Thứ Bảy, ngày 29 tháng 9 năm 2012

Tân Lập 35 năm trước – Trung Thu đẫm máu!

Cánh đồng Sa Mát

Mỗi năm cứ đến tết Trung Thu, Rằm tháng Tám, một kỷ niệm buồn lại hiện về, nhắc nhở tôi: “Hãy cảnh giác với những người đồng chí, những người bạn láng giềng!”.
Ngày ấy cách đây tròn 35 năm, tôi cùng anh Bảy, cán bộ tỉnh đoàn Tây Ninh lên Sa Mát tặng quà Trung Thu cho các em thiếu nhi. Sa Mát là một địa danh đã đi vào lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, được giải phóng cùng với Cà Tum, Thiện Ngôn trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, và trở thành thủ phủ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sau giải phóng dân cư Sa Mát đông đúc, phần lớn là Việt kiều ở Campuchia đã trở về, tuy còn nghèo nhưng cuộc sống vui tươi đầm ấm.
Từ Sa Mát đến đường biên đi xe máy vài phút, là phum Chi Phu của Campuchia. Ngày ấy chưa có đồn biên phòng, chưa có cửa khẩu, mốc biên giới bề thế như bây giờ, chỉ có một trạm Ba -ri-e sơ sài, dân hai bên qua lại nhau như hàng xóm láng giềng. Lính Khmer Đỏ cũng thường xuyên sang Sa Mát mua nhu yếu phẩm, nhậu nhẹt, chơi bóng chuyền bóng đá và tán tỉnh những cô gái Việt Nam rất tự nhiên bằng câu: “Ôn-xa-lanh-boong-tê ?”- Em có yêu anh không? Nhân dân vùng biên giới này sống yên lành và tin vào tình đoàn kết keo sơn giữa đảng cộng sản Campuchia và đảng cộng sản Việt Nam, chưa bị suy suyển gì về tình hữu nghị giữ hai nước …
Hôm ấy, sau khi tặng quà cho các em ở trường tiểu học Tân Lâp chúng tôi xem trận bóng chuyền giao hữu giữa lính biên phòng Khmer Đỏ và thanh niên xã Tân Lập. Các cô giáo và các em học sinh vỗ tay động viên hai đội rất vui. Tình cờ tôi gặp Ươn-Sà-Rươn, một sỹ quan cấp úy Khmer Đỏ mà tôi quen từ năm 1972.
Năm ấy tôi đi theo chiến dịch Chen – La II (Bộ đội ta giúp Khmer Đỏ đánh Lon- non – Sric-ma-tắc) tình cờ gặp một người lính Khmer Đỏ bị thương nằm ngắc ngoải trên quốc lộ 7. Người lính này bị thương không nặng lắm nhưng mất nhiều máu, có nguy cơ tử vong. Anh ta nói tên là Ươn-Sa-Rươn, bị đơn vị bỏ lại khi bị thương. Tôi và thiếu úy Khoản đặt Ươn-Sa-Rươn lên chiếc xe Honda 90, tôi ngồi sau ôm giữ Sa-Rươn, Khoản cầm lái chở về tiểu đoàn Công Binh 739 đang làm đường gần đó. Quân y tiểu đoàn sơ cứu cho Ươn-Sà-Rươn sau đó đưa đi bệnh viện, nhờ vậy mà Ươn- Sa -Rươn thoát chết.
Gặp nhau nhắc lại chuyện cũ, Ươn-Sa- Rươn nắm tay tôi lắc lắc: “O-cun, ocun- chrơn”- Cám ơn, cám ơn nhiều!
Tạm biệt Ươn-Sa-Rươn chúng tôi đến xã Hảo Đước tặng quà rồi quay về thị xã Tây Ninh.
Đêm ấy trăng rằm sáng vằng vặc như ban ngày. Tôi nghĩ đêm nay các em trường cấp 1 Tân Lập, Hảo Đước chắc sẽ rất vui với những chiếc đèn ông sao và những chiếc bánh Trung Thu của các anh chị tỉnh đoàn tặng.
Nhưng sáng sớm hôm sau, tôi chưa kịp đánh răng rửa mặt thì Bảy hớt hải chạy vào, mặt anh không còn một hạt máu. Bảy lấy tay chặn ngực nói: “Minh Diện ơi, đêm qua lính Khmer Đỏ tràn sang tàn sát các em học sinh trường Tân Lập vô cùng giã man!”. Tôi ném cái bàn chải đánh răng, cùng Bảy nhảy lên xe máy phóng như điên lân Sa Mát.
Hiện trường vụ thảm sát đẫm máu vẫn còn nguyên: Xác ba cô giáo trẻ, 15 em học sinh bị lính Khmer Đỏ sát hại nằm trên sân trường. Chúng không bắn mà dùng sạc lai (một loại dao phát cỏ) và búa đập đầu, cắt cổ nạn nhân. Ba cô giáo trẻ bị chúng xe nát quần áo, xẻo vú và cắm một khúc cây vào cửa mình. Mọi người kể, bọn lính Khmer Đỏ giấu dao búa trong sà rông giả làm dân sang xem rước đèn Trung Thu rồi bất ngờ ra tay tàn sát chớp nhoáng. Hôm đó thứ Ba, ngày 27-9-1977 tức Rằm Trung Thu tháng Tám.
Tiếng gào thét đau thương, căm hờn và uất ức của người thân các nạn nhân, của cả Sa Mát tưởng thấu tới tận trời xanh. Tôi thấy hình dáng của Ươn-Sa-Rươn hiển hiện trước mắt mình và tự hỏi, anh ta có nhúng tay vào vụ này hay không? Nếu không trực tiếp ra tay thì anh ta cũng là đồng phạm! Ôi, những đồng chí vừa được mình cứu sống!?
Tôi chụp ảnh và ngồi ngay tại sân trường viết bài phóng sự và phóng xe về ngay thành phồ Hồ Chi Minh. Lúc đó Tổng biên tập Đinh Văn Namđang có mặt tại Ban đại diện báo Tiền Phong. Anh đọc đi đọc lại bài phóng sự rồi nói: “Hiện tại ta và Campuchia vẫn là hai đảng anh em, hai nước anh em, nên đây là vấn đề này rất nhạy cảm. Nhưng cứ đăng, xảy ra chuyện gì tôi chịu trách nhiệm!”. Rồi đích thân Tổng biên tập Đinh Văn Nam chỉnh sửa từng chữ của bài báo. Chúng tôi không nêu đích danh Khmer Đỏ mà viết “Những người mặc áo đen từ bên kia biên giới” để chỉ bọn chúng. Tôi có thể khẳng định đó là bài phóng sự đầu tiên của làng báo Việt Nam tổ cáo bọn diệt chủng Pôn Pốt.
Mấy tháng sau chúng ào ạt tấn công ta ở khắp vùng biên giới Tây Ninh, Long An, An Giang và cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam bắt đầu.
Biên giới, biển đảo của Tổ Quốc ta giờ đây đang bị nhòm ngó và xâm chiếm. Hãy cảnh giác và có hành động kiên quyết để bảo vệ từng tấc đất thấm mô hôi và máu tổ tiên, cha anh, giữ những đêm trăng rằm bình yên cho con em chúng ta.
Minh Diện

Lời nói dối dài nửa thế kỷ

Suốt hơn nửa thế kỷ qua, không phải đợi lời kêu gọi “hy sinh”, “chia sẻ”, những người dân Yên Bái, Hòa Bình từ nửa thế kỷ trước và giờ là Bắc Trà My, Quảng Nam, đã hy sinh tất cả cho tổ quốc, cho dù tổ quốc có khi lại là của một ai đó.
Hy sinh đến độ họ chẳng còn gì ngoài đôi bàn tay trắng và một cuộc sống dưới mức nghèo khổ.
Năm 1959, khi Thác Bà, công trình thủy điện đầu tiên của Việt Nam được khởi công xây dựng, 8.913 hộ, 5,3 vạn người dân đã phải bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn, quê hương bản quán, bỏ lại đình chùa, miếu mạo, mồ mả ông bà tổ tiên để dắt díu nhau lên rừng xanh núi đỏ, vạt núi san sông, “đặt bát hương” dựng xây quê hương mới. Tất cả “vì dòng điện ngày mai của tổ quốc”.
Tháng 9-2012, tức hơn nửa thế kỷ sau đó, nhà báo Đỗ Doãn Hoàng đã tận mắt chứng kiến cảnh “Không ít đồng bào của hơn 50 xã đã hy sinh tất cả vì chính dòng điện vẫn sống trong cảnh đèn dầu leo lét. Điện, đường, trường, trạm… vẫn tạm bợ lều lán; trường mầm non vẫn dùng cái bếp cũ của nhà dân. Và cay đắng nhất, là lời than vãn của một trong số 5,3 vạn dân thủa nào: “Chúng tôi bị bỏ quên trong xó rừng này. Chúng tôi như hạt thóc rơi trong kẽ cái hòm cũ”. Và chạnh lòng nhất, là lời thổn thức của nguyên Bí thư Đảng ủy xã Tân Hương, bà Lương Thị Lầm -người trực tiếp vận động, tổ chức di dân cho thủy điện Thác Bà, sau chẵn 50 năm, rằng: “Hóa ra tôi đi vận động năm ấy, nghĩa là tôi nói dối, nói phét với dân ư? Chúng tôi bảo là nhà máy hoạt động thì sẽ có điện cho bà con, bà con được dùng đầu tiên. Vậy mà …”.
Một lời nói dối dài đến nửa thế kỷ đối với sự hy sinh lặng thầm của những người dân, trong riêng giẽ phạm trù thủy điện, hay lớn hơn là sự phát triển của tổ quốc, có thể nói là không có giới hạn, không gì đo nổi, và cũng chẳng thứ gì có thể bù đắp được.
Đến hôm qua, bên trên sự tăm tối của người dân vùng thủy điện lại có thêm một sự đòi hỏi hy sinh. Và một lời nói dối.
Báo cáo đánh giá tác động của thủy điện Sông Tranh 2 được báo chí “phanh phui” với phần đánh về động đất dài 195 chữ, với kết luận to đùng: “Hồ thủy điện Sông Tranh 2 khi tích nước sẽ không gây khả năng động đất kích thích”. Và một trong những “tác giả” là cái tên quen thuộc: TS Lê Huy Minh, với phát ngôn nổi tiếng sau này “Động đất là bình thường”. À, thế là ban đầu nhà khoa học này kết luận: “không gây khả năng động đất kích thích”, và sau đó khi động đất xảy ra (ngay cả khi mức nước ở Sông Tranh 2 đang nằm dưới mức nước chết) thì ông mang mác tiến sĩ ra để giải thích đó là chuyện …bình thường. “Bình thường” chính là vô số và ngày càng dày thêm những trận động đất kích thích từ việc thủy điện tích nước? “Bình thường” có nghĩa là xảy ra đến 7 trận động đất trong chỉ 12 tiếng đồng hồ? Và bình thường, và khoa học, và trung thực đến mức nguyên chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Tập phải thốt lên: “Bây giờ tôi thật sự băn khoăn là có nên tin vào các nhà khoa học hay không vì họ nói không nhất quán gì cả”.
Dường như sự không nhất quán rất khác xa với nghĩa của từ trung thực. Thế nên thật khó trôi tai lời phàn nàn của một tiến sĩ, rằng người dân “quá kém hiểu biết”. Lại càng khó chấp nhận việc đòi hỏi một cách bất nhẫn “sự hy sinh” khi mà những người dân sống “dưới chân cột đèn” khó có thể “an tâm” để hy sinh nốt thứ duy nhất họ còn lại là tính mạng?
Suốt hơn nửa thế kỷ qua, không phải đợi lời kêu gọi “hy sinh”, “chia sẻ”, những người dân Yên Bái, Hòa Bình từ nửa thế kỷ trước và giờ là Bắc Trà My, Quảng Nam, đã hy sinh tất cả cho tổ quốc, cho dù tổ quốc có khi lại là của một ai đó. Hy sinh đến độ họ chẳng còn gì ngoài đôi bàn tay trắng và một cuộc sống dưới mức nghèo khổ.
Và chính vì thế, càng không thể đối xử với sự hy sinh bằng những lời nói xuông thiếu trách nhiệm, chỉ để an dân, mà thực ra là dối dân, đã bắt đầu từ năm 1959.
Đào Tuấn

Thứ Sáu, ngày 28 tháng 9 năm 2012

Lương vờ, thuế thật, sống ảo

Rất tình cờ, câu chuyện “Nhà nước vờ giả lương, các giáo sư, tiến sĩ vờ làm việc” lại diễn ra đúng vào ngày Quốc hội “tạm chốt” mức thu nhập khởi điểm chịu thuế 9 triệu đồng.
Một người có học vị tiến sĩ, ông Hồ Bất Khuất cho rằng tình trạng “người vờ trả lương, người vờ làm việc” là “chúng ta đang lừa nhau”. Còn Giáo sư nổi tiếng Văn Như Cương thì bàn: “Chúng ta lấy người vào cho đông chỉ để đạt mục tiêu không thất nghiệp. Nhưng đi làm mà lương không đủ sống thì cũng chính là thất nghiệp”. Hai phát ngôn diễn ra trong một văn cảnh thoạt nghe tưởng là thô tục “Lương tiến sĩ không bằng lương người dắt chó”.

Vị Giáo sư nổi tiếng sau đó còn kể chuyện ông phải viết thư cho Bộ trưởng trình bày tình hình và đề nghị được tăng lương. Bởi “Nếu chỉ vì tấm bằng phó tiến sĩ mà không được tăng lương thì xin được trả lại”.

Giáo sư sau đó được tăng lương, tất nhiên. Nhưng có lẽ đó là trường hợp đặc biệt. Các giáo sư khác, ngoại trừ cái tên Văn Như Cương, liệu có được tăng lương khi “Kính gửi Bộ trưởng”? Và vô số những người làm công ăn lương, không giáo sư, cũng chẳng tiến sĩ khác lại càng không có tí “tuổi” nào để đòi hỏi, dẫu có khi chỉ đơn giản về một mức lương tối thiểu, đủ cho một cuộc sống tối thiểu.

Câu chuyện lương, giá, và giờ là thuế, phí nói đi nói lại mãi nghe phát nản. Nhưng vẫn không thể không nói, rằng: Mức lương tối thiểu hiện mới chỉ đáp ứng 60% cuộc sống tối thiểu. Đây là con số chính thức được Phó Chủ nhiệm UB Các vấn đề xã hội Quốc hội Bùi Sỹ Lợi khẳng định hôm 24/9, tại Hội nghị giới thiệu Bộ luật Lao động và luật Công đoàn. Nhưng cuộc sống thế nào là tối thiểu lại là chuyện còn phải bàn khi mà mọi tính toán cho, đơn giản chỉ 2.300 calo một ngày lao động- luôn bị lạm phát cho ngửi khói.

Mức lạm phát tháng 9 nhảy vọt lên 2,2% phá vỡ mọi “dự báo”, mọi “kịch bản”. Chuyện thu phí giao thông lại được tái khởi động. Giá xăng “theo cơ chế thị trường” đang đứng trước nguy cơ tăng sau mỗi 10 ngày. Và viễn cảnh “té giá theo xăng” đang nhãn tiền diễn ra.

Vậy mà khi con số khởi điểm chịu thuế 9 triệu đồng được đưa ra, nhân dân vô tư và hồn nhiên bèn quên bẵng đi rằng đây là một con số cứng, một con số chết cứng, cho đến khi Luật được sửa đổi, quên rằng trong 4 năm qua lạm phát cộng dồn lên tới 50%. Thậm chí quên phắt điều tối thiểu nhất là mức giảm trừ gia cảnh 3,6 triệu đồng thực ra không đảm bảo cho một cuộc sống tối thiểu của một người dẫu là phụ thuộc. Nếu ai đó còn có điều gì lăn tăn về chuyện cao-thấp, xin hãy đọc lại lời khẳng định của Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng trong phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa rồi: 9 triệu đồng chỉ đủ sống tạm. 9 triệu là thu nhập chưa cao.

Với lạm phát đến ngay sau suy thoái, ai dám nói đến tháng 7 sang năm, khi Luật thuế chính thức có hiệu lực, người ta có thể sống tạm với 9 triệu đồng, người ta có thể nuôi con với 3,6 triệu, những con số sắp chết cứng trên Luật?

Trở lại với Hội nghị nói trên, trả lời câu hỏi vì sao phải đợi đến 2015 thì mới đặt ra vấn đề “lương tối thiểu mới đáp ứng được nhu cầu tối thiểu”, Thứ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và xã hội Phạm Minh Huân cho rằng cần phải “có lộ trình để đưa lương tối thiểu đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu”. Và sau khi đạt mức “không âm không dương” này mới “Điều chỉnh lương tối thiểu theo chỉ số giá tiêu dùng”.

Sự thật thà của vị thứ trưởng đang cho thấy, lạc quan nhất, đúng tính toán nhất thì cũng phải trong ít nhất 3 năm nữa lương tối thiểu mới đáp ứng được cuộc sống tối thiểu.

Và trong khi chờ đợi lương “hết giả vờ”, không phải chỉ là các giáo sư, tiến sĩ, mà hàng chục triệu lao động vẫn sẽ phải ở vào cảnh: Nhà nước vờ tăng lương. Chỉ khác với các giáo sư, tiến sĩ là người lao động thì không thể vờ làm việc, không thể chạy xô, không thể “chân trong chân ngoài”. Cuộc sống đó là gì nếu không phải là sống “ảo”.
Đào Tuấn

Thứ Năm, ngày 27 tháng 9 năm 2012

Bao giờ “trên cành khô hoa nở?”

nhân sự kiện tin đồn Khánh Ly về hát tại Việt Nam
Ca khúc lừng lẫy ngay khi ra đời “Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn tiếc thay lại không phải ấn tượng dữ dội nhất với  một thiếu niên 15 tuổi. Tiếng hát của Khánh Ly trong ký ức tôi khi đang lớn lại luôn gắn liền hình ảnh một thành phố Sài Gòn vắng lặng của giới nghiêm ,ầm ì tiếng đại bác vọng về và ánh hỏa châu trôi lững lờ, thắp sáng chỉ trong khoảnh khắc cái khoảng sân đầy bóng tối của nhà mình những năm Mậu Thân 1968
Đêm đêm áp tai vào hầm cát nghe tiếng hát Khánh Ly vẳng từ đâu đó bên hàng xóm “ Đại bác đêm đêm dội về thành phố người phu quét đường dừng chổi đứng nghe…” buồn , đẹp và u uất khó giải thích với một người chưa đủ trưởng thành. Nhưng cứ thích áp tai nhiều đêm như thế vào thành vách ẩm ướt của hầm cát nồng mùi chiến tranh.Có lẽ  chúng tôi là thế hệ không có tuổi trẻ .hay đúng hơn là một tuổi trẻ vội vàng đi qua trong nhiều thảng thốt.Cái chết , bom đạn không còn nơi ruộng đồng xa thẳm.Nó vào thẳng thành phố ngổn ngang xác chết từng ngày.
Và tiếng hát Khánh Ly…
Vài chục năm sau hòa bình. 1997- Tôi và một vài bạn bè đồng nghiệp khác  lại thu xếp giấy tờ , vật dụng rời khỏi tờ báo đang rất lừng lẫy của Sài Gòn: Báo Tuổi Trẻ. Cuộc ra đi chỉ vì 3 nhân vật. Hai còn ở nước ngoài, một đã về để trình diễn nghệ thuật: Ns Phạm Duy , Khánh Ly và Thủy – Ea Sola tác giả của “ Hạn hán & cơn mưa “vở múa mà các nhân vật hầu như bất động hoàn toàn lại gây thành những cơn chấn động gây tranh cãi về “ vấn đề tư tưởng “ .Lên án vở múa đương đại ấy tạo thành cơn sóng lớn trên truyền thông & báo chí ngày ấy.
Chúng tôi ở phía ủng hộ sự hòa giải và sáng tạo trong nghệ thuật. Cầm đèn chạy trước ô tô rồi.Phải ra đi thôi
Nhưng đấy chỉ là giọt nước tràn ly.Trước đó là những bài viết của Tuấn Khanh – người sẽ thành nhạc sĩ tên tuổi sau này. Anh và tôi cùng quan điểm ủng hộ sự trở về của ns Phạm Duy và nhắc đến giọng hát Khánh Ly trong những bài viết có liên quan đến nhạc Trịnh thời đểm ấy. Khi đó, trong bài báo  2 cái tên ấy luôn phải viết tắt : PD – KL. nhưng viết tắt những nhân vật được xem nằm trong phạm trù “ tabu – cấm kỵ ” những năm 1995 – 1996 cũng đã là hé lộ quan điểm riêng của mình. Sự phản ứng có ngay trong TT và cũng đến từ Hội âm nhạc Tp . Không thể chọn thái độ “ nói ngược lại “ những điều mình đã viết. Chúng tôi khoác vai nhau ra khỏi cổng tờ báo mình yêu quí và cũng đã góp phần cho manchette  vững mạnh của nó.
Chuyện cũ, nhắc lại trong tình thần không hờn giận ai. Hàng chục năm đã qua.những nhân vật không đồng quan điểm ngày xưa với chúng tôi,nay có nhiều người đã gặp gỡ, ca ngợi tác phẩm và sự đóng góp lớn lao của Phạm Duy với nền âm nhạc Việt Nam. Đấy cũng là điều công bằng và dù muộn màng cũng vẫn là điều đáng quý trong cái tinh thần hòa giải mà không ít người phải chịu trả giá.
Cuộc chiến tranh ý thức hệ kéo dài 30 năm đã để lại cho thành phố Sài Gòn , đồng thời cũng là thủ đô của Nam Việt Nam những hệ lụy thuộc về lịch sử. đấy là thành phố “ được “ giải phóng và trước khi “ được giải phóng” ngay trong lòng của nó đã có những cuộc tương tàn.Những cuộc chống cộng bên cạnh những phong trào phản chiến chống Mỹ .Âm nhạc không ra khỏi cuộc chiến tranh ấy. Nếu có phong trào “Hát cho đồng bào tôi “ mà ý thức hệ chính trị nghiêng rõ về  cánh tả, thì phong trào “Du ca “ mà Phạm Duy như một trong những thủ lĩnh uy tín cũng như một đối trọng nặng ký. sau 1975, những nhạc sĩ phong trào SVHS chính thức lộ diện là những đảng viên cộng sản thì những nhạc sĩ phía bên kia chiến tuyến  nhiều người cũng vác balo vào trại cải tạo hay âm thầm “ Gánh dầu ra biển “.
Nhiều chục năm sau. Khi chính sách trong nước đã phần nào thay đổi những ân oán cũ tưởng đã phai nhạt với thời gian. Nhưng không hẳn thế.chính sách là ở nơi cao vời. phép vua vẫn thua lệ làng,những ân oán vẫn nằm ngay trong lòng người. Kêu gọi hòa giải không dễ dàng và đơn giản và dù cả hai phía trong nước lẫn hải ngoại theo thời gian đều đã có những cuộc đi lại , ca hát tưởng rất đương nhiên và bình thường.nhưng sóng ngầm ân oán vẫn còn cuộn chảy đâu đó ở nơi này nơi kia. Những Trần Long Ẩn. Tôn Thất Lập vv.. Nay đang là chức sắc của Hội âm nhạc Việt Nam chắc chắn không bao giờ có mặt trong những đêm ca khúc của Phạm Duy hôn nay tại Sài Gòn. Không khó hiểu và cũng không thể trách họ.nhưng nó lý giải phần nào câu hỏi tại sao người này thì được , người nọ thì không ?
dù đã về SG 2 lần nhưng đều trong im lặng, Khánh Ly rồi cũng sẽ có ngày sau những đêm ca hát lại thong dong đi dạo trên đường phố Sài Gòn thăm lại phố phường và cái phòng trà mang tên chị ngày xưa trên đường Tự Do nay là Đồng Khởi. Hay lặng lẽ thắp một nén hương trước mộ phần của người nhạc sĩ đã song hành cùng chị trên con đường nghệ thuật chưa từng đứt quãng. Đông đảo người yêu mến giọng hát chị hẳn cũng mong điều ấy sớm thành.nhưng để sớm thành thì trong lòng những con người nào đó đang cầm nắm tư tưởng, chính trị , nghệ thuật của thành phố Hồ Chí Minh bỗng một hôm nhận ra để kêu lên thảng thốt  “ A! trên cành khô hoa nở [ phạm duy ]”
Mà điều ấy  vẫn còn xa vời  lắm.
Đỗ Trung Quân
Theo FB Đỗ Trung Quân

Dân hi sinh hết rồi, cán bộ sống với ai?

Nhân dân cả nước nói chung đang khổ, đang méo mặt từng ngày vì lạm phát, giá cả tăng vọt. Nhưng, khổ nhất có lẽ là đồng bào ta ở Bắc Trà Mi, nơi ngày ngày có dăm bảy trận rung lắc vì động đất. Đọc báo, xem ti vi mà thấy run, sợ thay cho họ. Theo Tuổi trẻ, đã có 119 nhà dân bị hư hỏng, dân tình hoảng hốt, thế mà ông cán bộ Trần Văn Hải, Trưởng ban quản lý dự án thủy điện 3, khi trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ nói là nhà nứt chưa chắc đã phải do động đất, và lớn tiếng khuyên dụ dân rằng, “dân nên chia sẻ và hi sinh cho thủy điện”!

Thì xưa nay, dù vào lúc nào, ở đâu thì đối tượng hi sinh vẫn chỉ là người dân thôi, còn ai khác vào đây hi sinh thay họ? Chống Trung Quốc xâm lược, chống Mĩ, chống Pháp… Bao nhiêu cái nghĩa trang đều chật xác dân đó thôi.

Nhưng thời này thì có hơi khác một tí, là vì như đảng ta vẫn luôn luôn khẳng định: Đảng viên là đầy tớ của dân, cán bộ là công bộc phục vụ dân. Có nghĩa là, vì dân nên mới có đảng có cán bộ. Cán bộ ở ta sinh ra chỉ có một nhiệm vụ duy nhất, một chức năng duy nhất là để phục vụ hầu hạ nhân dân.

Vì vậy, nếu như toàn thể nhân dân (nói giả sử thôi nhé, không mong xảy ra đâu) huyện Bắc Trà Mi nghe theo lời ông Hải mà cứ đinh ninh ngồi chờ đó, rồi bị nhấn chìm vì động đất, vì nước từ hồ thủy tràn xuống mà họ hi sinh hết cả, thì cán bộ, toàn thể cán bộ từ huyện đến xã sẽ sống với ai?

Hàng ngàn cán bộ từ huyện đến xã đến thôn, rất có thể họ cũng sẽ đâm đầu xuống hồ thủy điện mà tự vẫn. Bởi vì nếu sống mà như chết thì sống làm gì? Sống mà ăn không ngồi rồi thì sống làm gì? Chủ đã hi sinh thì đầy tớ, công bộc sống với ai?

Hay là thế này đi, khẩn cấp cho di dời dân đến một vùng an toàn, sau đó, lùa toàn thể cán bộ, đảng viên, những đầy tớ tận tụy của dân từ xã đến huyện đến tỉnh đến trung ương về đấy ở. Nếu lỡ có động đất, lỡ có vỡ đập thì chỉ chết các đồng chí đầy tớ thôi. Mà chết đầy tớ thì đơn giản lắm, chết 1 đứa ngay lập tức có 10 đứa khác xung phong vào thế chỗ.

Ở xứ ta, đầy tớ đông như quân Nguyên, mỗi ngày động đất dăm trận vẫn không hết, lo gì!

Chứ đừng để dân hi sinh hết, tội cán bộ lắm lắm!
Nguyễn Văn Thiện

Thứ Tư, ngày 26 tháng 9 năm 2012

Sao đến mức này, thưa Quốc hội!?

“Dân không bao giờ muốn bỏ tiền nhà đi đút lót, vì các ông đòi ăn nên dân mới phải đút… Không nên nhận định người dân tiếp tay cho tham nhũng, sẵn sàng bôi trơn. Chỉ vì các ông tham nhũng buộc người dân đưa hối lộ thì người dân mới đưa cho ông”. Đó là lời của Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn.
Trong báo cáo công tác Phòng chống tham nhũng năm 2012 của Chính phủ tại phiên họp UBTV QH vừa qua có đoạn: “Một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp, người dân chưa có hành động quyết liệt trong việc đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, ngược lại còn đồng tình, tiếp tay cho hành vi tiêu cực, tham nhũng để giành được lợi thế trong kinh doanh hoặc được “ưu tiên” giải quyết công việc”.
Đọc đến đoạn này, không thể không thốt lên câu hỏi: Sao đến mức này, thưa Quốc hội!?
Báo cáo viết như vậy chả lẽ để dẫn đến tình trạng tiêu cực, tham nhũng tràn lan và trầm trọng hiện nay là do bởi một bộ phận không nhỏ (cũng có thể hiểu là lớn – NV)… người dân không những không “hành động quyết liệt” mà còn “đồng tình, tiếp tay”?
Không và một ngàn lần không, thưa Quốc hội!
Nếu có câu hỏi ai căm ghét tham nhũng, hối lộ nhất thì câu trả lời không ai khác, chính là người dân. Bởi tham nhũng, hội lộ đã hành hạ người dân nhiều năm qua và trở thành mối bức xúc lớn nhất, là tích tụ sự phẫn nộ của nhân dân.
Người xưa có câu: “Đồng tiền liền khúc ruột”. Không ai muốn “rút ruột” mình vô cớ đưa cho người khác bởi nó đau đớn lắm, xót xa lắm. Đồng tiền được trả bằng mồ hôi, nước mắt, đôi khi cả máu và sự cay đắng.
Không và ngàn lần không có người dân nào tự dưng đem tiền đưa đút lót, hối lộ.
Việc Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn đã phải bật ngay sau khi bản báo cáo vừa dứt rằng “Dân không bao giờ muốn bỏ tiền nhà đi đút lót, vì các ông đòi ăn nên dân mới phải đút” và “Không nên nhận định người dân tiếp tay cho tham nhũng, sẵn sàng bôi trơn. Chỉ vì các ông tham nhũng buộc người dân đưa hối lộ thì người dân mới đưa cho ông” đã nói hộ nhân dân điều đó.
Cách đây ít lâu, tại cuộc hội thảo của Viện Nghiên cứu lập pháp về sửa đổi Luật phòng chống tham nhũng, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Đức Lượng đề xuất: “Bổ sung quy định xem xét giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý đối với người đã đưa hối lộ do bị ép buộc nhưng chủ động khai báo” vào dự án Luật Phòng chống tham nhũng (sửa đổi) lần này.
Còn cách đây khoảng 4 năm, Nhà báo Hữu Thọ trong một bài viết về tệ hối lộ đã chỉ ra rằng luật pháp trừng trị cả người nhận và người đưa hối lộ. Tuy nhiên, có những người vì hoàn cảnh nào đó mà bắt buộc phải đưa một ít quà thì dư luận cũng nên xem xét mà xử cho đúng.
Thưa Quốc hội!
Người dân yêu quý đồng tiền của họ làm ra lắm. Một doanh nhân đã từng nói: “Tôi đã từng phải bán máu để lấy tiền nhưng chưa bao giờ bỏ tiền ra mua máu”.
Vâng, người dân luôn coi tiền như máu của mình, họ khôngbao giờ “đồng tình, tiếp tay” cho kẻ khác móc túi mình đâu. Chẳng qua họ bị “bóp hầu, bóp cổ” mà ngậm bồ hòn “tự nguyện” đó thôi.
Thưa Quốc hội!
Công cuộc chống tham nhũng vừa qua chưa đạt kết quả là do chưa có sự quyết tâm cao, chưa có giải pháp tốt, chưa có bản lĩnh vững vàng… chứ không có nguyên nhân từ người dân “đồng tình, tiếp tay”.
Gần đây, trong xã hội xuất hiện cái mà dân gian gọi mỉa mai là “Hội chứng tám chữ vàng”. Đó là “Tranh công – Chối tội – Đổ lỗi – Thanh minh”.
Đoạn trích trên trong bản báo cáo công tác Phòng chống tham nhũng năm 2012 vừa qua chính là hành động “đổ lỗi” cho dân. Và nói như đồng nghiệp bên Vietnamnet là “đổ tiếng xấu cho dân là hành động dại dột”.
Vâng, dại dột và hơn thế!
Có phải không các bạn?
Bùi Hoàng Tám
Theo Dân Trí

Kêu gọi dân “hy sinh vì thuỷ điện”: Như thế là tội ác

Cuộc sống bình thường là một cuộc sống có thể không khá giả nhưng yên lành, không nơm nớp lo sợ, không bất an thường trực trong bữa ăn và giấc ngủ hàng đêm. Cuộc sống của người dân ở hạ lưu thuỷ điện Sông tranh 2 hiện nay thực sự là cuộc sống bất bình thường, nhưng đau thương là ở chỗ họ không hề chọn cuộc sống đó.
Người dân khu vực thủy điện Sông Tranh 2 đang sống bất an bên hàng triệu khối nước. 
Lý lẽ một cách tự nhiên và bình thường là: làng xóm có trước, người dân định cư trước đó hàng chục, thậm chí hàng trăm năm, bỗng nhiên một ngày nào đó những nhà đầu tư đến đào bới, xây bờ đắp đập rồi từ đó, động đất làm đảo lộn toàn bộ đời sống cư dân. Khi mới xuất hiện lần đầu họ vẽ ra cho người dân hiền lành và thật thà một cái bánh vẽ thật hoành tráng giống như họ là “thiên sứ” đến mang lại hạnh phúc cho dân. Nào là tạo ra các khu dân cư mới tươi đẹp hơn, phụ nữ được tạo ra việc làm mới, con em họ được nhận vào làm các khu công nghiệp, các nhà máy, người già có nhà sinh hoạt cộng đồng, đường xá đi lại thuận tiện,…
Nhưng từ khi công trình mọc lên thì mọi sự bất hạnh đổ xuống. Không có gì bất công và khổ nhục hơn khi mà đang ở trong ngôi nhà yên lành lại bị ai đó nhân danh vì sự phát triển đất nước đến bắt phải đi chỗ khác tạm cư đến hơn mười năm, những đứa trẻ sinh ra và lớn lên không biết đến “mái ấm” và bây giờ lại đến chuyện đang có nhà phải bỏ nhà làm lều, làm nhà bằng dăm cây cọc, bìa cạc tông để sống qua ngày.
Nếu đó là hành động của một nhà đầu tư nước ngoài thì còn cho là họ thiếu tình nghĩa, nhưng có điều lạ là các nhà đầu tư Việt Nam đang đối xử tệ bạc với chính đồng bào của mình.
Mỗi khi sự cố xảy ra họ tìm mọi cách đổ cho khách quan, họ phủ dụ dân chúng rằng đừng lo, cứ yên tâm mà sống bởi các nhà khoa học đã nói “dân lo lắng là thừa vì thiếu hiểu biết”… Nhưng làm sao đừng lo được khi mà một ngày vài trận động đất ngay dưới chân mình? Hơn nữa ông trưởng ban quản lý thuỷ điện 3 còn lớn tiếng kêu gọi người dân “hãy nên biết chia sẻ và hy sinh cho thuỷ điện”.
Người dân thật khó mà nuốt trôi “lời khuyên” này, vì làm sao họ chia sẻ được với những người đang làm tổn hại đời sống của họ và con cháu họ. Thật sự thì, họ đã hy sinh rồi thì thuỷ điện mới mọc lên và họ tiếp tục hy sinh nữa thì ai sẽ là người hưởng lợi từ công trình này? Câu trả lời đã rành rành: đó là các nhà đầu tư và những người ăn theo, bởi đầu tư thuỷ điện cực kỳ lời, nước thì của trời, họ đầu tư đập, hồ nước một lần rồi thu lời nhiều chục năm sau. Phần người dân thì được gì? Thực tế còn chỉ ra, rất nhiều cộng đồng dân cư sống ngay bên cạnh các đập thuỷ điện mà không có lấy một giọt điện nào. Còn hơn thế, nếu như những nguy cơ hiện nay biến thành hiện thực trong một ngày nào đó thì tính mạng của người dân sẽ bị chôn vùi dưới hàng triệu mét khối nước. Sự hy sinh mà chủ đầu tư kêu gọi hẳn là có ý nghĩa chính cho việc kiểm điểm rút kinh nghiệm của nhà đầu tư lẫn cơ quan chức năng?
Thật chí lý khi mà nhiều người dân nói rằng họ mong vợ con, cha mẹ các vị có thẩm quyền, các nhà khoa học từng đến ngó dự án và các loại nhà liên quan đến con đập này, đến sống chung với người dân vài ngày để cảm nhận được cái giá của sự hy sinh. Nhà đầu tư không lo cho con đập, bởi vì nó được thiết kế “đảm bảo an toàn” và tồn tại nhiều trăm năm sau, và nhà đầu tư cũng không phải lo cho dân, bởi theo họ thì nhà dân tự thân nó có tuổi thọ ngắn ngủi hơn con đập, việc nứt sập lúc nào chỉ còn là chuyện của thời gian. Xin hãy hiểu thực sự đó là tội ác.
“Đập thuỷ điện thì tồn tại hàng trăm năm, nhà dân thì ngắn hơn”
Trả lời câu hỏi của báo Tuổi Trẻ “Độ an toàn khi có động đất chỉ được tính cho đập thuỷ điện và nhà dân làm sao chịu nổi động đất cấp 8 hoặc cao hơn?” Ông Trần Văn Hải, trưởng ban quản lý thuỷ điện 3 – chủ đầu tư công trình thuỷ điện Sông Tranh 2, cho rằng: “Không thể lấy tiêu chuẩn xây dựng của nhà dân và đập thuỷ điện để tính chung được. Đập thuỷ điện tồn tại hàng trăm năm, còn nhà dân thì ngắn hơn, có tiêu chuẩn riêng của bộ Xây dựng. Đúng là nếu động đất cấp 8 thì đập an toàn nhưng nhà dân sẽ sập. Nhưng tôi đã nói đây là động đất kích thích, không phải vì thuỷ điện Sông Tranh 2 mà nó mạnh hơn, cùng lắm chỉ diễn ra sớm hơn mà thôi…” Và ông Hải cũng kêu gọi người dân nên chia sẻ, hy sinh cho thuỷ điện.
TS NGUYỄN MINH HOÀ

Tham khảo thêm: Đừng lạm dụng hai chữ "hi sinh" ! (Mạnh Quân)
Bom nước và chuyện ngoại ngữ của các giáo sư (Đào Tuấn)
Giờ thì người dân chỉ còn “nhờ trời”
Không thể so sánh động đất kích thích ở Bắc Trà My với động đất kích thích ở Hoà Bình bởi diễn biến địa chất hoàn toàn khác nhau, cấu trúc nền móng của thuỷ điện Sông Tranh 2 quá xấu. Việc tích hay không tích nước cũng chỉ là để trấn an bởi thuỷ điện Sông Tranh 2 không có cửa xả đáy nên ông trời mới là người quyết định việc này, khi lũ từ thượng nguồn đổ về.
PGS.TSKH Phan Văn Quýnh (đại học Khoa học tự nhiên – đại học Quốc gia Hà Nội) phân tích như trên trong cuộc trao đổi với Sài Gòn Tiếp Thị.
Với mấy chục năm nghiên cứu trong lĩnh vực địa chất – kiến tạo, đã từng tham gia nghiên cứu và khảo sát tại khu vực Sông Tranh 2. Tiến sĩ có thể lý giải tại sao thuỷ điện Sông Tranh 2 đặt không đúng chỗ?
Cái chết người của thuỷ điện Sông Tranh 2 ở đây đó là cấu trúc nền móng của nó rất yếu. Họ đặt cái nhà máy thuỷ điện trên nền các thành tạo granit. Mà cụ thể là các hợp tạo diorit, granodiorit, granit với tổ hợp khoáng vật bất lợi cho sự bền vững khi chúng bị nước tác động. Đá ở Sông Tranh 2 là một trong những loại đá chịu đựng kém nhất với các tác nhân phong hoá như nước, gió, mưa… Ở Hoà Bình, Sơn La mình xây đập trên đá bazan còn ở đây là trên các thành tạo granit, nó khác hẳn nhau. Có một số nhà khoa học phân tích động đất kích thích ở Bắc Trà My cũng giống như động đất ở Hoà Bình, theo quy luật lên tới mạnh nhất (không vượt quá 5,5 độ Richter) và sẽ đi vào ổn định dần. Tôi cho rằng phân tích này chưa chính xác và mang tính “an ủi”. Động đất kích thích gọi đầy đủ là động đất kích thích hồ chứa do khi xây dựng hồ chứa mà tạo nên. Nhưng động đất kích thích của Bắc Trà My nó hơi khác, vì nó liên quan tới đứt gãy và đứt gãy đang hoạt động, liên quan tới đặc thù kiến tạo. Các đứt gãy này còn đóng vai trò khuếch tán nước làm tăng cường các trận động đất kích thích, nên phải xếp riêng động đất của Bắc Trà My ra.
Tiến sĩ đánh giá thế nào về các giải pháp lắp đặt các thiết bị máy móc cũng như quyết định chưa tích nước vào thời điểm này?
Chúng ta biết mực nước chết của hồ Sông Tranh là 140 nhưng khuyết điểm lớn nhất ở đây khi xây dựng là không xây đập xả đáy, chỉ có năm cửa xả lũ ở cao trình 161 nên luôn luôn treo lơ lửng trên đầu nhân dân một cột nước 140m. Bây giờ là tháng 10, sắp tới mùa lũ về dù muốn hay không thì hồ cũng có mực nước 161m. Khi đó việc tích hay không tích nước không phải bởi con người quyết định, mà là ông trời.
Có một điều ai cũng chắc chắn là động đất sẽ mạnh lên. Nhưng sự tăng cường của các thiết bị do động đất cũng chỉ để ghi nhận kết quả không mong muốn này thôi, còn chả làm gì được tai biến ấy cả.
THANH TUYỀN
Vì mục tiêu lợi nhuận của nhà đầu tư
TS Đào Trọng Tứ (giám đốc trung tâm Phát triển bền vững tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu): “Người dân Bắc Trà My phải bỏ mảnh đất màu mỡ, tươi tốt ven sông, nơi sinh kế của họ để vào ở khu tái định cư “đã là một sự chia sẻ, hy sinh rồi”, nên một khi chủ đầu tư chưa làm tốt thì sao lại tiếp tục bắt dân hy sinh nữa! Không thể phủ nhận thuỷ điện là một nguồn tài nguyên lớn, lợi thế lớn của đất nước ta, nên có nhà khoa học đã gọi đó là “hồng phúc”, và thực tế thuở ban đầu xây dựng và khai thác thuỷ điện, các nhà máy thuỷ điện thường hướng đến đa mục tiêu: phát điện, cung cấp nước cho tưới tiêu, ngăn lũ như Thác Bà, Hoà Bình, Sông Đà… nhưng giờ đây, thuỷ điện đang được khai thác một cách cạn kiệt và hầu như chỉ mục tiêu duy nhất là phát điện – vì mục tiêu lợi nhuận của nhà đầu tư.
Thực tế đến nay, chưa một đánh giá tác động môi trường nào mà làm một dự án thuỷ điện phải dừng lại vì lý do môi trường cả. Bởi lúc ấy, bao giờ lợi ích con số kinh tế sẽ thắng, dự án nào cũng khả thi cả, nhưng vấn đề anh trả giá thế nào thôi”.
CHÍ HIẾU
Theo SGTT

Thứ Ba, ngày 25 tháng 9 năm 2012

Vụ Hoàng Khương với hàng loạt câu hỏi?

Vụ án sơ thẩm đối với Nhà báo Hoàng Khương khép lại với hàng loạt câu hỏi: Vì sao không áp dụng Luật báo chí trong khâu tố tụng? Có cần không sự tham gia của HNB VN? Rồi sao hai vụ việc tương tự lại có kết quả trái ngược nhau đến vậy?…

Ba ngày sau khi tòa tuyên án, báo Tuổi trẻ TP. HCM đã có bản kiến nghị gửi đến Hội nhà báo Việt Nam, Hội nhà báo TP. HCM đề nghị 2 tổ chức này có ý kiến với các cơ quan chức năng nhằm bảo vệ quyền và lọi ích hợp pháp cho nhà báo Hoàng Khương, người vừa bị TAND TP. HCM xử 4 năm tù về tội “đưa hối lộ”. Ngay lập tức, hai cơ quan trên đã gửi Công văn đến TAND TP. HCM, VKSND TP. HCM và lãnh đạo Công an TP.HCM.
Trong Công văn HNB VN đề nghị “các cơ quan tố tụng xem xét một cách khách quan, thận trọng những chứng cứ mà cơ quan chủ quản của ông Khương có nêu trong quá trình xét xử”. HNB TP. HCM cũng kiến nghị: “Trong quá trình hơn 10 năm làm báo, anh Hoàng Khương đã có nhiều bài viết về truyền thống và những chiến công của lực lượng công an nhân dân, được nhận giải thưởng báo chí của Hội Nhà báo”.

Việc các cơ quan Hội gửi công văn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của hội viên là việc làm tất yếu. Đó là đạo lý, là pháp lý và cũng là lý do quan trọng làm nên sự tồn tại của Hội.

Trong Điều lệ, phần Mục đích ghi rõ: “Hội Nhà báo Việt Nam đại diện quyền làm chủ, nguyện vọng, lợi ích hợp pháp của những người làm báo Việt Nam…”.

Trong phần Nhiệm vụ, Điều lệ ghi: “Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Hội, hội viên – nhà báo trong hoạt động báo chí”.

Về Quyền hạn, Hội có quyền “Yêu cầu các cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà báo theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, việc làm của HNB TP. HCM và HNB VN vừa qua thể hiện đúng mục đích, nhiệm vụ và quyền của tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp này.

Có thể nói trong tình hình tiêu cực, tham nhũng tràn lan như hiện nay, việc bảo vệ hội viên chính là động lực thúc đẩy nền báo chí cách mạng Việt Nam thực hiện sứ mệnh cao cả mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân tin cậy. Do đó, nhà báo chính là những chiến sĩ xông pha trong mặt trận chống tham nhũng, tiêu cực. Họ sẽ rất yên lòng nếu có một điểm tựa vững chắc, luôn và sẵn sàng bảo vệ mình bất cứ lúc nào, trong hoàn cảnh nào, tất nhiên đó là những điều chính đáng và hợp pháp.

Thế nhưng để dẫn đến kết quả của vụ nhà báo Hoàng Khương hôm nay có thể coi như một tổn thất không nhỏ. Nguyên nhân cơ bản có lẽ là do các cơ quan chức năng đã thiếu cách nhìn cảm thông, chia sẻ và thấu hiểu cần thiết đối với nghề báo. Đã có nhiều định nghĩa về nghề này, thậm chí có hẳn một bộ phim nổi tiếng mang tên “Nghề nguy hiểm”. Nhưng không chỉ có vậy, nó còn là một “Nghề nghiệt ngã” – chữ của Nhà báo Nguyễn Uyển - mà sự “nghiệt ngã” thì ngàn lần đáng sợ hơn sự “nguy hiểm” bởi tính đa tầng, đa dạng, chông chênh và khó lường.

Phải chăng ở vụ án này, ngay từ khâu tố tụng, các cơ quan chức năng đã nhìn nó dưới lăng kính của một vụ án hình sự đơn thuần, chi phối nó bởi tư duy “hình sự hóa các hoạt động nghề nghiệp”?

Trong khi đó, vụ việc của nhà báo Hoàng Khương hoàn toàn có thể được nhìn qua lăng kính của một vụ án nghề nghiệp và được xét xử bởi Luật báo chí, một bộ luật tiến bộ, hòa nhập với cộng đồng thế giới đã được Quốc hội phê chuẩn.

Cần nhắc lại, cách đây đúng một năm (9/2011), Hoàng Khương đã thực hiện loạt bài phóng sự điều tra “Nhức nhối nạn mãi lộ” của cảnh sát giao thông Thanh Hóa. Sau khi bài báo đăng, cơ quan chức năng đã coi tài liệu của nhà báo Hoàng Khương thu thập được như những bằng chứng của vụ án và được lãnh đạo Bộ Công an khen ngợi, được Giải thưởng báo chí… Thế nhưng giờ đây, cũng với cách làm tương tự, do nhìn ở “lăng kính” tách rời tính đặc trưng của nghề nghiệp nên Hoàng Khương đã bị kết tội “đưa hối lộ”.

Phải chăng đây là kẽ hở của luật pháp mà như một vị cố Chánh án TAND TC đã từng nói đại để là án của ta “xử thế nào cũng được”? Có lẽ bởi cách nhìn bằng những “lăng kính” khác nhau, thiếu cảm thông, thấu hiểu và nhất quán của các cơ quan tố tụng nên các sự việc tương tự nhưng lại cho những kết quả khác nhau, thậm chí trái ngược nhau?

Trở lại với Công văn của Hội NBVN. Tuy đây là nhiệm vụ và quyền hạn của Hội nhưng không phải lúc nào nó cũng được phát huy. Vì thế, việc làm lần này của hai cấp Hội đã nhận được sự đồng tình của hội viên và dư luận xã hội. Hi vọng rằng từ nay, Hội luôn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ và quyền hạn của mình, xứng đáng là điểm tựa vững chắc của các nhà báo.

Tuy nhiên, có lẽ Hội nên làm một việc tiếp theo. Đó là đề nghị phiên tòa phúc thẩm tới đây cho xem xét lại toàn bộ vụ việc có sự tham gia của Hội Nhà báo trong quá trình tố tụng để từ đó, có cái nhìn khách quan, trung thực và cảm thông đối với “nghề nghiệt ngã” này.

Việc Hoàng Khương khi ra tòa vẫn với tư cách Nhà báo bởi tại thời điểm đó, anh vẫn không bị thu thẻ nhà báo phải chăng là thể hiện quan điểm của Bộ TT – TT và Hội NBVN. Đây có là dấu hiệu Hội đã và đang chuẩn bị cho các bước tiếp theo?

Có một chi tiết không thể bỏ qua, đó là trong Công văn, Hội Nhà báo đã đề nghị cho Nhà báo Hoàng Khương được về thăm người mẹ đang trong cơn thập tử nhất sinh. Chắc chắn đề nghị này sẽ được chấp thuận trong thời gian ngắn nhất bởi “Sinh có hạn, tử bất kỳ”. Niềm mong mỏi của người mẹ được gặp con mình trước khi về thế giới bên kia là nguyện vọng thiêng liêng của tình phụ tử.

Như vậy là vụ án sơ thẩm đối với Nhà báo Hoàng Khương khép lại với ngổn ngang những băn khoăn và hàng loạt câu hỏi. Ví như vì sao không áp dụng Luật báo chí trong khâu tố tụng? Có cần không sự tham gia của Hội NBVN, Hội Nhà báo TP. HCM với tư cách vừa là quan sát vừa là tham mưu trong lĩnh vực chuyên ngành? Rồi khi hoạt động nghiệp vụ, nhà báo phải thu thập được đầy đủ chứng cứ. Muốn có chứng cứ thì không có cách nào khác là phải trực tiếp nhập cuộc giống như chiến sĩ công an thâm nhập vào băng nhóm xã hội đen. Thế nhưng khi “nhập cuộc” thì lại bị… đem ra xét xử hình sự liệu có hợp lý, hợp tình? Rồi sao hai vụ việc tương tự lại có kết quả trái ngược nhau đến vậy?

Chúng ta hãy cùng nhau đặt câu hỏi và đề nghị Hội NBVN tiếp tục thể hiện vai trò của mình đồng thời gửi các kiến nghị này đến các cơ quan chức năng.
Bùi Hoàng Tám
Theo Dân Trí

Khi lòng yêu tiền thế chỗ lòng yêu nước

Nhìn hàng hóa, máy móc thiết bị, đồ chơi, văn hóa phẩm của Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam, trong đó đa số là hàng nhập lậu hoặc có độc tố nguy hiểm, những người Việt Nam ít nhiều có hiểu biết về thời kỳ kháng chiến chống Pháp chắc không khỏi phân vân: Lòng yêu nước và ý chí tự cường của người Việt Nam đi đâu mất rồi?

Còn nhớ, suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, VÙNG TỰ DO (tức là lãnh thổ của nhà nước kháng chiến VNDCCH) đã rất thành công với chủ trương “tẩy chay hàng ngoai hóa” (tức là hàng hóa từ vùng tạm chiếm của quân Pháp). Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ thời bấy giờ, nhân dân đã kiên quyết không tiêu thụ hàng hóa của địch. Tuy thiếu thốn, quân dân vùng tự do vẫn tự giác thiêu hủy tất cả các loại hàng hóa bắt được của bọn buôn lậu hoặc hàng “tâm lý chiến” do máy bay địch thả dù xuống. Đồng thời chính phủ thúc đẩy phát triển một nền kinh tế tự cung tự cấp khá hoàn chỉnh tồn tại độc lập với nền kinh tế vùng tạm chiếm của quân Pháp. Có được kết qủa đó là do chủ trương đúng đắn kịp thời của Hồ Chủ tịch và được quân dân đồng lòng hưởng ứng.

Giờ đây hơn nữa thế kỷ đã trôi qua, tình hình tuy khác nhau, nhưng bản chất của vấn đề hàng ngoại vẫn như nhau. Sự khác nhau trong cách ứng xử của chính phủ và người dân mới là điều đáng nói. Nó cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong quan niệm sống và lòng yêu nước của người Việt Nam giữa hai thời kỳ. Điều gì khiến mọi người trở nên vô cảm và bất lực trước sự tràn ngập hàng hóa các loại từ phương Bắc mà trong thâm tâm ai cũng biết là kẻ thù mới của dân tộc? Chẳng lẽ người Việt chỉ yêu nước khi nước mất nhà tan; và không cần yêu nước nữa khi đã là chủ nhân của đất nước ?

Để có thêm cơ sở bàn luận về điều này, ta hãy điểm lại những khái niệm cơ bản về lòng yêu nước. Trong từ điển tiếng Anh có một định nghĩa ngắn gọn: “Patriotism is love for or devotion to one’s country” (tạm dịch: Yêu nước là tình yêu hoặc sự phụng sự cho đất nước của một người). Nhưng văn hào Nga Êrenbua nói về lòng yêu nước một cách cụ thể như sau: “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất , yêu cái cây trồng ở trước nhà , yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông , yêu vị thơm chua chát của trái lê mùa thu , hay mùa cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh…” Người Việt Nam thì có cách ví von sinh động: “Quê hương là chùm khế ngọt cho con trèo hái mỗi ngày; …là đường đi học…; là con diều biếc v.v…và kết luận: “Nếu ai không nhớ sẽ không lớn nỗi thành người!”.

Quả vậy, với người Việt, quê hương thiêng liêng biết nhường nào, vì đó là “nơi chôn rau cắt rốn” của mỗi người. Chính tình yêu nước cụ thể, thiết thân, gần gụi như thế là động lực để người Việt chiến đấu chống bất cứ kẻ thù nào âm mưu chiếm đoạt quê hương của họ, từ quy mô làng xã đến quốc gia. Quê hương là nền tảng của lòng yêu nước mà mỗi khi được kích hoạt bởi các thủ lĩnh chân chính nó sẽ nhân lên thành sức mạnh tổng hợp và vô địch.

Phải chăng sự khác biệt bắt nguồn từ đặc điểm của hai thời kỳ với những người thủ lĩnh của nhân dân- đó là thời kỳ Hồ Chí Minh và thời kỳ hiện nay? Trong thời kỳ Hồ chí Minh với sự nghiệp chính là đấu tranh giành độc lập dân tộc, lòng yêu nước thật rõ ràng và dứt khoát. Đó là việc lựa chọn đứng về phía đại đa số nhân dân, không làm tay sai cho đế quốc-thực dân nước ngoài; mỗi người với hoàn cảnh và điều kiện của mình có thể trực tiếp tham gia hoặc hoặc gián tiếp ủng hộ cách mạng . Ở thời kỳ đó, cái chết kiêu hãnh không khuất phục kẻ thù được coi là biểu hiện cao cả nhất của lòng yêu nước. Đối lập với nó là sự đầu hàng, cầu vinh được gọi là “phản quốc”. Yêu nước và phản quốc là hai thái cực của thước đo nhân cách. Thời kỳ đó, cái chết được coi là chỉ dấu cao thượng nhất của lòng yêu nước, và không có chỗ cho sự đầu hàng hoặc thậm chí khi nó chỉ là một ý định hay một mánh lới nhằm thoát khỏi cái chết. Lại càng không có chỗ cho sự cầu vinh.

Tuy nhiên, sau khi hoàn thành cuộc đấu tranh giải phóng đất nước khỏi ách thực dân nước ngoài, cụ thể là sau 1975, biểu tượng của lòng yêu nước đã dần thay đổi khi chính những người giải phóng trở thành chủ nhân của đất nước. Họ dần quên đi nỗi sợ hãi sống chết và trở nên ham sống sợ chết, ham muốn vươn tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nhiều người muốn vươn tới giàu sang phú quý càng nhanh càng tốt. Trong thời kỳ này sự sống và khả năng sống tốt hơn là thước đo của lòng yêu nước. Sự phức tạp và dễ nhầm lẫn về lòng yêu nước cũng bắt đầu từ đó. Người ta sẵn sàng làm bất cứ điều gì có lợi cho mình , thậm chí để hưởng lợi từ sự hy sinh của các thế hệ đi trước, có thể đơn giản bằng cách khai man lý lịch để truy công, truy thưởng hoặc bằng cách núp bóng tiền nhân nhằm kéo dài quyền lực của bản thân, gia tộc và của “nhóm lợi ích”. Những hành vi này không chỉ bởi từng cá nhân mà đôi khi cả một tập thể; không chỉ tự phát mà còn được thể chế hóa. Ấy là lúc mà “một bộ phận không nhỏ” những kẻ có quyền lực tự tách mình ra khỏi đông đảo quần chúng nhân dân. Ranh giới khác biệt về khái niệm lòng yêu nước cũng bắt đầu từ đó. Đó là lúc lòng yêu tiền và quyền lực len lõi vào đời sống xã hội, thậm chí chế ngự lòng yêu nước. Khái niệm yêu nước tưởng chừng đơn giản trước đây, giờ trở nên mơ hồ khó hiểu, khó phân biệt. Thật không đơn giản để mọi người cùng nhìn về một hướng trong khi lợi ích đã an bài ở nhiều hướng và các tầng nấc xã hội khác nhau, được phân chia và kiểm soát bởi các nhóm lợi ích khác nhau. Đó là cái khó của người thủ lĩnh khi phải xác định đứng ở vị trí nào trước sức cám dỗ của quyền lực và tiền tài dưới sức ép của các nhóm lợi ích. Mặc khác tình hình mới cũng thuận tiện hơn để họ biện luận cho sự phản bội đối với lợi ích của quốc gia dân tộc bằng những lập luận mơ hồ, thậm chí được sự hậu thuẫn của các thế lực nước ngoài. Họ có thể lập luận rằng chỉ có những kẻ dại khờ mới chối từ quan hệ với những đối tác nước ngoài chào thầu với giá rẽ, và rằng tẩy chay hàng hóa từ một nước bạn láng giềng là không phù hợp với thời đại toàn cầu hóa! Vân vân và vân vân… Họ có quá đủ những lập luận kiểu này để bảo vệ những lợi ích đã được thiết lập của họ.

Tóm lại, ngày nay vai trò thủ lĩnh khác với thời kỳ Hồ Chí Minh ở chỗ họ đều có lợi ích riêng tư và bị ràng buộc bởi những mối quan hệ lợi ích của giai tầng thống trị. Nói cách khác Họ là đại diện của một hệ thống lợi ích đã được thiết lập, và lợi ích tối cao của họ là phải bảo vệ hệ thống lợi ích đó bằng bất cứ giá nào. Từ quan điểm này họ đưa ra những quyết sách chính trị, quốc phòng và dân sinh. Việc có hay không chủ trương tẩy chay hàng Trung Quốc cũng phụ thuộc vào sự tính toán như vậy. Có điều là, khi chưa có chủ trương từ cấp trên thì các doanh nghiệp vẫn đua nhau tranh thủ kiếm lời bằng những thủ đoạn buôn gian bán lận, thậm chí tiếp tay cho âm phá hoại của kẻ thù trong người dân không thể “cầm đèn chạy trước ô tô” và bản chất dân chúng không bao giờ đồng nhất nếu không có vài trò dẫn dắt của thủ lĩnh. Đó là lý do tại sao cứ kéo dài tình trạng người và hàng Trung Quốc ngày càng tràn ngập lãnh thổ Việt Nam như ta thấy gần đây.

Có lẽ chưa bao giờ người yêu nước trở nên lạc lỏng như bây giờ. Nếu ai đó lên tiếng kêu gọi lòng yêu nước thì có thể bị dư luận cho là “vô công rồi nghề”, thậm chí bị xa lánh bởi những người đang làm việc. Có một nhóm người khác còn nói đến lòng yêu nước, đó là những người đang sống ở nước ngoài; họ yêu nước theo theo đúng nghĩa yêu quê hương…. Thỉnh thoảng ta có thấy lòng yêu nước “tái hiện” bởi một số kẻ giàu có qua những hoạt động từ thiện hay hoạt động tuyên truyền vận động chính trị. Ai cũng biết, trong bối cảnh Việt Nam, hầu hết những người này đã giàu lên bằng cách vi phạm các hành vi tham nhũng hay câu kết và phản bội. Đối với họ, mọi thứ đều có thể mua được bằng tiền, nên họ cho rằng có thể mua lại lòng yêu nước sau khi đã có rất nhiều tiền. Nhiều kẻ khác cũng đang định làm thế. Nhưng trong khi chưa có nhiều tiền, họ tự cho phép mình quên đi lòng yêu nước, đó cũng là điều dẽ hiểu. Đó cũng là lý do của tình trạng khá phổ biến hiện nay khi một số kẻ thường giả ngô giả ngọng khi nói về lòng yêu nước hoặc thậm chí không phân biệt được những người yêu nước thật với các “thế lực thù địch”. Đó là một trong những sự thật đầy tính bi hài của đất nước ta ngày nay./.
Trần Kinh Nghị

Thứ Hai, ngày 24 tháng 9 năm 2012

Cái đất nước mình nó thế


Sài Gòn, chiều mưa ngày 24/9/2012.
Phiên tòa kết thúc. Thôi, về đi thôi. Mọi thứ đã được an bài. Cái đất nước mình nó thế. Biết nói gì đây!
Rồi người bỗng hết buồn đã hết buồn 
Người lặng nghe đá lên trong mình

Đàn bò vào thành phố
Đêm buồn vắng buồn hơn
Đàn bò vào thành phố
Không còn ai hỏi thăm
Đàn bò tìm dòng sông
Nhưng dòng nước cạn khô
Đàn bò bỗng thấy buồn, bỗng thấy buồn
Rồi một hôm đứng mơ mây ngàn
Một người vào thành phố
Đếm từng bước buồn tênh
Một người vào thành phố
Không còn ai người quen
Người tìm về đồng xanh
Nhưng đồng đã bỏ không
Rồi người bỗng thấy buồn, bỗng thấy buồn
Người chợt nghe xót xa đất mình
Điệp khúc:
Ôi quê hương đã lầm than
Sao còn, còn chiến tranh
Mẹ già hết chờ mong
Đã ngủ yên
Mẹ già mãi ngủ yên
Buông lời ru cho muôn năm
Buông vòng nôi cho hư không
Cho hư không buông bàn tay
Con đi hoang
Con đi hoang một đời
Con đi hoang phận này
Đàn bò vào thành phố
Reo buồn tiếng hạt chuông
Một người vào thành phố
Nghe hồn giá lạnh băng
Người tìm về đầu non
Nhưng rừng đã bỏ hoang
Rồi người bỗng hết buồn đã hết buồn
Người lặng nghe đá lên trong mình
Trinh Công Sơn

Myanmar: Trưởng ban kiểm duyệt đậy nắp bút


Văn phòng của ông ta một thời là trung tâm thẩm vấn, do các nhân viên cảnh sát quân sự đáng sợ của Nhật Bản điều hành, suốt Thế chiến II. Và đó là lý do vì sao quý ông Tint Swe mang biệt danh: kẻ tra tấn chữ nghĩa.
“Chúng tôi không bắt, không tra tấn ai cả, nhưng chúng tôi phải tra tấn những gì họ viết” – ông Tint Swe nói, bộ mặt nghiêm nghị nhường chỗ cho một nụ cười mơ hồ.
Ông Tint Swe là tổng kiểm duyệt gia cuối cùng của Myanmar, là viên trọng tài hùng mạnh phán xét những gì công chúng được phép đọc – và phán xét xem cái gì sẽ bị xóa khỏi chính sử.
Suốt gần 5 thập kỷ, các chính quyền quân sự ở Myanmar kiểm tra từng cuốn sách, từng cái tựa đề, từng bức ảnh và tranh minh họa, từng bài thơ, trước khi chúng được in ra. Đó là một công việc quan trọng sống còn đối với quân đội – lực lượng tìm cách kiểm soát gần như toàn bộ mọi mặt của đời sống dân sự.
Văn phòng kiểm duyệt được biết đến với một cái tên từ thời Orwell (George Orwell, nhà văn Anh, nổi tiếng với hai tiểu thuyết phê phán chủ nghĩa toàn trị là “Trại súc vật” và “1984”, từng sinh sống ở Myanmar hồi thập niên 20 của thế kỷ trước – ND): Cục Giám sát và Đăng ký Báo chí. Văn phòng này từng làm nhiều thế hệ người viết phát điên, phát khùng. Các nhân viên kiểm duyệt trả lại bản thảo với những dòng gạch đỏ, sau quá trình kiểm tra toàn diện. Thường là họ cấm cả sách, báo. Bất kỳ ý đồ chống đối/ bất mãn thoảng qua nào nhằm vào lực lượng quân sự, hoặc hàm ý gì về chính quyền tham nhũng, đều bị xóa bỏ. Miến Điện (Burma) – tên cũ của đất nước này – bị gạch đi để chỉ dùng tên Myanmar là tên mà Hội đồng Quân sự thích.
Ngay cả các trang vàng trong danh bạ điện thoại cũng phải đi qua văn phòng kiểm duyệt.
Khoảng 100 kiểm duyệt viên, phần lớn là phụ nữ, ngồi trên những chiếc ghế mây cũ kỹ và làm việc bên những chiếc bàn gỗ tếch cũ kỹ. Một số phần việc được tiến hành trên máy tính, song nhiều kiểm duyệt viên vẫn phải đặt sẵn bút đỏ trong lọ đựng bút. Văn phòng ngổn ngang những chồng sách, báo, bản thảo, mà nhân viên văn phòng cho biết là họ phải phun thuốc diệt mối thường xuyên để xử lý mối mọt.
Nhưng hiện nay, văn phòng yên ắng rõ rệt. Cách đây một tháng, ông Tint Swe đã triệu tập các tổng biên tập, chủ bút và người làm xuất bản hàng đầu của đất nước đến đây và ra một tuyên bố trọng đại: Sau 48 năm và 14 ngày, chế độ kiểm duyệt sẽ bị vứt vào đống đống nát của lịch sử.
Đối với thế giới, những thay đổi chính trị ở Myanmar – có thể kể đến một số việc như trả tự do cho các tù nhân bất đồng chính kiến, thành lập Quốc hội để tranh luận được diễn ra sôi nổi, và quyền tự do báo chí mới trao – vừa đột ngột lại vừa khó hiểu. Trong lịch sử cận đại, mới chỉ có vài trường hợp độc tài quân sự từ bỏ quyền lực mà không có bạo lực và đổ máu.
Câu chuyện của ông Tint Swe cho thấy những thay đổi từ trong chính quyền, một sự tự nhận thức dần dần ở rất nhiều công chức, rằng ách cai trị quân sự là không thể trụ vững được. Năm ngoái, ông Tint Swe và các quan chức khác trong Bộ Thông tin đã vạch lộ trình cho việc xóa bỏ chế độ kiểm duyệt – chỉ vài tháng sau khi chính quyền dân sự của tổng thống lên nắm quyền.
“Công việc mà tôi đã làm đó không phù hợp với thế giới, không phù hợp với thực tế” – ông Tint Swe phát biểu tại văn phòng của mình, nơi mà các khẩu hiệu của chính quyền treo gần kín các bức tường.
“Chúng tôi không thể không thay đổi” – ông nói. “Cả nước muốn thay đổi”.
Chính thức thì ông Tint Swe, 47 tuổi, là một thế lực hùng mạnh đứng sau cỗ máy tuyên truyền khủng khiếp của phe quân sự. Nhưng trong một biểu hiện cho thấy quyền lực của chế độ đã sụp đổ trong những năm suy vong của nó, nhà tổng kiểm duyệt này đã có một thời gian sống hai mặt. Trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi, ông ta thú nhận rằng bản thân cũng là một cây viết đầy khát vọng. Vào những ngày cuối tuần, ông Tint Swe viết nhiều bài dài về lịch sử quân sự, vũ khí, và các đề tài khác. Một trong những cuốn sách ưa thích của ông là về lịch sử quân sự Mỹ.
Ông ta đưa bài lên Facebook – việc này khiến nhiều nhà báo cười giễu rằng ngay cả đến nhà tổng kiểm duyệt cũng biết phải làm thế nào để tránh hội đồng kiểm duyệt.
Những tiến bộ công nghệ đó đã thách thức chính quyền. Điện thoại cầm tay, tivi vệ tinh, và thế giới xuất bản số, tất cả đều nằm ngoài tầm tay của giới kiểm duyệt. Và chúng đều không phải là những thực thể trừu tượng đối với các quan chức như ông Tint Swe. Họ và gia đình họ cũng đều đang sống trong thay đổi.
Các nhà báo Myanmar cho biết ông Tint Swe, vốn là cựu quan chức trong quân đội, đã thay đổi dần dần trong thời gian 5,5 năm qua làm cái nghề gọi là tra tấn chữ nghĩa. (Trong quá khứ, tra tấn về thể xác ở Myanmar thường được sử dụng để hành hạ tù chính trị, và việc này do các cơ quan khác trong chính quyền đảm trách).
Ban đầu là một công chức nghiêm khắc, thô bạo và cứng rắn – xuất thân từ một quan chức quân đội trong một chính thể độc tài – ông Tint Swe đã trở nên ngày càng thân thiện và khoan hòa hơn, ông đã nhận ra rằng kiểm duyệt là điều không thể tồn tại trong kỷ nguyên Internet. Năm nay, ông đi xa hơn, bằng việc giúp các tổng biên tập tổ chức hội nghị về tương lai của báo chí trong nước.
Saw Lynn Aung, chủ bút tờ tuần báo Naypyitaw Times, nhớ lại cơn giận dữ không kiềm chế được của ông Tint Swe cách đây 5 năm, khi ông ta ra lệnh phải xóa bỏ một bài viết chống tham nhũng ở một bộ nọ.
“Anh biết luật rồi đấy!” – ông Aung nhớ lại rằng ông Tint Swe đã hét lên như thế. “Tôi có thể đóng cửa báo các anh!”.
Ông Tint Swe làm công việc của nhà tổng kiểm duyệt vào một trong những thời kỳ khó khăn nhất đối với phe quân sự cầm quyền: cuộc nổi dậy của các nhà sư vào mùa thu năm 2007, phản ứng vụng về của chính quyền trong thảm họa bão Nargis, cơn bão làm chết ít nhất 130.000 người vào tháng 5-2008. Ông bảo, những ngày đó, kiểm duyệt là cần thiết, để duy trì ổn định, trật tự.
Các nhà báo cho biết, kể từ sau những biến cố đó, ông bắt đầu bộc lộ các dấu hiệu cho thấy một sự uyển chuyển hơn.
Ông Saw Lynn Aung nói: “Ông ấy bảo: ‘Xin kiên nhẫn, đợi đã, rồi sẽ có thay đổi’. Cá nhân tôi cho rằng ông ấy đi trước mọi sự thay đổi một chút”.
Ông Tint Swe cho biết, giống như bất kỳ người nào khác, ông đã quan sát cẩn thận, tìm các dấu hiệu thay đổi ở tầng lớp lãnh đạo cao nhất. Ông đọc rất kỹ bài diễn văn nhậm chức năm ngoái của ông Thein Sein, bài diễn văn này tập trung vào hòa giải dân tộc và giảm nghèo.
“Bài diễn văn làm tôi có cảm giác rằng một sự thay đổi thật sự đang đến” – ông Tint Swe nói.
Ba tháng sau khi tổng thống nhậm chức – phải mãi sau này các nhà quan sát bên ngoài mới bắt đầu tin rằng quá trình cải cách là có thật – ông Tint Swe và các quan chức khác đã có những bước đi đầu tiên nhằm phá bỏ hệ thống kiểm duyệt. Vào tháng 6-2011, các bài báo nói về giải trí, y tế, trẻ em và thể thao bắt đầu được miễn kiểm duyệt. Tiếp sau đó là các chủ đề khác, và đỉnh cao là tháng trước, với chính trị và tôn giáo trở thành hai lĩnh vực cuối cùng tháo bỏ kiểm duyệt.
Trong khi tàn tích của chế độ độc tài dần lui vào quá khứ, cũng vẫn có những nhà cố vấn lo sợ về một sự tái xuất hiện độc tài. Liệu các ông trùm kinh doanh – vốn kiếm tiền từ chế độ độc tài, độc quyền và những hợp đồng được chính quyền quân sự ban cho – có làm chậm bước tự do hóa kinh tế không? Liệu những người kiên quyết thay đổi có chi phối được phe cải cách không?
Bàn về vấn đề kiểm duyệt, ông Tint Swe tỏ ra rất dứt khoát.
“Không có chuyện quay trở lại” – ông nói.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại những thắc mắc về quyền tự do báo chí ở Myanmar. Báo chí vẫn phải có giấy phép mới được xuất bản.
Kyaw Min Swe, chủ bút Tuần báo Tiếng nói (The Voice Weekly) – một tờ báo dấn thân đã từng bị chính quyền tạm đình bản 6 lần – nói rằng xóa bỏ kiểm duyệt là chưa đủ. Ông nhận định rằng toàn bộ Bộ Thông tin cũng phải bị xóa bỏ.
“Bộ Thông tin nói chung là để phục vụ độc tài” – ông Kyaw Min Swe nói.
Ông Tint Swe cho biết, số phận của văn phòng kiểm duyệt và các nhân viên của nó vẫn còn đang được xem xét quyết định. 100 nhà kiểm duyệt thú nhận, họ có thừa thãi thời gian rảnh tay và chẳng bao lâu nữa, sẽ ít việc hơn: trách nhiệm cho đăng ký xuất bản ấn phẩm giờ đây được giao lại cho mỗi bang tự quyết. (Myanmar theo chế độ liên bang – ND).
Ông Tint Swe nhìn một lượt quanh văn phòng, và bảo rằng ông có cảm giác mất mát.
Ông nói về chế độ kiểm duyệt: “Tôi tự hào rằng tôi đã là người chấm dứt nó. Nhưng tôi cũng là một con người. Văn phòng của tôi đã một thời đầy những cây viết, nhà văn, người làm xuất bản”.
Bây giờ thì văn phòng của tôi trông như một thành phố ma”.
ẢnhÔng Tint Swe đã là tổng kiểm duyệt gia cuối cùng của Myanmar – thế lực hùng mạnh đằng sau cỗ máy tuyên truyền khủng khiếp của quân đội.
21-9-2011
Thomas Fuller
Người dịch: Đỗ Uyên
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012