Thứ Bảy, ngày 13 tháng 10 năm 2012

Mạc Ngôn nợ Việt Nam một lời xin lỗi


Vậy là cuối cùng, giải Nobel Văn chương 2012 đã có chủ, đúng một giáp từ năm 2000 khi Cao Hành Kiện (mặc dù đã bị tước quốc tịch Trung Quốc nhưng ông là nhà văn Trung Quốc trăm phần trăm) được trao giải Nobel và bị người Trung Quốc phản đối, cho việc trao giải đó mang tính chính trị “như là một sự sỉ nhục và cũng là sự khinh thường đối với chúng ta” (Bắc Kinh Văn báo), “đây là một trò đùa không đúng chỗ, nó sẽ làm mất uy tín của Ủy ban Nobel dưới con mắt một bộ phận dư luận Trung Quốc” (Văn hối báo)…Thì nay, chắc là họ hoan hỷ vì Mạc Ngôn là nhà văn xuất sắc chính thống của họ.
Không phải ngẫu nhiên mà cả Mạc Ngôn và H.Murakami đều đứng đầu danh sách các nhà văn có khả năng được giải Nobel năm nay. Châu Á đang nóng vì nhiều vấn đề. Những giá trị châu Á đang được quan tâm. Và cả Mạc Ngôn lẫn Murakami đều thuộc loại nhà văn ăn khách, phổ biến, nổi tiếng, tác phẩm của họ lại còn được dựng thành phim để đến gần công chúng hơn… những tiêu chí vốn xa lạ với một giải Nobel bác học, hàn lâm, xa rời thị trường.
Điều đó cho thấy tính chính trị và tính đại chúng đang dần dần thống lĩnh hoàn cầu.Chiếm lĩnh cả một giải thưởng văn chương danh giá. Nhiều người sẽ bảo: Nobel là cái quái gì chứ? Nhưng rõ ràng, con người ta phải tin vào một cái gì đó, phải có một chuẩn thức, và giải Nobel, vốn do một ủy ban uyên bác, công bằng, không thuộc một nước lớn mà là của một quốc gia trung lập, vẫn là đỉnh điểm cao quý của nghề văn.
Tôi dõi theo Mạc Ngôn và Murakami từ khi sách họ mới vào Việt Nam. Tôi có và đọc gần hết tác phẩm của họ. Cả hai nhà văn này tôi đều thích, thích ngay từ dòng đầu tiên. Điều này cũng hơi lạ, vì tôi vốn dị ứng với lối viết hơi dung tục (như của Mạc Ngôn) và rề rà (như kiểu Murakami). Tôi vẫn thích đọc cái kiểu trong sáng, giản dị, nhẹ nhàng ảnh hưởng của văn học Pháp và Nga.Nhưng không hiểu sao, cả Mạc Ngôn và Murakami tôi đều đọc được. Đọc một mạch đến hết. Có một vài vị thầy của tôi đã nhận xét là cố đọc hai tác giả này chỉ đến 30 trang là bỏ, không tiếp tục được. Đó cũng là một nhận xét của phía độc giả không yêu thích Mạc Ngôn và Murakami vốn không phải là hiếm trong giới học thuật.
Công bằng mà nói, vài năm gần đây, Mạc Ngôn viết xuống tay hẳn. Ba tác phẩm tôi cho là xuất sắc nhất của ông, thường khuyên sinh viên tìm đọc, làm luận văn… là Cao lương đỏ, Phong nhũ phì đồn (Báu vật của đời) và Đàn hương hình. Còn lại, đều chỉ thuộc loại tầm tầm.Tứ thập nhất pháo quá bề bộn. Thập tam bộ, Ếch, Tửu quốc… nhiều motif lặp lại và dài dòng. Rừng xanh lá đỏ và Cây tỏi nổi giận còn thua Nguyễn Ngọc Tư về mức độ da diết và khắc khoải. Chiến hữu trùng phùng thì khỏi nói, quá tệ cả về phong cách lẫn tư tưởng…
Murakami cũng vậy, càng ngày càng trở nên mang tính “thị trường”. Rừng Na Uy, Biên niên ký chim vặn dây cót và Kafka bên bờ biển theo tôi cũng là ba tác phẩm lớn của ông. Xứ sở diệu kỳ và nơi chốn tận cùng thế giới, tuy mượn kết cấu “phản trinh thám” nhưng không thành công lắm. Người tình Sputnik và Phía Nam biên giới, Phía Tây mặt trời chưa đủ sức mạnh về tư tưởng, mang hơi hướm văn học diễm tình quá. Tôi cũng từng phản biện luận văn về Murakami, và tôi cho rằng, trường hợp của Murakami nên được xem xét dưới góc độ thành công của văn học đại chúng hơn là văn học cổ điển, bác học. Vì lẽ tác phẩm của ông như có sẵn công thức để hấp dẫn mọi giới, cảm giác như mình được bao bọc trong một cái lưới êm ái, không dứt ra được mặc dù biết là mình đang bị vào tròng.
Nhưng nói như vậy không phải là chê bai họ. Tôi vốn là người hâm mộ họ. Và đọc họ, vừa với niềm yêu thích, vừa với con mắt của nhà phê bình.
Về Murakami, nhiều người nhận xét là đã chạm vào những vi tế nhỏ nhất của cảm xúc. Ông diễn tả tài hoa tâm trạng của Người: về nỗi thống khổ của một con người sống trong thời đại thừa mứa về vật chất nhưng cô độc và lang thang. Về những tình yêu dằn vặt. Về cái đẹp mong manh vô thường vốn là cảm hứng của các nhà văn Nhật Bổn từ cổ chí kim. Về cái chết tự chọn vốn là đặc trưng của phong cách sống Nhật. Nghĩa là, ông viết về nước Nhật, về người Nhật trong một xã hội quá gần nhau nên ta thấy bóng dáng của mình trong đó. Người đọc các nước đã thổn thức với sách ông, than vãn rằng sao ông tài tình nói thay cảm xúc của họ. Văn ông tài hoa nhưng bình dị. Và điều đó khiến ông nổi tiếng, khiến ông “public” (phổ biến). Và nó là lực cản khiến ông không đến được với giải Nobel, vốn không chuộng tính phổ thông, vốn trao giải vì nhiều lý do khác bên cạnh lý do văn chương (ví dụ như lý do tuổi tác, Murakami còn khá trẻ so với các nhà văn được giải từ xưa đến nay; lý do regional – vùng miền: thông thường, giải Nobel xoay vòng từ Âu, Mỹ, Phi, rồi đến Á; lý do chính trị: năm nào có điểm nóng về cái gì đó, nơi nào đó thì giải Nobel tập trung vào đó)…
Còn Mạc Ngôn, có lẽ là nhà văn Trung Quốc được dịch, được đọc và được nghiên cứu nhiều nhất trên thế giới trong thế kỷ 20, chỉ sau Lỗ Tấn. Giữa Mạc Ngôn và Lỗ Tấn thực ra có nhiều điểm tương đồng tôi sẽ nói sau. Điều đó cho thấy cũng giống như Murakami, ông là người quân bình, đi chênh vênh giữa hai thế văn chương bình dân và văn chương bác học. Văn ông thì dân dã, bỗ bã, thậm chí có lúc suồng sã, dung tục. Nhưng nó kết hợp những huyền thoại, dân gian Trung Quốc, và tô đậm đời sống Trung Quốc. Nghĩa là, người Trung Quốc có thể tự hào vì có một nhà văn mang bản sắc nước họ đi “đấm xứ người”. Mạc Ngôn từng nhiều lần được mời đi nói chuyện, đọc sách, giới thiệu sách ở những trường đại học lớn trên thế giới. Ông được giảng dạy trong hầu hết các chuyên đề về văn học Trung Quốc đương đại hoặc văn học châu Á đương đại ở đại học các nước. Nhưng người Trung Quốc hiện lên trong tác phẩm của ông thật đáng thương. Tôi không hiểu nhà nước chính thống ở Trung Quốc tự hào về ông, một nhà văn quân đội ở điểm nào, chứ còn, cái làm cho Mạc Ngôn vĩ đại, và gần với Lỗ Tấn, là ở việc khắc họa được thân phận của người Trung Quốc, tao loạn, tan tác vì lịch sử và biến cố, số phận của họ bị vùi dập, bị quăng quật còn hơn cả con muỗi. Con muỗi còn có vũ khí, còn họ, họ hoàn toàn bị động và chìm khuất trong những va đập của lịch sử, của chính trị. Tuy vậy, như bản chất của người Trung Quốc, họ chịu đựng, và quật cường. Người ta thích đọc Mạc Ngôn vì lẽ đó. Nếu như Murakami chú trọng đến tế vi cảm xúc thì Mạc Ngôn đem đến những giằng xé dữ dội của kiếp người. Không ai khổ như nhân vật của Mạc Ngôn, mà cũng không ai dai dẳng, bền bỉ sức sống như nhân vật của Mạc Ngôn. Đó là phong cách Trung Quốc. Người Trung Quốc vốn lạc quan chứ không bi quan như người Nhật. Người Trung Quốc không hay tìm đến cái chết như người Nhật. Người Trung Quốc gắng gỏi sống, ráng mà sống. “Phải sống”. Như cuộc sống nó vốn là.
Điểm Mạc Ngôn gần Lỗ Tấn, còn là sự dũng cảm. Để viết, và in, và nổi tiếng mà vẫn giữ được cái cốt lõi muốn nói trong tác phẩm của mình ở một đất nước còn chế độ kiểm duyệt xuất bản, thật không dễ. Đọc Phong nhũ phì đồn, Cây tỏi nổi giận, Rừng xanh lá đỏ, Thập tam bộ… thấy ông khá mạnh tay phê phán. Thành ra, dù là một nhà văn quân đội chính thống, cơ hồ Mạc Ngôn không hề ca ngợi chế độ, không trở thành “bồi bút” mà đã nói lên được điều cốt lõi nhất: số phận Trung Quốc tao tác qua những biến thiên lịch sử, thời đại. Điểm này Murakami sướng hơn Mạc Ngôn. Tôi hay tưởng tượng, Murakami vừa thảnh thơi, vừa đi bộ, vừa viết, như một niềm yêu thích, như một thú vui tao nhã. Còn Mạc Ngôn, vừa viết, vừa canh chừng trước sau rình rập, giống như nghệ sĩ xiếc đi trên dây, căng thẳng, hồi hộp, một là đến bờ vinh quang, hai là tan xác…
Về sự dũng cảm này, khi đưa Mạc Ngôn và Murakami lên bàn cân giải Nobel, tôi nghĩ, chọn Mạc Ngôn là đúng.
Nhưng một nhà văn lớn của thời đại, một nhà văn xứng tầm Nobel, danh giá nhất hành tinh, theo tôi, phải là một nhà văn nhân loại. Nghĩa là, nhà văn đó phải thực sự vượt qua ranh giới quốc gia không chỉ theo nghĩa hẹp là sách được xuất bản khắp nơi, mà còn là theo nghĩa rộng: vượt qua những hiềm khích dân tộc, vượt qua sự hẹp hòi của “dân tộc chủ nghĩa”, nhất là ở một đất nước như Trung Quốc, dân tộc tính, chủ nghĩa đại Hán vốn là thâm căn cố đế. Thì Mạc Ngôn, chưa đạt đến mức nhân loại. Với Chiến hữu trùng phùng (Ma chiến hữu), viết về cuộc chiến tranh Trung – Việt năm 1979 mà Mạc Ngôn gọi là “cuộc chiến vệ quốc”, tuy bằng giọng văn ôn hòa, không đến nỗi hiếu chiến, nhưng rõ ràng Mạc Ngôn vẫn đứng trên lập trường nước mạnh, nước lớn “cả vú lấp miệng em”. Nếu muốn xứng tầm là một nhà văn Nobel, rõ ràng, Mạc Ngôn nợ Việt Nam một lời xin lỗi.
Trần Lê Hoa Tranh
Theo VHNA

Sự mất tự do của một số người là điều kiện cho tự do của mọi người

Quốc bảo của một đất nước chính là những con người không còn sợ hãi*
Aung San Suu Kyi
Đầu đề của bài viết này được gợi ý từ chủ đề của diễn từ nhận giải Sách Hay của Nguyễn Văn Trọng: «Tự do của mỗi người là điều kiện đảm bảo cho tự do của mọi người». Và đấy là một luận điểm của Marx.
Một số người được nói đến ở đây là những người đi vào chốn lao tù bằng sự can đảm, bằng lòng cao thượng, nghĩa hiệp. Họ vào tù để thể hiện tự do của chính họ, và tự do của họ, hay là sự mất tự do của họ, nếu nhìn từ góc độ khác, là điều kiện cho việc một ngày nào đó mọi người ở Việt Nam sẽ có tự do. Theo định nghĩa của Aung San Suu Kyi, họ chính là quốc bảo.
Họ là những Trần Huỳnh Duy Thức, Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Lê Thanh Hải, Đinh Đăng Định… là những thanh niên công giáo và tất cả những người chịu mất tự do thân xác để bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ sự thật, bảo vệ quyền con người, bảo vệ tự do suy nghĩ và hành động của chính họ và của những người khác. Họ đánh đổi tự do thân xác để giữ lấy tự do tư duy và tự do hành động. Hẳn nhiên, vào tù cũng là một hành động.
Các vị thẩm phán có thể kết án những con người không còn sợ hãi đó, đưa họ vào tù, giam cầm thân xác họ. Nhưng không thể giam cầm tự do của họ. Nghịch lý là, sự cầm tù về thân xác lại chính là biểu hiện, là minh chứng cho tự do tinh thần của họ, là minh chứng cho sự can đảm của họ, là điều kiện để xác nhận rằng họ không còn sợ hãi, để họ trở thành quốc bảo của đất nước.
Đất nước này đang hủy hoại quốc bảo của mình một cách không thương tiếc, gần như tất cả mọi lĩnh vực: những ngôi chùa như chùa Trăm Gian bị phá hủy (phá hủy bằng cách trùng tu) ; những thắng cảnh như Hồ Tây bị phá hủy bởi những con rồng xi măng xấu xí tột độ, phản thẩm mỹ tột độ; những khu rừng quốc gia như Cát Tiên cũng đang lăm le bị phá hủy; tài nguyên khoáng sản như bô xít, than… chảy dần ra nước ngoài cho đến khi kiệt quệ; những bộ óc tài năng bị tê liệt, những nguồn năng lượng chất xám bị hút kiệt trong những môi trường kìm hãm, trong những điều kiện làm việc tồi tệ cả về vật chất lẫn tinh thần; những con người không còn sợ hãi bị bắt giữ và giam cầm…
Một đất nước hủy hoại tất cả mọi quốc bảo của mình thì tương lai của đất nước ấy sẽ ra sao?
Tương lai của đất nước ấy chỉ có thể được cứu vãn bởi những con người không còn sợ hãi, Aung San Suu Kyi có lý khi nói như vậy (Mở ngoặc để đưa một minh chứng nhỏ: đồi Vọng Cảnh đã tiêu vong nếu không có Cù Huy Hà Vũ). Cho dù giờ đây họ còn quá đơn độc, ít ỏi, bị xa lánh, cho dù họ thất bại, cho dù kể cả trong trường hợp người ta có thành công trong việc hủy hoại hoàn toàn đất nước này, thì điều mà họ có thể và đã làm được là: bằng chính sự thất bại của họ trong việc để mất tự do thân xác, bằng cách chấp nhận trả giá cho tự do tinh thần và tự do hành động, họ đã để lại những ký ức, những dấu ấn tốt đẹp cho cả một cộng đồng, cho cả một dân tộc. Nói một cách khác, nếu cả đất nước này bị tiêu vong thì họ sẽ là những người còn lại.
Họ sẽ không bao giờ bị tiêu vong.
Họ là quốc bảo, vì nhờ có họ mà ta có cơ sở để hy vọng rằng cái ngày mà mọi người ở Việt Nam có tự do sẽ đến. Nhưng nó đến nhanh hay chậm thì tùy thuộc vào những người cho đến hiện nay vẫn còn tự do thân xác có vượt qua được nỗi sợ hãi của mình hay không.
Nguyễn Thị Từ Huy

Cái lắc đầu của Quảng Nam

ít ra, thủy điện cũng có một tác dụng lật tẩy những trá ngụy mang danh nghiên cứu khoa học, những lời lẽ an dân nổ như sấm từ tầm cỡ quản lý to đoành như bộ trưởng, cho đến những vị khoác áo khoa học gia với giày cộp những danh hiệu giáo sư, tiến sĩ.
Nghị trường ngày 14-6-2012, tại phiên chất vấn được truyền hình, phát thanh trực tiếp đến hàng triệu cử tri, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng đã cam kết sẽkiểm tra, phát hiện các công trình thủy điện không khả thi. Riêng với thủy điện Sông Tranh 2, ông khẳng định đây là “sự cố hi hữu”, sẽ “khắc phục bằng được”.Và trên cơ sở lời hứa “Đảm bảo tuyệt đối an toàn cho khu vực hạ lưu bằng mọi biện pháp, nếu phát hiện không an toàn sẽ kiên quyết dừng”.
Và sau lời hứa của Bộ trưởng, điều gì đã xảy ra?
Các khe hở Sông Tranh được trám theo kiểu “đút nút đầu ra”. Và, chưa kịp tích nước, Sông Tranh trở thành thủ phạm đã gây ra dữ dội những trận động đất. Cũng may, động đất chưa vượt quá mức thiết kế 5,5 độ richter, dù nó có khả năng vượt con số max thiết kế này vài độ. Nhưng nghiêm trọng hơn, là những cơn rung chấn trong dư luận, trong lòng người. Những cơn rung chấn của niềm tin.
Vài hôm trước, một tiến sĩ của, với tư cách là một nhà khoa học, đã gửi tâm thư tới Chủ tịch nước bày tỏ những nỗi lo ngại mà thủy điện có thể gây ra đối với Vườn Quốc gia Cát Tiên. Hơn 137 ha rừng, lại thuộc diện “di tích quốc gia diện đặc biệt”, sẽ bị tàn phá bởi thủy điện chứ đâu phải chỉ vài cái lá trên cây. Và đến hôm qua, Quảng Nam quyết định dừng 19 thủy điện với lời tuyên bố dõng dạc của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Phước Thanh: “Làm thủy điện, địa phương đã mất nhiều hơn là được. Vì thế, loại khỏi quy hoạch càng nhiều dự án càng tốt”.
Vị tiến sĩ có lương tâm để lo lắng.
Quảng Nam có thực tiễn để chua chát lắc đầu.
Bởi một chính quyền vì dân không thể dửng dưng trước tài sản, tính mạng của người dân. Bởi giờ đây, việc phát triển ồ ạt thủy điện, bởi việc ngăn sông bậc thang, trái với quy luật tự nhiên, không còn đơn thuần là việc tàn phá môi sinh nữa. Cũng không chỉ là những “con lũ” nhân tạo thổi trôi ra biển tài sản, tính mạng, quét sạch cả hiện tại, quá khứ, tương lai của những người dân đã mất mát, hy sinh quá nhiều cho “động lực phát triển”, cho tương lai của một ai đó. Thủy điện từ sau vụ Sông Tranh, còn đồng nghĩa với động đất. Và nghiêm trọng nhất, là đồng nghĩa với rung chấn trong lòng người.
Cũng hôm qua, bên cạnh việc stop 19 thủy điện, còn kèm theo đó một phát ngôn biểu hiện rõ ràng rành bài học về sự trả giá: “Bỏ được cái nào, quý cái đó”. Trước sự thật phải trả, cũng bằng cái giá đắt nhất là niềm tin, được trải nghiệm qua thực tế: “Mất rừng, mất đất, tái định cư làm khổ dân”. Lần này, thật tình cờ, cả chính quyền và người dân đều tin rằng thủy điện là hiểm họa, thủy điện là mất mát. Bởi thủy điện là dối trá.
Tất nhiên, cần phải nói một cách công bằng, bên cạnh những “Thủy điện phá rừng”; “Thủy điện gây lũ”; “Thủy điện tạo động đất”, thì ít ra, thủy điện cũng có một tác dụng. Đó là sự “mịt mờ” trong tính toán, trong phản biện- chữ dùng của ĐBQH Dương Trung Quốc; Đó là tác dụng lật tẩy những trá ngụy mang danh nghiên cứu khoa học, những lời lẽ an dân nổ như sấm từ tầm cỡ quản lý to đoành như bộ trưởng, cho đến những vị khoác áo khoa học gia với giày cộp những danh hiệu giáo sư, tiến sĩ.
Câu chuyện dừng thủy điện ở Quảng Nam còn bao hàm một ý nghĩa thực tiễn khác: Trong khi EVN mua điện của Trung Quốc với giá ở trên giời, trong khi giá bán điện đã tăng tới 3 lần từ năm 2011 vì thiếu điện, thì nhiều nhà máy thủy điện VN lại bị “hạn chế” phát điện. Cái lắc đầu của Quảng Nam, vì thế, có thể là cái lắc đầu với tương lai, mờ mịt ở đâu đó, nhưng đó là cái lắc đầu trách nhiệm với thực tiễn, với những người đang hàng ngày nai lưng trả tiền cho các bộ trưởng và các tiến sĩ.
Đào Tuấn

Thứ Sáu, ngày 12 tháng 10 năm 2012

Hai góc nhìn khác về Mạc Ngôn- Nobel văn học 2012

VHNA: Không thể phủ nhận tài năng và thành tựu văn chương của Mạc Ngôn nhưng dẫu sao vẫn có thể có những cách nhìn khác, có thể là thiên kiến, có thể là cực đoan song không vô cớ chút nào. Muốn hay không, Ma chiến hữu và tư tưởng của Mạc Ngôn trong đó đã xúc phạm đến lòng tự trọng của người Việt chúng ta. Ý  kiến của Hà Văn Thịnh là một ý kiến có nhiều cảm xúc và chúng tôi thấy có thể đưa ra để mọi người có thể trao đổi ở Diễn đàn này.
Xin đừng ú ớ, sàm nâng…!
Tin Mạc Ngôn vừa được nhận giải Nobel văn học vừa được loan báo có mấy tiếng đồng hồ, tôi đã thấy một số báo đưa tin (lúc này là 02:20 AM, 12.2.2012) và, thậm chí, viết bài để ca ngợi(!)? Đưa tin thì nên bởi chẳng ai cấm, nhất là cái “niềm tự hào” vì là châu Á; nhưng ca ngợi thì xin can, ngàn lần can, nếu các vị (đã viết, đã đăng hoặc sẽ viết, sẽ đăng).
Trước hết, với cách dùng từ vô cảm và… dốt nát khi ca ngợi Ma chiến hữu là “một tác phẩm nổi bật” thì quả là không tài nào hiểu nổi. Cách đây 3 năm tôi đã viết hai bài liền phê phán nhà xuất bản và người dịch tác phẩm đó là TS Trần Trung Hỷ (hiện đang là Phó Ban – ngang cấp phó hiệu trưởng ở ĐHH?) vì cái TỘI dịch, in một tác phẩm chửi người Việt là loại chó mèo, là tàn ác, là xâm lược Trung Quốc, là ăn cháo đái bát (đăng ở Văn hóa Nghệ An). Chuyện quan chức thì vì… cái gì tôi không rõ nên thích thì cứ bổ nhiệm; nhưng chuyện dịch, in một tác phẩm nhục mạ cả dân tộc, chà đạp lên sinh mạng hàng vạn con người (cả quân và dân) đã hy sinh để bảo vệ Tổ Quốc là điều không thể chấp nhận được. Lẽ ra, phải có lệnh thu hồi ngay tác phẩm đó, trừng phạt nghiêm khắc những ai đã tiếp tay cho giặc (dù vô tình hay cố ý). Thế nhưng, thời thế đảo điên. Trước đã có tờ báo ca ngợi tướng Hứa Thế Hữu (kẻ chỉ huy quân xâm lược VN), đến tận bây giờ lại còn viết bài ca ngợi thì quả là “bụt trên chùa cũng phải u ư”.
Tại sao khi báo chí đưa tin có nói chuyện một số tác phẩm của Mạc Ngôn đã bị cấm lưu hành ở TQ nhưng lại không hề có lời nào nói về Ma chiến hữu?  Muốn bào chữa cách nào đi nữa thì trong bài viết về Mạc Ngôn phải kể cho hết, cho đủ những tư tưởng, nghệ thuật (thi pháp) của Mạc Ngôn, trong đó có cả chuyện coi dân Việt Nam là đáng dạy cho một bài học (nguyên văn trong Ma chiến hữu). Lời lẽ đó có giống với giọng điệu mới đây của Hoàn Cầu khi khẳng định VN là địch hay không?
Xin các vị nếu không quan tâm đến lòng dân, vận nước đi nữa; không còn muốn chống lại giặc ngoại xâm đi nữa thì hãy lặng yên! Đừng có ú ớ khen bậy, khen sàm mà làm cho hàng triệu trái tim người đớn đau. Hãy để cho cái tình cảm tự nhiên của quý vị đối với bá quyền bành trướng hóa thành xi măng trong cái góc tối tăm nào đó vẫn được gọi là cái đầu. Rất cảm ơn!
Hà Văn Thịnh
Theo VHNA
Hoan hô bác Mạc Ngôn!
Bác Mạc Ngôn là người duy nhất mình đoán trúng  bác  đoạt giải Nobel. Trước đây mình có đoán bác Almatov nhưng trật lấc.   Năm đó mình hơn 30 tuổi thích Almatov vô cùng nhưng chỉ thích mảng truyện ngắn thôi, tiểu thuyết của Almatov chán ốm.  Mình vẫn ba hoa với bạn bè là trước sau gì Almatov cũng đoạt giải Nobel, sau bác chẳng được cái giải rút gì, mình ngượng chết được. Lần này chỉ  đoán thầm thôi chứ chẳng dám ba hoa nữa, chẳng dè bác lại trúng giải.
Nhưng đấy là chuyện nhỏ. Chuyện bác Mạc Ngôn đoạt giải Nobel cũng là chuyện nhỏ nốt, dù giải to đùng thì nó cũng chỉ là cái giải. Đối với nhà văn giải quan trọng nhất là giải thời gian. Ông Cao Hạnh Kiện cũng giải Nobel đấy nhưng liệu văn ông sống được bao lâu?
Chuyện này đối với mình mới là chuyện lớn: Phát ngôn đâu tiên của bác Mạc Ngôn là  đòi quyền được tự do cho một ông Nobel khác, ông Lưu Hiểu Ba!
RFI loan tin Nobel Văn học mong muốn Nobel Hòa bình được tự do (tại đây): “Trả lời phỏng vấn từ quê hương của mình, làng Cao Mật, phía đông Trung Quốc, Giải Nobel Văn học 2012 nói: ” Tôi hy vọng ông Lưu sẽ được tự do sớm nhất có thể”.
Chính phát ngôn đó đã cho thấy tầm vóc lớn lao của Mạc Ngôn. Hoan hô bác Mạc Ngôn, từ nay em nguyện yêu bác mãi mãi! Cho dù Tàu có đem quân xâm lăng nước Việt một lần nữa thì em vẫn yêu bác.
Chợt nghĩ nếu ai đó trong 1200 nhà văn Việt đương đại đoạt giải Nobel thì họ sẽ nói gì khi được nhắc đến ông Cù Huy Hà Vũ, đến Điếu Cày và nhiều người khác nữa? Chẳng biết họ sẽ nói gì nhưng chắc chắn họ không “dại mồm” như bác Mạc Ngôn, mình xin cá 1 ăn một trăm đấy! Được cái giải nhà nước đã cảm ơn Đảng rối rít, nói gì đòi tự do cho ai!
Nhà văn nước ta đến 99, 99 % là thế này: Khi không có gì thì họ nhân danh tất cả để đòi  tất cả, cái gì họ cũng đòi,  mấy món hư danh tào lao xịt bộp họ cũng không tha. Khi được suất phú quí danh vọng rồi thì họ quên tất cả, chỉ còn nhớ mỗi mình họ thôi.  Rứa đo rứa đo.
Hu hu.
Nguyễn Quang Lập
Theo Quê Choa

Kẻ thù vô hình

Lợi ích nhóm, chẳng phải là vấn đề xa xôi, bí hiểm, bởi đôi khi, nó được thể hiện công khai ở ngay trong những chính sách không có lợi cho số đông người dân, hoặc gần hơn, có ngay trong hai chữ “độc quyền”.
Bộ LĐ-TB&XH đã trình Chính phủ ba phương án tăng lương tối thiểu vùng năm 2013. Ngoài hai phương án đã được đưa ra lấy ý kiến (mức 2,5 triệu đồng và 2,7 triệu đồng/tháng), còn có phương án 2,4 triệu đồng/tháng. Báo chí dẫn lời Vụ trưởng Vụ Tiền lương – tiền công, bà Tống Thị Minh, cho rằng phương án 2,4 triệu được đề xuất “thêm” sau khi “khảo sát và lấy ý kiến thấy các doanh nghiệp còn khó khăn trong bối cảnh kinh tế khó khăn”.
Bộ Tài chính, chờ đúng thời điểm xăng dầu thế giới tăng giá trở lại cũng đã lắc đầu trước câu hỏi giảm giá xăng dầu. Vấn đề nằm ở chỗ “Bộ Tài chính, Cục quản lý giá đứng ra giải thích hộ doanh nghiệp”. Và “Các DN gần như được độc quyền định giá, lúc giá thế giới vừa nhích lên thì lập tức tăng theo, lúc giá thế giới giảm thì trù trừ kéo dài thời gian”.
Trong khi đó, vấn đề cơ chế định giá đất được đưa ra lấy ý kiến “cộng đồng doanh nghiệp” nhận ngay một bình luận chát chúa: “Dự thảo Luật không có chút đột phá, trong khi vẫn giữ nguyên hạn chế”, thể hiện ngay trong việc vẫn giữ cơ chế “thu hồi”, thay vì “trưng mua” với một cơ chế giá “phù hợp với thị trường” mơ hồ hơn cả quy định hiện tại.
Tất cả những sự kiện trên đều xảy ra trong cùng một ngày. Và không khó để nhận ra chúng có một điểm chung: Vấn đề lợi ích nhóm.
Các cơ quan quản lý có trách nhiệm cân bằng lợi ích của các nhóm xã hội khác nhau. Nhưng liệu lợi ích của vài trăm ngàn DN có lớn hơn lợi ích, gắn với cuộc sống tối thiểu của hàng chục triệu lao động? Liệu lợi ích của một vài DN độc quyền, có lớn hơn cuộc sống của gần chín chục triệu dân và cả nền kinh tế. Và cơ bản nhất, dù là túi tiền nhà nước, thì lợi ích của “túi tiền nhà nước” liệu có nên được làm đầy bằng cách móc từ túi tiền người dân.
Lợi ích nhóm, từ đời sống đã đi vào nghị quyết TƯ. Từ câu cửa miệng dân gian, đã trở thành quyết tâm của Đảng đặt ngang với nguy cơ về suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Lợi ích nhóm, chẳng phải là vấn đề xa xôi, bí hiểm, cũng chẳng khó lý giải, bởi đôi khi, nó được thể hiện công khai ở ngay trong những chính sách không có lợi cho số đông người dân, hoặc gần hơn, có ngay trong hai chữ “độc quyền” khi mà đặc thù của lợi ích nhóm là mối quan hệ “tiền- quyền”.
Còn nhớ 3 hôm trước, trong chương trình “Dân hỏi – Bộ trưởng trả lời” Thống đốc Nguyễn Văn Bình thừa nhận: “Có những nhóm lợi ích xuất hiện trong mỗi một ngân hàng (NH) cũng như trong cả hệ thống. Nó có thể thao túng hoạt động của một NH và ảnh hưởng đến cả hệ thống”.
Phải thừa nhận là Thống đốc đã dũng cảm khi công khai thừa nhận một sự thật, trong bối cảnh rất nhiều bộ, ngành, địa phương trong quá trình kiểm điểm trước đó phủ nhận việc có “lợi ích nhóm”, và dù đó là một sự thật mà ai cũng biết. Chỉ có điều, với cương vị là “tư lệnh” ngân hàng, ông không chỉ rõ đó là lợi ích gì, nhóm nào, ở đâu, và bao gồm những ai. Nếu coi lợi ích nhóm là chuyện của “hàng xóm”, hay thậm chí chỉ chống bằng những lời lẽ hô hào suông thì liệu có thể nói tới việc hạn chế, tiến tới xóa bỏ!
Còn có một sự thật khác: Chưa có bất cứ một cơ quan chức năng nào giải thích rõ thế nào là “lợi ích nhóm”, thậm chí còn chưa kịp có trong từ điển tiếng Việt. Vậy phải chăng là chúng ta đang chống lại một kẻ thù vô hình?
Đào Tuấn

Thứ Năm, ngày 11 tháng 10 năm 2012

Linh hồn của văn hóa, lịch sử có khi không nên cho “siêu thoát”

Givral  khai trương đồng thời với tòa nhà Vincom center. Nó vẫn nằm ở vị trí cũ nhưng tất nhiên nó không còn như cũ.
>> Một phần hồn của Sài Gòn lại ra đi…

Một Givral mới với một lịch sử đi qua quá sâu đậm với người Sài Gòn, với những ai nặng hoài niệm một không gian ấm cúng kiểu Tây hẳn sẽ hoàn toàn lạ lẫm với Givral hôm nay, nó chỉ như một quán cà phê hộp có bán bánh ngọt, thế thôi.

Hóa ra muốn làm văn hóa hay tìm lại một không gian mà lịch sử tình cờ để lại nơi đây không dễ dàng chút nào, nó đòi hỏi những người tiếp quản và tiếp tục nó cần nhiều điều hơn chỉ là nơi của bánh ngọt – cà phê.

Cái hỏng, cái lãng phí quan trọng nhất với nội thất hôm nay của Givral mà dự đoán dễ nhất là không được khác với tổng thể khối nhà Vincom chính là cái view cực quan trọng để nhìn toàn cảnh Nhà hát thành phố [ Hạ Viện cũ và khách sạn Caravelle ] đã bị chặn lại bằng một bức tường sử dụng cho …dãy tủ bánh ngọt. cái góc ngày xưa của Tim Page phóng viên chiến trường của UPI, Paris Match hay Horst Faas người nhận hai giải Pulitzer bằng hình ảnh của chiến trường VN…ông Phạm Xuân Ẩn cũng chỉ chọn góc ngồi này. Nhiều nhân vật báo chí, văn nghệ của Sài Gòn chia nhau từng góc của Givral. Nhìn sang Continental là Trịnh Công Sơn, Đinh Cường. Góc nhìn qua trung tâm báo chí nay là tòa nhà Louis Vuitton là của nhóm Trình Bày Diễm Châu, Hoàng Ngọc Biên, Cao Thanh Tùng, Nguyễn Quốc Thái  hay của các thi sĩ Nguyên Sa, Trần Dạ Từ …và vô vàn những nhân vật không thể kể hết tên từ khi Givral khởi đầu năm 1950. Nếu La Pagode là nơi của giới nghệ thuật thì Givral là nơi của báo giới trong và quốc tế trước 1975.

Biết là thế nhưng Givral vẫn cứ “không là thế”  bằng một nội thất xa lạ, vô hồn với lịch sử từng có của nó dù trong thông cáo báo chí của Givral ai đấy đã viết nghe rất ý nghĩa “Không còn ký ức , đô thị tồn tại thế nào đây?“

Dù Givral đã trở lại khi La Pagode, Brodard không còn cơ hội trở về thì cũng đành phải cứ tiếc nuối rằng đồng ý cái xác có thể thay đổi nhưng cái hồn, cái dấu ấn văn hóa và lịch sử 60 năm của nó phải còn phảng phất, trên một mảng tường, một chiếc bàn, một góc ngồi chứ không chỉ bằng vài dòng “vinh danh trên giấy“.

Cái linh hồn ấy phải không được cho “siêu thoát “

Givral mới còn chút Givral.
Givral
La Pagode
brodard
 nếu không có “bức tường bánh ngọt” này, ta sẽ nhìn thẳng ra quảng trường của nhà hát Thành phố và khách sạn Caravelle.
Đỗ Trung Quân
Theo FB Đỗ Trung Quân

Hiệp sĩ và tội phạm

Phong trào toàn dân phòng chống tội phạm chỉ nên giới hạn ở cách hiểu phòng để chống chứ không phải là phòng và chống. Nếu vì lý do nào đó mà tội phạm phát triển thì ngoài việc truy tìm căn nguyên xã hội của nó để can thiệp thì giải pháp phải tính đến đầu tiên là nâng cao năng lực của ngành công an.
Ngay khi hai từ hiệp sĩ được giới truyền thông đặt tên cho những thanh niên dũng cảm giúp dân bắt cướp đầu tiên, rồi câu lạc bộ phòng chống tội phạm tập hợp các hiệp sĩ ra đời tại Bình Dương và, các địa phương tổ chức học tập, nhân rộng mô hình này, đã có không ít ý kiến băn khoăn về cách tiếp cận hiện tượng này.

Trong một xã hội đang ngày càng trở nên vô cảm và ai cũng đề phòng sợ hãi trước tội phạm như hiện nay, những hành động nghĩa hiệp kia hiển nhiên khiến nạn nhân và dư luận cảm kích. Nhưng, hiệp sĩ, anh là ai? Ngoài lòng dũng cảm, hiệp sĩ không được trang bị kỹ năng, phương tiện chống tội phạm cũng như sự hiểu biết luật pháp. Hiệp sĩ không nhận thức đầy đủ về giới hạn về quyền hành động của mình và quan trọng nhất, anh không có chức năng, nhiệm vụ bắt cướp, hay nói rộng ra là chống tội phạm như lực lượng công an. Phong trào toàn dân phòng – chống tội phạm chỉ nên giới hạn ở cách hiểu phòng để chống chứ không phải là phòng và chống. Nếu vì lý do nào đó mà tội phạm phát triển thì ngoài việc truy tìm căn nguyên xã hội của nó để can thiệp, thì giải pháp phải tính đến đầu tiên là nâng cao năng lực của ngành công an, bởi theo phân công xã hội, đó là nhiệm vụ của lực lượng này.

Xem phim ảnh nước ngoài, ta hình dung người dân của họ được khuyên khi gặp cướp không nên chống cự, dù đang trong vai nạn nhân hay người ngoài. Trong trường hợp ấy, người dân chỉ nên ghi nhớ đặc điểm giúp truy tìm bọn cướp để trình báo lực lượng chức năng. Tối hôm kia, đài truyền hình của ta đã phải phát một phóng sự mang tính nói lại cho rõ nhân sự kiện một chuyên gia trong lĩnh vực xã hội đã thực hiện và phổ biến clip hướng dẫn người dân cách ứng phó với tội phạm, trong đó có tình huống bị cướp dí dao từ sau lưng khi đang ngồi trên xe máy. Một anh công an cũng được truyền hình phỏng vấn. Nội dung quan trọng nhất lẽ ra không nên xoáy vào tính đúng đắn của các lời tư vấn cần chống lại việc bị dí dao như thế nào mà nên thông điệp, hãy đừng làm gì để dẫn đến tổn hại đến tính mạng, sức khoẻ của mình, vì đã có công an, công an sẽ lo. Hiệp sĩ có thể dũng cảm, tài trí hơn dân nhưng chắc chắn không phải là công an. Nói một cách biểu cảm, Hiệp sĩ của dân đáng ra phải là công an.

Hiệp sĩ có nguy cơ phải mất mạng, thương tật trong khi “bắt cướp”, “bắt trộm”, bắt tội phạm liên quan đến “ma tuý”… như các dòng tít đăng đều trên các báo thời gian qua. Hiệp sĩ cũng có nguy cơ bị trả thù. Và, thật đau lòng, những nguy cơ này đã thành hiện thực. Khi hình ảnh của các hiệp sĩ nằm trên giường bệnh viện được phát đi, cả nước thương xót, nể phục, chia sẻ nhưng cuối cùng thì vết thương vẫn còn đó trên cơ thể họ. Cho dù họ có vượt qua được thì nó cũng là bằng chứng tồn tại của nỗi đau.

Và cũng có khả năng trong lúc nhân danh lòng nghĩa hiệp để hành động, hiệp sĩ lại vượt quá giới hạn cho phép gây những hậu quả đáng tiếc. Thử đặt tình huống khi bắt cướp họ làm tên cướp chết thì thế nào? Chưa và sẽ khó có luật pháp nào điều chỉnh việc này. Rủi ro ở phía trước họ thật lớn. Mới đây, công an quận 12 đã triệu tập mười hiệp sĩ ở Bình Dương để làm rõ chuyện họ bị tố cáo là đã tham gia vào việc cưỡng đoạt tài sản. Theo các hiệp sĩ này, kẻ bị cho là cưỡng đoạt tự xưng là mình bị tống tiền, và họ đã ra tay giúp đỡ. Còn quá sớm để kết luận về động cơ và gọi tên hành vi của các hiệp sĩ, nhưng chính việc trong tình huống như vậy các hiệp sĩ đã không báo công an mà tự mình can thiệp đã cho thấy lỗ hổng lớn trong nhận thức về vai trò, sứ mạng và phương cách thực hiện nó của chính họ. Thật khó để bịt lỗ hổng này, cho nên tốt nhất là không để cho nhận thức đó tồn tại. Ngay cả trong lực lượng công an, những người được phép nhân danh quyền lực công, được dạy về giới hạn của quyền lực đó, cũng không ít lần vượt qua ranh giới, gây nên những hậu quả nghiêm trọng.

Mỗi cá nhân chúng ta có thể có sự mong muốn gặp hiệp sĩ với những hành động nghĩa hiệp khi gặp sự chẳng lành, thân cô thế cô. Nhưng khi xã hội trông chờ vào hiệp sĩ như phép màu thì xã hội đó đã mất đi cái trật tự pháp lý vốn, càn phải có.
Nguyên Lê
Theo SGTT

Thứ Tư, ngày 10 tháng 10 năm 2012

Ai đang cầm đầu dây thòng lọng?

Khi chính quyền khắp nơi phải dùng đến chuyên chính vô sản để thu hồi đất dù “đã bồi thường” cho dân, thì việc đó chỉ càng phản ánh sâu sắc hơn tính chất của việc tước đoạt
Kỷ lục về sự chênh lệch giữa giá đất mà các nhà đầu tư bán ngoài thị trường và giá đền bù khi thu hồi của dân là bao nhiêu lần?
35 lần, như báo cáo của Quốc hội?
Không, con số đó chưa phải là mức độ kỷ lục. Một khảo sát của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn đưa ra một ví dụ khủng khiếp về sự chênh lệch giá: Ở Bắc Ninh, giá thu hồi của dân là 200.000 đồng/m2 và giá bán ngoài thị trường là 35 triệu đồng/m2. Gấp 175 lần.
Ngày hôm qua, khi các nhà làm luật “ngồi lại” với cộng đồng doanh nghiệp để tìm cách tháo các nút thắt của luật đất đai, sự chênh lệch khủng khiếp này đã được nói ra lời, và từ dùng nguyên văn là “tâm lý bị tước đoạt”. Đúng hơn thì phải bỏ đi hai chữ “tâm lý”. Bởi sự chênh lệch giá đang phản ánh hiện trạng người dân “bị tước đoạt” mỗi khi đất đai, từ loại do ông bà tổ tiên để lại, cho đến ruộng vườn, ao hồ, đầm phá- chót lọt mắt xanh nhà đầu tư nào đó. Dương Nội là một điển hình. Văn Giang là một điển hình. Và Vụ Bản cũng là một điển hình khác. Liệu có thể gọi khác đi khi bản chất câu chuyện là những người dân thấp cổ bé họng có tài sản, dù chỉ là quyền sử dụng đất, đang bị buộc phải bán, với giá do người mua ấn định, thông qua cái gọi là “khung giá” mà nhà nước ban hành. Và khi dân chúng phải đối mặt với cửa quan, cũng là chuyện “vô phúc đáo tụng đình”, chuyện con giun xéo lắm cũng quằn. Và khi chính quyền khắp nơi phải dùng đến chuyên chính vô sản để thu hồi đất dù “đã bồi thường” cho dân, thì việc đó chỉ càng phản ánh sâu sắc hơn tính chất của việc tước đoạt.
Nghị quyết TƯ 5, đã đòi hỏi sự Luật Đất đai lần này phải được sửa đổi một cách toàn diện. Nhưng dự thảo, đã được làm đi làm lại từ nhiều năm nay đang chỉ cho thấy “Không có đột phá nào mới hơn so với Luật Đất đai 2003, trong khi vẫn giữ nguyên những hạn chế”.
Người dân, với tư cách là những người đã và đang mất đất, những nạn nhân của kỷ lục “âm 175 lần về giá trị”, chưa thấy có gì là đột phá đã đành. Nhưng sự lạ đã xảy ra, bởi bản thân cộng đồng doanh nghiệp, những người được coi là bên “dương 175 lần về giá trị” cũng không thể không cất lời than vãn về hàng loạt những “nút thắt” của Luật Đất đai sửa đổi: Đó là việc chưa phân cấp để “ngăn ngừa sự tái xuất của tầng lớp lý trưởng”. Đó là việc lẫn lộn khái niệm khi đất vừa là tài nguyên, vừa là tài sản. Và nút thắt lớn nhất: Nguyên tắc giá “phù hợp với thị trường” còn méo mó, mù mờ hơn là “sát với thị trường” như hiện nay. Hóa ra, cả các nhà đầu tư, cả những người mất đất đều đã và đang là nạn nhân của Luật đất đai, với tất tật mọi thứ quyền đều thuộc về nhà nước, về chính quyền.
Từ sau năm 1999, khái niệm thị trường bất động sản ra đời. Nhưng từ bấy, quyền định giá tài sản, thứ quyền tối thiểu của một thị trường, hoặc ít nhất là việc “được trưng mua”, thay vì “bị thu hồi”, vẫn là thứ quyền xa vời đối với người dân.
Hôm qua, rất nhiều ý kiến đã được đưa ra để tháo cái thòng lọng “cơ chế giá” đang thắt quanh dự thảo luật: Nguyên tắc giá công bằng thay cho xác định giá đất phù hợp với giá thị trường; Nguyên tắc đồng thuận, với tối thiểu 2/3 sự đồng thuận của người dân “mất đất”, với doanh nghiệp “được đất”; Thay thế cơ chế “thu hồi” bằng cơ chế “trưng mua”…. Đây ít nhất cũng là sự tiến bộ hơn nhiều so với sự trì trệ và bảo thủ trong đầu những nhà làm luật đang ngồi tại Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Nhưng nói gì thì nói, bản chất câu chuyện vẫn là quyền được định giá của người dân. Và thứ quyền này chỉ có thể được thực hiện khi nhà nước trao trả lại cho họ, ít nhất là việc để họ được trưng mua với một mức giá thỏa thuận. Mới nói, người đang cầm 2 đầu sợi dây để có thể tháo nút thắt, vì thế, không phải chỉ là những nhà làm luật, mà chính là Nhà nước. Chỉ có điều họ muốn thực sự tháo nút hay không mà thôi.
Đào Tuấn

Công khai danh tính khi biểu quyết

Ngày 6.10 vừa qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thảo luận về quy trình, thủ tục, cách thức lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.
Theo dự thảo, Quốc hội kỳ này sẽ chỉ lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh: Chủ tịch & Phó chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, chủ nhiệm các UB của Quốc hội, các thành viên khác của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Chủ tịch Nước & Phó Chủ tịch Nước; Thủ tướng Chính phủ & Phó thủ tướng Chính phủ, các thành viên khác của Chính phủ; Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao; Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao; Tổng Kiểm toán nhà nước.
Theo cơ cấu Nhà nước Việt Nam hiện nay, con số này là 49 vị.
Đây có lẽ là một bản dự thảo được chuẩn bị công phu nhất với thời gian dài nhất. Và nó đã cho thấy một kết quả hợp lý nhất, đặc biệt là trong việc xác định các chức danh tại thời điểm hiện nay. Nó không quá tập trung nhưng cũng không quá dàn trải. Xin thành thật, nếu như tất cả các thành viên trên mà đều hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình thì không có lý gì cản trở nổi sự phát triển mạnh mẽ của đất nước.
Người xưa có câu: “Đầu xuôi đuôi lọt”.
Nếu như tại kỳ họp tới đây, bản dự thảo được Quốc hội thông qua, Quốc hội nhiệm kỳ này còn làm được một việc mà đã hơn 10 năm, qua 3 nhiệm kỳ Quốc hội chưa làm được. Đó là đưa Điều 12 trong Luật tổ chức Quốc hội vào cuộc sống: “Uỷ ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn”.
Nói một cách hình ảnh, Quốc hội đã trả được “món nợ” với chính mình.
Tuy nhiên, có lẽ điều mà cử tri mong mỏi hơn nữa, các cuộc bỏ phiếu tín nhiệm được tổ chức công khai, được Đài Truyền hình Việt Nam truyền hình trực tiếp. Cử tri luôn có một nguyện vọng chính đáng là biết được các đại biểu do mình bầu ra đã làm gì và hành xử như thế nào tại nghị trường.
Điều mong mỏi thứ hai, những cuộc bỏ phiếu tại Quốc hội nên công khai quan điểm của đại biểu (tất nhiên là đối với những gì không thuộc bí mật quốc gia). Bởi trên thực tế, bất cứ việc gì khi đã dùng đến biểu quyết tức là chấp nhận có người đồng ý, có người không thể hiện quan điểm và có người phản đối. Đó là điều bình thường của khoa học và là điều tất yếu của cuộc sống.
Công khai quan điểm còn là hình thức nâng cao trách nhiệm của đại biểu với chính lá phiếu của mình. Sau này, khi tiếp xúc cử tri sau mỗi kỳ họp, cử tri có thể đặt vấn đề vì sao Đại biểu đồng ý hoặc không đồng ý với việc đó?
Thậm chí sâu xa hơn, mỗi đại biểu còn phải đối mặt với lịch sử về những quyết định của mình ngày hôm nay. Bởi đó luôn là những vấn đề trọng đại, liên quan đến vận mệnh đất nước.
Nhìn ở khía cạnh khác, nếu làm được điều này, Quốc hội đã thực hiện được ý Đảng, lòng Dân bởi quan điểm của Đảng là công khai, minh bạch ‘Dân biết, dân bàn…” còn nhân dân thì luôn luôn mong mỏi sự công khai đó.
Trả lời chúng tôi qua điện thoại, ĐB Dương Trung Quốc, một người luôn “cổ súy” cho việc công khai danh tính còn cho rằng việc này là một cơ sở để cử tri giám sát đại biểu Quốc hội.
Nguyên Phó chủ nhiệm UB VH-GD-TTN&NĐ Quốc hội Nguyễn Minh Thuyết không chỉ đồng tình với ĐB Dương Trung Quốc mà còn đề nghị cao hơn, đó là cần tạo ra một cơ chế thích hợp để cử tri giám sát đại biểu do mình bầu ra.
Bạn có “cổ súy” cho việc công khai danh tính này như ý kiến của GS. Nguyễn Minh Thuyết và ĐB Dương Trung Quốc?
Bùi Hoàng Tám
Theo Dân Trí

"Hiệp sĩ", Nhà nước pháp quyền và quyền con người

Trong những tiếng xuýt xoa, tung hô rất hồn nhiên của dân chúng về chiến công của các “hiệp sỹ”, đã lác đác có những cảnh báo cho rằng hoạt động tự phát này sẽ đi ngược lại với các giá trị của xã hội có Nhà nước.
Hai vụ việc xảy ra mới đây, một ở Bắc Giang và một  ở Bình Dương khiến người ta giật mình thấy rằng khái niệm Nhà nước pháp quyền và quyền con người, từ lý thuyết đến thực tiễn còn có những khoảng cách khá xa không dễ gì khỏa lấp.
Vì sao “hiệp sỹ” xuất hiện?
Báo Tiền Phong đưa tin một phụ nữ ở Bắc Giang bị kết tội cướp tài sản chỉ  vì chị ta có hành vi dùng vũ lực giữ  lại tài sản của con nợ để trừ nợ.
Còn ”hiệp sĩ” Nguyễn Thanh Hải xác nhận, nhóm “hiệp sĩ” Bình Dương đã bị công an quận 12 (TP. Hồ Chí Minh) triệu tập lên làm việc với lý do: Liên quan đến vụ cưỡng đoạt tài sản, xảy ra vào đêm 17/8.
Trong những tiếng xuýt xoa, tung hô rất hồn nhiên của dân chúng về chiến công của các “hiệp sỹ”, đã lác đác có những cảnh báo cho rằng hoạt động tự phát này sẽ đi ngược lại với các giá trị của xã hội có Nhà nước.
Trước hết, không thể phủ nhận thành tích của các “hiệp sỹ” đường phố bởi công việc nguy hiểm mà họ đã và  đang làm.
Trong thời buổi tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, khiến cho phổ biến là tình trạng người ngay sợ kẻ gian, không dám tố giác tội phạm để an phận, không dám đấu tranh với cái xấu, thì hành động trên của các “hiệp sỹ đường phố” quả là điều  đáng trân trọng.
Còn người phụ nữ ở Bắc Giang khiến người ta thương hơn là giận nếu mọi người đặt mình vào hoàn cảnh quyền sở hữu của mình bị xâm phạm.
Và sự “tự xử” hoang dã
Trong nhà nước văn minh, với tư cách người nắm quyền lực nhân dân trao gửi và tiêu tiền thuế cho dân đóng góp, nhà nước phải có trách nhiệm đảm trật tự và duy trì trật tự xã hội vì lợi ích chung. Bắt cướp hay rộng hơn là phát hiện xử lý tội phạm là nhiệm vụ của các cơ quan công quyền.
Điều này không chỉ xét dưới góc độ trách nhiệm mà còn dưới góc độ thực tiễn. Chỉ có nhà nước với công cụ và sức mạnh vốn có mới có thể đảm đương được nhiệm vụ này. Nghĩa vụ của công dân trong việc bắt cướp chỉ phát sinh trong trường hợp cụ thể khi phát hiện tội phạm quả tang, hay cần tố giác những hành vi tội phạm mà họ biết.
Săn bắt cướp kiểu như các “hiệp sỹ đường phố” đang làm không phải là công việc dễ dàng. Họ đã phải gạt sang bên gánh nặng mưu sinh, thậm chí có người đã thiệt mạng khi thực hiện công việc nguy hiểm đó. Điều đó đáng trân trọng và đang đặt ra câu hỏi tại sao họ phải làm như vậy?
Trước hết là do hoạt động đảm bảo an ninh trật tự hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu khi tình trạng cướp giật vẫn đã và đang xảy ra ở nhiều đô thị. Không loại trừ đâu đó vẫn có những nhân viên công quyền thờ ơ vô cảm, thiếu trách nhiệm.
“Hiệp sỹ” L. ở Bình Dương than thở rằng, khi bắt được đối tượng tình nghi và tang vật giao nộp cho cơ quan chức năng thì nhận được sự lạnh nhạt đáng thất vọng.
Có thể thấy sự lộng hành của tội phạm, máu yêng hùng, sự  thờ ơ vô cảm của một số người có  trách nhiệm kết hợp với  cổ vũ quá  đà của dư luận sinh ra “hiệp sỹ” hiện đại
Từ việc cổ vũ các “hiệp sỹ” rồi nhân rộng điển hình thành phong trào, sẽ khiến cho người ta có cảm giác xã hội quay về thời kỳ chưa có nhà nước khi công lý và  trật tự trông chờ vào cá nhân xuất chúng và rất gần với cách hành xử theo kiểu tự xử hoang dã
Chính quyền các cấp nên giật mình xem lại…
Thời La mã, khi nhà nước còn sơ khai việc xử lý tội phạm xuất phát từ việc tố cáo của cá nhân theo triết lý: Không có người tố cáo thì không có quan tòa. Nói cách khác vai trò của nhà nước là thụ động. Nhà nước can thiệp khi có tố cáo của người bị hại và người bị hại phải chứng minh mình bị xâm hại trước tòa.
Trong nhà nước văn minh người ta khẳng định rằng: Phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hay còn gọi là tố tụng hình sự là một hoạt động đặc biệt. Ở đó thế và lực giữa một bên là công quyền hùng mạnh với bên kia yếu thế hơn là người bị tình nghi không bao giờ quân bình.
Cũng trong lĩnh vực này, quyền con người của những người bị tình nghi có nguy cơ cao bị xâm hại nhiều nhất bởi thủ tục tùy tiện.
Có thể thấy sự lộng hành của tội phạm, máu yêng hùng, sự thờ ơ vô cảm của một số người có trách nhiệm kết hợp với cổ vũ quá đà của dư luận sinh ra “hiệp sỹ” hiện đại
Từ việc cổ vũ các “hiệp sỹ” rồi nhân rộng điển hình thành phong trào, sẽ khiến cho người ta có cảm giác xã hội quay về thời kỳ chưa có nhà nước khi công lý và trật tự trông chờ vào cá nhân xuất chúng và rất gần với cách hành xử theo kiểu tự xử hoang dã.
Chính vì vậy hoạt động tố tụng hình sự phải tiến hành bằng thủ tục chặt chẽ và chủ thể chính là các cơ  quan nhà nước. Vừa phát hiện được tội phạm vừa bảo vệ được quyền con người là một mâu thuẫn mà giải quyết mâu thuẫn này nhiều khi phải ưu tiên quyền con người.
Từ đó mới nảy sinh các nguyên tắc như không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội có hiệu lực của tòa  án hay trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về nhà  nước. Đây là những giá trị mang tính nhân loại trải qua ngàn năm mới đúc kết nên.
Không biết đã có ai đặt câu hỏi rằng đã bao giờ ”hiệp sỹ đường phố” bắt nhầm người chưa? Các “hiệp sỹ” và những người bị tình nghi đều bình đẳng với nhau về quyền tự do. Vì thế không thể có chuyện người này đi truy lùng bắt bớ, theo dõi, nghe trộm…người khác.
Việc hạn chế quyền tự do của người khác để duy trì trật tự xã hội theo nguyên tắc tự do người này không ảnh hưởng đến tự do người khác xin nhắc lại chỉ thuộc về công quyền. Mọi cách hành xử không chính danh của bất cứ cá nhân nào thì ranh giới giữa phúc và tội thật quá mong manh.
Nhưng nếu tình trạng tự xử trong dân chúng diễn ra phổ biến thì chính quyền các cấp cũng nên giật mình xem lại trên phương diện hiệu quả hoạt động và niềm tin của dân chúng.
Đinh Thế Hưng
Theo Tuần Việt Nam

Thứ Ba, ngày 09 tháng 10 năm 2012

Để xóa đi danh hiệu chơi sang nhất thế giới


Nước nhỏ, dân đông, đời sống nghèo nàn, kinh tế trì trệ, nhưng thi môn ném tiền qua cửa sổ thì không nơi nào bằng. Đó là xứ Nam Việt thời cộng hòa XHCN năm thứ 67.
Thử hỏi có nơi đâu trên trái đất này (không phải người vẫn ngọt ngào qua muôn nỗi đắng cay) hai cái sân bay quốc tế chỉ cách nhau hơn chục kí lô mếch đường chim bay. Đừng vội xua tay, có đấy, trên đất Hải Phòng, đều được Thủ tướng phê duyệt.
Sân bay Cát Bi từng tồn tại từ thời mồ ma thực dân Pháp, là cảng hàng không chính của vùng duyên hải Bắc Bộ. Tuy nhiên khách quen của Cát Bi cũng chỉ loanh quanh mấy vùng Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, xa tí nữa là Quảng Ninh. Bao năm chỉ đóng vai nhà ga tỉnh lẻ, hành khách lèo tèo, tuần vài chuyến bay, sau mới vỡ vạc mở mang kể từ bắt đầu đổi mới để đáp ứng nhu cầu đi lại tăng nhanh. Thì cũng phải, trên cơ sở sẵn có rồi, củng cố phát triển cho nó tốt hơn là hợp lý. Nhưng rất tiếc, do tầm nhìn hạn hẹp, quen tư duy tiểu nông nên suốt bao năm vành đai xung quanh Cát Bi bị lấn chiếm dần, bị các dự án, khu quy hoạch bóp teo tóp, nay muốn mở mang cho xứng tầm vóc cảng hàng không quốc tế chắc sẽ tốn vào đây khoản chi phí đền bù giải tỏa khổng lồ.
Vài năm trước, dư luận xôn xao về dự án cảng hàng không quốc tế Tiên Lãng, tục gọi sân bay Tiên Lãng. Cụ thể, Thủ tướng đã có quyết định phê duyệt quy hoạch vị trí cảng hàng không quốc tế Hải Phòng thuộc địa bàn bốn xã Quang Vinh, Tiên Hưng, Đông Hưng, Tây Hưng (huyện Tiên Lãng) với diện tích đất khoảng 4.500 ha. Bàn ra tán vào, ì xèo chín người mười ý. Rồi xảy ra vụ đầm Vươn, phần nào cũng bởi liên quan đến dự án sân bay này. Nhìn chung là phản đối. Trong lúc đất đai canh tác, nuôi trồng thủy sản ngày càng eo hẹp thì làm thêm cái sân bay mới có phải mất ít đất đâu. Cát Bi đang hoạt động tốt, không tính chuyện mở mang cho đỡ tốn kém, thêm cái nữa, liệu có tránh khỏi tình trạng tốn tiền xây chùa bà đanh. Chắc chính phủ cũng nhận ra điều này nên tạm gác dự án lại, tuy nhiên xếp nó vào quy hoạch treo, có nghĩa vẫn có thể tiến hành.
Hôm qua 7.10, Bộ Giao thông vận tải và UBND TP Hải Phòng đã tổ chức lễ công bố điều chỉnh quy hoạch cảng hàng không quốc tế sân bay cát Bi do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Sân bay Cát Bi sẽ được điều chỉnh, thiết kế thành cảng hàng không quốc tế cấp 4E theo mã tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế. Tổng mức đầu tư toàn cảng hàng không Cát Bi giai đoạn đến 2015 khoảng 5.000 tỉ đồng và tổng nhu cầu sử dụng đất là 501,02 ha. Thế là rõ, bây giờ chỉ tập trung vào Cát Bi thôi. Nếu vậy thì cần công khai cho dân biết cái dự án Tiên Lãng kia sẽ thế nào. Để cho dân còn yên tâm làm ăn. Để cán bộ hư hết hí hửng chờ dịp tham nhũng. Để những người như Đoàn Văn Vươn không lo bị cướp trắng khu đầm. Để xóa đi danh hiệu chơi sang nhất thế giới.
8.10.2012
Nguyễn Thông
Theo Nguyễn Thông blog (tựa bài của HDTG)