Thứ Bảy, ngày 15 tháng 9 năm 2012

Sống ở thế giới phẳng

Câu chuyện ồn ào về web, blog, rồi lệnh cấm, lời tuyên bố điều tra, truy tố…ban hành khiến mình nhớ lại cái thời, để nhận được tin tức người thân dù chỉ cách xa mấy chục cây số cũng phải chờ đợi phong thư đi có khi cả tuần lễ. Tin tức thời đó sao mà hiếm hoi, u minh, không biết đâu mà lần? Chả thế mới có chuyện bố mình mất ít lâu, bỗng nhận được lá thư của bạn già viết hỏi han do lâu nay bệnh tật nên không đến thăm nhau được. Số điện thoại lại để thất lạc. May mà còn ghi lại địa chỉ số nhà…

Một chuyện khác: cách đây hai năm, mình đến nhà cô bạn chơi. Thấy màn hình vi tính mở, nhưng không để ý. Vừa nói chuyện, vừa thấy bạn liếc mắt liên tục vào màn hình có ý theo dõi. Lúc này mình mới để ý thấy một chú bé chừng 4 tuổi đang ngồi chơi đồ chơi trong một căn phòng nhỏ nào đó, không có người lớn. Ngạc nhiên hỏi, cái gì thế? Bạn cười, à, trông con cho cái H. Lại ngạc nhiên nữa: mẹ con nó ở Mỹ cơ mà? Bạn cười khúc khích, ừ, ở Mỹ, thằng cu kia đang ở nhà nó bên Mỹ. Trợn mắt ngạc nhiên và bật cười. Hóa ra em gái bạn đang nấu ăn trong bếp nên nhờ chị gái trông con qua webcam. Bạn bảo phải trông cháu suốt, có khi mất cả công cả việc đấy. Sau này mới hay, nhiều người đã từng giúp người thân, bạn bè ở xa xôi với cách như vậy. Hóa ra chuyện kể trong “Thế giới phẳng” về một gia đình ở Mỹ thuê một cô giáo ở mãi bên kia bán cầu là Ấn Độ kèm học cho con mình vào các buổi tối là thế này…

Chuyện nữa: một bạn mở quán café khá sang trọng ở gần trung tâm Hà Nội. Nhưng mấy khi có thời gian ngồi ở quán trực tiếp quản lý. Thế là nhờ cô chị ở tận Sài Gòn quản lý giúp qua webcam vì cô chị nghỉ ở nhà nên có thời gian. Bớt khá nhiều tiền thuê quản lý mà chưa chắc đã tốt hơn? Nói dại, cô nhân viên lười biếng nào, hay ai đó đến chơi lỡ lời nói xấu bà chủ thì…toi.

Thế giới chưa bao giờ nhỏ bé, gần gũi như bây giờ. Một thuật ngữ lâu nay người ta hay nói: thế giới phẳng – bắt đầu từ quyển sách “Thế giới phẳng” của nhà báo lừng danh của Mỹ, Thomas L. Fridman. Thế giới này kéo con người lại gần với nhau hơn, biết chia sẻ hơn…Và một trong những nguyên nhân khiến thế giới trở nên phẳng chính là internet, là web, là blog.

Nếu chấp nhận chung sống với thế giới phẳng (nếu không sống thì lên mặt trăng à?) thì phải chấp nhận tất cả những thành tố tạo nên nó, trong đó phải chấp nhận internet, web, blog: Chính phủ cũng hưởng lợi từ internet khi có chính phủ điện tử; trang web chính phủ, trang web của các thành viên chính phủ. Các doanh nghiệp dùng để giao dịch buôn bán làm ăn. Cá nhân có chỗ giao lưu, kết bạn, chia sẻ những gì họ quan tâm…Cả tỷ thứ tiện ích khác giúp con người trên mọi phương diện…Mình thấy các cơ quan an ninh được hưởng lợi rất nhiều từ các web, blog (dù là “đen”) vì họ chỉ cần ngồi một chỗ là có thể chu du trong một thế giới rộng lớn, đủ mọi giai tầng: có thể truy tìm tội phạm, thủ phạm; tha hồ nắm tình hình, diễn biến tư tưởng con người được bộ lộ khá thẳng thắn (dù là với sự căm thù, uất ức)…Người ta nói thẳng mọi suy nghĩ chả tốt hơn người ta giấu kín trong lòng hay chỉ chia sẻ với một nhóm người nào đó cũng với suy nghĩ ấy? Nắm bắt tâm lý xã hội và nghệ thuật xử lý tâm lý đó chỉ có lợi cho những nhà cầm quyền nếu họ thực sự muốn củng cố quyền lực một cách chắc chắn. Ngược lại nếu đàn áp, bắt bớ, cấm đoán thì chính là cách cung cấp “nguồn sống” cho những trang web, blog chưa bị đánh sập hay có thể ra đời nay mai với tốc độ mạnh mẽ hơn, mở rộng đối tượng hơn, lôi ra nhiều tội lỗi hơn. Đơn giản vì thế giới đã bị phẳng đi mà…Bất kể bức tường “Berlin” nào dựng lên khiến thế giới bị chia cắt tự khắc sẽ sinh ra một lực để phá bỏ, san phẳng.

Đừng nghĩ chỉ tận dụng mặt tốt của nó, còn triệt tiêu được những tiêu cực, hạn chế của các trang mạng xã hội bằng cách cấm đoán. Điều đó là không thể. Các trang mạng xã hội san phẳng những riêng tư quá đà, thậm chí như là bới móc. Nhưng nó cũng giúp con người gần gũi hơn, biết chia sẻ hơn trong một xã hội quá quá nhiều bất an (ví dụ kêu gọi làm từ thiện)…

Nếu nhiều người cũng tận dụng web, blog để trình bày quan điểm của họ (như phóng viên Nguyễn Văn Minh – báo QĐND), lên án và gọi các blogger khác là đồ “rác rưởi” thì nên chấp nhận cuộc chơi sòng phẳng giữa hai quan điểm. Nếu chỉ cho một bên nói (thóa mạ), còn bên kia bắt im miệng (vì bị qui kết “phản động” hay “tiếp tay thế lực thù địch”) thì đó chính là đã tự dựng lên “bức tường Berlin” trong một thế giới đã quá phẳng, không có gì có thể che dấu, cả xấu lẫn tốt. Thêm nữa, để đối thoại với các quan điểm thể hiện ở các web, blog cá nhân thì đã có hàng trăm tờ báo chính thống, được pháp luật, quyền lực bảo trợ, lo gì cuộc chiến đấu không cân sức này?

Làm sao tồn tại giữa một thế giới luôn được phơi bày, có nhu cầu phơi bày tự thân, khó che dấu này?

Cách duy nhất nên theo lời khuyên của Fridman: “Hãy là người tốt”.

Cũng theo ông, con người hiện nay đã được trao quyền để cung cấp thông tin cho chính họ bằng những phương thức mới thì điều đó vừa tuyệt vời, vừa đáng sợ. Trước đây cuộc sống con người được che dấu sau những tấm bê tông mà rất khó có vật gì có thể xuyên thủng. Khó ai xâm phạm vào đời tư của người khác. Nhưng với thế giới phẳng, không ai chạy trốn được khỏi nó, thậm chí một viên sỏi cũng bị lật tung lên. Bởi thế cách tốt nhất là: “Hãy sống trung thực, chân thành bởi vì bất cứ cái gì bạn làm, bất cứ lỗi lầm nào bạn mắc phải sẽ được tìm thấy trên mạng vào một ngày nào đó”. Và nếu một tội lỗi của bạn chả may bị bóc trần trên mạng xã hội thì hãy dũng cảm nhận, đừng đổ lỗi cho mạng xã hội đó hay internet là thủ phạm gây nên tội lỗi, hoặc bôi xấu bạn. Tự chịu trách nhiệm về bản thân cả tốt lẫn xấu cũng nhờ tác động trực tiếp của các trang mạng xã hội trong thế giới nhỏ bé, phẳng lỳ này.

Thế giới phẳng khuyến khích con người nên sống đúng đắn và tử tế nếu muốn dễ dàng thích ứng ở đâu đó trên quả địa cầu này, còn không bạn sẽ không có bất cứ cơ hội nào hết. Danh tiếng (cả tốt lẫn xấu) còn đến nhanh hơn, trước cả khi con người đó xuất hiện ở bất cứ đâu trên trái đất. Chỉ cần một máy tính nối mạng, người đó biết sử dụng máy tính thì quyền lực sẽ thuộc về họ.

Mark Twain đã từng nói: “Hãy luôn nói sự thật, và như vậy bạn sẽ không cần phải nhớ những điều bạn đã nói”. Nếu còn che giấu, còn thiếu minh bạch, còn lấp liếm, giả dối thì đương nhiên sẽ có người, sẽ có rất nhiều người tự nguyện làm thám tử để điều tra việc làm và cuộc sống của bạn như là lẽ đương nhiên. Và họ có quyền chia sẻ thông tin với người khác bằng nhiều cách, bởi thế giới vốn phẳng mà…

Cuộc sống ở đất nước mà chúng ta đang đắm mình không những là một thế giới phẳng mà còn đang dần trở nên “trong suốt”…
Thùy Linh
Theo Thùy Linh blog

Đi nước ngoài làm nô lệ

Ngày xưa ở miền Bắc, để bày tỏ sự sung sướng, người ta thốt lên “sướng như đi Liên Xô”. Đi Liên Xô cũng còn có nghĩa là đi nước ngoài, đến cái nơi hạnh phúc hơn, chất lượng sống cao hơn nơi mình đang sống. So với “miền Bắc thiên đường của các con tôi” thì rõ ràng Liên Xô sướng hơn vì không có chiến tranh, được ăn no mặc lành, tuy cũng kinh tế bao cấp nhưng hàng hóa đa dạng, dồi dào, bền tốt. Chả thế các lưu học sinh, ngoài việc cố gắng sau 4-5 năm có tấm bằng đỏ đem về thì cũng ráng dành dụm, nhịn ăn nhịn mặc, tích cóp từng rúp trong số tiền phụ cấp 90 rúp/tháng để khi về có vài chiếc quạt tai voi, chục cái bàn là, hai chiếc xe cuốc, dăm ký dây mayso… đem về cứu nhà. Thế mới sinh chuyện cứ thấy đầu đen bước vào cửa hàng là mậu dịch viên Nga vội xua tay “u nax nhet mayso – hết dây mayso rồi” dù chưa biết mấy đứa Việt Nam anh hùng ấy định mua thứ gì. Người Nga mỗi lần mua dây bếp điện chỉ 1-2 sợi là cùng, còn quân ta á, mua tính bằng ký, mỗi lần vài trăm sợi, họ sợ là phải. Những chuyện này mình nghe ông anh ruột đi bộ đội về thi đại học trúng ngay suất sang Kishinov (Moldavia, Liên Xô) 5 năm lăn lộn bên ấy kể lại chứ mình chưa biết Liên Xô nó như thế nào, nghe hơi bắc nồi chõ thôi. Về sau cũng có nghe nhà thơ Nguyễn Huy Hoàng kể lại.

Hết chiến tranh, cuộc sống khá dần lên, những cuộc đi nước ngoài cũng thay đổi tính chất. Người có tiền bạc dư dả đi du lịch, gần thì Campuchia, Xiêm, Singapore, vừa thì Hàn Quốc, Nhật, xa thì Mỹ, Nga, Pháp… Mỗi chuyến ít thì vài triệu bạc, nhiều có khi cả trăm triệu cho chục ngày đi chơi. Mình nhớ hồi ở miền Bắc trước năm 75, hình như chả có cái công ty du lịch nào. Suốt ngày đánh nhau, lội ruộng, sơ tán, họp hành… thời giờ đâu mà đi chơi, đi du lịch. Không hề biết khái niệm hộ chiếu, visa. Chỉ có ông Nguyễn Duy Trinh lâu lâu xách cặp qua các bạn xã hội chủ nghĩa để xin viện trợ chứ mấy ai được đi nước ngoài. Giờ thì nhan nhản công ty du lịch, đủ tuyến đủ tua, thủ tục thật dễ, từ quan cho chí dân không phân biệt, chỉ cần có tiền, thật nhiều tiền.

Nhưng đừng tưởng thấy người ta đi nước ngoài ào ào mà bảo rằng dân mình đang no ấm, giàu có; cuộc sống hạnh phúc dư dả. Phần xổi đó không che nổi sự nghèo khó vẫn ngập từng xó xỉnh, từng miền quê. Những phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, đi đánh cá thuê cho tàu nước ngoài, làm osin ở Malaysia, Singapore, Nhật Bản, thợ may ở Nga, Ucraine, thợ hồ ở Trung Đông… là lối thoát cho sự đói nghèo. Đi làm thuê chả có gì xấu, nếu không muốn nói còn cao quý gấp vạn lần những kẻ ngồi mát ăn bát vàng, sống bằng mồ hôi nước mắt người khác.

Tôi có vài người bạn, do hoàn cảnh mà lưu lạc xứ người, kẻ Nga người Ba Lan. Cũng đổ mồ hôi sôi nước mắt để mưu sinh. Cuộc sống tất nhiên dễ chịu hơn trong nước nhưng trả giá khiếp lắm, nhiều điều không tính được. Một số bạn bè trong nước đôi khi mở lời trách móc họ khấm khá thế sao không giúp đỡ bạn bè cũ. Tôi cho rằng nhầm. Đến anh em trong nhà còn kiến giả nhất phận, vả lại các bạn ấy chả sướng hơn gì mình trong nước đâu. Cũng phận làm thuê cả thôi, đừng trách họ, tội nghiệp.

Vậy mà tất cả họ vẫn chưa đến nỗi nào, ngay cả những cô gái lấy chồng Đài hoặc osin xứ Hàn. Chưa đến mức phải sống kiếp đời nô lệ. Nô lệ thực sự, như cha con nhà bác Tôm trong cuốn sách Túp lều của bác Tôm mà tôi từng đọc thời thơ ấu. Thế mà thời nay vẫn có, nô lệ Việt, hàng nghìn hàng vạn trên đất người. Đi nước ngoài để làm nô lệ. Nghĩ mà đau lòng. Cái vụ cháy xưởng may ở Nga đã phơi bày tất cả. 14 người dân vùng quê nghèo khu 4 chết cháy khi bị bóc lột sức 18 tiếng một ngày, bị bỏ đói, bị tước quyền tự do, chân không mang cùm nhưng cửa xưởng khóa chặt suốt ngày. Họ chưa tìm được cuộc sống con người đúng nghĩa thì thần chết đã bắt họ đi trong thân phận nô lệ.

Vụ này không phải lần đầu. Đã từng xảy ra ở Anh, Nga, Trung Quốc, Malaysia. Nạn nhân đều là người Việt máu đỏ da vàng, đều ra nước ngoài làm nô lệ. Ai sẽ trả lời: Tại sao họ phải bỏ xứ mà đi dù biết sẽ làm nô lệ? Bộ máy nhà nước có đủ cơ quan ban bệ đưa người đi, quản lý người đã đi, có biết họ làm nô lệ không? Những nước đó chúng ta đều có đại sứ quán, lãnh sự quán, cán bộ nhân viên ngoại giao đông đúc, có biết người xứ mình chịu kiếp tôi đòi khổ nhục lầm than không? Đến dân mình mà cũng không hiểu họ sống thế nào, không bảo vệ được họ thì các vị làm cái gì, làm cái gì?

Họ đã chết rồi, đem phận cùm trói lên thiên đường. Thương thay. Tôi chỉ biết thắp nén nhang mà khấn, mong cho linh hồn họ rũ bỏ được gông cùm trên ấy.

15.9.2012
Nguyễn Thông
Theo Nguyễn Thông blog

Thứ Sáu, ngày 14 tháng 9 năm 2012

Báo chí "lề phải" cần "ra mặt trận"

Ngày 12/9, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra, xử lý việc đăng tải thông tin có nội dung chống Đảng và Nhà nước. Trong văn bản thông báo này có nêu là xuất phát từ các công văn của Bộ công an, Bộ 4 T, Ban Tuyên giáo Trung ương và Văn phòng Trung ương Đảng về tình trạng một số trang thông tin điện tử như: “Dân làm báo”, “Quan làm báo”,”Biển Đông”… và một số trang mạng khác, đã đăng tải thông tin vu khống, bịa đặt, xuyên tạc, không đúng sự thật nhằm bôi đen bộ máy lãnh đạo của đất nước, kích động chống Đảng và Nhà nước ta, gây hoài nghi và tạo nên những dư luận xấu trong xã hội. Đây là thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch”…

Văn bản số 7169 – VPCP-NC: “Về việc xử lý thông tin có nội dung chống Đảng và Nhà nước” có nêu điển hình 3 trang blog, trong đó có trang Biển Đông. Tôi chưa thấy trang blog Biển Đông nào, nhưng tôi đã nhiều lần đọc trang Website Nghiên cứu Biển Đông (http://nghiencuubiendong.vn/), chứ không phải blog Biển Đông. Trang này thường xuyên đưa chứng liệu lịch sử, những bài bình luận, đánh giá, cập nhật những tin tức, bài viết, sự kiện về tình hình biển Đông. Cuối trang có dòng chữ lớn: “Chương trình Nghiên cứu biển Đông”. Đọc trang này chưa thấy có bài nào nói xấu, bôi nhọ Đảng và Nhà nước. Văn bản 7169 còn nêu: … “các trang này “bôi đen bộ máy lãnh đạo của đất nước, kích động chống Đảng và Nhà nước ta, gây hoài nghi và tạo nên những dư luận xấu trong xã hội”… Và, “Các Bộ, ngành, các địa phương lãnh đạo cán bộ, công chức, viên chức không xem, không sử dụng, loan truyền và phổ biến các thông tin đăng tải trên các mạng phản động”… Tính trung thực của thông tin được Luật báo chí nhấn mạnh, nếu như trong thực trạng xã hội hoặc cá nhân nào đã bị nhuốm đen, đã bị thoái hóa đổi màu, mà nói “đen” thì đâu có bôi, mà tự bản thân nó đã tồn tại hiện hữu như vậy. Còn như thế nào là “mạng phản động” cũng phải phân biệt cho rõ, nói thật theo lời kêu gọi của Đảng là toàn dân phải giúp Đảng chỉ ra mặt yếu kém, “làm ơn làm phước” chỉ ra những yếu kém, những cán bộ đảng viên phạm pháp, suy thoái, biến chất, lại bị coi như phản động thì quả là sai lầm, là sự cố tình vu khống, cũng đồng nghĩa với tội ác.

Văn bản 7169 ban hành buộc người ta phải tìm trên mạng và đọc thật kỹ các trang gọi là “phản động” đã nêu. Hai trang blog Danlambao và Quanlambao, thì trang Danlambao đã có từ lâu, riêng trang Quanlambao mới mấy tháng nay. Các trang khác cũng không ít nội dung nói xấu Đảng và Nhà nước, biểu hiện sự phân tuyến, chia rẽ nội bộ, ‘nhất bên trọng nhất bên khinh’ như: Anh lái đò, Anh ba Dũng, 4 Sang,… nhưng lại không thấy nêu trong Văn bản 7169. Đọc lướt các trang blog này, có trang thì giải trình vụ việc, đưa thông tin cải chính, bênh che các đại gia, các cá nhân làm sai pháp luật, tham nhũng và những vụ nói là có liên quan đến Thủ tướng, có trang thì công khai chê bai, chỉ trích TBT Trọng, CTN Sang… thấy những cuộc thông tin “mạng chiến” khá quyết liệt, phản biện thẳng thừng, thật không biết đâu mà lần.

Thế mà, cái biểu hiện rất lạ và khó hiểu ở chỗ các cơ quan chức năng, chuyên ngành, các báo, đài chính thống của Nhà nước do Chính phủ trực tiếp nắm, chỉ đạo tại sao vẫn thấy im hơi lặng tiếng khi thấy các trang blog đưa các ‘thông tin ngoài luồng’, coi như có hại cho uy tín lãnh đạo, mà không có sự phản biện, phê phán nào. Riêng trang Quanlambao đưa lên các tin, bài nóng hôi hổi, lạ hoắc, toàn tin thuộc diện “bí mật cung đình”, bí mật nghiệp vụ, lại còn thêm tranh, ảnh biếm họa, châm kích . Suốt mấy tháng liền Quanlambao cứ thoải mái thênh thang đi khắp thế gian, nhưng không một báo, đài nào có thông tin chính thống, đưa sự thật những bằng chứng, nhân chứng có tình thuyết phục đập lại, phản bác, phản biện, định hướng dư luận? Nếu như các trang thông tin điện tử, blog, các báo mạng gọi là ‘lề trái’ mà nêu lên sự thật, thì Đảng, Nhà nước cũng phải nghiêm túc, cầu thị xem lại, đừng vội chụp mũ vì dám nói ngược ý mình, dám công khai, minh bạch hóa, vội quy kết là do xúi giục của ‘thế lực thù địch’.

Theo thống kê, đến tháng 3-2012 cả nước có 786 cơ quan báo chí in với 1.016 ấn phẩm; 67 đài phát thanh truyền hình; 61 báo, tạp chí điện tử, 191 mạng xã hội, hơn 1.000 trang thông tin điện tử tổng hợp; gần 17.000 nhà báo được cấp thẻ hành nghề, hàng nghìn phóng viên đang hoạt động báo chí chuẩn bị đến thời hạn cấp thẻ. Về loại hình chủ yếu có báo in, đài truyền hình, đài phát thanh, báo điện tử. Về thứ bậc và phạm vi có báo Trung ương, báo địa phương, báo ngành,… Riêng trên mạng thì hầu như báo nào đã có báo in vẫn kèm theo trang báo điện tử, lại còn rất nhiều trang Thông tin điện tử từ bộ đến các ban, ngành, hội nghề nghiệp…Thế mà bạn đọc mở ra thấy không có phản hồi, phản biện gì trước các thông tin coi là ‘có hại’ là ‘xuyên tạc, bóp méo, bịa, sai sự thật’ trên các trang blog điển hình nêu trên. Chính phủ trực tiếp chỉ đạo, quản lý báo chí, sao không chủ động tung đội quân báo chí hùng hậu vào cuộc, “ra trận’? Cho các báo ‘lề phải’ là miếng ngon, miếng sạch, lành bệnh sao không cho bạn đọc “ăn” mà để cho những thông tin bôi xấu nói một bề, không ai lên tiếng? Hay im lặng chính là công nhận?

Tại sao Thủ tướng không làm cái việc cứ lẳng lặng, bí mật chỉ đạo ngành chức năng điều tra, chỉ rõ đích danh các trang blog nguy hại đó, đồng thời đóng cửa luôn rồi mới thông báo? Nay tung ra Văn bản ngăn chặn này thì những thông tin “mật”, những vụ việc lớn, nhạy cảm đã coi như đã “cài hết số”, những thông tin coi là gây phương hại đã đến hết với bạn đọc, sóng đã tung lên trời, đâu có lấy lại được? Những thông tin không muốn ấy đã tạo dư luận lớn rồi, quá nhiều thông tin giật nảy gân, chát chúa tận xương cốt nay cũng bảo hòa thì mới thấy Thủ tướng ‘tung chiêu” chỉ đạo. Chân tơ kẽ tóc của các nhân vật và vụ việc nổi cộm đã công khai cho cả thế giới. Có đánh bây giờ cũng như ‘đánh chuột chết’ mà thôi, chẳng đem lại tác dụng gì. “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”, huống hồ nay lượng thông tin khủng ấy đã dày đặc không gian. Nay mới phát đi công văn ấy thì quá muộn rồi, khác bào chạy bộ đuổi theo đàn ngựa đã chạy rất xa từ lâu. Trong khi đó lại chưa chặn được mạng khiến cho Công văn 7169 trở thành PR, tự quảng cao không công cho các trang blog, số người truy cập tăng vọt. Vô hình trung, công văn 7169 lại sinh ra hiệu ứng ‘lợi bất cập hại’ cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ. Nhiều người trước đây có nghe thông tin truyền khẩu mà gôc là từ các trang blog như D, Q, 3 Dũng, 4 sang, Anh lái đò…Họ nghe mà mặc kệ, không để ý, nay lại tìm các trang nghi là ‘phản động’ để đọc, mà còn đọc kỹ xem “nói xấu bôi đen” ở chỗ nào, càn thêm nguy hại. Như vậy, chẳng khác nào tự ‘vạch áo cho người xem lưng”.

Nhân sự kiện này, Tiến sĩ Tô Văn trường, đã có lời bình nghị:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu các cơ quan truyền thông (“đầu bảng” là báo Nhân Dân) tăng cường cung cấp thông tin kịp thời, chính xác và chủ động phản bác các thông tin không đúng sự thật và xuyên tạc chống Đảng và Nhà nước. Câu hỏi đặt ra vì sao báo Nhân Dân không đi vào cuộc sống (không có sạp bán báo nào ngoài phố bày bán báo Nhân dân mà thực tế cũng rất ít người dân đón đọc báo Nhân dân). Ngày 31/8 báo Nhân dân đăng bài “Xã hội dân sự một thủ đoạn của diễn biến hòa bình” của tác giả Dương Văn Cừ thể hiện sự ấu trĩ cả về nhận thức chính trị đã bị công luận phản ứng dữ đội. Xin mời đọc biên bản họp mở rộng của PPWG (File kèm theo để tham khảo).

Báo Quân đội nhân dân ngày 12/9 đăng bài “Tây Nguyên thương nhiều, yêu nhiều và ưu tư cũng nhiều” của 2 phóng viên Quang Hồi và Duy Thành nhân kỷ niệm 80 năm ngày sinh của nhà văn Nguyên Ngọc khiến ông phải thốt lên “Tôi đọc và kinh ngạc. Tôi bị nhét vào mồm nhiều câu vớ vẩn lẫn những ý rất bậy bạ”! Trong khi đó biết bao điều thiết thực người dân mong mỏi giới chức trách và các phương tiện truyền thông trả lời nhưng vẫn còn “nợ dân” như bệnh lạ ở Quảng Ngãi, cháy xe v.v…

Trên mạng đang loạn các thông tin là những điều lâu nay dư luận vẫn tranh luận. Có những thông tin có thể kiểm chứng, một số thì chưa nhưng phần lớn các băn khoăn là có thật và ai cũng thấy là có căn cứ. Tình hình hiện nay đang như một bài toán chưa có lời giải. Nhìn vào các ngóc ngách nào của bức tranh kinh tế xã hội hiện nay, những người có tâm với cuộc sống,con người và đất nước đều cảm thấy rất ưu tư, lo lắng.

Ngay cả những “thảo dân” làm nghề lái xe ôm, tắc xi hay bà nội trợ cũng cảm thấy rất rõ các dấu hiệu của các “cơn bão” của thời cuộc đang thổi chạm cả tới “số phận bé nhỏ” của mình ( thường thì bão đâu có chạm tới cỏ!). Trong “triều chính” chắc là người ta còn thấy rõ hơn nhiều. Nhiều bài viết của các chuyên gia, trí thức tâm huyết với đất nước cho thấy nhiều vấnđề lớn đang đặt ra rất ngổn ngang và chồng chéo. Không hiểu báo Nhân dân, Thông tấn xã VN, Truyền hình v.v… có đủ uy tín và năng lực để có thể giải đáp hướng dẫn dư luận như chỉ thị của Thủ tướng? (Tô Văn Trường).

Tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam (8/9/1962), Bác Hồ chỉ rõ: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Trong điện mừng Hội Nhà báo Á Phi (24/4/1965), Bác Hồ viết: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết…”

Ngày 21/7/1956, nói chuyện với lớp nghiên cứu chính trị khóa I, trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Bác Hồ chỉ rõ: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân – tức là phục tùng chân lý”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một tờ báo không có tính chiến đấu là tờ báo không có linh hồn. Nhà báo phải tự đặt cho mình câu hỏi: “Viết cái gì, viết cho ai, viết để làm gì?”.

Tất nhiên, người đọc các blog đều phải biết tự phân định hay-dở, đúng-sai, biết cách cảm nhận và tự lý giải. Đây cũng là kênh giao lưu nhanh, nhạy cảm, ngày càng thu hút nhiều người đọc, nhất là lớp trẻ. Nhà quản lý, cơ quan chuyên môn cũng nên thẩm định kỹ, nhưng trang blog đưa thông tin, viết bài thẳng thắn phê phán cái sai, loại trừ cái xấu, mang tính xây dựng cho Đảng mạnh, nước vững, dân yên không nên ‘vơ đũa cả nắm’, hoặc vì động cơ cá nhân thù vặt mà đối xử bất công, gây oan ức với các blogger, người truy cập, tham khảo thông tin blog. Nóng vội, hoặc do quá giận mà làm ẩu, bất chấp, cốt sao hả dạ, không khéo lại giống như “Vụ án 3 con vịt”.

Do tốc độ và chất lượng phát triển của công nghệ thông tin, báo mạng là mũi xung kích thời bùng nổ thông tin toàn cầu. Nó đang dần trở thành một sức mạnh áp đảo, đẩy báo in, báo nói, báo hình vào góc khó cạnh tranh. Thời đại này, không có báo nào truyền tin nhanh bằng báo mạng. Một sự kiện xảy ra tại bất kỳ nơi đâu, chỉ sau vài cú nhắp chuột là cả thế giới đều biết. Sự phát triển của báo mạng song hành với tốc lực phát triển nhanh, phổ cập và lan truyền chưa từng thấy của công nghệ thông tin. Chính vì thế, “khách hàng” của báo mạng ngày càng tăng nhanh với cấp số cộng. Đầu tư cho phát triển cũng như quản lý được báo mạng là tầm nhìn hiện đại.

Khi lãnh đạo và cơ quan chỉ đạo tuyên truyền, báo chí còn muốn thủ “cái loa riêng” đầy động cơ cá nhân chủ nghĩa, cục bộ, bản vị thì cũng khó mà đưa được những thông tin trung thực, khách quan đến với công chúng. Đây cũng là “hãm địa” của công luận. Và do vậy, tính chiến đấu của báo chí bị giảm đi, thậm chí bị triệt tiêu, cũng mất luôn tính trung thực, chính xác.

Ngày 8-2-2012, trong buổi làm việc với cán bộ chủ chốt Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Công tác tư tưởng, công tác tuyên giáo phải luôn đổi mới, không thể sáo mòn, bằng nhiều kênh thông tin phong phú, đa dạng, hiện đại… tăng cường đối thoại, phát huy hiệu quả các phương tiện báo chí, đặc biệt là báo mạng”.

Trong khi đó, không ít Tòa soạn có trụ sở khang trang, thoáng rộng ngay giữa trung tâm ‘đất vàng’ thành phố lớn. Đội ngũ cán bộ, biên tập viên, phóng viên, nhân viên đông lên vài trăm người đến cả nghìn người, nhà nước chi ra nguồn quỹ lương và chi ngân sách cho hoạt động khá lớn. Rồi phương tiện nghiệp vụ, xăng, xe, nhà in, tiền giấy, công in, phát hành. Nhưng hàng ngày bạn đọc mở các trang báo đọc không thấy gì mới, lại khô “như ngói”, có khi tuyên truyền những bài nặng về thống kê con số như đọc báo cáo. Nhiều khi, thông tin lại trùng lặp và chậm. Mở trang báo, chỉ thấy cái tiêu đề là hết muốn đọc – “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.

Những tờ báo còn duy trì lối thông tin cũ mèm như thế, người làm báo còn cái kiểu “hành chính ăn lương” như thế rất khó cạnh tranh, mất dần lượng người đọc. Nếu như không được bao cấp của nhà nước, lối làm báo như thế trong cơ chế thị trường và cạnh tranh thông tin như hiện nay chỉ có mà đóng cửa sớm. Khi tờ báo đến tay hoặc đặt trên bàn làm việc, không ai muốn đọc, mà gặp những tờ báo như thế, thông tin lạc hậu chung chung vô thưởng vô phạt như thế, bạn đọc cũng không biết đọc cái gì, đọc để làm gì, thật là lãng phí lớn mà hiệu quả tuyên truyền quá thấp.

Hiện nay, tính chiến đấu của báo chí đòi hỏi phải rất nhanh, nhạy, kịp thời, chính xác nêu đúng thực trạng, đúng bản chất sự việc, hiện tượng. Báo chí ở mọi loại hình phải là kênh thông tin quan trọng phục vụ cho lãnh đạo, phục vụ nhu cầu thông tin thời “kinh tế tri thức” của nhân dân một cách nhanh nhạy, chính xác, có khoa học, đúng pháp luật. Chỉnh đốn Đảng, chống tham nhũng, diệt ‘sâu” và bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ quốc gia hiện nay đang là mặt trận nóng bỏng. Theo lời dạy của Bác, lúc này báo chí không thể án binh bất động, lấy tờ báo làm kinh tế có thu nhập, làm chỗ dựa do cơ chế cho phép để nuôi nhau, mà báo chỉ phải ‘ra mặt trận’.

Vai trò tiên phong, tính chiến đấu của báo chí trong sự nghiệp đổi mới đất nước, trong cuộc chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết T.Ư 4 hiện nay càng cần các nhà báo coi chỗ đứng nghề nghiệp của mình là một vinh dự kèm theo trách nhiệm, một vị trí phải thường xuyên được coi như một mặt trận, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chi Minh như đã nêu trên: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”.

Trên mặt trận chống tham nhũng, chống đặc quyền đặc lợi, phanh phui những vụ việc vi phạm pháp luật và trấn áp làm mất dân chủ nghiêm trọng, triển khai thực hiện NQTWW 4, tình hình bảo vệ chủ quyền biển –đảo, thấy mạng lưới báo in, đài PT, đài truyền hình, báo mạng ‘lề phải’ đồ sộ đông đảo, chi ngân sách hoạt động hàng năm tốn nhiều tiền như thế mà không phát huy tác dụng được tính Đảng, thời sự, tính chân thật (trung thực), tính chiến đấu của báo chí cách mạng Việt Nam. Cho nên, cần xem lại tác dụng, hiệu quả tuyên truyền đi vào lòng người, tập hợp bạn đọc, định hướng dư luận, công khai minh bạch của hệ thống báo chí do Nhà nước đã cho ra đời và quản lý. Cần dám nhìn thẳng vào sự thật, thấy rõ mặt yếu kém và lạc hậu về quan điểm, cung cách thông tin của hệ thống báo chí, kiên quyết và nhanh chóng có sự mạnh dạn đổi mới, tái cấu trúc ngành báo chí cách mạng của ta. Có nhu vậy, báo chỉ mới xứng dáng là vũ khí sắc bén, người chiến sĩ xung kích, công cụ lãnh đạo hữu ích của Đảng, tiếng nói dân chủ, tin cậy của toàn dân.
Bùi Văn Bồng

Thuế thu nhập cá nhân và sự lãng phí


Hãy nhìn xa trông rộng
Đề xuất nâng mức giảm trừ gia cảnh từ 4 triệu đồng/tháng đối với bản thân người nộp thuế lên mức 9 triệu đồng và từ mức 1,6 triệu đồng/tháng đối với mỗi người phụ thuộc lên mức 3,6 triệu đồng của Chính phủ đã không được UB Tài chính Ngân sách tán thành.
Như vậy là những ý kiến đề xuất, góp ý xây dựng của các chuyên gia và cộng đồng đã không được ghi nhận. Có một điều rất đáng băn khoăn, trong khi Chính phủ đề xuất mức thu thuế khoan thư sức dân. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng tại phiên thảo luận về dự luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi cũng nói:“Tôi thấy mức giảm trừ gia cảnh nâng lên 9 triệu đồng hợp lý vì mức đó chỉ đủ sống tạm. 9 triệu là thu nhập chưa cao”.
Thế nhưng Ủy ban Tài chính Ngân sách Quốc hội thì lại hạ xuống.
Cái mà Ủy ban Tái chính Ngân sách lo toan là giảm thu ngân sách và làm mất đi bản chất của việc đánh thuế thu nhập bởi vì chỉ thu người có thu nhập cao. Ông Phùng Quốc Hiển – Chủ nhiệm Ủy ban cho rằng: “Mức nâng như Chính phủ đề xuất tôi sợ nhanh quá. Chúng ta sẽ phải bỏ ra 10.000 tỷ đồng để thực hiện chính sách, trong khi còn bao nhiêu vấn đề xã hội phải giải quyết”.
Điều mà ông Hiển nêu rất không thuyết phục, bởi vì số tiền mà ngân sách giảm thu từ việc nâng mức chịu thuế không mất đi đâu cả mà nó nằm trong dân. Số tiền đó phục vụ cho mục đích tiêu dùng, người dân có mua sắm, tiêu xài thì nền sản xuất mới phát triển. Nền sản xuất phát triển thì nhà nước thu được thuế. Nếu tính cho ra nhẽ, kinh tế phát triển, sản xuất ra nhiều hàng hóa sản phẩm, sức tiêu thụ cao thì nguồn thu ngân sách từ các hoạt động sản kinh doanh, dịch vụ không chỉ tạo nguồn thu ngân sách lớn mà còn bù đắp được khoản chênh lệch giảm từ việc nâng mức chịu thuế thu nhập cá nhân. Nhìn xa trông rộng chính là chỗ này đây.
Việc khác, thu nhập 9 triệu đồng/tháng mà cao ư! Nói như thế thì biết đến bao giờ dân mình mới khá được. Cuộc sống của con người không chỉ cơm ăn, áo mặc, mà còn nhiều điều kiện khác để làm nên một cuộc đời con người đúng nghĩa. Quan hệ xã hội, tích lũy văn hóa, chăm sóc sức khỏe là những giá trị làm nên giá trị sống, chất lượng sống. Các giá trị đó cũng phải mua bằng tiền, muốn xem một buổi ca nhạc, đi du lịch hay đọc một cuốn sách thì người ta phải bỏ tiền ra. Dân trí cao, đời sống tương đối ổn định thì sẽ hạn chế phát sinh các loại tệ nạn xã hội, nhà nước giảm bớt các khoản ngân sách giải quyết các vấn đề xã hội, thì đó cũng là cách tiết kiệm ngân sách. Nhìn xa trông rộng chính là chỗ này đây.
Một tầm nhìn khác đó là đời sống của luật. Luật Thuế thu nhập cá nhân bắt đầu có hiệu lực từ năm 2009, nhưng nó đã lạc hậu ngay từ khi mới sinh ra và phải loay hoay chỉnh sửa cho phù hợp với thực tiễn. Hãy hình dung, mức chịu thuế 7 triệu đồng như Ủy ban Tài chính Ngân sách đề xuất  ngay bây giờ đã còn nhiều tranh cãi, liệu đến khi áp dụng thực sự thì nó có còn là mức phù hợp nữa hay không? Coi chừng lúc đó lại hội họp để sửa đổi.
Hãy chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí cho tốt. Số tiền đó đủ sức để bù đắp nhiều lần vào khoản miễn giảm mức chịu thuế thu nhập cá nhân cho dân. Vinashin, Vinalines và không ít tập đoàn doanh nghiệp nhà nước phá hàng chục nhìn tỉ đồng, trong lúc lại thu thuế người dân sát rạt đến chi li là cực kỳ phi lý.
Lê Chân Nhân
Theo Dân Trí
Luật thuế và thứ lãng phí lớn nhất
Trong vô số những thông tin về luật thuế TNCN, rất hài hước, tờ PL TP dẫn lời “một lãnh đạo Ủy ban TC-NS” của Quốc hội “tiết lộ” trong 3 năm thực hiện luật thuế “đã đầu tư rất nhiều tiền để xây dựng phần mềm quản lý thuế. Nay nếu số lượng người nộp thuế giảm đi thì sẽ gây ra sự lãng phí lớn”.
Vị quan chức nọ không nói rõ “đầu tư rất nhiều tiền” là bao nhiêu. Cũng không giải thích “sự lãng phí lớn” là lãng phí so với cái gì.
Chiều qua, Chính phủ tiếp tục bảo lưu đề xuất nâng mức khởi điểm chịu thuế từ 4 lên 9 triệu đồng/tháng và mức giảm trừ cho người phụ thuộc từ 1,6 triệu lên mức 3,6 triệu đồng/tháng, dù theo tính toán, sự thay đổi khiến cho số người nộp thuế TNCN giảm từ 3,8 triệu người xuống chỉ còn khoảng 1 triệu, tương ứng là nguồn thu ngân sách giảm đi mỗi năm 14.000-15.000 tỷ đồng.
Sự giảm trừ nguồn thu ngân sách, và “sự lãng phí phần mềm quản lý” là hai trong những lý do khiến Ủy ban TC-NS cũng tiếp tục bảo lưu đề nghị giảm mức khởi điểm từ 9 triệu đồng xuống còn 7 triệu và giảm mức giảm trừ từ 3,6 triệu xuống còn 2,8 triệu.
Đề xuất này được đưa ra ngay trước và ngay trong phiên họp của Ủy ban thường vụ QH, chỉ 1 tuần sau khi một ủy ban khác, Ủy ban Kinh tế, cũng của Quốc hội- công bố báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 với một hiện thực thuế, phí rành rành hai chữ: “Quá cao”, khi thuế, phí chiếm tới 21,3% GDP, cao gấp từ 1,4 đến 3 lần các nước trong khu vực. Trong thực tế, cần phải nói thêm rằng, người dân cứ “mở mắt” là đã phải đóng thuế (gián thu). Thuế từ bát phở sáng, cốc trà đá, cho đến lít xăng mỗi ngày. Chứ đâu phải chỉ bị thuế trực thu đánh lên khoản thu nhập vốn đã ngày càng bèo bọt vì lạm phát hai con số trong suốt 5-7 năm qua.
Có thể, ở giác độ giám sát tài chính, ngân sách, Ủy ban TC-NS lo lắng cho ngân khố bị giảm thu, chắc cũng sẽ giải thích là “vì dân”. Nhưng suy cho cùng, nếu việc giảm thu đó xuất phát từ việc nới bớt các khoản đóng góp trực tiếp từ túi người dân, thì người dân sẽ nhìn thấy rõ hơn sự vì dân trong cách chính sách thuế, mà nói cách nào thì bản chất vẫn là thu từ dân để nuôi nhà nước. Hơn nữa, khó có thể thông cảm cho việc một ủy ban, gồm toàn những người đại diện cho dân chúng, lại đề xuất một thứ thuế lo cho cái chung chung là ngân sách nhà nước, thay vì đại diện cho quyền lợi trực tiếp của người dân.
Chiều qua, Chủ nhiệm Ủy ban TC-NS Phùng Quốc Hiển tính toán rằng: Hiện 51 triệu người có thu nhập, trong đó hơn 12, 6 triệu phải kê khai, và số phải nộp chỉ là 3,8 triệu. “Nếu so với Trung Quốc với Mỹ thì chúng ta chẳng còn ai phải nộp thuế. Chúng tôi đã nhìn với mức rất rộng rồi”- ông nói.
Nghe phát biểu của ông Hiển, người ta không thể không liên tưởng lại câu chuyện “đĩa rau muống xào ở Thượng Hải tới 200 nghìn, nhưng ở Việt Nam chỉ mấy chục” của một nghị viên mà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan gọi thẳng là “nghị sĩ rau muống”. Thực ra, chính xác phải là “Nghị sĩ phi rau muống”. Bởi nếu một nghị sĩ không nhìn thấy cuộc sống khó khăn của người dân, nhìn từ nước ngoài nhìn sang, hoặc tệ hơn, nhìn với lăng kính của một người đã lâu lâu “không ăn rau muống”, không làm dân, thì làm sao một chính sách có thể nói là vì dân được.
Cũng may là hôm qua, người dân còn được thấy những “nghị sĩ ăn rau muống”, hiểu được nỗi khốn khó của những người dân bị thuế phí “chất củi trên vai”. Bởi sự phản ứng của dư luận, cũng chính là những giọt nước cuối cùng rơi xuống chiếc cốc đã đầy sự kiên nhẫn và chịu đựng.
Một phần mềm quản lý không được sử dụng hết công xuất có thể là một sự lãng phí, nhưng liệu có sự lãng phí nào lớn hơn sự kiên nhẫn và sức chịu đựng người dân với những chính sách, những ý kiến vừa khiếm nhã, vừa thiếu thực tế, vừa đè đầu cưỡi cổ dân chúng.
Đào Tuấn

Choáng về tư duy thượng tôn pháp luật

“Đe” các ngân hàng không chịu hạ lãi suất, lấy tiền đâu ra thâu tóm ngân hàng, tội thâu tóm ngân hàng,… đấy là những cụm từ nóng trên báo chí trong những ngày gần đây.

Thông tin úp úp mở mở, đăng rồi gỡ xuống, chẳng còn biết đâu mà lần. Việc ấy tạo ra mảnh đất màu mỡ cho những tin đồn và không có gì hủy hoại lòng tin hữu hiệu hơn thông tin bất nhất, quanh co, mập mờ và những tin đồn.

Trong tình hình ấy những phát ngôn chưa thận trọng của những người lãnh đạo có thể rất nguy hại, đẩy nhanh việc hủy hoại lòng tin mà lòng tin là một trong những nhân tố tối quan trọng để cho thị trường và xã hội vận hành suôn sẻ, và là một trong không nhiều việc nhà nước cần tạo dựng và duy trì.

Bức xúc trước việc các doanh nghiệp lao đao, khó tiếp cận vốn, mà các ngân hàng lại chưa hạ lãi suất nhanh, nên trong một cuộc họp giữa doanh nghiệp và ngân hàng một vị lãnh đạo của một thành phố lớn được báo chí đưa tin rằng ông đã đe “những ngân hàng không giảm trần lãi suất cho vay thì trong cuộc họp Hội đồng nhân dân thành phố, tôi nói vài câu là người dân … rút hết tiền gửi vào ngân hàng khác, lúc đó đừng có kêu”.

Có thể hiểu được sự bức xúc của vị lãnh đạo ấy. Nhưng nếu tường thuật của báo là đúng, thì cũng thật đáng bàn về lời “đe nẹt” trên của ông.

Các ngân hàng quốc tế và các ngân hành chưa có mặt tại thành phố của ông, nghe ông “đe” như vậy chắc sẽ “vãi linh hồn” và hẳn phải cân nhắc chán xem có nên hoạt động ở đó hay không.

Bất kể ai mà “nói vài câu” khiến “người dân rút hết tiền” từ một ngân hàng để “gửi vào ngân hàng khác”, thì người đó đích thực vi phạm quyền tự chủ hoạt động của các ngân hàng được quy định tại Điều 7 của Luật các tổ chức tín dụng, là kẻ xúi giục, phá hoại và có thể làm sụp đổ hệ thống ngân hàng và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đấy là chưa nói đến quy định “trần lãi suất cho vay” có hợp pháp hay không, cũng chưa nói đến ý “lạm dụng quyền lực” và tư tưởng gia trưởng độc đoán.

Phải nói cho rõ: nhà nước không phải, và các quan chức nhà nước càng không phải là “cấp trên” của các ngân hàng.

Chức càng to càng phải tuân thủ pháp luật, cách “đe nẹt” vô lối như vậy là không thể chấp nhận được.

Thế mà theo báo chí, một cựu Thống đốc lại “hoan nghênh và hoàn toàn ủng hộ với bài toán này” của vị lãnh đạo đó. Tuy nhiên, ông cũng do dự khi nói thêm “trong trường hợp khác, nếu ngân hàng nhà nước không có chủ trương này mà chỉ” ông lãnh đạo ấy “can thiệp vào, áp đặt thì nó sẽ khác, sai quan điểm. Nhưng trong trường hợp này, Ngân hàng nhà nước đã có chỉ đạo và” ông ấy “đã làm đúng chức năng nhiệm vụ của mình”. Lạm phát tăng cao, rồi lại thiết chặt tiền tệ quá mức và không nghiêm trị các ngân hàng yếu kém đẩy lãi suất lên là nguyên nhân chính của tình hình. Đó là lỗi điều hành chính sách và cái “chủ trương”, “quan điểm” về trần lãi suất cho vay là trái quy luật và trái luật. Nên sự biện bạch vòng vo như thế cũng không che được ý định vi phạm luật và lạm dụng quyền lực.

Cả hai vị đều là các đại biểu quốc hội, người dân có thể hỏi lấy đâu ra sự thượng tôn pháp luật, bao giờ mới có nhà nước pháp quyền khi những người trong cơ quan lập pháp có tư duy như vậy?

Rồi còn nghe người ta nói “về tội phạm thâu tóm ngân hàng” về “yêu cầu điều tra, xử lý nghiêm minh”. Theo tôi biết trong luật hiện hành của Việt Nam không có “tội thâu tóm ngân hàng”. Các nhà lập pháp hãy quy định rõ ràng về tội đó, rồi mới có thể “yêu cầu điều tra, xử lý nghiêm minh” những kẻ vi phạm. Mua-bán (và thậm chí thâu tóm) doanh nghiệp là chuyện bình thường. Lừa đảo, không tuân thủ quy định trong mua bán cổ phần là phạm pháp nhưng là chuyện khác. Không có cái gọi là “tội thâu tóm ngân hàng”. Như thế nếu có kẽ hở, lỗ hổng luật pháp để cho một số người lợi dụng trong mua bán cổ phần thì trước tiên các nhà lập pháp phải nhìn lại lỗi của chính mình và sửa hay bổ sung luật.

Tại phiên chất vấn của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội, trả lời một đại biểu, thống đốc ngân hàng nhà nước được cho là đã nói rằng “Ai đi thâu tóm Sacombank không báo cáo với Ngân hàng Nhà nước, do vậy tôi cũng không biết họ lấy tiền đâu ra… Khi nào Đại hội cổ đông chốt lại thì mới biết một cổ đông tham gia bao nhiêu cổ phần có phù hợp với quy định không. Còn tiền ở đâu, hiện nay chúng tôi đang thanh tra Sacombank, đến hết tháng 8 này sẽ hoàn thành. Khi đó sẽ … công bố kết luận thanh tra công khai.”

Ông không sai khi đá trách nhiệm sang cho cơ quan khác, nhưng cũng cho thấy kẽ hở đâu đó trong quy định hiện hành về chứng khoán và sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý. Một số nhà đầu tư đã bị Ủy Ban chứng khoán phạt về vi phạm thủ tục (thông báo nếu sở hữu đến 5%). Nên rà lại quy chế theo hướng gộp toàn bộ cổ phần của những người có liên quan (công ty liên quan, vợ con, anh em) và thậm chí hạ ngưỡng 5% xuống (G. Soros khi mua gần 2% cổ phần tại đội bóng Anh, Manchester United, thì phải báo cáo ngay cho SEC, Ủy Ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa Kỳ!). Với hệ thống lưu ký điện tử như hiện nay của Việt Nam có thể kiểm tra và phát hiện ra ngay sự vi phạm, nếu muốn.

Cũng tương tự, hệ thống thanh toán, mà Ngân Hàng Nhà nước đã xây dựng với hàng chục triệu USD tài trợ của Ngân hàng Thế giới, cho phép Ngân hàng Nhà nước kiểm tra các nghi vấn chuyển tiền rất nhanh chứ không quá phức tạp đến mức “không biết họ lấy tiền đâu ra”.

Đã hết tháng 8 từ lâu chưa rõ lời hứa “công bố kết luận thanh tra công khai” đã được thực hiện chưa?

Người dân có quyền yêu cầu các vị hãy cẩn trọng khi phát ngôn và nhất là phải gương mẫu hành động theo tinh thần thượng tôn pháp luật.
Nguyễn Quang A
Theo Ba Sàm

Thứ Năm, ngày 13 tháng 9 năm 2012

Biểu tượng của sự lãng phí mang tên Vinaline

4,1 tỷ đồng cho một lễ khởi công, cho dù đối với một cảng trung chuyển tầm cỡ…quốc tế, kể ra cũng là một kỷ lục vô tiền khoáng hậu. Nhưng hóa ra, 4,1 tỷ đồng cho lễ khởi công Vân Phong vẫn chưa phải là giới hạn cuối cho biểu tượng của sự lãng phí mang tên Vinaline
Tháng 10-2009, lễ khởi công dự án Cảng trung chuyển Quốc tế Vân Phong đã được Vinaline tổ chức đặc biệt hoành tráng. Sau này, độ “hoành tráng” được mô tả bằng một con số trong báo cáo của Thanh tra Chính phủ: Theo quy định, lễ khởi công chỉ được phép tiêu tối đa 50 triệu đồng, song Vinalines đã chi tới 4,144 tỉ đồng để tổ chức.

Ngay sau đó, trả lời câu hỏi “tiền đâu”, TGĐ Vinaline, ông Dương Chí Dũng đã sử dụng thuật ngữ “phát huy tối đa nội lực của chính mình”. Nào là huy động từ quá trình tập trung đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, trích lợi nhuận ra đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hàng hải. Nào là huy động nguồn vốn từ công tác sắp xếp cổ phần hoá các doanh nghiệp của ngành hàng hải. Rồi thì “Huy động vốn thông qua các nguồn tiền niêm yết các cổ phiếu của các doanh nghiệp đã cổ phần ra thị trường chứng khoán trong nước và tới đây sẽ niêm yết ra thị trường quốc tế”. Và ghê nhất là việc “Thuê tư vấn nước ngoài đánh giá các hệ số tín nhiệm của Vinalines để tự phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra nước ngoài để thu hút tài chính vào các dự án trọng điểm có hiệu quả”…

Tất cả đều là ảo, đều là những “con cua trong lỗ” khi mà tại thời điểm khởi công dự án, theo kết luận của Thanh tra Chính phủ “chưa có tổ chức tài chính nào bảo đảm vốn đầu tư cho dự án”. 4,1 tỷ đồng cho một lễ khởi công, cho dù đối với một cảng trung chuyển tầm cỡ…quốc tế, kể ra cũng là một kỷ lục vô tiền khoáng hậu. Nhưng hóa ra, 4,1 tỷ đồng cho lễ khởi công Vân Phong vẫn chưa phải là giới hạn cuối cho biểu tượng của sự lãng phí mang tên Vinaline.

Cuối năm ngoái, Dự án phải tạm dừng sau khi đã khởi công được 2 năm để “khảo sát lại địa chất”. Và giờ, 3 năm sau lễ khởi công hoành tráng, Vân Phong phải tạm dừng trong hoàn cảnh hàng trăm cọc thép đóng dở, hoặc không đảm bảo quy chuẩn do… thừa độ dài, đã gỉ sét; các hạng mục trị giá hàng trăm tỷ đồng khác đang bị bỏ hoang, người chịu trách nhiệm trực tiếp, ông Dương Chí Dũng, vừa bị bắt giữ. Và đặc biệt là vốn đầu tư, do thời gian kéo quá dài, đã “đội” từ 3.000 tỷ năm 2007, lên gấp đôi (6.000 tỷ) vào thời điểm khởi công, và giờ đã “dự kiến” lên tới hơn 10 ngàn tỷ. Không biết bao nhiêu tiền của, công sức, và cả tâm huyết giờ coi như đổ cả xuống sông, xuống bể. Tổng thư ký Hội Khoa học Kỹ Thuật Biển TP HCM, ông Doãn Mạnh Dũng, Có lần lấy số liệu lượng hàng hóa nhập khẩu trong nước và hàng trung chuyển năm 2010 vào khoảng 1,05 triệu TEU, đã ước tính số tiền bị thất thoát do nguồn lực của cảng Vân Phong không được khai thác vào khoảng 336 triệu USD/năm.

Kể từ khi ý tưởng xây dựng Cảng Vân Phong được khởi xướng năm 1997, đã 15 năm trôi qua, cảng trung chuyển quốc tế chiến lược, động lực cho kinh tế biển, không chỉ của miền trung, vẫn nằm trên giấy. Và vẫn sẽ còn nằm trên giấy chưa biết đến bao giờ. Bởi lời “kêu gọi nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tham gia đầu tư xây dựng Dự án” thực ra cũng giống với việc thừa nhận sự bất lực. Đổi lại, chỉ nhẹ như bấc là một lời nói “thông cảm” của Bộ trưởng Bộ GTVT. 4 năm trước nhà khoa học ngay thẳng Doãn Mạnh Dũng đã viết rằng: “Yếu tố tự nhiên tốt sẽ đem lại lợi nhuận còn lớn hơn cả sức lao động mà con người phải bỏ ra”. Chỉ có điều, ông Dũng, và tất cả những người quan tâm đến Vân Phong quên mất một điều rằng yếu tố tự nhiên cần phải có sức lao động của con người, chứ không phải chỉ những lời chém gió, dù là của người đứng đầu một tập đoàn kinh tế nhà nước từng được xem là hùng mạnh. Bỏ hoang tài nguyên chiến lược, dù với bất cứ lý do nào, có lẽ, đó mới là sự lãng phí lớn nhất.
Đào Tuấn

Thủ tướng: Yêu cầu điều tra trang mạng “Quan làm báo” và “Dân làm báo”

Đó là một trong những nội dung của công văn hỏa tốc theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về vấn đề xử lý một số trang thông tin điện tử đăng tin xuyên tạc kích động chống Đảng và Nhà nước ta…

Văn phòng Chính phủ vừa có công văn thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ gửi đến Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông và Ban Tuyên giáo Trung ương về tình trạng một số trang thông tin điện tử như: “Dân làm báo”, “Quan làm báo”, “Biển Đông” và một số trang mạng khác đã đăng tải thông tin vu khống, bịa đặt, xuyên tạc không đúng sự thật nhằm bôi đen bộ máy lãnh đạo của đất nước, kích động chống Đảng và nhà nước ta, gây hoài nghi và tạo nên những dư luận xấu trong xã hội.

 Trong công văn nêu rõ “Đây là thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch”. Theo đó, Thủ tướng có ý kiến chỉ đạo giao Bộ Công an chủ trì phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan chức năng tập trung chỉ đạo điều tra, xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.

Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo các cơ quan cung cấp thông tin khách quan, đúng sự thật về tình hình các mặt của đất nước ta, nhất là các vấn đề mà dư luận quan tâm; chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan xử lý nghiêm việc thông tin, tuyên truyền không đúng sự thật. Khẩn trương trình Nghị định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng.

Báo Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường cung cấp thông tin kịp thời, chính xác và chủ động phản bác các thông tin không đúng sự thật, xuyên tạc, chống Đảng và Nhà nước.

Các Bộ, ngành, các địa phương lãnh đạo cán bộ, công chức, viên chức không xem, không sử dụng, loan truyền và phổ biến các thông tin đăng tải trên các mạng phản động…

Theo GDVN/ChinhPhu.vn

Thứ Tư, ngày 12 tháng 9 năm 2012

Quốc hội và lòng dân


Quốc hội nước ta trực tiếp quyết định ngân sách (quyết định các khoản thu và phê chuẩn các khoản chi) kể từ kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XI  (tháng 11.2008). Khi đó các chuyên gia lập pháp đánh giá, nó đánh dấu bước tiến mới của đất nước trên con đường dân chủ và đổi mới.
Bởi lẽ, về mặt nguyên tắc, có thêm một thiết chế bảo vệ cử tri trước việc có thể bị áp đặt các khoản thu và đặc biệt là nguy cơ chi tiêu công vô nguyên tắc.
Nhưng giá trị của việc Quốc hội quyết định ngân sách dường như đã bị “méo” đi khi mà Ủy ban Tài chính -Ngân sách của Quốc hội đã không đồng tình với đề xuất của Chính phủ nâng mức khởi điểm chịu thuế TNCN và mức giảm trừ cho người phụ thuộc vì lo sợ ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước. Nó càng khiến cử tri bức xúc hơn nữa, khi mà, tình trạng lạm thu từ thuế và phí ở VN được cảnh báo rằng quá cao. Tỷ lệ thuế, phí chiếm 21,3% GDP, là cao gấp 1,4 đến 3 lần các nước trong khu vực.
Có lẽ các vị đại biểu Quốc hội cần phải thử sống bằng lương và thu nhập chịu thuế của một gia đình bình thường để nhận ra rằng mức thuế TNCN hiện là quá cao và bất hợp lý. Việc trừ các chi phí trước khi nộp thuế là cách làm của nhiều nước bởi người nộp thuế phải có thu nhập bảo đảm được cuộc sống của họ và gia đình (tương đương với sức lao động của họ) trước khi nộp thuế. Tại Mỹ, trước khi tính thuế TNCN, Chính phủ còn khuyến khích người dân gửi tiết kiệm hưu trí và khoản này được trừ trước khi xác định thu nhập tính thuế. Ngoài ra, họ cũng được loại trừ một số khoản chi như học phí cho con, chi phí chuyển nhà, thuê người giúp việc nước ngoài…
Một so sánh nhỏ cho thấy mức điều tiết của luật Thuế TNCN tại VN hiện nay quá cao. Một người độc thân tại Mỹ có thu nhập là 30.000 USD/năm, sẽ chịu thuế là 1.930 USD (bằng 6,43% thu nhập). Trong khi đó, người VN có mức thu nhập tương đương vào thời điểm hiện nay khoảng 600 triệu đồng, số thuế đóng khoảng hơn 105 triệu đồng/năm (bằng 16,8% thu nhập).
Chống lạm thu là một phần trong nhiệm vụ ngân sách mà Quốc hội cần làm để bảo vệ hàng vạn hộ kinh doanh và hàng triệu người lao động. Việc tăng thu chỉ có thể được thực hiện nhờ các biện pháp nâng cao tỷ lệ tuân thủ, chống thất thu và buôn lậu, không bao giờ là việc tăng thuế đánh trực tiếp vào người dân.
Tiếc rằng, các kỳ quyết toán ngân sách tại Quốc hội mới chỉ dừng lại ở việc “đóng dấu” cho các báo cáo. Phải thừa nhận rằng, các con số tài chính là rất khó hiểu với nhiều đại biểu, trong khi họ có rất ít thông tin độc lập từ các cơ quan của Quốc hội. Và thật trớ trêu khi một ủy ban chuyên trách như Ủy ban Tài chính – Ngân sách lại lo chống “giảm thu mất 13.350 tỉ đồng/năm từ tăng mức khởi điểm chịu thuế TNCN và mức giảm trừ cho người phụ thuộc” hơn là làm rõ, tại sao Chính phủ lại đề nghị quyết toán đối với 200.000 tỉ đồng “không đủ điều kiện quyết toán” (quyết toán ngân sách nhà nước năm 2010).
Việc Quốc hội xem xét để bảo đảm rằng, các nguồn thu đã được sử dụng đúng mục đích, đạt hiệu quả và đảm bảo tiết kiệm, sẽ tích cực hơn là “đảm bảo nguồn thu” từ việc tăng thuế. Gánh nặng thuế quá lớn sẽ chỉ khuyến khích việc trốn thuế và bóp méo sự phân bổ nguồn lực. Quyết sách của Quốc hội cần phù hợp với lòng dân.
An Nguyên
Theo Thanh Niên

Vài sự thật năm 2012


Dường như tìm một khe hẹp an toàn, yên tĩnh để sống giờ này bỗng khó hơn bao giờ hết. Bất an tới mức vừa nói điều gì đó thì ngay lập tức nhớ tới chuyện khác còn bất an hơn. Sống sao khốn khó vậy?
Thủy điện sông Tranh I là mối đe dọa hàng nghìn người dân sống dưới chân đập. Nhưng người ta vẫn bảo an toàn, có thể tích nước để chạy thủy điện. Người nói an toàn vì không phải đêm đêm mất ngủ lắng nghe tiếng nước chảy để giật mình, nên cứ đề nghị và ra quyết định. Động đất nhiều bất thường, chưa từng thấy cũng không gây chấn động đến lương tâm những người có trách nhiệm. Tâm chấn lan tỏa, tan biến trong sự tham lam, vô cảm của con người. Bỏ đập thủy điện hay bỏ dân?
Viện bảo tàng Lịch sử đã trình đề án xây dựng hết hơn 11.000 tỷ đồng. Nếu thông qua và tiến hành xây dựng thì sẽ có viện Bảo tàng Vô cảm trường tồn với thời gian. Người ta sẽ nhớ nó được xây dựng vào cái thời khốn khổ, người dân đang kiệt quệ cùng cực. Nhà nghèo chơi sang là thế đấy. Nếu công tử Bạc Liêu sống dậy chắc chắp tay vái đám hậu duệ của ông. Chả khác gì tấm bia miệng, một bằng chứng sống động của một thời “đểu cáng đã lên ngôi”.
Thọ Xuân (Thanh Hóa) nửa đêm vỡ đê khiến người dân hoảng loạn và hơn nghìn người bỏ chạy khỏi ngôi nhà ngập nước của mình. Còn ở Quỳnh Lưu (Nghệ An) thì vỡ đập thủy điện, bao vây hàng chục ha lúa, hoa màu của dân. Thiên tai và nhân tai đang góp sức bần cùng hóa dân nghèo. Khi mà tiền thất thoát, tham nhũng tính hàng tỷ đô la vẫn chưa có ai đứng ra nhận trách nhiệm. Hóa ra từ trước tới nay có người “vô hình” điều hành đất nước. Kẻ chịu trách nhiệm ở những người nắm quyền hành rất mơ hồ, nhưng khổ đau của người dân là rất thật.
Chương trình truyền hình thực tế The Voice lộ tẩy dàn xếp chung cuộc ầm ĩ trên mạng. Hóa ra là thế. Hóa ra những gì người ta nói về giới showbiz chả sai. Nhưng trách gì showbiz khi người ta dàn xếp cả nhân sự cho việc lớn của đất nước? Cũng là tiếp nối “truyền thống”, là phát huy tính “chủ động, sáng tạo” lâu nay vẫn được sử dụng ở khắp mọi nơi. Trách ai chấp nhận những cuộc chơi như thế…Cuộc thi thật, tiền thật, giá trị ảo, danh phận mỏng. Cuộc sống là những tiếp nối những giả dối choáng ngợp.
Một ngày đẹp trời, người ta bỗng đưa ra danh sách những ngân hàng được xếp hạng tín nhiệm cao chất ngất. Toàn những ngân hàng vừa qua lùm xùm nhiều trên mạng vì chuyện thao túng mờ ám, chuyện làm ăn bất minh…Cũng chụp ảnh trao bằng. Chỉ ngày sau đã có bài phản bác, có đơn thư của các ngân hàng khác không chấp nhận kết quả đó. Hội đồng biên soạn CRV Index 2012 bảo, do các nguyên nhân chủ quan và khách quan trong điều kiện thực tế nên nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót. Câu này người nghe nghe mãi chán, nhưng người nói không chán cứ lặp lại. Để làm gì? Trời biết. Không lẽ xin các ông ấy hãy thương cho cảm xúc người dân, đừng lập hội đồng để xác quyết những điều không ai còn tin nữa. Chính các ông ấy còn thú nhận chưa hề khảo sát thực tế mà chỉ căn cứ vào thông báo của từng ngân hàng. Thế ra các thông báo của những ngân hàng được xếp loại A là đồ đểu? Không thì sao bị phản ứng dữ vậy? Cũng là cách dàn xếp như The Voice? Ai là nhạc sỹ Phương Uyên trong vụ này? Mà Phương Uyên đã lên tiếng xin lỗi rồi đấy. Tiếp theo “The Voice of Banks” thì ai sẽ lên tiếng xin lỗi? Dân chúng bị quan chức, đại gia đối xử như thời chỉ có hai tờ báo là Nhân dân và QĐND đưa tin không bằng…
Lại nghe kể vừa mới đây ở Văn Giang, chỉ có khoảng 10% nhà dân treo cờ Tổ quốc trong ngày 2/9. Có ai đó đến tìm hiểu thì bà con cho biết, cờ đỏ sao vàng nhiều lần bà con dùng cắm giữ đất được trao quyền sử dụng, đã bị “thế lực thù địch”, “tổ chức” đen tối nào đó cướp và thủ tiêu mất nên giờ chả còn cờ để treo. Người kia hỏi tiếp: “Hiện nay chính quyền có gây sức ép, buộc dân phải lấy tiền đền bù nữa không?”. Bà con nói: “Việc gây sức ép với dân chúng tôi hiện nay còn dã man hơn trước”. Hỏi: “Chính quyền có đứng về dân không?”. Trả lời: “Chính quyền không đứng về phía dân, không được lòng dân. Kể cả cán bộ đã nghỉ cũng bị dân khinh, không dám nhìn mặt dân”.
Lại được nghe kể thêm: Con trai anh Lê Văn Thông, trú tại thôn 4 xã Xuân Quan thi đỗ vào trường Cảnh sát nhân dân. Sau tết Độc Lập, cậu sinh viên mới về xã xin xác nhận lý lịch thì UBND xã, trực tiếp là ông Lê Quý Đôn – Phó chủ tịch UBND xã thông báo không xác nhận được vì bên công an có ý kiến vì anh là cháu ông Lê Văn Nuôi (đã mất) và bà nội anh hiện chưa nhận tiền đền bù đất ruộng cho dự án Ecopark nên xã không được phép xác nhận. Trên thực tế đất đai của hộ anh Lê Văn Thông không liên quan đến hộ nhà cụ Nuôi, cha anh. Ai ra lệnh cho UBND xã làm việc này? Chắc gì đã là cơ quan công an? Có ai lợi dụng miệng lưỡi của công an không? Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép dân đến mức ấy? Làm vậy khác gì chính quyền “tự diễn biến” trở thành “thế lực thù địch” của dân?
Thùy Linh
Theo Thùy Linh blog (tựa bài của HDTG)

11 ngàn tỷ và những ngôi chùa bà Đanh

Bảo tàng là nơi lưu giữ lịch sử, nhưng không phải cái có thể làm nên những điểm 10 môn sử, lại càng không phải là thứ nên lịch sử
Có 2 dòng tin xuất hiện trong cùng một ngày: Trong khi bội chi ngân sách tháng 8 lên tới hơn 26 ngàn tỷ đồng thì Bộ Xây dựng có tờ trình thẩm định dự án Bảo tàng lịch sử quốc gia với chi phí vào khoảng 11.277 tỷ đồng. 11.277 tỷ cho một viện bảo tàng, dù là tầm cỡ quốc gia, là cần thiết hay không, có đúng lúc hay chưa, sẽ còn là đề tài tranh luận dài dài. Thế nào cũng có người sẽ nói việc gìn giữ những di sản văn hóa, những hiện vật lịch sử thì không thể dùng thước đo đồng tiền. Nhưng những đồng tiền, hàng ngàn tỷ, ngàn tỷ đã, đang và sẽ chi cho những viện bảo tàng rõ ràng không làm nên những điểm 10 môn sử.

Tháng 5-2005, Cục Di sản tổ chức một hội thảo toàn quốc với câu hỏi đặt ra to đùng “Vì sao bảo tàng vắng khách”. GĐ Bảo tàng Dân tộc học VN, TS. Nguyễn Văn Huy phát biểu, nguyên văn: “Trước hết, chúng ta chưa thực sự hiểu công chúng muốn gì, mong đợi gì ở bảo tàng. Chúng ta vẫn tổ chức trưng bày theo chủ ý của chúng ta”. Các hiện vật trong viện bảo tàng bấy giờ đang chết, đang thiu, đang thiếu hấp dẫn đến mức giống như bày ra trước nhân dân một tảng thịt mỡ, trong một cách thức trưng bày “như gánh hàng xén”. Ông Huy có quyền trả lời câu hỏi đó. Đơn giản là bởi Bảo tàng Dân tộc học là độc nhất vô nhị, trong số 138 viện bảo tàng trên cả nước không rơi vào cảnh “vắng như chùa bà Đanh”.

3 năm sau đó, trong phiên thảo luận về dự thảo Luật quản lý và sử dụng tài sản nhà nước tháng 5-2008, ĐBQH, GS Nguyễn Lân Dũng, tỏ ra gay gắt trước hiện trạng: Viện bảo tàng bên ngoài là quán bia, bên trong là chỗ giữ xe, là hội trường tổ chức đám cưới…

Và nói đến bảo tàng, không thể không nhắc tới Bảo tàng Hà Nội- “công trình ngàn năm” trị giá 2.300 tỷ, từng được Bộ trưởng Võ Hồng Phúc dùng làm “ví dụ” nổi tiếng như một “điển hình” về sự lãng phí. Thậm chí siêu lãng phí.

Nhưng Bảo tàng 11 ngàn tỷ chưa phải là cái cuối cùng. Bởi theo Quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm 2020 (đã được phê duyệt từ 2005) thì chỉ trong vài năm nữa, số lượng bảo tàng ở Việt Nam sẽ lên tới con số 172, với 40 ở Hà Nội và 19 ở TP HCM.

Bảo tàng là nơi lưu giữ lịch sử, nhưng không phải là thứ làm nên lịch sử. Bởi vậy, trong tình trạng 138 viện bảo tàng, có tới 137 “vắng như chùa bà Đanh” thì rõ ràng, việc bỏ ra hơn 11 ngàn tỷ từ ngân sách để xây thêm một “chùa bà Đanh”, một “quán bia”, một “hội trường tổ chức đám cưới”, không thể gọi khác hơn là một sự lãng phí. Và đây là sự lãng phí một cách vô tâm, xảy ra trong bối cảnh bệnh nhân viện K phải nằm trị bệnh dưới gầm cầu thang, học sinh Biên Hòa vẫn phải học 3 ca, và ở bất cứ địa phương nào, có vô số những người dân không tâm trí đâu để quan tâm đến bảo tàng, khi mà chuyện đáng lo là một mái nhà che mưa nắng cả đời phấn đấu vẫn chưa có nổi.

Trả lời báo chí ngày hôm qua, nhà sử học Lê Văn Lan cho rằng: “Sẽ tốt hơn nữa khi chúng ta nghĩ ra cách làm thế nào để hàng năm, sau mỗi kỳ thi tốt nghiệp và đại học sẽ không còn cảnh hàng nghìn thí sinh bị điểm “0” môn Lịch sử mà không cần phải tốn kém đến hàng chục nghìn tỷ đồng như dự án xây dựng bảo tàng nói trên”.

Lịch sử do nhân dân viết nên. Lịch sử tồn tại trong lòng dân trước nay vẫn được lưu truyền đời này qua đời khác. Chúng ta cần có những viện bảo tàng để lưu giữ những dấu ấn lịch sử, nhưng đó không thể là việc đổ những núi tiền cho những “ngôi chùa bà Đanh”, nơi hiện vật lịch sử ngập trong bia, lạc lõng trong tiếng nhạc đám cưới và phủ bụi, chết cứng trên giá trưng bày.

Đào Tuấn
Theo Đào Tuấn blog

Thứ Ba, ngày 11 tháng 9 năm 2012

“Trăm gian” và còn ngàn gian nữa

Lịch sử của dân tộc cũng giống như trí nhớ của con người. Con người không nhớ được quá khứ là con người  bất bình thường. Dân tộc không lưu giữ được lịch sử văn hóa của cha ông để lại thì chẳng khác gì người mất trí nhớ. Di tích văn hóa là một phần của lịch sử, hủy hoại nó chính là hủy hoại trí nhớ của dân tộc.
Vụ ngôi chùa Trăm gian bị hủy hoại do sự tối dạ của con người chưa im tiếng được, bởi vì từ trong đống đổ nát đó có nhiều chuyện để bàn.
Sau khi báo chí phát hiện đưa tin chùa bị phá hoại bằng cách thay mới, có rất nhiều cuộc họp được tổ chức, từ cấp sở đến UBND TP. Hà Nội. Mới toanh là Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể Thao – Du lịch trả lời phỏng vấn trên chương trình thời sự của Đài truyền hình Việt Nam. Hóa ra, người ta cũng quan tâm tới di tích văn hóa lắm chứ!
Nhưng than ôi, cho dù có họp trăm cuộc, vạn cuộc thì cũng không thể cứu được ngôi chùa nữa. Nó đã bị bức tử, mọi sự phục dựng đều vô nghĩa. Thời gian là ngôn ngữ của di tích, nhưng dấu vết thời gian phong sương đó đã mất rồi.
Và cũng đáng để cảm thán thay, một vụ tày trời như thế, chỉ có ông Trưởng ban quản lý di tích chùa Trăm gian bị cách chức. Ai cũng biết thói đời “cờ bí…”, nhưng cỡ chức vụ ngang với “ông từ” giữ đền mà cũng hô hoán lên là cách chức làm chi cho thiên hạ cười. Đã “cách” thì “cách” luôn các vị quan chức có sao, có số cho nó oách, nó đáng “đồng tiền, bát gạo” chứ ai lại lôi “ông từ” ra thế mạng.
Thôi, chuyện chùa Trăm gian coi như xong vì hai hạng mục Gác Khánh và nhà Tổ đã bị xóa sổ, nhưng từ đó, hãy thức tỉnh để giữ hàng ngàn di tích lịch sử, văn hóa còn lại.Báo chí vừa đưa tin nóng giòn, tại Văn Giang, Hưng Yên, người dân gửi đơn lên Thanh tra Bộ VH-TT-DL kêu cứu về việc đình cổ Ngu Nhuế, di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia đã bị san phẳng. Còn nhiều nơi khác, di tích xuống cấp nghiêm trọng, cổ vật bên trong bị trộm cắp, lần hồi chỉ còn có cái biển ghi chữ “Di tích”, còn bên trong đã tan hoang. Càng nghĩ càng thấy xót xa.
Có những di tích lịch sử, văn hóa bị người ta thay đá thềm xưa cũ bằng đúc xi măng, gạch xưa cũ bằng gạch Tàu đời mới, mái ngói xưa cũ bằng ngói đỏ lòe loẹt, cột gỗ xưa cũ bằng cột xi măng tô màu sặc sỡ… Trong sự phá hoại này, một phần do cái tham, một phần do thiếu hiểu biết. Làm công tác bảo tồn văn hóa mà thiếu hiểu biết về văn hóa thì chẳng khác gì phá hoại.
Lịch sử của dân tộc cũng giống như trí nhớ của con người. Con người không nhớ được quá khứ là con người  bất bình thường. Dân tộc không lưu giữ được lịch sử văn hóa của cha ông để lại thì chẳng khác gì người mất trí nhớ.
Di tích văn hóa là một phần của lịch sử, hủy hoại nó chính là hủy hoại trí nhớ của dân tộc.
Đừng để đến khi người  ta phá hết cả một ngôi cùa như vụ chùa Trăm gian thì mới tổ chức họp hành, trả lời phỏng vấn… và cuối cùng “thí tốt”.
Hãy ngăn chặn những hành vi phá hoại bằng biện pháp quản lý khoa học, sự đầu tư bảo tồn đúng mức và quan trọng nhất là sử dụng con người có tầm văn hóa làm công tác quản lý văn hóa.
Lê Chân Nhân
Theo Dân Trí

Run rẩy trước sự thật


Sợ thật đấy nhỉ. Viết cái gì bây giờ cũng sợ. Danh sách khuyến cáo điều không nên viết mỗi ngày lại được bổ sung thêm vài thứ: hôm trước thì bảo viết vụ bắt này thì theo TTXVN, theo cơ quan điều tra…không comment, không suy luận. Hôm sau thì bảo: có thể đưa tin giá vàng, giá usd nhưng không được cho là do ảnh hưởng bắt ông này, ông kia…
Mà tin tức bây giờ loạn thật. Tin đồn thì có lúc rất đúng, lúc không, lúc rất tào lao, nghe là biết toàn tin tào lao…Nhưng trên báo chí chính thống cũng kém gì. Đầy lúc tin tào lao hoặc có Tin đăng thì đăng một lúc lại gỡ, không một lời giải thích tại sao gỡ như bài về Đặng Thành Tâm ôm 600 tỷ đi đâu trên Petrotimes, rồi tin cũng về Dương Chí Dũng bị bắt ở đâu, thế nào..lên được một tý cũng gỡ. Các bài đả phá anh Huệ không chịu giảm thuế nk xăng dầu cũng gỡ…loạn hết cả lên. Mà những cái bị gỡ có phải cái nào cũng sai đâu: ví dụ cái bài về anh Huệ ko chịu giảm thuế nk xăng cho dân tình bớt chút tiền mua xăng ..của Phamtuyentpo trên Tiền Phong có qué j đâu mà cũng gỡ.
Mấy tuần trước, có bạn nào lên FB than thở: “Cái đắt giá nhất ở Việt Nam hiện nay là sự thật”. Một câu nói đáng suy nghĩ. Đúng thế. Chỉ cần có chỗ nào đưa ra những thông tin không những hay mà lại đúng thì thiên hạ đổ xô vào xem ngay. Đơn giản là người ta cần thông tin, cần sự thật. Hàng trăm tờ báo cả báo in, báo online đang kêu khó khăn. Đừng chỉ bảo là do kinh tế khó khăn, dn ít quảng cáo…uh thì có lý do đó nhưng cái chính là thiếu những thông tin giá trị, đáng đọc. Chẳng thế mà có những trang web, đọc free sao mà thiên hạ vào đọc lắm thế, hàng chục triệu lượt đọc. Nó mà chính danh, thu dược quảng cáo thì các ông ăn cám hết.
Cơ bản là có nhiều sự thật lớn và người ta đang phải lẩn tránh nó. Tôi cũng phải lẩn tránh chứ ? Nếu không lẩn tránh, tôi không thể tồn tại. Không chỉ lẩn tránh, chúng ta thực tế đang run rẩy trước sự thật. Không phải là những sự thật về chuyện giá cả, học hành, môi trường…vớ vẩn. Có nhiều sự thật vẫn được đăng tải, nó không sai nhưng chưa phải là sự thật người ta đang thực sự quan tâm. Mà là những thông tin, sự thật có thể đang gây lên những biến động, chuyển biến lớn, ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế, đến hầu bao, đến vận mệnh của đất nước, đến cuộc sống, tương lai của từng người chúng ta. Sự thật không chỉ bị dấu nhẹm, bị bóp mép, bị xuyên tạc…mà còn bị chính nhiều người cầm bút, trong đó có cả tôi, cả anh, cả chị…chối bỏ, lẩn tránh để tự bảo vệ mình. Hu hu.
Tôi, anh, chị…có thể viết như Huy Đức không ? Có thể không bằng nhưng cũng không kém quá xa đâu. Nhưng vấn đề là: chúng ta đang ở VN chứ không phải ở Mỹ. Chứ còn gì nữa ?.
9.9
Mạnh Quân
Theo FB Mạnh Quân

Việt Nam tự chìm dần trong quỹ đạo Trung Quốc?


VÒNG XOÁY ĐÔNG VÀ TÂY.
Việt Nam là một quốc gia đã tồn tại hơn 4.000 năm, với lịch sử chiến tranh giữ nước liên tục chống lại các cuộc xâm lăng của phương Bắc. Việt Nam, cũng như hầu hết các quốc gia phương Đông đều bị lạc hậu trước sự phát triển của phương Tây, bị phương Tây đô hộ bắt đầu từ giữa thế kỹ 19. Việt Nam, cũng như TQ, đã trải qua hơn 100 năm đấu tranh, chống lại các cường quốc xâm lăng, để giành quyền sống và nền độc lập của mình. Chủ nghĩa Cộng sản xuất hiện từ phương tây đã du nhập vào LX, TQ, VN và nhiều quốc gia khác, trở thành phương tiện tạo thêm một sức sống mới, vượt qua chế độ Phong kiến đã lạc hậu, làm kích thích tinh thần chiến đấu cho mục tiêu độc lập dân tộc và ý thức mới về một thể chế dân chủ, các nước đã cùng đứng chung trong một hệ tư tưởng là Chủ nghĩa CS.
 VÒNG XOÁY Ý THỨC HỆ.
Giữa thế kỹ 20, thế giới chuyển hóa thành hai phe, phe theo chủ nghĩa Cộng sản và phe chống chủ nghĩa Cộng sản. Việt Nam là một nước nhỏ, nằm vào vị trí địa-chính trị quan trọng nên đã trở thành trận địa giao tranh của hai thế lực, tiếp tục chìm trong máu lửa, trong khi các nước lớn LX, TQ thì đã sớm giành được độc lập, thoát ra khỏi chiến tranh.
Thời đại bước vào một vòng xoay mới : Phe chống chủ nghĩa Cộng sản- mà ta quen gọi là chủ nghĩa Tư bản – do sự phát triển khoa kỹ thuật, và tinh thần đấu tranh cho khát vọng dân chủ, đã chuyển hóa thành thể chế dân chủ ngày càng tốt hơn, đưa xã hội tiến lên một bước văn minh, các giá trị sống con người được tôn trọng và có luật pháp nâng đở, với mô hình tam quyền phân lập, đã thuyết phục hầu hết các quốc gia trên thế giới đi theo. Trong khi đó, phe theo chủ nghĩa Cộng sản, thực hiện mô hình XHCN, với Liên Xô là 80 năm, TQ hơn 50 năm, theo cơ chế tập quyền độc đoán, trở thành một thể chế xơ cứng, chậm phát triển, tệ nạn chuyên quyền, hối lộ trong giới cầm quyền trở thành hệ thống. Nội bộ giới cầm quyền liên tục trải qua những cuộc thanh trừng nhau đẫm máu, nhân dân bị buộc phải sống trong khuôn khổ bị chỉ huy toàn diện. Khát vọng tư do của nhân dân và của một bộ phận lớn những người có ý thức trong đảng CS Liên Xô đã thúc dục họ cùng nhau tự đứng lên, làm một cuộc cách mạng thay đổi thể chế cũ của 80 năm qua, sang thể chế mới : Từ bỏ chủ nghĩa xã hội, giải tán đảng CS, chuyển sang cơ chế dân chủ, hội nhập vào thế giới, không xem quốc gia khác là kẻ thù, chỉ chăm lo cho sự phồn vinh của đất nước mình trong tinh thần cạnh tranh toàn cầu theo luật chơi bình đẳng. Liên xô, vốn là quốc gia đi đầu, được xem là thành trì của phong trào Cộng sản quốc tế, nay không còn nữa. Hệ tư tưởng chủ nghĩa CS đã bộc lộ tính bất khả thi về mặt thực tiển, lẫn rối loạn về mặt lý thuyết ở quy mô thế giới (Điển hình thực nghiệm tại hai quốc gia lớn nhất là LX và TQ đều thất bại). Từ đây cũng chính thức chấm dứt cuộc đấu tranh ý thức hệ của chủ nghĩa CS quốc tế, mà Việt Nam đã là nạn nhân đẫm máu lâu dài nhất. Còn lại ngày nay, chỉ là sự rơi rụng cuối mùa của giai đoạn lịch sử, tiếc thay, trong đó có VN, Lào, Bắc Triều Tiên, mà TQ là kẻ đứng đầu, còn mang tên là chủ nghĩa xã hội.
 Tên gọi, thật ra không quan trọng, vì nó chỉ là sự giả danh.
 Giả danh, có nghĩa là ẩn danh để lợi dụng.
 Nó có giá trị cho kẻ lợi dụng và có nguy hại cho người bị lợi dụng.
 Chế độ Cộng sản TQ, thực chất chưa bao giờ mang khát vọng XHCN, như khát vọng tốt đẹp ban đầu của người khai sinh ra chủ thuyết Cộng sản (Karl Marx). Cộng sản TQ, trong suốt thời kỳ cai trị của Mao Trạch Đông, thực hiện mô hình XHCN theo cách của mình, hơn nửa thế kỷ đã không thành công. Nội bộ không ngừng đấu tranh giành quyền lực, lên tiếp gây ra những đợt thanh trừng đẫm máu, người dân sống trong nghèo đói và lạc hậu. Lãnh đạo đảng CSTQ, bên ngoài vẫn khoát áo “XHCN mang màu sắc TQ”, nhưng bên trong âm thầm chuyển sang chủ nghĩa dân tộc Đại Hán cực đoan với tham vọng bành trướng. Tận dụng thời cơ Mỹ đang bận bịu sa lầy với trong cuộc chiến tranh VN, Mao kết giao với Mỹ, phản bội VN – người cùng chiến hào XHCN –vào thời điểm cheo leo nhất của VN, họ chớp thời cơ chiếm quần đảo Hoàng sa của VN (1974). Vào thời kỳ Đặng Tiểu Bình, nhằm lúc VN khó khăn nhất, họ tiến quân công khai đánh VN (1979), chiếm thêm 5 đảo của quần đảo Trường sa VN (1988). Sau đó, chúng giương cao chiêu bài 16 chữ vàng để khỏa lấp việc chiếm đoạt và trấn an người VN nhẹ dạ, dưới danh nghĩa “gác lại tranh chấp” vì “ cùng chung lý tưởng xhcn”, “cùng là đảng CS anh em”. Trong 10 năm phản bội VN và kết giao với Mỹ, Đặng đã nhanh chóng phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, hiện đại hóa quân sự, và trở thành một cường quốc thế giới. Và nay, Bắc Kinh quay ra thách thức với Mỹ, giành quyền phân chia trật tự thế giới theo tham vọng của mình. Cụ thể, chúng muốn khống chế các quốc gia vùng châu Á, mưu toan chiếm trọn biển Đông và tham vọng chia đôi biền TBD với Mỹ và thế giới còn lại. Chúng bất chấp đời sống của nhân dân TQ, và cả nhân dân thế giới, về sinh mạng, về nhân phẩm, về giá trị quyền làm người, về mọi giá trị chung mà nhân loại đang vun đắp. Chúng đang hiện hình trước mắt nhân loại là một con quỹ dữ. Chúng quên rằng chúng sẽ gặt bão sau khi chúng đã gieo gió.
Chiến tranh gọi là ý thức hệ giữa hai phe, giờ đây hoàn toàn chấm dứt. Thay vào đó là cuộc khủng hoảng giữa tham vọng bành trướng vai trò nước lớn của Trung Quốc, với các lực lượng chống bành trướng của các nước trong khu vực, kể cả Mỹ, đã đặt VN vào tình huống cực kỳ khó khăn trong vùng xoáy khốc liệt.
VÒNG XOÁY CỦA NƯỚC LỚN.
Vị trí địa – chính trị Việt Nam luôn đứng ở đầu sóng ngọn gió, tự nó là yếu tố nguy hiểm, luôn là thử thách ý chí VN về sự quyết định sinh mệnh của mình.
Phía TQ với tham vọng bành trướng bá quyền thì đã rõ, chúng đang uy hiếp an ninh các nước khu vực biển Đông, đặc biệt VN là chặng đầu trên con đường xâm lược, với tương quan lực lượng ở thế áp đảo VN.
Phía Mỹ đang toan tính giữa các chọn lựa đối sách với TQ: Kìm chế quyền lực – chia sẻ quyền lực – hay nhường sự lãnh đạo khu vực châu Á cho TQ ? Giáo sư Hugh White (ĐH QG ÚC), tác giả của phân tích nói trên, trong tác phẩm mới xuất bản “Sự Lựa Chọn TQ” (The China choice) cho rằng TQ đã lớn mạnh ở mức cân bằng, thậm chí có khả năng đảm nhiệm thay vai trò của Mỹ tại đây. Cả ông người Việt, GS Nguyễn Mạnh Hùng (ĐH George Mason, HK) cũng tán thành phương án giữa: “Tốt nhất, HK nên chọn chia sẻ quyền lực với TQ và buông lỏng uy thế tối cao của mình”, đặc biệt ở khu vực Đông Dương củ ( Việt-Miên-Lào). Nguyên Thủ tướng Úc, Paul Keating cũng đồng tình : “Chúng ta (ÚC) cần một kết cấu nhằm giúp TQ can dự vào khu vực (châu Á-TBD) thay vì kìm chế họ”. Khi bà Ngoại trưởng Clinton chạy vòng quanh châu Á, nhằm củng cố tinh thần các nước đồng minh, thì ngày 4-9, tại Bắc Kinh, Dương Khiết Trì nói thẳng với bà : “Quan điểm của TQ là nhất quán và rõ ràng, TQ có chủ quyền tại các đảo ở biển Đông và vùng nước lân cận.” và gợi ý chia phần : “không nơi nào mà TQ và Mỹ chia sẻ lợi ích và tương tác thường xuyên hơn là khu vực châu Á-TBD”. Trước đó mấy ngày,Tổng Thống Mỹ Obama thì nói lơ lững về phương án chia sẻ quyền lực, rằng : “Đó là điều không dễ làm”!
Chúng ta không biết thật sự điều gì sẽ xảy ra ? Họ e ngại cái giá phải trả cho sự xung đột có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh hạt nhân, trước một TQ quá tham lam và liều lĩnh đang cố vươn lên nầy ? Tiến sĩ Tim Huxley (Viện Nghiên cứu Quốc tế London), người khá hiểu VN, cho rằng suốt lịch sử VN đã từng lệ thuộc và từng chiến đấu với TQ, trong trường hợp thả rơi Đông Dương vào tay TQ, với lời tiên đoán có lẽ không sai : “ Đưa VN vào quỹ đạo của TQ, cũng giống như bắt đầu một cuộc chiến” (ý nói rằng VN sẽ không chịu khuất phục và sẽ tiến hành cuộc chiến đấu chống lại như lịch sử đã từng diễn ra). Vấn đề TQ, không chỉ riêng là vấn đề liên quan VN. Chúng ta đã từng nghe và thấy, nước Mỹ luôn đề cao và can thiệp mạnh mẽ các vấn đề về nhân quyền trên khắp thế giới. Và đây, con quỹ dữ Bắc Kinh, chính là vấn đề nhân quyền ở quy mô thế giới, đang là một thử thách nặng nề cho nhân loại hôm nay. Nó không được giải quyết, đồng nghĩa với sự suy sụp nghiêm trọng về khát vọng vươn lên của một loài người có ý nghĩa hơn. Tuy nhiên, một buổi tiệc có vui vẻ náo nhiệt hay không, cũng tùy thuộc thái độ của từng thành viên tham dự, cũng như trong kinh thánh đạo Ki-tô có câu “ Nếu ngươi không chịu xòe bàn tay ra, thì ân sủng của Chúa cũng không đến được.” Sự xòe bàn tay ra không có nghĩa là van xin hay dấu chỉ sự yếu thế, đối lập với động thái màu mè, mà là bộc lộ tính quyết đoán của mình, là giá trị của tính cách trong sự chọn lựa. Thái độ của VN sẽ quyết định sinh mệnh của VN, như lịch sử đã mách bảo cả hai chiều : kiên quyết hay nhu nhược.
LỰC HÚT CỦA QUỸ ĐẠO TRUNG QUỐC.
Lịch sử mấy ngàn năm cho thấy, mỗi thời kỳ TQ hưng thịnh thì đem quân đi đánh chiếm các quốc gia lân cận. VN mãi mãi là miếng mồi ngon của chúng, như miếng mỡ trước miệng mèo, con mèo của bản năng nguyên thủy. Thời đại ngày nay các quốc gia đều có mối liên hệ ràng buộc toàn cầu, không cho phép một quốc gia đem quân đi đánh chiếm một quốc gia khác theo cách trắng trợn. Nhưng một Trung Quốc Cộng Sản ngoại lệ, có thể làm điều ngoại lệ. Một mặt chúng tìm cơ hội khiêu khích để lấy cớ gây chiến tranh, một mặt, chúng tạo áp lực và gặm nhấm dần từng ngày, từng phần đất liền, biển và đảo. Mặt khác, mưu mô hơn, là sách lược xâm lăng bằng “sức mạnh mềm”mà chúng đã thực hiện lâu nay. Ngày xưa, khi quân nhà Thanh kéo sang xâm lược VN với khẩu hiệu “Phù Lê, diệt Trịnh” (ủng hộ nhà Lê, tiêu diệt chúa Trịnh), nay ý đồ của chúng là phương châm “Phù Đảng, diệt Quốc” (ủng hộ đảng CSVN, thôn tính nước Việt Nam) dưới chiêu bài hai nước cùng là CNXH, cùng là Đảng CS anh em !
Sự ngu trung của trí tuệ và trạng thái bạc nhược của tinh thần, dưới ngọn cờ XHCN, đảng CSVN đã dắt dẫn VN dấn bước vào con đường ngày càng khó khăn. Sau 10 năm chiến tranh vừa công khai vừa âm thầm, mất đất và mất đảo, Đảng CS VN sang tận bên Tàu, tại Thành Đô năm 1991, ký kết với Đảng CS TQ một Hiệp ước bí mật mà 20 năm sau, nhân dân và “Quốc Hội” VN, chưa biết nội dung , chỉ biết đó là văn kiện tái ban giao, hữu nghị với khẩu hiệu16 chữ vàng được treo dán khắp nơi. Mọi đau thương, mất mát vừa qua ( sinh mạng, đất liền, biển đảo) đã không được phép nhắc tới. Hai mươi năm, vô vàng sự kiện nguy hiểm cho VN đã được TQ triển khai thực hiện ở VN. Căn cứ trên những lời phát biểu của các lãnh đạo VN, có thể nhận biết rằng, những gì TQ muốn, VN gần như đồng thuận, những vấn đề nhân dân quan tâm thì cho là nhạy cảm, nói úp mở và né tránh. Lãnh đạo VN đang tiếp tục nêu cao tinh thần đạo đức trong quan hệ hữu nghị, tính trung thành với lý tưởng XHCN, tình cảm Đảng rất anh em…để bày tỏ tấm lòng thành trước nhân dân TQ, và để tuyên truyền, dạy dỗ về đạo đức của đảng cho dân chúng.! Qua các cưộc tiếp xúc mới đây (đầu tháng 9) giữa các lãnh đạo VN và Tướng Tàu, đầy lời lẽ quanh co, chớt nhã, mà không ai có thể biết tính chân thực của mỗi bên nằm ở đâu ? Người dân chỉ thấy VN như trượt dài trong quỹ đạo của TQ, như một nửa thân người đã nằm trong miệng cọp.
 Một bên, Tướng Tàu Mã Hiếu Thiên, thì nói khơi khơi. Một bên, VN thì nói mơ hồ kiểu “biện chứng”. Ta thử lướt qua vài câu đối thoại của những người tử tế nói trên.
 -Mã Hiểu Thiên : Hai nước phải có cách giải quyết các khác biệt “một cách đúng đắn” và phải “kiểm soát khủng hoảng”. Thế nào nào là đúng đắng khi anh cướp đoạt trắng trợn của người ? và đang đe dọa đánh người ? Ai gây ra khủng hoảng ? Và ai có thể kiểm soát khủng hoảng của ai ? Đó là cách nói của kẻ cướp, đánh người mà không cho nạn nhân la, lại hổ đồ nói đạo đức.
-Chủ tịch nước Trương Tấn Sang : “Việc hai bên còn bất đồng trong vấn đề trên biển là thực tế khách quan” . Chủ tịch nói gì thế ? Chỉ là “trên biển” thôi ư ? tiếng “đảo” không tiện nhắc tới sao ? Còn “khách quan” thì có nghĩa là gỉ ? Là chẳng có ai gây ra cả ! Hẳn không phải do Chủ Tịch TTS hay Đảng CSVN, cũng không phải là Mã Hiểu Thiên hay Đảng CSTQ ! Nó trên trời rơi xuống vậy! hay tiền nhân để lại ? Cách nói nầy thì đúng là, chẳng có vấn đề gì cả, cũng như chuyện “nhà cháy là vì lữa”. Đúng vậy, rất khách quan !
-Mã Hiểu Thiên nói với CT Trương Tấn Sang : “Hữu nghị hợp tác vẫn là dòng chủ lưu trong quan hệ Trung-Việt”. Dòng chủ lưu nầy sẽ chảy thông thống từ Bắc vào Nam của VN, chứ không chảy ngược sang Tàu, và qua đại lộ cửa khẩu Lạng sơn hoành tráng vừa khánh thành với trống giong cờ mở !
 -Thượng tướng VN Nguyễn Chí Vịnh: “Giải quyết vấn đề nầy (Biển Đông) trên cơ sở “đại cục” mối quan hệ hai đảng và hai nước…và là vận mệnh chung của hai dân tộc”. Con cá bé nằm trong bụng con cá lớn là vận mệnh chung được sao ?.
-Nguyễn chí Vịnh còn nói : Bộ Quốc Phòng hai nước thống nhất : “Không để vấn đề Biển Đông làm ảnh hưởng đến đại cục”. Biển Đông bao gồm các đảo, vùng nước lân cận, đường lưỡi bò…không là đại cục, thì còn cục nào lớn hơn để mà ảnh hưởng ? Lẽ nào đại cục “siêu cường TQ” là của chung sao ? Lời của NCV làm người ta nhớ đến sự xuất hiện, một cách công khai mà rình rập, lá cờ 6 sao đón Tập Cận Bình năm trước, ở ngay Thủ đô Hà nội. Có ai còn mơ hồ gì nữa không ?
Các Lãnh đạo cũng đã nhắc lại các cụm từ rất “đồng thuận” sau đây, mà dân chúng đều hiểu theo cách riêng của mình :
- “âm mưu diễn biến hòa bình” nhà nước muốn ám chỉ bọn phản động nào đó ở phương tây, thì dân hiểu là bọn phương bắc, kể cả diển biến hòa bình bằng súng nữa.
- “truyền thống hữu nghị” thì dân cho là truyển thống xâm lược và chống xâm lược. Dù đôi khi có “hữu nghị thật” thì rất ngắn ngủi, mà “hữu nghị giả” thì dài cả lịch sử. Trong khi hữu nghị ngắn ngủi lại đầy âm mưu hắc ám.
 - “16 chữ vàng và 4 tốt”, lãnh đạo thì trân trọng, nhưng dân nghe nhắc đến là hãi hùng, không tin là sự thật tai mình nhận được những âm thanh bùa ngãi đó.
 “hợp tác toàn diện” thì dân thấy bủn rủn tay chân, không biết chạy đi đường nào, vì cảm nhận cấp bách về một sự bao vây khắp đủ 10 phương, mà bao vây vòng một là của chính lãnh đạo VN, cùng với hệ thống an ninh và cảnh sát, các hệ thống tuyên truyền văn hóa, tư tưởng, chính trị, kinh tế… !
 Qua các cụm từ đồng thuận trên, và các cuộc đối thoại, chúng ta không nhận ra đâu là ranh giới của hai quốc gia, tức là hai chủ thể, đặc biệt qua câu nói của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh : hai dân tộc có “chung sinh mệnh”. Quốc Hội VN có hiểu câu nói nầy có nghĩa là gì ? Hay có sự nhầm lẫn, lẫn lộn về quốc gia ? Vào triều đại phong kiến, nhà Vua sẽ trợn mắt, quay đầu hỏi Sử quan : “Ý nầy là ngang tội nào trong bộ luật hình pháp của quốc gia?”.
 Lý Hiển Long, Thủ Tướng Singapore – dù một đảo quốc nhỏ bé – đã hiển thị tư thế quốc gia của mình khi nói ở Bắc Kinh, đơn giản nhưng có trọng lượng : “Chính sách ngoại giao của chúng tôi là hành động độc lập, dựa trên lợi ích quốc gia của mình” (6-9). Ông Lý Hiển Long đã nói tiếng nói của đồng bào mình, đâu dám tự cá nhân mình đem sinh mênh của cả dân tộc gán ghép vào một quốc gia nào khác! Thể chế nào đã tạo nên một lời nói có tư cách đó ?
Đến bao giờ, người dân VN có thể nghe được, từ những vị lãnh đạo đất nước, có lời nói đích thật là lời nói của Đất Nước, lời nói của Tổ Quốc, lời nói của Dân Tộc, lời nói của Sức Mạnh Chân Chính với tư cách một Quốc gia ?
Hiếm hoi để có thể nghe một lời nói chân thật, đúng sự thật, như được nghe lời xác định rành mạch của Bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh, tuy không có vai trò lớn lắm của quốc gia : “…một phần lãnh thổ thiêng liêng của đất nước vẫn còn bị nước ngoài chiếm đóng, chủ quyền lãnh thổ vẫn còn nguy cơ bị nước ngoài xâm phạm, tạo nên một thách thưc vô cùng lớn đối với nước ta..” Đúng như vậy, người đại diện đã nói lên được sự thật với đối phương, và cũng nói lên được sự thật với nhân dân. Việt Nam ngày nay chọn lựa lối đi nào trong bối cảnh gay cấn nầy ? Đó là câu hỏi bức thiết cho mỗi người VN, cho toàn dân Việt Nam. Đó cũng sẽ là một câu trả lời nặng nề dành cho Đảng CS VN, những người đang gánh trên vai trách nhiệm lịch sử đối với dân tộc và quốc gia của mình, trước kẻ thù xâm lược, lại vừa cùng chung với kẻ thù một “nỗi niềm xhcn”. Hoặc là một quá khứ quá nặng nề vì tự ám ảnh. Thiết nghĩ, cũng cần phải làm rõ cho nhân dân biết. Ông Robert Templer, nhắc lời ông Hồ Chí Minh : “ (Tôi) thà ngửi chút phân của Pháp trong vài năm còn hơn ăn phân Tàu trong ngàn năm tới”. (1) Câu nói làm nhức nhối tâm can của người VN lương thiện. Một câu nói khác, tôi muốn nhắn gởi đến “người VN đang cùng lo cho đại cục TQ”, và cũng dành sẵn cho những ai đó : “(Tôi) thà ngửi chút phân của Tàu trong vài năm, rồi sau đó toàn dân sẽ ăn phân của Tàu trong ngàn năm tới”.
 VÀ NHƯ THẾ, MỘT CUỘC CHIẾN PHẢI ĐƯỢC BẮT ĐẦU, MỘT CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA TOÀN DÂN.
 Hạ Đình Nguyên.
……………………………………
(1)Sách “Bóng và Gió” của Robert Templer, xuất bản 1999. Câu nói được trích dẫn nầy của Chủ tịch Hồ Chí Minh , ở VN chưa từng thấy sách nào ghi chép, có lẽ cũng dễ hiểu, vì tính “nhạy cảm” của nó trong bối cảnh VN đang có “đảng anh em” và “16 chữ vàng”. Câu nầy nói lên một tầm nhìn thấu suốt về tính nhân văn của một xứ sở ăn thịt người, điều mà chưa từng được khám phá ở bất cứ bộ lạc nào trên thế giới.
 (*) bài viết này đã được BBC biên tập lại dưới tiêu đề: Việt Nam và quỹ đạo Trung Quốc trong đó đã lược bớt một số đoạn quan trọng của bản gốc.
BÌNH LUẬN CỦA NGƯỜI LÓT GẠCH
Mỗi khi cho rằng quan hệ hợp tác Việt-Trung “chiến lược toàn diện, đi vào chiều sâu, hướng tới tương lai” thì bản thân VN đã tự nguyện nằm trong quĩ đạo chiến lược của TQ, trở thành con cờ đối trọng cho Đảng CSTQ sử dụng trong việc “cân bằng” mối quan hệ Trung-Mỹ, Trung-Nga ở khu vực châu á-TBD, thực hiện ý đồ biến VN thành bàn đạp để mở rộng tầm kiếm soát và khống chế đối với khu vực ASEAN, giải quyết vấn đề “chủ quyền” ở biển Đông theo phương thức “song phương” khi đã phân hóa, bẻ gãy sự gắn bó của “khối” này ? Ở ý nghĩa đó, có thể nói khác đi là VN đã đánh mất quyền độc lập tự chủ, không thể có cái gọi là “đối ngoại đa phương” như Đảng CSVN thường nhấn mạnh, hoàn toàn lệ thuộc vào “đường lối trỗi dậy trong thế tiến công” tổng lực của TQ. Phải chăng VN đã không còn là một quốc gia có tầm địa-chính trị quan trọng trong nền chính trị quốc tế trên bờ biển Đông khi đã chọn TQ làm “đối tác-đồng minh” chiến lược như vậy ?