Thứ Bảy, ngày 18 tháng 8 năm 2012

Chính phủ Lào vẫn cho phép xây đập thủy điện Xayaburi


Viêng Chăn không hề ra lệnh ngưng xây đập thủy điện như đã cam kết. Đập thủy điện gây tranh cãi vẫn được khởi công. Trên đây là thông tin của nhiều hãng thông tấn tây phương và báo chí địa phương liên quan đến dự án đập Xayaburi với nguy cơ tàn phá sinh thái sông Mêkông và nhất là đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.
Công trường xây dựng đập Xayaburi vẫn tiếp tục hoạt động. Ảnh chụp tháng 6/2012. @International Rivers
Bản tin hôm nay 17/08/2012 của hãng thông tấn Miến Điện Mizzima cho biết chính phủ Lào không hề chính thức gửi văn bản ngừng xây đập Xayaburi. Dự án này làm hai nước ở hạ nguồn sông Mêkông là Cam Bốt và Việt Nam lo ngại tàn phá môi trường và đời sống truyền thống tập trung vào thủy sản và trồng lúa của dân địa phương.
Hãng Reuters cho biết thêm là lãnh đạo hãng thầu Thái Lan thi công dự án tuyên bố với phóng viên là không có nhận được văn kiện nào từ chính phủ Lào ra lệnh đình hoãn dự án. Giám đốc điều hành Plew Trivisvavet của tập đoàn Thái Lan Ch Karnchang Pcl nói rằng họ « vẫn đang thi công và không nhận được một văn kiện chính thức nào từ chính phủ Lào yêu cầu phải đình hoãn công trình ». Cũng theo nhân vật này thì « kế hoạch xây hồ chứa sẽ được thực hiện vào cuối năm nay ».
Chính phủ Lào không bình luận về thông tin này.
Vào ngày 8/12/2011, Ủy hội Sông Mêkông trong đó có Việt Nam, Lào, Cam Bốt và Thái Lan, cho biết chính phủ các nước đã đồng ý với quan điểm của Nhật Bản và nhiều đối tác quôc tế khác tạm ngưng dự án để khảo sát, nghiên cứu thêm về hệ quả tàn phá môi trường thiên nhiên.
Vài tuần sau, ngày 13/01/2012, chính phủ Lào tuyên bố dự án Xayaburi đã ngưng lại.
Theo giới khoa học thì đập Xayaburi sẽ làm xáo trộn sinh sản của các loài cá và ngăn chận phù sa bồi đắp cho các cánh đồng Việt Nam ở hạ nguồn. Báo chí Việt Nam phê phán rất mạnh mẽ dự án này.
Đập Xayaburi do nhà thầu Thái Lan tiến hành với trị giá 3,5 tỷ đô la trên dòng chính của sông Mêkông. Các tổ chức bảo vệ sinh thái lo ngại đây là bước khởi đầu cho một loạt 11 dự án tương tự, không kể 14 đập mà Trung Quốc xây trên thượng nguồn sẽ làm cạn kiệt dòng sông huyết mạch này.
Tú Anh
Theo RFI

Ai nuôi Nhà nước?

Bài viết đã lâu trên VnEconomy, đăng lại để thấy câu hỏi: “Ai nuôi Nhà nước và cả hệ thống chính trị ở Việt Nam?” cần được mọi người trong bộ máy công quyền cũng như mọi người dân trả lời rõ và ghi nhớ trong lòng.
Đánh thuế trực tiếp để người tiêu dùng cảm nhận được đồng tiền thuế của mình là để nuôi Nhà nước và đáp ứng yêu cầu: “Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân” (*).
Chúng ta thường thấy các khẩu hiệu tuyên truyền việc đóng thuế, nhưng hầu như chỉ nói về nghĩa vụ (có khi thêm vinh dự) của người dân; hiếm khi thấy khẩu hiệu giúp cho dân hiểu rõ đóng thuế là nuôi Nhà nước - Ảnh: Việt Tuấn.
Trong một dịp đi họp ở Mỹ cách đây trên 10 năm, tôi đến một cửa hàng mua đôi giày da. Sau khi chọn và đi thử một đôi có giá 96 USD, tôi trả tiền bằng tờ bạc 100 USD. Người bán hàng nói còn thiếu, tôi chỉ vào biển ghi giá thì được giải thích là giá này còn phải cộng thêm 10% thuế mà người tiêu dùng đóng cho Nhà nước. Sang Canada, tôi cũng thấy cách tính thuế tương tự đối với hàng hóa và dịch vụ.

Tôi nêu vấn đề với các chuyên gia kinh tế sở tại: Ở Việt Nam, thuế hàng hóa được thu ngay khi hàng xuất xưởng và được gọi là thuế gián thu (thu gián tiếp) vì thu từ doanh nghiệp sản xuất hàng nhưng thực chất tiền thuế ấy đánh vào người tiêu dùng. Thay vì thu rải rác khi có người mua hàng, nay thu gọn một nơi, một lúc khi hàng xuất xưởng chẳng tiện hơn sao?

Người đối thoại với tôi giải thích về cách thu thuế của họ như sau: Trước hết đây là thuế mà người tiêu dùng đóng nên khi nào hàng được tiêu thụ thì mới tính thuế; nếu thu trước từ người sản xuất mà ở khâu bán lẻ, hàng không bán được thì sao? Lẽ thứ hai, chúng tôi muốn người dân biết rõ và luôn luôn nhớ là mình đóng thuế nuôi Nhà nước; thuế thu nhập cá nhân cũng nhắc nhở điều đó, nhưng mỗi tháng hoặc mỗi quý chỉ một lần nộp, còn thuế hàng hóa, dịch vụ thì hầu như ngày nào dân cũng đóng. Chính vì thế nên giá hàng khi niêm yết là giá chưa có thuế hàng hóa để người mua tự tính thêm.

Đối với thuế mà người tiêu dùng phải nộp, cách thu trực tiếp hay thu gián tiếp hợp lý và có lợi hơn, tôi không phải chuyên gia về thuế nên không dám so sánh, song thấy rất ấn tượng về cái lẽ thứ hai mà họ giải thích. Nguồn thu của ngân sách nhà nước là do dân đóng góp dưới nhiều hình thức; viện trợ không hoàn lại của nước ngoài chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ; thu từ tài nguyên cũng là nguồn thu do tài sản thuộc sở hữu toàn dân mang lại; bội chi ngân sách được bù đắp bằng các khoản vay trong và ngoài nước, rút cuộc cũng do dân trả nợ trong các năm sau. Ở nước ta, kinh phí hoạt động của Đảng và các tổ chức chính trị-xã hội cũng dựa vào ngân sách nhà nước toàn bộ hoặc phần lớn, nên có thể nói dân ta nuôi cả hệ thống chính trị.

Cách thu thuế như ở Mỹ và Canada nhằm thường xuyên nhắc nhở người dân hiểu và nhớ rằng mình nuôi Nhà nước là một biện pháp thiết thực tôn trọng người dân, cổ vũ dân chủ. Người dân ý thức rõ là bộ máy nhà nước do dân nuôi nên bộ máy này phải phục vụ dân; người nuôi bộ máy có quyền đòi hỏi các cơ quan công quyền phải thực hiện đúng quy chế công khai, minh bạch và được dân giám sát.

Thử làm một cuộc thăm dò ở nước ta xem bao nhiêu phần trăm công dân biết rằng Nhà nước do mình nuôi bằng thuế? Có thể nói chắc là tỷ lệ không cao. Chúng ta thường thấy các khẩu hiệu treo trên đường phố hoặc viết chữ to ở bảng đầu làng, đầu ngõ tuyên truyền việc đóng thuế, nhưng hầu như chỉ nói về nghĩa vụ (có khi thêm vinh dự) của người dân khi nộp thuế; hiếm khi thấy khẩu hiệu giúp cho dân hiểu rõ đóng thuế là nuôi Nhà nước. Gần đây, một số cửa hàng lớn, khách sạn, nhà hàng, công ty dịch vụ... ghi rõ trong phiếu thu tiền phần giá hàng hóa, dịch vụ và phần thuế mà người tiêu dùng phải nộp. Tuy nhiên đối với đông đảo nhân dân, nhất là ở nông thôn, không mấy người biết rằng khi mua hàng (từ hàng tiêu dùng đến máy móc, vật liệu... sản xuất trong nước và nhập khẩu), người mua đã đóng thuế cho Nhà nước trong giá mua hàng.

Không chỉ người dân thường mà không ít người trong bộ máy công quyền cũng không ý thức được rằng mình được dân nuôi. Ở nước ta mỗi khi người dân có được thành tựu, hoặc được được hưởng một lợi ích nào đó thì thường nói là ơn Đảng, ơn Chính phủ.

Chúng ta biết rằng một chủ trương, chính sách đúng của Đảng và Nhà nước được tổ chức thực hiện tốt thì đem lại lợi ích cho dân. Muốn hoạch định đúng chủ trương, chính sách, phải dựa vào trí tuệ, kinh nghiệm và ý kiến đóng góp của dân. Trong mọi lĩnh vực hoạt động, nhất là về kinh tế, xã hội, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, dù quan trọng đến đâu cũng chỉ vạch hướng, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động của dân, không thể trực tiếp tạo ra kết quả cụ thể trong sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần nếu không có sự đồng thuận và tích cực thực hiện của dân.

Như vậy, kết quả thực hiện chủ trương, chính sách phải do nỗ lực hoạt động của dân. Ngay cả khi Nhà nước đầu tư trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức, doanh nghiệp của Nhà nước để cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho người dân, thì nhà nước cũng sử dụng các nguồn lực của dân để làm việc đó, và trong nhiều trường hợp, chất lượng, hiệu quả lại không bằng người dân tự tổ chức làm.

Về vai trò quyết định của dân đối với sự phát triển của đất nước, mọi người đều công nhận và thường xuyên nhắc tới. Tuy nhiên, trong nhận thức và hành động thực tế có không ít trường hợp điều đó bị lãng quên mà chỉ thấy sự lãnh đạo và quản lý của Đảng, của Nhà nước.

Một ví dụ: báo cáo trình Chính phủ tại phiên họp thường kỳ đầu tháng 5 vừa qua về tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2009 có câu mở đầu như sau: “Nhờ sự chỉ đạo tập trung quyết liệt của Chính phủ và sự nố lực của các ngành, các cấp, kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội trong 4 tháng có thấp hơn cùng kỳ năm trước, nhưng đã có sự chuyển biến theo hướng tích cực”. Như vậy, những cố gắng của dân không được tính đến. Cách suy nghĩ này cũng khá phổ biến trong nhiều cơ quan và cả trên báo chí.

Chúng ta biết rằng khi nền kinh tế đứng trước nguy cơ suy giảm và lạm phát do những yếu kém bên trong và chịu tác động bất lợi của khủng hoảng tài chính - kinh tế trên thế giới, thì dân và doanh nghiệp, nhất là khu vực tư nhân,  là người gặp nhiều khó khăn nhất, phải vật lộn rất gay go mới có thể tồn tại và phát triển. Những chính sách và biện pháp tình thế của Chính phủ nếu đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tế thì chỉ có thể làm giảm bớt khó khăn và tạo thêm điều kiện cho việc làm ăn của dân và doanh nghiệp; người dân và doanh nghiệp   phải vận động tự thân là chính. Đây chính là tiềm năng to lớn nhất cho sự phát triển.

Mọi người đều đánh giá nền nông nghiệp và nông dân nước ta trong năm 2008 và đầu năm 2009 đã duy trì tốt đà tăng trưởng, góp phần quan trọng ổn định tình hình kinh tế, tạo thuận lợi cho các ngành và lĩnh vực hoạt động khác. Trong thành tựu của nông nghiệp, có phần nhờ tác động của các chính sách và đầu tư từ nhiều năm nay của Nhà nước; song nói riêng về các biện pháp kích cầu để vượt qua khó khăn, ngăn chặn suy giảm kinh tế thì đến tháng 4 năm nay Chính phủ mới có chính sách ưu đãi đối với nông dân và việc thực hiện còn phải có thời gian. Vì vậy đối với một số chuyển biến tích cực của nền kinh tế trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, nếu chỉ thấy “sự chỉ đạo tập trung kiên quyết của Chính phủ và sự nỗ lực của các ngành, các cấp” thì đó là cách nhìn rất phiến diện vì không đánh giá đúng những cố gắng rất to lớn của dân và doanh nghiệp.

Nhận thức sâu sắc vai trò và tiềm năng to lớn của dân là nền tảng về tư duy để hoạch định chính sách đổi mới và phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền thật sự của dân, do dân, vì dân.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã nêu rõ: “Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân”. Để thực hiện yêu cầu đó, câu hỏi: “Ai nuôi Nhà nước và cả hệ thống chính trị ở Việt Nam?” cần được mọi người trong bộ máy công quyền cũng như mọi người dân trả lời rõ và ghi nhớ trong lòng.

Theo VnEconomy
* Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia 2006, trang 125.

Để dân chờ điện 50 năm: Vô cảm, hờ hững đến phũ phàng!!!


Tôi cũng có những năm tháng sống trong tăm tối do thiếu điện, thiếu cái nhu cầu rất cơ bản ấy thật là đau khổ. Trong suốt những năm tháng tuổi thơ, chúng tôi chịu cảnh tăm tối, lạc hậu quá nhiều so với bạn bè cùng trang lứa học ở trường huyện.
Mái nhà của người dân Nậm Ngòi không có các thiết bị điện như những ngôi nhà khác (ảnh: Đỗ Doãn Hoàng)
Những ánh đèn dầu leo lét… Những chiếc tivi chạy bằng bình ắc quy dành cho các gia đình khá giả… Những đêm hè nóng rẫy ngủ bằng làn gió phe phẩy từ chiếc quạt nan của bà, của mẹ...

Đến khi nhà có điện lưới quốc gia, tôi thấy quê hương mình thay đổi, giàu đẹp lên từng ngày. Ngày thay đổi ấy đối với quê hương tôi thấm thoắt đã 20 năm.

Vậy mà bà con nơi đây 50 năm qua vẫn không có điện lưới quốc gia? Tôi nghĩ đây phải coi là một tội ác cần quy cho những người có trách nhiệm. Tội ác này đến từ sự vô cảm, hờ hững đến mức phũ phàng. Nếu cứ để mãi như vậy thì thật là quá bất công cho những người đã "hi sinh" vì thủy điện nước nhà!

Đất nước chúng ta ngày càng phát triển, mọi người dân đều có quyền được sử dụng nguồn điện và bao tiện nghi khác. Vậy sao chúng ta có thể bỏ quên những người dân đó suốt 50 năm qua, để họ vẫn cứ phải sống trong đói nghèo, lạc hậu…??? Thật là quá bất công đối với với họ.

Cảm ơn nhà báo Đỗ Doãn Hoàng rất nhiều! Nghe tiếng của anh đã lâu, nay mới đọc một bài báo của anh. Quả là một trong những cao thủ về phóng sự hiện nay!

Nick Người cùng khổ 
Theo Dân Trí

Thứ Sáu, ngày 17 tháng 8 năm 2012

HẬU DUỆ NGÀY 19/8


Dạo này mình hay quên ngày tháng thứ. Mỗi khi có việc lại hỏi cô em cùng nhà: hôm nay thứ mấy? Ngày mấy? Tháng thì ngần ngừ một lúc cũng nhớ ra. Nhưng nhớ như in chủ nhật này là ngày 19/8 vì bạn bè thì được công an khu vực đến hỏi thăm là ngày 19/8 có ra bờ Hồ dạo chơi không? Nếu nói đi xa thì mặt các anh công an khu vực dãn ra hẳn, lại tán chuyện thêm rồi mới về. Nhưng có việc khiến mình nhớ lắm là vì anh hàng xóm có nhà cho thuê, cứ đến hẹn lại lên, ngày 19/8 (và nhiều ngày khác nữa trong năm) công an khu vực lại đưa giấy mời đi dự lễ mặc dù anh ta chả liên quan gì đến lực lượng chuyên chính hùng hậu này. Hỏi thì rõ là người ta không cần sự có mặt của anh, nhưng rất cần cái phong bì của anh có mặt…Rồi thỉnh thoảng lại nghe thông báo: chúng em (chúng cháu) sắp đi nghỉ hè, anh (chú) cho xin ít…Thế nên nhiều người kinh doanh, buôn bán đến ngày 19/8 là thường không có mặt ở nhà với lý do rất…tế nhị. Nhưng đây là chuyện mình chán chả muốn nói đến vì gần như diễn ra ở các nơi, từ phường đến quận, thành phố. Đôi khi quay mặt đi với cái xấu diễn ra hiện nay không phải vì thỏa hiệp với nó, mà sợ mình trở nên xấu tính hay moi móc thiên hạ, và có thể sẽ trở thành người nói nhiều. 

Tại sao ngày 19/8 lại trở thành kí ức (phần nhiều) là nỗi đau nhỉ? Nhìn lại tình hình thế giới và Việt Nam lúc đó và bây giờ để suy ngẫm chút… 

-Khủng hoảng kinh tế trong những năm 1929 – 1933 ở các nước tư bản ảnh hưởng đến toàn thế giới, cũng như cuộc khủng hoảng hiện nay tác động đến VN.
–Năm đó chủ nghĩa phát xít thắng thế thì bây giờ là ngược lại, chủ nghĩa độc tài bị kéo đổ ở nhiều nước. 

–Đại hội lần thứ VII của Quốc tế cộng sản họp tại Matxcơva (tháng 7/1935) dưới sự chủ trì của G. Đimitơrốp thì hiện nay các đảng cộng sản gần như biến mất, và số còn lại không thể tập hợp lại thành lực lượng đông đảo. 

Còn tình hình trong nước thì sao? 

-Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 đã tác động sâu sắc không chỉ đến đời sống các giai tầng và tầng lớp nhân dân lao động mà còn đến cả những nhà tư sản, địa chủ hạng vừa và nhỏ – Hiện nay cũng vậy, nhất là trong một thế giới phẳng. 

-Trong khi đó, bọn cầm quyền phản động ở Đông Dương vẫn ra sức vơ vét, bóc lột, bóp nghẹt mọi quyền tự do, dân chủ và thi hành chính sách khủng bố, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta – Hiện nay sao nhỉ? Có gì khác trước sau cuộc Tổng khởi nghĩa “long trời lở đất” cách đây gần 70 năm? 

Hãy xem chủ trương và nhận thức được coi là mới mẻ của đảng CS lúc đó? 

-Chủ trương đấu tranh quyền dân chủ, dân sinh: yêu cầu cấp bách trước mắt của nhân dân ta lúc này là tự do, dân chủ, cải thiện đời sống + Kẻ thù trước mắt nguy hại nhất cần tập trung đánh đổ là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng + Chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Giờ đây chống họa xâm lăng của Trung Quốc cũng quan trọng như yêu cầu cấp thiết về dân chủ, tự do và tìm cách thoát nghèo cho người dân vậy. Không thể làm cái này mà không tiến hành đồng thời việc kia. 

-Mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ: Cuộc dân tộc giải phóng không nhất định kết chặt với cuộc cách mạng điền địa + Tập trung đánh đổ đế quốc rồi sau mới giải quyết vấn đề điền địa + Nhưng cũng có khi vấn đề điền địa và phản đế phải liên tiếp giải quyết, vấn đề này giúp cho vấn đề kia làm xong mục đích của cuộc vận động. Hiện nay, sở hữu ruộng đất cũng đã được phân tích nhiều rằng, ruộng đất phải về tay dân cày. Đất đai phải trở thành sở hữu của người dân. Hậu duệ của những người dân tham gia Tổng khởi nghĩa 19/8 đang bị chính quyền cướp trắng đất đai của họ dưới danh nghĩa phát triển và “sỡ hữu toàn dân”. Một tầng lớp địa chủ đỏ đã và đang hình thành trên khắp cả nước. Một đất nước nông nghiệp mà hơn 80% dân khiếu kiện liên quan đến đất đai là sao?
Bữa cơm học trò ở Dền Thàng (Bát Xát)
Dường như lịch sử đang lặp lại? Dường như lịch sử đang khẩn thiết yêu cầu dân tộc VN quay lại bước đi ban đầu sau rất nhiều tang thương, mất mát, đau khổ, phản bội, nghèo đói triền miên, bất công, phân biệt đẳng cấp, giàu nghèo…Và đáng sợ hơn cả xã hội VN hôm nay chả khác là bao với xã hội phong kiến tập quyền xưa kia nhưng được mạo nhận với rất nhiều mỹ từ. Giờ đây mục đích tốt đẹp không thể biện hộ, thay thế cho phương pháp, đường lối sai lầm. Nhân dân không thể là những vật làm thí nghiệm cho các cuộc cải cách liên tiếp thất bại mà vẫn không chịu thừa nhận, sửa chữa. 

Cuộc cách mạng tư sản dân quyền đã biến thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ bởi mục tiêu trước mắt là giải phóng dân tộc, đưa mâu thuẫn giai cấp vào mâu thuẫn dân tộc nên đến giờ vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp kinh hoàng, lòng người nghi kỵ, ly tán. 

Còn cuộc cách mạng thổ địa vốn kêu gọi được sự ủng hộ của đông đảo nông dân thamgia cách mạng thì giờ đây rất nhiều nông dân đang phải đơn độc đấu tranh giành, giữ mảnh đất nuôi sống họ cùng gia đình. 

Và ngày 19/8 sẽ luôn luôn khiến nhiều người phải ngậm ngùi, đau khổ, luyến tiếc, phẫn uất về cái giá mà họ đã phải bỏ ra cho một tương lai bất an, bất ổn, bất công, bất minh, bất xứng… 
Thùy Linh

Biển Đông: Trung Quốc gia tăng chính sách “bên bờ vực chiến tranh” tới mức nguy hiểm


“Nhưng về một đối thủ dùng chiến thuật ‘tích gió thành bão’ – từ từ góp nhặt những hành động nhỏ, không có hành động nào được sử dụng để biện hộ cho chiến tranh, nhưng có thể tích lũy theo thời gian thành một sự thay đổi mang tính chiến lược quan trọng thì sao? 
Mục tiêu [chiến thuật] tích gió thành bão của Bắc Kinh là tích lũy từ từ bằng những cuộc tấn công nhỏ nhưng kiên trì, chứng minh sự có mặt lâu dài trên vùng lãnh thổ mà họ đòi chủ quyền, với chủ ý rằng, việc đòi chủ quyền đó sẽ làm suy yếu các quyền lợi kinh tế được Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển công nhận và có lẽ ngay cả quyền của các tàu thuyền  và máy bay qua lại [trên Biển Đông] hiện được xem là luật lệ chung trên toàn cầu. Với ‘sự thật mới hiển nhiên’ một cách chậm rãi nhưng tích lũy dần, Trung Quốc hy vọng sẽ thiết lập việc chiếm hữu trên thực tế và hợp pháp đối với các tuyên bố chủ quyền của họ”. —– Theo Robert Haddick, báo Foreign Policy, ngày 3 tháng 8 năm 2012.   
Những quan sát khởi đầu
Tranh chấp Biển Đông đã dai dẳng kéo dài trong hàng thập niên qua giữa Trung Quốc và các nước láng giềng Đông Nam Á, đã trở lại tình trạng xung đột kể từ năm 2008-2009 sau khi Trung Quốc tuyên bố Biển Đông là ‘lợi ích cốt lõi’ và sẵn sàng đi tới chiến tranh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mà họ đã đơn phương tuyên bố.
Sự quyết đoán đó của Trung Quốc không làm cộng đồng quốc tế ngạc nhiên vì rất đồng điệu với những hành động trong quá khứ của Trung Quốc và xu hướng dựa vào xung đột để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ thay vì những phương cách giải quyết ôn hòa.
Đáng chú ý là sau năm 2009, Trung Quốc đã tiến hành điều có thể được diễn tả là trong tiến trình nguy hiểm bên bờ vực chiến tranh quân sự, không những có thể làm mất cân bằng vùng châu Á –Thái Bình Dương, mà còn có thể kích động sự đối đầu và xung đột giữa quân đội Trung Quốc với Hoa Kỳ về sự phiêu lưu quân sự của Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp này.
Tranh chấp Biển Đông đã được đề cập nhiều trong các bài phân tích của truyền thông báo chí, nên không cần nhấn mạnh trong bài viết này. Do chính sách đơn phương sử dụng quân sự để gây hấn và sự hiếu chiến sẽ dẫn đến nguy hiểm, có khả năng lan ra thành một cuộc tranh chấp rộng lớn hơn, nên điều cần tập trung là, vì sao Trung Quốc cảm thấy được khích lệ và thích thú với chủ nghĩa phiêu lưu quân sự trong các tranh chấp lãnh thổ với các nước làng giềng của họ, mà thông thường có thể được giải quyết ở các diễn đàn quốc tế và khu vực theo cơ chế đa phương.
Vì thế, bài viết này với mục đích xem xét những vấn đề liên quan như sau:
  • Sự gia chính sách bên bờ vực chiến tranh của Trung Quốc trong xung đột Biển Đông: mục tiêu nhắm tới là Hoa Kỳ.
  • Ý nghĩa của việc chọn thời điểm để gia tăng chính sách bên bờ vực chiến tranh của Trung Quốc.
  • Thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược của Hoa Kỳ trong việc đáp trả một cách hiệu quả đối với chính sách bên bờ vực chiến tranh của Trung Quốc trong xung đột Biển Đông.
  • Lựa chọn của các nước đòi chủ quyền để tranh đấu với Trung Quốc trong việc giải quyết xung đột ở Biển Đông: ASEAN không phải là sự lựa chọn, mà lựa chọn hữu hiệu là Hoa Kỳ.
  • Phản ứng của thế giới đối với việc gia tăng khiêu khích chiến tranh của Trung Quốc trong xung đột Biển Đông.
Sự gia tăng khiêu khích chiến tranh của Trung Quốc trong xung đột Biển Đông: mục tiêu nhắm tới là Hoa Kỳ.
Sự gia tăng chính sách bên bờ vực chiến tranh của Trung Quốc trong xung đột Biển Đông không còn giới hạn ở tham vọng kiểm soát khối nhiên liệu dầu hỏa mênh mông, không những nằm trong vùng Biển Đông mà còn ở cả khu vực Đông Hải và Hoàng Hải. Chiến lược phá hoại của Trung Quốc trong khu vực Biển Đông giờ đây đã biến thành một cuộc tranh luận chiến lược lớn hơn, đó là đánh bại Hoa Kỳ và giữ vai trò thống trị ở châu Á.
Trung Quốc có thể đối xử tàn bạo với các đối thủ tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông bằng sức mạnh quân sự bất cứ lúc nào, nhưng họ sẽ không làm thế, khi có thể đạt được kết quả sau cùng với sự lựa chọn ít tốn kém, bằng chiến lược tiến từng bước và tăng dần để giữ sự xung đột sôi động nhưng không bùng nổ. Với chiến lược như thế, Trung Quốc ra tay trước khi có sự can thiệp kịp thời của Hoa Kỳ và đạt được mục tiêu chiến lược như mô tả ở trên.
Các tuyên bố chủ quyền hung hăng [của Trung Quốc] ở Biển Đông chỉ là một tín hiệu báo trước cho sự hiếu chiến tương tự sẽ tiếp theo ở Đông Hải và Hoàng Hải, nơi mà Trung Quốc sẽ đối đầu với một đối thủ hùng mạnh hơn là Nhật Bản.
Tuy nhiên, để tiến dần lên vùng biển phía Bắc, đầu tiên Trung Quốc phải tranh thủ vượt qua Hoa Kỳ trong vùng Biển Đông, cả về mặt địa chính trị lẫn địa chiến lược.
Về địa chính trị, mục tiêu của Trung Quốc nhắm tới Hoa Kỳ là xem thường hình ảnh của Mỹ bởi Mỹ dường như bất động trong việc chống lại hành động phiêu lưu quân sự của Trung Quốc trong khu vực Biển Đông. Chủ nghĩa biểu tượng ảnh hưởng ở mức độ nào đó và hình ảnh về một nước Mỹ bất lực trong việc kiềm chế Trung Quốc có thể gây tổn hại cho Hoa Kỳ.
Về địa chiến lược, mục đích của Trung Quốc là phô bày cho các nước Đông Nam Á thấy rằng sự thiếu vắng thái độ đáp trả mạnh mẽ của Hoa Kỳ chống lại sự trỗi dậy của Trung Quốc đến từ ý chí chính trị và chiến lược yếu kém của Mỹ khi đương đầu với Trung Quốc trong các vấn đề tranh chấp. Một cách rõ ràng hơn là Trung Quốc muốn cho các nước thấy Hoa Kỳ không thể là một đối tác chiến lược tin cậy của các nước châu Á trong việc chống lại Trung Quốc.
Chiến lược ba mũi nhọn của Trung Quốc mô tả ở trên là biểu hiện của những điều tôi đã diễn tả trong bài viết I (Paper I) trước đây về chiến lược làm hao mòn mất cân đối của Trung Quốc để làm tiêu hao ảnh hưởng quân sự của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình dương, để mở rộng phạm vi   cho Trung Quốc thống trị khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Ý nghĩa của việc chọn thời điểm để gia tăng chính sách bên bờ vực chiến tranh của Trung Quốc
Việc chọn thời điểm để gia tăng khiêu khích chiến tranh của Trung Quốc trong vài tháng qua là quan trọng, nhất là nó đi ngược lại bản chất của bất cứ quy tắc chiến lược nào. Trung Quốc luôn luôn được cộng đồng thế giới tin tưởng là có sự kiên nhẫn chiến lược, có viễn kiến chiến lược và rằng Trung Quốc đang trở thành một thành viên có trách nhiệm trong các vấn đề toàn cầu. Nhưng trong tiến trình hiện nay về việc Trung Quốc gia tăng khiêu khích chiến tranh ở Biển Đông, những yếu tố này hoàn toàn vắng mặt.
Vậy thì, làm sao giải thích sự hiếu chiến quân sự hiện nay [của Trung Quốc] trong xung đột Biển Đông? Sự tính toán thời điểm trong việc gia tăng khiêu khích chiến tranh trong xung đột Biển Đông có thể dựa vào những yếu tố/ những sự tiến triển sau đây:
  • Trung Quốc hoảng sợ về việc thay đổi chiến lược và tái cân bằng lực lượng quân sự của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình dương. Trung Quốc hy vọng, bằng cách leo thang khiêu khích chiến tranh trong xung đột Biển Đông, họ có thể đổi hướng/ phá vỡ kế hoạch tái cân bằng lực lượng quân sự của Hoa Kỳ.
  • Trung Quốc tìm cách ngăn cản sự hấp dẫn chiến lược của Hoa Kỳ đối với các nước Đông Nam Á và buộc những nước này đi đến thỏa hiệp với Trung Quốc bằng tiến trình song phương mà trong tiến trình này, sự cưỡng ép chính trị và quân sự có thể có hiệu lực hoàn toàn.
  • Trung Quốc hiểu rằng Hoa Kỳ hoàn toàn bận rộn với chính trị trong năm bầu cử tổng thống, thời điểm hiện nay là cơ hội để khai thác những mục tiêu địa chính trị và địa chiến lược nêu ra ở trên.
Trung Quốc đã từng nhúng tay vào việc gây chia rẽ giữa các nước ASEAN như một phần của sự theo đuổi chính sách tổng thể để kéo các nước ASEAN ra khỏi ảnh hưởng của Hoa Kỳ và điều này có liên hệ trực tiếp tới thái độ hiếu chiến của Trung Quốc về xung đột ở Biển Đông với các nước ASEAN. Sự mất đoàn kết của ASEAN được thấy rõ tại Hội nghị các Bộ trưởng ASEAN hồi tháng trước ở Cambodia. Với sự kích động của Trung Quốc, Cambodia đã phá hoại sự đoàn kết của ASEAN với một hành động dễ thấy, khi Cambodia thích thú trong cuộc chiến ủy nhiệm (proxy war) [cho Trung Quốc] để chống lại các thành viên ASEAN khác.
Thế tiến thoái lưỡng nan chiến lược của Hoa Kỳ trong việc đáp trả một cách hiệu quả đối với việc gia tăng chính sách bên bờ vực chiến tranh của Trung Quốc trong xung đột Biển Đông
Hoa Kỳ không phải là nước ngoài cuộc, thụ động đối với việc gia tăng chính sách bên bờ vực chiến tranh của Trung Quốc trong xung đột Biển Đông. Ngay cả trước khi đưa ra Học thuyết Obama về sự chuyển hướng chiến lược sang châu Á – Thái Bình dương, Mỹ đã thực hiện việc điều chỉnh quân lực Hoa Kỳ về phía nam, tới đảo Guam với mục đích đáp ứng kịp thời bất cứ sự bùng nổ xung đột nào trong khu vực Biển Đông.
Hoa Kỳ cũng đã cải tiến và tái xác định các học thuyết quân sự của họ, đặc biệt đối với bất cứ mối đe dọa quân sự nào mà Trung Quốc có thể áp đặt trong khu vực, cụ thể là học thuyết “không chiến trên biển” (Air-Sea Doctrine) nhằm vô hiệu hóa các chiến lược chống tiếp cận của Trung Quốc.
Tuy nhiên, dường như trong cách ứng phó các hành động gây hấn quân sự từng bước của Trung Quốc đối với các nước láng giềng ASEAN đang đòi chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông, Hoa Kỳ rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan chiến lược.
Thế tiến thoái lưỡng nan của Hoa Kỳ được phản ảnh rõ nhất qua lời của tác giả [Robert Haddick] được trích dẫn ở trên, và ông nhận xét: “Nhưng các nhà hoạch định chính sách ở Washington sẽ bị kẹt khi cố gắng sử dụng sức mạnh quân sự để chống lại việc từ từ thực hiện những hành động nhỏ thành thạo của Trung Quốc. Nếu những hành động kia quá nhỏ, thì sẽ không có hành động nào đủ nghiêm trọng để biện hộ cho việc khởi sự chiến tranh”.
Ông nhận định thêm rằng: “Việc thực hiện những hành động nhỏ đó [của Trung Quốc] sẽ đặt gánh nặng lên vai các đối thủ của họ. Đối thủ đó sẽ ở vào vị thế bất ổn của những lằn ranh báo động dường như không thể xác định và bị lôi kéo vào tình thế bên bờ vực chiến tranh mà không thể cưỡng lại được. Đối với Trung Quốc có nghĩa là chỉ cần làm lơ Hạm đội Thái Bình dương của Hoa Kỳ và tiếp tục thực hiện các hành động nhỏ đó với sự tính toán hợp lý rằng, chẳng lẽ Hoa Kỳ lại đi gây hấn với một cường quốc vì một sự cố nhỏ nhặt ở một vùng biển xa xôi”.
Tuy nhiên, Hoa Kỳ cần nhận ra rằng, trong lịch sử những khiêu khích quân sự nhỏ nhặt như thế có khuynh hướng tích tụ tới mức bùng nổ lớn, mà cách tốt nhất là có thể ra tay trước và bóp chết khi còn trong trứng nước.
Hơn nữa, Hoa Kỳ không nên để cho hình ảnh chiến lược và chính trị của mình và tư thế ở châu Á – Thái Bình Dương bị hủy hoại do những khiêu khích từ từ của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông, để bảo vệ danh dự bằng cách bảo đảm Mỹ sẽ cung cấp an ninh cần thiết cho các nước đồng minh hiện tại của họ để chống lại Trung Quốc, và cho các đối tác chiến lược mà họ đang tìm kiếm như Việt Nam.
Lựa chọn của các nước đòi chủ quyền để tranh đấu với Trung Quốc trong việc giải quyết xung đột ở Biển Đông: ASEAN không phải là sự lựa chọn, mà lựa chọn hữu hiệu là Hoa Kỳ
Đối đầu với Trung Quốc về quyền kiểm soát các đảo/ bãi đá rải rác ở Biển Đông là các nước Đông Nam Á mà tất cả các nước đều là thành viên ASEAN. ASEAN với tư cách là một tổ chức, đã từng cố gắng kéo Trung Quốc vào đối thoại về xung đột Biển Đông, nhưng không thành công. Ngay từ đầu, Trung Quốc đã chống lại chuyện đó và rằng việc đối thoại để giải quyết tranh chấp phải là các thảo luận đa phương.
Hơn nữa, hầu hết các nước ASEAN vừa mới áp dụng chiến lược rào giậu đối với Trung Quốc không chắc chắn rằng Hoa Kỳ có giải pháp để đương đầu với Trung Quốc về các tranh chấp xung đột ở Biển Đông. Bối cảnh này dường như đã thay đổi sau sự ra đời của học thuyết Obama.
Phản ứng của Trung Quốc là giáng một đòn ly gián ASEAN, bằng cách sử dụng nước đại diện là Cambodia để thoát khỏi việc đưa ra một thông cáo sau Hội nghị các Bộ trưởng ASEAN ở Cambodia, mà bản thông cáo này sẽ chỉ trích các hành động hiện nay của Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông.
ASEAN có khả năng bị chia rẽ sâu sắc hơn khi chính sách bên bờ vực chiến tranh của Trung Quốc leo thang trong các tranh chấp lãnh thổ này. Tất cả những điều này báo hiệu rằng ASEAN không thể phối hợp như một nhóm, hy vọng là nền tảng hữu hiệu để chống Trung Quốc, đại diện cho các thành viên có liên quan đến tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc.
Ngay cả nếu ASEAN đoàn kết để chống lại sự áp chế của Trung Quốc, ASEAN vẫn không có đủ sức mạnh quân sự cần thiết để đối đầu với Trung Quốc. Đó là sự thật hiển nhiên.
Một sự thật hiển nhiên khác về ASEAN là Trung Quốc chống lại bất kỳ đàm phán đa phương nào với cả nhóm ASEAN và điều này được ông Haddick giải thích rõ nhất, ông phỏng đoán chính xác rằng: “Sự thất bại trong cố gắng của ASEAN trong việc thành lập bộ quy tắc ứng xử để giải quyết các tranh chấp trên biển (Biển Đông) có lợi cho chiến lược ‘tích gió thành bão’ của Trung Quốc. Một bộ quy tắc ứng xử đa phương sẽ tạo ra đòi hỏi chính đáng cho việc giải quyết tranh chấp và sẽ đặt tất cả các nước tranh chấp vào vị thế ngang nhau. Không có bộ quy tắc, Trung Quốc bây giờ có thể dùng lợi thế sức mạnh để áp đảo các tranh chấp song phương với những láng giềng nhỏ bé của họ và [Trung Quốc] làm thế mà không lãnh hậu quả chính trị nào về việc hành xử ngoài lề một bộ luật đã được thống nhất”.
Các nước ASEAN đối đầu với Trung Quốc trong tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc dựa vào Hoa Kỳ về mặt chiến lược, để có được sự che chở an ninh và sức mạnh đối trọng chống lại Trung Quốc. Để làm như thế, họ phải sẵn sàng thiết lập mối quan hệ an ninh với Hoa Kỳ.
Phản ứng của thế giới đối với việc gia tăng khiêu khích chiến tranh của Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông
Phản ứng của thế giới được mô tả tốt nhất trong các bài diễn văn phát biểu tại Đối thoại Shangri La hồi tháng 6 năm 2012 ở Singapore. Chủ đề thảo luận chung trong các bài diễn văn này là cộng đồng thế giới và các cường quốc cam kết an ninh trong “khu vực chung trên toàn cầu” và cam kết đối với “sự tự do đi lại trên biển” và không quốc gia nào có quyền tuyên bố chúng là lãnh thổ quốc gia.
Hoa Kỳ, Anh Quốc và tân ngoại trưởng Pháp nhấn mạnh rằng họ giữ vững lập trường cam kết đối với an ninh và ổn định ở Đông Nam Á. Tân chính phủ Pháp thông qua ngoại trưởng nước này đã nói rõ rằng, Pháp và các nước châu Âu có lợi ích ở Đông Nam Á và sự ổn định và an ninh của khu vực là mối quan tâm chiến lược của họ. Ông nhấn mạnh thêm rằng, Pháp sẽ hỗ trợ bất cứ nhóm an ninh khu vực nào trong vùng.
Trung Quốc sợ bị mang ra để chỉ trích về các hành động của họ ở Biển Đông, thực sự đã tránh xa sự kiện thường niên ở Singapore và chỉ gửi đại diện cấp thấp.
Không còn nghi ngờ gì nữa, Trung Quốc đã hành động mang tính đe dọa ở Biển Đông như một kẻ độc hành với mục đích thiết lập quyền bá chủ trên Biển Đông và tiếp theo sẽ là các hành động gây hấn tương tự như thế ở Đông Hải và Hoàng Hải.
Do lo sợ những điều nói trên, Nhật Bản, đối thủ hùng mạnh của Trung Quốc trong vùng, đã đưa ra các cảnh báo trước. Trong khi Trung Quốc dường như thoát khỏi [sự trừng phạt] qua hành động bắt nạt các nước ASEAN nhỏ hơn đang tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, việc thoát khỏi sự trừng phạt tương tự sẽ không thể xảy ra cho Trung Quốc khi họ đối đầu với Nhật Bản trong các tranh chấp như thế ở phía bắc.
Kết luận
Gia tăng chính sách bên bờ vực chiến tranh thời gian gần đây của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông với các nước nhỏ ASEAN cần được xem như một thách đố quân sự và chiến lược nhắm vào Hoa Kỳ, với bản chất như một sự thử thách, sẽ cung cấp sức mạnh đối trọng hữu hiệu cho Hoa Kỳ chống lại Trung Quốc và sự bảo đảm an ninh cho các nước Đông Nam Á, bị che đậy bằng các tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở Biển Đông.
Phản ứng của Hoa Kỳ đối với những kích động và khiêu khích chiến tranh của Trung Quốc đang được nghiên cứu kỹ lưỡng ở chính phủ các nước ASEAN và châu Á – Thái Bình Dương, để cuối cùng, sự thành công của thay đổi chiến lược sang châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ hầu hết sẽ dựa vào quyết tâm của Hoa Kỳ trong việc đánh bại Trung Quốc một cách hữu hiệu và trước khi mối Họa Trung Quốc trở nên quá nóng để Hoa Kỳ không thể đối phó.
Hoa Kỳ tuyên bố trung lập trong các tranh chấp Biển Đông không còn là một sự lựa chọn khả thi cho Mỹ. Hoa Kỳ cần nhìn rõ “chiến lược tích gió thành bão” hiểm độc đang được Trung Quốc thực thi ở Biển Đông và chế ngự Trung Quốc một cách hiệu quả trước khi Trung Quốc thuyết phục Hoa kỳ thoát khỏi châu Á – Thái Bình Dương.
TS Subhash Kapila
Tác giả là một nhà phân tích các vấn đề chiến lược và quan hệ quốc tế. Ông còn là cố vấn về các vấn đề chiến lược của Nhóm Phân tích Nam Á (South Asia Analysis Group- SAAG). Email: drsubhashkapila.007@gmail.com.
Nguồn: SAAG
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012
Bản tiếng Việt © Trần Văn Minh

Bộ trưởng nghe, Bộ trưởng nói, Bộ trưởng làm


Ngày 12-8, một sinh viên ĐH Quốc gia đặt câu hỏi rất ngộ nghĩnh trong buổi Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng giao lưu trực tuyến: Cháu thấy chú ít có ý kiến, không có nhiều tuyên bố về những vấn đề của ngành mình?
Bộ trưởng đánh giá đây là câu hỏi “mang tính thời sự”, và ông trả lời, cũng ngộ nghĩnh không kém: Tôi không phải là không phát biểu, nhưng chủ trương của chúng tôi là lắng nghe và nếu có vấn đề bức xúc thì trân trọng lắng nghe, có biện pháp giải quyết kịp thời. Bộ trưởng còn nói thêm “Tôi cho rằng không phải là không có khả năng nói, mà tôi tập trung hơn vào thực hiện, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo, tiếp thu ý kiến của nhân dân, tháo gỡ các vấn đề đặt ra”.
Vấn đề đặt ra đối với người dân cũng như doanh nghiệp giờ có lẽ chỉ xoay quanh 2 chữ “tồn kho”. DN chết trong tình trạng tồn kho vì thiếu vốn, vì chi phí đầu vào quá cao. Người dân buộc chặt túi, ngảnh mặt với hàng tồn kho, mà nhiều trường hợp đã bán dưới giá thành. Ấy thế là ngay trong ngày 13-8, giá xăng tăng.
Biểu hiện sinh động nhất xung quanh sự thao túng của các doanh nghiệp đầu mối với cơ quan quản lý không phải là những tấm biển “hết hàng”, “mất điện” ở ĐBSCL mà ở chi tiết các cây xăng bán cầm chừng “không quá 300 ngàn đồng” ngay giữa thủ đô.
Ngày 12-8, Bộ trưởng khảng khái: Nhà nước giao cho ngành Công Thương nhiệm vụ đảm bảo trong bất kỳ tình huống nào đủ xăng dầu phục vụ sản xuất, đời sống nhân dân bằng bất cứ giá nào…Chưa có lúc nào chúng ta để xảy ra tình trạng thiếu hàng, thiếu nguồn cung cấp, mà nếu có chỉ là cục bộ ở một vài điểm trong thời gian ngắn.
Sự cục bộ đó, vài thời điểm đó, rơi ngay vào 10 tiếng trước khi giá xăng tăng lúc cuối giờ chiều ngày 13-8.
Liệu các cây xăng có thực sự “thiếu nguồn cung”, cục bộ trong vài tiếng trước khi giá xăng tăng? Hay là sự tình cờ có tính chất truyền thống đó đang cho thấy sự bất lực trong chức năng “điều tiết”, quản lý của liên bộ?
Ừ thì điều hành cơ chế xăng dầu theo thị trường. Nhưng liệu có công bằng khi để DN tự định giá trong bối cảnh hoàn toàn chưa có thị trường cạnh tranh? Nhưng vai trò quản lý nhà nước của liên bộ Tài chính- Công thương ở đâu khi giá xăng- không phải là “lá rau con cá” mà là mặt hàng chiến lược, gắn với mấy chữ “an ninh năng lượng” là “đầu vào” của hầu hết các ngành sản xuất- lại tăng, 2 lần trong chưa đầy 2 tháng, giữa lúc Chính phủ, và chính Bộ Công thương đang nỗ lực đưa ra những đề án giải cứu DN? Chưa kể đến việc Bộ Tài chính thậm chí còn “cơ mưu” đến mức một mặt gật đầu với việc tăng giá, mặt khác vẫn yêu cầu “giữ mức trích 300 đồng mỗi lít xăng nộp quỹ bình ổn”.
Phải chăng đời sống của người dân, những khó khăn của DN không quan trọng bằng “cái ví của Nhà nước”?!
Cũng ngày 13, Ủy viên ủy ban kinh tế của Quốc hội, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, TS Trần Hoàng Ngân có lẽ không tình cờ cho rằng niềm tin sẽ suy giảm khi lạm phát sẽ quay trở lại. “Điều quan trọng là đừng khi nào thấy “thừa” trong sự thận trọng với việc quay trở lại của lạm phát”- ông nói với Vneconomy.
Thưa Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng, ông có thể không cần phát biểu nhiều, nhưng xin ông hãy lắng nghe người dân và các DN để có những hành động không chất thêm “củi” lên những tấm lưng đã quá cong gập của người dân cũng như các DN.
Đào Tuấn

Quần chúng và lịch sử, hay là “sự bí ẩn của lịch sử”

Nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám
Vào những ngày này 67 năm về trước, khác nào một phản ứng dây chuyền, mệnh lệnh khởi nghĩa như được phát ra từ trái tim yêu nước, nơi lưu chuyển trong huyết quản dòng máu quật khởi Việt Nam, cả nước ào lên, chớp lấy thời cơ, giành lấy chính quyền. Vì “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dây đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” (1). Và rồi “người lên như nước vỡ bờ” để làm nên một trang lịch sử mới: “Nước Việt Nam từ máu lửa/Rũ bùn đứng dậy sáng lòa! (“Đất Nước”,  Nguyễn Đình Thi).
Đó là sự biểu dương vĩ đại của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, “không phân biệt thành phần xã hội và dân tộc, quá khứ và ý thức hệ, tôn giáo và tín ngưỡng”. Chính sức mạnh ấy làm nên sự “sáng lòa” kia. Thế rồi, ánh “sáng lòa” ấy được lưu giữ và phát huy như thế nào, đấy cũng là bài học lịch sử của Cách mạng Tháng Tám.
Trong âm vang lịch sử, bỗng nhớ lại những dòng “ánh sáng” từ bộ óc vĩ đại của Victor Hugo, đại văn hào Pháp: “Ánh sáng, Ánh sáng! Biết đâu đấy, những khối u minh dày đặc ấy lại không trở thành trong suốt. Những cuộc cách mạng chẳng phải là những cuộc thay hình đổi dạng là gì?”; “Hãy làm cho tư tưởng dậy lên như gió lốc. Cái đám quần chúng kia có thể trở nên phi thường, tuyệt vời. Ta hãy biết khai thác các đám cháy mênh mông những nguyên lý, những đạo đức đôi khi tóe lửa, chói lòa, rung động trong những giờ phút nào đó“… Xuất phát từ đó mà đại văn hào Pháp khuyến cáo: “Hãy nhìn qua dân chúng, bạn sẽ nhìn thấy chân lý“! (2)
Đừng quên rằng, lịch sử là một sự vận động trong thế tương quan giữa nhiều lực nhằm tìm ra một hợp lực, vạch ra con đường đi của nó. Ngày từ đầu, và cho đến bây giờ và mãi mãi, những hợp lực ấy vẫn do các cá nhân hiện thực tạo ra song vẫn không là phụ thuộc vào cá nhân họ. Theo Hégel, động cơ của những nhân vật lịch sử, thật ra, không phải là những nguyên nhân cuối cùng của lịch sử. Cái hợp lực tạo ra sức mạnh của một dân tộc, viết nên những trang hào hùng của lịch sử dân tộc, chính là quần chúng nhân dân: những người theo mệnh lệnh của trái tim đã có mặt đúng lúc, đúng thời điểm cần có họ. Chỉ ra được thời điểm ấy chính là người đem lại ánh sáng tỉnh thức như V.Hugo đã nói vừa dẫn ra ở trên!
Ánh sáng tỉnh thức ấy đến từ bộ phận tinh hoa của nhân loại nói chung và của dân tộc nói riêng. Và đấy mới chính là biện chứng của cuộc sống trong dòng chảy miệt mài, sôi động, nghiệt ngã không bao giờ ngưng nghỉ của một đất nước “vốn xưng văn hiến đã lâu” của chúng ta. Bởi thế, khi nói đến bộ phận tinh hoa của dân tộc chính là nói đến sự kết tinh sức mạnh của khối quần chúng nhân dân vĩ đại vào trong họ, sức mạnh ấy làm nên lịch sử.
Vì rằng, “ngay cả những tư tưởng thiên tài của những vĩ nhân, liệu chúng ta có chắc chắc rằng những tư tưởng ấy có chuyên nhất là công trình của riêng họ không? Hẳn nhiên bao giờ chúng cũng được sáng tạo bởi những con người đơn độc; nhưng hàng nghìn hạt bụi mới tạo thành phù sa và chính từ phù sa ấy, những tư tưởng mới nảy mầm. Phải chăng chính tâm hồn của những đám đông đã hun đúc nên chúng. Chắc chắn đám đông bao giờ cũng vô thức, nhưng chính cái vô thức ấy có lẽ là một trong những bí ẩn của sức mạnh đám đông” (3). Gustave Le Bon giải thích như vậy trong “Tâm lý học đám đông“. Và rồi cái “ bí ẩn của sức mạnh đám đông” ấy sẽ bùng phát mạnh mẽ khi được đánh thức bởi những tư tưởng khai sáng.
Nhưng, tư tưởng khai sáng ấy đến từ đâu nếu không phải từ những bộ óc con người? Đương nhiên, không phải ở bất cứ bộ óc người nào. Cũng không phải từ trò chơi súc sắc của thượng đế hay của các thế lực siêu nhiên nào đó. Theo Einstein: “Tạo hóa hào phóng vung ra vô số sản vật, nhưng chỉ hy hữu mới sản sinh ra vài hạt giống tốt” (4). Còn Gustave Le Bon thì lưu ý thêm rằng: “Trong mọi hành động của chúng ta, phần vô thức thì to lớn còn phần lý trí thì nhỏ bé. Cái vô thức tác động như một lực lượng hãy còn chưa được biết rõ” (5). “Cái bí ẩn” đến từ đó, và đó cũng chính là cái bí ẩn của lịch sử!
Ấy vậy mà, “cái đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể trải nghiệm được là cái bí ẩn. Đó là cảm thức nền tảng trong cái nôi của nghệ thuật và khoa học chân chính. Kẻ nào không biết đến nó, không còn khả năng thảng thốt hay kinh ngạc, kẻ đó có thể coi như đã chết, đã tắt rụi lửa sống trong mắt mình” (6), chính Albert Eintein đã khẳng định mạnh mẽ như vậy đấy! Cho nên bộ óc thiên tài ấy tuyên bố thật sòng phẳng và cũng thật tường minh: “Với tôi, sự huyền nhiệm về tính vĩnh cửu của sự sống cùng với sự thức nhận và tiên cảm về cấu tạo kỳ diệu của tạo vật cũng như nỗ lực nhẫn nại để nắm bắt lấy một phần dù rất nhỏ bé của cái lý tính tỏa rạng trong cõi tạo hóa này, đã là quá đủ!” (7).
Phải chăng vì thế mà ở bất cứ thời đoạn lịch sử nào, bất cứ thể chế chính trị nào, bộ phận tinh hoa của dân tộc cũng giữ một vai trò “không gì có thể thay thế được của một nước, một dân tộc”.  Bởi vậy mà “trọng học vấn, trọng nhân tài, vì đó là của quý không gì có thể thay thế được của một nước, một dân tộc. Có nó thì có tất cả, thiếu nó, thì cái còn lại còn gì là đáng giá”.8 Cách mạng tháng Tám năm 1945 là minh chứng sống động của điều ấy. Cứ nhìn vào thành phần của Chính phủ Cách mạng lâm thời và sau đó là Chính phủ Kháng chiến do Hồ Chí Minh đứng đầu là hiểu rõ được điều đó. Đây chính là hình ảnh thu nhỏ của khối đại đoàn kết toàn dân mà bộ phận trí thức ưu tú, những “hiền tài”, bộ phận tinh hoa tiêu biểu cho trí tuệ của dân tộc mà các cụ ta gọi là “nguyên khí quốc gia“, được quy tụ bởi một tầm nhìn vượt lên phía trước, bứt khỏi những bất cập, hạn hẹp.
Đáng buồn là hiện thực sống động và thấm đẫm chất văn hóa ấy có lúc bị chìm đi bởi nhiều lý do, mà nguy hiểm nhất là sự tác động của tư tưởng Mao ít, cường điệu cuộc đấu tranh giai cấp được xác định là “động lực của sự phát triển“, đưa cuộc đấu tranh “ai thắng ai” mà điểm quy chiếu là “ý thức hệ” chứ không phải làlợi ích dân tộc làm điểm tựa để nhìn nhận và đánh giá trong mọi ứng xử, làm đảo lộn hệ thống giá trị truyền thống văn hóa, nền tảng tinh thần của đời sống xã hội.
Căn bệnh của não trạng và hành vi lấy một lý luận chính trị-xã hội làm chân lý tuyệt đối và duy nhất, loại trừ và thủ tiêu mọi lý luận, mọi tư tưởng chính trị khác đã là một căn bệnh lâu đời của loài người. Từ khoảng đầu thế kỷ XX căn bệnh ấy được gọi là căn bệnh tôn sùng “ý thức hệ”, sống và đấu tranh với nhau vì “ý thức hệ”. Cái tên gọi ấy có xuất xứ từ Tây Âu. Căn bệnh ấy phân chia cả loài người và từng dân tộc, từng quốc gia, cho đến từng gia đình thành phe ý thức hệ này đối lập sống chết vơí phe “ý thức hệ” khác. Tình hình này rõ nhất là sau Cách mạng tháng Mười 1917 và nhất là sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, trong chiến tranh lạnh. Bệnh ý thức hệ ấy ở Mỹ, Âu không kém gì ở Liên Xô và Trung Quốc thời ấy. “Chủ nghĩa McCarthy” ở Mỹ là một ví dụ. Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, bệnh “ý thức hệ” vẫn còn rất nặng ở quy mô cả loài người, từng quốc gia, thậm chí từng gia đình chứ không hết và chưa chắc đã nhẹ bớt đi. Ví như cuộc đấu tranh giữa ý thức hệtân tự do” với “ý thức hệ”, đúng hơn, với những lợi ích dân tộc và cá nhân, chống lại ý thúc hệ “tân tự do” là rất sâu và không kém phần đối nghịch.
Ở ta cũng từng có những mong muốn chuyển “ý thức hệ Mác-Lênin thành ý thức hệ của toàn dân”! Từ Đại hội VI, với tư duy “Đổi Mới”, chúng ta thấy rõ đó là một sản phẩm duy ý chí, “lấy lòng mong muốn thay cho thực tế” (8) như cách mà Phạm Văn Đồng đã phân tích trong “Văn hóa và Đổi mới”. Để rồi, hiện thực sống động có ý nghĩa lịch sử ấy đã được trả về cho cuôc sống với Cương Lĩnh của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam được xác lập từ tháng 9.2004: “đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần xã hội và dân tộc, quá khứ và ý thức hệ, tôn giáo và tín ngưỡng, miễn là tán thành công cuộc đổi mới, nhằm mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đầt nước vì dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”.
Xác lập được điều này chính là một bước đột phá quan trọng, đưa nhận thức trở lại đúng với quy luật vận động của cuộc sống, từ đấy mà mở ra một cục diện mới, rất mới. Bởi lẽ, phát triển luôn luôn là tự phát triểntrong tiến trình tiến hóa, tạo nên những thuộc tính hợp trội, được thực hiện bằng các cơ chế thích nghi qua sựtương tác của hệ thống. Tiến hóa qua cơ chế thích nghi không chỉ biểu hiện bằng cạnh tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên, mà còn bằng hợp tác và cùng phát triển. Chính sự đa dạng của tiến hóa như vậy tạo nên sự đa dạng, phong phú, rất phức tạp, song cũng hết sức sinh động của cuộc sống. Cuộc sống nói chung và cuộc sống của con người trong xã hội. Mà xã hội lại là một hệ thích nghi cực kỳ phức tạp, trong đó, các thành phần khác nhau, những yếu tố đối lập, tùy theo sức hút của mục tiêu chung đều có lợi cho tất cả, thì không nhất thiết phải đối đầu theo kiểu tư duy “ai thắng ai”, dẫn đến một kết cục phải thanh toán lẫn nhau để giành quyền thắng, chứ không chịu tìm cách thông qua những tương tác có tính hợp trội để có thể tìm được khả năng cùng thắng. Với tư duy Đổi Mới bằng cột mốc Đại hội VI, một loạt những vấn đề được nhìn nhận lại, từ đấy có việc trả lại những giá trị bị đảo lộn, một bi kịch của lịch sử sau Cách mạng tháng Tám. Trong đó có những trí thức chân chính mà tên tuổi của họ vốn là niềm tự hào của trí tuệ ViệtNam đã một thời bị vô hiệu hóa vì cho là mất quan điểm lập trường.
Xin chỉ dẫn ra một trường hợp nhà triết học Trần Đức Thảo, một đỉnh cao của tư duy triết học thế kỷ XX, “nhà triết học Việt Nam mà những bài giảng đã để lại dấu ấn cho cả một thế hệ trí thức nước Pháp” như đánh giá của Lucien Sèvre, một triết gia Pháp đương đại. Việt Phương, người đưa thông tin này, có nhận định: “Thời Trần Đức Thảo sống và nghiên cứu sau 1954, xã hội chúng ta là một xã hội đặc biệt mà nguyên nhân gây ra những bi kịch cho những trí thức như Trần Đức Thảo có khi không hẳn là sự độc ác hay ghen ghét của cá nhân hay thế lực nào đó. Nguyên nhân chính, theo tôi, là sự giáo điều chân thực. Chính vì chân thực nên chúng càng khủng khiếp. Cái giáo điều ấy độc lập với nhân cách của mỗi người. Có thể bản chất họ rất tốt nhưng khi đụng đến cái giáo điều của họ, họ trở nên rất đáng sợ. Và Trần Đức Thảo chính là một nạn nhân. Nguyên nhân khác nữa là có những lực lượng ăn theo, không hề tin vào giáo điều ấy nhưng tung hô nó để tìm kiếm cơ hội cho mình. Đây chính là những kẻ phá hoại khủng khiếp nhất. Và một lực lượng thứ ba nữa là những người thiếu thông tin, thiếu kiến thức, không ở trong cuộc, một lòng một dạ tin theo những điều cấp trên nói, số đông nói. Tất cả những lực lượng xã hội ấy làm thành một “tập đại thành” mà những thân phận trí thức như Trần Đức Thảo không thể hòa nhập được”. (9)
Số phận bi thảm của nhà trí thức, nhà triết học lớn của thế kỷ XX không chỉ riêng của Việt Nam ấy, cũng như bi kịch của một số nhà trí thức văn nghệ sĩ khác một đời bị bầm dập, vì không cam chịu dẫm theo lối mòn, muốn độc lập suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo là nguyên nhân sâu xa dẫn tới sự xuống cấp của diện mạo văn hóa, của hệ thống giáo dục đào tạo và của đạo lý xã hội đang là nỗi bức xúc lớn hiện nay. Chính vì những lẽ đó, từ cái “tập đại thành” ấy, từ những suy tư nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám năm nay, mà nghiền ngẫm về cái triết lý “hàng nghìn hạt bụi mới tạo thành phù sa và chính từ phù sa ấy, những tư tưởng mới nẩy mầm” để hiểu thêm về những “hạt bụi“, về cái chất phù sa đã ươm mầm cho những tư tưởng thiên tài, ở đó đúc kết trí tuệ của của tinh hoa trong nhân loại và trong dân tộc, trừu tượng hơn nữa, là “nguyên khí quốc gia” như các cụ ta răn dạy!
Để làm gì? Để mà ngẫm sâu về “sự kết tinh sức mạnh của khối quần chúng nhân dân vĩ đại trong họ, lực lượng làm nên lịch sửNgẫm sâu về cái “bí ẩn của sức mạnh đám đông” mà Gustave Le Bon nói đến và được Albert Entein nêu lên, chính đó mới đích thực là biện chứng của lịch sử. Xem ra, hiểu được cái “biện chứng” này là không dễ vì đó chính là kết tinh của văn hóa. Chẳng thế mà theo M. Gorky: “Tổ quốc sẽ ít bị đe dọa hơn nếu có nhiều văn hóa hơn” (10). Nên chăng, xin được nối vào sau câu của văn hào Nga một ý: Đất nước sẽ thật sự sáng lòa khi có nhiều văn hóa hơn!
Và quả thật, còn quá nhiều những việc phải làm để tiếp tục “rũ bùn“, những thứ bùn đang đặc quánh lại níu kéo những bước đi tới của đất nước, đang làm vấy bẩn đời sống tinh thần xã hội, đang làm hoen ố gương mặt tuổi thơ… để cho đất nước thật sự “sáng lòa“!
Mà vì thế càng hiểu hơn lời cảnh báo của văn hào Nga từ những năm 1918: “Cách mạng đã đánh đổ nền quân chủ, điều đó đúng! Nhưng điều đó có lẽ cũng có nghĩa rằng cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng. Người ta không được phép tin rằng cách mạng đã chữa trị và làm phong phú cho nước Nga về mặt tinh thầnVì vậy mà: “Dân tộc này phải còn nỗ lực rất nhiều đế đạt đến ý thức về bản sắc và nhân phẩm của nó. Dân tộc này còn phải được trui rèn trong ngọn lửa cháy không bao giờ dứt của văn hóa”. (11)
Đâu phải chỉ người Nga mới cần hiểu được sự cảnh báo đó! Nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám năm nay, xin gợi lên đôi điều suy ngẫm nói trên.
Tương Lai
Nguồn: Bauxite Việt Nam
________________
Chú thích:
1. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 554.
2. Victor Hugo, Những người khốn khổ, nxb Văn Nghệ, TPHCM, 1999, tr.358, 359.
3. Gustave Le Bon, Tâm lý học đám đông, nxb Tri thức, Hà Nội, 2008, tr 18.
4. Albert Einstein, Thế giới như tôi thấy, nxb Tri thức, Hà Nội, 2006, tr.44.
5. Gustave Le Bon, sđd, tr 19.
6. Albert Einstein, sđd, tr. 20.
7. Albert Einstein, sđd, tr. 21.
8. Phạm Văn Đồng, Văn hóa và Đổi Mới, nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 26.
9. Báo Tuổi trẻ ngày 4.6.2006.
10. Maxim Gorky, Những ý tưởng không hợp thời đăng trên nhật báo Novaja Žizn (Đời Mới) trong những năm 1917-1918. NXB Surkamp taschenbuch của Đức ấn hành năm 1974. Bản dịch của Nguyễn Xuân Xanh
11. Maxim Gorky, sđd.

Thứ Năm, ngày 16 tháng 8 năm 2012

Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng… nước nào?

Có thể các bạn sẽ trách người viết đặt câu hỏi thiếu nghiêm túc, ai chẳng biết chúng ta đang cổ động phong trào “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”?
Xin thưa, Hiệp hội gốm sứ xây dựng VN vừa báo nguy: Trong khi các doanh nghiệp gốm sứ trong nước đang thoi thóp thì gốm sứ Trung Quốc ào ạt tràn vào. Hiệp hội đã rất nhiều lần kiến nghị phải có biện pháp ngăn chặn gian lận thương mại của hàng Trung Quốc, thế nhưng tình trạng này cứ tiếp tục tăng vọt!
Thật ra hàng gốm sứ ào ạt đổ vào không phải là cá biệt, nó nằm trong trận cuồng phong xâm lược của hàng Trung Quốc đối với hàng Việt Nam! Việt Nam nhập siêu hàng Trung Quốc từ đầu thập niên và tăng cao lên từng năm: 2010 là 12,6 tỉ USD, 2011 là 13,5 tỉ USD, 7 tháng đầu năm nay đã là 8,3 tỉ USD! Ngày 6 tháng 8 năm 2012, trong hội thảo Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, bà Phạm Thị Loan ủy viên Ủy ban Tài chính và Ngân sách Quốc hội lo lắng cho biết, 90% dự án tổng thầu EPC (tư vấn, thiết kế, cung cấp thiết bị – xây lắp, vận hành, hay nói cách khác là thực hiện dự án theo phương thức chìa khóa trao tay) của Việt Nam đều do nhà thầu Trung Quốc nắm, trong đó chủ yếu là dầu khí và điện, dệt kim. Các dự án trọng điểm quốc gia do 30 doanh nghiệp Trung Quốc thực hiện. Riêng ngành điện đã có nhiều dự án tỉ USD vào tay thầu Trung Quốc, tiêu biểu là dự án Điện Quảng Ninh 1, 2 có giá trị 400 triệu USD; Điện Mỹ Tân 2 1,3 tỉ USD, Điện Duyên Hải 4,4 tỉ USD … Khi Trung Quốc trúng thầu thì khác với các nước khác, họ không để Việt Nam được thầu phụ, không cho Việt Nam cung ứng từ con bu-loong, ốc vít, lao động chân tay cũng đưa người Trung Quốc sang. Bà Loan băn khoăn.
Chúng ta còn 117 tỉ USD đầu tư cho các công trình xây dựng hạ tầng, vậy trong số này sẽ có bao nhiêu lọt vào tay Trung Quốc? Tại sao băn khoăn của bà Loan lại không trở thành băn khoăn của mọi người Việt Nam, đặc biệt là những người có trách nhiệm điều hành nền kinh tế tài chính quốc gia? Vì thiểu năng thiếu trách nhiệm, vì trình độ quản lý kém, hay vì được các nhà thầu Trung Quốc chia phần? Dù bất cứ lý do gì, việc Hiệp hội gốm sứ (cũng như các ngành nông sản thực phẩm khác) “nhiều lần kiến nghị” mà không có biến chuyển gì là không thể chấp nhận được!
Việt Nam chủ trương hòa bình, hữu nghị, hợp tác, cùng có lợi với tất cả các nước. Mua bán, mời thầu với Trung Quốc là bình thường. Điều không bình thường việc gian lận thương mại, lừa đảo, bịp bợm, trúng thầu tràn lan với thiết bị lạc hậu mà không bị ngăn chặn là mối nguy chẳng những cho kinh tế mà cả an sinh xã hội và an ninh quốc phòng.
Ngay như với loại hàng hóa Trung Quốc có chất lượng cao, giá rẻ hơn thì trong hoàn cảnh hiện nay những người Việt Nam yêu nước cũng nên ưu tiên dùng hàng nội để khuyến khích sản xuất, giải quyết việc làm cho người lao động. Trong trường hợp đó nhà nước nên có chính sách để doanh nghiệp Việt Nam hạ giá thành tăng sức cạnh tranh.
Một bài viết trên đài truyền hình ABC của Mỹ có tựa đề “Tẩy chay hàng Trung Quốc trong 31 ngày” có những nội dung rất đáng cho người Việt Nam suy nghĩ : “Nếu mọi người Mỹ chi tiêu thêm 64 USD hơn mức bình thường để mua hàng của Mỹ trong năm nay thì sẽ tạo ra 200.000 việc làm mới”, “Nếu 200 người Mỹ từ chối không tiêu 20 USD để mua hàng Tàu thì mau chóng giải quyết được sự bình quân về mậu dịch là 1 tỉ USD có lợi cho nước ta”. “70 % người Mỹ nghĩ rằng các đặc quyền mua bán mà chính quyền Mỹ dành cho người Tàu cần phải đình chỉ. Đừng chờ chính quyền hành động! Chính quý vị hãy nắm lấy quyền điều khiển bản thân mình!”.
Người dân của một siêu cường đã có những suy nghĩ rất đáng để cho tất cả chúng ta, là dân của một nước nghèo lại đang từng ngày bị chèn ép, đe dọa mọi mặt, phải suy ngẫm để biết mình phải làm gì!
Tống Văn Công
Theo Viet-Studies