Thứ Bảy, ngày 08 tháng 9 năm 2012

Anh Nguyên Ngọc và tôi


Những năm đầu  kháng chiến chống Pháp ở Liên Khu V có một ngôi trường khá đặc biệt: Trường trung học Lê Khiết. Học trò trường này về sau có nhiều người thành đạt, nổi tiếng cả nước trên nhiều lĩnh vực quan trọng: văn chương, âm nhạc, khoa học, chính trị. Điều đáng quý mà ngay cả  người trong cuộc cũng không khỏi ngạc nhiên là tình bạn và tình thầy trò ở đây giữ được đằm thắm lâu bền hiếm có: dù ở Hà Nội, thành phố HCM hay Đà nẵng, các nhóm cựu Lê Khiết mà ai nấy đều đã qua cái tuổi xưa nay hiếm, hễ có dịp vẫn hồ hởi đến với nhau. Dường như giữa những người từng một thời đồng cam cộng khổ, hàng ngày chống chọi với bom đạn của địch để giữ vững giáo dục ngay trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt dễ có mối liên hệ gắn bó chân tình. Sự gắn bó càng thêm sâu đậm từ cái buổi chiều thày trò cả trường lặng lẽ đưa tang cô giáo trẻ dạy toán Trần Thị Cúc Hoa, cùng 17 học trò chết thảm trong trận bị máy bay địch ném bom bất ngờ hôm trước.
GS Hoàng Tụy đọc phát biểu tại sinh nhật 80 tuổi của nhà văn Nguyên Ngọc do tạp chí Tia Sáng tổ chức tại Hà Nội.
Và có lẽ một phần nhờ mối liên hệ ấy mà anh Nguyên Ngọc với tôi, cả hai cùng là cựu Lê Khiết, dù kẻ làm văn người làm toán – hai lĩnh vực khá khác biệt – lại đã dễ dàng đến với nhau thân tình khi gặp nhau lại sau mấy chục năm trời mỗi người mỗi ngả: anh Nguyên Ngọc trong suốt thời gian dài tham gia chiến đấu ở chiến trường Miền Nam, còn tôi thường xuyên bám trụ ở Hà Nội hoặc nơi sơ tán khi máy bay Mỹ đánh phá Miền Bắc.
Song, hơn cả mối liên hệ ấy, giữa anh Nguyên Ngọc và tôi còn có một liên hệ tri kỷ. Vốn cả hai đã từng hăm hở đi theo cách mạng và kháng chiến ngay từ buổi đầu, từng có hạnh phúc sống qua cái thời hoàng kim trong sáng đẹp đẽ của cách mạng trước 1950, rồi tiếp sau đó cái thời bão táp bi hùng của dân tộc, thật vĩ đại nhưng cũng pha nhiều mảng tối bi kịch đau thương, dễ hiểu chúng tôi có những trải nghiệm và suy ngẫm giống nhau về cách mạng, về thời cuộc, về trách nhiệm xã hội của trí thức, về thân phận của dân tộc, của con người, rồi sau này về văn hóa, giáo dục. Chính mối tri kỷ đó gắn kết chúng tôi trong nhiều hoạt động xã hội, dù là để phản biện, góp ý thẳng thắn và chân thành một số chủ trương, chính sách không phù hợp, hay để phản đối tiêu cực, chống tham nhũng, đấu tranh bảo vệ công bằng, dân chủ, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bất chấp mọi sự ngăn trở, dọa dẫm bất cứ từ đâu.
Anh Nguyên Ngọc từng có nhiều năm, trong kháng chiến chống Pháp và cả sau này nữa, lăn lộn hoạt động ở Tây Nguyên, có thể nói ít có ai hiểu biết sâu sắc hơn anh về thiên nhiên, văn hóa và con người Tây Nguyên. Cũng không ai có một tình yêu nồng nàn đến thống thiết bằng anh cái vùng đất và người vô cùng quan trọng này của Tổ quốc. Anh như cuốn từ điển sống về Tây Nguyên, tuy vậy đã có lúc nhiều lời khuyên và cảnh báo sáng suốt của anh đã không được lắng nghe để tránh những  chính sách bất cập một thời ít nhiều là nguồn gốc những bất ổn đáng tiếc ở đây.
Nguyên Ngọc cũng là người từ rất sớm đã nhận ra nguy cơ suy đồi văn hóa dẫn đến bất ổn nhiều mặt của xã hội, kể cả kinh tế, chính trị. Chính qua anh tôi mới hiểu hết tầm vóc của chủ trương cứu nước của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Mà trong văn hóa, quan trọng nhất là giáo dục. Còn nhớ đầu năm 2004, trước tình hình suy sụp kéo dài của giáo dục khiến toàn xã hội lo lắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có khuyến khích tôi đứng ra tập hợp một số anh em trí thức trong và ngoài nước để cùng nhau bàn bạc, trao đổi tìm ra giải pháp cấp bách chấn hưng giáo dục. Anh Nguyên Ngọc đã là một trong những người hưởng ứng nhiệt thành nhất công việc này, tham gia đều đặn và tích cực 5 buổi làm việc nghiêm túc, từ 8 giờ sáng đến trưa không ngưng nghỉ, của nhóm trong khoảng từ tháng 2 đến tháng 5 – 2004. Kết quả là một bản kiến nghị tâm huyết “ Chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa giáo dục là mệnh lệnh cuộc sống” của 24 trí thức gửi lên Trung ương  tháng 6 – 2004. Mặc dù biết trước không thể kỳ vọng nhiều ở khả năng thay đổi của giáo dục, nhưng chúng tôi cũng được khích lệ bởi thái độ tiếp nhận khá tich cực từ phía Bộ trưởng Giáo dục và Thủ tướng Chính phủ lúc đó. Còn dư luận xã hội thì đương nhiên hưởng ứng nhiệt liệt, vì lần đầu tiên nhiều bức xúc khó nói được giải tỏa, đặc biệt nguyên nhân sâu xa níu kéo giáo dục trong trì trệ lạc hậu triền miên, và những vấn đề cốt lõi thuộc hệ tư tưởng lâu nay bất khả tranh luận được nêu ra thẳng thắn và phân tích nghiêm túc nhằm hướng tới một nền giáo dục lành mạnh, trung thực, hiện đại, phù hợp trào lưu tiến hóa chung của nhân loại và đáp ứng mục tiêu tối thượng của dân tộc: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Tuy nhiên từ 2005 trở đi tình hình giáo dục chuyển dần theo hướng khác, chẳng những các căn bệnh trầm kha không giảm bớt, mà xuất hiện thêm những xu hướng tiêu cực mới khiến giáo dục vẫn tiếp tục tụt hậu, tệ hơn vẫn tiếp tục lạc điệu với thế giới mặc cho những cố gắng đầu tư của Nhà nước và nhân dân, cùng với nỗ lực phấn đấu của đội ngũ nhà giáo các cấp. Cùng với những khó khăn kinh tế tăng lên, ngày càng sáng tỏ sự thật đã được nêu lên trong bản kiến nghị là nguyên nhân sâu xa của những sai lầm, tiêu cực, bất cập của giáo dục chính là triết lý lỗi thời của nó. Đó là khuyết tật cấu trúc, đó là sai lầm hệ thống mà không chỉnh đốn thì giáo dục mãi mãi không vươn lên nổi, mãi mãi hụt hơi trong cuộc đấu tranh sinh tồn của dân tộc.
Là con người hoạt động không biết mệt mỏi, anh Nguyên Ngọc luôn sẵn sàng dấn thân, xông pha vào những việc đúng, dẫu biết khó khăn muôn trùng.  Mấy năm nay phần lớn tâm trí và nghị lực của anh dành cho việc xây dựng lại Trường đại học Phan Châu Trinh. Số là trong quá trình thảo luận đi tới bản kiến nghị giáo dục năm 2004, nhiều anh em chúng tôi nảy ra ý kiến nên có một đại học mới thực hiện những ý tưởng mới về triết lý giáo dục.  Anh Nguyên Ngọc lập tức đứng ra vận động thành lập một trường như vậy và nhờ sự ủng hộ nhiệt thành của lãnh đạo tỉnh Quảng Nam lúc đó, Trường đại học Phan Châu Trinh đã ra đời, sau ba năm chờ đợi vất vả mỏi mệt. Thật không may chúng tôi đã đánh giá quá thấp tất cả khó khăn thực tế đẻ ra từ môi trường xã hội, thể chế quản lý, với cả núi những hệ luận tiêu cực có thể làm nản lòng bất cứ ai, dù can đảm dấn thân đến mấy. Riêng tôi cảm thấy có lỗi, dù hết sức muốn góp phần cùng anh vượt lên mọi trắc trở để thực hiện sự nghiệp bất vụ lợi có ý nghĩa khai sáng cao quý này, nhưng lực bất tòng tâm. Không ngờ chỉ nhằm mục đích góp phần chấn hưng giáo dục trong một xã hội đã có truyền thống văn hiến lâu đời mà khó khăn đến như vậy. Cho hay xã hội nhiễu nhương, văn hóa suy đồi, kinh tế lụn bại, tất cả những tai họa ấy bao giờ cũng đồng hành, mà kết quả cuối cùng, nếu không kịp tỉnh ngộ để chấn chỉnh, như thế nào ai cũng biết và chắc không người Việt nào mong muốn.
Những người như anh Nguyên Ngọc hành động là vì họ không thể chấp nhận cái viễn cảnh đen tối đó để con cháu chúng ta sau này oán giận thế hệ đi trước đã không biết giữ nước cả và trước hết trên mặt trận văn hóa, giáo dục. Đất nước còn có những người như vậy, thì chúng ta vẫn có quyền hy vọng,  dù đôi khi cũng cảm thấy, nói như nhà văn Bảo Ninh, trời đất đen sầm, sự thế vô phương.
GS Hoàng Tụy

Sự thật giá rẻ?

Cả ngày hôm nay mình ám ảnh nụ cười của Khương trong tòa án mà phóng viên chụp được. Nụ cười rất hiền, dịu dàng và quyến rũ. Nụ cười của người biết mình đang ở đâu, đã làm gì và cái gì đang chờ đợi bạn. Không chứa đựng một tia hy vọng nhưng cũng không hề thấy một sự thất vọng trong nụ cười và gương mặt ấy…Với mình bạn đã chiến thắng.

Những người dấn thân đi tìm sự thật ở một đất nước có quá ít sự thật và sự thật luôn bị che dấu đã tự nhận về mình những nguy cơ đầy tiềm ẩn cho an nguy của mình. Chính thế nghề báo tự thân đã hàm chứa lòng can đảm, dấn thân, hy sinh vì khao khát tìm ra sự thật và nói lên sự thật. Khương là số ít nhà báo đã làm được điều đó, dám làm điều đó. Bạn đã đổi tự do của mình để vạch mặt ít nhất được một kẻ sâu mọt – một cái giá không hề rẻ. Nhưng sự thật có bao giờ là giá rẻ? 

Mới đây thôi dân cư mạng sôi sục vì cái án 4 năm tù cho trung tá Nguyễn Văn Ninh do tội đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng chỉ vì cái mũ bảo hiểm. Một mạng người chỉ đổi bằng cái án 4 năm. Sự thật vụ án hiển nhiên như thể ban ngày thì không cần thắp đèn đọc sách. Nhưng Kim Tiến, con gái ông Tùng, đơn độc một mình chiến đấu lại cả bộ máy hành pháp, tư pháp đồ sộ để chỉ nói lại sự thật, và cô đã không thể chiến thắng. Sự thật trong vụ án này đã bị chà đạp, đã bị làm nhục. Kẻ chiến thắng có tên là tội ác. 

Cách đây chưa lâu, một cô gái đã bị chín tháng tù vì tát cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ. Cô bé còn rất trẻ, nông nổi, nóng nảy, thiếu suy nghĩ. Cô bị đưa ra tòa và bị kết án dù khóc như mưa, rồi xin lỗi, ân hận…Một cái tát đổi 9 tháng tù giam so với một mạng người là 4 năm. Mạng người quá rẻ so với cái má anh cảnh sát. Sự thật đã bị phóng đại lên quá lớn.

Cách đây mấy năm, anh Nguyễn Công Nhật cũng đến trụ sở công an rồi không trở về. Gần đây đã có kết luận của cơ quan điều tra: Anh Nhựt treo cổ chết vì ân hận? Một người đang làm việc bình thường, có một người vợ để yêu thương, một gia đình ấm cúng, cớ sao ân hận đến mức treo cổ, mà lại treo cổ trong cơ quan công an? Sự thật này mãi mãi được bao che chôn vùi trong bóng tối, trừ khi có phép màu khiến anh Nhựt tái sinh và kể lại.

Gần đây nhất, một người dân vào trụ sơ công an xã đã bị đánh chết chỉ vì mâu thuẫn nho nhỏ với hàng xóm. Bốn công an xã đã bị bắt. Sắp tới hãy chờ xem bản án dành cho bốn người này. Để xem sự thật có đúng là sự thật?

Khi kết án Khương, nhà giam mất 4 năm để cầm giữ bạn. Khương cũng mất ngần ấy năm tự do. Nhưng chính thể sẽ mất rất nhiều năm để xóa đi vết nhơ đã tự gây ra như các vụ án trước đây.

Bốn năm án tù cho Khương nghe thì dài nhưng cũng nhanh thôi để bạn trở lại với nghề cầm bút. Thời gian đó đủ để bạn chiêm nghiệm về một thời khốn khổ, tang thương của lũ cầm bút chúng ta. Hãy ngẩng cao đầu đi Khương. Hãy giữ nụ cười hiền và tĩnh tại như khi bạn đến tòa án. Và quan trọng khi trở về, bạn có còn nhuệ khí, dũng cảm để cầm lại cán bút mà lúc đó sẽ trở nên quá nặng nếu bạn không vượt qua được nỗi ám ảnh?

Và bản án này có phải là thông điệp của chính quyền đưa ra cho những người cầm bút không chịu cúi đầu – những người muốn tìm hiểu sự thật, đi đến cùng sự thật? Họ muốn những người cầm bút nên mua sự thật với cái giá rẻ mạt do họ chào mời?

Và, bạn bè của tôi…Các bạn coi đây là tấm gương nên tránh hay là lúc trầm tĩnh lại, chuẩn bị cho mình tư thế để chấp nhận cuộc chơi với thứ “quyền lực thứ tư” đầy mạo hiểm với rất ít sự bảo hiểm cho an toàn cá nhân và gia đình?


HẬU VỤ XỬ PV HOÀNG KHƯƠNG: MẤT MÁT VÀ ĐỔ VỠ
Mai Thanh Hải
Sự đổ vỡ của những thứ to lớn - thành trì, hầu hết đều bắt nguồn từ những sự việc - hình ảnh nhỏ nhoi, giản đơn như thế này. Khái niệm "niềm tin và hy vọng", từ những năm chiến tranh, mà mình dễ gặp lại nhất khi xem lại những hình ảnh tư liệu trong video clip bài hát "Hà Nội - Niềm tin và hy vọng", vốn đã đổ vỡ, chỉ còn chút móng lung lay, hôm nay cũng sụp xuống, cùng sự thất vọng chảy tràn trên gò má nhăn nheo của người Cha đã sinh ra đồng nghiệp. "Ác độc và không có tính người!" - Ai đó nó vậy hơi quá, nhưng quả thật dửng dưng dìm con người ta vào con số 4, mặc cho người mẹ đang hấp hối trong Bệnh viện, Cha già yếu và vợ con bệnh tật - nhỏ nhoi... thì chỉ ngày hôm nay, người ta mới gặp được, trên đất nước này. Bảo vệ và xây dựng chính thể - chế độ không chỉ đơn thuần là việc xếp gạch xây nhà, trộn xi măng trát vữa, mà quan trọng hơn cả là niềm tin - sự đồng thuận, góp sức từ trong tinh thần, tâm tưởng cho sự tồn tại, đứng vững của mọi quyết sách - cách hành xử. Nếu niềm tin mất mát và sự hy vọng đổ vỡ, từ những người dân bình thường nhất, những người cầm bút hay được gán là "chiến sĩ bảo vệ mặt trận văn hóa - tư tưởng" nhất, thì việc đổ vỡ của những điều lớn lao là hiển nhiên, không thể chối cãi... Giữ gìn chế độ - chính thể, không thể bằng những cách phi lý và độc ác, như thế này!.

Kinh tế học trong vụ án Hoàng Khương

Cha của nhà báo Hoàng Khương

Ai sẽ làm hiệp sĩ? Ai sẽ ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng? Đây là câu hỏi, từ ngày hôm nay sẽ không có câu trả lời.
Cuối năm ngoái, sau hàng loạt những quy định, nào là CSGT không được mang kính đen, không được “anh hùng Núp”, CA TP đặt ra một quy định nghe rất tức cười: CSGT không mang theo quá 100 ngàn đồng tiền mặt lúc làm nhiệm vụ. Thậm chí, một lãnh đạo CSGT còn nói: Trong trường hợp, CSGT muốn mang theo tiền để sau khi hoàn thành nhiệm vụ đi xử lí việc cá nhân thì số tiền đó phải niêm phong và có chữ kí của lãnh đạo Đội CSGT.

Quy định này đã lâu rồi mà giờ nhắc đến không thể nhịn cười vì sự ngộ nghĩnh, nhảm nhí và ngớ ngẩn của nó. Liệu cần có một lực lượng “Cảnh sát ví” để thực thi mệnh lệnh này? Và liệu sẽ phải có thêm quy định “Cảnh sát ví” không mang theo quá 100 ngàn khi kiểm soát ví?

Hồi HĐND TP Hà Nội tổ chức kỳ họp thứ 3, PGĐ CA TP Hà Nội Lưu Quang Hợi bình luận về tính hiệu quả của “quy định 100 ngàn” này như sau: Chúng tôi không khám người nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện có sự giám sát giữa đồng chí, đồng đội với nhau và có quy trình trong công tác được duyệt qua các Tiểu đội. Chúng tôi theo dõi, nói chung là có hiệu quả, ngăn chặn được nhiều hiện tượng tiêu cực. Chúng tôi chưa thống kê những trường hợp vi phạm nhưng, nói chung là có hiệu quả, chưa có trường hợp nào vi phạm.

Câu trả lời đá đấm nhau loạn xạ, quả thực cũng hồn nhiên và hài hước y như quy định 100 ngàn.

Nói đi nói lại, tiêu cực trong lực lượng CSGT bị phát hiện hầu hết là từ báo chí với “nghiệp vụ” rất đơn giản: Giả người vi phạm đưa tiền. Sau đó đưa lên báo.

Đến hôm qua, không ít các phóng viên điều tra đã tái mặt sau khi án văn tuyên ra con số 4 (năm tù) cho Hoàng Khương, một trong vô số các nhà báo, rất đơn giản: “Đưa tiền, sau đó đưa lên báo”.

Vụ án Hoàng Khương, dưới giác độ kinh tế, có thể nói là xoay xung quanh con số 15 triệu đồng. Cấu thành vật chất của tội nhận hối lộ là (của đưa hối lộ) có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên. Chẳng hạn, nếu Hoàng Khương chỉ đưa 1,9 triệu, thì anh không đến nỗi phải ra tòa. Nhưng với lạm phát liên tục ở mức 2 con số, 2 triệu đồng giờ chỉ “đủ” cho lỗi đèn đỏ, sai làn, vượt tốc. Chẳng hạn Hoàng Khương có ý định “cứu xe” vi phạm với chỉ 1,9 triệu, không khéo anh đã bị viên cảnh sát lập biên bản, còng tay ngay lập tức vì tội…đưa hối lộ.

Bởi vậy, 15 triệu là số tiền cần và đủ, theo yêu cầu của viên cảnh sát, để có thể “cứu xe”, và dù không phải tiền túi của Khương, cũng là đắt đối với nhuận bút của hai bài điều tra. Nhưng cái giá đắt nhất cho 15 triệu và 2 bài điều tra chống tiêu cực mà Hoàng Khương phải trả là một kết cục không thể tồi tệ hơn: Gần 1.500 ngày tù, chính xác là 1460 ngày.

Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại. Có lẽ nếu được chọn lại, tôi tin Hoàng Khương sẽ không bao giờ chọn làm PV điều tra, thậm chí, không bao giờ làm nghề báo.

Cái giá mà Hoàng Khương phải trả cho sự ngây thơ vào “niềm tin công lý” của anh hôm nay, có lẽ cũng là một gáo nước lạnh cho những đồng nghiệp còn mơ ngủ của anh, bởi rất đơn giản là hầu như tất cả các nhà báo từng điều tra về mãi lộ đều đã “phạm tội”, chỉ là “chưa bị lộ”, bởi ai cũng từng phải “tay phải đưa tiền, tay trái thủ máy ghi âm”. Không đưa tiền thì làm sao chống được tiêu cực? Làm sao trả lời “cơ quan chức năng” câu hỏi to đùng “Bằng chứng đâu?”.

7 năm trước, sau buổi nói chuyện “hậu sự” về vụ PMU18 tại trụ sở Hội nhà báo, nhất là sau Hội nghị báo chí toàn quốc ở Quảng Ninh, những nhà báo điều tra kinh nghiệm nhất, lành nghề nhất, thiện chiến nhất (và có cái mũi thính nhất) ở hầu hết các tòa báo đã “quăng bút”, chuyển mảng công việc. Có khi chỉ bởi cái giá phải trả là quá đắt, so với đồng tiền cơm áo vẫn lĩnh ở tòa soạn, hoặc đơn giản hơn, trong khi nhuận bút ngày càng bèo thì tiền tiêu cực, để thực hiện điều tra- ngày càng cao.

Vậy thì ai sẽ làm hiệp sĩ? Ai sẽ ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng?

Đây là câu hỏi, từ ngày hôm nay sẽ không có câu trả lời.

Một án văn nhân danh nhà nước không thể không xem xét đến cái lợi, cái hại. 1.500 ngày tù, về tội đưa hối lộ- cho một nhà báo điều tra chống tiêu cực, sẽ được cái lợi gì?

Cái lợi, thực ra là rất khó nhìn thấy, trừ phi sự trả đũa, đòn rằn mặt sự thật và những ai có ý định công bố sự thật- cũng “nhân danh nước cộng hòa”- được coi là một cái lợi.
Đào Tuấn

Thứ Sáu, ngày 07 tháng 9 năm 2012

Bẫy Việt Vị của Thủ Tướng


Ủy ban Tài chính của Quốc hội cần yêu cầu Ngân hàng Nhà nước công bố danh sách các tổng công ty, tập đoàn nhà nước đã mở tài khoản và ồ ạt chuyển một lượng tiền lớn vào VietCapital Bank ngay sau khi con gái của Thủ tướng, bà Nguyễn Thanh Phượng, thôn tính ngân hàng này từ tên gốc của nó là Gia Định. Những con số ấy có thể là một ví dụ thú vị về “lợi ích nhóm” mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc tới trong đợt kiểm điểm theo Nghị quyết Trung ương Bốn. Nhưng, quan trọng hơn, Quốc hội cần biết công cụ chủ đạo của nền kinh tế đang được sử dụng như thế nào.
Kinh Doanh Đa Ngành
Ý tưởng thành lập tập đoàn không chỉ đến từ thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng, cần có đủ thông tin để phân biệt mô hình tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng với mô hình tập đoàn áp dụng từ những người tiền nhiệm.
Năm 1994, khi những nỗ lực phát triển kinh tế tư nhân chững lại vì bị các nhà lý luận “cánh tay phải” của ông Đỗ Mười như Đào Duy Tùng, Nguyễn Hà Phan, Nguyễn Đức Bình, coi là chệch hướng. Sau Hội nghị giữa nhiệm kỳ, 1-1994, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký hai quyết định thành lập tổng công ty 90, 91. Trong đó, quyết định 91 có nói đến “thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh”.
Ý tưởng thành lập tập đoàn là từ ông Đỗ Mười với quan niệm nền kinh tế cần những quả đấm thép. Nhưng cả ông Kiệt và nhiều ủy viên bộ chính trị đều tán thành. Lúc ấy, hơn một nửa ủy viên bộ chính trị đã được đưa tới Hàn Quốc tham quan và gần như ai cũng choáng ngợp mô hình Cheabol của họ.
Nhưng, từ 1994 cho đến 2005, chưa có tập đoàn nào được thành lập theo quyết định 91. Cuối nhiệm kỳ thứ II, Thủ tướng Phan Văn Khải cho lập 3 tập đoàn: Ngày 26-12-2005, tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam; Ngày 09-01-2006, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông; Ngày 15-5-2006, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin.
Thủ tướng Phan Văn Khải thừa nhận, ông là người quyết định cho Vinashin vay 700 triệu USD từ tiền bán trái phiếu chính phủ. Ông Khải cho rằng, Việt Nam, một nước có hơn 3000 km bờ biển không thể không phát triển ngành vận tải biển. Suy nghĩ về tiềm lực biển của ông Phan Văn Khải không sai nhưng đầu tư bằng tiền cho quốc doanh không phải là một cách làm tốt. Nhưng, sự sụp đổ của Vinashin bắt đầu từ khi tập đoàn này được phép kinh doanh đa ngành.
Trước Đại hội Đảng lần thứ X, ông Nguyễn Tấn Dũng được giao làm Tổ trưởng biên tập báo cáo kinh tế của Ban chấp hành Trung ương trước Đại hội. Ông đòi ghi vào báo cáo chủ trương cho doanh nghiệp nhà nước được kinh doanh đa ngành. Các thành viên trong tổ phản đối vì điều này ngược với quan điểm phát triển doanh nghiệp nhà nước xác lập từ thời thủ tướng Võ Văn Kiệt.
Thay vì tiếp thu, ông Nguyễn Tấn Dũng đã viết ra giấy, buộc các thành viên trong tổ phải ghi vào Báo cáo kinh tế nguyên văn: “Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có một số ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối”.
Nguyễn Tấn Dũng nhận chức thủ tướng ngày 27-6-2006. Ngày 29-8-2006, ông cho ngành dầu khí được nâng lên quy mô tập đoàn; Ngày 30-10-2006 ông cho thành lập thêm Tập đoàn Công nghiệp Cao su… Tốc độ thành lập tập đoàn có chững lại sau khi ông Võ Văn Kiệt khuyến cáo tính ít hiệu quả của mô hình này trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 26-7-2007.
Ông Võ Văn Kiệt mất gần 11 tháng sau đó và từ đó cho đến năm 2011, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đẩy con số tập đoàn từ 5 lên tới 13. Nhưng, không phải số lượng các tập đoàn mà số lượng ngành nghề mà các tập đoàn này được làm mới là nguyên nhân đẩy các doanh nghiệp nhà nước và nền kinh tế đến bên bờ vực. Rất nhiều tập đoàn có ngân hàng, công ty tài chính và chúng ta có thể nhìn thấy đất của Vinashin ở sâu trong đất liền và hầu như không có tỉnh nào không có một tòa PetroLand mọc lên dưới thời Đinh La Thăng.
Đại Nhảy Vọt
Không có một vị thủ tướng nào thừa kế một cơ ngơi có thể ngồi mát ăn bát vàng như Nguyễn Tấn Dũng: Tốc độ tăng trưởng cao, lạm phát thấp; lần đầu tiên Việt Nam có dự trữ ngoại tệ lên tới 23 tỷ đô la; đặc biệt, chính phủ Phan Văn Khải đã hoàn tất đàm phán để Việt Nam chỉ cần làm thủ tục kết nạp là trở thành thành viên WTO. Nhưng, ngôi nhà tưởng là vững chãi ấy đã bị đốt cháy chỉ hơn một năm rưỡi sau đó.
Thoạt tiên, khu vực kinh tế nhà nước được Nguyễn Tấn Dũng sử dụng như một công cụ để thúc đẩy tăng trưởng. Ông Phan Văn Khải nói: “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn tạo ra một thành tích nổi bật ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, muốn hoàn thành kế hoạch 5 năm chỉ trong 4 năm. Ngay trong năm 2007, ông đầu tư ồ ạt. Tiền đổ ra từ ngân sách, từ ngân hàng. Thậm chí, để có vốn lớn, dự trữ quốc gia, dự trữ ngoại tệ cũng được đưa ra. Bội chi ngân sách lớn, bất ổn vĩ mô bắt đầu”.
Thời Thủ tướng Phan Văn Khải, mỗi khi tổng đầu tư lên tới trên 30% GDP là lập tức Thủ tướng được báo động. Trước năm 2006, năm có tổng đầu tư lớn nhất cũng chỉ đạt 36%. Trong khi, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ngay sau khi nhận chức đã đưa tổng mức đầu tư lên 42% và đạt tới 44% GDP trong năm 2007. Năm 2006, tăng trưởng tín dụng ở mức 21,4% nhưng con số này lên tới 38,7% trong năm 2007. Kết quả, lạm phát cả năm ở mức 12,6%. Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã gần như hốt hoảng. Những cú shock được áp dụng sau đó đã làm cho nền kinh tế trở nên vô phương cứu chữa.
Đầu quý I-2008, khi con số lạm phát lên tới gần 3% mỗi tháng, thay vì chẩn bệnh để có phương thuốc đúng, Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã buộc các ngân hàng nâng mức dự trữ bắt buộc từ 10 lên 11%, các ngân hàng nháo nhào tìm kiếm thêm 20.000 tỷ khiến lãi suất qua đêm thị trường liên ngân hàng mấy ngày cuối tháng 1-2008 tăng vọt lên tới 27%, trong khi đầu tháng, con số này chỉ là 6,52%.
Ngày 13-2-2008, Ngân hàng Nhà nước lại ra quyết định, buộc các ngân hàng thương mại phải mua một lượng tín phiếu trị giá 20.300 tỉ đồng. Áp lực tiền bạc của các ngân hàng lên tới hơn 40.000 tỉ đồng đã làm náo loạn các tổ chức tín dụng. Các ngân hàng cổ phần buộc lòng phải tăng lãi suất huy động. Sự chênh lệch về lãi suất đã khiến cho các tổng công ty nhà nước rút tiền, đang cho vay lãi suất thấp ở các ngân hàng quốc doanh, gửi sang ngân hàng cổ phần.
Chỉ trong ngày 18-2-2008, các tổng công ty nhà nước đã rút ra hơn 4.000 tỉ đồng. Các ngân hàng quốc doanh, vốn vẫn dùng những nguồn tiền lãi suất thấp từ nhà nước đem cho các ngân hàng nhỏ vay lại. Nay thiếu tiền đột ngột, vội vàng ép các ngân hàng này, rút về. “Cơn khát” tiền mặt toàn hệ thống đã đẩy lãi suất thị trường liên ngân hàng trong những ngày này có khi lên tới trên 40%.
Lãi suất huy động tăng, đã khiến cho các ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay. Nhiều ngân hàng buộc khách hàng chấp nhận lãi suất cho vay 24 – 25%. Các biện pháp chống lạm phát của Chính phủ đã làm cho lạm phát ba tháng đầu năm 2008 lên tới 9,19%. Ngày 25-3-2008, ngân hàng Nhà nước lại khiến cho tình trạng khan hiếm tiền mặt thêm nghiêm trọng khi yêu cầu thu về 52.000 tỉ đồng của ngân sách đang được đem cho các ngân hàng quốc doanh vay với lãi suất 3%/năm.
Từ mức trên 1000, ngày 6-3-2008, chỉ số VN-index xuống còn 611. Cho dù Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cố dùng uy tín chính trị của mình để cứu vãn bằng cách tuyên bố rằng, “đầu tư vào chứng khoán bây giờ là thắng” vì VN-index đã xuống đến đáy. Nhưng, những ngày sau đó, VN-index liên tục lập đáy mới: Ngày 25-3-2008, 492 điểm; Ngày 5-12-2008, 299 điểm.
Chính những “đại gia” gần gũi thủ tướng nhất lại “chết” đau thương nhất vì họ đã từng được vay tiền dễ dàng, có dự án dễ dàng, kể cả các dự án trong khu vực chuẩn bị sáp nhập về Hà Nội. Từ năm 2008, mỗi năm các đại gia này đã phải chịu lãi suất 24-25%/ năm chưa kể những khoản lót tay, trong khi giá trị các dự án chỉ có thể bán được phân nửa so với thời 2007. Thay vì tìm một lối thoát cho nền kinh tế, đặc biệt là khu vực tài chính ngân hàng, giai đoạn tái cấu trúc ngân hàng, tái cấu trúc nợ lại là một cơ hội kiếm tiền cho nhiều đại gia thân hữu mới.
Tham nhũng chưa phải là vấn đề lớn nhất dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Chính phủ Thủ tướng Phan Văn Khải đã từng rất nỗ lực để tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng. Ban nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải đã sát cánh nhiều năm với Tổ thi hành Luật Doanh nghiệp. Hơn 500 loại giấy phép đã bị Thủ tướng Phan Văn Khải bãi bỏ. Khi ông Khải rời nhiệm sở, Tổ công tác tiếp tục đề nghị bãi bỏ thêm hàng trăm giấy phép con. Nhưng, thay vì ra quyết định, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã giải tán Ban nghiên cứu và để cho các loại giấy phép lại mọc lên như nấm.
Có lẽ một người được coi là bảo thủ như ông Đỗ Mười cũng không thể nào ngờ có ngày “hậu duệ” của mình lại ký lệnh tái độc quyền nhà nước đối với vàng. Nhà nước đã từng độc quyền vàng, những người sở hữu từ 2 chỉ trở lên từng bị coi là bất hợp pháp. Ngày 24-5-1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười ký Quyết định 139, cho phép tư nhân mở tiệm vàng với điều kiện chỉ cần ký quỹ 5 lượng. Chỉ sau hai tháng cả nước có tới 400 tiệm vàng. Quyết định của ông Đỗ Mười được đưa ra như là một giải pháp cộng hưởng để chống lạm phát.
Trong suốt 23 năm tồn tại của Quyết định 139 nền kinh tế chưa bao giờ đổ tội lạm phát cho vàng. Vậy mà bất lực trước khủng hoảng kinh tế, ngày 25-5-2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký nghị định 24, giành lấy quyền sản xuất vàng miếng cho nhà nước và buộc doanh nghiệp kinh doanh vàng miếng phải có vốn trên 100 tỷ đồng.
Lẽ ra ông Trương Đình Tuyển phải từ chức đứng đầu nhóm 13 người tư vấn sau khi một quyết định như thế ra đời. Bỏ qua các động cơ trục lợi, Nghị định 24 là vi hiến vì nó làm cho vàng miếng không phải SJC của người dân tự nhiên mất giá. Đặc biệt, nó đi ngược lại các cam kết WTO mà ông Tuyển đóng vai trò quyết định trong đàm phán.
Bẫy Việt Vị
Ngày 2-8-2011, trung tướng Nguyễn Đức Nhanh khẳng định trong một buổi họp báo: “Hà Nội không có chủ trương trấn áp người biểu tình”. Để rồi, ngày 18-11-2011, từ chỗ coi những người biểu tình chống Trung Quốc là yêu nước, Hà Nội ra thông báo vu cho người biểu tình là “gây rối Thủ đô”, là có “các thế lực chống đối trong và ngoài nước”.
Dân chúng nào biết, tác giả bản thông báo này là thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Phái viên của thủ tướng đặc trách an ninh, tôn giáo. Buổi tối trước khi bản thông báo được đưa xuống Hà Nội, Tướng Hưởng đã đưa đến nhà để Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp đọc duyệt. Cho dù không có quan chức nào ở Hà Nội chịu ký, bản thông báo và những “tác phẩm báo chí” bôi nhọ người biểu tình khác vẫn được phát trên các phương tiện truyền thông của Hà Nội. Từ đó, các vụ bắt bớ người biểu tình diễn ra khốc liệt liên tục vào các ngày chủ nhật.
Mấy tháng sau, trong khi chính quyền Thủ đô bị kiện và phải mang một gương mặt xấu trong mắt dân chúng, ngày 25-11-2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Quốc hội “sớm có luật biểu tình để nhân dân thực hiện quyền đã được ghi trong Hiến pháp”.
Cũng thời gian đó, trong khi chính phủ đang đứng trước nguy cơ bị truy vấn bởi món nợ tới hạn không trả được của Vinashin và nguy cơ sụp đổ của các ngân hàng, ông Nguyễn Tấn Dũng đã việt vị Quốc hội khi đăng đàn nói về biển đảo. Nguyễn Tấn Dũng đã khiến cho dân chúng tạm quên đi những vết thương kinh tế do ông gây ra khi trở thành chính trị gia đầu tiên của Hà Nội nói “Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa từ năm 1974”. Ngay cả Bộ chính trị cũng bị bất ngờ. Ông Dũng đã bí mật soạn bài diễn văn này, diễn đi diễn lại nhiều lần trước khi xuất hiện ngày 25-11-2011 trong phiên họp toàn thể được truyền hình trực tiếp.
Sau bài phát biểu ấy, nhằm chuẩn bị dư luận chống đỡ những đợt kiểm điểm trong nội bộ, thông tin bắt đầu được rỉ tai, “phe thân Tàu đang tìm cách chống ông Tấn Dũng”. Nhóm “13” hiện đã chuẩn bị theo đơn đặt hàng của ông Nguyễn Tấn Dũng một bài phát biểu về nhà nước pháp quyền.
Sau khi các đại gia gần gũi ông như Nguyễn Đức Kiên, Dương Chí Dũng, bị bắt; Trầm Bê ở trong tầm ngắm…, những ai nghĩ rằng ông Dũng đang hoảng sợ rất có thể sẽ mắc bẫy việt vị. Ông Nguyễn Tấn Dũng rất có thể lại xuất hiện như một nhà cải cách.
Huy Đức
Theo FB Huy Đức

Đất trời đã nổi giận

Những ngày cuối tháng 8  vừa qua đã chứng kiến nỗi  kinh hoàng của người dân Trà My Quảng Nam trước nguy cơ vỡ đập Sông Tranh 2, sau khi xảy ra sự cố thấm, nứt  và nước chảy ồ ạt ra phía hạ du tại đập chính, ngay giữa mùa lụt bão.
Bên trong thủy điện Sông Tranh 2

Các ngành chức năng đã đổ xô đi “xây dựng phương án ứng phó thảm họa vỡ đập”, phương án mà ngay cả những người  chức trách cũng nhìn nhận “phải có thời gian khảo sát nghiên cứu tính toán kỹ lưỡng nên chưa thể hoàn thành trong năm 2012”.

Thủy điện Sông Tranh 2 có hồ chứa lớn nhất khu vực miền Trung, diện tích lưu vực 1.100km2, lưu lượng hồ chứa khoảng 730 triệu m3 nước.Công trình có ảnh hưởng trực tiếp đến vùng hạ du của 7 địa phương gồm Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Nông Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn và cả  thành phố cỗ Hội An.

Theo dư luận báo chí  và nhận định của người dân  tại chỗ thì  đây là “ bài học đắt giá nhất cho những ai có trách nhiệm. Nếu họ biết đặt lợi ích của người dân lên trên hết thì đã không mắc sai lầm tương tự như vậy. Thảm họa có khả năng xảy ra với thủy điện Sông Tranh 2 chắc chắn là nhân tai chứ không phải thiên tai ” .

Chưa hết bang hoàng  trước thảm họa vỡ đập có thể xảy ra, thì liền sau ngày Quốc Khánh  khu vực thủy điện Sông Tranh 2 lại rung chuyển mạnh.Cùng với những đợt rung chuyển là những vụ  nổ trong lòng đất. “Những tiếng nổ kinh hoàng giữa đêm tối, nhà cửa rung bần bật, cả thị trấn bỗng nhốn nháo, hàng ngàn người dân đổ ra đường suốt đêmĐiều đáng lo ngại là vụ động đất xảy ra ngay khu vực thủy điện Sông Tranh 2 – nơi đang có những vấn đề còn băn khoăn về sự an toàn của đập tích nướcTiếng nổ như ai đánh bom sát tường nhà. Ly, tách trên bàn đổ ầm xuống đất. gạch ngói vỡ nát đổ ập xuống trước sân nhà, tường gạch dày 15cm cũng bị đổ. Nghe tiếng xe chạy ngoài đường cứ ngỡ tiếng nước ầm ào từ thủy điện Sông Tranh đang ùa về. Toàn vùng mất điện khiến người dân càng hoang mang hơn”.

Chủ tịch huyện Bắc Trà My còn cho biết : “Khoảng 5 ngày trở lại đây ở Bắc Trà My liên tục có hiện tượng rung, nhưng đây là trận rung lắc mạnh nhất từ ngày thủy điện Sông Tranh 2 tích nước đến nay. Người dân rất lo lắng.Thế nhưng Trưởng Ban quản lý dự án thủy điện 3 vẫn  cho rằng chưa có dấu hiệu gì ảnh hưởng đến công trình thủy điện, tuy… chưa có kết quả  thu thập số liệu từ các máy đo động đất”.

Chưa có kết quả đo đạt mà dám nói là chưa có dấu hiệu gì ảnh hưởng đến công trình thủy điện thì thật là…nói cho lấy được !

.Người dân còn cho biết  “có mấy chuyên gia động đất ở Hà Nội nói rằng rung chuyển là do đất bị kích thích vì tích nước để làm thủy điện, sau này sẽ giảm dần và hết. Nhưng giảm mô không thấy,  chỉ  thấy ngày càng mạnh hơn lại còn nổ nữa ”. Có người còn nhắc : “Hồi tháng 10-2011, đã có rung chấn xảy ra lần đầu, và nhiều người đã cảnh báo hiện tượng trượt đất, nhưng  vẫn bị làm ngơ… Mấy cái Viện hay Bộ gì đó cứ hứa lấp máy đo đạt  hay máy nầy máy nọ mà chẳng thấy làm.. Hiện nước trong lòng hồ vẫn ở dưới mực nước chết (cao trình dưới 140m), mưa ít, nước về hồ không nhiều.Liệu khi nước đầy mà có động đất tiếp thì mọi việc sẽ ra sao”.. .          

          Giám đốc “Trung tâm báo tin động đất và cảnh báo sóng thần” cho biết “xu thế động đất ở khu vực này chưa giảm khi trận sau có cường độ lớn hơn trận trước và xảy ra nhiều hơn…. Chấn tâm động đất không phải chỉ nằm trong khu vực hồ chứa mà có trận xảy ra ngay trong hồ chứa, có trận sau hồ chứa. Như vậy có khả năng là nước ở hồ thủy điện thấm theo đứt gãy làm cho hoạt động của đứt gãy phức tạp hơn”… 

Vậy  mà  hôm qua, 05/9/2012, Bộ Trưởng  Bộ Xây Dựng VN thông báo đã “kiểm tra” mọi thứ, từ “hiện trạng thi công  tại đập, các hư hõng có thể ảnh hưởng đến độ an toàn của đập, công tác quản lý, vận hành, điều tiết duy tu bảo dưỡng”… để đi đến kết luận : “về an toàn của đập cho phép tích nước trở lại“.

“Kết luận về an toàn cho phép tích nước  trở lại”, nhưng  Bộ trường  lại yêu cầu “đơn vị chủ quản công trình cần hoàn thành một số việc mà phía tư vấn độc lập yêu cầu để…quá trình vận hành khai thác công trình đảm bảo an toàn”. “Hội đồng nghiệm thu nhà nước phối hợp với Bộ Công thương cần vào kiểm tra tình hình”! Như vậy thì các trò  quen thuộc  “kiểm tra kiểm tra, kết luận kết  luận” lại cứ tiếp diễn như trong nhiều chục năm qua.

Đến đây không ai không nhớ tới thảm họa động đất và sóng thần ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima ở Nhật.Nhưng  người ta cứ cố sống cố chết  duy trì dự án nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận. Mà không cần trưng cầu ý dân như nhiều nước đã làm, cũng không cần đưa ra thảo luận.sâu rộng  trong nhân dân, bất chấp những cảnh báo của nhiều chuyên gia Việt Nam có uy tín hiện đang làm việc ở nước ngoài.

Không biết giữa các lãnh đạo, chuyên gia  ở đây và ở Nhật , ai hơn ai, về tài năng và tinh thần trách nhiệm  . Nhưng theo nhân định chung  của nhân dân Nhật thì lãnh đạo của họ luôn nói dối về  thảm họa  ở Fukushima.Trước thảm họa , sau thảm họa đều nói dối.Nói dối rồi xin lỗi, xin lỗi rồi nói dối tiếp. Còn ở đây thì trong tự điển hình như không có hai tiếng xin lỗi…

         Theo trí nhớ của nhiều người  thì hằng trăm năm qua, người dân từng sống ở đây chưa hề thấy Hà Nội , Sài Gòn rung chuyển khiến cư dân phải chạy ra đường như cách đây  mấy năm. Và bây giờ thì mặt  đất Trà My xứ Quảng  phải tức giận đến nổ tung rung chuyển.Tại sao ? Tại vì người ta cứ liên tục không ngừng dối gạt và chọc giận người dân thì làm sao đất trời không nổi cơn thịnh nộ cho được.

Đã có người ở Lâm Đồng  hết chịu nỗi phải ra tận Hà Nội để hỏi : “Người Việt Nam  chúng ta đâu có thiếu lao động phổ thông, nhưng tại sao các dự án bôxit trên Tây nguyên lại toàn lao động Trung Quốc?”.Và nhiều người khác cũng đã  hỏi : “Tại sao bao nhiêu công trình trọng điểm, chiếm  toàn những vị trí xung yếu yết hầu của đất nước, lại dồn hết cho các công ty Trung Quốc” ?

Lòng dân là lòng trời.Đã tới lúc phải ăn ở thật lòng  với dân, và đuổi cổ hết bọn giặc ngoài, dù chúng ẩn núp ở đâu..Đừng tiếp tục  chạy theo tham vọng lợi quyền  và dối gạt chọc giận người dân nữa . Để đừng chọc giận trời dất. Và để sau cùng không phải nghe tiếng thét  : CÚT. /.

( 06/9/2102,HNN )
Hồ Ngọc Nhuận

Cái lưng còng người Việt

Sự tình tồi tệ của tình trạng kinh tế khiến cho chất lượng đồng tiền liên tục suy giảm. Và nói đến câu chuyện thuế phí cao ở mức nhất nhì thế giới, không thể không nói đến yếu tố mang tính chất nguyên nhân: Chi ngân sách và nợ công gia tăng đến mức bất hợp lý
Câu chuyện thuế, phí “đổ lên đầu” người Việt Nam cao nhất khu vực, hơn cả Phi, In, Thái, Trung hàm chứa trong nó 2 sự mỉa mai khác: Phải đóng cao nhất khu vực cũng là cao nhất thế giới. Trong khi, theo lời TS Lê Đăng Doanh mức thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam thấp nhất so với Phi, In, Thái, Trung…Thấp nhất khu vực.

Nếu tính toán trong phạm trù thu- chi, câu chuyện sẽ “thảm họa” hơn rất nhiều: Những thường dân có mức thu tồi tệ nhất nhì thế giới đang phải đóng thuế, phí cao và nhiều nhất nhì thế giới. Và sự cao, sự nhiều, không chỉ là chuyện hơn kém mà việc phải chịu “thuế lạm phát”, hàng năm ở mức hai con số- thì những chính sách bảo hộ và thuế chồng lên thuế đang khiến mỗi người dân Việt Nam gánh chịu tỷ lệ thuế phí/GDP cao gấp từ 1,4 đến 3 lần so với các nước khác trong khu vực.

Cái lưng người Việt, nghĩ cho cùng, quả thật là dẻo dai.

Nhớ lại trong phiên thảo luận tại Quốc hội sáng 7-6, đại biểu QH Trần Du Lịch khẩn khoản xin giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 25% xuống còn 20% khi khoản thuế, cũng cao nhất nhì thế giới này, đang được cho là chiếc kìm sắt bóp chết khả năng cạnh tranh của DN Việt Nam, và hiện tại, đang giống như chiếc thòng lọng làm cho con số DN “chết mà không được chôn” đang liên tục gia tăng.

Nhưng chuyện nói, rồi cũng chỉ là đàn gẩy tai trâu.

Có hai ví dụ đang được nói đến như những câu chuyện thời sự kinh điển: Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng. Và Thuế thu nhập cá nhân.

Hiện mỗi lít xăng dầu phải ở Việt Nam đang phải còng lưng gánh 12% thuế nhập khẩu, 10% thuế VAT, 1.000 đồng phí giao thông, 1.000 đồng trích trả nợ tiền bù giá ngân sách, 200 đồng trích quỹ bình ổn. Và oái oăm nhất là 10% thuế tiêu thụ đặc biệt, sự vô lý mà một tờ báo giật tít rằng: Xăng cũng bị đóng thuế như rượu. Tổng cộng, có đến 6.500 đồng thuế, phí, tức là gần 40% giá trị mỗi lít xăng nhà nước bán ra cho dân chúng. Nói câu chuyện lợi ích nhà nước, lợi ích doanh nghiệp và lợi ích người tiêu dùng, vì thế, thật nực cười khi gần chín chục người tiêu dùng đang còng lưng gánh gánh nặng ngân sách ngay từ việc giản dị nhất là sáng sáng cưỡi xe máy ra đường.

Còn chuyện thuế thu nhập cá nhân, loại thuế lâu nay vẫn được coi là loại “bổ đầu dân chúng”, chẳng khác gì một thứ “thuế thân”- vẫn được bưng tai bịt mắt bằng những khẩu hiệu “đóng thuế là yêu nước”, hoặc tệ hơn- như lời phát ngôn của một quan chức Bộ Tài chính “Người nộp thuế không phàn nàn gì”.

Ngoài chuyện thuế, phí bổ đầu dân, ngày càng tăng, tỷ lệ thuận với tốc độ và tỷ trọng chi tiêu công, một nguồn thu khác cũng được đề cập trong báo cáo chính thức của Ủy ban Kinh tế Quốc hội. Đó là việc “bán nhà thuộc sở hữu nhà nước và chuyển quyền sử dụng đất”. “Về bản chất, việc làm này cũng giống như việc một cá nhân bán tài sản đi để chi tiêu. Khoản vay nợ của anh ta có thể giảm nhưng tài sản của anh ta cũng giảm tương ứng, tức là anh ta đã nghèo đi”.

Người dân đang nghèo đi. Đó là một sự thật không thể chối bỏ. Trong tình trạng: Tăng trưởng liên tục giảm. Lạm phát liên tục tăng. Thâm hụt ngân sách ngày càng trầm trọng. Nợ công tăng cao. Sự tình tồi tệ của tình trạng kinh tế khiến cho chất lượng đồng tiền liên tục suy giảm. Và nói đến câu chuyện thuế phí cao ở mức nhất nhì thế giới, không thể không nói đến yếu tố mang tính chất nguyên nhân: Chi ngân sách và nợ công gia tăng đến mức bất hợp lý.

Chừng nào sự bất hợp lý còn được nhìn nhận một cách lạc quan trong các báo cáo thì chừng đó, cái lưng của người dân Việt sẽ vẫn còn phải còng.
Đào Tuấn

Chỉ đạo sát sao?

Một loạt sự kiện vừa xảy ra khiến xã hội rúng động: đầu tiên vỡ lở chuyện làm ăn bê bối của Vinasshin, Vinalines, và gần đây là vụ bắt bầu Kiên, bắt Dương Chí Dũng, các vụ ồn ào về sát nhập ngân hàng, “nhóm lợi ích thâu tóm ngân hàng”…Dân tình bàn tác xôn xao, đưa ra nhiều giả thiết này nọ, ai là người quyết tâm chống lại nạn tham nhũng, dẹp nạn lợi ích nhóm với siêu quyền lực, làm trong sạch chính quyền…? Phe này, phe kia dân tình không hiểu lắm vì lâu nay tất cả chuyện chính trường đều nằm trong bí ẩn, bí mật và xa rời với sự hiểu biết của dân chúng. Người dân chỉ đo lường “công quả”, năng lực điều hành, cũng như thực tâm của các cấp quan chức lớn nhỏ thông qua những việc giản đơn giản như bữa cơm hàng ngày, túi lương xẹp lép nhanh hay lâu, cách hành xử với họ trong giao tiếp, xử lý hành chính. Và khi một việc đổ bể thì lúc này mới thấy “quyết tâm” của người đứng đầu chính phủ: chỉ đạo sát sao vụ này vụ kia, xử lý vụ kia vụ nọ mà không có “vùng cấm”, kiên quyết bắt ông này ông khác, cần xử lý nghiêm minh…Mặc dù tất tật những việc đó đều có thể ngăn chặn, giảm thiểu trong quá trình điều hành, quản lý, thanh tra, điều tra, bởi tất cả đều trong một guồng máy do một người, một nội các lãnh đạo ở tất cả các lĩnh vực xã hội. Tại sao không sát sao, không kiên quyết, không được tạo ra vùng cấm…trong quá trình làm việc?

-Những việc khiếu kiện đất đai: Sao không sâu sát chuyện qui hoạch, đền bù, lắng nghe nguyện vọng của dân để khỏi xử lý kiện cáo và dẫn đến bạo lực như đàn áp gây bất ổn xã hội?

-Vinashin: Quản lý Tập đoàn kinh tế lớn nhà nước chắc chắn không sát sao nên mới để món nợ hơn 4 tỷ đô la trong vòng có mấy năm để phải “kiên quyết” xử lý bắt giam cả bộ sậu ban giám đốc?

-Vinalines: Thua lỗ nặng mà vẫn đề bạt sang chức vụ cao tương đương để mấy tháng sau bị bắt? Rồi khi ông ta bỏ trốn mấy tháng và phải “kiên quyết” mới bắt lại được?

-Ông bầu Kiên và những việc làm “vô tiền khoáng hậu”: Dân có thể không biết, nhưng những nhà quản lý (ăn lương từ tiền thuế của dân) thì phải có trách nhiệm biết và biết rành rẽ từ nhiều năm qua. Và thủ tướng lúc này mới “giơ cao” chiếc búa quyền lực để ra lệnh bắt ông ta với thái độ “kiên quyết” xử lý và “không có vùng cấm” khi dư luận xã hội đã “no đủ” thông tin?

-Sau 3 tháng trốn chui lủi, giờ Dương Chí Dũng mới tra tay vào còng. Việc trốn thoát trước giờ G chỉ vài tiếng đã là một dấu hỏi? Và việc bắt được ông ta cũng gây nhiều nghi ngờ, bàn tán: muốn bắt thì bắt được ngay, còn không thì…Và lần nữa dân chúng lại được nghe rằng, thủ tướng chỉ đạo “sát sao” để pháp luật được thực thi?

-Còn những việc nào nữa sắp tới đây dân chúng sẽ được ghi nhận những “sát sao”, “kiên quyết”, “xử lý nghiêm minh theo pháp luật”, “không có vùng cấm” với những kẻ phạm tội…?

Đến khi tiền bạc đổ đi đâu không biết, kinh tế lụn bại, đời sống khó khăn, cực khổ, nợ nần chồng chất, lạm phát cao, nền kinh tế chắc còn lâu mới vực dậy được thì dân chúng không thể, không cần nói cám ơn với những “kiên quyết”, “sát sao”, “xử lý nghiêm”, “không có vùng cấm” kia được. Chuyện đó đương nhiên phải làm, phải là thế như mặt trời mọc ở đằng đông vậy.

Sự sát sao nhất là kiểm soát được tình hình để hiếm khi phải “chỉ đạo sát sao” việc ra lệnh bắt các quan chức tham nhũng, các đại gia, các nhóm lợi ích lũng đoạn và ra những lời tuyên bố “sát sao”, “kiên quyết” mà giờ đây dân chúng còn rất ít niềm tin.
Thùy Linh
Theo Thùy Linh blog

Thứ Năm, ngày 06 tháng 9 năm 2012

Xây cảng Lạch Huyện có phải là việc cấp bách?


Xây dựng cảng Lạch Huyện đang là đề tài thời sự trên nhiều diễn đàn, thu hút sự quan tâm của nhiều người, thuộc nhiều lĩnh vực. Nhiều nhà khoa học, trí thức tâm huyết với sự phát triển của đất nước cũng không muốn đứng ngoài cuộc, mặc dù đã nhiều lần đối với nhiều vấn đề hệ trọng tiếng nói của họ bị bỏ ngoài tai những người có trách nhiệm trong bộ máy công quyền. Lần này, thì có vẻ hơi khác, khi Bộ Giao thông Vận tải tỏ ra trân trọng ý kiến đóng góp, phản biện của nhiều nhà khoa học, đặc biệt là lãnh đạo Bộ đang tích cực thuyết phục, vận động Tổng hội xây dựng (thành viên của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam – VUSTA) ủng hộ đề xuất coi cảng Lạch Huyện là công trình cấp bách. Vậy thử xem cảng Lạch Huyện “cấp bách” đến mức nào?
Theo lẽ thông thường cấp bách là cần giải quyết gấp, giải quyết ngay một công việc nào đó, nếu không sẽ bỏ lỡ cơ hội hoặc sẽ phải chịu hậu quả do chậm trễ. Trong lịch sử nước nhà, ngay từ khi Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập ngày 25 tháng 8 năm 1945, có nhiệm vụ cấp bách là Chính phủ phải ra mắt chính thức trước quốc dân đồng bào và thế giới càng sớm, càng tốt, bởi vì, khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ 2, đồng minh sẽ vào Việt Nam để giải giáp quân đội Nhật. Nếu có khoảng trống quyền lực, không có chính quyền thì Việt Nam sẽ rơi vào vùng đất ủy trị, lúc đó Pháp nghiễm nhiên quay trở lại với tư cách nhận nhiệm vụ của Liên Hiệp Quốc. Hồ Chủ Tịch đã chọn ngày 2/9/1945 làm lễ Tuyên ngôn độc lập. Công việc cấp bách là Người tự tay soạn bản Tuyên ngôn, đồng thời chỉ thị cho thứ trưởng Bộ Tuyên truyền Nguyễn Hữu Đang cùng với kiến trúc sư khẩn trương xây dựng lễ đài và chuẩn bị công việc truyền thanh. Công việc cấp bách nói trên đã được Hồ Chủ Tịch và các cộng sự thực hiện một cách xuất sắc, ghi váo sử xanh của nước nhà.
Trong lĩnh vực đầu tư hạ tầng cơ sở, giải pháp cấp bách chỉ là phương tiện không phải là mục tiêu mà chỉ được ứng dụng trong trường hợp thực sự khẩn cấp nếu không có nó thì không thể hoàn thành chiến lược phát triển trong thời gian nhất định. Tuy nhiên cấp bách và cần thiết không phải lúc nào cũng đi đôi với nhau. Mặt khác, cấp bách cũng có ý nghĩa tiêu cực, thể hiện trạng thái bị động. Lẽ ra ta phải làm một việc cần thiết với một sự đầu tư căn cơ, bài bản, đúng quy trình,…nhưng do bị đẩy vào tình thế cấp bách nên dễ dẫn đến làm ẩu, làm cho xong để đối phó với tình hình cấp bách. Việc càng hệ trọng, càng phức tạp thì càng không nên làm trong tình thế cấp bách vì rủi ro rất cao. Ở nước ta, có rất nhiều dự án, công trình quan trọng vì mang danh thi đua chào mừng các ngày lễ lớn, được hoàn thành một cách “cấp bách” để rồi sau đó lại phải có các dự án khác rất tốn kém tiền thuế của dân để sửa chữa các hư hỏng kém chất lượng, hậu quả do làm ẩu của các công trình cấp bách!
Lý thuyết về quản trị chỉ ra rằng hiệu quả nhất và cơ bản nhất trong lập kế hoạch là ta phải làm những việc cần thiết nhất nhưng không phải trong tình thế cấp bách nhất. Còn kém hiệu quả nhất là khi ta làm những việc rất cấp bách nhưng chưa hoặc không cần thiết. Còn vừa cần thiết, vừa cấp bách thì cũng chỉ là cực chẳng đã mà phải làm!
Theo nghĩa này thì việc có làm hay không làm cảng Lạch Huyện không có tình huống khách quan bất thường . Cảng Lạch Huyện không phải đang trong thời chiến, hay bão lũ thiên tai khẩn cấp, hay có tình thế nguy cấp nào cả, cũng không phải là công trình chống thảm họa môi trường sau thảm họa thiên tai hay nhân tai. Xây dựng cảng nhằm tăng cường năng lực vận tải, không thể coi là cấp bách, nhất là việc chọn vị trí xây cầu cảng Lạch Huyện và nạo vét 40 triệu m3 bùn cát của Bộ Giao thông Vận tải còn gây bất đồng lớn trong giới chuyên môn. Nếu thấy đúng thì triển khai, thấy chưa đúng thì không thực hiện, thấy lăn tăn hoặc các câu hỏi chưa được giải đáp thoả đáng thì cần tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ. Công trình lớn, có tác động lớn cả về kinh tế, kỹ thuật, môi trường và xã hội như cảng Lạch Huyện chắc chắn càng cần 1 quy trình chặt chẽ từ khảo sát, nghiên cứu khả thi, phản biện khoa học…theo trình tự phù hợp với “đẳng cấp” của công trình.
Đất nước đang trong giai đoạn có rất nhiều việc hệ trọng mà toàn Đảng, toàn dân đều thấy rõ ràng “cấp bách”, trong đó có những công trình xây dựng. Tuy nhiên, nếu chỉ để thông qua cho nhanh mà đặt tên công trình đó là “cấp bách” bỏ qua những tính toán cẩn trọng, những phân tích lợi hại lâu dài, những ý kiến phản biện khoa học thì không nên.
Tiền nhân đã có câu “Dục tốc bất đạt”. Mọi sự vội vàng, chủ quan, không xuất phát từ lợi ích tổng thể chỉ mang lại hậu quả xấu, thậm chí thảm họa. Đã có nhiều bài học cay đắng, nhiều cái giá quá đắt phải trả cho sự chủ quan nóng vội, cho nhiều công trình “cấp bách” nhưng chuẩn bị không kỹ, quản lý lỏng lẻo, và bị chi phối bởi các nhóm lợi ích. Cảng Lạch Huyện liệu có trở thành một sự kiện tiếp theo của chuỗi các sự kiện như cảng Cái Lân, cảng Cái Mép-Thị Vải, cảng Vân Phong, Vinashin, Vinalines…hay không?. Dư luận đang theo dõi những động thái của các cơ quan Nhà nước và các bên liên quan đến cảng Lạch Huyện.
TS Tô Văn Trường
Theo Nguyễn Vĩnh blog (đây là bản gốc của tác giả), nhấp theo link này là bản đăng trên SGTT ngày 6/9/2012.

Chính sách máy lạnh


Vào đúng tối 2-9, kỷ niệm 77 năm ngày quốc khánh, trong trương trình “Dân hỏi, Bộ trưởng trả lời”, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường khi được hỏi về “suy nghĩ” trước những quy định oán oăm: Thịt và phụ phẩm bảo quản chỉ được bày bán trong vòng 8 giờ kể từ sau khi giết mổ; Giấy chứng minh nhân dân buộc phải có cả tên cha và mẹ của người được cấp..đã chỉ ra “nguyên nhân lớn nhất là do nhận thức chưa đồng bộ”.
Ngài bộ trưởng, có bằng tiến sĩ luật, sau đó không giải thích thêm, nhưng bất cứ ai làm dân ở Việt Nam đều có thể hiểu rằng sự “chưa đồng bộ” chính là khoảng cách giữa chính sách và cuộc sống, ở cả hai khía cạnh: Tính thực tiễn và tính khả thi.
Có thể, không cần suy nghĩ- liệt kê ra vô số những chính sách “không thực tiễn”, “thiếu khả thi”: Cảnh cáo, phạt tiền đối với hành vi hút thuốc lá nơi công cộng; Quy định đưa tên cha mẹ vào giấy CMTND, vốn đã được một quan chức bộ Tư pháp, thậm chí dùng từ “phản cảm” khi đánh giá là chỉ “tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý, nhưng hình như chưa tính đến những tác dụng ngược của quy định này”; Hoặc quy đinh phạt từ 2-5 triệu đồng đối với hành vi “nghe điện thoại ở cây xăng” trong hẳn hoi một văn bản quy phạm tầm cỡ “nghị định Chính phủ”. Và, kỳ cục nhất, vẫn là chuyện quy định “thịt 8 giờ” trong khi việc xác định một miếng mỡ, tảng thịt tồn tại đã bao nhiêu lâu là việc “không tưởng”.
Có hai khía cạnh dễ nhận ra trong những văn bản pháp quy “không thực tiễn và thiếu khả thi” này. Thứ nhất, chuyện ai cũng biết, mục đích tốt, ý tưởng tốt, nhưng không có chế tài, không có đội ngũ “cảnh sát” để đảm bảo quy định đó được thực thi trong thực tế. Ở khía cạnh này, sự thiếu khả thi của một văn bản quy phạm mặc nhiên sinh ra tình trạng nguy hiểm mà trong ngôn ngữ giáo khoa pháp lý gọi là “nhờn luật”. Và điều thứ hai, còn nguy hiểm hơn, là chính sách đó ban hành chỉ để bảo vệ quyền lợi của các bộ, ngành- một chính sách vừa “ngủ quên trên giấy”, vừa cục bộ, chỉ vì một nhóm lợi ích, mà biểu hiện, rất thô thiển- là tư duy “không quản được thì cấm, bó tay thì cần chế tài”.
Trong một hội thảo về vấn đề chất lượng pháp lý và công cụ đánh giá của tác động pháp lý, một cố vấn của Bộ Tư pháp đã lý giải nguyên nhân của tình trạng “văn bản pháp lý ban hành chưa ráo mực đã phải sửa” là do thiếu tính công khai ngay từ khâu soạn thảo. Một người New Zealand, ông Hayden Fenwick, thì tỏ ra ngạc nhiên: Thông lệ quốc tế cũng như thực tiễn áp dụng tại New Zealand cho thấy sau khi có ý tưởng xây dựng một văn bản pháp lý, cơ quan soạn thảo phải đánh giá của tác động pháp lý của chính sách để cân đong khả năng tác động của văn bản này đến các đối tượng bị điều chỉnh ra sao. Trên cơ sở đó mới bắt tay xây dựng dự thảo. Việt Nam thì đang làm ngược. Nghĩa là sau khi dự thảo xong văn bản pháp lý, cơ quan soạn thảo mới xây dựng báo cáo tác động. Và đây chính là nguyên nhân khiến vô số văn bản, dù nhân danh nhà nước, chưa kịp đi vào cuộc sống đã bộc lộ tính không khả thi, thậm chí tạo ra các rào cản phi lý cho người dân, doanh nghiệp.
Không khó để nhận ra đây chính là những “Chính sách máy lạnh” mà tác giả chính là những “công chức đút chân gậm bàn” không hề biết, hoặc cố tình không thèm biết, cuộc sống i tờ ra sao.
Năm 2006, Bộ Tư pháp chính thức yêu cầu hủy cả trăm văn bản trái luật. 5 năm sau đó, tình hình này không những không được cải thiện mà ngày thêm tệ hại. Và nguyên nhân, không phải vì trình bộ ban hành văn bản quy phạm của những “công chức đút chân gậm bàn” không được cải thiện, mà là vì các văn bản đó ngày thêm cố gắng bảo vệ lợi ích của người ban hành, mà chua chát thay, đôi khi chỉ là để duy trì một thứ thủ tục- không khác gì hủ tục.
Đào Tuấn

Thứ Tư, ngày 05 tháng 9 năm 2012

Không thích nói chuyện chính trị


Tin nóng: Đã bắt được Dương Chí Dũng (TT) nguyên là cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam.
“Không thích nói chuyện chính trị” là câu nói cửa miệng từ bao lâu nay của hầu hết người dân Việt Nam sống trong nước, dưới chế độ hiện hành (kể cả bản thân tôi khi còn sống trong nước cũng vậy). Ai ai cũng nói như thế, từ người già đến thanh niên, từ người có học đến người ít học, và nó luôn được xem là câu nói an toàn nhất, hứa hẹn nhận được nhiều “đồng cảm”.
 Tôi vừa trực tiếp gặp một trường hợp nữa minh họa cho điều ấy. Số là tôi vừa gửi bài viết “Luận về thần tượng” của tôi cho tờ báo mạngVietNamNet và được đăng tải. Một bạn trẻ trong nước đọc xong rất tâm đắc và gửi email cho tôi, ngỏ ý muốn được kết giao trên Facebook. Tôi hồi đáp rằng tôi rất sẵn sàng, chỉ xin nói trước là trên trang Facebook của tôi, dù bản thân tôi rất ít khi đề cập đến vấn đề chính trị, nhưng các thành viên bạn khác thì lại chia sẻ rất thường xuyên thái độ chính trị của họ. Bạn ấy trả lời là bạn ấy rất muốn được trao đổi với tôi về mọi điều, nhưng bạn ấy đã được giáo dục là không được nói chuyện chính trị.
Câu nói “được giáo dục để không nói chuyện chính trị” ấy của người bạn trẻ đã làm tôi, một lần nữa, băn khoăn suy nghĩ thật nhiều. Chính trị là gì mà ghê gớm thế? Đáng kinh sợ thế? Tại sao lại phải giáo dục thế hệ trẻ để không nói chuyện chính trị? Nếu đó là sở thích cá nhân (không muốn nói đến hay không quan tâm đến), thì đó chỉ là lẽ thường: Những con người khác nhau có những sở thích khác nhau. Nhưng khi thái độ ấy đã được “giáo dục” hay nhắc nhở, trực tiếp hay gián tiếp, và đã dần hình thành nên một nếp hằn suy nghĩ trong tâm trí của mọi người dân thì nó không còn là điều đơn giản nữa, và kéo theo nó là những hệ lụy vô cùng to lớn.
Có thực sự phải “giáo dục” thế không? Và có thực sự nên “giáo dục” thế không?
Trước hết, xin được kể ra những điều tương phản mà tôi đã nhiều lần trải nghiệm trực tiếp trong cuộc sống cá nhân ở Mỹ. Tôi vốn không phải là người quan tâm nhiều quá đến vấn đề chính trị (mặc dù thường tìm hiểu, nhưng chỉ thỉnh thoảng mới nói đến). Thế mà, trong những lần thỉnh thoảng ấy, tôi đã vô cùng ngạc nhiên về cái cách người dân Mỹ (chỉ là những con người bình thường) đáp ứng khi tôi đề cập đến nó. Họ trả lời một cách sôi nổi và nhiệt tình. Họ nêu lên một cách rõ ràng và mạnh mẽ quan điểm của họ, những gì họ ủng hộ, những gì họ không tán thành về các chính sách kinh tế, xã hội và quân sự hiện hành, về xã hội Mỹ hiện tại, cũng như cả về những người đang lãnh đạo đất nước. Họ nói nhiều và hùng hồn đến nỗi tôi có cảm giác tôi vừa “bắt trúng đài” hay chạm phải “chỗ ngứa” của họ.
Thế đấy! Chính trị ở xã hội Mỹ là thế đấy! Nó phổ biến và được đề cập đến bình thường như mọi vấn đề bình thường khác. Người dân luôn nắm vững và quan tâm đến nó như nắm vững lịch sinh hoạt hàng ngày của mình hay thậm chí, như nắm vững tình trạng sức khỏe của bản thân mình. Từ đó, ta có thể nhận ra rất rõ rằng sinh mạng và hiện trạng của đất nước Mỹ hoàn toàn nằm trong tay người dân và do chính họ quyết định, chứ không phải là ai khác. Khi nhận thấy nó đi chệch quỹ đạo vận hành hay vận hành theo một cách không mang lại lợi ích cho số đông thì cũng chính là lúc họ sẽ cất lên tiếng nói – những tiếng nói rất mạnh mẽ và dứt khoát.
Thế thì tại sao người dân VN lại được “giáo dục” để không nói về chính trị? (“Giáo dục” ở đây phải hiểu là có nhiều cấp độ. Đầu tiên là nhắc nhở, uốn nắn. Kế tiếp là khuyến cáo và đe dọa. Mức độ cao nhất là trừng phạt và xử án). Lý giải được câu hỏi này cũng chính là đã trả lời được phần nào cho những hiện trạng nhếch nhác đang diễn ra trong xã hội VN ở mọi phương diện, cũng như trả lời được cho sinh mạng đang bị đe dọa của đất nước VN.
Khái niệm chính trị, thực ra, là một khái niệm đã hiện hữu từ ngàn xưa. Đức Khổng Tử (551-471 TCN) tin rằng có một mối quan hệ mật thiết giữa chính trị với luân thường đạo lý và đạo đức cá nhân. Theo quan điểm chính trị của ông, chỉ những người quân tử liêm khiết và tuân theo đạo của người quân tử thì mới được cầm quyền, và những tư cách của những nhân vật đó phải kiên định với địa vị trong xã hội. Triết gia Hy Lạp cổ đại Aristotle (384–322 TCN) cũng quả quyết rằng về bản chất, con người là một động vật chính trị, và luân thường và chính trị có liên kết chặt chẽ với nhau. Ông cho rằng mọi công dân chỉ có thể có được một đời sống hạnh phúc và đạo đức khi họ tích cực tham gia vào chính trị (citizens must actively participate in politics if they are to be happy and virtuous).
Trên trang Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia, ở chuyên mục Chính Trị, có viết: “Modern political discourse focuses on democracy and the relationship between people and politics. It is thought of as the way we “choose government officials and make decisions about public policy” (Tranh luận chính trị hiện đại tập trung vào dân chủ và mối quan hệ giữa con người và chính trị. Nó được coi như là cách chúng ta lựa chọn các quan chức chính phủ và đưa ra các quyết định về chính sách công cộng).
Dựa trên những lập luận đó, ta có thể suy ra rằng:
+ Khái niệm chính trị là một khái niệm cần thiết cho mọi công dân. Hiểu rõ về nó giúp con người ý thức nhiều hơn về những quyền hạn mình có, cũng như vai trò của mình trong mọi tổ chức, hội đoàn từ những cấp mực thấp đến cấp mực quốc gia.
+ “Giáo dục” cho người dân đừng nói về chính trị là cách được thực thi nhằm vào mục đích tước bỏ của người dân cái quyền vốn có (cũng như sự hiểu biết) trong việc “lựa chọn các quan chức chính phủ và đưa ra các quyết định về chính sách công cộng” – những điều có liên quan mật thiết đến sự tồn vong của một đất nước. Có nền tảng từ việc “giáo dục” đó, một số hiện trạng chua xót và đau lòng đã diễn ra trong xã hội VN (và hầu như chỉ có trong xã hội VN, trong thời gian gần đây): Lòng yêu nước trở thành đặc quyền của một nhóm người, những tiếng nói yêu nước bị vùi dập không thương tiếc…
+ “Không thích nói về chính trị” là thái độ mà một con người vô thức đã vô tình tước bỏ đi quyền hạn công dân của mình trong việc gìn giữ và phát triển xã hội cũng như đất nước, và ở một mức độ sâu xa hơn, tước bỏ đi cả quyền được sống như một con người đúng nghĩa của mình. Thái độ này lý giải cho việc phần lớn người dân Việt trong nước trở nên vô cảm với mọi thực trạng không hay đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong xã hội, và ở một mức độ cao hơn, vô cảm ngay cả với vận mệnh của đất nước. Hệ quả có thể thấy rõ của thái độ này chính là: Cả một dân tộc đang đắm chìm trong một nỗi sợ hãi… mênh mông.
Jeffrey Thai

Bàn về sự vô cảm của bộ máy nhân một phóng sự bằng hình


Tình trạng thê thảm của “con đường vận chuyển bauxite” như ta thấy trong một loạt hình ảnh mà phóng viên Quốc Quang cung cấp dưới đây, trang Bauxite Việt Nam đã đề cập đến trong bài “Dự án Tân Rai – Bao giờ cho đến tháng Mười” của Lê Trung Thành (http://www.boxitvn.net/bai/38430). Tưởng không cần nói gì thêm mà chỉ mời bạn đọc đọc kỹ lại bài viết tường tận ấy.
Nhìn cho bao quát hơn nữa thì toàn bộ dự án Bauxite Tây Nguyên là cả một vấn nạn to như quả núi về tất cả mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh mà Nhóm Bauxite Việt Nam đã cất tiếng báo động kể từ tháng Tư 2009 với hàng loạt kiến nghị liên tiếp, lần nào cũng được ít nhất 2000 người ký. Tâm nguyện của chúng tôi nào có gì hơn là muốn Nhà nước hãy tỉnh táo, thật sự đứng trên cùng một chỗ đứng lợi ích với dân với nước mà nhìn cho thấu mọi ngóc ngách “không sao nhá nổi” của một “miếng bánh” vẽ ra thì ngon lắm nhưng gặm vào là gay. Tiếc rằng lúc bấy giờ chúng tôi còn quá ngây thơ để nhận diện cho đầy đủ cái khái niệm gọi bằng “nhóm lợi ích”. Chúng tôi chỉ lấy làm lạ khi những người đại điện cho quyền lực đã chỉ một mực dùng thái độ im lặng, để đáp lại nguyện vọng chân thành của chúng tôi (trên chúng tôi còn có Đại tướng Võ Nguyên Giáp khả kính cùng nhiều vị lão thành cách mạng) và đông đảo nhân dân. Còn một ít những ông lau nhau như Thứ trưởng Lê Dương Quang và một vài người khác được giao phó nhiệm vụ… đứng ra “vén váy chửi càn” thì thôi miễn chấp. Cho đến khi người đứng đầu các bản kiến nghị, GS Nguyễn Huệ Chi, được cơ quan an ninh “thăm hỏi” suốt 22 ngày, thì chúng tôi mới biết là hết hy vọng trong đối thoại chân tình với nhau để tìm ra một tiếng nói chung – “Bạn cố tình đến thế chúng tôi còn biết nói sao”.
Bây giờ, quý vị đã trót gặm lấy miếng bánh vẽ ấy rồi, có phải là “bỏ thì thương vương thì tội” hay không? Mà còn tệ hơn nữa kia, quý vị đã gặm lấy không phải là một miếng bánh vẽ đâu mà là cả một cái mồi nhử vô cùng nguy hiểm, có nguy cơ làm lụn bại nền kinh tế nước nhà, tiếp theo các vụ Vinashin, Vinalines, vụ thâu tóm ngân hàng…, bên cạnh một thực tế cũng khó chối cãi là cái hậu quả đang dần dần làm hỏng cả một môi trường sinh thái và văn hóa đặc biệt quý hiếm của Việt Nam –Tây Nguyên. Đó là chưa kể đến nguy cơ tiềm tàng về an ninh quân sự mà từ khi người Tàu kéo nhau lên lập “làng người Hoa” ở trên đó từ 2009 thì đương nhiên là “cái nhọt bọc” tiềm tàng đã hình thành và cứ thế ăn sâu bén rễ.
Ai đưa ra miếng mồi nhử cho các vị vậy? Chỉ có duy nhất một kẻ thủ ác mà các vị vẫn gọi là ông anh “bốn tốt”: Trung Nam Hải. Hãy nhớ lại những lần ký kết, bắt đầu từ 2001, giữa ông Nông là người đứng đầu Đảng với Giang Trạch Dân – kẻ hiện đang được dư luận Trung Quốc coi là tên đồ tể chủ trương sát hại hàng vạn học viên Pháp Luân Công để lấy nội tạng – rồi với Hồ Cẩm Đào – kẻ gây ra bao nhiêu sóng gió dồn dập trên Biển Đông từ 2009 đến tận hôm nay, ngày càng lấn tới đe dọa đến chủ quyền biển đảo và những giếng dầu có trữ lượng lớn của đất nước chúng ta.
Những gì ngon ngọt thơm tho phía sau hậu trường các loại ký kết ấy chúng tôi không biết và thú thực cũng không ham hố biết. Chỉ biết các vị đã “đi với ma” và đã mắc quả lừa quá kinh khủng – chúng tôi dám nói bạo như thế –trong khi nhân dân luôn sẵn sàng sát cánh với các vị, thành tâm thức tỉnh các vị, thì các vị hầm hầm ngoảnh mặt, hoặc cho bộ máy chức năng đe dọa – “Bạn cố tình đến thế chúng tôi còn biết nói sao”.
Cho nên, mới vừa đây, ông Chủ tịch nước có gặp gỡ cơ cơ quan công an, lên tiếng cảnh báo về “sự vô cảm” của họ đã để lại nhiều hậu quả, làm mất lòng tin của nhân dân. Chúng tôi ghi nhận ý nghĩa cấp thiết của lời khuyên răn ấy. Tuy nhiên, đối với một bộ máy mà từ lâu nay đã để lại vô số cái chết khủng khiếp cho dân từ Nam chí Bắc thì một lời khuyên như vậy e rằng chỉ mới là một làn gió thoảng qua (hoặc một trấn an tâm lý cho dân thì đúng hơn) chứ đâu đã đủ liều. Làm sao những kẻ mặc đồng phục xanh lá cây kia thấm được vào tim phổi để thay đổi cách hành xử của họmà dư luận đều coi là “khủng bố”, nếu không là “nặn” lại khuôn mặt và “đúc” lại quả tim cho họ”? Việc ấy thì thiên nan vạn nan.






Ảnh: Internet
Nhưng sự vô cảm không chỉ khoanh lại ở một ngành công an mà thôi. Xin ngài Chủ tịch hãy cho làm một điều tra xã hội học mà xem, sự vô cảm theo chúng tôi đã lây lan đến rất nhiều ngành trong bộ máy chính quyền và đã lên đến một cấp rất cao, có lẽ kề cận ngay sát bên ngài rồi. Còn nhớ ông Lê Duẩn ngày xưa có nói đại ý rằng khi gặp những cảnh ngộ khốn cùng của dân mà anh không còn chút động lòng thì phẩm chất cách mạng của anh đã mất, anh đã là kẻ phản bội cách mạng. Áp dụng vào hoàn cảnh hiện nay, thì hình như không những không động lòng mà – cơ khổ cho 85 triệu con dân – anh còn là thủ phạm trực tiếp gây ra mọi nỗi đau đến cùng tột cho dân chúng– “Bạn cố tình đến thế chúng tôi còn biết nói sao”.
Và xét đến tận cội rễ, mắc vào mồi nhử của bọn Tàu cũng chính vì trong sâu thẳm tâm can, anh đã phạm vào cái điều mà các vị vua hiền, các anh hùng hào kiệt xưa kia từng lên tiếng cảnh tỉnh: không còn biết “tới bữa quên ănnửa đêm vỗ gốiruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa” trước những nỗi khổ lớn lao sừng sững của ĐẤT NƯỚC.

QUYỀN LÀM NGƯỜI

Nếu ai có dịp lên các lớp học vùng cao sẽ thấm thía nỗi cô đơn cùng cực của người dân vùng sơn cước. Mình nghe nói hàng năm nhà nước dành rất nhiều ngân sách cho bà con dân tộc. Trường lớp có xây cất, tường xây, mái lợp tôn, bàn ghế nơi có nơi không. Nhưng hầu như chỉ ở các khu trường chính mới có lớp xây, còn lớp cắm bản thì lưa thưa vách liếp, trống hoác gió lùa. Học sinh có được chút tiền trợ cấp cho bữa ăn, nhưng với số tiền hơn trăm ngàn đồng tháng thì khó khuyến dụ trẻ đến lớp. Ngoài ra họ được những gì? Không gì hết.
Bữa cơm có thịt nhờ những hoạt động của một xã hội dân sự (Sàng Ma Sáo)
Đó là cuộc sống của học sinh. Còn cha mẹ chúng thì khổ nữa. Cái này ai cũng hiểu, cũng biết. Nhưng mỗi khi có dịp lên vùng cao, “thám hiểm”, “khám phá” thêm cái nghèo mạt rệp của người dân thì dường như nơi đã biết chưa phải nơi nghèo nhất. Vùng đất nơi họ sống như một ốc đảo khuất nẻo xa xã hội con người văn minh. Vùng đất tổ tiên của họ, đương nhiên họ bám víu để sống. Nhưng chắc chắn họ không lựa chọn nghèo đói, lạc hậu triền miên nhiều kiếp. Nhiều người tha thiết bảo vệ cho cuộc sống hồn nhiên ấy của người dân tộc và cho rằng chính chúng ta (những người ở thành phố) mới là kẻ đáng thương. Về mặt nào đó là đúng, như thiên nhiên đẹp, môi trường trong sạch hơn, không khí trong lành hơn…Nhưng khi con người không thể bảo đảm tối thiểu cho cuộc sống của họ với nhiều rủi ro thì sự ngẫm ngợi triết lý kia gần như là ngụy biện.

Nếu so sánh cuộc sống giữa người giàu ở thành phố và nghèo của vùng cao thì giống như muốn có câu trả lời phải bắc thang lên hỏi ông trời. Một bữa nhậu của quan chức, đại gia có thể lên đến hàng trăm triệu. Một buổi hầu đồng của mấy anh quan chức vô đạo nhưng mê tín dị đoan và đám đại gia lắm tiền nhiều của nhưng sợ ân oán, nhân quả cũng tính đến số tiền hàng trăm triệu. Một chai rượu ngoại lưu niên cũng hàng vài chục triệu…

Còn đây là vài số liệu mà nhóm "Cơm có thịt" chuyển tiền quyên góp từ những người hảo tâm ở khắp nơi để tài trợ cho đám lau nhau trứng gà trứng vịt ở các trường mầm non vùng cao có bữa cơm trưa ở trường được ăn thịt là thế này:
-Mầm non Y Tý: 132 trẻ x 120.000 = 15.840.000/tháng
-Mầm non Ngải Thầu: 84 trẻ x 120.000 = 10.080.000/tháng
-Mầm non A Lù: 106 trẻ x120.000 = 12.720.000/tháng
-Mầm non Tung Chung Phố: 85 trẻ x 120.000 = 10.200.000/tháng
-Mầm non Pa Thơm huyện Điện Biên: 88 trẻ = 10.560.000
-Mầm non Số 2 Mường Nhà: 148 trẻ = 17.760.000/ tháng
-Mầm non số 2 Núa Ngam: 127 trẻ = 15.240.000/tháng

Và chỉ cần vài chục triệu là đã mua được rất nhiều đồ dùng cho trẻ: bát ăn cơm, ly nước, khăn mặt, chăn bông cho mùa đông, thìa, chậu, rổ rá, thùng…đủ cho mấy trường mầm non.
Cô bé học trò này có quyền được chữa trị bệnh ngoài da mà em chưa một lần được chăm sóc y tế (Dền Thàng)
Cụ già này đáng lẽ được nghỉ ngơi khi tuổi cao (Tả Gia Khâu)
Cụ già này đáng lẽ không phải thổi khèn môi ăn xin trong giá rét (Sapa)
Đó chính là những hoạt động tự nguyện của người dân tham gia vào quá trình “phân phối lại” để thu bớt chút nào khoảng cách giàu nghèo, bớt đi những bất công (khó tránh khỏi ở những nước đang phát triển), giúp trẻ nghèo có cơ hội được đến trường, được thêm dinh dưỡng cho tuổi trưởng thành. Và xã hội dân sự đang hình thành từ những việc thiết thực như thế…

Việc ai lợi dụng và lợi dụng như thế nào xã hội dân sự là việc của cơ quan an ninh. Nhưng không thể lấy lý do đó để ngăn cản những tổ chức dân sự ra đời. Mà chắc chắn không ngăn nổi. Các tổ chức từ thiện phát triển nhiều, nhanh như hiện nay đã giúp xoa dịu nhiều nỗi đau của rất nhiều người kém may mắn. Và cũng là giúp nhà nước ở nhiều nơi chính quyền do dân, vì dân, của dân không vươn tới được, hoặc rất yếu ớt.

Khoan bàn đến những việc quá to tát mà xã hội dân sự có thể làm được. Hãy nhìn vào các tổ chức từ thiện tự phát hiện nay để thấy, nếu phủ nhận một xã hội dân sự tức là tước đoạt đi cơ hội của người dân tham gia vào điều hành xã hội bằng những việc làm từ thiện vô cùng thiết thực. Và đồng thời tước bỏ miếng ăn của đứa trẻ nghèo nhờ những tấm lòng hảo tâm. Tước bỏ cơ hội được sống, chữa bệnh của nhiều người nghèo. Tước bỏ lối sống tử tế. Tước bỏ sự chia sẻ và khoét sâu lối sống vô cảm…

Không lẽ đây là việc làm nguy hiểm, chống đối cần ngăn chặn?

Không lẽ đây là phương thức để lật đổ chế độ?

Không lẽ đây là âm ưu của các thế lực thù địch với thủ đoạn diễn biến hòa bình?

Còn nếu chấp nhận để các tổ chức tự nguyện làm từ thiện mà vẫn chống lại xu hướng xã hội dân sự thì liệu có phải thể hiện tính cơ hội của chính quyền?

Xin nhắc lại câu nói của nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt:

"...Không có xã hội dân sự lành mạnh thì không thể có nền chính trị lành mạnh được, bởi vì tất cả các yếu tố tham gia vào hệ thống chính trị ấy đều lấy từ xã hội dân sự. Tại sao trong đội ngũ cán bộ nhiều người cơ hội thế? Bởi vì xã hội dân sự được rèn luyện một cách cơ hội, nên yếu tố từ đấy tham gia vào đời sống chính trị sẽ cơ hội thôi. Cho nên, chúng ta phải đủ bản lĩnh để ngăn chặn các rủi ro làm biến dạng con người. Nhân quyền chính là những thứ như vậy chứ không phải là cái gì đó cao siêu. Tôi đã có một kết luận rằng nhân quyền không còn là quyền chính trị, nhân quyền là quyền phát triển và chống lại rủi ro của cuộc sống”.

Xin hãy trả lại quyền làm người cho nhân dân.
Thùy Linh
Thông tin về "Cơm có thịt" xem tại đây: http://trandangtuan.wordpress.com/; http://www.comcothit.org/