Thứ Bảy, ngày 27 tháng 10 năm 2012

Các bài học Munich và những nơi khác : đẩy lùi nổi sợ để cứu đất nước


Nhiều đồng bào Việt kiều Đức của chúng ta đã tường thuật trên Internet: cuộc biểu tình ở Munich ngày 20 tháng mười, chống bành trướng Trung Quốc, các buổi chiếu ở Munich và Nurnberg bộ phim tài liệu « Hoàng Sa Việt Nam, Nổi đau mất mát » – vẫn luôn bị cấm ở Việt Nam – đã thật sự thành công.
Được mời tham dự các hoạt động ấy, tôi đã là đối tượng của một sự đón tiếp bất ngờ và rất cảm động của những người những người bạn trước đó chưa từng quen. Ở Munich : căn nhà với các phòng bằng kính nơi trồng một cây thông Alep cao 3 mét và một cây chuối trổ những quả chuối Việt Nam tại ngay trung tâm thành phố Đức đẹp đẽ này. Ở Nurnberg : phòng ngủ khắc khổ mà thịnh tình của chùa phật giáo Vĩnh Nghiêm nơi đứng cạnh nhau là tượng vua Hùng Vương và tượng Đại đế Carolus (Karl der Groβe). Hai nơi thật khác biệt song đều thấm đượm cùng một không khí thanh tịnh bình thản và mạnh mẽ, hòa nhập đến tận cùng với đất nước tiếp nhận chúng mà vẫn sâu đậm tâm hồn Việt Nam quê hương.
Một cuộc biểu tình tuyệt đẹp !
Cuộc tuần hành ở Munich thật mẫu mực về tư thế. Khởi đầu là một giờ phát biểu của các bộ phận tham gia tổ chức trước quảng trường Đại học. Bốn chiếc xe cảnh sát địa phương cực kỳ thân thiện và sẵn sàng bảo vệ theo suốt, đoàn người đã tuần hành trong hai giờ liền, yên tĩnh và vui vẻ trên ba cây số của đại lộ lớn nhất của Munich nối liền trường Đại học với các con đường đông người qua lại ở trung tâm thành phố. Tại đấy, trước hàng trăm người qua đường và những người Đức tò mò đã biến thành khán giả, lại có một cuộc phát biểu mới, kéo dài một tiếng đồng hồ. Trên những tấm băng rôn lớn màu xanh là những khẩu hiệu được suy tính rất kỹ, chữ trắng, bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Đức, tố cáo chính sách bành trướng của những người lãnh đạo Bắc Kinh. Tấm bản đồ Việt Nam lớn, với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nổi bật, được giương lên kiêu hãnh ở đầu đoàn người. Những tấm băng rôn dài được bố trí dọc hai bên, thuận tiện cho người qua đường có thể đọc, trong khi các cô chủ nhà duyên dáng mặc áo dài và đội nón lá truyền thống vừa phân phát những tờ gấp có minh họa và in tiếng Đức, vừa giải thích cho họ lý do và mục đích của cuộc biểu tình.Một hoạt náo viên nang nổ và vui vẻ dùng loa hô vang các khẩu hiệu được mọi người đáp lại : « Hoàng Sa, Trường Sa, của Việt Nam ! », « Tôi yêu Việt Nam ! » Hoang Sa, Truong Sa, mein Vietnam ! » « I love Vietnam ! », « Wir lieben Vietnam ! ».Những bài hát dân gian tuyệt vời, cũng tuyệt vời như vô số áo dài và những nụ cười khiến đoàn người rực rỡ sắc màu, biến cuộc biểu tình thật sự trở thành một buổi trình diễn đường phố vừa đậm đà văn hóa vừa rất chinh trị, mang lại cho thông điệp chống xâm lược Trung Quốc của chúng ta một sức hấp dẩn và thuyết phục sống động và đầy truyền cảm. Một thành công. Một thành công lớn sẽ được đánh dấu trong lịch sử phong trào chống xâm lược kiểu mới của Trung Quốc.  Một tham khảo cho tương lai, ở Munich và những nơi khác. Nói về điều này, một người bạn của tôi đã gọi đấy là « tinh thần Munich ». Chính xác là vậy. Nhưng tinh thần của « tám người Munich » là trái ngược với cái tinh thần mà Lịch sử đã ghi lại.
 Quả thật về mặt lịch sử, Munich là ký ức buồn. Chình trong thành phố này, tháng chín năm 1938, những người đại diện của Pháp và Anh đã ký với Hitler một hiệp ước nhục nhã sẽ mở cửa cho tên độc tài lao vào cuộc xâm lược bành trướng trên toàn bộ châu Âu. Họ tưởng nhân nhượng cho nước Đức của Hitler sáp nhập bằng vũ lực Tiệp Khắc thì sẽ xoa dịu được sự hung hăng bành trướng và hiếu chiến của chúng. Họ tưởng đã cứu vãn được hòa bình bằng cách phản bội quyền của các dân tộc, trong thực tế họ dọn đường cho chiến tranh ! Sợ hãi không đẩy xa được hiểm nguy. Hèn nhát cũng không. Trái lại, là khuyến khích nó. Tại Munich, về điều này lịch sử đã cho một bài học đau đớn : không thể ký hòa ước với chủ nghĩa bành trướng, nhất là khi nó được tuyến bố rõ ràng và ta là nạn nhân đầu tiên của nó !
Nhưng, rất thận trọng trong so sánh, tinh thần của « tám người ở Munich », những người đã hoàn toàn độc lập tổ chức cuộc biểu tình và chiếu phim HSVNNDMM, không phải là tinh thần cúa sợ hãi cũng không phải của hổ thẹn.
Tôi có thể làm chứng cho tinh thần ái quốc bất diệt của tám đồng bào này. Và tôi có thể nói lòng ái quốc ấy phải đạt đến một sức mạnh kỳ lạ để có thể cho phép họ vượt qua các khác biệt, các đối lập của họ, vượt qua những vết thương quá khứ, vẫn mãi tứa máu, để kháng cự lại những đe dọa trực tiếp hay ngụy trang, và đôi khi cả những lời thóa mạ mà họ là nạn nhân của cả hai phía.
Họ nằm trước làn đạn kín đáo mà hoàn toàn có thực của một chế độ run rẩy cứ đeo bám đến thảm hại « 16 chữ vàng » với lại « 4 tốt » của lũ cướp biển Bắc Kinh (« Hội người Việt » ở Stuttgart đã từ chối hợp tác với Munich để chiếu bộ phim HSVNNDMM). Họ đã nhận được những lời đe dọa hung hăng hay được phát biểu một cách tế nhị hơn của những người lãnh đạo một cộng đồng thuyền nhân khăng khăng trương ngọn cờ đầy đắng cay của mình lên trên trách nhiệm bảo vệ dân tộc. Bao nhiêu nhân nhượng, bao nhiêu thảo luận hăng say, mà cũng biết bao nhiêu khoan dung, thương mến, bao nhiêu tình yêu đất nước.  Bao nhiêu trách nhiệm và can đảm ở tám người đàn ông và đàn bà hữu trách ấy. Cho đến nay tôi chưa bao giờ được chứng kiến một sự chín muồi mang tính người và về chính trị đến như vậy từ những con người đã từng qua những trải nghiệm sống khác nhau sâu đậm đến thế. Thấy tôi ngạc nhiên về điều đó lúc dự cuộc họp tổ chức cuối cùng của họ hôm trước ngày tuần hành, một người trong số  họ mỉm cười trả lời tôi : « Chúng tôi học dân chủ ». Vâng, bạn ạ, dân chủ, đẹp đẽ biết bao, khó khăn biết bao để dân chủ được sinh thành, mong manh biết bao cho ta phải giữ gìn nó, và đắt giá biết bao để nuôi cho nó lớn lên ! Nó chỉ có thể ra đời và lớn lên trong dũng cảm. Đẹp đẽ biết chừng nào là  bài học về cuộc chiến đấu dân chủ mà những người bạn ở Munich đã cho chúng ta. Họ đã thắng nổi sợ hãi để giải phóng được lời nói và hành động, để bảo vệ Việt Nam,
Thắng những nổi sợ
Tôi đã bao nhiêu lần  cận kề với nổi sợ chế độ ấy ở trong nước : sợ bị đe dọa, bị theo rỏi, bị ngược đãi, sợ bị mất việc, sợ thấy người thân của mình bị gây khó khăn trong công việc, trong học tập, sợ bị bắt, bị tống vào tù … cái nổi sợ chế độ, thậm chí lại được thay thế bằng các sứ quán mà ta sợ các hành động khủng bố hành chính tại chỗ hoặc các báo cáo về trong nước có thể khiến ta không còn gặp lại được gia đình, bạn bè. Cái mũ đáng sợ sẽ nhanh chóng xuất hiện: « diễn biến hòa bình », « thế lực phản động » …
Một loại nổi sợ khác mà tôi từng được chứng kiến khi gặp các cộng đồng Việt kiều, cũng hiện diện rất rõ ở « phe bên kia », trong cái phe muốn tự coi mình vừa là nạn nhân đặc quyền của chiến tranh và là người đặc quyền nắm giữ dân chủ.  Nổi sợ này được nuôi dưởng bởi các nhóm cực đoan, quả là rất thiểu số nhưng có thể có hành động bạo lực và các hình thức gây sức ép khác. Ở những chỗ ấy bốc lên mùi vị của một nổi hận thù thật sự, giống như nổi hận thù tôi từng phải chịu đựng trong tù. Một nổi thù hận mù quáng được nuôi dưỡng bằng những trải nghiệm đau đớn, đã đóng băng trong ký ức. Một nổi thù hận muốn trở thành vĩnh cữu và đòi phải đáp trả.  Chỉ cần ta ghé tai về phía bên kia một chút là lập tức bị khoác cho một cái mũ khác : « phản bội », « chơi trò cộng sản », « cộng sản nằm vùng » …
Để không mất mình và để bảo vệ đất nước
 Những nổi sợ ấy, dù đến từ đâu, là một tai họa thật sự đối với con người, với xã hội và quốc gia. Chúng là tội ác vì chúng giam hãm người ta trong tình trạng bất động đồng nghĩa với đồng lõa với bất công, với bạo lực tùy tiện, với tham nhũng mang tính chất mafia chính trị, với tình trạng đất nước bị uy hiếp. Chúng sĩ nhục và thiến hoạn con người vì chúng bóp nghẹt niềm kiêu hãnh công dân và ái quốc, cùng ý chí sáng tạo cái mới. Chúng  hủy hoại nhân tính và đẩy một số người vào tuyệt vọng. Đôi khi được biện minh là phản xạ tự vệ, cuối cùng chúng có tác dụng tự hủy hoại. Ở cấp độ quốc gia, chúng gây ức chế và chỉ nuôi dưỡng sự bất động có lợi cho tất cả hành vi xâm lược của Trung Quốc và cho những kẻ tiếp tay hay ủng hộ các cuộc xâm lược ấy mà không bị trừng phạt. Các nổi sợ hãi tước vũ khí của con người !
Tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam mong muốn hòa giải, thống nhất dân tộc trong một nền hòa bình mà mình làm chủ. Đấy là nhu cầu sống còn của đất nước để có thể đối mặt với thách thức khủng khiếp của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc hau háu tài nguyên thiên nhiên và con người, tàn phá các căn tính văn hóa, chỉ mang đến bạo lực và chiến tranh … Đất nước cần điều đó để chiến thắng nạn dịch tham nhũng, để thắng tình trạng đói nghèo vẫn còn đó.
Thắng những nổi sợ hãi ấy để hành động chặt chẽ cùng nhau trong một cuộc chiến đấu thật sự với chính mình và vì đất nước. Một cuộc chiến đấu nhất thiết phải thắng để không mất đi tất cả. Kể cả đánh mất chính mình. Một chiến thắng cần thiết và khả thể.
Đấy là bài học mà nhóm tám người ở Munich, và cả những người ở  Berlin, Kholn, Praha, Warsava, Leipzig, Hannover, Frankfurt-Offenbach, Sarrebruken, Nurnberg, Toulouse, Lyon, Paris… đã cho chúng ta … Thắng nổi sợ hãi  như các đồng bào của chúng ta ở Bình Châu và Lý Sơn mỗi lần họ ra khơi trên vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam để mưu sinh. Thắng nổi sợ hãi như các bạn của chúng ta ở Sài Gòn và Hà Nội đã xuống đường để bảo vệ tổ quốc mình.
Cám ơn tất cả, tất cả các bạn của tôi, đã nuôi dưởng tôi thêm mỗi ngày bằng dũng khí của các bạn.
Ôi, tôi còn quên một chuyện : trong hai ngày, các đồng bào của chúng ta đã góp ủng hộ các ngư dân, góa phụ và trẻ mồ côi 5300 ơ-rô !
André Menras, Hồ Cương Quyết
Nguyên Ngọc dịch từ nguyên văn tiếng Pháp.
 —
Leçons de Munich et d’ailleurs : faire reculer la peur pour sauver le pays.
Nos compatriotes Viet Kieu allemands en ont déjà rendu compte sur internet : la manifestation de Munich, le 20 octobre, contre l’expansionnisme chinois, la projection à Munich et à Nurnberg du film documentaire « Hoang Sa Vietnam Noi Dau Mat Mat »-toujours empêché au Vietnam- ont été un  franc succès.
Invité à participer à ces actions, j’ai fait l’objet d’un accueil inattendu et très touchant par des amis jusque –là inconnus.  A Munich : appartement aux pièces de verre où poussent un pin d’Alep de 3 mètres de haut et un bananier qui donne des bananes vietnamiennes en plein centre de cette belle ville allemande !…. A Nurnberg : dortoir austère mais chaleureux de la pagode bouddhiste Vien  Nghiem où se côtoient la statue du roi Huong Vuong et du Đại đế Carolus (Karl der Große). Deux lieux si différents mais empreints de la même sérénité tranquille et  forte, parfaitement intégrée au pays hôte mais profondément enracinée dans l’âme du pays natal vietnamien.
Une belle manifestation !
La marche de Munich a été exemplaire par sa tenue. Elle a débuté devant la place de l’université par une heure de prise de parole de la part les diverses composantes de l’organisation. Encadré d’un bout à l’autre par quatre voitures de policiers locaux parfaitement aimables et extrêmement protecteurs, le défilé s’est tranquillement et joyeusement déroulé pendant deux heures sur les trois kilomètres de la plus grande avenue de Munich qui relient l’Université aux belles rues passantes du centre ville. Là, devant des centaines de passants et curieux allemands transformés en spectateurs, eut lieu, pendant une heure, une nouvelle prise de parole. Sur les grandes banderoles bleues, les slogans en lettres blanches étaient méticuleusement pensés, accusant, en vietnamien, en anglais et en allemand la politique expansionniste des dirigeants de Pékin. La grande carte du Vietnam avec, bien en évidence, les archipels de Hoang Sa et de Truong Sa, se dressait fièrement en tête du cortège.  Les longues banderoles étaient disposées sur chaque côté du défilé, à la vue des passants auxquels de charmantes hôtesses en ao dai et chapeau traditionnel distribuaient des dépliants illustrés et imprimés en allemand tout en leur expliquant les raisons et le but de la manifestation. Un animateur plein d’énergie et de gaité envoyait au micro les slogans repris par tous : « Hoang Sa, Truong Sa, mein Vietnam !», « I love Vietnam ! », « Wir lieben Vietnam ! ». De belles chansons populaires, belles comme la multitude d’ao dai et de sourires qui coloraient le défilé, ont transformé cette manifestation en véritable spectacle de rue, à la fois culturel et très politique, donnant à notre message contre l’agression chinoise un attrait et une force de persuasion vivante et émouvante. Un succès. Un grand succès qui fera date dans l’histoire du mouvement résistant à l’agression chinoise de type nouveau. Une référence pour le futur, à Munich et ailleurs. Pour en parler, un de mes amis a employé l’expression : « tinh than Munich ». C’est exactement cela. Mais l’esprit des « huit de Munich » est le contraire de celui que l’Histoire a retenu.
En effet historiquement, le nom de Munich est de triste mémoire. C’est dans cette ville qu’en septembre 1938 les représentants de la France et de l’Angleterre ont signé avec Hitler un humiliant traité qui allait ouvrir au dictateur la porte de l’agression expansionniste dans toute l’Europe. Ils pensaient que concéder à l’Allemagne hitlérienne l’annexion par la force de la Tchécoslovaquie calmerait ses ardeurs expansionnistes et guerrières. Ils pensaient avoir sauvé la paix en trahissant le droit des peuples, ils ont en fait préparé la guerre ! La peur n’écarte pas le danger. La lâcheté non plus. Au contraire, elles l’encouragent. A Munich, l’histoire en a donné une douloureuse leçon : on ne signe pas de traité avec l’expansionnisme, surtout quand celui-ci est clairement annoncé et qu’on en est la première victime !
Mais, toutes proportions gardées, l’esprit des « huit de Munich » qui ont, en toute indépendance, organisé la manifestation et la projection du film HSVNNDMM, n’est pas celui de la peur ni celui de la honte.
Je peux témoigner du patriotisme indéfectible de ces huit compatriotes. Et, je peux dire que ce patriotisme a dû être d’une force extraordinaire pour leur permettre de dépasser leurs différences, leurs oppositions, d’aller au-delà des blessures du passé, toujours ouvertes, de résister aux menaces directes ou déguisées et quelques fois aux invectives dont ils ont été victimes des deux côtés. Ils ont été sous le feu discret mais bien réel d’un régime frileux qui s’accroche pitoyablement aux « 16 chu vang et 4 cai tot » avec les pirates de Pékin (La « Hoi nguoi Viet » de Stuttgart a refusé de se joindre à Munich pour projeter le film HSVNNDMM). Ils ont reçu les menaces violentes où plus délicatement exprimées de dirigeants d’une communauté de réfugiés thuyen nhan qui fait passer son drapeau chargé d’amertume avant la défense de leur peuple. Combien de concessions, combien de discussions passionnées, mais aussi combien de tolérance, d’affection, d’amour du pays. Combien de responsabilité et de courage chez ces huit hommes et femmes  responsables. Jamais jusqu’ici je n’ai été témoin d’une telle maturité humaine et politique de la part de personnes aux parcours de vie si fortement différents. Comme je m’en étonnais devant eux quand j’assistais à leur dernière réunion d’organisation, la veille du défilé, un d’entre eux m’a répondu en souriant: « Nous apprenons la démocratie ».  C’est vrai, mon ami, la démocratie, si belle, est si dure à enfanter,  si fragile à préserver et si coûteuse à faire grandir ! Elle ne peut voir le jour et grandir que dans le courage. Quelle belle leçon de combat démocratique nous donnent ces amis de Munich ! Ils ont vaincu la peur pour libérer la parole et l’action, pour protéger le Vietnam.
Vaincre les peurs
Cette peur du système, je l’ai maintes fois côtoyée dans le pays : peur d’être menacé, suivi, maltraité, peur de perdre son emploi, de voir ses proches inquiétés dans leur travail, dans leurs études, peur d’être arrêté, jeté en prison… Cette peur du système qui, même à l’étranger est relayée par les pouvoirs des ambassades dont on redoute des représailles administratives sur place ou les rapports envoyés au pays pouvant priver l’accès à la famille, aux amis. Le redoutable chapeau est vite sorti : « dien bien hoa binh », « the luc phan dong »…
Un autre genre de peur, dont j’ai également été témoin au contact des communautés Viet Kieu, est aussi entretenu bien réellement dans « l’autre camp » qui se veut être à la fois victime exclusive de la guerre et tenant exclusif de la démocratie. Cette peur est entretenue par des groupes extrémistes, certes très minoritaires mais capables de violence et d’autres formes de pression. On sent monter de ces milieux une vraie haine, pareille à celle que j’ai subie en prison. Une haine aveugle nourrie d’expériences douloureusement vécues, figées dans les mémoires. Une haine qui se veut éternelle et vengeresse.  Pour peu qu’on soit à l’écoute de « l’autre côté », on est vite affublé d’un autre chapeau : « traître »,  « qui-fait-le-jeu-des-communistes », « communiste infiltré »…
Pour ne pas se perdre et pour protéger le pays
Ces peurs, d’où qu’elles viennent, sont un véritable fléau humain, social, national. Elles sont individuellement angoissantes. Elles culpabilisent car elles confinent à l’inaction synonyme de complicité devant l’injustice, la violence arbitraire, la corruption politico-maffieuse, le pays menacé. Elles sont humiliantes et castratrices car elles étouffent la fierté citoyenne et patriotique, la volonté de créer du nouveau. Elles déshumanisent et poussent certains au désespoir. Quelque fois justifiées comme un réflexe protecteur, ces peurs sont, en fin de compte, auto-destructrices.  Nationalement, elles sont inhibitrices et ne font que nourrir l’immobilisme favorable à toutes les agressions chinoises et à l’impunité de ceux qui les favorisent ou les soutiennent. Les peurs désarment !
Le peuple vietnamien, dans son immense majorité, veut la réconciliation, l’unité nationale dans une paix qui lui appartienne. Il en a un besoin vital pour faire face au terrible défi que lui lance l’expansionnisme chinois prédateur des ressources naturelles et humaines, destructeur des identités culturelles, porteur de violence et de guerre… Il en a besoin pour vaincre la corruption endémique, pour vaincre la pauvreté encore bien présente.
Vaincre ces peurs pour agir solidairement est un vrai combat sur soi-même et pour le pays. Un combat qu’il faut gagner sous peine de tout perdre. Y compris de se perdre soi-même. C’est nécessaire et possible.
C’est la leçon donnée par le  groupe des huit de Munich, mais aussi par ceux de Berlin, Kholn, Praha, Warsava, Leipzig, Hannover, Frankfurt-Offenbach, Sarrebruken, Nurnberg, Toulouse, Lyon, Paris…Vaincre la peur comme nos compatriotes de Binh Chau et de Ly Son le font chaque fois qu’ils prennent le large pour aller gagner leur vie dans le eaux vietnamiennes d’Hoang Sa et de Truong Sa. Vaincre la peur comme nos amis de Saigon et de Ha Noi qui descendent dans la rue pour les protéger et défendre leur patrie.
Merci à vous tous, mes amis, pour me nourrir chaque jour un peu plus de votre courage.
Ah, une information oubliée : en deux jours, nos compatriotes ont contribué à l’aide des pêcheurs, veuves et orphelins pour un montant de 5300 euros !
André Menras, Ho Cuong Quyet
Texte français par l’écrivain Nguyen Ngoc.
Theo Ba Sàm

Tiền và lòng tự trọng


Số khủng: Với 7.924 tiến sĩ, mỗi năm nền khoa học giáo dục VN chỉ công bố được trên dưới 2 bài nghiên cứu về giáo dục theo chuẩn quốc tế.
Một ngày trước khi Luật Khoa học công nghệ được trình bày tại QH, báo Tuổi trẻ đưa ra con số: Việt Nam có tới 24.300 tiến sĩ, trong đó 7.924 tiến sĩ đang làm việc trong các trường đại học và cao đẳng. 24.300 tiến sĩ!. Và cùng với khoảng 9.000 GS, PGS. Việt Nam có lẽ là một trong những quốc gia bằng cấp nhất thế giới.
Tuy nhiên, con số khủng này được đưa kèm với một con số còn khủng (khiếp) hơn: Với 7.924 tiến sĩ này, mỗi năm nền khoa học giáo dục VN chỉ công bố được trên dưới 2 bài nghiên cứu về giáo dục theo chuẩn quốc tế. Và nói đến nghiên cứu khoa học, không thể không nói về một con số xấu hổ: “Tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo (nghiên cứu) của VN đứng hạng 13/14, chỉ hơn Campuchia”.
Câu hỏi “vì sao”, đối với nền khoa học giáo dục nói riêng, cũng như nền khoa học công nghệ nói chung, được người nông dân đặt ra mỗi khi loay hoay chọc tô vít sửa chiếc máy cày “made in China”. Được những vị phụ huynh ngửa mặt hỏi giời khi mỗi vài năm SGK lại “điều chỉnh” một lần. Và, có lẽ, được chính các giáo sư tiến sĩ hỏi nhau.
Và câu hỏi đó, sáng nay, được giải thích là vì tiền.
Mức đầu tư cho KH-CN được ấn định ở mức 2% tổng chi ngân sách nhà nước, tương đương 0,5-0,6% GDP. Con số quy tiền, năm 2012, vào khoảng hơn 13.168 tỷ. Con số này tuy chưa nhiều nhưng bảo ít cũng không hẳn là ít. Nó chỉ ít ở con số thực xuống với khoa học, ít ở những đồng tiền thực tế đầu tư cho khoa học- Điều mà TS Phạm Bích San gọi “nôm na là cách trả tiền cho những người làm công tác khoa học”. “Trả tiền bình quân như nhau cho tất cả mọi người sẽ không còn khoa học”- ông nói. Nhưng đó chỉ là một thực tế rất nhỏ, trong một thực trạng ngành tài chính quyết định, “một cách hết sức chân tay”, từ mức chi, sự “thế nào là hợp lý” và cả cách trả tiền bất biết nó có đủ hay không, có kịp hay không và thậm chí, nó được sử dụng như thế nào.
Thôi thì cũng coi như có cớ để kỳ vọng chuyện tiền khi Dự thảo Luật Khoa học công nghệ sửa đổi được trình bày trước Quốc hội đã nói đến việc tháo gỡ các vướng mắc trong công tác kế hoạch, đầu tư, tài chính, đặc biệt là cơ chế cấp phát, thanh quyết toán kinh phí cho các hoạt động khoa học và công nghệ.
Nhưng vấn đề hiệu quả của nghiên cứu khoa học công nghệ không hẳn chỉ có nguyên nhân từ tiền. Khi được hỏi “cảm nghĩ” khi đi dự các hội thảo quốc tế trong khi mặt bằng nghiên cứu, sáng chế của ta đang ở mức thấp như vậy. TS Phạm Bích San đã trả lời trên Tuổi trẻ: Nói thật là tôi rất xấu hổ.
Hình như ít người dám nói tới chuyện xấu hổ như ông San. Những vị tiến sĩ đã cóp nhặt của người khác trong báo cáo đánh giá về động đất ở dự án thủy điện Sông Tranh, để đến nỗi tác giả phải kêu lên “Họ liều thật”, là một ví dụ.
Không thể có khoa học nếu như cách trả tiền không khoa học.
Nhưng cũng không thể có một nền khoa học công nghệ hiệu quả, ở sự phụng sự, nếu như các giáo sư tiến sĩ thiếu đi phẩm chất tối thiểu của một nhà khoa học, một “kẻ sĩ”: Lòng tự trọng, mà biểu hiện đầu tiên là biết xấu hổ.
Đào Tuấn

Thứ Sáu, ngày 26 tháng 10 năm 2012

In tiền để tăng lương?!

Tuần qua, vấn đề tăng lương lại nóng lên khi được đưa ra bàn trước Thường vụ Quốc hội. Theo lộ trình cải cách tiền lương, từ ngày 1-5-2013, lương tối thiểu sẽ tăng từ 1,05 triệu đồng lên mức 1,3 triệu đồng/tháng. Thế nhưng Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ cho biết không thể bố trí nguồn ngân sách để thực hiện lộ trình tăng lương, “trừ phi Thường vụ Quốc hội đồng ý cho in thêm tiền”.

Phải nói thẳng, đây là một tuyên bố không nghiêm túc!

Việc tăng lương nằm trong lộ trình đã định từ trước, có nghĩa ngân sách 2012 và 2013 đã chuẩn bị trước các nguồn tiền để thực hiện. Nay ngân sách không kham nổi thì Bộ trưởng Tài chính phải chịu trách nhiệm giải trình vì sao, hụt thu ở nguồn nào, cách giải quyết ra sao trước khi loại bỏ một mục chi lớn đã được phê duyệt. Ngân sách nhà nước cũng không phải là chuyện nhỏ để muốn tăng chi ở một mục nào đó thì chỉ cần Thường vụ Quốc hội đồng ý cho in thêm tiền. Đây là một cách nói dễ gây hiểu nhầm rất tai hại. Quốc hội là nơi thông qua ngân sách hàng năm, kèm theo đó là mức bội chi được phê duyệt chung. Nhiệm vụ của Chính phủ là thuyết trình vì sao cần tăng thêm bội chi, cho khoản mục nào, cách bù đắp sau đó sẽ ra sao để thuyết phục đại biểu Quốc hội bấm nút thông qua. Không hề có chuyện Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền cho in thêm tiền để tăng lương! Vậy mà cũng chẳng thấy các quan chức trong Thường vụ Quốc hội nói lại cho rõ.

Ở hướng ngược lại, Ủy ban Tài chính Ngân sách Quốc hội hoàn toàn có lý khi gợi ý thay vì tăng lương từ 1,05 triệu lên 1,3 triệu đồng/tháng thì có thể chỉ tăng lên 1,15 triệu đồng/tháng. Nhưng để ý kiến này mang tính thuyết phục cao hơn, cần yêu cầu Bộ Tài chính trình bày cụ thể, với phương án này mức tăng cho ngân sách là bao nhiêu, với phương án kia, thiếu hụt sẽ lên đến bao nhiêu và các phương án bù đắp. Quốc hội là nơi buộc các thành viên của Chính phủ phải trần tình với số liệu chuẩn bị đầy đủ – chứ không phải là nơi mặc cả chuyện… in tiền để chi tiêu.

Trong câu chuyện này, cần phân biệt hai khái niệm “tăng lương” và “bù trược giá”. Lương tối thiểu của công chức, viên chức được tăng từ 730.000 đồng lên 830.000 đồng/tháng trong năm 2011 (tăng 13,7%) và lên 1.050.000 đồng/tháng trong năm 2012 (tăng 26,5%). Trong khi đó lạm phát của năm 2010 là 11,75% và năm 2011 là 18,13%. Như thế nếu loại trừ yếu tố trược giá, mức tăng lương trong những năm vừa qua là không đáng kể. Hay nói cách khác mức tăng lương này không theo kịp mức tăng danh nghĩa tổng thu nhập quốc dân (GDP danh nghĩa năm 2010 tăng 19,4% và năm 2011 tăng 28%).

Như vậy những “mức tăng” lương tối thiểu những năm trước chưa thể nào gọi là góp phần nâng cao mức sống của cán bộ, công chức, người lao động… mà chỉ mới phần nào bảo vệ thu nhập của họ trước cơn bão tăng giá.

Nay cũng vậy, ngân sách phải có nhiệm vụ ít nhất bảo đảm thu nhập tối thiểu của người hưởng lương từ ngân sách không bị hao hụt vì lạm phát chứ khoan nói gì đến chuyện tăng lương. Đặt vấn đề như thế để thấy trách nhiệm của Bộ Tài chính là bảo đảm ngân sách kham được chuyện này, ít nhất như các năm vừa qua.
Điều đáng nói hơn nữa, trong những lần tăng lương tối thiểu trước đây, rõ ràng không phải tất cả khoản tăng dồn về ngân sách trung ương phải gánh chịu. Chẳng hạn để tăng lương các đơn vị sự nghiệp thuộc ngành y tế được sử dụng tối thiểu 35% khoản thu được để lại trong khi ngành này vừa tăng viện phí trong năm nay. Không biết Bộ Tài chính đã tính toán chi ly những khoản như thế hay chưa trước khi tuyên bố ngân sách không kham nổi.
Nguyễn Vạn Phú

Thứ Năm, ngày 25 tháng 10 năm 2012

Lựa Chọn

B.34 xây dựng giữa trung tâm Sài Gòn từ hồi còn là Tổng nha Cảnh sát Quốc gia nên không biết đã có bao nhiêu thế hệ tù nhân, từ cộng sản đến những tên tuổi cộm cán của chế độ hiện tại; Bùi Quốc Huy, Trần Mai Hạnh, Phạm Sỹ Chiến, Mai Văn Dâu, Huỳnh Ngọc Sĩ, Lê Quang Vinh… từng sống qua. Trại có tầng triệt và hai dãy lầu, nhìn từ đường Nguyễn Văn Cừ vào là một khu nhà xây chéo quét vôi trắng; người đi đường khó thể nhìn thấy bên trong nhưng ngược lại, người bị giam bên trong nhìn rất rõ mọi hoạt động qua lại bên ngoài. Tôi từng học 4 năm ở trường đại học đối diện bên kia đường, mà lúc mới vào nhìn sái qua thấy những chùm điệp vàng đang trổ hoa trong sân cũng không khỏi bất ngờ.
Vào B.34 được 2 tháng.
Một buổi trưa, người lính quản giáo nhìn qua ô cửa thông gió bảo:
- Chuẩn bị đồ để chuyển phòng!.
Tôi không mấy ngạc nhiên vì việc chuyển phòng trong này diễn ra hàng ngày, nên hỏi:
- Phòng nào vậy anh!?.
- Cứ dọn đồ rồi đi!.
Thì ra cũng không đâu xa, chỉ dời cách đó 3 phòng, đi vài bước là qua tới.
Từ số 5 sang phòng số 8. Lúc này anh Điếu Cày đang ở phòng số 1 đầu dãy.
Mỗi phòng ở khu biệt giam diện tích chỉ 1,8mx2,0m, người nào cao quá nằm là phải co lại, chân đá vào bồn cầu cũng thường tình.
Tôi nói to:
- Em chuyển qua phòng 8!.
Nghe trong buổi trưa yên lắng vài tiếng thở dài, cũng có tiếng đáp vọng lại:
- Yên tâm đi em, có tụi anh xung quanh!.
Tôi là phụ nữ duy nhất đang bị giam ở đây, bên cạnh có luật sư, linh mục, bác sĩ, sĩ quan công an, hacker, nhà báo, blogger… trong đó phần nhiều là những người được cho là “bất đồng chính kiến”. Anh Hải – phòng 13, người có thâm niên tạm giam lâu nhất dãy bỗng nói ngang:
- Phòng số 8 đặc biệt nhất khu này!.
Tôi chợt hoang mang hỏi:
- Đặc biệt là sao anh!?.
- Phòng đó Lê Công Định ở lúc vừa bị bắt. Em cứ từ từ rồi biết.
Cả dãy hành lang hun hút tiếng quạt gió, nghe như ru.
Phòng số 8 đã nhiều tháng liền không giam người nên mùi mốc và lạnh cứ xồng xộc vào mặt gây nên cảm giác ẩm ướt, nhờn nhạt  kinh khủng. Sau khi quét dọn, lau chùi, và rửa hồ nước, tôi nằm dài và nhắm mắt suy nghĩ. Không biết Lê Công Định lúc đó làm gì trong căn phòng giống chiếc hòm chật chội này; anh đi qua đi lại một cách bức bối hay là đập đầu vào tường như nhiều người mới bị bắt vào đây đã làm. Và tại sao mà người ta gọi là “phòng đặc biệt”. Nhìn xung quanh cũng chẳng thấy có gì khác lạ mấy so với phòng số 5 tôi vừa ở. Cánh cửa xộc xệch hơn chút, cái vòi nước có vẻ gỉ sét hơn. Cũng là bốn bức tường vôi trắng bệch, chiếc đèn néon sáng nhức nhối cả ngày lẫn đêm trên đỉnh đầu. Dọc các bức tường chữ viết chi chít: vài lời nhắn gửi lại bạn tù, hay những gạch vôi, hình vẽ nghệch ngoạch ghi nhớ ngày bị bắt, tới những câu thơ mang đầy tính giang hồ…tất cả nằm lẫn lộn, câu này chồng lên chữ kia; lâu lâu người ta lại quét một lớp vôi mới để xóa nhòa đi.
Nơi đây, âm khí u uất!
Trời về khuya, tiếng xe cộ ngoài đường bớt nhộn nhịp. Cả khu trại im ắng. Thỉnh thoảng tiếng thở dài vọng lại nghe não ruột, vài giọng hát lẻ loi cất lên buồn thê thiết. Cứ cách một tiếng, người quản giáo trực đêm lại lọ mọ khua chùm chìa khóa lẻng xẻng vào kiểm tra.
Lúc này tôi mới bắt đầu lờ mờ hiểu tại sao phòng số 8 đặc biệt: nó phát ra từ chiếc vòi nước bị gỉ và lờn; được bắt vào trong phòng từ cái hồ xi-măng chứa khoảng 2 khối nước đặt phía bên ngoài cánh cửa sắt khóa chặt. Những giọt nước lọt tọt nhễu xuống thềm bồn cầu. Ban đầu có vẻ bình thường, càng về khuya tiếng rơi tiếng giọt nghe càng to, tiếng to dần to dần gây váng vất, mất ngủ. Đêm càng sâu, càng dài thì tiếng giọt nước nghe như thể tiếng búa đang đóng đinh vào đầu. Ting…toong….ting…toong…nhịp đều đều từ canh này sang canh khác. Tôi thức cả đêm, loay hoay đủ cách để vặn chặt cái vòi bị lờn, nhưng đều bất lực. Qua hết đêm thì nước mắt sống chảy dàn dụa trên mặt, đầu óc ong ong, nhức buốt.
Tôi báo với người quản giáo đi mở cửa buổi sáng về cái vòi nước và xin thay cái khác. Người lính già nhìn tôi, ánh mắt ái ngại và chỉ “mmmm…” nhẹ. Nhưng rồi, đợi cả ngày không thấy ai vào. Buổi chiều lúc khóa cửa, tôi nhắc lại yêu cầu lần nữa, lần này giọng tôi khá to và gắt nên sau khi hai lính quản giáo đi ra thì anh Hải –  P.13 bảo: “Em đừng yêu cầu vô ích, họ không có thay đâu!”. Vậy là cả đêm tiếp theo tôi lại mất ngủ. Tới đêm thứ 3, thứ 4 thì tôi bắt đầu rơi vào trạng thái hoang tưởng và luôn mệt mỏi, bơ phờ bởi những cơn mộng mị, chập chờn nửa mê nửa tỉnh. Lúc này tôi đang trải qua tháng thứ 3 của lệnh tạm giam, tức là những khó khăn và khủng hoảng tâm lý buổi ban đầu tạm ổn rồi, cũng đã quen dần vói cuộc sống thiếu tiện nghi, thiếu thông tin và thiếu cả dưỡng khí. Nhưng, Lê Công Định khi vào phòng số 5, là một người mới. Tôi bỗng ân hận vì từng có lúc suy nghĩ, anh này mưu việc lớn mà sao kém khí phách.
Trở về đời thường.
Nhiều người gặp hay hỏi câu: “Có bị đánh đập hay tra tấn gì lúc bị bắt không?”. Tôi đều nói rất chân thành là không hề có. Mà quả là như vậy! Tôi đi bác sĩ. Ông kê thuốc, tư vấn tâm lý và bảo: những người sau cơn san chấn thường có những hành vi vô thức, khả năng tự tử là rất cao. Nhiều đêm mất ngủ tôi lại nghe thấy những tiếng ting toong…ting tooong như đinh đóng đập vào đầu. Mọi thứ thật ra chưa bao giờ bị lãng quên! Mới đây, có đọc được rằng: “Mức án nặng nề luôn dành cho những ai ngoan cố, và rất khoan hồng cho những ai biết ăn năn hối cải. Như chúng ta đã từng thấy sự khôn ngoan của Lê Công Định và sự “dại dột” của Trần Huỳnh Duy Thức. Vì thế mức án dành cho Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần và Nguyễn Văn Hải sẽ phụ thuộc nhiều vào “khí phách” của họ trong phiên sử sơ thẩm và phúc thẩm.”. Tôi nghĩ, không ai có quyền ngồi bên ngoài phán xét về sự “khôn ngoan” hay “dại dột” của những người như Lê Công Định hay Phan Thanh Hải, Nguyễn Tiến Trung. Đó là sự chọn lựa, phải quyết định việc sống còn trong những hoàn cảnh thật đặc biệt. Mà điều này cần có sự trải nghiệm mới hiểu được!
Lại nhớ tới một câu của người xưa: Giữ được núi xanh còn, sợ gì không củi đốt!!
 Cô Gái Đồ Long
@ 23.10.2010 – 20.1.2011
Theo FB Cô Gái Đồ Long

Nuôi Án

“Thường chỉ gặp nuôi án trong các vụ kinh tế, cờ bạc, cưỡng đoạt (bảo kê bến bãi, nhà hàng), mại dâm … chứ ở những vụ như an ninh chính trị thì không bao giờ có … Vậy là nuôi án đấy. “
Nuôi án thường có trong các vụ án hình sự. Người ta muốn có chiến công, thành tích nên khi phát hiện những đối tượng có  manh nha phạm tội thì họ lặng lẽ theo dõi. Không bắt bớ, ngăn chặn ngay. Thậm chí họ còn cài đặc tình vào thúc đẩy việc phạm tội lớn hơn. Nuôi án hay có trong các vụ như mại dâm, buôn ma tuý, cờ bạc, buôn lậu,…đặc điểm của những ” án nuôi ” là có tổ chức, có sự phát triển theo thời gian.
Nhiều đối tượng bán lẻ ma tuý, chứa cờ bạc, cầm lô đề, cho vay lãi, bảo kê hoành hành được thời gian. Nghĩ mình lo lót hết, nhưng một ngày đẹp trời bỗng nhiên bị thộp cổ. Bọn nhỏ thì nhiều vô kể, còn bọn lớn thì như Khánh Trắng, Năm Cam.
Thật ra về số má giang hồ về đao búa, cái  thang tính điểm của anh chị giang hồ thì cả Năm Cam, Khánh Trắng đều không có. Nhưng do được che chở của thế lực nào đó,  từ một người đạp xích lô trở thành tay anh chị trùm bến bãi, lúc có vị trí rồi thì lúc đó không muốn thì cũng không thể làm ngơ nếu bị kẻ khác xúc phạm. Có lẽ Khánh Trắng chết một phần là do hắn, còn phần nữa là những kẻ đã dựng hắn lên. Nói thế mới chính xác. Cuộc đời Khánh Trắng nếu không một ngày gặp một vị đỡ đầu, thì giờ đây theo đà cuộc sống từ đạp xích lô, vợ bán hoa quả cứ chăm chỉ làm ăn. Khánh Trắng đã ngồi an nhàn uống bia hơi đầu Ô Quan Chưởng, vất xe tải cho một gã lái thuê nào đó. Chỉ việc điều hành chở hàng. Còn bà vợ thì ngồi một sạp hàng hoa quả chỉ đạo vài cô gái trẻ giúp việc cân đo, bó buộc hàng cho khách. Cuộc sống tương đối khá giả, bình bình. Sự thật thì nhiều anh chị ngang hàng Khánh Trắng thậm chí còn số má hơn lúc mà Khánh Trắng đạp xích lô giờ đây đã có cuộc sống như thế.
Thôi thì cứ gọi cho là số phận. Nhưng hẳn Năm Cam, Khánh Trắng ở suối vàng còn ôm khối hờn cả cục với những kẻ đã một thời bao che cho họ.
Nói gì thì nói, nuôi án không phải là việc chính đáng, thậm chí đó còn là đồng loã, tiếp tay cho tội ác. Người có trách nhiệm khi thấy mầm mống của tội phạm thì phải răn đe, giáo dục, ngăn chặn từ đầu.  Nhưng công việc đó tương đối là thầm lặng, hiệu quả thì không rõ ràng. Chẳng ai có thể có chứng cứ để báo cáo thành tích rằng tôi đã ngăn chặn một ổ cờ bạc, ổ chứa mại dâm bằng cách khuyên bảo, giáo dục, ngăn ngừa ngay từ khi tên chủ quán mới định bán bia lắp đèn mờ, có xây phòng kín…Bởi chỉ có một xã hội mà người ta theo tiêu chí khác, con người ở đó khác thì họ mới cầm đồng lương và cố gắng làm những việc ngăn chặn cái xấu khi nó chưa xảy ra.
Còn ở đây, thành tích phải bằng số ma tuý cân được, số tiền cờ bạc thu được, số người bị giết…thành tích được miêu tả đầy hào hứng về con số, con số càng lớn thì thành tích của những người chỉ huy chiến dịch, bắt bớ, điều tra lại càng lớn.
Một đất nước thành tích thể thao năm sau cao hơn năm trước, chỉ số kinh tế năm sau cao hơn năm trước là điều rất đáng mừng. Nói nôm na là nếu anh năm nay mua sắm 10 đồng, năm sau 20 đồng thì là điều rất đáng mừng.
Nhưng thành tích bắt tội phạm thì không tương tự như thế nếu chúng ta biết suy nghĩ. Chả lẽ chúng ta hào hứng vì cảnh sát tháng trước bắt 20 bánh ma tuý, tháng sau chiến công rực rỡ hơn là bắt được 40 bánh. Rồi vài năm sau lại thấy khen thưởng rầm rộ vì phá vụ án có 100 bánh heroin.
Bạn thấy sắp có cuộc đánh nhau, hai người hàng xóm chửi nhau theo tiến độ căng hơn, theo kinh nghiệm bạn thấy họ sắp vác dao đến nơi. Bạn gọi điện lên công an phường báo tin. Một lúc sau họ xuống thì sự đã rồi, họ lập biên bản, lấy nhân chứng, bắt bớ, lấy cung. Có người đã trách công an là lúc đó xuống luôn thì không nên chuyện. Anh công an chân tình nhăn nhó trình bày, khổ lắm nhưng mà việc nó chưa xảy ra thì làm sao mà xuống được.!!!
Nói về băng nhóm tội phạm như thời Khánh Trắng, Năm Cam, Dung Hà thì chuyện giết người so với bây giờ còn kém xa. Các băng nhóm thời đó vào cảnh mà họ cho là không thể chấp nhận, cân nhắc kỹ mới quyết định thanh toán đối thủ. Chứ còn bây giờ năm ba cậu thanh niên làm bóng, cho vay lãi, cầm đồ hứng lên là vác súng, dao truy sát. Thậm chí chả phải chuyện làm ăn, mà chỉ ở trong quán bar, quán phở  dẫm chân lên nhau, nhìn đểu nhau là có thể vác súng bắn vỡ đầu nhau luôn.
Mấy lần nghe thấy cán bộ lãnh đạo công an nói rằng thiếu nhân lực. Mặc dù năm sau nhiều hơn năm trước. Lập thêm đội dân phòng, đội trật tự tự quản, xung kích, dân quân tự vệ để hỗ trợ công an. Dường như vẫn chưa đủ để lực lượng này đảm bảo số lượng duy trì an ninh, trật tự.
Tội phạm gia tăng dẫn đến tăng cường quân số, trang bị, vũ khí…một cái vòng tương tác cứ như thế kéo dài. Nếu người ta không chú ý đến giáo dục, thậm chí còn có ý đồ nuôi án để lấy thành tích, thì đương nhiên cái vòng luẩn quẩn đó còn phải nói đến nhiều.
Những chuyện về tội phạm hình sự như thế này không kể thì ai cũng biết. Sở dĩ hôm nay kể vì gặp chuyện bất ngờ. Thường chỉ gặp nuôi án trong các vụ kinh tế, cờ bạc, cưỡng đoạt ( bảo kê bến bãi, nhà hàng), mại dâm…chứ ở những vụ như an ninh chính trị thì không bao giờ có.
Thế nhưng mới đây nghe chuyện một cô bé sinh viên bị bắt, đồn rằng người ta phát hiện từ nhiều tháng trước, cài đặc tình vào theo dõi, rồi để đến khi truyền đơn tung ra họ mới bắt.
Không tranh luận chuyện cô bé có tội hay không có tội, vì đó sẽ là cuộc tranh luận còn diễn ra dài dài đến khi nào cô ấy được thả. Về quan điểm của tôi tất nhiên là cô bé không có tội, nói vậy để các bạn khỏi tranh luận về cô bé có tội hay không. Chuyện ấy sẽ tranh luận ở phần khác. Phần ở đây là chuyện nuôi án cơ.
Về phần những người bắt cô gái thì họ sẽ khẳng định cô bé có tội, bởi thế họ theo dõi từ lâu, cài người để nắm bắt, thậm chí có thể là tác động để cô và các bạn tiến hành hoạt động mà họ nghĩ là đủ chứng cứ để bắt. Vậy là nuôi án đấy.
Đến án chính trị, an ninh quốc gia mà còn nuôi án nữa, thì thực sự một kẻ xuất thân từ dân lưu manh vốn tưởng đã không có gì bất ngờ với chế độ này, một lần nữa phải kinh ngạc vì hiểu biết của mình vẫn còn non kém quá.
Một đất nước ổn định về chính trị, cứ tưởng là không có những người phạm tội chống chế độ, tuyên truyền nói xấu chế độ, âm mưu lật đổ chế độ cơ. Chứ đã đầy rẫy những người ra toà vì tội như thế rồi mà lại còn nuôi án cả những tội đó để lấy thành tích nữa thì quá là đáng ngại.
Mong sao chuyện đó không phải là sự thật.

Tấm giấy, ông thầy và bản án tử

Rất lạ, các nghị sĩ QH khi thảo luận về một bộ luật liên quan nhiều đến quyền con người như Luật Luật sư, lại hầu như chỉ phát biểu về chủ đề: Các ông thầy dạy luật có được hành nghề luật sư.
Thậm chí, sáng nay, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã đề nghị, dưới giác độ một người thầy, với thái độ mà báo chí mô tả là “thiết tha”: “nên khuyến khích các giảng viên dám nhận làm luật sư”.

Báo cáo của Viện trưởng VKSNDTC Nguyễn Hòa Bình 1 ngày trước đó đã đề cập đến thực trạng “Số luật sư, người bào chữa tham gia bào chữa tại các phiên tòa hình sự chỉ chiếm tỉ lệ thấp, chủ yếu là luật sư chỉ định. Phần lớn tập trung ở những thành phố, đô thị. Đối với vùng sâu, vùng xa, tỉ lệ tham gia của luật sư, người bào chữa tại các phiên tòa hình sự không đáng kể”. 2 năm trước, khi con số 121 trường hợp oan sai được nói trước Quốc hội, không khí bấy giờ bỗng dưng lặng phắc. Chẳng hạn, nếu 121 phiên tòa đó có đầy đủ luật sư, không “chủ yếu là luật sư chỉ định”, có thể rất nhiều trong số 121 con người đó không phải chịu cảnh ngồi thu lu giữa 4 bức tường đá để gặm nhấm oan khiên thấu giời xanh.

Có lẽ, khi đưa ra quy phạm cấm các ông thầy dạy luật được hành nghề luật sư, các nhà soạn thảo đã chỉ nghĩ đến việc quản lý với những lo toan kêu rủng roảng, rằng “ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy”, rằng “không phù hợp với định hướng phát triển nghề luật sư”, thậm chí “không phù hợp với mục tiêu xây dựng đội ngũ luật sư chuyên nghiệp”. Có thứ giảng dạy nào không vì mục tiêu con người? Có thứ định hướng nào lớn hơn quyền con người. Và có thứ chuyên nghiệp nào chuyên nghiệp hơn việc không để xảy ra cảnh những người vô tội bị tống vào nhà đá? Các nhà làm luật đã quên khuấy mất 121 trường hợp oan sai rồi.

Nhưng việc sửa đổi Luật Luật sư lần này không phải chỉ là chuyện những ông thầy. Sáng nay, có đại biểu QH đã nhắc đến chuyện cái ghế. Nghĩa đen là tư thế luật sư ngồi ngước mắt nhìn lên quan tòa. Nghĩa bóng là sự bất bình đẳng đang tồn tại trong những pháp đường thâm nghiêm. Và, dẫu là thiểu số, cũng có người đã nói đến việc bỏ tấm giấy chứng nhận bào chữa, một thứ thủ tục hành chính, một hàng rào ngăn cách luật sư đến với thân chủ của mình. Cảm ơn đại biểu QH Bùi Văn Xuyền. Cảm ơn báo điện tử Chính phủ, thật ngạc nhiên, là tờ báo duy nhất đưa chi tiết này.

Cái ghế, hay tấm giấy, đang chỉ là những biểu tượng của một thực tế mà phổ biến là việc các cơ quan tố tụng từ chối cấp giấy chứng nhận bào chữa mà không buồn giải thích lý do, hay lớn hơn, cũng chua chát hơn, là tiếng nói của các luật sư nhiều khi hầu như không mấy ý nghĩa trong những phiên tòa.

Hôm qua, có một chi tiết giàu biểu cảm. Đó không phải là con số 420 tử tù vẫn chưa thể thi hành án vì thiếu thuốc độc. Đó cũng không phải là vấn đề khi Bộ Y tế đang bó tay bó chân trong việc tìm nhập nguồn thuốc độc. Mà nó biểu cảm ở nguyên nhân của việc khó khăn: Các hãng dược, dù bán kháng sinh với giá cắt cổ, đang lắc “không chấp nhận bán thuốc cho Việt Nam sử dụng vào mục đích thi hành án tử hình”. Nó biểu cảm ở lời đề nghị, cũng thật ngạc nhiên, của Viện trưởng VKSND TC về việc “Cần nghiên cứu toàn diện hơn về hình phạt tử hình. Cần sửa luật theo hướng thu hẹp, chỉ áp dụng mức án này với những tội danh gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội, thực sự không thể giáo dục, cải tạo”. Bởi, như lời ông Nguyễn Hòa Bình: “Đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhận vấn đề này tiệm cận hơn xu thế chung của thế giới”.

Hình như vấn đề luật sư cũng thế. Chúng ta không thể giữ mãi trong đầu tư duy: “đóng cửa” để “bảo nhau” rằng tội phạm thì cần gì phải quan tâm, rằng thế là đã tốt lắm rồi. Bởi trước khi trở thành tội phạm và cả khi phải đứng trước vành móng ngựa, họ, một cách bất biến, vẫn là những con người.
Đào Tuấn

Thứ Tư, ngày 24 tháng 10 năm 2012

Tử huyệt của niềm tin

Bong bóng đầy hơi helium thì sẽ bay bổng trông rất ngoạn mục. Nó mang theo ước mơ tươi đẹp của bao đứa trẻ muốn bay cao qua bầu trời, nhẹ lướt gió như con diều trên ngọn cây mái ngói. Nhưng người lớn thì thực tế hơn. Họ hiểu rằng helium trong quả bóng sẽ xì hơi hay nổ tung theo thời gian, tùy vào áp lực và sức nóng. Nhiều người lớn không chấp nhận định luật vật lý này. Họ muốn “trẻ mãi không già”. Thế giới gọi đây là hội chứng Peter Pan.

Tuần qua, các người “rất lớn” tổ chức hội thảo để giải quyết cục nợ gọi là “bong bóng BDS”. Họ cố tìm ra một lý giải chính đáng để kết luận là bong bóng sẽ tiếp tục bay nếu chúng ta (người dân) có chút niềm tin vào chánh phủ và các công ty BDS (xem bài của VN Express đăng lại nơi web site GNA này).

Tin vào chánh phủ và các công ty BDS? Nếu đây là “tử huyệt” như vài chuyên gia nhận định, thì “tử” là cái chắc. Như một bà vợ bắt gặp chồng ngoại tình lừa gạt không biết bao lần trong quá khứ, nhưng lần này ông chồng xin bà vợ hãy “tin anh đi”, anh mới cởi quần áo nó ra, chưa làm gì cả.

Bỏ qua chuyện niềm tin, đây là những lý do tôi cho rằng một melt-down (chảy tan) của BDS Việt trước tháng 6 năm 2013 là điều khó tránh (trong bài phỏng vấn với VTV, họ cắt phần lớn những biện giải này):

1. Chánh phủ đã hết tiền, ngân hàng đã hết tiền, các công ty BDS đã hết tiền. Người dân còn khoảng 50 tỷ USD (vàng và ngoại tệ) và Việt kiều có thể rót thêm 15 tỷ mỗi năm, nhưng không ai có “niềm tin” để vất tiền tốt theo đống tiền xấu. Giải pháp in tiền bừa bãi không khả thi vì sẽ gây lạm phát phi mã và kết cuộc sẽ đến nhanh hơn dự đoán.

2. Khi giá BDS xuống dưới 50%, nợ xấu ngân hàng sẽ tăng gấp 3 lần hiện nay vì 67% dư nợ của ngân hàng dựa trên thế chấp BDS. Các con nợ thường ngưng trả tiền vay khi tài sản họ mất có trị giá thấp hơn tổng số tiền vay.

3. Nếu bong bóng BDS không nổ vì bất cứ lý do gì, sự trì trệ cho nền kinh tế sẽ kéo dài ít nhất 8 năm nữa. Số lượng căn hộ tồn kho và các căn hộ đang xây dở dang phải mất đến 10 năm mới thanh lý hết.

4. Ánh sáng le lói dưới đường hầm là gói cứu trợ của IMF (chánh phủ đã bác bỏ giải pháp này) hoặc tín dụng từ đàn anh “lạ”. Không ai ngoài chánh phủ có thông tin để dự đoán chính xác hướng đi sắp tới của chúng ta.

5. Chúng ta vẫn đang cố gắng làm những gì chúng ta đã làm trong quá khứ (khó mà thay đổi thói quen xin-và-cho); nhưng chúng ta đang hy vọng là kết quả sẽ khả quan và tốt đẹp (như lời các ngài quan chức đã tuyên bố gần đây). Các quan đang muốn chứng minh là Einstein không biết gì về toán hay vật lý? Chúng ta mới là bậc trí tuệ?

Bản chất tôi là một người lạc quan và có niềm tin cao độ vào tôi cũng như vào những người chung quanh. Tôi luôn nhìn tương lai với cặp kính mầu hồng. Gần đây, khi về lại Việt Nam, các Peter Pan cũng không còn đeo kính nữa. Có lẽ vì chúng ta đang ở Never-Land?
Alan Phan
Theo Alan Phan blog

Không tăng lương lấy tiền đâu đi chợ


“Không tăng lương lấy tiền đâu đi chợ?” – là câu hỏi mà Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã đặt ra. Và ai cũng biết rằng, “đi chợ” chỉ là phần tối thiểu của cái mà người ta gọi là cuộc sống.
Ngày 17-11-2006, trước 13 nhà giáo nhân dân và 44 giáo sư, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã trân trọng hứa: “Đến năm 2010, nhà giáo có thể sống được bằng đồng lương của mình”. Sau 6 năm, đến hôm qua, các nhà giáo chẳng những chưa sống được bằng lương mà có nguy cơ, cùng với trên dưới 20 triệu người hưởng lương khác, có nguy cơ bị giá cả làm nhục khi Chính phủ xin khất việc tăng lương.

Trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ giải thích lý do:“Do chưa cân đối được nguồn để cải cách tiền lương năm tới”. Những tính toán của Bộ Tài chính cho thấy nếu tăng lương từ 1.050 nghìn đồng lên 1.300 nghìn đồng, theo lộ trình từ ngày 1-5-2013, ngân sách dự kiến sẽ tiêu tốn khoảng 60 nghìn tỷ đồng. Những khó khăn trong nguồn thu 9 tháng đầu năm 2012 cho thấy chỉ tính riêng thu nội địa và thu cân đối xuất nhập khẩu đã giảm 25.500 tỷ đồng. Ngân sách đã không còn đủ tiền dù chỉ để làm cái việc thực chất là bù cho đà tăng giá. Nhưng rõ ràng, việc ngân sách cạn tiền không phải lỗi của người dân, những người hàng ngày vẫn “hoàn thành quyền và nghĩa vụ công dân” bằng hành động đóng thuế, phí, với một mức cao gấp từ 1,4 đến 3 lần khu vực, như báo cáo của Ủy ban Kinh tế. Và nói đến chuyện thuế vẫn cao, phí vẫn khủng, trong khi ngân sách thiếu tiền, thì không thể không đặt ra câu hỏi: Những đồng thuế, phí, nhiều và cao như thế đã đi đâu, đã được sử dụng thế nào mà để đến nỗi thiếu cả tiền bù đắp sự mất giá đồng nội tệ do lạm phát.

Còn nhớ hôm Thường vụ QH họp, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng đã hỏi một câu dân giã đúng với lòng dân: “Không tăng lương lấy tiền đâu đi chợ”. Ngày hôm qua, khi Bộ trưởng Vương Đình Huệ xin khất lương, không ít trong số 22 triệu người hưởng lương đã hỏi nhau, và tự hỏi mình, đúng y như cái câu mà Chủ tịch QH đã cắc cớ hỏi, cho dù, “đi chợ” chỉ là phần tối thiểu của cái mà người ta gọi là cuộc sống.

Một cách lạc quan, nhiều ý kiến cho rằng có thể không cần tăng lương, miễn là đừng tăng giá. Điều này đúng về lý thuyết. Nhưng thực tế thì đây là câu chuyện có thể xem là phi lý, bởi lương có thể không “đặng”, chứ giá thì không thể “đừng”. Những tính toán lạc quan cho thấy lạm phát năm nay sẽ vào khoảng 7-8%, sang năm cũng ngần đó. Và đó là thứ tính toán mà ĐBQH Trần Hoàng Ngân gọi là tính toán lý thuyết. Có nghĩa, thứ lạm phát đó có thể tăng vùn vụt ngay sau một trận bão, thậm chí ngay cả khi Trung đông “hắt hơi sổ mũi” khiến “điệp khúc lỗ” được các DN xăng dầu lấy làm cớ để ngân nga. Hoặc tệ hơn, khi ngành điện cất lời than thiếu vốn. Thế thì người dân lấy gì để bù vào đó, nếu như không được tăng lương?

Có người đã dùng từ “bức bách” đã chỉ về đời sống khó khăn của những người hưởng lương. Những người hưởng lương, trong phạm trù dân chúng nói chung, những người vốn chưa bao giờ thôi vị tha, chưa bao giờ thôi kiên nhẫn, sẵn sàng chia khó với nhà nước, nhưng chỉ khi ngân sách thực sự khó khăn. Chứ không thể nhịn tăng lương, chịu tăng giá, để những đồng tiền đáng lẽ bù đắp lạm phát cho dân lại được dùng để đầu tư vào một thứ chung chung nào đó. Bảo tàng 12.000 tỷ chẳng hạn.
Đào Tuấn

Thứ Ba, ngày 23 tháng 10 năm 2012

Lòng tự trọng của anh bán thịt dê

Một đất nước tan hoang, kiệt quệ vì nghèo đói, khủng hoảng niềm tin, cái ác lên ngôi, tham nhũng lúc nhúc, nạn bắt cóc người tử tế công khai, xử tù người vô tội ngang nhiên…bỗng dưng một ngày được ông thủ tướng đăng đàn nhắc nhở về lòng tự trọng, dạy dỗ lý tưởng, hoài bão cho thanh niên, kèm theo lời xin lỗi “sâu sắc” trước Quốc hội…

Theo các nhà tâm lý học, tự trọng bản thân của mỗi người có nghĩa là suy nghĩ, thái độ và quan điểm của một cá nhân đối với các mặt như: Giá trị bản thân; Công việc bạn đang làm; Những thành tựu tự mình đạt được bằng khả năng và sức lực của mình; Suy nghĩ của bạn về người khác; Lý tưởng sống; Vị trí của bạn trong cộng đồng; Những điều bạn có thể đạt được trong tương lai; Điểm mạnh và điểm yếu của bản thân; Địa vị xã hội và mối quan hệ với mọi người; Sự tự lập hay khả năng đứng vững trên đôi chân mình…

Còn đây…

Từ lâu dân chúng đã được chứng kiến lòng “tự trọng” của chính quyền, quan chức là thế nào. Lòng “tự trọng” của họ được bảo đảm bởi luật pháp, quyền lực, tiền bạc, cảnh sát, an ninh, nhà tù…mỗi khi cảm thấy “tự trọng” bản thân của họ bị phê phán, chê bai. Nhiều dân chúng phải hy sinh “tự trọng” để né tránh nỗi sợ hãi mà chính quyền gây ra. “Tự trọng” để “sống trong sợ hãi”.

Từ lâu dân chúng đã thấm thía lòng “tự trọng” của chính quyền, quan chức lớn đến mức nào, nhất là sau những thất bại thảm hại trong việc điều hành đất nước. Và dân chúng biết “tự trọng” thì phải coi đó là do “thế lực thù địch” và tụi “phản động” kéo bè kéo đảng gây nên cơ sự này, bởi thế đừng có chê trách, phê phán, phản biện chính phủ.

Từ lâu dân chúng đã nhìn thấy những minh chứng về lòng “tự trọng” của quan chức cao cấp khi họ sắp xếp con cái mình ngồi vào những cái ghế quá lớn với chúng. Dân chúng nên “tự trọng” im lặng ngồi dưới những cái ghế ấy mỗi khi có việc cần đến họ.

Và một người có lòng tự trọng cao là một người luôn luôn hiểu rõ, có khả năng nhận xét, đánh giá bản thân mình một cách chính xác trong bất kỳ trường hợp nào, với bất kỳ con người nào. Điều đó có nghĩa họ luôn biết rõ đâu là điểm mạnh, điểm yếu của mình, đồng thời thừa nhận giá trị bản thân mà không cần điều kiện.

Nếu kẻ có chức quyền tự tin đến mức ngạo mạn, độc đoán; dân đen thì yếm thế, bạc nhược, khốn khổ vì bạo quyền thì lòng tự trọng chân chính như định nghĩa trên gần như không tồn tại.

Đọc lại chuyện đời xưa mà ngẫm…

Chuyện kể vua Chiêu Vương nước Sở mất nước phải bỏ chạy. Trong số dân chúng chạy theo Chiêu Vương có anh bán thịt dê tên Duyệt. Sau Chiêu Vương lấy được nước, bèn thưởng cho tất cả ai theo mình, riêng Duyệt bán thịt dê không nhận. Duyệt thưa rằng:

-Trước vua mất nước, tôi cũng mất nghề bán thịt dê. Nay vua còn nước, tôi còn nghề. Thế là giữ được nghiệp cũ, đủ ăn, còn dám mong gì hơn.

Vua cố ép, Duyệt bán thịt dê thưa rằng:

-Nhà vua mất nước không phải tội tôi, nên không dám liều chết. Nhà vua lấy được nước, không phải công tôi nên không dám lĩnh thưởng.

Vua bảo:

-Để ta đến thăm nhà ngươi.

Duyện bán thịt dê nói:

-Theo phép nước, phàm kẻ có công to thì vua mới đến thăm nhà. Nay xét, trí tôi không đủ giữ nước, dũng cảm không đủ giết giặc. Giặc đến tôi chạy theo vua lánh nạn, chứ đâu phải cốt ý theo vua. Nay vua bỏ phép nước đến thăm nhà tôi e thiên hạ cười chăng?

Vua nghe vậy bèn quay qua Tư Mã Tử Kỷ mà rằng:

-Người hàng thịt dê này tuy làm nghề hèn hạ mà giải bày nghĩa lý thật cao xa. Nhà ngươi mời thế nào người ấy ra nhận chức Tam công cho ta?

Duyệt bán thịt dê nói:

-Tôi biết chức Tam công quí hơn cửa hàng thịt dê, nhưng tôi đâu dám ham tức lộc mà để vua mang tiếng gia ân không phải nghĩa. Tôi thật không dám nhận, xin về giữ lấy nghề bán thịt dê.

Nói đoạn lùi ra.

Xem ra cái dũng của kẻ phàm phu là Duyệt bán thịt dê là minh chứng đối lập cho cái vô dũng của quan chức đang lớn tiếng rao giảng đạo đức cho dân chúng.

Xem ra người bán thịt dê mới xứng là bậc thầy giảng cho thiên hạ hiểu chính xác về lòng tự trọng: “Ngay cả khi trong túi hết tiền, cái mũ trên đầu anh cũng phải đội cho ngay ngắn” (ngạn ngữ Tây Ban Nha).
Thùy Linh

9.799 chữ và hai câu

Không hề ngẫu nhiên, báo cáo kiến nghị cử tri của Mặt trận dùng hai chữ “nhân dân” để chỉ đối tượng gặp khó khăn do giá cả, do thiếu việc làm, do lương thấp đến mức “không đủ tái tạo sức lao động”
Vấn đề gì mà người dân và cử tri quan tâm nhất tại kỳ họp QH lần này? Đó là chuyện thuế phí “vừa nhiều vừa cao”, như đánh giá của Phó Chủ tịch MTTQ Nguyễn Văn Pha; là giá cả tăng rất cao trong khi lương tối thiểu không theo kịp đà tăng của giá- như báo cáo của Mặt trận. Những chuyện khác, dù quan trọng đến mấy, cũng chỉ là “phi cơm áo”.

Nhưng báo cáo tình hình KT-XH của chính phủ, dường như chỉ thấy màu hồng, phản ánh một cách nhìn lạc quan, về tình hình rất tươi sáng, xét về khía cạnh kinh tế vĩ mô: Lạm phát được kiềm chế. Lãi suất cho vay giảm. Thanh khoản cải thiện. Tỷ giá ổn định. Xuất khẩu tăng. Dự trữ ngoại hối tăng. SX kinh doanh được cải thiện. Hàng tồn kho giảm. SX công nghiệp tăng. Nông lâm thủy sản tiếp tục phát triển. Dịch vụ tăng trưởng cao.

Ai là người được hưởng thành quả của sự tươi sáng nếu không phải là nhân dân! Nhưng chỉ tiêu vĩ mô không phải là đời sống, dù trên nguyên tắc nó quyết định đến đời sống. Nhưng báo cáo không phải là thực tế, dù đáng lẽ nó phải ghi nhận những thực tế. Chính vì thế, cũng không có gì bất ngờ khi sự ngột ngạt trong khó khăn vẫn là tâm lý chủ đạo trong kiến nghị cử tri gửi tới Quốc hội. Bởi có thể số người dân hiểu được các con số, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô không thể đo bằng con số % dân chúng. Nhưng 100% dân chúng đã, đang và sẽ là những người cảm nhận rõ ràng nhất những tác động của nền kinh tế- dù được đánh giá hoặc đang tươi sáng hoặc đang dần xuống đáy- lên chính bản thân họ mà cụ thể là những đồng lương, và những bữa cơm.

Chỉ tiếc là báo cáo Chính phủ dài 17 trang, 9.799 chữ chỉ có đúng hai câu nói về khó khăn của dân chúng: “Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn”. Và “Do nguồn lực còn hạn chế nên việc mở rộng diện và nâng mức hỗ trợ chính sách an sinh xã hội…tạo việc làm và cải cách tiền lương chưa đáp ứng được yêu cầu”.

Không ngẫu nhiên mà trong đúng ngày QH khai mạc, báo chí dẫn lời một GS.TS cho rằng: Chính phủ nói “một bộ phận” nhân dân đang gặp khó khăn, nhưng thật ra là “đại bộ phận”. Một thầy giáo thì phát biểu: 9 năm qua, lương của anh đã tăng cơ học gấp 4 lần nhưng thu nhập thực tế lại không tăng, nếu không muốn nói chi tiêu còn khó hơn trước. Ví dụ, 9 năm trước, giá xăng chỉ hơn 4.000 đồng/lít, bây giờ đã 23.000 đồng, mà xăng tăng một thì có nghĩa giá cả tăng bằng một, cộng với giá tâm lý “té giá theo xăng”. Và một cựu đại biểu QH thì khẳng định: Làm sao buộc được người dân phải tin vào thứ mà họ không thể tin khi đồng nội tệ bị lạm phát làm cho méo mó.

Cũng không ngẫu nhiên, báo cáo kiến nghị cử tri của Mặt trận dùng hai chữ “nhân dân” để chỉ đối tượng gặp khó khăn do giá cả, do thiếu việc làm, do lương thấp đến mức “không đủ tái tạo sức lao động”.

Không khó để biết người dân đang sống ra sao, có điều, việc thừa nhận của những người có trách nhiệm về “một bộ phận” hay “đại bộ phận” quả thực cũng không dễ. Không dễ, nhưng với cách nhìn nhận đánh giá thì không thể nói đến chuyện khó dễ. Bởi làm sao các chính sách có thể khắc phục được khó khăn khi không nhìn thấy chính xác những khó khăn cụ thể của dân chúng?!
Đào Tuấn