ bản lĩnh lãnh đạo đưa đất nước và dân tộc vượt qua bao khó khăn và giành thắng lợi, do vậy phải tin tưởng vào Đảng . Về việc chống Trung Quốc, Đảng đã làm được nhiều việc trên các mặt quân sự, ngoại giao . Quan điểm của Đảng là mềm dẻo nhưng kiên quyết . Phải giữ ổn định để bảo vệ thành quả bao năm nay và để phát triển . Phải mạnh để bảo vệ tổ quốc tốt hơn.  Về việc yêu nước có nhiều cách yêu nước , UBND và Thành Ủy chưa chủ trương biểu tình lúc này, biểu tình không giải quyết được tình hình chống Trung Quốc . Hiến pháp có xác định quyền biều tình của công dân nhưng chưa có luật biểu tình, Nghị định 38 có quy định tụ tập đông người phải xin phép và chính quyền sẽ cân nhắc lợi hại  để cho phép hay không.
Ý kiến của Anh Lê Công Giàu, Nguyễn Quốc Thái và Cao Lập :
Hoan nghênh việc tiếp công dân của lãnh đạo TP.HCM , các anh em được mời họp không đại diện cho tất cả  42 công dân đã ký tên và đề nghị lãnh đạo TP nên tiếp tục mời đầy đủ mọi người .
Nhắc lại lý do gởi văn bản đề nghị tổ chức biểu tình , khẳng định đó là thái  độ yêu nước cần bày tỏ trước hành động khiêu khích, sai trái xâm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam của Trung Quốc, giúp chính phủ có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong cuộc đấu tranh với Nhà cầm quyền Trung Quốc .
Nhân dân lo lắng Đảng và Nhà nước đã phản ứng quá yếu  trước các hành động gây hấn, sai trái của Trung Quốc khác với phản ứng mạnh mẽ của các nước như  Philippines, Nhật, Ấn Độ, Nga … Nhân dân thắc mắc Đảng và Nhà nước  phải chăng bị trói buộc vào “16 chữ vàng và 4 tốt” và phải gìn giữ quan hệ giữa hai Đảng nên không cứng rắn trong phản ứng ?. Trong khi Đảng và nhà cầm quyền Trung Quốc đã phơi bày dã tâm và ý đồ xấu xa của họ thì tại sao chúng ta lại phải gìn giữ, bảo vệ “16 chữ vàng và 4 tốt” ? .
Nhân dân cũng thắc mắc tại sao năm 1979 Đảng đã phản ứng  mạnh mẽ , đã phát huy lòng yêu nước của toàn dân tộc chống lại cuộc xâm lược của Trung Quốc thì nay lại không ?. Đảng và Nhà nước phải trả lời cho nhân dân được rõ!
 Đảng cần  xác định  bọn xấu , các thế lực thù địch  là ai ,để dân cảnh giác!. Nếu Đảng dựa vào dân thì không sợ bất cứ kẻ thù nào, lịch sử đã chứng minh điều đó. Đảng phải xây dựng thế trận lòng dân, dựa vào dân, không có dân thì dù có vũ khí tối tân bao nhiêu cũng  không đánh thắng quân xâm lược. Có súng nhưng sẽ không có người cầm súng .
Khi đất nước gặp nguy biến, giặc xâm phạm bờ cỏi sẽ  có 3 hạng người : Yêu nước, cam chịu làm nô lệ, làm tay sai . Những người yêu nước chống ngoại xâm cần được Đảng, Chính Phủ khuyến khích, sao lại bị cản trở, bắt bớ ? Sau khi lãnh đạo TP.HCM  nhận được thư đề nghị tổ chức biểu tình thì  nhiều người bị công an, cấp  ủy địa phương, cơ quan triệu tập hạch hỏi, uy hiếp, yêu cầu rút tên . Nhiều người trong đó có cán bộ, Đảng viên bị theo dõi . Việc làm này là không nên vì phản tác dụng và đẩy những nguời yêu nước vào thế đối lập với Đảng và Nhà nước và làm mất đi hình ảnh tốt đẹp của Đảng.
Tổ quốc là trên hết, yêu nước là thiêng liêng thì sao nhân dân biểu tình bày tỏ lòng yêu nước lại phải xin phép, phải chờ luật, chờ nghị định ? Lớp người ký tên đã lớn tuổi, đi biểu tình là chuyện phải làm và để nuôi dưỡng ngọn lửa yêu nước cho các thế hệ thanh niên kế tiếp. Đảng phải biết trân trọng việc truyền ngọn lửa yêu nước cho thế hệ trẻ. Cách nói “mọi việc đã có Đảng và Nhà nước lo” sẽ làm lụi tàn ngọn lửa yêu nước trong thanh niên, trong nhân dân. Cụ Nguyễn Đình Đầu một nhân sĩ 93 tuổi đã nhờ nhắn đến lãnh đạo thành phố là phải giữ vững đoàn kết trong nhân dân .
Đồng ý với chủ tọa cuộc họp là yêu nước phải có nhiều hình thức, như vậy ngoài biểu tình, phải tổ chức nhiều hình thức như : mít tinh, hội thảo trong cơ quan, xí nghiệp, trường trung học, đại học, tổ chức mit ting hàng vạn người tại sân vận động … thông qua các đoàn thể quần chúng .Việc này Nhà nước hoàn toàn có thể kiểm soát được tình hình không sợ kẻ xấu lợi dụng như cách nói quen thuộc hiện nay .
Trong khi Trung Quốc đã tuyên truyền giáo dục trong nhân dân của họ và thông qua các phương tiện truyền thông rộng rãi  nhất những thông tin sai lệch về chủ quyền của họ trên biển Đông, khơi dậy lòng hận thù dân tộc thì chúng ta lại hạn chế, ngăn chặn các thông tin về chủ quyền biển đảo chính đáng của VN. Thậm chí việc tưởng niệm các chiến sĩ hi sinh tại đảo Gạc- ma cũng bị cấm. Chúng ta phải phát động phong trào người Việt dùng hàng Việt và không dùng hàng nhập lậu, hàng độc hại, không nhãn mác  …của Trung Quốc đó là cách khơi dậy lòng yêu nước và có lợi cho đất nước, bảo vệ sức khỏe người dân, đồng thời phải tận dụng các phương tiện truyền thông, hệ thống giáo dục, các đoàn thể quần chúng, hội đoàn…vào việc giáo dục lòng yêu nước và kiến thức về chủ quyền biển đảo Hoàng Sa, Trường sa của Việt Nam .
Để có thể lãnh đạo được toàn dân, Đảng phải làm cho dân tin trong việc chống tham nhũng, trong thái độ dứt khoát với nhà cầm quyền Trung Quốc, nên bỏ “16 chữ vàng và 4 tốt” vì không ai bắt chúng ta phải nói diều này,dân cũng không chấp nhận. Lấy lợi ích đất nước và dân tộc làm trọng thay cho việc lấy quan hệ  giữa 2 Đảng, hai nhà nước làm trọng
Nhắc lại Đề nghị UBND Tp, Th/ỦY cần quan tâm lắng nghe tiếng  nói của các tầng lớp nhân dân . Cần tổ chức các cuộc gặp gỡ với các công dân chưa được mời họp và mở rộng ra mời nhiều anh chị khác .
Ông Lê minh Trí và Ông Nguyễn Thành Tài nói ghi nhận và chia sẻ tinh thần yêu nước  của các anh em , những ý kiến đóng góp là tích cực và hứa sẽ chuyển lên trên việc tiếp tục mời các công dân chưa được mời trong lần này .
   Cuộc họp kết thúc lúc 16g cùng ngày.
                                                                     TP Hồ Chí Minh 10-08-2012

Biển Đông: Dòng tin đáng chú ý


Sáng nay (10/8) đọc được một tin đáng chú ý về Biển Đông. Chú ý vì lẽ người đưa ra, đúng hơn là một gợi ý sát sườn về giải pháp Biển Đông vẫn là Indonesia. Và càng đáng chú ý hơn là một website chính thức của Liên bang Nga (báo điện tử “Tiếng nói nước Nga”) lại đưa thông tin này sớm sủa nhất.
Đã định post ngay lên blog tin này cho sốt dẻo. Nhưng cái thói quen nghề nghiệp lại muốn tin chắc ăn nên chờ đợi thêm, nghĩa là cố “theo dõi thêm” các nguồn tin khác… Quả nhiên tại buổi Thời sự của Truyền hình VN tối nay đã “lộ diện” một dòng tin mà nhiều người đã nghĩ đến: ông Dương Khiết Trì, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đã tới thăm Indonesia. Và sau đó ông ta sẽ đi tiếpBrunei và Malaysia.
Như vậy đã rõ. Việc Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa, người làm con thoi ngoại giao vài tuần trước cho Asean, nay chính là nước ông lại tiếp tục đưa ra “sáng kiến mới” cho vấn đề hết sức phức tạp này của khu vực.
Nói sáng kiến thật ra chưa đúng. Ông Marty chỉ muốn ở vị trí “người trung lập” (Indonesia không có vùng biển tranh chấp với TQ và các nước khác trong khối Asean), bước đầu muốn khơi thông các cuộc đàm phán về tranh chấp trên Biển Đông bằng cách vạch ra một định hướng giải quyết mới. Theo ý kiến của ông, định hướng đó đòi hỏi các nước ASEAN và Trung Quốc phải “có cách tiếp cận chung và phối hợp hành động”, và cũng chính ông đã cảnh báo rằng “nếu không tất cả chúng ta đều phải đối mặt với nguy cơ căng thẳng gia tăng”.
Căn cứ vào các hành động đơn phương và quá công khai, Trung Quốc hiện ra như một kẻ quá tham lam muốn nuốt trọn Nam Hải (Biển Đông) như các đòi hỏi của “đường lưỡi bò” thì quan điểm của Jakarta đưa ra không phải là điều Bắc Kinh khoái lắm. Bởi nó bao hàm ý là “các nước và TQ” cần có cách tiếp cận chung, nghĩa là Indonesia kéo TQ vào cách xem xét vấn đề đang tranh chấp “theo cách đa phương” chứ không như kiểu đánh lẻ “song phương” mà TQ muốn bẻ gẫy từng chiếc đũa một…Thế mà ngay lập tức TQ đã phải xuất ngoại trưởng đến ngay Jakarta để tham khảo sáng kiến của nước này. Sau đó đi tiếp 2 quốc gia khác mà họ đều có tranh chấp với “đường lưỡi bò”.
Vậy đã hé lộ, ngoài 2 nước có những động thái căng thẳng nhất về tranh chấp với TQ là Việt Nam và Philippines, thì nay TQ đã sớm sủa xem xét những ý kiến của người trung gian, người trọng tài là Indonesia trong sự vụ không dễ giải quyết này. Kế đó TQ vẫn còn hơi hướng kiểu “đánh tỉa” 2 nước ít gay cấn trong quan hệ dù vẫn có tranh chấp với họ là Brunei và Malaysia. Điều này Bắc Kinh muốn tạo một cảm giác là mình tuy là nước lớn nhưng vẫn có các động thái như “xuống giọng xuống nước” trước các quốc gia nhỏ bé hơn. Làm điều này cũng bao hàm “răn đe” 2 nước cứng đầu là Philippines và Việt Nam chúng ta.
Tuy nhiên người ta đã có quá nhiều kinh nghiệm với các trò ảo thuật và thiếu đường hoàng trong các cuộc thương lượng và đàm phán với TQ. Các nước Đông Nam Á ngày nay cũng trải nhiều cay đắng khi tiếp xúc làm ăn, giao thiệp với nước lớn TQ nên lẽ tất nhiên với mọi người là chuyện này “hãy chờ xem” chứ chưa thể tin được điều gì thuộc về thiện chí và cư xử biết điều từ phía TQ vào lúc này.
Vệ Nhi
———
DÒNG TIN TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ “TIẾNG NÓI NƯỚC NGA”:
Indonesia kêu gọi các nước ASEAN tìm tiếp cận chung đến tranh chấp lãnh thổ ở biển Hoa Nam (Biển Đông)
Bộ Ngoại giao Indonesia hôm thứ Tư cảnh báo về nguy cơ gia tăng căng thẳng trong quan hệ với Trung Quốc, nếu các nước của khu vực không tìm thấy cách tiếp cận chung cho các vấn đề chủ quyền quốc gia trên các đảo trong biển Hoa Nam (Biển Đông).
Photo EPA
“Đây là vấn đề đòi hỏi các nước ASEAN và Trung Quốc có cách tiếp cận chung và phối hợp hành động, nếu không tất cả chúng ta đều phải đối mặt với nguy cơ căng thẳng gia tăng”, – Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia Marty Natalegawa tuyên bố như vậy với các nhà báo.
Với các đảo và vùng nước xung quanh trong biển Hoa Nam (Biển Đông) giàu trữ lượng dầu mỏ, hiện có các quốc gia tuyên bố chủ quyền là Trung Quốc, Brunei, Philippines, Việt Nam và Malaysia.
Ngoại trừ Trung Quốc, tất cả các nước kể trên đều trong thành phần ASEAN.

“Tam cấp” cho tham nhũng


Trả lời phỏng vấn hôm 6/8 vừa qua, thứ trưởng Bộ Nội vụ Trần Anh Tuấn đã cho biết Bộ đang trình dự thảo sửa đổi Nghị định 107 năm 2006 của Chính phủ về xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng. Theo dự thảo, có 3 hình thức xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu, những người chịu trách nhiệm quản lý cũng như đưa ra các biện pháp phòng chống tham nhũng trong cơ quan, đơn vị mình, đó là họ có thể bị khiển trách, cảnh cáo hoặc cách chức. Một câu hỏi đặt ra: tại sao phải đặt ba mức độ kỷ luật với tham nhũng như vậy? Làn ranh giữa mức độ khiển trách, cảnh cáo và cách chức là gì? Ai được quyền quyết định “nâng mức” từ thấp lên cao hay hạ từ cao xuống thấp? Liệu đây có phải là kẽ hở để gỡ tội, chạy tội và giúp đỡ nhau thoát khỏi án kỷ luật, là trả ơn ân oán giữa những người mắc tội và những người có quyền giơ cao chiếc búa quyền lực gõ xuống đầu bất cứ ai hoặc quăng búa đi nếu cùng cánh hẩu? Thực tế luôn cho thấy việc lên xuống bậc “tam cấp” ấy như trở bàn tay…
Tại sao một cơ quan, công ty đã xảy ra tham nhũng dù nhiều ít thế nào cũng chỉ nên có một mức kỷ luật đầu tiên: cách chức? Nếu sau đó còn nghi ngờ phạm tội thì chuyển qua điều tra hình sự cán bộ đứng đầu cơ quan đó. Tại sao không thể là như thế? Vì khi có tham nhũng là có chuyện ăn cắp, biển thủ của công. Mà đã là ăn cắp thì ít hay nhiều cũng là rất xấu, rất tệ, nó thuộc về bản chất con người. Một lãnh đạo để cái xấu, cái tồi tệ tồn tại trong cơ quan mình như vậy nếu không có thói quen, văn hóa, liêm sỉ từ chức thì tốt nhất nên cách chức anh ta. Chí ít là nếu anh ta không liên quan đến tham nhũng thì cũng không đủ năng lực quản lý, thiếu tinh thần trách nhiệm (như trong bộ luật hình sự đã nêu)…Thế chưa đủ cách chức ư? Hay lại “sợ hết cán bộ làm việc”?
Để điều tra tham nhũng ở Việt Nam là chuyện khó hơn lên Sao Hỏa. Những kẻ bị cùm tay ra trước vành móng ngựa vẫn chưa phải là kẻ cuối cùng trả lời được câu hỏi về tội tham nhũng của anh ta. Vẫn còn “cấp bậc” nào đó để anh ta có thể bước lên hoặc đi xuống để chỉ cho mọi người thấy, nhưng tiếc rằng các bậc tam, tứ, ngũ…cấp nào đó đã bị bịt kín lối. Mà giữa “tam cấp” kia sẽ là những chỗ “chiếu nghỉ” để giảm nhẹ tội nếu “biết điều” hay “biết im lặng” chăng?
Nhớ lúc đi làm, hàng năm mình thường được phát tờ phiếu kê khai tài sản. Kê ra sao, thế nào không có ai kiểm tra. Giả dụ mình có tài khoản lớn nhỏ, nhà cửa như lâu đài, đất đai khắp các tỉnh thành, ô tô xịn nhất…mà không kê khai thì cũng chẳng ai biết. Có ai bắt vạch áo, giơ lưng ra đâu mà ngô ngọng với thiên hạ? Mỗi lần cầm tờ kê khai tài sản lại cười ruồi và làm cho xong chuyện. Chỉ riêng nhìn nhà nổi cửa to tưng bừng xây cất của các quan thì cơ quan chống tham nhũng đã có việc làm tướt bơ chứ không thể nói rằng, rất khó vạch tội tham nhũng. Còn làm sao để biết của chìm, tài khoản kể cả trong nước và quốc tế có bao nhiêu thì ai sẽ làm, làm như thế nào để đưa kẻ tham nhũng xếp lên “bậc tam cấp” như ông thứ trưởng Bội nội vụ vừa trình bày? Và kẻ nào được dừng ở “chiếu nghỉ” giữa các bậc chờ…để lâu cứt trâu hóa bùn? Từ chiếu nghỉ đó, nhiều người đã hạ cánh an toàn với số tài sản đủ để sung sướng tam, tứ,ngũ đời con cháu.
Mới đây ông thủ tướng Nga Medvedev đã phải la lên rằng: “tham nhũng ăn sâu vào hệ thống” và ông ta đã thất bại trong “cuộc thâp tự chinh” chống tham nhũng. Ông khẳng định, vấn đề đã ăn sâu trong hệ thống và sẽ không thể giải quyết chỉ bằng việc trừng phạt những người tham nhũng, mà đòi hỏi sự thay đổi trong tâm lý. Chống tham nhũng là một trong những ưu tiên chính của ông Medvedev ngay từ khi nhậm chức. Năm 2008, Nga đã thông qua đạo luật yêu cầu các quan chức, gồm cả thủ tướng, phó thủ tướng và bộ trưởng phải báo cáo không chỉ thu nhập của chính họ mà cả thu nhập của các thành viên trong gia đình. Ông Medvedev còn thành lập Hội đồng Chống tham nhũng mới – một tổ chức tư vấn gồm các thành viên chính phủ và những nhân vật nổi bật trong các tổ chức công. Trong một cuộc họp với Hội đồng chống tham nhũng, khi ấy còn là tổng thống Nga, ông Medvedev đã yêu cầu Cơ quan Thuế liên bang và Văn phòng Trưởng công tố kiểm tra việc kê khai thu nhập của các quan chức. Mặc dù đưa nhiều nhiều biện pháp chống tham nhũng, nhưng nỗ lực của ông Medvedev không có nhiều tiến triển và Nga vẫn đứng cùng Việt Nam gần chót bảng các quốc gia có mức độ tham nhũng theo sự điều tra của Tổ chức Minh bạch quốc tế. Và sau cuộc đấu tranh thất bại đó, Medvedev “khiêm nhường” xuống bậc làm “thủ tướng” không phải vì kém cỏi mà vì cùng chung “gánh xiếc” với nhà độc tài Putin sau bầu cử cuối năm 2011. Độc tài ở đâu cũng giống nhau – Tức là không còn liêm sỉ, tự trọng.
Bản dự thảo của Bộ Nội vụ chưa được phê duyệt nhưng đã thấy “lộ trình” xử lý “tế nhị” cho tội tham nhũng. Và cứ đến hẹn lại lên, các cuộc kiểm điểm bất tận, những vụ án lớn bé bất tận, những khỏan tiền biến mất vì tham nhũng là bất tận, cùng với sự đói nghèo, khốn khổ của người dân là bất tận…Và “bậc tam cấp” cho tham nhũng dường như luôn có “chiếu nghỉ” dễ chịu mỗi khi bị bắt vở.
Thùy Linh

Thứ Sáu, ngày 10 tháng 8 năm 2012

Người trẻ là sức mạnh của quốc gia


Trao đổi với Sinh Viên Việt Nam, nhà nghiên cứu Dương Danh Dy, nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu (Trung Quốc), cho rằng: Thanh niên hiện nay sẽ là những người phải giải quyết “bài toán” biển đông trong tương lai, do vậy, xã hội cần để thanh niên biết rõ về tình hình thực tế biển đảo của đất nước.
Trung Quốc không  đáng sợ
Thưa ông, trước tình hình Trung Quốc ngày càng lộ rõ quyết tâm độc chiếm Biển Đông, xuất hiện nhiều cách nghĩ và tâm thế khác nhau của người trẻ. Quan điểm của ông thế nào?
Năm nay tôi đã 80 tuổi Âm lịch, hiện vẫn còn tham gia giảng dạy nên tiếp xúc rất nhiều với giới trẻ, nhất là với sinh viên. Theo nhận xét chủ quan của tôi, hiện nay, giới trẻ Việt Nam, đặc biệt là giới sinh viên, có hai khuynh hướng tâm lý khá rõ ràng đối với Trung Quốc: Một là miệt thị, coi thường, bài bác, ghét bỏ Trung Quốc; hai là sợ Trung Quốc, vì thấy họ đông, mạnh, với tiềm lực quân sự vượt trội so với chúng ta. Cả hai quan điểm đó, nếu không có sự uốn nắn, dẫn dắt kịp thời thì nó sẽ đưa đến những hệ quả rất bất lợi cho đất nước, bởi vì thanh niên chính là người chủ đất nước sau này, là những người phải trực tiếp đứng ra đối phó với cường quốc láng giềng. Bài toán tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc không thể giải trong ngày một ngày hai, nên thế hệ thanh niên ngày nay đương nhiên phải tiếp nối các thế hệ đi trước gánh vác trách nhiệm này.
Chúng ta phải thật hiểu Trung Quốc thì mới thấy rằng đó là một nỗi sợ hãi không đáng có. Trung Quốc đúng là một nước lớn, đất rộng, người đông, có nền văn hóa lâu đời, có sức mạnh mềm tương đối nổi bật. Trong hơn 30 năm cải cách, mở cửa vừa qua họ đã phát triển rất nhanh và trở thành công xưởng của thế giới. Đi đâu cũng thấy hàng Trung Quốc, nơi nào cũng thấy Trung Quốc xâm nhập. Nhưng Trung Quốc cũng có những điểm yếu, có “gót chân Achilles”.
Các bạn trẻ có thể không biết, tôi từng sống qua thời kỳ sau 1975, do một số sai lầm về chính sách nên kinh tế và đời sống trong nước rất khó khăn nhưng chúng ta không e ngại bất cứ quốc gia nào. Bây giờ, chúng ta có thể còn khó khăn nhưng tính theo thu nhập đầu người thì cũng đã thoát nghèo, tiềm lực của chúng ta đã khá hơn trước rất nhiều. Chúng ta cũng có quan hệ ngoại giao rộng mở, là thành viên của hầu hết các tổ chức quốc tế chủ chốt. Nên không có lý do gì chúng ta phải sợ. Tôi tôn trọng vai trò nước lớn của Trung Quốc, những lợi ích chính đáng của Trung Quốc nhưng tôi không sợ.
Thế còn về xu hướng miệt thị?
Tôi đã ở Trung Quốc khá nhiều năm, từng tận mắt nhìn thấy sự viện trợ to lớn của nhân dân Trung Quốc dành cho Việt Nam. Thời kỳ 1966 – 1967, Trung Quốc vừa mới thoát ra khỏi cuộc “Đại nhảy vọt”, người dân đói rách vô cùng. Một năm, mỗi người dân Trung Quốc chỉ được phát một thước Trung Quốc vải, tức là 33 cm, để vá quần áo rách. Thế nhưng người ta vẫn viện trợ cho mình rất nhiều vải. Có những thứ mà họ chưa trang bị được hết cho quân đội của họ, còn chưa có cái mới, họ lấy cái vừa trang bị cho bộ đội của họ để viện trợ cho ta. Tất nhiên, những người lãnh đạo của họ bấy giờ có thể có những mưu tính nhưng nhân dân họ đã hy sinh rất nhiều để viện trợ cho chúng ta. Chúng ta phải ghi nhớ công ơn đó.
Vậy nên chuyện mình miệt thị với nhân dân Trung Quốc, theo tôi là không nên. Chúng ta phải sống hòa thuận, tôn trọng và nếu nhân dân bạn chưa hiểu, chúng ta phải tuyên truyền, làm rõ những hiểu lầm không đáng có giữa hai bên.
Cường quốc nào cũng có lúc suy yếu
Rất nhiều người thắc mắc rằng, làm thế nào để lấy lại các đảo ở Hoàng Sa và giữ vững các đảo của ta trước lòng tham của Trung Quốc?
Riêng về Biển Đông, phải rất rõ ràng. Hoàng Sa mà họ chiếm từ tay chính quyền Việt Nam Cộng hòa tháng 1/1974 thì dứt khoát là của Việt Nam, không tranh cãi. Bởi vì khu vực đó là người Pháp giao lại cho chính quyền miền Nam Việt Nam theo Hiệp định Genève năm 1954 và họ tiếp quản suốt từ năm 1956 cho đến tận năm 1974. Khi tôi nói điều này thì tất cả nhân dân, nhà bình luận thế giới đều phải thừa nhận là đúng.
Thời cơ để chúng ta đòi lại các đảo đã mất, sẽ đến. Ta phải chuẩn bị. Đời tôi không làm được, thì đời con, đời cháu tôi phải làm. Cường quốc nào cũng có lúc suy yếu, chứ không riêng gì Trung Quốc. Phải dạy thanh niên rằng, đó là lãnh thổ thiêng liêng, là chủ quyền của Việt Nam. Giữ vững chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa và các khu vực hợp pháp trên Biển Đông là nhiệm vụ cha truyền, con nối. Chúng ta phải xây dựng lực lượng mạnh mẽ, rèn luyện ý chí, sẵn sàng chớp lấy thời cơ chứ đừng để thanh niên quên mất. Chúng ta phải thu hồi bằng cách kết hợp đủ các biện pháp khi thời cơ đến.
Trong tình hình có hiểm họa ngoại xâm như thế này, tuy chứa đựng các yếu tố rủi ro lớn nhưng cũng đồng thời là cơ hội rất tốt để khơi dậy tinh thần yêu nước, trách nhiệm xã hội trong nhân dân, nhất là thanh niên. Theo đánh giá của ông, chúng ta đã tận dụng tốt cơ hội này chưa?
Vào thời điểm này, chỉ cần chúng ta truyền thông đúng mức về vấn đề Trung Quốc, về Biển Đông, thì Trung Quốc sẽ gần như không còn cơ hội trong tranh chấp với Việt Nam. Quốc gia nào có ý đồ gây sự, gây chiến cũng sợ cơn giận dữ của gần 90 triệu người Việt Nam. Đó là một sức mạnh không gì sánh nổi và lịch sử của chúng ta chứng minh điều đó một cách vô cùng rõ ràng. Vì vậy, tôi cho rằng, Nhà nước cần đẩy mạnh công tác truyền thông về chủ quyền quốc gia một cách đầy đủ, với tinh thần quyết liệt nhằm bảo vệ lãnh thổ. Có như vậy người dân mới hiểu rõ. Hiểu rõ rồi thì họ không còn lý do gì để sợ hãi nữa.
Phan Long thực hiện
© Sinh Viên Việt Nam Online

Xuất khẩu... lưỡi bò !


Sau nhiều năm nhập khẩu móng trâu và râu ngô giá cao từ Việt Nam, những ngày gần đây, Trung Quốc lại xuất khẩu sang nước ta món…  lưỡi bò!
Ấy là nói một cách khác về những tấm bản đồ mà trên đó, Trung Quốc không quên vẽ thêm đường lưỡi bò vô lý và ngang ngược vào đó. Chúng ta không ngạc nhiên về kiểu “nói lấy được” của họ xung quanh chủ quyền về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam được họ đặt là Tây Sa và Nam Sa, và gần đây cái gọi là “thành phố Tam Sa”, nhưng việc “xuất khẩu” bản đồ có hình đường lưỡi bò, chiếm đến 80% diện tích biển Đông thì bất ngờ thật.
Vậy là, guồng máy tuyên truyền bằng đủ hình thức của Trung Quốc về cái gọi là “chủ quyền không thể tranh cãi” của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã có thêm một hình thức mới, thủ đoạn mới. Họ đã lách qua những kẽ hở ít ai ngờ để làm sao đó đạt được mục đích của mình. Trò gian lận khá thâm hiểm này được sử dụng theo phương thức “rỉ tai”. Là bởi, không phải người Việt Nam nào, nhất là đồng bào ở vùng cao các tỉnh biên giới phía bắc, cũng tường minh về chủ quyền những hòn đảo của Việt Nam trên biển Đông, vì vậy, việc lập lờ đánh lận con đen qua hình thức trực quan bằng những tấm bản đồ do Trung Quốc vẽ ấy, không phải là không có tác dụng. Sự hiểu lầm về chủ quyền có thể xảy ra trong một bộ phận người dân nếu như thông tin chính thống của chúng ta về Hoàng Sa và Trường Sa chưa đến được với đồng bào.
Hẳn là lực lượng hải quan và bộ đội biên phòng tỉnh Lạng Sơn sẽ rất ngạc nhiên khi phát hiện lẫn trong số hàng hóa “giá rẻ” ào ạt chảy qua biên giới lại xuất hiện những tấm bản đồ mà “đường lưỡi bò” không thể không có mặt trên đó. Có cảm giác như cả đất nước Trung Hoa đang tràn ngập bản đồ có hình “đường lưỡi bò”, vì ngay cả những tấm bản đồ chỉ phục vụ cho việc khảo cổ ở tỉnh Thiểm Tây miền trung Trung Quốc, chả liên quan gì đến biển Đông, họ cũng không quên “móc” thêm “lưỡi bò” vào.
Hết đe dọa dùng vũ lực trên biển để chiếm lãnh thổ của nước khác, giờ đây đến lượt Trung Quốc dùng chiêu bản đồ để hợp thức hóa những điều họ muốn. Một cảnh báo không thừa từ nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân: Rồi đây, những tấm bản đồ có đường lưỡi bò của Trung Quốc không chỉ in tiếng Trung, tiếng Anh mà còn có cả tiếng Việt nữa sẽ “rỉ rả” tuồn vào lãnh thổ nước ta. Rồi đây, có thể những cuộc khai quật khảo cổ học ngay tại Hoàng Sa do người Trung Quốc thực hiện sẽ có cả những tấm “bản đồ hình lưỡi bò” mà từ đời Minh, đời Thanh “vẽ” cũng nên!
Việc “xuất khẩu” bản đồ có hình “đường lưỡi bò” là một trong vô vàn những động thái nằm trong guồng máy tuyên truyền khổng lồ của Trung Quốc hiện nay nhằm chiếm đất người khác. Chỉ là quả địa cầu có in bản đồ hình “lưỡi bò” thôi, thoạt trông có vẻ “chơi chơi”, vậy mà… thâm hiểm thật.
Trần Đăng
Theo Thanh Niên

Có tội với nông dân


Mảnh đất với người nông dân là cả quá khứ, hiện tại, tương lai. Đất tạo nên nông dân. Và mất đất đẻ ra một lớp người thất nghiệp
Thủ tướng Chính phủ vừa có văn bản yêu cầu Hà Nội kiểm tra tình trạng các khu “đất vàng” bị bỏ hoang từ nhiều năm nay trên khắp các địa bàn của Hà Nội, có giải pháp quản lý theo đúng quy định của pháp luật các khu đất đã giao còn để hoang phí.
Đây cũng không phải là lần đầu Chính phủ có văn bản mang tính chất “vỡ hoang” sự hoang phí trong bối cảnh Thành phố đang loay hoay tìm kiếm thậm chí chỉ 1-2000 m2 cho một bãi để xe, và nông dân mất đất đang lén vỡ hoang đất các dự án.
Hà Nội có bao nhiêu “đất vàng” bị bỏ hoang? Kết quả kiểm tra mới nhất về tình trạng các “khu đất vàng” bị bỏ hoang trên địa bàn 4 quận, huyện: Thanh Xuân, Cầu Giấy, Tây Hồ, Từ Liêm cho thấy, trong tổng số hơn 30 khu đất được kiểm tra với diện tích gần 500.000m2 có trên 15 khu đất trống, chưa sử dụng với diện tích khoảng 309.368m2. Thôi thì đủ, từ Dự án khách sạn 5 sao; khu đô thị mới, hồ điều hòa…Ít thì 1-2000 m2, nhiều lên tới 7-8 ha/dự án.
Có người nói những khó khăn về kinh tế khiến các đại gia, các chủ đầu tư gần như cạn túi. Và đó là nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng đất vàng bị bỏ hoang. Nhưng, với bất cứ lý do gì, thì nạn nhân khốn khổ nhất phải là những người nông dân mất đi bờ xôi ruộng mật cho các dự án giờ hàng ngày phải dương mắt dõi cảnh bãi bể nương dâu.
Sự hoang hóa không chỉ ở những dự án đất vàng, đất kim cương. Toàn thành phố hiện có 6.000ha đất lúa bị bỏ hoang, hậu quả trực tiếp của tình trạng “quy hoạch treo” khiến không một người nông dân nào dám “xuống tiền”. Tuần trước, cơ quan ngôn luận của chính quyền Thành phố dẫn lời một nông dân ở Đại Mỗ mô tả tình trạng “phần lớn đàn ông trong gia đình đi ra ngoài làm thuê” sau khi đất ruộng bị đưa vào quy hoạch.
Sự hoang hóa không phải chỉ ở Hà Nội. Ở Hậu Giang, nông dân “trưng dụng” lại đất trong KCN Sông Hậu, bất chấp tình trạng “cỏ cao quá đầu người” phải đầu tư rất tốn kém. Ở Sóc Trăng, KCN An Hiệp biến thành ruộng khoai, nương ớt khi những người nông dân “khai hoang” lại mảnh đất từng là đất lúa năng suất cao đã bị thu hồi và bỏ hoang từ 2007.
Một điều tra về tình trạng khu công nghiệp cho thấy có tới 50% khu công nghiệp và 26,4% cụm công nghiệp, trên tổng số hơn 112.000 ha khu, cụm công nghiệp của cả nước hiện là nơi “trồng cỏ dại”. Trong khi đó, theo quy hoạch đến năm 2020 đã được phê duyệt, cả nước sẽ có tới 558 KCN chiếm diện tích hơn 200.000 ha. Sự hoang hóa, hóa ra sinh ra từ tầm nhìn.
Sự hoang hóa trên đất vàng ở Thủ đô hay đất lúa cả nước nói giản dị thì là sự lãng phí khổng lồ trong khi chính xác thì phải nói là cơ quan chức năng đang “mắc tội” trước sự thất nghiệp của người nông dân.Tuần trước, ở Long An, chính quyền vừa chính thức thu hồi khoảng 500ha đất bỏ hoang của 3 dự án, trong đó có 1 dự án sân golf rộng tới 280ha đất lúa,để trả lại cho nông dân trồng lúa. Nhấn mạnh là thu hồi để trả lại cho nông dân trồng lúa, chứ không phải để chuyển cho một chủ đầu tư, thực hiện một dự án phi nông nghiệp khác. Chủ tịch UBND tỉnh Đỗ Hữu Lâm thậm chí còn nói đến việc “xóa hẳn” những dự án bỏ hoang đất. Một tờ báo thậm chí còn đưa những bức hình “nụ cười Thủ thừa”. Điều này không có gì lạ khi mảnh đất với người nông dân là cả quá khứ, hiện tại, tương lai. Đất tạo nên nông dân. Và mất đất đẻ ra một lớp người thất nghiệp.
Có điều, Long An là tỉnh đầu tiên, nhưng cũng là duy nhất.
Đào Tuấn

Trước họa xâm lăng của Trung Quốc, không được xúc phạm khí phách Việt Nam!


Như chúng tôi đã đưa tin hôm qua, ngày 06/08/2012, bảy mươi mốt nhân sĩ trí thức trong và ngoài nước đã cùng ký tên trong một lá thư ngỏ bày tỏ ý kiến trước việc Trung Quốc xâm phạm trắng trợn chủ quyền quốc gia Việt Nam, đồng thời đề nghị cải cách toàn diện về chính trị.
RFI Việt ngữ đã phỏng vấn giáo sư Tương Lai ở Thành phố Hồ Chí Minh, một trong những trí thức đã tham gia ký tên về lá thư ngỏ trên đây.
Một cuộc biểu tình tại Hà Nội ngày 05/08/2012 phản đối Trung Quốc xâm lấn Biển Đông 
RFI : Kính chào giáo sư Tương Lai. Thưa giáo sư, các nhân sĩ trí thức đã hai lần gởi kiến nghị lên Đảng và Nhà nước Việt Nam rồi, vì sao lại có thêm lá thư ngỏ lần này ?
Giáo sư Tương Lai : Như các bạn đã biết, ngày 10/7 năm ngoái chúng tôi đã có một kiến nghị gởi Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bản kiến nghị đó, chúng tôi nêu lên toàn diện các vấn đề đối nội, đối ngoại, mà trong đó đặc biệt làm nổi bật vấn đề gay gắt nhất là nguy cơ chủ nghĩa bành trướng Đại Hán. Trung Quốc nếu không đấu tranh quyết liệt để ngăn chận, thì họ sẽ thực hiện mưu đồ của họ.
Và thực tế sau một năm, càng ngày càng tỏ rõ những nhận định ấy là hoàn toàn chính xác. Các lực lượng hiếu chiến trong giới cầm quyền Trung Quốc đã lộ rõ bộ mặt và mưu toan xâm lược của họ. Rồi trong bản ý kiến của 14 trí thức ở nước ngoài cũng gởi Nhà nước Việt Nam ngày 8/9/2011 cũng đã trình bày toàn bộ nhận định của trí thức về bối cảnh quốc tế và những vấn đề đối nội, đối ngoại của Việt Nam. Những ý kiến của các trí thức ấy và kiến nghị của chúng tôi càng ngày càng được dư luận nhân dân đồng tình ủng hộ, vì nói lên được tiếng nói thiết tha của người dân, và đặc biệt là ý chí chống xâm lược, kiên quyết đấu tranh không chịu khuất phục trước âm mưu của chủ nghĩa Đại Hán.
Trong bối cảnh sau một năm, những ngày tháng Bảy và tháng Tám vừa rồi, phải nói là những ngày nóng bỏng, khi mà Trung Quốc thực hiện những mưu toan rất trắng trợn. Họ thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa, trong đó bao gồm cả vùng lãnh hải rộng lớn, và vùng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – những phần đất thuộc chủ quyền Việt Nam đã được pháp lý công nhận, quốc tế ủng hộ. Rồi họ định thành lập cái Bộ chỉ huy quân sự của cái gọi là thành phố Tam Sa đó. Họ dùng cái chiến thuật lấy thịt đè người, một lúc ào ạt xua 23 nghìn chiếc tàu đánh cá, trong đó chen lẫn vào những tàu hải giám và tàu quân sự nữa, tràn ngập Biển Đông. Cái món võ lấy thịt đè người xưa kia của họ, nay lại đang được thực hiện.
Chúng tôi biết Nhà nước Việt Nam cũng có những giải pháp, và cũng có một thái độ khác hơn trước, khác hơn so với năm ngoái. Nhưng mà như thế chưa đủ. Mà chưa đủ nhất là, không biết dựa vào lòng dân, không dựa vào thế mạnh của sức mạnh nhân dân, để đấu tranh chống lại âm mưu xâm lược của giới cầm quyền hiếu chiến Trung Quốc. Chưa có những tuyên bố mạnh mẽ, khiến cho quốc tế, những người có cảm tình với cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam cũng lấy làm ngạc nhiên. Tại sao trước mưu toan quá trắng trợn và thế giới đều thấy như thế, thì thái độ của Việt Nam lại quá mềm mỏng đến thế ?
Thậm chí trong ngày kỷ niệm thành lập Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) 1/8 vừa rồi, thì những người lãnh đạo Việt Nam ở Bộ Quốc phòng lại ôm hôn vị đại biện lâm thời sứ quán Trung Quốc, và vẫn nói rằng mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là tốt đẹp. Điều đó xúc phạm lòng tự tôn dân tộc, sự phẫn nộ của dân trước thế lực bành trướng và những hành động ngoại xâm rất rõ ràng. Việc nó chia lô gọi thầu quốc tế trên vùng biển, vùng thềm lục địa thuộc đặc quyền kinh tế Việt Nam, khác nào là nó xông vào nhà mình, lấy cái sân nhà của mình nó chia lô bán ? Thế mà ta vẫn nói là quan hệ vẫn thắm thiết ! Thắm thiết cái nỗi gì ?
Trước vấn đề ứng xử như thế, chúng tôi – những người trí thức xót xa cho vận mệnh của dân tộc – chúng tôi thấy không thể ngồi yên. Cho nên một lần nữa chúng tôi nhắc lại những kiến nghị một năm trước đây của anh em trí thức nhân sĩ trong và ngoài nước, nhắc nhở những người lãnh đạo cần quan tâm đến ý kiến, nguyện vọng của dân. Dựa vào dân để biểu tỏ cái khí phách Việt Nam, trước thái độ hung hăng và ngông nghênh của giới cầm quyền hiếu chiến Trung Quốc. Trong khi mà thời cơ quốc tế có khác so với trước nhiều. Một nước nhỏ như Philippines mà họ cũng dám có thái độ đương đầu quyết liệt.
Chúng tôi nghĩ là Nhà nước cũng đang có những sự chuẩn bị, thì điều đó chúng tôi không biết. Nhưng mà những biểu hiện ra bên ngoài, trước mắt là một thái độ không thích đáng. Và cái thái độ ấy xúc phạm đến lòng tự trọng của nhân dân, nếu vẫn cho rằng cái tình hữu nghị tốt đẹp giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn bền vững. Bền vững cái nỗi gì ? Mười sáu chữ vàng cái nỗi gì, khi miệng thì nói rất hay, nhưng việc làm của họ thì sờ sờ ra đấy !
Vậy thì trong khi chuẩn bị để đối phó, các vị làm gì chúng tôi không biết. Cái gì có thể được thì hãy công bố cho dân biết đi. Đương nhiên có những vấn đề bí mật quân sự thì làm sao mà công bố. Nhưng tất cả những gì đang hiển hiện trước mắt dân, thì dân thấy băn khoăn, cảm thấy lo lắng cho vận nước.
RFI : Nhất là khi trong lịch sử Trung Quốc cũng đã nhiều lần xâm lược Việt Nam ?
Trước đây ông cha ta trong tình thế địa chính trị rất phức tạp : ở bên cạnh một nước láng giềng khổng lồ, trứng chọi với đá, thường xuyên phải chống chọi với nạn ngoại xâm phương Bắc. Thế kỷ thứ 13, thứ 15, thứ 18, rồi thế kỷ 20 với cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc do Đặng Tiểu Bình phát động. Như vậy là từ thời dựng nước đã phải chống chọi với quân Nam Hán, quân nhà Tống, rồi đến Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, vân vân và vân vân, ông cha ta có bao giờ chịu khuất phục đâu !
Thế kỷ 13 ba lần đánh tan quân Nguyên. Vì sao làm được như thế ? Vì cả nước quyết tâm dám khắc lên tay hai chữ Sát Thát. Thế kỷ 15 tại sao mười năm chiến tranh chống quân Minh, cuối cùng quét sạch mấy chục vạn quân Minh. Thế kỷ 18 quân Thanh, và thế kỷ 20, cuộc chiến tranh biên giới. Đây là một đòn rất hiểm của Đặng Tiểu Bình, khi thế lực hiếu chiến Trung Quốc vì lợi ích dân tộc hẹp hòi của mình, không muốn thấy một Việt Nam thống nhất vững mạnh, sẽ là một lực cản cho ý đồ bành trướng về phương Nam. Cho nên đã chọc ngang mảng sườn phía Nam, dùng thế lực Pôn Pốt nhưng đã bị thất bại. Việt Nam đánh tan bọn Pôn Pốt, cứu nhân dân Campuchia ra khỏi họa diệt chủng. Điều này thì chính ông Thủ tướng Hun Sen đã nhiều lần ca ngợi.
Thất bại, Đặng Tiểu Bình quay sang tấn công phía Bắc, lúc mà Việt Nam sau ngần ấy năm chiến tranh, đất nước đang kiệt quệ, y nghĩ rằng có thể khuất phục được Việt Nam. Tuy nói rằng dạy cho Việt Nam một bài học, nhưng thực ra Trung Quốc thất bại một cách nặng nề trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Như vậy rõ ràng là trong lịch sử, dân tộc Việt Nam chưa bao giờ chịu cúi đầu khuất phục trước thế lực phương Bắc.
Nói rằng đấy là thời kỳ phong kiến phương Bắc, còn bây giờ là xã hội chủ nghĩa Trung Quốc ? Trong nhiều bài phân tích tôi đã nói rõ, cái gọi là chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc đó không thể là một mô hình để Việt Nam noi theo được. Và người ta cũng vạch rõ, thực chất đó là một cái chủ nghĩa tư bản man rợ mang màu sắc Trung Quốc mà thôi !
Những học giả có lương tri của Trung Quốc đã từng nói rất rõ điều này. Thế mà bây giờ dựa vào chuyện đó, vẫn cứ nói về tình hữu nghị mà không quyết liệt lên án chính sách bành trướng Đại Hán, thì đấy là sự xúc phạm đến tinh thần của dân tộc. Thứ hai là những người biểu tình, những thanh niên có ý thức đối với đất nước, thì lại đàn áp, bắt bớ. Đó là chuyện không thể chấp nhận được !
RFI Tức là phải tỏ rõ thái độ trước Trung Quốc, và bảo đảm quyền tự do dân chủ của người dân, đặc biệt là quyền bày tỏ thái độ thông qua việc biểu tình phải không ạ ?
Đúng như vậy. Bởi vì khi họ làm như thế, chính là họ kế tục truyền thống thế kỷ 13 khắc hai chữ Sát Thát lên cánh tay, truyền thống thế kỷ 15 cả nước một lòng đánh tan quân Minh. Bây giờ những di tích vẫn còn đó, ngay tại thủ đô. Cánh đồng mồ, ở đấy năm vạn quân nhà Minh đã phơi thây, và Lê Thái Tổ đã ra lệnh chôn những thây ma đó, dựng bia để nói lên lòng khoan dung của Việt Nam. Gò Đống Đa thế kỷ 18 chôn mấy chục vạn quân Thanh còn ở đấy.
Cái bài học cứu nước đó, cái khí phách anh hùng đó, người Việt Nam luôn luôn ghi nhớ. Cho nên động đến lòng yêu nước, động đến tinh thần dân tộc là động đến một cái gì nhạy cảm, có sức lan tỏa rất mạnh mẽ. Vậy thì tại sao các nhà lãnh đạo không biết khơi dậy sức mạnh đó của dân, mà lại sợ những lực lượng nào là Việt Tân nọ kia lợi dụng những cuộc biểu tình, đẩy tới những mưu toan.
Đó là thần hồn nát thần tính mà thôi, chứ những người yêu nước đủ sức dập tan tất cả những ý đồ xấu. Mỗi khi đất nước bị xâm lăng thì lòng yêu nước lại trỗi dậy, kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, lướt qua mọi khó khăn hiểm nghèo, nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Tại sao bây giờ các vị lại sợ những chuyện đó nhỉ ?
Sợ là sợ có bọn xấu chui vào để lũng đoạn, biến cuộc biểu tình này thành cuộc lật đổ. Nếu như vậy là mất tự tin quá lắm rồi ! Khi chúng ta có một lực lượng công an, quân đội hùng hậu như vậy, thì việc gì mà phải sợ một cái nhóm những anh là Việt Tân hay gì đó, để mà cấm nhân dân biểu tình chống Trung Quốc xâm lược. Đó là một việc làm trái khoáy. Tại sao thế kỷ 13 vua Trần có thể tổ chức được hội nghị Diên Hồng khi sơn hà nguy biến, mà bây giờ các vị không dám làm chuyện đó ?
Vừa rồi 42 nhân sĩ trí thức, trong đó có tôi, ký tên gởi cho lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị đứng ra tổ chức biểu tình. Chúng tôi sẽ đăng ký ngày biểu tình hẳn hoi, và đề nghị công an giúp chúng tôi tổ chức biểu tình chống xâm lược Trung Quốc. Nếu có những lực lượng nào định lợi dụng cuộc biểu tình đó để mà phá rối trật tự trị an, thì giúp chúng tôi tóm cổ họ lại, trị họ đi ! Nếu thật sự tin vào dân thì không việc gì phải sợ một nhúm người lợi dụng. Mà thực ra nói cho cùng, có khi đấy chính là sợ dân chăng ?
Các anh mất chính nghĩa, các anh không trong sáng nên các anh sợ dân chăng ? Vậy thì để chứng minh rằng, không, chúng tôi không sợ dân, Nhà nước này là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, thì hãy đứng ra tổ chức biểu tình đi ! Để cho dân biểu tình phản đối thế lực xâm lược Trung Quốc. Để nói với bọn hiếu chiến Trung Quốc rằng, cái ngài chớ hòng khuất phục một dân tộc đã từng ba lần đánh tan tác quân Nguyên, nhiều lần đánh tan quân Thanh, quân Minh, quân Đặng Tiểu Bình. Thế thì tại sao không dám làm điều đó ?
Vì vậy kỳ này trong thư ngỏ, đương nhiên chúng tôi nói một cách mềm mỏng, có lý có tình, tự kiềm chế để nói cho các vị có thể nghe được, có thể chấp nhận được. Nhưng mà trong đó toát lên tấm lòng yêu nước thiết tha, và sự phẫn nộ trước bè lũ xâm lược, trước những hành động tiếp tay cho bọn xâm lược, ngăn cản nhân dân không được biểu thị lòng yêu nước. Đó chính là tinh thần của thư ngỏ.
RFI Thưa, giáo sư có nghĩ là thư ngỏ lần này cũng sẽ bị rơi vào im lặng như những lần trước không ?
Chuyện này tôi không thể nói được vì chúng tôi không phải là các nhà lãnh đạo. Nhưng tôi nghĩ với tất cả sự kiềm chế, tất cả sự thiết tha bày tỏ ý kiến, chúng tôi đã có một thư ngỏ nói lên ý chí, nguyện vọng của chúng tôi, những người trí thức ; và chúng tôi nghĩ là đã nói lên tiếng nói của nhân dân. Bằng con đường chính thức, hợp pháp, chúng tôi gởi đến Quốc hội, Chủ tịch nước, tức là đại diện cao nhất cho một Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Chúng tôi gởi đến chính phủ, tức là cơ quan hành pháp, thực thi mọi đường lối, sách lược. Và chúng tôi gởi đến Bộ Chính trị, là cơ quan đầu não đưa ra những quyết sách.
Nếu các vị lãnh đạo thực sự có thiện chí, chứng tỏ mình là đại diện chân chính của dân, thì các vị chắc phải trả lời, dưới hình thức này hay hình thức khác. Còn nếu không trả lời, thì tự các vị đã xác lập cho mình một chỗ đứng là – không, chúng tôi chỉ nghe ý kiến của tôi thôi ! Còn ý kiến của các anh, chúng tôi không chấp nhận.
Thì cái gì phải đến sẽ đến. Cái giá phải trả cho việc quay lưng lại với nhân dân, nó đắt lắm ! Và tôi chắc rằng các vị lãnh đạo đủ thông minh để hiểu được rằng phải lựa chọn – trả một cái giá đắt thì không ai muốn ! Cho nên tôi tin rằng, với tất cả những thiện chí của chúng tôi, với tất cả sự kiềm chế của chúng tôi, thì các vị sẽ có hồi âm. Còn cách hồi âm như thế nào có lẽ còn tùy tình thế.
Nhưng chúng tôi thì vẫn thiết tha chờ đợi. Chúng tôi đầy thiện chí, nói lên tình cảm, ý chí và nguyện vọng của dân, không làm một cái gì thiếu minh bạch, thiếu công khai cả. Tất cả mọi vấn đề đặt ra rõ như ban ngày. Vậy thì các vị hãy trả lời cho chúng tôi những điều đã rõ ra như ban ngày đó.
RFI : Xin rất cảm ơn giáo sư Tương Lai ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Thụy My
09-08-2012