Thứ Bảy, ngày 01 tháng 9 năm 2012

Vụ chùa Trăm gian nên xử lý hình sự!

“… nếu vi phạm nghiêm trọng, gây hủy hoại di sản thì cần phải xử lý hình sự. Và cần phải xử lý hình sự để có biện pháp răn đe đối với nhiều tổ chức, cá nhân khác” – GS. Nguyễn Minh Thuyết.
Chùa Trăm gian (Quảng Nghiêm hay còn gọi là chùa Tiên Lữ), một di sản văn hóa độc đáo được lập từ đời Lý Cao Tông, niên hiệu Trinh Phù thứ 10 – năm 1185 đã vĩnh viễn bị phá hủy. Với lý do vì dột nát, người ta thay một “cụ chùa” gần ngàn năm tuổi, đã từng chứng kiến biết bao thăng trầm, đổi thay của đất nước với những đường nét hoa văn độc đáo của văn hóa Việt được chạm khắc tỉ mỉ bởi bàn tay của các nghệ nhân xưa bằng một “cậu bé” thôi nôi với những đường nét tân kỳ được tạo ra từ máy móc.  Đó phải chăng là tấn bi – hài cười trong nước mắt di sản mà chùa Trăm gian không phải đầu tiên và cũng chắc chắn không phải cuối cùng. Với cách quản lý như hiện nay, sẽ có ngày tất cả các di tích quý báu không chỉ tầm cỡ quốc gia của ta sẽ vĩnh viễn chỉ còn trong ký ức…
Chuyện như đùa nhưng giống như số phận nhiều di tích văn hóa – lịch sử bị xâm hại trước đây, chỉ đến khi chùa Trăm gian bị “tân trang” gần hoàn thiện, các cơ quan quản lý mới “giật mình” phát hiện ra.
Một ngôi chùa với hàng trăm gian, nằm ở khu dân cư đông đúc, cách trụ sở UBND xã có hơn 1km, cách UBND huyện có 4km, lại ở Thủ đô Hà Nội đã tiến hành thi công hơn một trăm ngày với tiếng búa, tiếng cưa và ngổn ngang vật liệu mà các cơ quan quản lý văn hóa cũng như chính quyền địa phương vẫn “không biết, không biết, không không biết” thì không phải là chuyện “con voi chui lọt lỗ kim” mà là cả đàn voi chui lọt… lỗ tai. Hài hước thay, nó đã bị thay đổi 100% rồi, tức là chẳng biết đống gỗ rui mè thay ra có còn hay… chui vào bếp, thanh tra văn hóa mới về thị sát và đình chỉ. Xin thưa, còn gì nữa mà thị với sát? Mà đình với chỉ?
Công bằng mà nói, theo phản ánh của một số người dân, ngôi chùa đã có biểu hiện xuống cấp, nhiều chỗ mái đã dột nát, thậm chí đã có vữa rơi khi hành lễ, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người dân. Việc đóng góp của các tăng ni Phật tử tu bổ, tôn tạo di tích là điều đáng trân trọng và ghi nhận. Tuy nhiên, điều cần nói ở đây là các cơ quan quản lý đã hành xử như thế nào để không biến “sự nhiệt tình” thành hành động “phá hoại”.
Giờ đây thì Chùa Trăm gian, niềm tự hào của người dân Xứ Đoài đã “mồ yên mả đẹp”. Câu hỏi đặt ra là phải xử lý thế nào cho thỏa đáng, đặc biệt là không để thành tiền lệ, khi sự đã rồi.
Nếu chấp nhận ngôi chùa mới, tức là chúng ta đang tiếp tay cho những sự phá hoại và di chứng sau đó chắc chắn  rất nặng nề, các địa phương sẽ theo đó mà tự ý “trùng tu”. Vì vậy, Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đã thống nhất phương án phục hồi nguyên trạng những gì còn có thể. Tuy nhiên, việc này sẽ tốn kém rất nhiều kinh phí và ai sẽ là người chịu?
Về phương án xử lý cán bộ, nếu chúng ta lại “kiểm điểm nghiêm khắc, rút kinh nghiệm” thì sự việc tương tự sẽ tái diễn không chỉ ở một địa phương mà hoàn toàn có thể là tiền lệ xấu trong cả nước. Nói cách khác là khi đó, chúng ta đành “thả nổi” Luật di sản và đó là điều không thể chấp nhận. Thậm chí, nếu chỉ dừng lại ở việc đình chỉ chức vụ của Trưởng ban quản lý chùa Trăm gian như quyết định mới đây của UBND TP. Hà Nội cũng không đủ sức răn đe. Điều quan trọng mà dư luận quan tâm, bức xúc là sự thiếu trách nhiệm để xảy ra hậu quả nghiêm trọng của lãnh đạo địa phương từ xã đến huyện.
Vì vậy có lẽ cách tốt nhất hiện nay là cần xử lý nghiêm khắc như một tội hình sự với  tất cả các đối tượng liên quan, theo Điều 71 – Luật di sản: “Người nào vi phạm các quy định của pháp luật về di sản văn hoá thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.
Trả lời báo chí, GS Nguyễn Minh Thuyết cũng cho rằng cần phải có biện pháp hình sự để răn đe:“… nếu vi phạm nghiêm trọng, gây hủy hoại di sản thì cần phải xử lý hình sự. Và cần phải xử lý hình sự để có biện pháp răn đe đối với nhiều tổ chức, cá nhân khác” – GS. Thuyết nói.
Các bạn có đồng ý với biện pháp xử lý hình sự của GS. Nguyễn Minh Thuyết?
Bùi Hoàng Tám
Theo Dân Trí

Bốn ước vọng của tháng tám

Về bài viết này, nhà văn Nguyễn Quang Lập còn có thêm một ước vọng nữa, ước vọng thứ 5- ấy là ước vọng đằng sau quay! 
67 năm – gần một đời người đã trôi qua, có biết bao nhiêu biến cố đã xảy ra trên quê hương của Cách mạng tháng tám và trên thế giới. “Vật đổi, sao dời”, rất nhiều điều tưởng chừng là chân lý bất di bất dịch, đã bị thực tiễn cuộc sống bác bỏ. Cái còn và vẫn còn mãi mãi là những tư tưởng vĩ đại của Cách mạng tháng tám, đồng thời cũng là những ước vọng thiêng liêng của dân tộc ta. Những tư tưởng và ước vọng này có thể gói gọn trong tám chữ: độc lập, dân chủ, công bằng, tự do. Tám chữ nhưng bao hàm tất cả.
Trước hết là về độc lập. Độc lập là một trong những quyền thiêng liêng nhất. Quyền này được Hồ Chủ tịch long trọng tuyên bố với thế giới trong Bản Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 2.9.1945. Và vì quyền này, hàng triệu người con ưu tú đã hy sinh xương máu để giữ gìn quyền độc lập của dân tộc. Thế nhưng độc lập là gì? Độc lập chính là sự không phụ thuộc. Chúng ta đã giành lại giang sơn này chính là để tự quyết định lấy vận mệnh của mình mà không bị phụ thuộc vào kẻ khác. Chúng ta có thể hợp tác. Chúng ta có thể học hỏi. Thế nhưng, chúng ta không thể bị ra lệnh, không thể bị ép buộc. Độc lập chính vì vậy phải bắt đầu từ việc giành quyền độc lập trong lĩnh vực tư duy, trong việc lý giải định mệnh và hoạch định tương lai của dân tộc. Độc lập chỉ thực sự được bảo đảm khi chúng ta không bị phụ thuộc về tinh thần và tư tưởng.
Chúng ta đã giành lại giang sơn này chính là để tự quyết định lấy vận mệnh của mình mà không bị phụ thuộc vào kẻ khác. Trong ảnh là diễu binh mừng đại lễ 1.000 năm Thăng long – Hà Nội. Ảnh: Mai Kỳ
Dân chủ là một ước vọng khác của tháng tám. Dân chủ đã từng được đưa vào quốc hiệu của nước ta sau Cách mạng tháng tám. Đó chính là Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Tuy nhiên, dễ cảm nhận hơn thì dân chủ là việc chính sách, pháp luật được hình thành theo ý chí của đa số; chính kiến xã hội được hình thành trên cơ sở tranh luận xã hội. Đặc biệt, dân chủ đòi hỏi việc ban hành chính sách, pháp luật phải trải qua một quá trình tranh luận công khai, bình đẳng. Các bên, trong đó có công chúng, có cơ hội bày tỏ chính kiến. Và ý kiến của các bên đều phải được lắng nghe. Tranh luận là yếu tố quan trọng hàng đầu của một nền dân chủ hiệu quả. Như vậy, cách thức, quá trình ban hành chính sách, pháp luật không kém phần quan trọng so với nội dung của chính sách và pháp luật. Còn một điều khác nữa mà chúng ta ít nói về dân chủ, nhưng có lẽ lại là điều quan trọng nhất. Đó là: dân chủ là cách thức chuyển giao quyền lực một cách hoà bình.
Công bằng là ước vọng thứ ba của tháng tám. Công bằng xã hội được thể hiện bằng sự bình đẳng của các công dân. Trước hết và quan trọng nhất là sự bình đẳng trước pháp luật. Đã là công dân nước Việt Nam thì pháp luật là như nhau đối với tất cả mọi người. Sự bình đẳng trước pháp luật không chỉ tồn tại trong mối tương quan giữa những công dân với nhau, mà còn – giữa các công dân đối với Nhà nước.
Trước hết, các quyền và nghĩa vụ của công dân và của công quyền đều do pháp luật quy định… với sự thiên vị nhiều hơn cho các công dân: “Người dân có thể làm bất cứ điều gì mà pháp luật không cấm, các quan chức nhà nước chỉ được làm những điều mà pháp luật cho phép”. Pháp luật nước ta cho phép các quan chức khá nhiều điều. Tuy nhiên, những điều cho phép bao giờ cũng chỉ là hữu hạn, những điều không cấm mới thật sự là vô hạn.
Tính chất quan hệ giữa các công dân và các cơ quan công quyền có thể thay đổi phụ thuộc vào các lĩnh vực khác nhau của pháp luật. Ví dụ, khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự, các cơ quan nhà nước chỉ là những đối tác bình đẳng với các công dân và các pháp nhân khác. Ở đây, tự do ý chí và bình đẳng là những nguyên tắc cơ bản của luật chơi. Nếu thay vì giao đất, Nhà nước quyết định cho thuê đất, Nhà nước đã tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự. Các quyền và nghĩa vụ của bên cho thuê và bên thuê sẽ ràng buộc Nhà nước và các đối tượng thuê đất như nhau. Không một bên nào có quyền đơn phương phá bỏ những cam kết đã được ghi nhận trong hợp đồng thuê đất.
Hai là, công bằng xã hội thể hiện ở sự bình đẳng về cơ hội của các công dân. Bình đẳng không có nghĩa là chia đều sự nghèo khó, mà có nghĩa là chia đều các cơ hội. Cơ hội chỉ trở thành hiện thực trong những điều kiện nhất định. Các điều kiện này ở những công dân khác nhau là rất khác nhau. Không phải ai cũng có thể trở thành tiến sĩ, nhưng ai cũng phải có cơ hội để học hành. Cũng như không phải ai cũng có thể trở nên giàu có, nhưng ai cũng phải có được cơ hội để làm giàu. Các rào cản về cơ hội chính là con đẻ của sự bất công. Những công dân bình đẳng trước pháp luật và về cơ hội sẽ chính là lực lượng sáng tạo to lớn của đất nước ta trong công cuộc xây dựng hoà bình và tiến tới phồn vinh.
Ước vọng thứ tư của tháng tám là tự do. Tự do của một dân tộc được hợp thành từ tự do của mỗi công dân. Không thể có một dân tộc tự do, mà những công dân của dân tộc đó lại không có được quyền tự do như vậy. Tự do chính là quyền lựa chọn. Và hàng triệu Đặng Thuỳ Trâm, Nguyễn Văn Thạc đã lựa chọn sự hy sinh. Sự lựa chọn này mang đầy định mệnh, nhưng lại là một sự lựa chọn tự nguyện, một sự thực thi quyền tự do. Những người con ưu tú của đất nước đã lựa chọn sự hy sinh chính là để bảo đảm rằng quyền lựa chọn của dân tộc ta là không thể bị tước bỏ.
Cuối cùng, 67 năm đã trôi qua, nhưng những ước vọng của tháng tám vẫn mãi mãi là động lực to lớn của dân tộc ta. Hiện thực hoá những ước vọng này là điều không dễ. Chỉ có đoàn kết một lòng chúng ta mới làm được điều này.
TS Nguyễn Sĩ Dũng
Theo SGTT

Ví nhà nước, túi nhân dân

Niềm hân hoan của đồng tiền ngân sách lại là nỗi khốn khổ, nếu như không muốn nói là khốn cùng- của không ít thường dân
Chỉ sau 3 năm thi hành luật Thuế thu nhập cá nhân, 15.894.719 mã số thuế đã được cấp. Tốc độ thu, được gọi mỹ miều là “tăng trưởng” hàng năm tăng cực nhanh: 2009 là 14,3 tỷ đồng; 2010, gần gấp đôi 26,2 tỷ; năm 2011 lên 37,1 tỷ và dự toán 2012 là 42,4 tỷ tăng hơn gấp 3 lần 2009. Những con số này được một quan chức Bộ Tài chính hân hoan tuyên bố.
Nhưng niềm hân hoan của đồng tiền ngân sách lại là nỗi khốn khổ của không ít thường dân. Sự “tăng trưởng” chóng mặt của thuế thu nhập cá nhân, với mức giảm trừ thấp đến mức có người gọi đó là một thứ “thuế thân”- lại diễn ra trong bối cảnh DN chết hàng loạt, mức thu nhập từ lương, từ tiền công, từ kinh doanh cá nhân đều giảm- mà biểu hiển không gì sinh động hơn là sự thờ ơ với hàng hóa đại hạ giá chất đống trong kho DN.
Thật buồn, câu chuyện “ví-túi” xoay quanh những đồng thuế thu nhập có lạc quan đến mấy cũng thấy là không hề cá biệt, nếu như không muốn nói là phổ biến trong tư duy làm giá, đánh thuế.
Hôm qua, sau khi xăng tăng giá, trái ngược với thông lệ, các cây xăng “dậy khuya thức muộn” tiếp tục điệp khúc nhỏ giọt, hoặc trắng trợn hơn, “trùm mền cột chó” cây xăng. Lý do rất đơn giản, dù xăng tăng giá, mỗi lít xăng DN bán ra vẫn lỗ từ 500-800 đồng/lít. Và vì thế, việc tăng giá xăng là chuyện nhãn tiền khi cơ chế thị trường, trao giá do DN- định ra một mật độ mà mỗi 10 ngày các cây xăng lại có thể thay biển giá bán.
Mặc định là DN lỗ thật, đại lý lỗ thật, thì vấn đề đặt ra lại đơn giản là 6.500 đồng thuế, phí mà mỗi lít xăng đang gánh.
Câu chuyện càng trở nên hài hước hơn khi trong vô số loại thuế, phí đó, mỗi lít xăng phải gánh 10% thuế tiêu thụ đặc biệt- loại thuế dành cho loại hàng hóa xa xỉ, hàng hóa không khuyến khích, hàng hóa…hạn chế nhập khẩu.
Năm 2008, khi Dự thảo luật Thuế tiêu thụ đặc biệt được đưa ra, đã có không ít ý kiến phàn nàn rằng việc đánh loại “thuế hạn chế” này đối với mặt hàng không ai không dùng, mặt hàng chiến lược liên quan đến an ninh năng lượng, mặt hàng đầu vào của nền kinh tế, liên quan trực tiếp đến đời sống của gần 90 triệu dân là cực kỳ vô lý. Bấy giờ, Một quan chức Bộ Tài chính, thứ trưởng Trần Xuân Hà, lý giải một cách hết sức mơ hồ và nhạt nhẽo là nhằm “như một nỗ lực thúc đẩy tiết kiệm năng lượng”.
Đến giờ, khi đồng tiền trở nên khốn khó trong túi thường dân, cây kim về sự kỳ quặc đến ngớ ngẩn mới bắt đầu lộ ra.
Có người nói giảm thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế VAT cần được Quốc hội bật đèn xanh, nhưng việc giảm thuế nhập khẩu là việc trong tay của Bộ Tài chính. Vấn đề chỉ là họ có muốn hay không, cân nhắc ra sao giữa một bên là “ví nhà nước” và “túi người dân”.
2 hôm trước, Bộ Tài chính gật đầu cho giá xăng dầu tăng. Tăng trong sự kêu khó về sự thâm thủng cái túi của người dân, và tăng trong sự than vãn của DN, đại lý về việc…vẫn lỗ. Tăng, còn tiềm ẩn trong nó mầm mống của đợt tăng giá có khi chỉ ngay sau đây 10 ngày. Nhưng Bộ Tài chính vẫn “giữ chặt túi” nhà nước. Cục trưởng Cục quản lý giá lý giải, một lần nữa cũng rất nhạt nhẽo: “khó thực hiện do ảnh hưởng tới cân đối ngân sách”.
Cái “ví nhà nước”, tất nhiên phải được ưu tiên, phải được đặt lên hàng đầu, nhưng rõ ràng không phải vì cái “ví nhà nước” mà bất chấp tình trạng những cái “túi nhân dân” có khi đã thủng tự bao giờ.
Đào Tuấn

Ngày độc lập nghĩ về biển đảo

Ngày độc lập năm nay, toàn dân hướng về biển đảo, một vùng thiêng liêng của tổ quốc đang còn bị chiếm đoạt. Di ngôn của Đức Trần Nhân Tông rướm máu trong mỗi lòng người: “Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác!”. Lời thề độc lập từ Hồ Chí Minh: “Toàn thể dân tộc VN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng” lại âm vang.

Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đang đặt ra cho chúng ta một cuộc đấu tranh rất gay gắt và vô cùng phức tạp. Gay gắt là vì mưu đồ bành trướng thôn tính biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN của Trung Quốc là xuyên suốt, không đổi. Phức tạp là vì chúng ta vừa quyết tâm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, vừa kiên trì giải quyết tranh chấp với Trung Quốc bằng phương pháp hòa bình, tuân theo luật pháp quốc tế, cố gắng giữ gìn quan hệ hữu nghị, hợp tác láng giềng tốt với chính phủ và nhân dân Trung Quốc. Tuy nhiên dù gay gắt và phức tạp đến đâu, chúng ta tin rằng sự nghiệp của mình là chính nghĩa, phù hợp với lợi ích của khu vực và lương tri của nhân loại thì nhất định sẽ đạt được thắng lợi. Trung Quốc tuy có sức mạnh về kinh tế và quân sự hơn hẳn chúng ta, nhưng họ đang giẫm lên vết xe đổ của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thực hiện đường lối bá quyền lỗi thời, khiến cho càng ngày càng có nhiều trí thức trong nước lên tiếng phản đối, và bị cô lập trong khu vực và trên thế giới.

Để thu hồi được từng tấc đất của tiền nhân để lại, thế hệ hôm nay có trách nhiệm góp sức mau chóng tăng cường nội lực theo mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bất cứ hành động nào làm phân tán, chia rẽ sức mạnh dân tộc đều là tội ác. Chấp nhận nhiều ý kiến khác nhau về phát triển đất nước, chỉ đòi hỏi một câu tuyệt đối phải giống nhau là: “Hoàng Sa, Trường Sa – Việt Nam!”.

Chúng ta chủ trương hợp tác cùng có lợi, nhưng không thể chấp nhận việc để cho Trung Quốc, đưa công nghệ lỗi thời, hàng dỏm, hàng kém phẩm chất, làm rối loạn kinh tế và an ninh nước ta. Kinh tế đối ngoại phải góp phần làm tăng nội lực của nền kinh tế theo hướng phát triển chiều sâu, tăng tính cạnh tranh và bảo vệ môi trường.

Toàn cầu hóa đã làm cho mọi quốc gia muốn phát triển đều phải thuận theo xu thế thời đại. Đại hội 11 có một nhận định rất xác đáng là phải “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế”. Thời đại đang chứng kiến làn sóng dân chủ hóa lần thứ tư. Toàn dân hy vọng cuộc sửa đổi hiến pháp lần này sẽ tiếp thêm cho dân tộc ta sức mạnh mới của thời đại.
Tống Văn Công
Theo Lao Động

Thứ Sáu, ngày 31 tháng 8 năm 2012

“Cấm nhiều hơn, phạt cao hơn”

Lại thêm một lần nữa, cả Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Thế Thảo và Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng cũng “bắt tay” đề xuất lên Chính phủ tăng phạt
Tăng quyền xử phạt cho CSGT, nâng mức xử phạt và hạn chế phương tiện cá nhân. Đây cũng là 3 nội dung cơ bản trong một Nghị định xử phạt vi phạm hành chính riêng, và một “Đề án” mang tính đặc thù đối với Thủ đô và TP. Hồ Chí Minh. Rất dễ dàng để có thể nhìn thấy HN và TP HCM là những TP ùn tắc nhất Việt Nam và những “nghị định”, “đề án” đặc thù, quanh đi quẩn lại vẫn chỉ xoay quanh thứ tư duy cũ rích “Cấm nhiều hơn, phạt cao hơn”.

Còn nhớ trong phiên giải trình tại Ủy ban Pháp luật của Quốc hội về thực trạng vi phạm hành chính và các giải pháp khắc phục trong lĩnh vực giao thông vận tải đường bộ sáng 24-4, sau khi Bộ trưởng Đinh La Thăng “nhấn mạnh” tới việc nâng trần mức phạt tối đa, đồng thời cho phép thanh tra viên, công an được tăng thẩm quyền xử phạt, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban các vấn đề xã hội QH Nguyễn Văn Tiên đã có câu phản biện “để đời”: “Đất nước đã nghèo nhưng các cơ quan quản lý lại đề nghị toàn biện pháp xử phạt nhiều tiền là không hợp lý”. Còn Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội Phùng Quốc Hiển thì thẳng thắn: “Điều các đồng chí nói rất ít đến là tăng trách nhiệm của các cán bộ làm công tác công vụ”.

Điều dễ nhận thấy trong những biện pháp mà Hà Nội cũng như Bộ GTVT đưa ra có xuất phát điểm là một “hiện trạng bất lực”. Bất lực trước tình trạng ùn tắc xảy ra như cơm bữa hàng ngày mà dù có “cấm golf”, kêu gọi đi xe bus, tăng mức xử phạt “đặc thù” tình trạng vẫn không bớt tồi tệ. Khó có thể đòi hỏi tư duy quản lý phải trùng hợp với tư duy đa số, những người phục tùng. Nhưng tuy duy quản lý không thể khác xa với tư duy dân chúng, không thể “đè đầu cưỡi cổ” những người phục tùng, bất chấp họ nghĩ gì, có thực hiện được không.

Hồi đầu tháng bảy, cư dân mạng truyền tin một bức hình “ Cảnh sát giao thông kiệt sức và hy sinh khi cứu sống 2 mẹ con bị ngã xuống sông ở Nghệ An”. Chỉ vài giờ khi được post lên mạng xã hội, bức hình được dẫn lại trên hàng chục diễn đàn, với hàng chục ngàn lượt like, hàng ngàn lời bình luận với những tình cảm hết sức chân thành “nghiêng mình trước anh”.

Bỏ qua những tình tiết đó là một “cái chết” được Tiền Phong cho là “mù mờ”, đã có từ năm 2009, sự thật không thể chối bỏ là người dân không hề ác cảm với người công an. Miễn đó là sự hy sinh, hay giản dị hơn, là sự đàng hoàng, xứng với danh hiệu “cảnh sát nhân dân” mà các anh mang trên vai áo.

3 tháng trước, Đà Nẵng đưa ra chính sách “dưỡng liêm” bị nhân dân la ó. Bây giờ, lại là Thủ đô, và sau đó là “đầu tầu kinh tế của cả nước” với chính sách chính xác là đối phó với dân chúng: cấm nhiều hơn, phạt cao hơn, nâng chế độ bồi dưỡng thù lao ngoài tiền lương cho lực lượng Cảnh sát giao thông để nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ chiến sỹ.

Nhưng liệu người dân có thể chấp nhận một chính sách chẳng cần quan tâm tới hình ảnh chính quyền? Liệu người dân có thể đồng ý với một sự- không thể nói khác hơn là- đè đầu cưỡi cổ đến như vậy?
Đào Tuấn

Nhìn lại 3 ngôi sao sáng của “thế hệ Bộ trưởng mới”

Với những phát ngôn mạnh bạo cùng hành động quyết liệt, không né tránh, ngay từ khi mới nhậm chức, Vương Đình Huệ, Đinh La Thăng, Nguyễn Văn Bình nổi lên như những ngôi sao sáng, khiến dư luận kỳ vọng nhiều về “một luồng gió mới”, một nhiệm kỳ chính phủ mới trẻ trung, năng động, nhiều khác biệt. Đến BBC cũng kỳ vọng khi gọi những “hiện tượng” Vương Đình Huệ, Đinh La Thăng, Nguyễn Văn Bình là “một thế hệ Bộ trưởng mới”. Một năm qua, 3 ngôi sao sáng của “thế hệ Bộ trưởng mới” bây giờ ra sao?

1. Vương Đình Huệ

“Nếu doanh nghiệp nào không làm được thì rút lui. Kể cả Petrolimex, nếu không làm được chúng tôi sẵn sàng cho giải tán để lập tổng công ty khác. Nhà nước không dọa ai và cũng không ai dọa được Nhà nước… Không thể vì 11 doanh nghiệp xăng dầu đầu mối mà phải vì hơn 80 triệu dân… doanh nghiệp đừng có dọa cơ quan quản lý nhà nước, nếu cần tôi sẽ lập doanh nghiệp khác…”

Tuyên bố nức lòng được ông Vương Đình Huệ tung ra ngay khi vừa ngồi ghế Bộ trưởng Tài chính.

Gần một năm qua, hoạt động của các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu vẫn y nguyên, thậm chí còn có xu hướng lũng đoạn hơn. Câu chuyện xăng dầu vẫn lùng nhùng, giá cả lên xuống nhập nhằng. Mỗi khi doanh nghiệp kêu lỗ thì tình trạng găm hàng, ngừng bán lập tức xảy ra trên diện rộng. Ngay cả việc minh bạch lỗ lãi, giá nhập khẩu hàng của các doanh nghiệp đầu mối… cũng vẫn tù mù như ma trận.

Chẳng thấy doanh nghiệp nào bị giải tán, cũng chẳng có doanh nghiệp khác nào được thành lập như cam kết hùng hồn của Bộ trưởng Vương.

Thực tế khác xa với những tuyên bố của Vương Đình Huệ. Hay nói thẳng ra là ông bất lực. Để chống lũng đoạn các mặt hàng chiến lược, cho dù mới chỉ “thử” với xăng dầu, có vẻ như Bộ trưởng Vương đã bị “tẩm xăng đốt cháy” đúng như lo ngại của nhà báo Huy Đức trước đây.

2. Đinh La Thăng

“Tôi là người máu lửa, đã làm phải ra làm, nếu không là nghỉ… Là tư lệnh ngành, phải cho tôi toàn quyền như vị tướng ra trận, phải được toàn quyền quyết chiến đấu hay không, tiến hay lùi thì mới làm được. Chứ lại cứ ra vào để xin phép thủ trưởng ở nhà có cho em bắn không, sau bảo không được thì chậm mất, lỡ cơ hội”.

Trong lớp Bộ trưởng mới, Đinh La Thăng nổi lên như một ngôi sao sáng, một “hiện tượng” gây sốc với những hành động quyết liệt và phát ngôn táo bạo (nhiều khi liều lĩnh, ẩu tả).

Phải thừa nhận ông là con người nhiệt huyết. Nhưng sự nhiệt huyết trong khí chất của một gã Bí thư đoàn, cộng với tư duy làm tiền của một “thằng” giám đốc doanh nghiệp trong ông đã biến Đinh La Thăng thành một con rối trên chính trường. Từ một nhân vật được kỳ vọng nhiều, ông thành vị Bộ trưởng bị dân chửi nhiều nhất. Lịch sử chưa thấy Bộ trưởng nào lại bị dân chửi thậm tệ đến thế. Các chủ trương, quyết sách từ ông luôn tạo nên những làn sóng giận dữ và chửi bới thậm tệ. Đến mức dư luận có lúc phải đặt câu hỏi: hay bộ trưởng Thăng có vấn đề về… thần kinh?

Theo kết quả thăm dò trên website Trương Duy Nhất- Một góc nhìn khác, có đến 95% ý kiến của hơn 1 vạn bạn đọc phản đối những chủ trương trái khoáy của Đinh La Thăng và 90% ý kiến đòi bãi nhiệm ông.

3. Nguyễn Văn Bình

“Là một đại diện cho thế hệ lãnh đạo mới của chính phủ, cùng với Bộ trưởng Giao thông Đinh La Thăng hay Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, Thống đốc ngân hàng Nguyễn Văn Bình gây ấn tượng với dư luận ở những quyết định nhanh chóng, quyết liệt và hiệu quả ngay sau khi nắm quyền”

Với nhận định ấn tượng trên, Thống đốc Nguyễn Văn Bình được bạn đọc VnExpress bình chọn là “nhân vật của năm 2011”.

Ông Bình được đánh giá cao bởi những nỗ lực tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, khởi đầu bằng việc “dẹp loạn” vượt trần lãi suất và định hướng hợp nhất, sáp nhập các ngân hàng.

Kết quả một năm tái cấu trúc của ông Bình đến đâu?

Sự kiện bầu Kiên đã cho thấy dường như cả một hệ thống ngân hàng như một lâu đài cát. Chiến dịch tái cấu trúc của ông Bình đã hở sườn. Chỉ một “cú sút bầu Kiên” đã làm rúng động cả hệ thống ngân hàng. Lần đầu tiên, Thủ tướng chính phủ phải lên tiếng yêu cầu ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật được cho là “nhằm thâu tóm và gây mất ổn định trong hoạt động ngân hàng”.

Từ một “nhân vật của năm” nhiều kỳ vọng, ông Bình trở thành vị Thống đốc để tại ảnh hưởng tồi tệ nhất trong lịch sử.

Dựa trên kết quả kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và quản lý lãi suất, tạp chí Global Finance vừa xếp Thống đốc Nguyễn Văn Bình của Việt Nam là 1 trong 10 vị Thống đốc kém cỏi và tồi tệ nhất thế giới.

Chỉ với 3 ngôi sao sáng của “thế hệ Bộ trưởng mới” như thế, đủ nói lên chất lượng chính phủ thế nào.
Trương Duy Nhất
Theo Trương Duy Nhất blog

Tự do báo chí

Trước đòi hỏi của người dân, trước áp lực của sự hòa nhập vào cộng đồng thế giới văn minh, nhà cầm quyền Việt Nam không thể ngăn cấm triệt để quyền tự do ngôn luận của người dân. Không kể đến những trang web từ bên ngoài, từ vài năm trở lại đây, hàng loạt trang web và blog cá nhân với những quan điểm chính trị khác biệt và khác với quan điểm được định hướng của nhà cầm quyền đã ra đời và tồn tại.

Ban đầu nhà cầm quyền cũng có những nỗ lực ngăn cấm, dẹp bỏ những trang web nầy bằng rất nhiều cách (dĩ nhiên là rất vi hiến) như tạo cớ bắt bớ các blogger, dùng tường lửa để ngăn chận hoặc dùng biện pháp rất bẩn là sử dụng hacker để đánh sập. Một vị tướng công an lại không hiểu luật pháp đã ngây ngô khoe thành tích rằng đã dùng hacker đánh sập 300 trang mạng.

Những nỗ lực ấy không những không mang lại kết quả như mong muốn mà gây ra những tác dụng ngược lại. Trang mạng nầy bị đánh, hàng loạt trang mạng khác ra đời và càng đón nhận sự ủng hộ nhiều hơn của người đọc. Trước đây 5 năm hiếm có trang nào có lượt người vào trên 10 ngàn một ngày nhưng hiện nay số trang có lượt người vào trên dưới 100 ngàn khá phổ biến.

Từ dạo bắt blogger Tạ Phong Tần vào năm ngoái đến nay hầu như chưa có blogger nào bị bắt tiếp. Và vụ án câu lạc bộ báo chí tự do gồm các blogger Điếu Cày, Anh Ba Sài Gòn và Tạ Phong Tần đang gây ra lúng túng cho nhà cầm quyền nên dù đã giam giữ trái phép họ quá lâu nhưng vẫn cứ dời đi dời lại nhiều lần ngày đưa ra xét xử.

Những trang mạng tư nhân càng lúc càng phát triển đông đúc và hình thành nên một loại báo gọi là báo lề dân để phân biệt với hàng trăm cơ quan tuyên truyền của nhà cầm quyền gọi là báo lề phải.

Báo lề dân với cái nhìn đa diện đã mang đến cho người dân những thông tin đa chiều và nhờ vậy, sự thật được tiếp cận.

Không có báo lề dân, hàng loạt vụ án chính trị bị bưng bít hoặc bị đưa tin sai lệch, hàng loạt vụ bắt bớ mờ ám không được công khai đưa ra dư luận, bao nhiêu nỗi oan khiên bị nhấn chìm vĩnh viễn vào bóng tối…Báo lề dân đã mang lại danh dự cho bao nhiêu số phận từng bị báo lề phải vu khống bôi nhọ theo chỉ đạo.

Không có báo lề dân làm sao mọi người biết được câu nói của giám mục Ngô Quang Kiệt bị cắt xén, xuyên tạc ra sao bởi hệ thống báo lề phải và danh dự bị xúc phạm của vị giám mục ấy làm sao được rửa sạch.

Không có báo lề dân làm sao mọi người biết được mặt trái của vụ bắt bớ và xét xử vi hiến TS Cù Huy Hà Vũ.

Không có báo lề dân làm sao mọi người biết được đài truyền hình Hà Nội đã nhiều lần xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ những người biểu tình yêu nước chống Trung Quốc xâm lược.

Không có báo lề dân làm sao người dân biết được những âm mưu nham hiểm của Trung Quốc trong chiến lược từng bước xâm chiếm VN bằng bạo lực quân sự lẫn diễn biến hòa bình thông qua quan hệ bất bình thường giữa cái gọi là hai đảng anh em.

Không có báo lề dân thì âm mưu thâu tóm ngân hàng và lũng đoạn tài chánh của các nhóm đặc quyền làm sao được phơi bày ra trước công luận.

Báo lề dân cũng góp phần vào việc vạch trần tội ác và sai trái của bọn cường hào ác bá mới đang ra sức thâu tóm đất đai, đẩy người nông dân vào cảnh khốn cùng.

Sự xuất hiện của báo lề dân đã làm cho hệ thống báo lề phải kiêng dè, bớt đưa tin sai trái, bớt dựng chuyện vu khống bôi nhọ những người ngay, những người đấu tranh cho tự do nhân quyền. Âm mưu bôi nhọ TS Cù Huy Hà Vũ, chị Bùi Hằng và nhiều người yêu nước khác của một báo đài lề phải bị vô hiệu hóa.

Người dân ngày nay đã bớt sợ hãi. Họ biết rằng quyền được thông tin, quyền tự do ngôn luận là quyền hợp pháp được ghi vào hiến pháp. Họ mạnh dạn nêu ý kiến, mạnh dạn khiếu kiện, mạnh dạn vào các trang web để tìm những thông tin mà hệ thống báo đảng bị định hướng không đưa đến được cho họ. Bị chặn tường lửa, họ mạnh dạn tìm cách vượt tường, mạnh dạn truyền cho nhau kinh nghiệm vượt tường, mạnh dạn truyền nhau những đường link đến các blog hay, mạnh dạn ghi ý kiến của mình vào các blog hoặc vào các trang mạng xã hội…

Nhân dân VN chưa được hưởng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí hoàn toàn như Miến Điện mới đây, nhưng nhờ vào sự tiên tiến của công nghệ thông tin, nhờ vào những đấu tranh không mệt mỏi và kiên cường của nhiều nhà hoạt động dân chủ, của các blogger tiên phong… một phần nào các quyền tự do ấy cũng được giành lại trong thời gian qua.

Sự sợ hãi bị đẩy lùi dần không những đối với người dân mà còn đối với nhà cầm quyền.

Qua thực tiễn vài năm trở lại đây, nhà cầm quyền thấy rằng tự do báo chí, dĩ nhiên là mới một nửa, cũng không có gì ghê gướm lắm, không bùng phát lên để đưa đến sụp đổ chính quyền. Những trang mạng quá khích, vô trách nhiệm, không có nguồn gốc rõ ràng, đưa tin sai sự thật…tự nó bị mất uy tín, bị người đọc xa lánh hoặc bị đón nhận sự chỉ trích của các trang mạng khác.

Tuy nhiên vì chưa hoàn toàn được tự do báo chí nên một số trang cá nhân tự phát cũng xuất hiện không ít sự lệch lạc, quá trớn và vô trách nhiệm. Những trang đó thường ẩn danh và đăng những thông tin như một dạng tin đồn, hoàn toàn thiếu kiểm chứng. Tuy vậy những tin đồn loại đó như là các tin đồn về những chuyện mờ ám cấp cao, về bí mật cung đình, về đấu đá nội bộ cấp cao, về sự lũng đoạn của các nhóm đặc quyền…thường thu hút sự tò mò của công chúng. Đó là hệ quả tất yếu của một xã hội bất minh, sự thật bị che dấu, sự dối trá lên ngôi và quyền được thông tin của người dân không được tôn trọng.

Chưa có một nền báo chí tự do đúng nghĩa, chưa có một xã hội dân sự minh bạch thì chính sách ngu dân để trị vẫn còn tiếp diễn. Đó là tội ác lớn với nhân dân.
Huỳnh Ngọc Chênh
Theo Huỳnh Ngọc Chênh blog

Thứ Năm, ngày 30 tháng 8 năm 2012

Rừng đã mất sạch, kỳ nhông tắc kè cũng gần hết, làm thuỷ điện là hiệu quả!


Đánh giá tác động môi trường dự án thuỷ điện Đồng Nai 6 và 6A
Trái ngược với nhiều lo ngại mà các nhà khoa học đã cảnh báo trước đây về việc xây dựng dự án thuỷ điện 6 và 6A, bản đánh giá báo cáo tác động môi trường (DTM) do chủ đầu tư – tập đoàn Đức Long Gia Lai – thuê viện Môi trường và tài nguyên (ĐH Quốc gia TP.HCM) thực hiện, cho rằng có thể xây dựng thuỷ điện tại khu vực vườn quốc gia Cát Tiên.
Trao đổi với phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị, PGS.TS Nguyễn Văn Phước, viện trưởng viện Môi trường và tài nguyên cho rằng: hoàn toàn có thể xây dựng được thuỷ điện 6 và 6A (!). “Nhiệm vụ của chúng tôi là làm rõ những quan ngại trước đây. Các nhà chuyên môn từng đưa ra nhiều quan ngại ảnh hưởng này kia là hoàn toàn đúng, nhưng khi chúng tôi khảo sát và tính toán thì cho thấy ảnh hưởng không đáng kể”, ông Phước khẳng định.
UNESCO đã công nhận khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai. Đây là khu dự trữ sinh quyển được được phát triển rộng từ khu dự trữ sinh quyển Cát Tiên.
Ông nói như thế nào về những vấn đề chính trước đây còn chưa được làm rõ và gây ra nhiều tranh cãi, như về việc mất rừng?
Làm bất cứ dự án nào cũng gây ảnh hưởng môi trường, vấn đề là mất gì được gì. Điều tra của chúng tôi cho thấy, hiện trạng rừng bây giờ mất sạch rồi. Rừng khu vực này chỉ là rừng tái sinh, tre nứa, lồ ô phát triển lên, không có giá trị cao, không phải là rừng nguyên sinh. Hiện tại khu vực dự án chỉ có 4,32ha (1,16%) là rừng giàu; còn lại là rừng gỗ trung bình và rừng hỗn giao với 124,59ha (19,31%); rừng nghèo là 92,85ha (25%); còn lại là diện tích rừng lồ ô, cây bụi, đất trống chiếm 51,49% tổng diện tích chiếm đất. Ngoài ra, phần đất tuy được quy hoạch rừng phòng hộ thuộc tỉnh Bình Phước, Lâm Đồng hiện nay thực tế đang là đất trồng điều và cao su.
Chúng tôi cũng chứng minh được rằng dự án này mất rất ít rừng so với các dự án thuỷ điện khác; trong đó rừng vườn quốc gia Cát Tiên chiếm rất ít, chỉ 136,98ha; rừng phòng hộ là 235,25ha. Các dự án thuỷ điện khác phải mất từ 4 – 10ha rừng mới được 1MW điện, còn dự án này chỉ mất khoảng 1,34 ha/MW. Lý do là: các dự án thuỷ điện trước đây chỉ làm một bậc, vực sâu không có nên chiếm diện tích lớn, còn bây giờ, thuỷ điện 6 và 6A sẽ đổi thành hai bậc, tận dụng vực sâu nên diện tích rừng mất ít. Hai bậc cũng giảm khả năng dòng chảy, tốt hơn cho môi trường.
Ngoài ra, địa hình khu vực này bị chia cắt mạnh, độ dốc bờ sông lớn, không phù hợp cho con người cũng như các động vật sinh sống, do đó không có dân cư sinh sống. Trên diện tích lòng hồ (262,85ha) bề rộng dòng sông hẹp, dốc đứng, thành phần đất gồm nhiều đá nên không thể canh tác được. Vào mùa lũ, mực nước thường dâng cao ngập hết khu vực này…
Cách đây không lâu, các nhà khoa học đã cảnh báo khu vực này là môi trường của loài vượn đen má vàng – một trong nhiều loài đặc hữu nằm trong Sách đỏ, rồi loài hoa mới Camellia longii vừa được công bố trên thế giới?
Chúng tôi đi khảo sát không thấy loài hoa này. Chúng tôi cũng ghi nhận được sáu loài thực vật ở khu vực Đồng Nai 6 và có chín loài thực vật ở Đồng Nai 6A có giá trị bảo tồn, nhưng số lượng không đáng kể, chiếm tỷ lệ rất thấp so với tổng số 80 loài thực vật có giá trị bảo tồn ở vườn quốc gia Cát Tiên. Điều này cho thấy khu vực dự án không phù hợp với sự phân bố của các loài quý hiếm.
Khu vực này chỉ còn bò sát lưỡng cư, kỳ nhông, tắc kè bông, ếch, rắn…, nhưng người dân thường vào đây bắt nên còn sót lại không nhiều cá thể, giá trị bảo tồn của nó không có. Số lượng thì không xác định được, chỉ đi và ngẫu nhiên gặp, chứ không phải đại trà. Các con khác như tê giác, gấu không phát hiện, nai thì thấy dấu vết. Cũng phát hiện chà vá chân đen, khỉ đuôi dài… Nhưng tất cả chỉ di chuyển qua chứ không sống ở khu vực này. Cũng nói thêm, ở vườn quốc gia Cát Tiên có đảo khỉ, đang có dự án của Đan Mạch tại đây, môi trường tương tự khu vực làm thuỷ điện, nên khi xây thuỷ điện phương án sẽ đưa vượn, khỉ về đảo khỉ.
Còn vấn đề ảnh hưởng tới hạ du, dòng chảy?
Thuỷ điện 6, 6A nằm kẹp giữa thuỷ điện Đồng Nai 5 (chuẩn bị hoạt động) và Trị An. Ví dụ không có Đồng Nai 6, 6A thì Đồng Nai 5, 3 cũng đã hoạt động rồi, nên tác động của 6 và 6A với nguồn nước hạ lưu cũng chỉ tương tự, đến hồ Trị An là triệt tiêu, do hồ Trị An rất lớn. Kết quả sử dụng mô hình cân bằng nước MIKE BASIN theo số liệu thuỷ văn đã thống kê trong nhiều năm, cho thấy: lưu lượng nước đến trung bình hồ Trị An bị suy giảm không đáng kể, chỉ khoảng 0,21m3/s vào năm nhiều nước; và 0,19m3/s vào năm ít nước (tương ứng 0,03% và 0,06% – nhỏ hơn 0,1%), nên tác động thay đổi dòng chảy được cho là không đáng kể và không ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng nước của hạ du. Khả năng ảnh hưởng đến nguồn nước hạ lưu như nhiễm mặn, ngập nước là không xảy ra, vì hiện nay hồ Trị An đang ở vai trò ổn định nguồn nước rồi.
Ngoài ra, chúng ta đang xây dựng chương trình vận hành liên hồ, đây là trách nhiệm của bộ Tài nguyên và môi trường. Chủ dự án cam kết thực hiện đúng kết quả chương trình này, tức là nếu có vận hành liên hồ thì khi xả lũ sẽ không bị ảnh hưởng.
Báo cáo có tính đến vấn đề biến đổi khí hậu, khi thời gian gần đây, nguồn nước lưu vực sông Đồng Nai đang có nhiều biến chuyển xấu, bất thường?
Làm thuỷ điện xây hồ đập còn là trữ nước, điều này tốt với tình hình biến đổi khí hậu. Như nếu không có hồ chứa nước thì mùa khô sẽ không có nước, nước biển dâng lên sẽ gây ngập mặn sâu hơn, còn nếu có hồ sẽ đẩy được mặn. Vận hành liên hồ trong thuỷ điện cũng sẽ phải đảm bảo dòng chảy môi trường, cho nên lúc nào cũng sẽ có nước.
Cũng có lo lắng, thời gian mưa ngắn lại, hiện tượng lũ có thể xảy ra. Nhưng trong kỹ thuật tính toán của chúng tôi, khi đó sẽ là lượng trữ nước lớn trong thời gian ngắn nên cần diện tích hồ trữ lớn hơn, nên có thêm hồ chứa là giải pháp tốt. Trên thực tế khi có thuỷ điện, hiện tượng lũ ở Đồng Nai không còn nữa. Hiện tượng ngập, đến cả khu hành chính của vườn quốc gia trong vòng năm năm trở lại đây đã không còn.
Như vậy ông cho rằng hoàn toàn có thể làm thuỷ điện 6, 6A?
Vâng. Trong những dự án thuỷ điện trước đây người ta chỉ mới quan tâm đến lợi ích kinh tế mà chưa quan tâm đến lợi ích môi trường. Nhưng ở đây, khi làm thuỷ điện sẽ mở ra các dịch vụ kèm theo, cuộc sống người dân sẽ tăng lên, đặc biệt về mặt văn hoá. Ngoài cam kết trồng lại rừng, dự án còn cam kết hỗ trợ xây trường học, bệnh viện, đường sá, và thu nhận người dân địa phương, đưa họ đi đào tạo và vào làm ở công trình thuỷ điện.
Tất cả những điều trên đều được tính vào chi phí. Tuy nhiên, làm thuỷ điện vẫn đem lại hiệu quả kinh tế cao nên chủ đầu tư chấp nhận. Tính toán, hàng năm thuỷ điện 6, 6A sẽ tạo được 929,16 triệu kWh với giá thành rẻ (khoảng 0,044 USD/kWh), cung cấp cho ba tỉnh Bình Phước, Lâm Đồng và Dăk Nông.
Cắt rừng khỏi vườn quốc gia Cát Tiên để được công nhận di sản thiên nhiên thế giới
Tại quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững vườn quốc gia Cát Tiên đã được bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn phê duyệt vào tháng 7.2011, một phần diện tích rừng của vườn đã được chuyển sang mục đích phục vụ cho thuỷ điện 6 và 6A. Theo ông Phước, như vậy có nghĩa là gần 137ha rừng của vườn quốc gia Cát Tiên trong khu vực làm thuỷ điện không còn nằm trong vườn nữa, nên sẽ không gây ảnh hưởng đến việc vườn quốc gia Cát Tiên đang trình hồ sơ xin UNESCO công nhận là khu di sản thiên nhiên thế giới.
Lê Quỳnh thực hiện
Theo SGTT

“Cây xăng đóng cửa, có nghĩa là sắp tăng giá”

Nhạo báng uy quyền- điều đó đúng, nhưng chưa đủ. Dân gian sâu sắc và hóm hỉnh hơn nhiều “Không tăng giá thì “cạp đất mà ăn à!
Tuần trước, khi bản nhạc chế “Tìm lại giá xăng” của nhạc sĩ trẻ Nguyễn Hồng Thuận được đưa lên youtube, rất nhiều ý kiến đề nghị bầu cho danh hiệu “bài hát của năm”. Số lượt xem rất nhanh chóng sau đó đạt con số hơn 105 ngàn. Nghe bài hát, người ta bỗng giật mình nhớ lại một thủa “2 nghìn 1 tô mì gói, 3 nghìn 1 ổ bánh mì, 5 nghìn 1 tô hủ tiếu”, trong bối cảnh mà giá xăng sắp đạt con số 30 ngàn/lít, với một cường độ 2 lần trong 1 tháng.
Những gì được dân gian hóa đang cho thấy một phần thái độ của người dân trước tình trạng mặt hàng “thiết yếu của thiết yếu” đang tăng một cách bất minh. Và dù một quan chức của Vụ Thị trường trong nước Bộ Công thương thản nhiên trả lời: Theo số liệu sổ sách, hiện các đầu mối vẫn cấp hàng bình thường đúng theo hợp đồng. Nhưng trên tờ báo của ngành công an ngày hôm qua xuất hiện một lời bình: Điều nực cười là hiện nay người dân không phải chờ đọc báo hay TV đưa tin mới biết xăng dầu tăng giá. Họ chỉ cần ra đường thấy cây xăng đóng cửa là biết chuyện gì sắp xảy ra. Người dân đã quá “thuộc bài”. Việc vi phạm hết lần này đến lần khác diễn ra mặc các lời tuyên bố đang là một lời nhạo báng uy quyền của các cơ quan quản lý nhà nước.
Nhạo báng uy quyền- điều đó đúng, nhưng chưa đủ. Dân gian sâu sắc và hóm hỉnh hơn nhiều “Không tăng giá thì “cạp đất mà ăn à!”.
Cái sự “cạp đất mà ăn”, cũng hôm qua, được Tuổi trẻ phanh phui qua câu chuyện ông chủ một hệ thống 5-6 cửa hàng xăng dầu: Cứ mỗi lần xăng dầu rục rịch tăng giá, hệ thống lại gom hàng chục tỷ đồng đóng cho đầu mối xăng dầu để mua 2-3 triệu lít xăng, tuy nhiên chỉ giao tiền và bên cung cấp xuất hóa đơn nhưng không có hàng. Đến ngày giá xăng lên, các cây xăng nhận hàng đã mua với giá gốc và bán với mức giá tăng mới. Mỗi chuyến xăng tăng giá, ông chủ nhỏ này, theo Tuổi trẻ, lại kiếm được 2-3 tỉ đồng. Điều quan trọng nhất lý giải cho tình trạng găm hàng phổ biến từ Nam chí Bắc là chuyện mua khống rất phổ biến.
Nhớ lại hồi các DN xăng dầu hồ hởi thông báo việc “công khai niêm yết giá xăng”, các chuyên gia kinh tế sau khi “bắc kính lúp” cũng đành lắc đầu không thể tính toán, vì thiếu thông số cơ bản. Sự kiện cây xăng găm hàng đang diễn ra cho thấy một khía cạnh khác của vấn đề: Đó là chuyện bản thân cơ quan chức năng cũng không biết thực hư giá bán, không xác định nổi việc “bán” trên sổ sách và “bán” ngoài thị trường.
Trên tờ Người lao động, một quan chức của Vụ Tài chính tiền tệ, Bộ Kế hoạch – Đầu tư bình luận rằng giá hiện hành “đã quy định chi phí lợi nhuận định mức trong giá bán lẻ xăng dầu. Điều này có tác dụng bảo đảm lợi ích cho DN nhưng lại không khuyến khích được DN kinh doanh thực sự, tức là phải tính toán để nhập được xăng lúc giá rẻ và hạn chế nhập lúc giá cao”. Có nghĩa là DN xăng dầu không phải chịu rủi ro kinh doanh, không cần tiết kiệm chi phí, giá nào cũng nhập khẩu mà không sợ lỗ vì mọi chi phí đã có người tiêu dùng gánh chịu.
Cây xăng găm hàng thực ra chỉ là một biểu hiện của sự “thuộc bài”: Doanh nghiệp thuộc chiêu trò mua khống. Cơ quan quản lý thuộc câu trả lời “cấp hàng bình thường trên sổ sách”, và người dân thì thuộc lòng rằng: Cây xăng đóng cửa, có nghĩa là sắp tăng giá. Cây xăng găm hàng, vì thế, cũng mới chỉ là cái đỉnh nổi trong nỗi bức xúc của người dân- một nỗi bức xúc chỉ được giải tỏa bằng bản nhạc chế, những lời nhạo báng kiểu “người mong EVN gặp sự cố nhất lúc này chỉ có thể là Petrolimex”, và giải tỏa bằng những cú bấm like trên facebook, thay cho việc đào một cái hố để gào vào đó sự tức giận.
Đào Tuấn

Thứ Tư, ngày 29 tháng 8 năm 2012

Quan Làm Báo và cuộc chiến thông tin

Tôn Tử
Trong cuộc chiến vùng Vịnh (1990-1991), do làm chủ hoàn toàn thông tin trên chiến trường nên Hoa Kỳ đã khuất phục được Iraq một cách chớp nhoáng.

Khi đó, Trung Quốc nhận ra vai trò to lớn của mặt trận không tiếng súng nên đã đầu tư khá nhiều tiền của cho mục đích này. Chiến lược của họ khá đơn giản, chỉ cần thành thạo 36 kế sách của Tôn Tử binh pháp, có thể đối đầu với Hoa Kỳ hùng mạnh.

Báo cáo Quốc hội Mỹ năm 2007 đã nói rõ, nhiều cuộc tấn công qua mạng vào Bộ Quốc phòng, chính phủ, các bộ, các ngành…có dấu vết từ Trung Quốc.

Thay vì dùng vũ lực chiếm Đài Loan, các nhà chiến lược quân đội Trung Quốc định dùng thông tin gây nhiễu trên mạng máy tính của đảo quốc này. Trong lúc đó, mạng của quân đội tìm cách trì hoãn mọi lệnh trợ giúp từ Hoa Kỳ để Đài Loan hiểu rằng, cần đầu hàng trước khi Mỹ tới. Chiến thắng không cần súng đạn.

Chỉ cần vài ví dụ nhỏ trên cũng đủ biết chiến tranh thông tin trong thời đại internet là vô cùng lợi hại và nguy hiểm cho những ai không hiểu rõ.

Đối phương ngồi ở một nơi nào đó, với cái máy tính xách tay, modem 4G xuất xứ từ Trung Quốc, và ly café Highland ngay tại Hà Nội, vẫn có thể lũng đoạn cả một quốc gia, thông qua các tin gây rối loạn cho dân chúng, các nhà lãnh đạo dễ đưa đến các quyết định sai lầm.

Mấy ngày gần đây, trang Quanlambao (QLB) bỗng người ra kẻ vào đông nghịt, lúc nào cũng vài nghìn người truy cập. Trong vòng hai tháng xuất hiện đã có tới 15 triệu hít, một con số khổng lồ.

Tin blog cá nhân mà gây tò mò cao độ ở một xứ mọi thông tin đều mù mờ. Việc người đọc tìm đến một nơi có nhiều thông tin thâm cung bí xử là hoàn toàn có thể hiểu được.

QLB đã đoán trúng tâm lý người Việt đang đói thông tin nghiêm trọng. 700 tờ báo đưa tin theo hiệu lệnh, người đọc đã quá quen chuyện này rồi, nên đã không tìm đến nguồn tin chính thống.

Tin vỉa hè lên ngôi là do sự cấm đoán thông tin và dễ gây ra hiểu lầm. Có thể ai đó đã cố vấn rằng, để bảo vệ chế độ, cần hạn chế thông tin. Nhưng đó là cách làm mất lòng tin của dân chúng vào nhà cầm quyền. Kẻ lên kế hoạch chiến tranh chỉ đợi có thế.

Sự trùng lặp đến không thể tin nổi là vụ bắt bầu Kiên do QLB “đánh” mấy tháng trời. Thông tin về số liệu ngân hàng, của các đại gia khá chính xác.

Nó lại đúng vào thời điểm phê và tự phê của BCT. Sự đồn đoán về đấu tranh phe phái hoàn toàn có thể hiểu được, vì dân chúng bức xúc về tham nhũng, đạo đức xuống cấp, kinh tế mong manh, dễ đổ vỡ. Người ta thì thào về tài sản của người này người kia, do đâu mà có, ai đó chuyển ra nước ngoài hàng tỷ đô la.
Quan Làm báo bị tấn công 28-8-2012. Ảnh: HM
Ảnh hưởng của QLB mạnh tới mức mà Thủ tướng NT Dũng phải nói gián tiếp, chính ông chỉ đạo bắt bầu Kiên và sau đó được trưởng ban chuyên án, Trung tướng Phan Văn Vĩnh, nhắc đi nhắc lại mấy lần trên báo chí.

Tin đồn đoán về người này bị bắt, người kia bị câu lưu, phần đông là sai, người bị ảnh hưởng phải thanh minh, thanh nga, và hàng triệu người đọc được vài ngày hả hê.

QLB đã gây ảnh hưởng không nhỏ trong dư luận. Trong một đêm, TTCK Việt Nam bốc hơi 4 tỷ đô la. Độc giả có cảm giác rằng, đang có cuộc đấu tranh nội bộ một mất một còn giữa giới chóp bu, và blog này có vẻ được sự bao che của một phái nên mới có nguồn tin nóng như thế.

Nhưng một blog cả triệu người truy nhập lại dùng ngôn từ thô thiển, viết rất ẩu, thông tin nhiễu loạn, lúc đúng, lúc sai. Tâm lý người đọc hoang mang và mất phương hướng, biết đọc gì, tin gì trong lúc này.

Rõ ràng, QLB là một bộ máy của chiến tranh thông tin đã được khởi động, dù khó đoán được do ai đưa ra. Nhưng mục đích thì rất rõ: gây chia rẽ nội bộ, phá hoại hệ thống kinh tế, ngân hàng vốn yếu kém của Việt Nam, người dân không còn tin vào lãnh đạo và đất nước chìm vào rối loạn thông tin.

Muốn nói gì thì nói, QLB đã giúp chúng ta mở mắt ra rất nhiều. Hiện nay, QLB đang bị đánh phá, giao diện bị mất, dù có bị xóa thì hậu quả để lại đã vô cùng tai hại.

Khó ai có thể tin nếu QLB tìm cách hạ bệ Obama tại nước Mỹ bằng cách làm nghiệp dư này. Bởi đơn giản, hàng thế kỷ qua, người dân Mỹ đã quen với nhưng thông tin chính thống, kịp thời, chính xác, và minh bạch từ nhà cầm quyền.

Tổng thống có tài sản giá trị bao nhiêu, sức khỏe ra sao, thậm chí đi chữa răng cũng được cả nước biết đến.

Lạm phát, kinh tế chao đảo hay tín hiệu tốt lành, phần trăm người thất nghiệp, số lính chết trận hay chi tiêu quân sự… họ chỉ tin vào số liệu của FED, của Bộ Lao Động, Tổng cục Thống kê hay Lầu Năm Góc đưa ra.

Để đấu lại với cuộc chiến thông tin trong một thế giới toàn cầu hóa đầy cơ hội, thách thức và chửa đựng cả hiểm họa, những nhà quản lý thông tin, truyền thông của Việt Nam cần có một tư duy khác về đa chiều, về báo chí mở, minh bạch trong chính phủ và dân chủ thông tin.

Một khi còn để dân chúng tìm tin vỉa hè như trang QLB để đọc thì chúng ta sẽ thua trong cuộc chiến thông tin ngay cả khi chưa bắt đầu.
HM. 28-08-2012
Theo Hiệu Minh blog

Trung Quốc (CNOOC) tiếp tục mời thầu trái phép ở Biển Đông


Tin hay: Học giả Trung Quốc kêu gọi chính phủ bỏ “đường 9 đoạn”
Tổng công ty dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) lại tiếp tục mời thầu quốc tế ở 26 lô dầu khí trên Biển Đông, trong đó có 22 lô nằm vùng Biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam. Tổng diện tích mời thầu lần này lên tới 73.754 m2.
Các chấm đỏ xác định vị trí 26 lô dầu khí đang được CNOOC mời thầu quốc tế.
Đây là đợt mời thầu lớn nhất của CNOOC ở Biển Đông và biển Hoa Đông kể từ thập niên 90 của thế kỷ trước. 

Thông báo về đợt mời thầu này được đưa ra 2 tháng sau khi CNOOC mời các công ty nước ngoài tham gia khai thác ở 9 lô dầu khí trên tổng diện tích 160.012,39 km2 thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, buộc Việt Nam phải lên tiếng phản đối. 

“Trong số 26 lô được mời thầu có 1 lô nằm ở vịnh Bột Hải, 3 lô ở biển Hoa Đông, 18 lô ở mạn phía đông của Biển Đông và 4 lô còn lại ở phía tây Biển Đông”, thông cáo của CNOOC cho biết. 

Trong 18 lô thuộc phần phía đông Biển Đông có 5 lô ở tầng sâu trung bình, 3 lô thuộc vùng nước sâu và 5 lô vùng nước nông. 

Hãng tin Bloomberg cho biết một trong các lô gọi thầu lần này là lô 65/12 nằm cách quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam khoảng 50 km, ngay gần lô 65/24 mà trước đó Việt Nam đã phản đối Trung Quốc gọi thầu. 

Một lô khác, lô 41/08, nằm gần quần đảo tranh chấp với Nhật Bản mà hai bên lần lượt gọi là Điếu Ngư và Senkaku. 

Trước đó, vào tháng 6, CNOOC cũng thông báo chào thầu quốc tế trái phép đối với 9 lô dầu khí thuộc đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, khiến Bộ Ngoại giao Việt Nam cực lực bác bỏ. 

Theo Bộ Ngoại giao Việt Nam, khu vực thông báo mở thầu quốc tế của Trung Quốc “hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982” và “hoàn toàn không phải là khu vực có tranh chấp”. 

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn ngang nhiên cho rằng đợt mời thầu này tuân thủ luật Trung Quốc và quốc tế, bất chấp phản ứng của Việt Nam và cộng đồng quốc tế. 
Đức Vũ
Theo Bloomberg/ Dân Trí

Để tang nước


Một lần nữa trở lại với hai chữ “đất nước”, và hai chữ này sẽ còn được nhiều người Việt Nam nói đến, nó sẽ còn là nỗi ám ảnh của người Việt đương đại, cho đến khi, hoặc họ sẽ để mất cái nội dung được chuyên chở bởi hai chữ đó, hoặc họ chấp nhận mỗi người mất đi một điều gì đó của chính họ để bảo tồn được nó (điều phải mất đi có thể là: tài sản, quyền lực, nỗi sợ hãi, sự hèn hạ, sự hèn nhát, sự mù quáng, lòng tham, sự thiếu trách nhiệm, sự vô cảm,…)
Trong từ ghép “đất nước” , yếu tố “nước” đứng sau “đất”, nhưng không phải nó kém quan trọng hơn “đất”. Bởi vì “đất” tách riêng ra thì không còn hàm nghĩa “đất nước”. Nhưng “nước” đứng riêng vẫn mang đầy đủ ý nghĩa là lãnh thổ quốc gia. Và trong các văn bản hành chính thì chỉ có từ “nước” được sử dụng: nước Việt Nam, nước Pháp, nước Mỹ,…
Vì thế, nước đối với người Việt hẳn phải có một giá trị hết sức đặc biệt mà việc diễn giải nó đòi hỏi công phu của các nhà văn hóa học, các nhà dân tộc học…
Quan sát phản ứng của đa số dân chúng Việt Nam hiện nay, ta có cảm giác rằng dường như nước không còn giữ được cái giá trị tinh thần đặc biệt mà nó từng có đối với người Việt trong lịch sử. Trong khi 23 ngàn con tàu của Trung Quốc giày xéo gương mặt bà mẹ Biển Đông (người Việt vẫn ví lòng mẹ bao la như biển, nhưng biển còn là ẩn dụ kép về cả người mẹ và người cha, vì biển là nơi cư trú của Lạc Long Quân và 50 người con) thì hầu như đa số người Việt biểu lộ ra ngoài một sự bình thản khó hiểu. Một số vô cùng ít ỏi trên toàn bộ tổng số gần 90 triệu người ôn hòa bày tỏ giông tố trong lòng họ lại gặp phải sự đàn áp và sự bôi nhọ không thể giải thích nổi từ phía chính quyền, và sự thờ ơ không thể nào hiểu nổi từ phía đồng bào của họ.
Hôm nay, tôi có một trải nghiệm trực tiếp với nước, và lại là nước biển, ở Hội An, một khu vực cách Hoàng Sa không xa. Tôi nằm thả lỏng, bồng bềnh trên mặt biển, không cử động, xung quanh là nước, mắt hướng lên cao nhìn thẳng vào bầu trời, xanh thẳm, sâu hút. Cứ như vậy rất lâu. Và một dự cảm đau đớn lan khắp cơ thể: rồi một ngày bầu trời này, mặt biển này không còn là của tôi nữa, không còn là của chúng tôi nữa. Nước đập vào hai bên tai, nhẹ nhàng như an ủi. Dẫu thế dường như không thể an ủi, mà còn tăng bội phần dự cảm mất mát, bởi đó là nước. Có cái gì nghịch lý trong việc làn nước này đang muốn an ủi tôi. Nước biển. Nước. Tang tóc ngấm vào từng tế bào da mang theo vị mặn của muối. Tang tóc được dự báo bởi những hoạt cảnh bắt bớ nồi da xáo thịt, những người lương thiện, những người yêu nước bị kết tội hàng ngày. Tang tóc được dự báo bởi những hỗn loạn khắp mọi lĩnh vực: kinh tế, giáo dục, văn hóa, chính trị,… Trên khoảng trời mà mắt tôi bao quát được tôi nhìn thấy những cảnh đang náo hoạt cuộc sống của chúng tôi hiện nay. Thanh trừng nội bộ hay kịch bản của ngoại bang? Không thể nào biết được một cách chính xác. L’ignorance. Chúng tôi bị đẩy vào tình cảnh như thế: không biết những gì đang diễn ra trước mắt mình, cả khi mắt mở to hết cỡ, ngay cả khi nhìn thấy sự việc. Nhìn thấy mà vẫn không biết. Đó là một thứ tang tóc khác, là một mất mát khác, là một cái chết khác.
Tôi trở về với thực tại, ngạc nhiên thấy mình vẫn đang ở trên mặt nước và ở dưới bầu trời.
Mặt trời quàng qua trán tôi một giải khăn tang ánh sáng. Một nửa vành khăn phủ trán tôi, một nửa tan chảy trong nước biển.
Tôi mong đó chỉ là một giải khăn tang tưởng tượng của một kẻ ủy mị do dính dáng quá nhiều tới văn chương.
Nguyễn Thị Từ Huy
Hội An, 24/8/2012

Thứ Ba, ngày 28 tháng 8 năm 2012

Giá trị pháp lý của bản đồ


Trong các tranh chấp lãnh thổ theo luật quốc tế, bản đồ thường đóng vai trò quan trọng và đôi lúc quyết định đến sự thắng – thua của các bên trong tranh chấp.
Trong các tranh chấp quốc tế về biên giới hay lãnh thổ, các bên thường dựa vào các bằng chứng bản đồ để chứng minh cho chủ quyền của mình. Tuy nhiên, theo luật quốc tế, giá trị của bản đồ có giới hạn. Một cách truyền thống, các tòa án quốc tế thường đánh giá bản đồ e dè và hạn chế hơn các loại bằng chứng khác. Trong phần lớn các trường hợp, tòa án thường xem bản đồ là bằng chứng thứ yếu và mỗi tòa án có cách đánh giá khác nhau về giá trị pháp lý của bản đồ. Ngay cả các bản đồ chính thức được ban hành hay phê duyệt bởi các cơ quan chính phủ cũng bị bỏ qua.
Thế nhưng luật quốc tế hiện nay có cách tiếp cận mới hơn, theo hướng công nhận giá trị của bản đồ nhiều hơn so với cách tiếp cận truyền thống. Hai tòa án quốc tế là Tòa án Trọng tài Thường trực (Permanent Court of Abitration – PCA) và Tòa án Công lý Quốc tế (International Court of Justice – ICJ) từng xem xét vấn đề chứng cứ liên quan đến bản đồ trong các ví dụ dưới đây.
Tranh chấp giữa Ấn Độ và Pakistan
Vụ án tranh chấp vùng Rann of Kutch dọc biên giới phía tây giữa Ấn Độ và Pakistan là một ví dụ điển hình. Cuộc tranh chấp này đã dẫn đến cuộc chiến giữa Ấn Độ và Pakistan vào năm 1965. Thông qua sự trung gian của Thủ tướng Anh, hai nước đã mang tranh chấp này ra trọng tài phân xử.
Trong phán quyết năm 1968, PCA đã không công nhận hiệu lực chứng cứ của bản đồ một cách công khai. Tuy nhiên, PCA đã dựa vào bản đồ để ra quyết định. Phán quyết đã không trao nhiều sức nặng cho chứng cứ bản đồ vì các bản đồ này thiếu chính xác, không rõ ràng và không nhất quán. Các bản đồ khảo sát địa hình được dành cho nhiều sức nặng hơn các loại bản đồ khác.
PCA đã tuyên bố rõ rằng mặc dù không có một biên giới trong vùng tranh chấp được thiết lập kỹ lưỡng và được lịch sử thừa nhận, các tuyên bố và các bản đồ có thể được diễn giải như là acquiescencetrong các yêu cầu của các bên. Từ đó, bản đồ của một quốc gia mà không vẽ vùng tranh chấp trong lãnh thổ của mình có thể “được xem là một sự từ bỏ một cách tự nguyện, cho dù là có ý thức hay vô ý” cho chủ quyền lãnh thổ của quốc gia đó đối với khu vực tranh chấp. (Acquiescence là sự thừa nhận ngầm được thể hiện bởi một ứng xử đơn phương mà bên kia có thể giải thích như là sự đồng ý).
Như vậy, trong khi vẫn dựa vào chứng cứ bản đồ để xác định rất nhiều vấn đề nhưng PCA vẫn còn thận trọng trong việc khẳng định một cách rõ ràng giá trị chứng cứ của bản đồ trong phán quyết.
Vụ xét xử giữa Eritrea và Yemen
Vụ án này liên quan đến nhiều cụm đảo ở phía nam Biển Đỏ: quần đảo Mohabbakah, quần đảo Haycock, quần đảo Hanish-Zuquar và nhóm đảo Jabal al-Tayr và Zubayr. Vị trí các đảo này nằm gần Gate of Lament và cửa phía nam của kênh đào Suez, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến hàng hải quốc tế.
Trong vụ án này, sau khi bác bỏ các lập luận chính của hai bên, PCA đã ghi nhận rằng các bên đã sử dụng các bản đồ cho nhiều mục đích khác nhau và cho rằng các bản đồ đó có liên quan đến vụ tranh chấp bằng nhiều cách khác nhau.
Trong vụ này, Eritrea không chấp nhận giá trị chứng cứ của bản đồ, còn Yemen thì hoàn toàn ngược lại.
PCA đã chia các giai đoạn đó thành sáu loại và phân biệt giá trị của từng loại. PCA đã thừa nhận và công nhận rất nhiều loại bản đồ như là chứng cứ. Quan trọng hơn, PCA đã đánh giá sự liên quan của các bản đồ dựa theo các giai đoạn mà các bản đồ này ra đời.
Mặc dù khi ra phán quyết cuối cùng dựa trên chứng cứ khác nhưng PCA vẫn nhận định rằng chứng cứ bản đồ có thể có giá trị quan trọng hơn nếu như không có loại chứng cứ khác. Và dù các bản đồ được sản xuất bởi các bên có nhiều mâu thuẫn và không chắc chắn, PCA vẫn phán quyết rằng chứng cứ bản đồ của bên này có thể có giá trị cao hơn bản đồ của bên kia. Điều này có nghĩa là PCA đã công nhận giá trị chứng cứ của bản đồ.
Ngoài ra, đối với các bản đồ được làm ra bởi bên thứ ba (như các cơ quan bản đồ thương mại hay độc lập, cơ quan tình báo, cơ quan hàng hải của các quốc gia thứ ba), PCA phán quyết rằng: Mặc dù cần phải thận trọng, không thể cho các bản đồ này như là sự thể hiện chủ quyền pháp lý nhưng các bản đồ này là những chứng cứ quan trọng về quan điểm công chúng về tiếng tăm. Bản đồ được làm ra bởi các nguồn trung lập, do vậy được PCA đánh giá cao hơn.
Tranh chấp đền Preah Vihear
Vụ án này được xem là bước ngoặt trong việc đánh giá chứng cứ bản đồ tại các tòa án quốc tế. Tranh chấp này phát sinh từ việc giải quyết biên giới năm 1904-1908 giữa Pháp (bảo hộ cho Campuchia bấy giờ) và Xiêm (Thái Lan ngày nay), mà tâm điểm là hiệp định ngày 13-2-1904 (sau đây gọi tắt là hiệp định).
Điều 1 của hiệp định quy định đường biên giới dọc theo phía đông của đồi Dangrek, nơi có đền Preah Vihear, sẽ theo lưu vực sông. Theo Điều 3 của hiệp định thì một Ủy ban Hỗn hợp Pháp-Xiêm sẽ được thành lập để xác định đường biên giới. Ủy ban này đã khảo sát và xác định một đường biên giới, tuy nhiên đường biên giới trên đồi Dangrek không được làm ra.
Giai đoạn cuối của việc phân định là vẽ bản đồ. Chính phủ Xiêm lúc bấy giờ do thiếu phương tiện kỹ thuật phù hợp đã yêu cầu các viên chức Pháp vẽ bản đồ vùng biên giới. Nhóm các viên chức Pháp, mà một số trong số họ là thành viên của Ủy ban Hỗn hợp Pháp-Xiêm, đã vẽ 11 bản đồ vào mùa thu năm 1907 và chuyển cho chính phủ Xiêm. Một trong các bản đồ này là bản đồ của đồi Dangrek và bản đồ này đã vẽ đền Preah Vihear thuộc bên phía Campuchia.
Dựa trên chứng cứ bản đồ, Tòa án Công lý Quốc tế đã phán quyết ngôi đền Preah Vihear thuộc Campuchia.
Campuchia đã chủ yếu dựa vào bản đồ này để đòi hỏi chủ quyền đối với đền Preah Vihear. Ngược lại, Thái Lan cho rằng bản đồ này vốn không phải là sản phẩm của Ủy ban Hỗn hợp Pháp-Xiêm nên không có giá trị ràng buộc. Đồng thời, Thái Lan cũng nhấn mạnh rằng đường lưu vực sông thật sự đã chia đền Preah Vihear về phía Thái Lan.
Bản đồ chưa bao giờ được chính thức thông qua bởi Ủy ban Hỗn hợp Pháp-Xiêm. Nhưng Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) đã cho rằng “không nghi ngờ gì” về việc bản đồ có một “thẩm quyền kỹ thuật vốn có” và nguồn gốc của nó là “công khai và rõ ràng”. Cuối cùng, dựa vào bản đồ đó, ICJ đã xử Campuchia thắng kiện.
Tranh chấp biên giới giữa Burkina Faso và Mali
Hai bên tranh chấp đã từng là thuộc địa của Pháp. Vì không đạt được một thỏa thuận trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến vùng biên giới, vốn được xem là giàu khoáng sản, hai bên đã đệ trình tranh chấp lên ICJ. Các bên đã đệ trình nhiều bản đồ khoáng sản và lập luận dựa vào các bản đồ này.
ICJ, như thông lệ đã cho rằng bản đồ chỉ đơn thuần là bằng chứng phụ được sử dụng để cùng với các chứng cứ khác, dựng lại nội dung thật sự. ICJ cũng cho rằng mặc dù các bên đã đệ trình nhiều bản đồ khác nhau nhưng không một đường biên giới dứt khoát nào có thể xác định được. ICJ cũng xác định rằng không thể xác nhận bất kỳ thông tin nào từ bản đồ nếu như có các thông tin khác xác thực hơn có nội dung trái ngược lại.
Thế nhưng cuối cùng ICJ đã phán quyết rằng “có hai bản đồ có ý nghĩa đặc biệt”. ICJ đã cho rằng một trong số các bản đồ, mặc dù không có danh nghĩa pháp lý, đã thể hiện chân dung của các văn bản và thông tin liên quan đến vấn đề này, bởi vì nó được vẽ bởi một cơ quan trung lập với các quốc gia trong tranh chấp. Sau khi ghi nhận ngày làm ra bản đồ và tính trung lập của nguồn bản đồ, ICJ đã dựa mạnh mẽ vào một trong các bản đồ để phán quyết. Tòa còn giải thích rằng giá trị chứng cứ của bản đồ có thể đóng một “vai trò quyết định” khi tất cả bằng chứng khác không đầy đủ hoặc không xác định rõ đường biên giới một cách chính xác.
Tranh chấp giữa Indonesia và Malaysia
Vụ án gần đây nhất liên quan đến chứng cứ bản đồ là vụ tranh chấp hai quần đảo Pulau Ligitan và Pulau Sipadan giữa Indonesia và Malaysia. Trong vụ này, hai bên đã làm ra hàng loạt các bản đồ để ủng hộ cho việc diễn giải của mình đối với Hiệp định 1891 giữa Hà Lan và Liên hiệp Anh, những nước đã thay mặt hai quốc gia này thời thuộc địa.
Indonesia đã chấp nhận bản đồ mà mình làm ra là “nhất quán trong việc vẽ đường biên giới nhưng là đường mở rộng đến phía bắc của các quần đảo Ligitan và Sipadan và do vậy làm cho các quần đảo này thuộc Indonesia”.
Nhưng theo Malaysia, một vài bản đồ của Hà Lan thể hiện rõ ràng rằng đường biên giới chấm dứt tại phía đông của bờ biển Sebatik của Indonesia. Malaysia cho rằng: Thậm chí các bản đồ của Indonesia xuất bản từ năm 1969 trở đi không thể hiện các quần đảo này như của Indonesia. Malaysia còn lập luận rằng trên đa số bản đồ xuất bản sau đó, các quần đảo Ligitan và Sipadan hoặc không được thể hiện, hoặc có thể hiện nhưng sai vị trí. Nhằm củng cố cho sự diễn giải của mình, Malaysia đã đặc biệt dựa vào bản đồ đính kèm Hiệp định 1891 giữa Hà Lan và Liên hiệp Anh.
Các hành động nêu trên của Malaysia là một trong những cơ sở của effectivité (những việc có giá trị pháp lý trong việc thụ đắc chủ quyền) để ICJ tuyên hai quần đảo trên thuộc Malaysia. ICJ đã chấp nhận bản đồ như là chứng cứ quyết định bởi vì có bằng chứng cho rằng các bên đã thỏa thuận nhờ vào nó.
TS Lê Minh Phiếu