Thứ Bảy, ngày 03 tháng 11 năm 2012

Kêu gọi chống những kẻ đang kêu gọi ở một nơi nào đó

Chống tham nhũng vẫn là câu chuyện dài nhiều tập, vẫn sẽ là nỗi bức xúc thường niên khi nó vẫn là câu chuyện ở nơi nào đó, của một ai đó.
Viện trưởng VKSND tỉnh Lâm Đồng, ĐBQH Nguyễn Bá Thuyền trước nghị trường hôm qua đã nói đến câu chuyện bản chất nhất của cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay “Chỉ bắt được những vụ kiểu “con mèo ăn miếng mỡ”, chưa bắt được “con cọp cắp con heo”. Các vị đại biểu có lý do để bức xúc khi cả năm, đội ngũ cơ quan tư pháp “hùng hậu” chỉ đưa ra xét xử 167 vụ, 338 bị cáo về các tội danh gắn với mấy chữ “đe dọa sự tồn vong chế độ”. Trong đó, không thấy có “con cọp” nào. “Rồng” đương nhiên lại càng không. Trong đó, sự nghiêm trọng trên lý thuyết được các vị phán quan “nhân danh nhà nước” thẩm định lại, bằng 34,2% án treo. Và trong đó, số tiền 8.000 tỷ kiến nghị thu hồi chỉ thực thu 30%.
Số án tham nhũng ít, giống hệt như phát biểu của tướng Nhã: “cuộc chiến tham nhũng chưa diễn ra”. Hoặc đang biểu hiện căn bệnh “nội bộ hóa, hành chính hóa” các hành vi tham nhũng.
Số tiền tham nhũng nhiều, thu hồi ít, đang là một biểu hiện của tư tưởng “hy sinh đời bố để củng cố đời con”.
Và số án treo nhiều là điển hình của tình trạng mà Ủy viên Ủy ban các vấn đề xã hội Nguyễn Thị Khá là “3 liên”: Liên doanh trong nội bộ, liên thông từ dưới lên trên, liên kết với nhau chặt chẽ. “3 chạy”: Chạy án, (để) từ có tội thành không tội; chạy tội, (để) từ tội nặng thành tội nhẹ và chạy tù, (để) từ tù ngồi thành tù treo. Khiến cho: “Tội phạm tham nhũng tha hồ yên tâm rỉ tai, động viên nhau làm tới, như kiểu một quảng cáo, không có gì phải lo vì trời mưa đã có ô, trời lạnh có áo và ốm đã có… thuốc”. Và tham nhũng đã có…án treo.
Đã có rất nhiều tâm huyết đã được phát biểu tại nghị trường ngày hôm qua. Rằng phải: Tuyên chiến. Vì “hai bên đều chưa xảy ra thương vong gì nhiều”. Phải xem tham nhũng như tội xâm phạm an ninh quốc gia, xem một kẻ nội gián, một kẻ khủng bố như thế nào thì cũng phải được phép áp dụng như vậy để điều tra chống tham nhũng. Rằng phải “Diệt chứ không phòng chống gì nữa”. Phải “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”. Phải “Thay đổi cả cách đánh và người đánh”. Phải “Thành lập cơ quan độc lập chuyên trách điều tra tội phạm tham nhũng”. Điều này nghe thì sướng tai, nhưng nào đâu phải chuyện mới mẻ gì. Bởi, với tư cách là người đứng đầu Chính phủ, Trưởng Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng, Thủ tướng đã chính thức “tuyên chiến” với tham nhũng ngay trong ngày đầu nhậm chức.
Cái mới nhất trong việc “hiến kế chống tham nhũng” tại nghị trường ngày hôm qua là việc ĐBQH TP HCM Võ Thị Dung đề nghị “Ngay tại kỳ họp này, 498 ĐBQH và các thành viên Chính phủ tuyên hứa trước đồng bào sẽ không tham nhũng và đấu tranh quyết liệt với tham nhũng”- bà Dung là người làm công tác Mặt trận. Và đề xuất của ĐBQH Đỗ Văn Đương: “Mở cuộc vận động cao điểm về tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, công chức tiết chế lòng tham”. Rồi thì “dùng con mắt lương tâm xem mình làm giàu bất hợp pháp thế nào. Rồi thì “mở cuộc vận động từ chức”, như một hành vi “Thực sự là anh hùng, vì có lợi cho dân cho nước”- ông Đương là Ủy viên thường trực Ủy ban tư pháp của QH.
Mặt trận thì đề nghị tuyên hứa. Tư pháp thì đề xuất một cuộc vận động. Trước đó thì Chủ tịch nước kêu gọi nhân dân “Không sợ trù úm”. Và Thủ tướng nói về giáo dục “lòng tự trọng”.
Tất cả những điều đó đều cần thiết. Nhưng có hiệu quả hay không lại là chuyện không cần nói cũng biết.
Ông Trần Đình Nhã, một vị tướng hôm qua thậm chí đã khẩn khoản: Xin Quốc hội hãy tỏ rõ thái độ của mình không chỉ bằng lời nói. Bà Nguyễn Thị Khá thì tha thiết “Mong Quốc hội làm rõ tình hình để báo cáo của Chính phủ năm sau không còn lặp lại như bây giờ”.
Xin trân trọng tâm huyết của các vị đại biểu QH. Nhưng có lẽ, chống tham nhũng vẫn là câu chuyện dài nhiều tập, vẫn sẽ là nỗi bức xúc thường niên khi nó vẫn là câu chuyện ở nơi nào đó, của một ai đó. Và quan trọng nhất, người ta không thể, bằng những lời kêu gọi, tiêu diệt được một kẻ thù có quyền, có tiền, có khi cũng đang kêu gọi chống tham nhũng bằng những lời kêu gọi ở một nơi nào đó.
Đào Tuấn

Cần nuôi dưỡng và và khuyến khích tinh thần yêu nước

Từ xa xưa, yêu nước đã là truyền thống của dân tộc Việt Nam. Chỉ kể từ Tống, Nguyên, Minh, Thanh, triều đại nào cũng đem quân xâm lược hòng thôn tính nước ta. Nhờ tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với vua hiền, tướng giỏi, lần nào chúng ta cũng đánh cho chúng đại bại. Kẻ thì chui vào ống đồng mới thoát chết, kẻ thì bỏ cả ấn tín mà chạy. Nước Việt Nam ta nhờ thế mới tồn tại.
Cũng nhờ tinh thần yêu nước mà nhân dân đã theo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản làm Cách mạng tháng Tám thành công, lật đổ ách đô hộ của thực dân Pháp, phát xít Nhật, giành lại độc lập, bản đồ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại xuất hiện trên quả địa cầu.
Cũng nhờ tinh thần yêu nước mà nhân dân ta theo sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ đánh thắng đế quốc Mỹ, hoàn thành độc lập, thống nhất nước nhà.
Ngày nay, năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, năm 1979 đem quân đánh ta, rồi lấn đất của ta, chiếm biển đảo của ta, bắn giết ngư dân ta, xâm phạm chủ quyền của ta thì sao ngăn được tinh thần yêu nước của  nhân dân ta trỗi dậy? Ai là người yêu nước lại không phẫn nộ, chống Trung Quốc? Đến một nữ sinh như cháu Phương Uyên mà cũng có hành động thể hiện lòng yêu nước. Đó là một dấu hiệu tốt. Càng nhiều thanh nên có tinh thần yêu nước là may cho Tổ quốc. Thanh niên là tương lai của đất nước mà! Đất nước thịnh suy, mất còn là ở thế  hệ các cháu và sau này. Cần khuyến khích và nuôi dưỡng tinh thần yêu nước của mọi người, nhất là các cháu thanh niên. Cháu Nguyễn Phương Uyên có vi phạm pháp luật đâu. Cháu không chống Đảng, chống Nhà nước. Cháu chỉ chống và tuyên truyền chống Trung Quốc xâm phạm chủ quyền nước ta thôi. Sao lại bắt cháu? Bắt cháu Phương Uyên là vô đạo lý, là dập tắt tinh thần yêu nước của thế hệ trẻ. Hay là cháu vi phạm lệnh cấm của Thiên triều?
Nếu không phải là chủ trương của Đảng và Nhà nước bắt cháu Phương Uyên mà chỉ là chủ trương của địa phương và công an tự tiện bắt thì thiết tưởng cấp trên nên can thiệp để trả tự do cho cháu về tiếp tục học tập để thành người có ích.
Nguyễn Trọng Vĩnh
Theo Bauxite Việt Nam

Thứ Sáu, ngày 02 tháng 11 năm 2012

Thách thức sự kiên nhẫn của nhân dân


Tại phiên thảo luận về phòng chống tham nhũng sáng ngày 1.11, Phó chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng an ninh Trần Đình Nhã lên tiếng kêu gọi tuyên chiến với tham nhũng.
Vậy là trong mấy ngày liên tiếp, nghị trường nóng ran với những lời vạch mặt tham nhũng, lên án tham nhũng và tuyên chiến với tham nhũng. Sự phẫn nộ của các vị đại biểu cũng chính là lòng oán giận của nhân dân đối với quốc nạn này. Đồng tiền mồ hôi xương máu của nhân dân đã bị bàn tay tham nhũng vét đến độ ngân khố không còn tiền để thực hiện cam kết tăng lương. Tham lam bòn rút tiền của nhà nước mà nếu đem so sánh thì có thể xây dựng được nhiều trường học, bệnh xá phục vụ đời sống, sinh hoạt, học tập và chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng.
Dân biết tỏng các gương mặt tham nhũng nhưng lôi cổ được chúng ra vành móng ngựa quá khó khăn. Nói như cách ví von của đại biểu Nguyễn Bá Thuyền (Lâm Đồng), con mèo ăn vụng cục mỡ thì tóm để quật được, còn con hổ bắt cả con heo thì chẳng ai dám bén mảng đến can thiệp. Bằng chứng là tham nhũng tràn lan, số tiền tham nhũng bị mượn danh thất thoát, lãng phí khổng lồ, nhưng án tham nhũng rất ít, toàn chuyện vặt. Thế mới đại nguy.
Đại nguy ở chỗ nào vậy? Chính là chỗ thách thức sự kiên nhẫn và lòng bao dung của nhân dân. Một khi dân đã không còn sức chịu dựng được nữa thì cực kỳ nguy hiểm. Còn nhớ đợt tiếp xúc cử tri TPHCM ngày 17.10 vừa qua, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhắc lại lời nói bất hủ của Nguyễn Trãi: “Đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”.
Bàn về sự thách thức đó, đại biểu Trần Đình Nhã nói: “”Nghị quyết của Đảng nói rằng tham nhũng đang thách thức sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước. Tôi muốn nói thêm là tham nhũng cũng đang thách thức Quốc hội, nguy hiểm hơn là thách thức sự kiên nhẫn, sự chịu đựng của nhân dân”. Xin lưu ý ở đây là hai chữ “nguy hiểm”.
Một đất nước một thời “ra ngõ gặp anh hùng” giờ đây chỗ nào cũng thấy bóng dáng tham nhũng, hỏi không cay đắng sao được. Giặc ngoại xâm nào dù to lớn mấy cũng đánh thắng được, riêng giặc “nội xâm” thì càng đánh càng thấy giặc đông hơn, mạnh hơn. Sợ nhất là có những tên giặc nội xâm lại núp bóng trong đội quân chống tham nhũng.
Nhưng chẳng lẽ bàn hoài, kêu gọi chống mãi để rồi mỗi kỳ Quốc hội lại đưa ra phân tích, mổ xẻ. Điều mà dân chờ đợi chính là diệt trừ được tham nhũng và dân đã chờ quá lâu, chờ đến mức mất dần kiên nhẫn. Đại biểu Trần Đình Nhã thẳng thắn: “Xin Quốc hội hãy tỏ rõ thái độ của mình không chỉ bằng lời nói”. Và theo ông Nhã, thái độ cụ thể là Quốc hội lập cơ quan độc lập chuyên trách điều tra tội phạm chống tham nhũng. Cơ quan này chỉ tập trung vào điều tra các tội tham ô, hối lộ và lợi dụng chức vụ quyền hạn.
Hy vọng Quốc hội sẽ lắng nghe đề xuất này để có một cơ quan thực hiện quyền lực của Quốc hội trong việc phòng chống tham nhũng..
Lê Chân Nhân
Theo Dân Trí

Ma trận của Bộ trưởng Vương Đình Huệ

Trước Quốc hội ngày hôm qua, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ khiến cử tri và nhân dân lạc vào “ma trận” khi tung ra hàng loạt những thuật ngữ kiểu “tỷ lệ động viên thuế phí”, rồi “ngân sách”, rồi “% GDP”.
Thưa Bộ trưởng, cả nước chỉ có hơn 24 ngàn tiến sĩ, mà cũng không phải tất cả đều là tiến sĩ kinh tế để có thể hiểu được điều ông nói.


Tóm lại, ý Bộ trưởng muốn nói thuế phí ở Việt Nam không phải cao gấp từ 1,4 đến 3 lần khu vực như báo cáo của Ủy ban Kinh tế. Bởi các nước chỉ tính thuế trên ngân sách TƯ, trong khi ở ta, tính tất, cả từ việc bán tài nguyên là dầu thô, đất đai, lẫn viện trợ.

Những con số mà Bộ trưởng thậm chí dùng “GDP” để nói, thật ra khiến người dân mù tịt. Và đã mù tịt thì làm sao có thể thuyết phục được họ tin. Nhưng dường như việc sử dụng “thuật ngữ ma trận” không hoàn toàn tình cờ. Bởi khi khẳng định thuế phí ở Việt Nam chỉ ở mức trung bình so với thế giới và khu vực, thì Bộ trưởng lại “quên” không so sánh thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam so với thế giới và khu vực.

Cách đây chưa lâu, đề tài khoa học cấp nhà nước do Đại học Kinh tế quốc dân thực hiện theo yêu cầu của Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội đã chỉ ra một thực tế: GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo PPP chưa bằng 1/2 của Philippines, hay Indonesia, khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/10 của Malaysia. Còn Còn theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore. Nhưng không chỉ những con số đang cho thấy sự “trời vực” về thu nhập giữa người dân Việt Nam so với khu vực, châu Á, và thế giới mà chất lượng sống của người Việt Nam cũng đang bị đánh giá là “suy giảm” và “có nguy cơ tụt lại phía sau” so với các nước.

Sự “suy giảm”, “tụt lại phía sau” biểu hiện ngay trong chính thứ mà Bộ trưởng Huệ cũng đã sử dụng ngày hôm qua “giá thế giới”. Cụ thể hơn, trong khi thu nhập và chất lượng sống thấp thì các giá cả hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam đang được tính toán và so sánh nhằm hướng tới “hội nhập” với giá cả thế giới. Chẳng hạn như giá xăng, thứ giá mà Việt Nam đang hướng và quản lý “theo giá thế giới”- như khẳng định của Bộ trưởng Huệ. Hoặc giá điện “thấp hơn giá thế giới” mà vài hôm nữa, thế nào Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cũng sẽ kêu than.

Sự suy giảm và tụt lại về mặt thu nhập và đời sống, so với mức thuế phí được thanh minh là “trung bình so với thế giới và khu vực” đang cho thấy tư duy trong việc hoạch định các chính sách liên quan đến thuế phí là rất thiếu công bằng với đời sống người dân. Không nói đâu xa, khi quyết định số tiền lương tăng thêm 100 ngàn (mà cũng chỉ cho 8 triệu đối tượng) thì Bộ Tài chính cũng quyết thu đúng 100 ngàn theo kiểu “bổ đầu” đối với hơn 40 triệu chiếc xe máy, thực ra là đôi chân, là chiếc cần câu cơm của dân chúng. Thậm chí, xe đạp điện cũng không được tha.

Người dân sẵn sàng chia sẽ khó khăn với ngân sách nhà nước. Nhưng dứt khoát đó không phải là từ việc tư lệnh ngành tài chính đưa ra một thứ “ma trận” để cử tri và nhân dân thực lạc vào đó mà không biết đầu cua tai nheo thế nào. Lại càng không thể chỉ nói đến chuyện “nộp” như thế là chưa nhiều, mà không quan tâm đến việc họ “có” bao nhiêu trong túi, và những đồng tiền kiếm bằng mồ hôi nước mắt đó có đủ đảm bảo cuộc sống tối thiểu hay không.
Đào Tuấn
Theo Đào Tuấn blog

Thứ Năm, ngày 01 tháng 11 năm 2012

Án tù cho nghệ sĩ, có sợ không?


Sau khi toà xử nhạc sỹ Việt Khang 4 năm tù và đồng nghiệp của anh, nhạc sỹ Trần Vũ Anh Bình, 6 năm tù vì tội “Tuyên truyền chống Nhà nước” tôi đã nghe lại hai bài hát của anh: “Việt Nam tôi đâu” và “Anh là ai”. Ở thời điểm khi hai bài hát này ra đời tôi tin đó là “nỗi lòng” của Việt Khang trước việc “Trung Quốc đang hoành hành trên Biển Đông”. Theo toà thì hai anh còn tham gia một tổ chức có tên “Tuổi trẻ yêu nước”. Cho dù “tổ chức này có mục đích tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam” như các anh thừa nhận thì “cá thể hoá trách nhiệm hình sự” là một nguyên tắc bất di bất dịch của tố tụng. Người dân có thể bất tín nhiệm một đảng vì tình trạng tham nhũng nhưng chỉ có thể bỏ tù từng cá nhân bởi những hành vi tham nhũng mà các cơ quan tố tụng có thể chứng minh. Cũng như sinh viên Nguyễn Phương Uyên, cho dù có ai đứng sau thì em cũng chỉ phải chịu trách nhiệm về những tờ truyền đơn chống Trung Quốc (nếu đó là của em). Các điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán phải nhớ, nay anh có thể nấp sau một tổ chức để bất chấp luật pháp nhưng ngày mai thì lịch sử sẽ buộc các anh phải chịu trách nhiệm cá nhân về những phán quyết của ngày hôm nay. Osin HuyDuc
Một ngày sau phiên xử án hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình ở Saigon, tôi gọi điện cho một anh bạn nhà văn và hỏi đùa “Nghe án tù cho nghệ sĩ chưa? Sợ không?”. Tôi nghe bên kia đầu dây bật lên một tiếng cười sảng khoái, một giọng cười miền Nam an nhiên.
Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình có lẽ cũng đã an nhiên nhận những mức án rất nhiều năm cho các bài hát của họ – những bài hát hoàn toàn phản ánh hiện thực đời Việt Nam hơn là thù địch, chống phá gì đó như lời của những vị quan tòa không rõ mặt đã nêu trong buổi sáng ngày 30-10-2012. Những bài hát đã vụt nổi tiếng bất ngờ ngay sau tiếng búa tòa, vượt quá tầm kiểm soát của những người căm ghét nó, hoặc đang giả vờ căm ghét nó.
Đây không phải là lần đầu tiên giới nghệ sĩ Việt Nam chứng kiến những án tù cho đồng nghiệp của mình. Từ những năm xa xôi của thế kỷ 20, người ta đã chứng kiến án tù cho Hoàng Hưng, Phan Đan, Đặng Đình Hưng… những lưu đầy của Phùng Quán, Văn Cao… Sau năm 1975, đã lần lượt có các án tù cho Doãn Quốc Sỹ, Duyên Anh, Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu… nhưng rất lâu rồi, chuyện bắt tội một nghệ sĩ với quyền tự do sáng tác của họ trở thành chuyện xa xưa, tưởng chừng như đã chỉ còn trong những ngày tháng mông muội nào đó.
Nói như vậy, để hiểu rằng trong lịch sử riêng của giới văn nghệ sĩ Việt Nam, án lệ và lao tù không phải là chuyện lạ. Nhưng dường như bất chấp những nguy nan đó, bản năng sáng tạo và phản ánh hiện thực của giới nghệ sĩ qua cách viết, cách hát, vẫn xuất hiện một cách rất an nhiên.
Việc bắt giữ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình đã tạo nên một làn sóng phản ứng khó lường. Thậm chí với cộng đồng người Việt đã xa quê hương và xa những con người Việt thế hệ mới trong nước, họ cũng đã bày tỏ sự sửng sốt của mình, khi nghe có những con người đang đối diện với lao tù chỉ vì ca hát, bằng cách xuống đường và chia sẻ những chữ ký hết sức ấn tượng.
Nhưng đâu chỉ là chuyện người Việt với nhau, tuy xa cách địa lý, nhưng dường như sợi dây vô hình của nền văn minh loài người đều tạo ra những phản ứng nối kết tương đồng, như cái cách thế giới đã phản ứng trước việc cô bé Malala Yousafzai bị Taliban bắn vào đầu hay việc Putin cho giam giữ nhóm nhạc Pussy Riot.
Đôi khi những phán quyết đưa ra, nó không chỉ làm hủy hoại đời của một con người, mà ngược lại còn có thể tạo ra một lực phản hồi, phá hủy mọi danh tiếng và sự bền vững của hệ thống đưa ra bản án đó.  Chưa bao giờ viên đạn của phe Taliban đã bắn vào đầu của cô bé Yousafai, 14 tuổi, trở thành viên đạn bắn thẳng vào lương tâm thế giới như lúc này. Chưa bao giờ người ta nhìn ra sự tồi tệ của chính quyền công an trị Putin ở nước Nga như lúc này, qua song sắt của cả 3 cô gái nhóm Pussy Riot. Và ở Việt Nam, chưa bao giờ những kẻ bị kết án là Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình lại được quan tâm, chia sẻ như bây giờ.
Đôi khi, tôi tự hỏi không biết những người soạn bản án cho Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình có thật sự lắng nghe những bài hát của họ hay không? Vì nếu chỉ dựa trên những con chữ để định đoạt số phận, tôi nghĩ công bằng nhất là nên mở một loạt phiên tòa nghiên cứu tái xét xử tất cả các nghệ sĩ, hay dễ dàng hơn là với các nhạc sĩ Việt Nam, từ Trịnh Công Sơn đến Phạm Duy và nhiều người khác nữa. Dĩ nhiên, trong đó có cả tôi.
Có lẽ trong phiên toà, những người xét xử cũng ngại ngùng và cố gắng tránh đi công việc ấu trĩ đó, nên đã không dành thời gian bàn sâu về các bài hát, mặc dù án vẫn định. Lẽ ra những bài hát đó phải được mở lên ngay tại toà, hoặc photo đầy đủ cho tất cả mọi người xem – nghe, như một chứng cứ cụ thể.
Nói tới lắng nghe, tôi chợt nhớ đến nhiều tình huống khó quên. Trong Schindler’s list  của đạo diễn Steven Spielberg, khi những tên lính phát xít Đức đang rầm rộ tiến vào các ngôi nhà của người Do Thái, đã đứng sững và lặng yên nghe đến lúc dứt khúc nhạc dương cầm của một người đánh đàn tuyệt vọng. Hoặc trong phim the Pianist của đạo diễn Roman Polanski, viên sĩ quan Đức Quốc Xã đã lột bỏ toàn bộ trạng thái thù địch để lắng nghe một nghệ sĩ Do Thái đàn những khúc nhạc được sáng tác [từ] các quốc gia đang đối đầu như Nga hay Ba Lan. Kẻ thù vẫn biết lắng nghe nhau, chẳng lẽ những người chung dòng máu và khát vọng dân tộc lại câm điếc với nhau?
Trong các tuyên bố chính trị ở Việt Nam lúc này, người ta hay đọc thấy cụm từ “nhóm lợi ích”. Rõ ràng là phải có những nhóm lợi ích kinh tế bí mật nào đó đang đục khoét quốc gia và đang bị đánh động. Nhưng liệu có hay không những nhóm lợi ích bí mật về chính trị nào đó, đang cảm thấy bị bối rối và tức giận trước những cảnh báo về hiện thực tổ quốc từ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, nên đã vội vàng khép tội họ? Nếu không, tôi hoang mang tự hỏi, họ đã phạm tội gì khi hát bằng tình yêu tổ quốc mình?
Những con người đó không làm chính trị. Họ chỉ phản ánh hiện thực xã hội theo cảm nhận nghệ sĩ của mình. Quyền phản ánh hiện thực – không phản bội lại nhân cách của mình, là một giá trị tuyệt đối của người nghệ sĩ. Quyền đó được nhìn nhận bằng lương tâm và giá trị văn minh của con người, bất chấp một thể chế chính trị nào phủ nhận nó. Chà đạp và từ chối quyền đó, cũng đồng nghĩa vinh danh giá trị của người nghệ sĩ và khẳng định thêm về sự trì trệ và lạc hậu của chính hệ thống đương trị.
31-10-2012
Tuấn Khanh

“Có đôi đảng viên như những con lợn”

“Tham ô là có tội, song lãng phí chỉ là một khuyết điểm”. Hình như bài học của ông Cụ 60 năm trước vẫn là câu chuyện thời sự của ngày hôm nay.
Tháng 3-1952, nhân dịp Đảng mở đợt vận động “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có bài nói quan trọng trước đội ngũ cán bộ cấp cao của Đảng: Thậm chí, ông Cụ đã nói rất nặng lời về việc: “Có đôi đảng viên như những con lợn (xin lỗi tiếng đó), họ rúc vào vườn rau của Nhà nước, chén một bữa no say”. Và: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, bộ đội và Chính phủ. Nó là kẻ thù khá nguy hiểm. Vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta để làm hỏng công việc của ta”.
Sáng nay, khi Quốc hội thảo luận công khai trước ống kính truyền hình trực tiếp và sự theo dõi của hàng triệu cử tri, ĐBQH Lê Như Tiến đã nhắc lại lời cụ Hồ. Nỗi lo toan của ĐBQH Lê Như Tiến, cũng như của cử tri, của nhân dân đối với tham nhũng là không thừa. Khi mà thứ “Quốc nạn” đó có hình hài, có con số rõ ràng: Có từ 32-53% người dân được hỏi từng chứng kiến việc đưa hối lộ. 25-40% doanh nghiệp cũng thừa nhận phải trả chi phí không chính thức hàng năm hơn 2% doanh thu. Đây là con số được đưa ra 1 ngày trước (29.10), trong hội thảo “Đối thoại Phòng chống tham nhũng lần thứ 11″ cho khu vực miền Trung – Tây Nguyên do Văn phòng Ban chỉ đạo TƯ về Phòng chống tham nhũng và Đại sứ quán Anh quốc tại Việt Nam phối hợp tổ chức.
Xin hãy lưu ý đến chi tiết người dân “từng chứng kiến việc đưa hối lộ”.
Những con sâu, những bầy sâu, rất khó phát hiện trong các cuộc kiểm thảo. Nhưng trước con mắt nhân dân, nó hiển hiện công khai trắng trợn với hình ảnh “cướp ngày” muôn năm đúng. Những bộ phận không nhỏ, những tập đoàn tham nhũng rất khó xác định trong các cuộc chiến trên văn bản, nhưng ở ngoài đời sống, nó khôi ngô bảnh chọe và đầy quyền lực trong hình hài cụ thể là những người “có quyền và có tiền”.
Nhưng điều nguy hiểm không kèm mà vị dân biểu nói đến sáng nay, là thứ “anh em sinh đôi của tham nhũng”. Đó là lãng phí- cũng một kẻ thù không mang gươm, mang súng. Cặp sinh đôi này “Biến đất công thành đất tư, tiền công thành tiên tư”, làm “Suy kiệt nhựa sống xã hội”. Địa chỉ cụ thể của lãng phí là các DNNN, là Vinashin với món nợ 107 ngàn tỷ đồng, là những nghiên cứu khoa học “Đóng bìa cứng mạ chữ vàng” và chết cứng trong các thư viện khi mà kết quả nghiên cứu được ứng dụng trong thực tiễn chỉ đạt 30%. Lãng phí còn là hàng triệu tấn sắt thép, xi măng đang nằm dãi dầu mưa gió. Là hàng trăm ngàn tỷ đồng từ đất bị chôn vùi xuống đất. Là vệ tinh Vinasat trị giá 250 triệu USD, tức hơn 250 ngàn tỷ đồng, trong đó có tới 80% vốn vay đang chưa lấp đầy ¼ băng tần, trong khi nhiều tổng công tiếp tục xin đầu tư hạ tầng trên mặt đất.
Kẻ thù không mang gươm mang súng, kẻ thù vô hình trên giấy tờ nhưng trắng trợn ngoài đời sống này đang khiến các DN “đột quỵ, chết lâm sàng, mất khả năng đề kháng”, khiến hàng triệu lao động “Ở Công ty mất việc, về quê mất đất, đi vướng núi, về vướng sông”, khiến 22 triệu lao động đang khắc khoải vì Chính phủ “xin khất tăng lương”.
“Lãng phí thì không trực tiếp ăn cắp, ăn trộm của công, nhưng kết quả tai hại đến tài sản của Nhà nước của tập thể, thì lãng phí cũng có tội. Tham ô là trộm, cướp, lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất tai hại cho nhân dân, cho chính phủ, có khi còn tai hại hơn tham ô”- 60 năm trước, Cụ Hồ đã nói thế.
Và điều nguy hiểm nhất đó, ngày hôm nay, trong hiện tại, được dân biểu Nguyễn Như Tiến trích dẫn như một căn bệnh di căn trong tư duy quản lý: “Tham ô là có tội, song lãng phí chỉ là một khuyết điểm”.
Hình như bài học của ông Cụ 60 năm trước vẫn là câu chuyện thời sự của ngày hôm nay.
Đào Tuấn

Thứ Tư, ngày 31 tháng 10 năm 2012

Lịch sử sẽ phán xét


Mình không tin bất kì một phán xét nào của phiên tòa nếu như phiên tòa đó diễn ra thiếu minh bạch. Phiên tòa xử hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, theo bác Lê Hiếu Đằng kể lại (tại đây) nó na ná phiên tòa xử  Cù Huy Hà Vũ ở Hà Nội: “Nói là phiên tòa công khai nhưng không khí rất là căng thẳng. Công an dàn lực lượng ra để đối phó với những người đi tham dự phiên tòa. Nếu đã nói công khai minh bạch, tại sao không cho dân người ta tham dự ? Và nếu không cho nhân dân tham dự, thì ít nhất cũng phải cho người thân được tham dự. Nhưng gần đây, có hiện tượng, ngay cả những người thân, ví dụ sáng nay chẳng hạn, những người thân của anh Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình lại không được dự”. Sự thiếu minh bạch của phiên tòa chỉ xảy khi  mấy ông quan tòa không có lý do chính đáng để kết tội một công dân yêu nước. Đó là một điều chắc chắn.
Trên FB Huy Đức đã viết status thể hiện rất rõ ràng quan điểm của anh, như thế này:
“Sau khi toà xử nhạc sỹ Việt Khang 4 năm tù và đồng nghiệp của anh, nhạc sỹ Trần Vũ Anh Bình, 6 năm tù vì tôi “Tuyên truyền chống Nhà nước” tôi đã nghe lại hai bài hát của anh: “Việt Nam tôi đâu” và “Anh là ai”. Ở thời điểm khi hai bài hát này ra đời tôi tin đó là “nỗi lòng” của Việt Khang trước việc “Trung Quốc đang hoành hành trên Biển Đông”.
Theo toà thì hai anh còn tham gia một tổ chức có tên “Tuổi trẻ yêu nước”. Cho dù “tổ chức này có mục đích tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam” như các anh thừa nhận thì “cá thể hoá trách nhiệm hình sự” là một nguyên tắc bất di bất dịch của tố tụng.
Người dân có thể bất tín nhiệm một đảng vì tình trạng tham nhũng nhưng chỉ có thể bỏ tù từng cá nhân bởi những hành vi tham nhũng mà các cơ quan tố tụng có thể chứng minh. Cũng như sinh viên Nguyễn Phương Uyên, cho dù có ai đứng sau thì em cũng chỉ phải chịu trách nhiệm về những tờ truyền đơn chống Trung Quốc (nếu đó là của em).
Các điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán phải nhớ, nay anh có thể nấp sau một tổ chức để bất chấp luật pháp nhưng ngày mai thì lịch sử sẽ buộc các anh phải chịu trách nhiệm cá nhân về những phán quyết của ngày hôm nay.
“Lịch sử  sẽ phán xét” là câu cửa miệng của dân Việt ta thời này, chưa thời nào lời nhắc nhở  và đe nẹt “lịch sử sẽ phán xét” lại nhiều như thời này. Nhưng lời đe nẹt ấy chẳng làm cho quan tòa chùn tay. Những kẻ ăn xổi ở thì đâu có thèm để ý đến sự phán xét của lịch sử, quan thầy của họ mới đáng kể, là trước tiên và trên hết. Ai muốn nói gì thì nói, kệ sư bố chúng mày!
Thế đấy, đối với trâng tráo và trơ trẽn thì lịch sử  phán xét chỉ là cái đinh gỉ.
Nguyễn Quang Lập
Theo Quê Choa

Trấn áp không dập tắt được những tiếng nói yêu nước phản kháng

Anh là người Việt Nam, thì anh đứng về phía Việt Nam hay phía Trung Quốc ? Trong khi mà chúng tôi biểu tình chống Trung Quốc (gây hấn), chứ không phải biểu tình chống Việt Nam, theo Trung Quốc, nhưng mà các anh lại đi đàn áp chúng tôi là những người đi biểu tình, cũng như bây giờ bắt bớ anh Việt Khang và xử 4, 5 năm tù. Thế thì anh đứng về phía ai ? Anh đứng về phía Trung Quốc, hay đứng về lợi ích tối cao của đất nước Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam ?
Phiên tòa xử hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình vừa kết thúc sáng hôm nay 30/10/2012. Giống như nhiều người bày tỏ thái độ chống Trung Quốc xâm lược một cách quyết liệt trong thời gian gần đây, tòa án Việt Nam lại dành cho hai nhạc sĩ nhiều năm tù với tội danh « tuyên truyền chống Nhà nước ».
Bình luận về vụ án Việt Khang trong bối cảnh xẩy ra nhiều vụ bắt bớ và kết án tù những người bất đồng chính kiến tại Việt Nam, từ TP Hồ Chí Minh, luật gia Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho biết ý kiến.
RFI : Xin kính chào luật gia Lê Hiếu Đằng. Phiên tòa xét xử hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình vừa kết thúc. Xin luật gia cho biết nhận định của ông về phiên tòa này.
Ông Lê Hiếu Đằng : Phiên tòa sáng nay xét xử nhạc sĩ Việt Khang và nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình thì cũng như tất cả các phiên tòa khác, như phiên tòa xử anh Cù Huy Hà Vũ, hay mới đây xử 3 blogger (Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải). Nói là phiên tòa công khai nhưng không khí rất là căng thẳng. Công an dàn lực lượng ra để đối phó với những người đi tham dự phiên tòa. Nếu đã nói công khai minh bạch, tại sao không cho dân người ta tham dự ? Và nếu không cho nhân dân tham dự, thì ít nhất cũng phải cho người thân được tham dự. Nhưng gần đây, có hiện tượng, ngay cả những người thân, ví dụ sáng nay chẳng hạn, những người thân của anh Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình lại không được dự. Tôi nghĩ là điều đó là không có dân chủ. Nhất là đối với lực lượng báo chí thì chúng ta cứ cho tham gia, kể cả báo chí nước ngoài nói chung.
Nếu nhà nước thấy rằng việc làm của mình đúng đắn, tự tin, thì mình làm công khai minh bạch, cho nhiều người tham gia càng tốt, thì cái việc làm mình nó sáng tỏ. Còn nếu thấy việc làm chưa đủ tự tin, hay là như thế nào đó, mà lại úp úp mở mở, và dàn hết lực lượng cảnh sát công an ra để ngăn chặn, thì tôi cho là cái này rất là « thất chính trị ». Anh có thể thắng, theo nghĩa nào đó, là xử tù người ta. Nhưng cái mất của anh rất lớn, là mất lòng tin của dân, và ảnh hưởng đến uy tín của nhà nước Việt Nam. Nhất là trong thời buổi này, vấn đề nhân quyền, vấn đề bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân tất cả các nước đang là một vấn đề mà người ta đều rất quan tâm với xu thế tiến bộ hiện nay.
RFI Vừa rồi, như ông biết, tại Việt Nam diễn ra một loạt các vụ xét xử hay bắt bớ, với nhiều án tù với tội danh chống Nhà nước. Phải chăng có một chủ trương trấn áp thực sự, một làn sóng trấn áp của chính quyền đối với những người bất đồng chính kiến ?
Ông Lê Hiếu Đằng : Tôi cho rằng, đứng trước đòi hỏi chính đáng của người dân, trước phong trào đấu tranh vì dân chủ, vì tiến bộ xã hội, đấu tranh để thực hiện các quyền tự do dân chủ của công dân đã được quy định trong Hiến pháp, thì thay vì đáp ứng lại các đòi hỏi chính đáng ấy, cũng như các đòi hỏi về ruộng đất của nông dân, thì chính quyền lại dùng các biện pháp trấn áp. Bắt bớ, đàn áp, đạp vào mặt người biểu tình, bắt người dân, hay đàn áp các cuộc đấu tranh của nông dân Văn Giang, Hải Phòng, Nam Định… hay một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
Thế thì cái này đem đến một hậu quả như thế nào, thì chúng ta đã biết rõ. Đó là làm cho lòng dân ngày thêm bất bình, chứ nó không đi đến đâu cả. Mặc dầu anh dùng những bản án nặng nề đối với Cù Huy Hà Vũ, đối với 3 blogger vừa rồi, rồi đối với một số người đấu tranh khác, và sáng nay là Việt Khang. Có tin là 4 năm tù, có tin là 5 năm tù. Còn anh Anh Bình thì 6 năm tù gì đó.
Tôi thấy những cái bản án đó rất nặng nề so với những gì các anh, các chị ấy đã làm. Có lẽ người ta muốn dùng các biện pháp phát xít để mà làm cho người dân, để làm cho giới trí thức, giới văn nghệ sĩ phải sợ, không hưởng ứng phong trào đấu tranh vì dân chủ, vì tiến bộ xã hội, đấu tranh chống lại cường quyền hiện nay trên đất nước Việt Nam.
Nhưng tôi nghĩ, dân tộc Việt Nam có truyền thống, anh càng trấn áp, thì… Mà chính tôi đi làm cách mạng, và chính các vị lãnh đạo cách mạng đã nói với tôi đấy : « Ở đâu có áp bức, thì ở đấy có đấu tranh thôi ». Anh dùng cái biện pháp đó thì cũng không thể nào dẹp được phong trào đấu tranh hiện nay, mà anh phải bằng chính nghĩa của anh, phải bằng sự minh bạch của anh.
RFI Thưa ông, vừa rồi ông có nói đến việc tòa kết án hai nhạc sĩ thì quá nặng so với hành động của họ. Không biết như vậy ông muốn nói rằng, họ cũng có thể bị kết một cái án nhất định trong chế độ hiện hành, hay ý ông muốn nói rằng, cần phải có một sự khoan hồng từ phía Nhà nước ?
Ông Lê Hiếu Đằng : Tôi có trên tay hai bản nhạc của nhạc sĩ Việt Khang. Thì hai bản nhạc này không có nội dung gì nghiêm trọng cả. Bởi vì hiện nay, còn có nhiều người nói nặng nề hơn nữa. Ví dụ như, tôi đọc một đoạn trong bài « Việt Nam tôi đâu ? », « Già trẻ, gái trai, giơ cao tay chống xâm lược, chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam ». Tôi nghĩ có lẽ « Nhà nước » xử cái câu sau đấy, có đúng không ?
Giơ tay chống « xâm lược », « xâm lược » ở đây người ta hiểu là chống Trung Quốc, những thành phần hiếu chiến Trung Quốc, còn việc « chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam », thì nếu ai nhu nhược thì người đó phải chịu, có phải không ? Nói « nhu nhược » đây anh cho là ám chỉ Nhà nước mình, vậy Nhà nước mình có nhu nhược hay không nhu nhược mà lại phải xử án ? Nếu chúng ta không nhu nhược, thì bằng hành động của chúng ta, chúng ta phải chứng tỏ là chúng ta không nhu nhược. Chúng ta phải chứng minh cho nhân dân biết là nhạc sĩ Việt Khang nói vậy đấy, nhưng tôi không nhu nhược đây, bằng các hành động chống lại việc nó bức bách ngư dân này, cho báo chí phản bác lại một cách công khai luận điệu hiếu chiến của bọn cầm quyền Trung Quốc, hay trên báo chí, ví dụ như tờ báo Hoàn cầu của Trung Quốc chẳng hạn. Thì anh làm như vậy, thì làm sao nói anh nhu nhược được ?
Thậm chí nhiều người còn dùng những chữ còn mạnh mẽ hơn cả Việt Khang nữa như « hèn nhát ». Nhiều người đây là nhiều quan chức, đảng viên cũng dùng chữ đó, chứ không phải chỉ là những người bình thường đâu. Thì như vậy đâu phải là một tội nặng nề, thậm chí không phải là tội nữa. Mà đó là một sự phê phán, bằng âm nhạc phê phán thái độ chưa thỏa đáng của Nhà nước mình đứng trước hành động xâm lược trắng trợn của Trung Quốc.
Cứ nói “16 chữ vàng, 4 tốt“. Cái miệng thì nói như vậy, nhưng hành động thì xâm lược. Thậm chí còn những mưu toan xâm lấn trên bộ, như đưa người vào đứng chân ở những vị trí chiến lược của Việt Nam, thậm chí lũng đoạn về mặt kinh tế và chính trị nữa, làm dân Việt Nam phải lo cái đó.
Mà nhạc sĩ Việt Khang nói lên cái tâm trạng đó của người dân Việt Nam, nhất là giới trẻ Việt Nam hiện nay. Cũng như vừa rồi em Nguyễn Phương Uyên bị bắt, một số nhân sĩ trí thức chúng tôi đang tính sẽ có một tuyên bố về vấn đề này, cũng như tuyên bố về vấn đề bắt bớ hiện nay, để tỏ thái độ chính trị của chúng tôi trước những hành động không đúng mức của Nhà nước.
Trong bài hát thứ hai : « Xin hỏi anh là ai ? » « Xin hỏi anh là ai ? Sao anh bắt tôi ? Tôi làm điều gì sai ? Xin hỏi anh là ai ? Sao bắt tôi chẳng một chút nương tay ? Xin hỏi anh là ai ? Sao không cho tôi xuống đường để bày tỏ… », tôi thấy là, nếu mấy anh công an, hay Nhà nước chúng ta thấy rằng, đây là ám chỉ lực lượng công an, hay là như thế nào thì tôi thấy… Mà nói thẳng là, đấy là chưa nói việc công an, quân đội là con em của nhân dân, là con em của những nông dân, tại sao lại đàn áp nông dân ở Văn Giang, tại sao lại trấn áp gia đình anh Vươn ở Hải Phòng ? Rồi tại sao lại đạp vào mặt anh Đức (Nguyễn Chí Đức) ở Hà Nội, rồi bắt những người yêu nước ở Sài Gòn ? Hôm tôi biểu tình, tôi chứng kiến bắt người như bắt một con heo.
Thì những câu hỏi này làm cho những người công an phải suy nghĩ. Anh là người Việt Nam, thì anh đứng về phía Việt Nam hay phía Trung Quốc ? Trong khi mà chúng tôi biểu tình chống Trung Quốc (gây hấn), chứ không phải biểu tình chống Việt Nam, theo Trung Quốc, nhưng mà các anh lại đi đàn áp chúng tôi là những người đi biểu tình, cũng như bây giờ bắt bớ anh Việt Khang và xử 4, 5 năm tù. Thế thì anh đứng về phía ai ? Anh đứng về phía Trung Quốc, hay đứng về lợi ích tối cao của đất nước Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam ?
(Có) những người phải trả lời trước lịch sử, trước nhân dân về vấn đề này. Với việc sử dụng tòa án, trấn áp anh cũng không dẹp tắt được ngọn lửa yêu nước của nhân dân Việt Nam đâu. Nó sẽ bùng lên thôi chứ không thể nào dập tắt được. Tôi nghĩ như vậy.
Với hai bài nhạc này, tôi đánh giá là anh Việt Khang chẳng có tội gì hết. Các sáng tác của anh Trần Vũ Anh Bình thì tôi chưa được biết.
Nếu mà với các bản nhạc này mà có tội, thì bản thân rất nhiều người Việt Nam hiện nay đang có tội, kể cả các vị lão thành cách mạng, như tướng Vĩnh, hay những người thường hay phát biểu trên các phương tiện công khai. Ví dụ như tôi nói anh Trần Mạnh Hảo, trước đây là nhà thơ, bộ đội, đã từng đi chiến đấu. Anh ấy có cả những bài thơ còn quyết liệt hơn cả cái này nữa. Và còn nhiều người nữa chứ không chỉ có anh Trần Mạnh Hảo.
Thế thì sao ? Nếu bắt thì có lẽ là Nhà nước Việt Nam không đủ các nhà tù để giam chứa những người yêu nước hiện nay trên cả nước, trong đó có Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh. Ví dụ như, ký tên vào các kiến nghị vừa rồi, thì có hàng ngàn người, thì anh giam hàng ngàn người đó đi. Những tư tưởng này (trong hai bài hát của Việt Khang) thì cũng như vậy đi.
Thành ra tôi cho rằng, cái biện pháp trấn áp phát xít, bắt bớ giam cầm có tác dụng ngược, rất là nguy hiểm. Nó rất có hại cho chính quyền Việt Nam.
Với tư cách một công dân, tôi đề nghị từ ông Tổng bí thư cho đến Chủ tịch nước cho đến các lãnh đạo cao cấp khác phải xem xét lại vấn đề này một cách nghiêm túc, để mà ngăn chặn cái làn sóng, nếu như anh nói có cái làn sóng đó, mà đúng là hiện nay có cái làn sóng đàn áp bắt bớ đối với những người yêu nước, đối với những người khác chính kiến.
Chúng ta phải có thói quen như thế giới hiện nay là phải tôn trọng các ý kiến khác nhau, vấn đề khác chính kiến là điều rất bình thường. Miễn là chúng ta đấu tranh trong hòa bình, không bạo lực, không gây chết chóc. Chúng tôi phản đối hoàn toàn những ai muốn gây chết chóc đổ máu.
Đấu tranh bằng tiếng nói, bằng biểu tình, bằng những gì mà luật pháp đã cho phép, thì tôi nghĩ rằng Nhà nước phải tôn trọng. Nếu không, Nhà nước sẽ đẩy một số người, vì không có các hoạt động…, họ lại đi vào các hoạt động khác, nó tại hại hơn, thì lúc đó là… đó là những bất ổn chính trị hết sức nghiêm trọng.
Xin chân thành cảm ơn ông Lê Hiếu Đằng.
30-10-2012
Trọng Thành thực hiện

Ăn xin ngoài đường và khoảng trống trong luật

“Việc để cho quần chúng đi ăn xin giữa đường đã là không được”. Ăn xin giữa đường thì không được. Còn khoảng trống về quyền con người cơ bản trong luật thì được?.
Có một chi tiết đáng chú ý trong Hiến pháp sửa đổi lần này, đó là “Quyền con người”, “quyền công dân” được đưa ngay trong chương II, thay vì là chương V như Hiến pháp 1992.

Người coi đó là chuyện nhỏ, thì đúng là 1,2, hay 5 chỉ là số thực tự thông thường. Nhưng trong đạo luật quan trọng nhất của một quốc gia là hiến pháp, đó là thứ tự tự không theo bảng chữ cái A, B, C. Và hơn cả số thứ tự, nó cho thấy nhận thức tiến bộ và văn minh của các nhà làm luật.

Tiến bộ như 56 năm trước, trong bản Hiến pháp đầu tiên, quyền và nghĩa vụ công dân được quy định ngay tại chương II. Văn minh ở chỗ, quyền con người được nâng cấp trong thang bậc thứ tự quan trọng của đạo luật gốc như những điều mà thế giới đã làm từ thế kỷ trước.

Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3.9.1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ…”.Hiến pháp, theo tư tưởng của ông Cụ, được PGS, TS. Tường Duy Kiên, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh dẫn lại: “là đạo luật bảo vệ quyền con người”.

Nhưng mãi cho đến năm 1992, lần đầu tiên “quyền con người” mới được thừa nhận trong Hiến pháp 1992, và theo TS Kiên, chủ yếu là để “làm công tác đối ngoại”. Hoặc đó là những “quy định quá chung về quyền con người; chưa phân biệt rõ quyền con người, quyền công dân; chưa xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người”- như đánh giá của Báo cáo tổng kết thi hành Hiến pháp 1992.

Dự thảo hiến pháp được trình bày tại QH sáng nay, đã có hàng loạt điều chỉnh quy định các chi tiết về quyền công dân, quyền con người:

Quyền con người, quyền công dân được Nhà nước và xã hội thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ; Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội vì bất kỳ lý do nào; Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật gia đình và bí mật cá nhân; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình; Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý; Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Và “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.

Những chế định đó hoặc được chi tiết hóa, cụ thể hóa, “mới tinh hóa” trong bản dự thảo, đọc nghe thật thích.

Nhưng để sự tiến bộ trong đạo luật gốc trở thành thực tiễn trong cuộc sống, có lẽ cũng không hề đơn giản. Còn nhớ hồi tháng 11 năm ngoái, với tư cách là người có sáng kiến xây dựng Luật Biểu tình, Thủ tướng Chính phủ đã nói, rất giản dị rằng: Một dự án luật điều chỉnh hoạt động tuần hành, biểu tình là cần thiết vì thực tế đang đòi hỏi và Luật Biểu tình là thực hiện theo Hiến pháp, với quy định công dân được biểu tình. Chính phủ chấp nhận Luật Biểu tình, Thủ tướng Chính phủ thậm chí là người có sáng kiến xây dựng luật, dù có thể các cuộc biểu tình sẽ là nơi nhân dân tỏ thái độ, hoặc ủng hộ, hoặc chưa ủng hộ với Chính phủ. Ấy thế mà ngay trước đó, một đại biểu dân cử phát ngôn “Biểu tình là sự ô nhục”, và ngay sau đó, cũng một đại biểu dân cử khác lại bác bỏ với lý do nhạt toẹt:“Việc để cho quần chúng đi ăn xin giữa đường đã là không được”.

Ăn xin giữa đường thì không được. Còn khoảng trống về quyền con người cơ bản trong luật thì được? Với lý luận thô thiển như vậy, thì quyền con người từ Hiến pháp đến đời sống, có lẽ, phải tính bằng những “chu kỳ nhận thức”.

“Nợ dân” là từ mà ĐBQH Trương Trọng Nghĩa đã dùng bởi 20 năm sau khi được đưa vào Hiến pháp, Quốc hội vẫn “nợ dân” luật Biểu tình. Nhưng luật Biểu tình, chỉ là một trong số vô số những món nợ khác trong việc luật hóa các quyền con người, quyền công dân cơ bản:quyền lập hội, quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân…

Cái khó, nằm trong đầu những đại biểu sẽ bấm nút. Cái khó, còn là món nợ lưu niên chưa biết bao giờ mới trả.
Đào Tuấn
Theo Đào Tuấn blog

Thứ Ba, ngày 30 tháng 10 năm 2012

“Việt Nam tôi đâu?” câu hỏi của nhiều thế hệ

Hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình
KẾT QUẢ PHIÊN TÒA – 12h40′ (30/10/2012): Nhạc sĩ Việt Khang, 4 năm tù giam, 2 năm quản chế, Trần Vũ Anh Bình 6 năm tù giam, 2 năm quản chế.
Buổi trưa ở Chennai. Làm việc xong trên đường trở về khách sạn, tôi nhờ người lái xe đưa đi thăm vịnh Bengal. Đứng bên bờ vịnh nhìn sang phía bên kia bờ là Đông Nam Á. Tôi tự hỏi Việt Nam đang nằm ở đâu sau dòng nước xanh xa thẳm kia. Và cùng lúc tôi chợt nghĩ đến bài hát “Việt Nam tôi đâu” của Việt Khang đang trở thành khẩu hiệu cho tuổi trẻ trong vào ngoài nước.

Việt Nam tôi đâu?

Câu hỏi của tôi vang lên theo từng đợt sóng dội vào bờ cát Chennai nhưng tuyệt nhiên không có tiếng trả lời. Một người đứng trên đất khách và một kẻ đang ở trong tù có cùng một câu hỏi.

Thì ra, không phải người đi xa mới thấm thía nỗi đau của kẻ thiếu quê hương mà cả những người đang sống trên đất nước vẫn đi tìm kiếm quê hương. Và quê hương chúng tôi đang tìm kiếm, không chỉ là núi đồi, sông biển, ruộng vườn, cây trái nhưng là một quê hương có khối óc tự do, có tâm hồn nhân bản, có trái tim dân chủ, có đôi chân tiến về phía trước và đôi tay kiến tạo một xã hội thanh bình thịnh vượng cho mãi mãi Việt Nam.

Thời gian tôi sống ở xứ người dài hơn so với thời gian sống ở Việt Nam và đã nhiều năm làm công dân Mỹ nhưng ngoại trừ việc phải điền vào những giấy tờ cần thiết, khi được hỏi tôi là ai, tôi luôn trả lời tôi là người Việt Nam. Một phần, tôi cảm thấy chút gì đó ngượng ngùng khi nhận mình là người Mỹ và một phần khác tôi không thể từ chối đất nước đã sinh ra tôi.

Tôi cám ơn nước Mỹ đã cứu vớt tôi từ biển cả, cho tôi chiếc nệm ấm, giúp tôi có cơ hội học hành, dang rộng đôi tay chào đón khi tôi bước xuống phi trường lần đầu trong một đêm đông lạnh, nhưng suy nghĩ và phân tích cho cùng, tôi vẫn là người Việt Nam. Tôi nghĩ về nước Mỹ với một trách nhiệm công dân mang tính pháp lý hơn là một người con mang trên vai nghĩa vụ tinh thần. Tôi không biết kiếp sau, nếu có, tôi là gì nhưng kiếp này tôi là người Việt Nam. Tôi dặn lòng như thế.

Việt Nam tôi đâu?

Câu hỏi có vẻ ngô nghê nhưng không phải dễ trả lời. Nếu ai hỏi, thật khó cho tôi gỉải thích đủ và đúng trong một câu ngắn gọn. Việt Nam của tôi không phải là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và dĩ nhiên không phải là chế độ cai trị con người bằng nhà tù và sân bắn như hiện nay.

Nhìn chiếc ghe hư nằm trơ trọi trên bờ biển Chennai, tôi chợt nhớ đã có một thời, nhiều thuyền nhân Việt Nam từng hỏi “Việt Nam tôi đâu” và đã đồng ý với nhau rằng Việt Nam đã chết như trong bài hát Một lần miên viễn xót xa quen thuộc của nhạc sĩ Nguyễn Đức Thành:

Giờ đây, mỗi đứa con lạc loài mỗi nẽo
Đứa London, đứa Paris, đứa đèo heo gió hút
Gặp nhau từng hàng lệ xót xa, buông những câu chào
Đôi ba sinh ngữ, Bonjour, Au revoir, Hello, Good bye
Con gục đầu chua xót đắng cay.
Thưa me, thưa me, thưa me, quê hương mình
Đã chết rồi, mẹ ơi, mẹ ơi, mẹ Việt Nam ơi …”

Vì “quê hương mình đã chết rồi” nên hàng triệu đứa con của mẹ phải bỏ ra đi khắp chân trời góc biển.

Có người không đồng ý và cho rằng quê hương vẫn còn đó, núi sông vẫn còn đó, chết chóc gì đâu mà than vãn. Việt Nam là quê hương của tất cả chúng ta. Không có quê hương của người quốc gia hay quê hương của người cộng sản. Không có quê hương tư sản hay quê hương vô sản. Quê hương vẫn còn có đó và sẽ mãi mãi còn đó cho ngàn đời sau.

Đúng hay sai, còn hay mất, sống hay chết tùy theo cách hiểu và cách nhìn về đất nước.

Với tôi và có thể với nhiều đồng bào cùng cảnh ngộ, quê hương không chỉ là những vật vô tri, vô giác nhưng phải là một quê hương sống động và có tâm hồn. Sau 30 tháng Tư năm 1975, quê hương Việt Nam đã mất tâm hồn và thậm chí trở thành tù ngục. Việt Nam, nơi con người bị đối xử như con vật. Việt Nam, nơi con người không có quyền nói những điều họ muốn nói, hát những bài hát họ yêu thích, viết những dòng thơ họ muốn viết. Hàng triệu người Việt Nam đã không còn chọn lựa nào khác hơn là ra đi.

Hành trình của hai hơn hai triệu người Việt Nam từ sau tháng Tư năm 1975 không chỉ được ghi bằng những bước chân rỉ máu trên những chặng đường đầy đau thương thử thách nhưng còn qua những bài hát được viết như tiếng thét gào của đoàn lưu dân trên sa mạc trần gian.

Mai tôi đi, tôi đi vào sương đen
Sương rất độc tẩm vào ngươì nỗi chết
Quê hương ta sống chia dòng vĩnh biệt
Chảy về đâu những nước mắt đưa tin.
(Mai tôi đi, nhạc Nguyễn Đình Toàn)

Những ngày tháng lênh đênh đó, ai không dừng tay dù đang làm việc gì khi nghe Người di tản buồn của nhạc sĩ Nam Lộc, Sài Gòn niềm nhớ không tên của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn hay Đêm nhớ về Sài Gòn của cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cất lên từ giọng ca Khánh Ly?

Có ai không chợt nghe lòng mình chùng xuống khi chị Nguyệt Ánh cất lên những lời não nùng trong Một chút quà cho quê hương của nhạc sĩ Việt Dũng?

Có ai không nghe như có tiếng mưa rơi dù đang đứng giữa phố Bolsa nắng gắt khi nghe giọng Ngọc Lan kể lể trong Khóc một dòng sông của nhạc sĩ Đức Huy?

Và nhiều nữa, Phạm Duy với 1954 Cha bỏ quê 1975 con bỏ Nước, Nhật Ngân với Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh, Châu Đình An với Đêm chôn dầu vượt biển, Phan Văn Hưng với Ai trở về xứ Việt, Tô Huyền Vân với Quê hương bỏ lại v.v..

Và tất cả đã đóng góp phần mình viết nên bài trường ca đầy bi tráng của một bộ phận dân tộc Việt Nam sau mùa bão lửa 1975. Từ Camp Pendleton đến Leamsing, Palawan, Pulau Bidong, Sungai Besi, Bataan, White Head, Panat Nikhom, Galang, những tên tuổi địa danh đi vào lịch sử Việt Nam qua cái chết tủi buồn của mẹ, qua giọt nước mắt của em, qua tiếng gào thống thiết của anh vọng lên giữa Thái Bình Dương bát ngát.

Thời gian cuốn đi bao vết tích, tạo ra bao đổi thay của thời thế và con người. Bây giờ, một số nhạc sĩ đã qua đời, một số đang qua đời trong cách khác và một số vẫn tiếp tục đi trên con đường lý tưởng dù tuổi tác đã già. Nhưng dù sống hay chết, bỏ đi hay ở lại, những bài hát của họ đánh dấu một giai đoạn lịch sử nhiều bi tráng của đất nước và góp phần xây lên tấm bia đá thuyền nhân bi thương ngàn đời trong lịch sử Việt Nam.

Và những người còn ở lại, phải chăng họ dễ dàng trả lời “Việt Nam tôi đâu?”

Không. Tôi không nghĩ thế. Nếu ai hỏi những người thuộc thế hệ đã trải qua giai đoạn cùng cực những năm sau 1975 còn sống hôm nay có thể họ cũng sẽ trả lời trái tim Việt Nam có một thời ngừng đập. Thời gian dừng lại. Không gian đóng kín bịt bùng. Việt Nam đã chết ngay cả trong lòng những người đang sống giữa lòng đất nước. Một triệu dân Sài Gòn dắt nhau sống lây lất trong các vùng kinh tế mới. Nhiều trăm ngàn sĩ quan viên chức miền nam bị đầy đọa khắp các trại tù. Con người Việt Nam sau 1975 vẫn phải sống, phải thở, phải tìm mọi cách để sinh tồn trong hoàn cảnh nghiệt ngã chứ không phải là những con người an vui hạnh phúc như phần lớn của sáu tỉ người còn lại trên thế giới. Chính ông Võ Văn Kiệt khi còn sống đã phải thừa nhận niềm vui của đảng Cộng Sản là nỗi buồn của nhiều triệu người dân Viêt.

Dân tộc nào cũng có thể phải trải qua những chặng đường đau thương gian khổ nhưng Việt Nam có thể nói là một trong số rất ít quốc gia mà sự chịu đựng kéo dài qua nhiều thế hệ. Hơn nửa đời người trôi qua, tiếng thét vẫn còn vang vọng qua bài hát của nhạc sĩ Việt Khang:

Viêt Nam ơi
Thời gian quá nửa đời người
Và ta đã tỏ tường rồi
Ôi cuộc đời ngày sau tàn lửa khói
Mẹ Việt Nam đau từng cơn xót dạ nhìn đời
Người lầm than đói khổ nghèo nàn
Kẻ quyền uy giàu sang dối gian.

Sau 36 năm, Việt Nam chẳng những không bước thêm một bước nào; trái lại, về kinh tế, chính trị, so với đà tiến nhân loại, đã lùi xa hơn vào quá khứ, và văn hóa đạo đức đang trở về với thời sơ khai nô lệ, nghĩa là thời kỳ mọi của cải đều có thể mua bán, trao đổi, kể cả mua bán, trao đổi chính con người. Người mẹ đang từng cơn xót dạ nhìn đời mà Việt Khang gặp hôm nay không khác gì người mẹ mà tôi gặp đi bán máu ngoài nhà thương Chợ Rẫy mấy chục năm trước. Nếu ai hỏi Việt Nam của mẹ ở đâu, chắc chắn mẹ sẽ chỉ ra những nấm mồ vô chủ. Những bầy em đói khổ nghèo nàn mà Việt Khang mô tả hôm nay cũng không khác gì đám trẻ tôi đã gặp ở vùng kinh tế mới Đồng Xoài ba mươi lăm năm trước. Nếu ai hỏi Việt Nam của các em đâu, các em sẽ chỉ ra những vỉa hè bụi bặm, những góc phố tối tăm. Nhưng hiểm họa đất nước đang phải đương đầu không chỉ là độc tài, tham nhũng mà còn là đại họa mất nước.

Giờ đây Việt Nam còn hay đã mất
Mà giặc tàu ngang tàng trên quê hương ta
Hoàng Trường Sa, đã bao người dân vô tội
Chết ngậm ngùi vì tay súng giặc tàu
Là một người con dân Việt Nam
Lòng nào làm ngơ trước ngoại xâm
Người người cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi

Từng đoàn người đi chẳng nệ chi
Già trẻ gái trai giơ cao tay
Chống quân xâm lược
Chống quân nhu nhược
Bán nước Việt Nam
Việt Nam tôi đâu
Việt Nam tôi đâu

Chúng ta đọc quá nhiều, nghe quá nhiều, hãnh diện quá nhiều về lịch sử hào nhùng bốn ngàn năm giữ nước. Vâng, nhưng đó là chỉ là những hào quang của quá khứ, là những thành tựu của tổ tiên, không phải của chính chúng ta. Những bài học thuộc lòng về một quá khứ hào hùng của dân tộc không thể giúp lau khô đi dòng nước mắt hôm nay:

Kính thưa thầy đây bài thuộc lòng của con
Tổ quốc Việt Nam bốn ngàn năm văn hiến
Một trăm năm Pháp thuộc
hai mươi năm đọa đày
Làm sao con thuộc được truyện Kiều Nguyễn Du.
Kính thưa thầy đây là quyển vở của con
suốt một năm không hề có chữ
con để dành ép khô những giòng nước mắt
của cha con, của mẹ con, của chị con, và của …chính con.
(Bài học của con, nhạc Phan Ni Tấn)

Lịch sử không phải là một ngôi miếu để thờ cúng nhưng là một đời sống luôn đổi mới. Truyền thống chỉ là một thói quen lỗi thời nếu truyền thống không được hiện đại hóa. Angkor Wat, Angkor Thom nguy nga, đồ sộ nhưng không cứu được một phần tư dân tộc Khờ Me khỏi bàn tay Pol Pot. Tương tự, Ấn Độ, một dân tộc có nền văn minh lâu đời nhất nhân loại và trải qua các thời đại hoàng kim từ Ashoka đến Gupta, cũng đã chịu đựng hàng loạt ngoại xâm từ Mông Cổ, Hồi Giáo và thực dân Anh kéo dài suốt 600 năm.

Việt Nam cũng thế. Nếu chỉ biết tôn vinh quá khứ và làm ngơ trước hiểm họa Trung Quốc hôm nay, rồi lịch sử dân tộc với những chiến công hiển hách của các thời Ngô, Đinh, Lý, Trần cũng sẽ chỉ là những tấm bia trong một ngôi đền cổ. Hãy tưởng tượng, nếu tất cả chúng ta đều im lặng, làm ngơ, chịu nhục trước hiểm họa mất nước, rồi bốn ngàn năm nữa, những đứa trẻ dòng Việt tộc, đi ngang qua di tích đền Hùng, sẽ căm hận biết bao khi nghĩ về tổ tiên nhu nhược của chúng vào bốn ngàn năm trước đó.

Đừng để lại cho các thế hệ Việt Nam tương lai một ngôi đền mà ngay hôm nay hãy xây cho họ một căn nhà Việt Nam Mới tự do, dân chủ, công bằng, bác ái.

Bài hát Việt Nam tôi đâu của Việt Khang là tiếng chuông đánh thức hồn thiêng sông núi đang ngủ quên trong lòng người. Ngọn đuốc Việt Khang thắp lên soi sáng con đường đi về phía trước. Các thế hệ Việt Nam từ lúc chào đời đã mang tinh hoa tinh huyết của dòng giống Lạc Long, nhưng tinh hoa tinh huyết đó phải được mài dũa thành vũ khí để bảo vệ đất nước hôm nay. Cứu Việt Khang, do đó, không phải chỉ cứu một thanh niên, một nhạc sĩ đang bị tù đày nhưng hơn thế nữa, tự cứu chính mình và từ đó đứng lên cứu dân tộc mình.
Trần Trung Đạo
Theo FB Trần Trung Đạo

Chết lão Khanh rồi

Tôi bảo đảm với anh rằng, tất cả những tình tiết có lợi cho ông Khanh đã được dọn dẹp sạch rồi. Khi người ta công bố trước báo chí rằng, chưa lần nào ông Khanh phản đối quyết định cưỡng chế, và ông Khanh ‘không hợp tác với cơ quan điều tra, loanh quanh chối tội, đổ tội cho người khác’ là án tại hồ sơ rồi!
Ông Lương Minh Ngọc, thượng tá công an mới nghỉ hưu nói với tôi như vậy. Ông quê Tiên Lãng vào miền Nam trước giải phóng, nay vẫn nhớ quê và theo sát vụ Đoàn Văn Vươn, mà ông cho rằng đó là một vết nhơ, làm xấu hổ dân Tiên Lãng.
Tôi hỏi vì sao chết lão khanh”, ông Ngọc nói:
- Thì công an Hải Phòng họ nói rành rành ra đó còn gì? Này nhá, trong quyết định cưỡng chế đầm tôm của Đoàn Văn Vươn, số 3312-QD/UBND, ngày 25-11-2011, do Chủ tịch Lê Văn Hiền ký không có nội dung phá nhà ông Vươn, nhưng trong thông báo số 225-TB/BCĐ ông Khanh ký ngày 28-12- 2012, lại phân công người tháo dỡ hai nhà trông tôm của ông Vươn, và chính ông Khanh trực tiếp gọi điện kêu máy ủi tới ủi nhà.
Ngừng một lúc, ông Ngọc nói tiếp:
- Tôi bảo đảm với anh rằng, tất cả những tình tiết có lợi cho ông Khanh đã được dọn dẹp sạch rồi. Khi người ta công bố trước báo chí rằng, chưa lần nào ông Khanh phản đối quyết định cưỡng chế, và ông Khanh “không hợp tác với cơ quan điều tra, loanh quanh chối tội, đổ tội cho người khác”là án tại hồ sơ rồi!
- Thế nghĩa là đúng người, đúng tội?
- Người ta bảo đúng thì nó đúng! Đúng theo kiểu cầm dao phạt ngọn ngọn ấy mà…
Câu chuyện của chúng tôi quay ngược lại thời gian. Ai cũng biết, Đoàn Văn Vươn đổ mồ hôi sôi nước mắt khai phá đầm nuôi tôm, theo pháp luật anh còn đươc thuê đến năm 2014 và anh đã làm đơn xin được tiếp tục thuê vùng đầm nuôi tôm. Người đòi thu hồi đất quyết liệt là anh em Lê Văn Hiền, Lê Thanh Liêm, anh làm Chủ tịch huyện, em làm Chủ tịch xã. Đoàn Văn Viên năm lần bảy lượt đội đơn lên huyện lên tỉnh, khóc nhỏ máu mắt không được đoái thương. Rồi cả hội nghề nghiệp can thiêp cũng chẳng ai quan tâm. Vì viêc thu hồi cái đầm tôm ấy sẽ là phát súng khai hỏa, mở màn chiến dịch thu hồi đất làm sân bay quốc tế Tiên Lãng, gắn với lợi ích nhóm. Và cái quyết định thu hồi đất đã được ông Nguyễn Văn Hiền ký, bất chấp pháp luật. Khi Đoàn Văn Vươn không chấp hành cái quyết định thu hồi đất bất hợp pháp đó, Lê Văn Hiền ra lệnh cưỡng chế, bằng cái quyết định thất nhân tâm số 3312 QĐ/UBND. Chính việc ra quyết định thu hồi đất và quyết định cưỡng chế sai pháp luật, thất nhân tâm của chủ tịch huyện Tiên Lãng, là cái nhân, sinh ra cái quả Đoàn Văn Vươn phẫn uất, dùng súng hoa cải chống lại, tiếp theo đẻ ra cái thông báo đập nhà số 225-TB/BCĐ.
Thử hỏi, nếu không có quyết định thu hồi đất, thì có lệnh cưỡng chế không? Và nếu không có lệnh cưỡng chế thì làm gì có cái thông báo dớ dẩn của ông Khanh? Cái gốc cái ngọn rành rành ra đấy. Nhưng người ta không đưa vào hồ sơ cái gốc , bởi như thế sẽ lung lay, rúng động cả cánh rừng, chỉ chặt cành phát ngọn để dẹp yên dư luận. Ông bạn thượng tá công an về hưu của tôi, người trong nghề nói chí lý lắm.
Tôi nhớ tới một vụ trọng án mấy chục năm trước.
Ngày ấy ông Mười Vân, tức Nguyễn Văn Dộc, nguyên Giám đốc công an tỉnh Đồng Nai, từng trải qua chiến tranh, công trạng lẫy lừng. Năm 1978-1979, cấp trên chỉ đạo Mười Vân tổ chức bán bến, bán bãi cho người tổ chức vượt biên thu vàng, lúc đầu Mười Vân phản đối, nhưng sau lại chấp hành. Khi sự việc bị bể lở, Mười Vân phải ra tòa. Tôi còn nhớ như in phiên tòa ấy, khi được nói lời cuối cùng, Mười Vân chỉ xin được gặp người đã chỉ đạo thực hiện chiến dịch và trực tiếp ra lệnh cho mình. Nhưng người đó đã biến thành một kẻ vô hình. Mười Vân bị thi hành án dù vợ ông kêu oan quyết liệt đến mức xin được chết cùng chồng.
Giá như Mười Vân không vì cái chức giám đốc công an tỉnh nhắm mắt theo lệnh làm cái việc thất nhân tâm bán bãi thu vàng rồi tập kích bắt người ta, giá như Nguyễn Văn Khanh tham cái ghế phó chủ tịch, hông làm con thò lò hai mặt nhận cái chức trưởng ban giải tỏa, ra cái thông báo phá nhà anh Vươn thì đâu đến nỗi. Những cái giá như ấy, rất tiếc, chỉ xuất hiện sau khi đã bị trả giá.
Xét cho cùng thì nó vẫn nằm trong phạm trù giải quyết mâu thuẫn nội bộ chứ chưa phải vì dân do dân như người ta nói.
Minh Diện