Thứ Bảy, ngày 10 tháng 11 năm 2012

Lời ai điếu cho sông Mekong

Sau những nhùng nhằng lý sự trao qua đổi lại giữa các nước, cả nước liên quan lẫn không liên quan tới sông Mekong, không loại trừ trong đó có cả sự nhường nhịn, biết điều, nể nang, biết thân biết phận của Lào, ngày 7.11 vừa rồi được coi như giới hạn cuối cùng khi bạn Lào anh em tuyên bố dứt khoát xây đập thủy điện Xayaburi. Điều đó không chỉ chấm dứt tranh cãi về sông Mekong, mà còn đánh dấu sự rạn nứt khó hàn gắn của một khối liên minh lỏng lẻo, chủ yếu dựa vào tình cảm và thói đàn anh kẻ cả.
Hình ảnh dòng sông mẹ cuồn cuộn ngang trời sẽ không còn nữa. Vẻ đẹp "ngẫm nghĩ voi đi/ thác Khôn cười trắng xóa" sẽ không còn nữa. Bầu sữa phù sa vô tận nuôi những miền châu thổ cũng dần cạn kiệt... Sông Mekong đang từng ngày hấp hối chờ bản điếu văn được đọc lên trong một ngày không xa.

Cũng chả thể chỉ trách Lào. Họ cũng đã cố, ráng nuôi mối tình "Việt-Lào hai nước chúng ta/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long" bao năm nhưng sự kiên nhẫn, biết điều, chịu đựng của họ cũng có hạn. Đến công ty còn trách nhiệm hữu hạn, huống hồ quyền lợi đất nước, dân tộc. Sông Mekong là dòng chảy chung liên quốc gia nhưng phần trên đất họ là tài sản riêng của họ. Bạn Lào nghèo, cầm cự biết điều thế là khá đủ rồi.
Giá như Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia tỏ khí chất quân tử, đàn anh, biết làm gương cho đàng hoàng thì đâu đến nỗi. Một mặt ép Lào phải tỏ trách nhiệm với dòng Mekong, với những nước chung dòng, mặt khác giống như anh Chí Phèo, anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta, cứ làm tới, cứ phớt tất, bất kể mồm vừa nói chưa khô nước bọt, tay bút ký còn chưa ráo mực. Trung Quốc không có quyền gì để bảo Lào đừng xây đập thủy điện bởi cả đống đập hoành tráng của họ trên thượng nguồn Mekong đang chọc vào mắt thiên hạ kia kìa. Việt Nam và Campuchia cũng chả còn quyền gì ngăn việc xây Xayaburi khi chỉ cách đó vài ngày họ công bố sẽ làm đập Hạ Sesan nơi hạ nguồn trên đất Campuchia. Giá mỗi nước đều biết hy sinh quyền lợi của mình thì có nhẽ đâu Lào dám liều lĩnh, bướng bỉnh như thế. Phen này thì biết tay nhau, bởi không dừng lại ở cái đập Xayaburi gây tranh cãi đó đâu, bạn Lào còn gần chục dự án đập thủy điện cất giữ bấy lâu nay, giờ được dịp tháo cũi sổ lồng. Hãy chờ xem. Chả còn gì ngăn cản được họ nữa. Tình không còn mà lý cũng không.

Việc người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị hôm qua 8.11 chỉ còn biết nói chung chung, bày tỏ mong muốn và hy vọng Lào sẽ thế này thế khác đủ làm ta hiểu rằng bạn Lào đã ngoài vòng cương tỏa, không dễ sai khiến họ nữa. Ngay cả việc ông Nghị vớt vát "chính phủ Lào cho biết sau khi khởi công, nếu phát hiện công trình gây tác hại lớn sẽ ngừng ngay dự án" cũng chỉ là AQ tự an ủi mà thôi. Chả nhẽ lại thẳng thừng "anh đi đường anh tôi đường tôi/ tình nghĩa đôi ta có thế thôi" để bạn vàng phía bắc nhảy vào thì mất sạch à. 

Việc Lào chính thức triển khai Xayaburi nói lên điều gì? Với Lào, họ rút ra bài học kinh nghiệm quá xưa: mềm nắn, rắn buông. Còn các nước khác: đừng chỉ biết có mình.

Với riêng Việt Nam, sau "thất bại" tại hội nghị quan chức cao cấp ASEAN tại Phnom Penh hồi tháng 5 để vuột mất Campuchia thì nay với Xayaburi tháng 7 tiếp tục chập chờn mất Lào. Trong vòng hơn 5 tháng, hai bạn giậu mùng tơi lặng lẽ giơ tay chào tạm biệt, kể cũng đau và cũng nên xem lại mình.

9.11.2012
Nguyễn Thông

Đại hội ĐCS Trung Quốc XVIII có thể là lần cuối?

ĐH ĐCS TQ XVII chỉ có búa liềm

Số La mã XVIII là 18, một số độc, 1+8 = 9. Trong chữ Nho, cửu (9) là tột đỉnh. Khi đã là tột đỉnh thì anh bắt đầu trượt dốc.
Người ta luôn đặt câu hỏi, đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ 18 này có phải là lần cuối hay không?
Theo dõi các đại hội Đảng của Trung Quốc người ta từng thấy ảnh Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Đông, rồi Carl Marx treo trên hội trường. Nhưng mấy đại hội gần đây chỉ còn búa liềm và cờ đỏ. Họ còn nói Lê Nin, Mao Trạch Đông sẽ không được nhắc đến trong ĐH Đảng thứ 18.
Trong lúc đại hội ĐCS Việt Nam thì hầu như hai ảnh Carl Marx và Lê Nin luôn là chủ đạo trên hội trường.
Chỉ cần nhìn những chi tiết đó cũng biết mầu sắc đảng CS của mỗi nước cũng rất khác nhau dù họ vẫn dùng mầu đỏ là chủ đạo, tặng nhau 16 chữ vàng, 4 tốt.
Lang thang trên mạng, thấy bài trên viet-studies do anh Phạm Gia Minh, một đồng nghiệp cũ ở IOIT, dịch từ tiếng Anh. Nghe nói bài này sẽ in ở Tạp chí Thời đại mới tháng 11 này. Bài vẫn đang tiếp tục biên tập.
Trong bối cảnh ĐHĐCS TQ đang tiến hành tại Bắc Kinh, bài viết như thế này rất có ý nghĩa thời sự.
Tác giả là ông Cheng Li (Lý Thành), Giám đốc trung tâm nghiên cứu Trung Quốc, Viện Brookings. Washington DC.
Hiệu Minh blog chỉ đăng phần tóm tắt và vài suy nghĩ cuối để bạn đọc nắm được ý chính.
Cảm ơn Ts. Phạm Gia Minh và viet-studies.

Hồi kết cho chế độ chuyên chế dẻo dai của Đảng Cộng sản Trung Quốc?

Một đánh giá ba phần về sự thay đổi quyền lực ở Trung Quốc.

Tác giả Cheng Ly. Bản dịch của Ts. Phạm Gia Minh
Tóm tắt những ý chính
Bài tiểu luận này thách thức quan điểm đang thịnh hành về cái đuợc xem là “chế độ chuyên quyền bền bỉ, dẻo dai”của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Quan điểm này khẳng định rằng hệ thống chính trị độc đảng của Trung Quốc có khả năng củng cố năng lực đất nước nhằm quản trị có hiệu quả xã hội thông qua những thích ứng về định chế và điều chỉnh chính sách.
Những phân tích cuộc khủng hoảng gần đây vẫn còn tiếp tục được tiết lộ ra về Bạc Hy Lai cho thấy các vết nhơ trong hệ thống chính trị Trung Quốc, đó là tình trạng dung túng người thân và phe cánh cùng những mối liên kết kiểu bảo trợ – đỡ đầu trong quá trình lựa chọn các nhà lãnh đạo; tham nhũng tràn lan, sự lũng đoạn quyền lực chính trị bởi một nhóm quan chức cấp cao ở các công ty thuộc sở hữu nhà nước ngày càng gia tăng, sự coi thường pháp luật của giới chóp bu và thất bại tiềm tàng trong các thỏa thuận mặc cả giữa các phe phái cạnh tranh lẫn nhau trong hàng ngũ lãnh đạo đảng.
Bài tiểu luận cho thấy rằng “chế độ chuyên quyền bền bỉ, dẻo dai “của đảng cộng sản Trung Quốc thực ra chỉ là một hệ thống trì trệ xét cả trên lý luận và thực tiễn bởi lẽ, hệ thống này chống đối lại những thay đổi mang tính dân chủ rất cần thiết ở quốc gia này.
Luận điểm về chế độ độc đoán chuyên quyền có tính bền bỉ và dẻo dai có nguồn gốc từ quan niệm cho rằng Trung Quốc là một thể thống nhất vững chắc đang đặt ra những vấn đề liên quan tới sự thất bại của nó trong việc đánh giá các xu hướng thay đổi dường như có tính nghịch lý ở quốc gia này.
Trong tiểu luận, những nghịch lý đó được khắc họa bởi ba quá trình phát triển đồng thời, cụ thể là:
(1) Lãnh đạo yếu nhưng phe phái mạnh;
(2) Chính phủ yếu nhưng nhóm lợi ích mạnh và;
(3) Đảng yếu nhưng đất nước mạnh.
Không nên nhầm lẫn giữa tính bền bỉ và dẻo dai của đất nước Trung Quốc (nếu căn cứ vào vị thế của giới trung lưu đang hình thành, sự khôn ngoan, sắc bén của các nhóm lợi ích mới và tính năng động của toàn xã hội) với năng lực và tính chính danh của đảng cộng sản Trung Quốc để điều hành đất nước.
Bài tiểu luận này đưa ra kết luận cho rằng nếu như đảng cộng sản vẫn muốn lấy lại lòng tin của quần chúng và tránh một cuộc cách mạng hướng từ dưới lên thì đảng này phải tránh quan điểm về một “chế độ chuyên quyền bền bỉ, dẻo dai”, đồng thời đi theo đường lối chuyển đổi dân chủ một cách có hệ thống với những bước đi dũng cảm về phía bầu cử dân chủ trong nội bộ đảng, thiết lập sự độc lập của tòa án và dần dần mở cửa cho truyền thông chủ đạo.
…. xem toàn bộ bài viết ở đây ĐCS TQ đi đến hồi kết
Những suy nghĩ cuối
Quan sát trên một bối cảnh rộng hơn, mặc dù ba lần thay đổi quyền lực là nguyên nhân cho những căng thẳng trong quản trị đất nước và làm nảy sinh tâm lý bất an, nhưng chính đó lại đáng được coi là những phát triển tích cực, đáng khích lệ đối với Trung Quốc.
Giám sát và đối trọng giữa các phe phái trong lãnh đạo của ĐCSTQ, các nhóm lợi ích năng động – đặc biệt là vai trò ngày càng tăng của giới trung lưu và nhận thức được chia sẻ rộng rãi về một thế lực toàn cầu đang lên cùng sự tự tin của công chúng là những gì mới mẻ đã ra đời gần đây.
Và tất cả những điều đó sẽ là những nhân tố quan trọng cho một sự chuyển tiếp tất yếu tới dân chủ.
Trong tương lai gần, tiêu điểm của các nhà phân tích về Trung Quốc không nên chỉ là việc liệu lãnh đạo ĐCSTQ có sử dụng đúng các thủ tục pháp lý để xử lý vụ Bạc Hy Lai, mà còn phải xem liệu họ có thể tận dụng cơ hội đó để đạt được sự đồng thuận mới và theo đuổi cải cách chính trị.
Một điều mà có lẽ hôm nay ai cũng thấy rõ hơn bất cứ lúc nào trong suốt cả thời kỳ cải cách (ý nói cải cách kinh tế- ND) đó là chế độ chuyên quyền bền bỉ, dẻo dai của ĐCSTQ, xét cả về mặt lý luận và thực tiễn chỉ là một hệ thống trì trệ bởi lẽ hệ thống này chống đối lại các chuyển biến dân chủ.
Nếu ĐCS mong muốn lấy lại lòng tin của quần chúng và tránh một cuộc cách mạng hướng từ dưới lên thì đảng phải tiến hành những thay đổi dân chủ thực sự, có hệ thống, ở trong nước.
Những biến đổi sâu sắc sau đây cần phải được thực hiện.
Thứ nhất, cùng với việc xử lý vụ Bạc Hy Lai qua cơ chế pháp lý hiện hành thì việc kêu gọi cải cách luật pháp – kể cả cải cách thực tiễn công tác xét xử của tòa án, thực thi nguyên tắc nhà nước pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến là điều đã trở nên vô cùng quan trọng.
Điều này có thể là một cơ hội tuyệt vời cho các nhà lãnh đạo có tư tưởng cách tân, và ở một mức độ nhất định cho tất cả các lãnh đạo, để họ nhận thức được rằng, cải cách luật pháp là con đường tốt nhất để họ tự bảo vệ trong một đất nước còn thiếu vắng nguyên lý pháp quyền.
Có thể Trung Quốc sẽ phải mất nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ để thiết lập một hệ thống hiến pháp đầy đủ, tuy nhiên, sẽ sớm cần một tuyên bố chính thức mang tính tư tưởng, chính trị và pháp lý rằng, đảng phải ở dưới hiến pháp, chứ không phải là ngự trị bên trên hiến pháp.
Thứ hai, quản lý và điều hành truyền thông cũng là một việc cần cải cách gấp. Trung Quốc hiện đang bước vào “mùa của các lời đồn”và truyền thông xã hội đã trở nên quyền lực đến nỗi chính quyền Trung Quốc phải thường xuyên dừng những dịch vụ micro-bloging. Đó không phải là phương cách hiệu quả để điều hành đất nước (đặc biệt khi Trung Quốc dự định xây dựng một nền kinh tế định hướng sáng tạo). Lý do vì sao người dân tìm đến với truyền thông xã hội là bởi vì truyền thông chủ đạo không phản ánh nhiều sự thật cuộc sống.
Do đó, con đường để ngăn chặn chủ nghĩa giật gân sinh ra bởi truyền thông xã hội là hãy cởi mở, khai phóng truyền thông chủ đạo. Điều đó không chỉ có lợi cho giới trí thức tự do, dân chủ mà còn lợi cho chính các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Càng đè nén, bưng bít những tin giật gân thì chúng càng trở nên mạnh mẽ và lan tỏa.
Sau mười năm thương mại hóa, ngành truyền thông Trung Quốc đã góp phần tạo nên những nhà báo Trung Quốc biết đi theo con đường của tự do báo chí. Những biến chuyển cách mạng đang diễn ra trước mắt trong lĩnh vực truyền thông xã hội và viễn thông sẽ biến tự do  truyền thông trở thành một sự cần thiết chứ không phải là một sự lựa chọn.
Thứ ba, sẽ là ngây thơ về chính trị và thiểu năng về trí tuệ nếu tin rằng sự sụp đổ của họ Bạc chỉ kéo theo những diễn biến tích cực và không có gì sai lầm xảy ra ở Trung Quốc nữa.
Tuy vậy cũng đáng nhớ lại rằng vụ ám sát một nhà văn Đài Loan bởi các điệp viên của Quốc Dân đảng Đài Loan đã giúp khởi động quá trình chuyển tiếp từ chế độ chuyên chế sang dân chủ vào giữa những năm 1990.
Cũng tương tự như vậy, ĐCSTQ hiện nay cần phải hoặc tiến hành những thay đổi để tiến bước cùng lịch sử, hoặc là sẽ bị lịch sử bỏ lại sau lưng. Trong một viễn cảnh rộng lớn hơn, các lãnh đạo yếu, chính phủ yếu và đảng yếu cũng không phải là xu hướng chỉ ở Trung Quốc mới có; đó cũng chính là những thách thức chung trong thế giới hôm nay.
Xin chào mừng đất nước Trung Quốc bước vào thế kỷ XXI!
Tác giả: Lý Thành (Cheng Ly)

“Cưỡi ngựa, vạch áo” ở nghị trường

Mới biết Quốc hội cũng giỏi khi vẫn có thể giám sát trong tình trạng ban bệ bộ ngành tiền hô hậu ủng, đút chân gậm bàn nghe báo cáo, hết giờ thì về.
“Cưỡi ngựa” ở đây là câu thành ngữ “Cưỡi ngựa xem hoa” mà ối người sẽ liên tưởng khi nghe ĐBQH Trương Văn Vở “làm thơ” về hoạt động giám sát của Quốc hội, rằng: “Đến đọc báo cáo, hết giờ thì về”.
ĐBQH Lê Nam thì mô tả một cuộc giám sát với: Vài ba đồng chí lèo tèo. Thành phần không đủ mặt.
Còn “chuyên gia giám sát” Trần Du Lịch thì lấy ngay ví dụ về cuộc giám sát tối cao trong lĩnh vực đất đai mà Quốc hội vừa báo cáo để khẳng định: Chúng ta chưa nghe được người dân oan nói thế nào.
Thực ra, hiện thực “nhiều cuộc giám sát mới dừng lại ở việc nghe báo cáo rồi kết luận” đã được ĐBQH Đặng Ngọc Tùng nói tới từ tháng 10.2009 khi ông đề xuất “Phải đi vào thực tế để xem việc gì đã thực hiện được, việc gì chưa và cần rút ra kết luận, kiến nghị gì. Phải theo dõi việc thực hiện, đừng để giám sát của QH, ý kiến của các đoàn giám sát “trôi” đi, không thực hiện được”.
Ấy vậy đã 4 năm qua, câu chuyện “lèo tèo”, “đọc báo cáo”, “hết giờ về” vẫn được các vị ĐBQH “vạch áo” nói đầy…tự kỷ.
Ngày hôm qua, Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội Nguyễn Văn Tiên chỉ ra thực trạng” Báo cáo giám sát thiếu ý kiến cử tri. Thiếu bằng chứng độc lập. Không có nghiên cứu đánh giá của một tổ chức Chính phủ, cơ quan độc lập nào”. Và vì thế “Những số liệu đó che dấu thực tế địa phương”.
Mới biết Quốc hội cũng giỏi khi vẫn có thể giám sát trong tình trạng ban bệ bộ ngành tiền hô hậu ủng, đút chân gậm bàn nghe báo cáo, hết giờ thì về. Lại càng giỏi hơn khi giám sát về khiếu tố đất đai nhưng lại “chưa nghe được dân oan sai nói thế nào”, hoặc “Thiếu ý kiến cử tri”.
Nhưng lỗi thuộc về ai nếu không phải là chính các vị đại biểu? Có một hình ảnh khác của sự “lèo tèo”, cũng là câu chuyện thời sự ngay trong ngày hôm qua: Dù kỳ họp thứ 4 mới chỉ được nửa thời gian, đã có 95 đại biểu, tức khoảng gần 20% ĐBQH “có đơn xin nghỉ” từ 10% đến…90% số ngày họp. Thật khôi hài, có một ĐBQH làm đơn xin nghỉ phần lớn thời gian kỳ họp với lý do đi dự… lễ tốt nghiệp đại học của con ở nước ngoài.
Đến “việc nước việc dân” công khai trước sự theo dõi của hàng chục triệu cử tri còn không bằng một cái lễ tốt nghiệp cho con thì chả trách sự “lèo tèo” trong các cuộc giám sát. Chả trách sản phẩm của những cuộc giám sát kiểu “cưỡi ngựa xem hoa” này là những sai phạm được nêu rất chung chung “ở một số nơi, có một số việc”. Đó là những sai phạm “không có địa chỉ”, hoặc chỉ là những địa chỉ đã quá nổi tiếng: Tiên Lãng, Văn Giang. Đó là những sai phạm “bình bình”, trong một thực tế cuộc sống đầy bức xúc, như Phó Chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn trong phiên họp Ủy ban TVQH tháng trước đã phàn nàn: Báo cáo (giám sát về đất đai) chỉ ra cơ man hạn chế mà tổng kết lại vẫn chưa chỉ ra được trách nhiệm từng cá nhân, từng tập thể”.
ĐBQH Trần Du Lịch đề xuất: Cần bớt quan chức bộ ngành đi theo (đoàn giám sát), tăng cường các chuyên gia độc lập.
ĐBQH Trương Trọng Nghĩa thì nói đến việc: “Cần phải vi hành. Gặp dân trước, gặp quan sau”, để “Có kênh người dân phản ánh, gợi ý vấn đề rồi mới tính cách giám sát”.
Một cách lạc quan, có thể coi các vị ĐBQH đã tự kỷ đến mức “vạch áo cho người xem lưng” như vậy thì có thể là một cơn cớ cho sự thay đổi để, chẳng hạn 4 năm sau, câu chuyện giám sát kiểu “cưỡi ngựa xem hoa” sẽ không phải nhắc tới một lần nữa.
Đào Tuấn

Thứ Sáu, ngày 09 tháng 11 năm 2012

Chính phủ có cố ý làm trái luật đất đai?

“Giá mà có cuộc đối thoại tương tự giữa bà con nông dân Văn Giang với nguyên Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và giá như ông cũng can đảm nhận sai lầm, nếu ông đã sai, và trong trường hợp ấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ ra quyết định hủy bỏ quyết định của nguyên phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, thì uy tín của Thủ tướng chắc sẽ lên cao.”
Gs. TsKH Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường (TNMT), đã mạnh bạo lên tiếng về sự thu hồi đất trái pháp luật của chính quyền Hải Phòng đối với gia đình anh Đoàn Văn Vươn. Ông được đánh giá là chuyên gia đất đai số một của Việt Nam và sự lên tiếng này của ông được báo giới đánh giá rất cao.
Bà con nông dân Văn Giang liên quan đến dự án Ecopark đã liên tục khiếu kiện suốt 8 năm nay. Và vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Văn Giang ngày 25-4-2012 với lực lượng vũ trang hùng hậu đã gây xôn xao dư luận trong nước và quốc tế.
Ba ngày sau, 28-4-2012 BBC phỏng vấn chuyên gia đầu ngành về đất đai, Gs. TsKH Đặng Hùng Võ. Với câu hỏi của BBC “quyết định thu hồi đất của chính quyền Văn Giang có đúng với pháp luật hay không?” ông trả lời “Tôi cho rằng đây là một quyết định đúng”.  Ông cho rằng những bất cập của dự án Ecopark “chủ yếu thuộc về khung pháp luật mà không thuộc về phần thực thi pháp luật”. Nói cách khác việc thực thi pháp luật là đúng (thẩm quyền, thủ tục) nhưng do pháp luật chưa hoàn chỉnh nên đã nảy sinh những rắc rối.
Rồi những người nông dân Văn Giang cho biết: Ngày 28/6/2004 UBND tỉnh Hưng Yên ký tờ trình lên Bộ TNMT; ngày 29-6-2004 thứ trưởng Bộ TNMT Đặng Hùng Võ đã ký tờ trình số 99/TTr-BTNMT gửi Thủ tướng Chính phủ về việc giao đất để xây dựng tuyến đường liên tỉnh Hưng Yên-Hà Nội và xây dựng Khu đô thị thương mại-Du lịch Văn Giang; trên cơ sở đó phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30-6-2004 về việc thu hồi đất và giao đất cho dự án (đổi đất lấy hạ tầng) này đúng (chưa đầy) một ngày trước khi Luật Đất đai 1993 (đã được sửa và bổ sung năm 1998 và 2001) hết hiệu lực và Luật Đất đai 2003 (được thông qua ngày 26-11-2003) bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1-7-2004. Luật 1993 còn cho phép “đổi đất lấy hạ tầng”, luật 2003 thì không. Bà con nông dân Văn Giang rất bức xúc với phát ngôn của Gs. Võ.
Bà con nông dân Văn Giang đã nhờ các luật sư tư vấn cho mình và đã có một cuộc đối thoại rất văn minh và mang tính xây dựng với Bộ TNMT tại trụ sở của Bộ vào ngày 21-8-2012. Bà con nông dân nói các quyết định thu hồi và giao đất là trái pháp luật, Bộ nói không sai và đã cung cấp cho bà con các bản sao của các tờ trình của Bộ khi đó do thứ trưởng Đặng Hùng Võ ký.
Bà con, thông qua các luật sư của mình, đã gửi ý kiến của họ đến Gs. Võ và yêu cầu có đối thoại với ông.
Ngày 7-11-2012 Gs. Võ trả lời phỏng vấn nhiều báo rằng ông sẽ mượn hội trường của Bộ TNMT để đối thoại với bà con nông dân Văn Giang từ 2 giờ chiều ngày 8-11-2012.
Trong các phỏng vấn này ông vẫn nhấn mạnh: “Thanh thiên bạch nhật mà nói thì thủ tục thu hồi đất của dự án này, tôi nhắc lại, không có gì sai pháp luật”; “Việc ký 2 tờ trình vào thời điểm đó là đúng đắn và tốt cho đại cục, tốt cho sự phát triển kinh tế của Hà Nội và Hưng Yên, như vậy có nghĩa là người dân cũng sẽ được hưởng lợi”; ông muốn “giúp bà con hiểu về pháp luật đất đai”; làm cho “bà con hiểu rõ tính chính đáng của dự án và tôi tin rằng không ai có thể cãi về điều này”.  Ông cũng mời các nhà báo đến dự và đưa tin.
Có thẻ nhà báo từ cả chục năm rồi nhưng năm nay không được cấp lại, nên tôi chỉ ké các nhà báo thật để vào quan sát để học hỏi.
Hàng trăm nông dân Văn Giang tụ tập bên ngoài Bộ TNMT. Chỉ có một số đại diện của họ, các luật sư, các nhà báo (có cả 3-4 đài TV ghi hình liên tục), khoảng 50-60 người dự đối thoại. Cuộc đối thoại đã kéo dài gần 3 giờ liên tục, không có giải lao. Nội dung chỉ xoay quanh 3 câu hỏi mà bà con nông dân Văn Giang đã gửi cho Gs Võ:
1) Quyết định thu hồi đất và giao đất số 742/QĐ-Ttg do Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 30-6-2004 dựa trên tờ trình số 99/Ttr -BTNMT do chính Gs. Võ ký có đúng thẩm quyền hay không?
2) Quyết định giao đất cho chủ đầu tư (mà bà con cho là không đúng quy hoạch và chủ đầu tư chưa đủ điều kiện được giao đất theo luật lúc đó) có đúng luật hay không?
3) Quyết định giao đất có đúng không khi không nghi rõ tên người sử dụng đất (mà bà con cho rằng thực chất là ủy quyền cho cấp dưới [UBDN tỉnh Hưng Yên] là không phù hợp với Điều 25 của Luật Đất đai 1993]?
Chỉ cần ít nhất một 3 câu trả lời cho 3 câu hỏi trên là không [đúng] thì có nghĩa là Quyết định 742/QĐ-Ttg do Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký là trái luật và trong trường hợp đó tất cả các quyết định của các cơ quan cấp dưới dựa vào Quyết định đó cũng trái luật và bà con yêu cầu Gs Võ chính thức cải chính lời tuyên bố của ông với BBC (ngày 28-4-2012) và với các phóng viên báo chí (ngày 7-11-2012).
Cuộc trao đổi đã hết sức sôi nổi, đôi khi khá gây cấn.
Gs. Võ lúc đầu vẫn giữ quan điểm của mình như đã nói với BBC và phóng viên các báo ngày 7-11-2012.
Đại diện của bà con nông dân Văn Giang (và các luật sư của họ) đã trưng ra hết bằng chứng này đến bằng chứng khác của Luật đất đai khi đó (1993 và được sửa đổi bổ sung 1998 và 2001), tranh cãi khá gay gắt về sự hiểu luật kém cỏi của những người ký các tờ trình. Gs Võ đã thực sự bị các đại diện của bà con Văn Giang áp đảo về lý lẽ. Nhưng sau hơn 2 giờ trao đổi ông vẫn không nhận mình sai khi ký các tờ trình.
Tôi có cảm giác rằng những người nông dân Văn Giang hiểu luật đất đai sành hơn ông Giáo sư và chính họ đã giúp ông “hiểu về pháp luật đất đai” chứ không phải ngược lại. Mỗi lần ông thanh minh hay giải thích khá lòng vòng, thì luật sư hay bà con nông dân đưa ra những lý lẽ, bằng chứng bằng các điều khoản của luật, nghị định, thậm chí thông tư của chính Bộ của ông để bác lại.
Về thẩm quyền ký quyết định thu hồi đất và giao đất bà con lập luận: luật đất đai 1993 đã giao cho thủ tướng chính phủ quyết định; nhưng sau đó do thấy tập trung quyền lực vào ta một người dễ gây ra sự lạm dụng hay quyết định thiếu cơ sở nên Quốc hội (trong đợt sửa 1998 và 2001) đã chuyển quyền đó sang cho Chính phủ chứ không phải Thủ tướng. Thế nhưng trong tờ trình số 99/Ttr –BTNMT Gs. Võ đã ghi “kính gửi Thủ tướng Chính phủ” chứ không phải Chính phủ và khiến cho phó Thủ tướng đã ký Quyết định 742/QĐ-Ttg (chứ không phải Chính phủ có một nghị quyết rồi trên cơ sở đó Thủ tướng thay mặt Chính phủ ra Quyết định). Gs. Đặng Hùng Võ nói, Chính phủ đã ủy quyền cho Thủ tướng. Bị truy, quyết định ủy quyền đâu? Ông trả lời có nghe nói thế và ông nói thêm tất cả các dự án tương tự từ trước đến nay đều làm thế chứ không chỉ dự án này.
Tôi phát hoảng nên nói xem vào: Xin Gs. Võ thận trọng bởi vì nếu đúng như Giáo sư nói là Chính phủ đã ủy quyền cho Thủ tướng quyết định về thu hồi đất và giao đất đối với các dự án như vậy, thì không khác gì bảo “Chính phủ đã cố ý làm trái luật vì trước kia do ngại một mình Thủ tướng quyết định là không tốt nên Quốc hội mới bỏ việc đó và bắt Chính phủ phải quyết định. Nay nếu Chính phủ lại ủy quyền cho Thủ tướng thì chẳng phải Chính phủ (tất cả các thành viên Chính phủ) đã cố tình vi phạm luật hay sao?”
Kết quả có hậu là, cuối cùng Gs Võ đã được bà con nông dân và các luật sư của họ thuyết phục và đã thừa nhận và trả lời rành rọt cho các câu hỏi: 1) không đúng thẩm quyền và thậm chí ông còn nói là trái luật; với câu hỏi 2) ông thừa nhận mình đã sai vì đã dùng từ “giao đất” [mà lẽ ra phải là từ “thu hồi đất”] trong Tờ trình số 99 [trong đó có 7 lần nhắc đến “giao đất” (4 lần của Bộ TNMT), 2 lần của Hưng Yên, 1 lần của Bộ Tài chính], nói cách khác câu trả lời cho câu hỏi 2 cũng là không; về câu hỏi thứ 3) quyết định thu hồi đất không ghi tên từng người bị thu hồi đất (được quy định bởi luật lúc đó và hiện hành) cũng như không ghi tên người được giao đất cũng là sai luật.
Mỗi lần Gs Võ trả lời “không” cho các câu hỏi trên thì bà con tham dự đã vỗ tay nhiệt liệt hoan nghênh. Bà con đã đại xá cho Gs Võ.
Thật đáng trân trọng sự dũng cảm của Gs Võ khi ông thực sự hiểu mình đã sai và thừa nhận sự sai đó. Sai là chuyện con người, ai cũng mắc phải. Vấn đề là có dám nhận sai không để tìm ra cách khắc phục những sai lầm đó, thay cho việc coi bà con đi khiếu kiện là bị “các thế lực thù địch” xúi giục.
Đối thoại trên tinh thần xây dựng để tìm ra sự thật như đã xảy ra tại Bộ Tài Nguyên Môi trường lần trước và lần này rất đáng được hoan ngênh. Và đấy là cách duy nhất để giải quyết thấu đáo các rắc rối hiện tại sao cho có lợi cho bà con nông dân, cho chủ đầu tư và cho chính nhà nước, rút kinh nghiệm để cho việc sửa đổi Luật đất đai hiện thời tốt hơn.
Các quan chức nhà nước khác và cơ quan nhà nước khác có thể lấy đấy làm tấm gương.
Giá mà có cuộc đối thoại tương tự giữa bà con nông dân Văn Giang với nguyên Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và giá như ông cũng can đảm nhận sai lầm, nếu ông đã sai, và trong trường hợp ấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ ra quyết định hủy bỏ quyết định của nguyên phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, thì uy tín của Thủ tướng chắc sẽ lên cao.
Giá mà các quan chức nhà nước và các cơ quan nhà nước bớt được 50% (hay hơn) số vụ họ vi phạm luật do chính họ (nhà nước) làm ra, thì sự phát triển của đất nước đã tốt đẹp hơn rất nhiều.
Nguyễn Quang A
Theo Ba Sàm

Rừng luật (để) lách luật


Phó trưởng Ban Dân nguyện Hà Công Long trước nghị trường hôm qua, đã nói tới một sự thật: Từ hôm QH khai mạc đến nay, đã có 50 đoàn tới khiếu nại tại các cơ quan ở thủ đô.
Khoảng gần 2 triệu đơn thư đã được các cơ quan hành chính nhà nước đã tiếp nhận. Con số mà Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiếp nhận là 59.751 lượt. Trong lĩnh vực tư pháp, Tòa án các cấp đã thụ lý sơ thẩm 3.994 vụ. Đây là những con số chính thức mà báo cáo giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đưa ra trong lĩnh vực đất đai. Tất nhiên kèm theo những tính từ chỉ tính chất: Gia tăng. Phức tạp. Gay gắt.
Sự “gia tăng”, “phức tạp”, “gay gắt” đang biểu hiện sinh động trong con số 4.159 đoàn khiếu kiện trong chỉ 1 năm (2011). Phó trưởng Ban Dân nguyện Hà Công Long trước nghị trường hôm qua, đã nói tới tình trạng thời sự nóng hổi: Từ hôm QH khai mạc đến nay, đã có 50 đoàn tới khiếu nại tại các cơ quan ở thủ đô. Đó là sự thật mà các vị ĐBQH không thể không biết.
Trong vô số nguyên nhân dẫn đến khiếu tố, có “Nguyên nhân của mọi nguyên nhân”: Vì có quá nhiều văn bản luật liên quan đến đất đai.
Đó là một “rừng luật” mà báo cáo giám sát gọi là “sự bất cập”. Hôm qua, ĐBQH Nguyễn Ngọc Phương công bố trước nghị trường: Từ năm 2005 đến nay, đã có tới 445 văn bản hướng dẫn thi hành luật Đất đai. Bình quân, mỗi năm có gần 100 văn bản, (hay cứ mỗi 3 ngày là một văn bản). Chưa bao giờ, ở đâu có một thứ văn bản luật “nhanh lỗi mốt”, “Vừa ban hành đã lỗi thời, đã cần thay thể”. “Cái sau được dùng để khiếu kiện tố cáo cái trước”. Hoặc sinh động hơn, cứ 1 trang luật đất đai, có tới 19,5 trang hướng dẫn. “Cánh rừng” này, theo báo cáo giám sát, không những liên tục “thay đổi” mà còn “thiếu tính ổn định”, “chưa đồng bộ”, “chưa sát thực tế”, “thiếu cụ thể”. Chính xác hơn là nó đang nằm trong một thực trạng mà Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương gói gọn trong “9 không”: không đầy đủ, không rõ ràng, không cụ thể, không tương thích, không minh bạch, không tiên liệu trước, không hợp lý, không hiệu quả và không hiệu lực.
“Một trong những khó khăn lớn nhất là một số quy định pháp luật về đất đai chênh nhau” – Giám đốc Sở TN&MT TPHCM Đào Anh Kiệt có lần thừa nhận. Còn Sở TN và MT Đồng Nai thì liệt kê ra cả chục điểm “chỏi nhau” giữa luật đất đai với các thứ, cũng luật, khác. Một quan chức hàng Cục trưởng có lần cũng thừa nhận: “Dưới Luật Đất đai là 13 nghị định và hơn 200 văn bản hướng dẫn, nhiều khi chúng tôi còn không cập nhật kịp cái nào còn hiệu lực, cái nào hết”.
Với một rừng luật, cái nọ xung đột với cái kia, cái nọ “chỏi nhau” với cái kia, người dân không “lạc” trong đó mới là lạ. Bởi nhiều văn bản luật, không có nghĩa là sẽ có một hành lang luật thông thoáng. Bởi trong “cánh rừng luật” âm u vừa thừa vừa thiếu đó, người có thể “lách luật” lại là những người về danh nghĩa đang thực thi pháp luật. Sự lách luật biểu hiện trong thứ mà Chủ nhiệm UB Tư pháp Nguyễn Văn Hiện từng nói “Thích thì giải quyết, không thích thì thôi”. Hoặc đó là những quyết định “không hợp lòng dân” từ “bệnh vô cảm” mà Chủ nhiệm UB Quốc phòng – An ninh Nguyễn Kim Khoa từng lấy câu chuyện cưỡng chế đất đai ở Tiên Lãng để chỉ ra. Thậm chí, kinh điển hơn là phát ngôn nổi tiếng một thời về án dân sự: Xử thế nào cũng được.
Có lẽ không tình cờ khi mà tình trạng càng nhiều luật, càng nhiều văn bản hướng dẫn luật thì luật càng rối và việc thi hành luật càng như gà mắc tóc.
Tại hội nghị trực tuyến toàn quốc về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng một mặt cho rằng: “Để phát triển kinh tế xã hội, ta đã xác định củng cố cơ sở hạ tầng là khâu đột phá, tất nhiên phải thu hồi đất theo quy hoạch”. Tuy nhiên, ông cũng khẳng định: Nhưng phải làm hài hòa để đừng nảy sinh thêm khiếu kiện đất đai, có mâu thuẫn phải giải quyết thỏa đáng, phù hợp”.
Sự hài hòa mà Thủ tướng nói tới có lẽ phải bắt đầu bằng việc phát quang rừng luật, thứ đang dẫn tới khiếu tố, thứ đang tạo điều kiện cho sự lũng loạn, nhân danh pháp luật. Phải bắt đầu bằng việc sửa “lỗi hệ thống. Bắt nguồn từ Quốc hội, đến Chính phủ”- chữ dùng của ĐBQH Nguyễn Ngọc Phương- “Để sau khi bấm nút, Luật Đất đai không phải cần quá nhiều văn bản hướng dẫn thi hành nữa”.
Đào Tuấn

Thứ Năm, ngày 08 tháng 11 năm 2012

Thương hiệu vàng quốc gia, có cần không?

Chuyện vàng trở thành đề tài bàn tán sôi nổi, cả ngoài xã hội lẫn trên hội trường Quốc hội. Nhưng có một câu hỏi chưa thấy ai, kể cả các quan chức ở Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trả lời: Vì sao cần có một thương hiệu vàng quốc gia?
Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình chỉ giải thích vì sao chọn SJC làm thương hiệu vàng quốc gia (“SJC chiếm 93-95% thị trường vàng miếng; để tránh sự nhầm lẫn và lãng phí nên chúng tôi chọn thương hiệu này”) mà không nói vì sao cần phải có một sự chọn lựa như thế. Ông khẳng định không hề bắt buộc người dân phải chuyển đổi từ các loại vàng khác sang vàng SJC cũng như không hề có sự phân biệt đối xử giữa các loại vàng này. Thế thì chọn SJC làm thương hiệu vàng của NHNN để làm gì?
Nếu nói NHNN đang nỗ lực chống hiện tượng “đô-la hóa”, “vàng hóa” trong nền kinh tế thì việc có một thương hiệu vàng quốc gia lại góp phần làm nặng thêm tình trạng “vàng hóa” chứ đâu phải ngược lại.
Theo thông lệ quốc tế, vàng được chia làm hai loại: vàng tiền tệ và vàng phi tiền tệ, tức là vàng hàng hóa. Vàng tiền tệ là vàng do ngân hàng trung ương sở hữu và nắm giữ làm tài sản dự trữ, lúc đó vàng cũng tương đương như ngoại tệ. Ví dụ, chính phủ Mỹ nắm giữ 8.133 tấn vàng, chiếm đến 76,6% tổng dự trữ ngoại tệ của nước này; hay Trung Quốc có chừng 1.054 tấn vàng dự trữ, chỉ chiếm 1,8% tổng dự trữ ngoại tệ (số liệu cuối năm 2010). Vàng phi tiền tệ là vàng do người dân, doanh nghiệp hay thậm chí do các ngân hàng thương mại nắm giữ cho dù mục đích là kinh doanh hay lưu giữ giá trị.
Nếu NHNN bỏ tiền ra mua vàng đưa vào kho dự trữ của mình thì lúc đó mới gọi là hạn chế tình trạng “vàng hóa”. Vàng đưa vào dự trữ là vàng thỏi bốn số 9, chứ cần gì phải là vàng có thương hiệu quốc gia. Đằng này khi quyết định chọn SJC làm thương hiệu vàng quốc gia trong khi trong tay nắm không bao nhiêu số lượng vàng này, có nghĩa NHNN đã “vàng hóa” trên quy mô lớn, thậm chí là rất lớn, bởi vàng SJC trong tay người dân có khả năng biến thành vàng tiền tệ trong một sớm một chiều. Hay nói cách khác, vàng SJC trong dân từ chỗ là hàng hóa bình thường nay bỗng trở thành một dạng ngoại tệ, càng làm chính sách tiền tệ khó điều hành.
Nhìn như thế mới thấy vì sao giữa vàng SJC và vàng thương hiệu khác đang có chênh lệch lớn về giá, vì sao người dân cứ chuyển đổi vàng phi SJC thành vàng SJC cho yên tâm bất kể lời trấn an hay lời khuyên của quan chức không nên vội vàng chuyển đổi.
Ở góc độ quản lý, có người giải thích, sở dĩ NHNN quyết định có một thương hiệu vàng quốc gia là để ngăn ngừa chuyện nhập lậu vàng, làm thất thoát ngoại tệ và gây căng thẳng tỷ giá. Mỗi khi giá vàng trong nước cao hơn giá vàng quốc tế, dân buôn lậu sẽ thu gom đô-la Mỹ đem ra nước ngoài mua vàng, chuyển lậu về Việt Nam để hưởng chênh lệch giá. Nay vàng lậu đem về lại bằng giá quốc tế (hiện giá vàng phi SJC thấp hơn giá vàng SJC nên gần như tương đương giá vàng thế giới) thì sẽ không còn ai buôn lậu, cầu ngoại tệ không có thì áp lực lên tỷ giá sẽ không tồn tại.
Ở đây chúng ta thấy ngay hàng loạt lỗ hổng về quản lý. Có gì bảo đảm vàng lậu nhập về không được chuyển thành vàng SJC với chi phí không đáng kể dưới dạng vàng phi SJC muốn chuyển đổi thành vàng SJC? Hiện nay quá trình này vẫn đang diễn ra và NHNN chịu áp lực phải giúp chuyển đổi nhanh, đi đến chỗ không còn chênh lệch giá giữa các loại vàng. Như thế chọn SJC làm thương hiệu vàng quốc gia có giúp ổn định tỷ giá chăng? Có ai bảo đảm tỷ giá không biến động nhờ chính sách vàng hay nhờ Việt Nam từ chỗ nhập siêu lớn sang xuất siêu hay do đồng đô-la Mỹ yếu đi so với nhiều đồng tiền khác? Quan trọng hơn, một khi NHNN khẳng định không phân biệt đối xử giữa các loại vàng thì làm sao hạn chế được vàng nhập lậu như mong muốn.
Việc quyết định phải có một thương hiệu vàng quốc gia đang gây ra nhiều xáo động trên thị trường, tạo ra nhiều khe hở dễ bị lợi dụng, đồng thời tạo ra cơ chế xin cho nên sẽ có nhiều người hưởng lợi và nhiều người, chủ yếu là người dân thiếu thông tin bị thiệt hại.
Đáng ngạc nhiên nhất, thương hiệu vàng quốc gia là chuyện nói miệng chứ không có cơ sở pháp lý nào cả. Nghị định 24/2012/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng hoàn toàn không có dòng nào về thương hiệu vàng quốc gia. Nghị định này chỉ nêu nguyên tắc quản lý là “Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng” và định nghĩa rõ: “Vàng miếng là vàng được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉ khối lượng, chất lượng và ký mã hiệu của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép sản xuất hoặc vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất trong từng thời kỳ”. Rõ ràng tinh thần của Nghị định này là sẽ tồn tại song song nhiều thương hiệu vàng miếng chứ đâu nói gì đến một thương hiệu vàng quốc gia!
Nguyễn Vạn Phú

Không đơn giản chỉ “yes or no”

Việt Nam chưa từng có một cuộc trưng cầu dân ý, dù hàng năm, các quyết sách liên quan đến “vận mệnh quốc gia” vẫn được quyết đều đều.
Nhân dân đáng lẽ có quyền quyết định những dự án như Bauxite Tây Nguyên, Đường sắt cao tốc, Điện hạt nhân. Người dân Hà Tây, Hà Nội đáng lẽ có quyền được trưng cầu về việc sáp nhập Thủ đô. Rồi thì dân Quảng Nam, Đồng Nai, cũng đáng lẽ có quyền có ý kiến về những dự án thủy điện đang đe dọa nguồn nước, rừng cây, sinh kế, đến những vấn đề phạm trù “môi trường sống”. Khi mà chúng ta đáng lẽ phải trưng cầu dân ý đối với những vấn đề liên quan đến đất nước, đến nhân dân nhiều như vậy.
Chữ “đáng lẽ” được Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp Đinh Xuân Thảo dùng, như ông cũng thẳng thắn trả lời nguyên nhân việc trưng cầu dân ý chưa bao giờ được thực hiện trên thực tế là bởi “Chúng ta chưa coi trọng”.
Mà trưng cầu dân ý thì thuộc về phạm trù “dân chủ trực tiếp”, thuộc về vấn đề quyền công dân.
Hôm qua, một số ý kiến đã “việt vị” khi đánh giá quy định này là “mới”.
Trưng cầu dân ý, hay bỏ phiếu toàn dân, từ năm 1898 đã diễn ra ở Canada liên quan đến việc Chính phủ muốn cấm rượu mạnh. Ở Việt Nam, Điều 21 của bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 quy định rất rõ ràng: Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc có liên quan đến vận mệnh quốc gia (Do Quốc hội quyết định). Quy định trưng cầu dân ý được nhắc lại trong điều 53 của Hiến pháp 1959 (do Ủy ban thường vụ QH quyết định). Tới Hiến pháp 1980, nó vẫn đàng hoàng nằm trong điều 100 và việc trưng cầu do Hội đồng nhà nước quyết định. Và Hiến pháp 1992, trưng cầu dân ý được quy định trong thậm chí 2 điều: 53 và 84, với thẩm quyền quyết định là Quốc hội.
Phải liệt kê dài dòng như vậy là để thấy những quy định về dân chủ trực tiếp ở ta chả phải thiếu. Cái thiếu là ở Việt Nam chưa từng có một cuộc trưng cầu dân ý, dù hàng năm, các quyết sách liên quan đến “vận mệnh quốc gia” vẫn được quyết đều đều.
“Theo ông thì quy mô, tính chất vấn đề như thế nào bắt buộc chúng ta phải đưa ra trưng cầu dân ý?”. Lao động hôm qua đã đặt câu hỏi với một trong những tác giả của Hiến pháp, Viện trưởng Thảo. Ông Thảo nói, đúng một cách tuyệt đối: Cái này sẽ được quy định trong luật.
Có lẽ, cũng không cần nêu thêm câu hỏi “bao giờ”, bởi đó là câu hỏi mà không ai có thể trả lời cho dân chúng được.
Nhưng từ năm 1946, luật trưng cầu dân ý vẫn đang là món nợ mà chúng ta đang nợ dân, một món nợ về quyền hiến định của họ. Đó là một thực tế không thể phủ nhận. Bởi có những quy định về dân chủ trực tiếp trong hiến pháp, đạo luật “mẹ của các luật”- là một chuyện. Cái quyền đó có được thực hiện trong thực tế hay không lại là câu chuyện hoàn toàn khác.
Trước Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban tư pháp Nguyễn Đình Quyền nói trưng cầu đơn giản chỉ là việc “yes or no” (đồng ý hay không đồng ý) và nhiều nước trên thế giới, việc trưng cầu dân ý đã thành truyền thống. Nhưng để việc người dân có thể đồng ý hay không đồng ý, trước hết lại không phụ thuộc vào việc họ “yes or no”, mà phụ thuộc vào việc “chúng ta” có đồng ý hay không đồng ý, phụ thuộc vào việc chúng ta “yes or no” thời điểm món nợ với dân đang lần lữa suốt 66 năm nay.
Đào Tuấn

Thứ Tư, ngày 07 tháng 11 năm 2012

Sài Gòn với nền kinh tế vỉa hè

Được nhiều người coi là “miền đất hứa”, TP. Hồ Chí Minh cũng phải đối mặt với những khó khăn, phức tạp mà một phần không nhỏ đến từ những người lao động phi chính thức.
Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa mở rộng đô thị, ruộng đất làm nông nghiệp bị thu hẹp, áp lực việc làm ngày càng lớn đối với lao động nông thôn, người di cư ra thành phố càng đông đúc. Số người này nếu không có vốn, không được học nghề do không đủ trình độ học vấn, không kiếm được việc làm dù là giản đơn trong các khu chế xuất – khu công nghiệp (KCX-KCN) thì không còn sự chọn lựa nào khác là trở thành lao động phi chính thức ở nhiều khu vực kinh tế.Nền kinh tế chủ yếu của Việt Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng là nông nghiệp. Với đặc trưng cơ bản của cơ cấu thời gian mang tính thời vụ, vì vậy thời gian “nông nhàn” cũng là thời gian người nông dân tận dụng để kiếm thêm thu nhập từ họat động kinh tế phi nông nghiệp, lên thành phố kiếm việc làm thêm là khá phổ biến.Cùng với việc ruộng đất bị thu hồi hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng cho các KCN – KCX hay những công trình khác, hiện nay có thể nói, nông dân là lực lượng “tiềm năng” của lao động phi chính thức tại các đô thị.
Chỗ trũng
Ở Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh lao động phi chính thức là thực tế khách quan tồn tại ngay từ lúc đô thị được hình thành, ngày càng phát triển mạnh mẽ và đa dạng do những nhu cầu nội tại của đời sống đô thị.
Trong thời kỳ đô thị trung cổ các ngành kinh tế hầu không có sự phân biệt giữa “chính thức” và “phi chính thức”, nhưng từ khi hình thành các đô thị thời cận đại vào cuối thế kỷ XIX ở Sài Gòn – Bến Nghé đã đồng thời làm hình thành và tách biệt hai khu vực kinh tế này. Sự thành lập những nhà máy, công sở, cơ sở dịch vụ công như bệnh viện, trường học… ở Sài Gòn thời Pháp thuộc tuy số lượng không nhiều nhưng cũng đủ để hình thành một tầng lớp xã hội “làm công ăn lương”, làm việc theo những luật lệ “hành chính” về giờ giấc và nhiều yếu tố khác. Có thể coi đây là sự hình thành tầng lớp “thị dân” – cư dân sống ở đô thị và làm những nghề nghiệp của đô thị, có lối sống thị dân khác với những người lao động khác ở thành phố.
Khu vực “kinh tế chính thức” tập trung ở trung tâm hành chính – quận 1, quận 3 hiện nay. Còn lại các khu vực khác của Sài Gòn – Chợ Lớn là nơi phát triển thương nghiệp dịch vụ, xóm lao động, vùng Gia Định chủ ýếu là nông nghiệp… Khu vực kinh tế “phi chính thức” bao quanh khu vực “kinh tế chính thức” là hạt nhân của đô thị, là “vùng lõi” của quy hoạch kiến trúc thành phố. Đặc điểm này xuyên suốt sự phát triển của đô thị Sài Gòn từ cuối thế kỷ XIX đến nửa cuối thế kỷ XX.
Sài Gòn còn trải qua một thời gian dài thời kỳ chiến tranh. Khác với Hà Nội (trong chiến tranh những người làm trong thành phần kinh tế chính thức – làm nhà nước – đều tản cư, sơ tán về nông thôn, hòa bình mới trở về thành phố, trong khí đó người làm kinh tế phi chính thức hầu như không bị bắt buộc đi khỏi thành phố), Sài Gòn lại là nơi người dân nhiều vùng nông thôn từ miền Trung, từ đồng bằng sông Cửu Long đổ vào thành phố.
Hầu như không có nghề nghiệp, không có hoặc ít vốn, họ tham gia vào lực lượng lao động phi chính thức bằng những công việc như buôn bán nhỏ lẻ, hàng rong, dịch vụ, lao động thủ công, chuyên chở bằng xe thô sơ… Địa bàn làm việc của họ, có thể nói khái quát, là “ngòai trời” gồm lòng lề đường, các công trường, chợ búa…
Sau năm 1975 một bộ phận người dân trở về quê quán, một bộ phận khác đi vùng kinh tế mới, khu vực việc làm phi chính thức thu hẹp. Cấu trúc kinh tế của thành phố chỉ còn “một thành phần” nên nhiều lọai hình kinh tế và việc làm ngòai quốc doanh trở thành “phi chính thức”.
Khi kinh tế nước ta lâm vào thời kỳ khó khăn “trước đổi mới” và nhất là từ cuối những năm 1990 đến nay quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, thì thành phố lại như một “chỗ trũng” có thể dung nạp những dòng người “chảy” vào kiếm sống, phần nhiều tham gia vào hình thức “kinh tế vỉa hè”.
Khu vực kinh tế phi chính thức càng mở rộng, phong phú đa dạng về lọai hình, cách thức họat động và ngày càng có đóng góp đáng kể phục vụ cho cuộc sống đô thị và cho sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên sự nhìn nhận của nhiều “người thành phố” đối với dân nhập cư, người bán hàng rong, trẻ đường phố vẫn có phần xem thường, thương hại, thậm chí họ còn bị coi là nguyên nhân chính làm cho thành phố chưa có nếp sống “văn minh đô thị”.
Từ nông thôn mới lên hoặc sống ở thành phố chưa lâu, tầng lớp này được gọi chung là “dân nhập cư”. Lâu dần sẽ trở thành / tham gia vào tầng lớp “dân nghèo thành thị” mà hiện nay dùng khái niệm mới là “nghèo đô thị”. Địa bàn cư trú của những lao động này thường ở các huyện ngọai thành, quận vùng ven hay trong những khu hẻm sâu “nhà lá” ở các quận nội thành. Không có nghề nghiệp “được đào tạo” và không có điều kiện tiếp cận cơ hội đào tạo nghề nghiệp nên phần lớn lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức đều phải chấp nhận điều kiện làm việc kém, thu nhập thấp, không được hưởng quyền, nghĩa vụ lao động, quỹ phúc lợi xã hội, dịch vụ công ích…
Đặc biệt số lượng phụ nữ tham gia vào khu vực kinh tế này khá lớn, từ “buôn gánh bán bưng” đến công nhân tại KCN – KCX, từ giúp việc nhà đến làm việc trong quán xá, từ thợ hồ đến thậm chí làm xe ôm… Lao động nữ mang một trách nhiệm như “thiên chức”, đó là luôn hy sinh, chịu thiệt thòi vì gia đình.
Cũng như cả nước, TP. Hồ Chí Minh đã có khá nhiều hoạt động, tổ chức tương trợ đối với người lao động tự do, trẻ em đường phố, dân nhập cư. Thế nhưng, quy mô và hoạt động của những tổ chức này vẫn chưa thật sự tạo được sự tiếp cận sâu sát, kịp thời đến đối tượng này và quan trọng hơn là chưa lôi kéo họ cùng tham gia các hoạt động tương trợ.
Phần lớn người lao động phi chính thức chưa biết cách khai thác sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội mà vẫn thụ động, tự bảo vệ mình một cách kém hiệu quả. Với những đóng góp của lao động phi chính thức đối với xã hội và nền kinh tế hiện nay, việc thừa nhận vị trí, vai trò xã hội và tạo điều kiện cho họ thụ hưởng các dịch vụ công ích là điều rất cấp thiết.
Kinh tế vỉa hè
Thành phố Hồ Chí Minh phát triển từ đô thị Sài Gòn – Bến Nghé lớn dần lên, nối kết với các trung tâm khác là Chợ Lớn và Gia Định. Tốc độ đô thị hóa của Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh trong giai đọan lịch sử nào cũng rất nhanh, tuy nhiên phải nhìn nhận rằng hiện nay quy họach của nhà nước không theo kịp tốc độ phát triển của thành phố, việc xây dựng tự phát do người dân chưa có ý thức cao trong việc tuân thủ quy họach của nhà nước, sự tùy tiện phát triển các khu dân cư xen lẫn thương mại, khu sản xuất… là rất rõ.
Có thể dùng cụm từ “làng trong phố” để hình dung về tính chất văn hóa nhiều khu đô thị mới. Đây chính là địa bàn thuận tiện cho lao động phi chính thức phát triển: từ việc buôn bán trong những chợ “chồm hổm” “chợ đuổi”… đến một “nền kinh tế vỉa hè”: buôn bán cố định/ di động, sản xuất, dịch vụ… Do cơ chế quản lý chưa phù hợp, “kinh tế vỉa hè” cũng “góp phần” làm cho thành phố còn nhiều nơi nhếch nhác, không mang dáng dấp của một đô thị văn minh hiện đại.
Việc sử dụng vỉa hè, lòng lề đường để kinh doanh, buôn bán, thậm chí sản xuất, làm các dịch vụ như giữ xe… còn xuất phát từ chính nhận thức của người dân. Nhiều người dân thành phố có quan niệm vỉa hè, lòng lề đường thuộc sở hữu của chủ nhà có mặt tiền đường. Và để có một chỗ buôn bán nhỏ lẻ ở vỉa hè trước mặt nhà không phải của mình đều phải được sự cho phép của chủ nhà và phải đóng một khoản tiền “thuê chỗ” hàng tháng.
Những năm gần đây, thành phố có chủ trương phát triển nhiều trung tâm để phân tán mức độ tập trung; ở nhiều quận do chưa hình thành các khu mua bán lớn nên lại bị phân tán theo các trục đường và lề đường. Quy hoạch khu hành chánh, trường học, chợ, cửa hàng… không theo khu vực “ô phố” đặc trưng của đô thị mà vẫn phân tán theo mặt tiền một số con đường chính nên làm việc gì người dân cũng phải “xuống đường”. Và thực tế, loại hình kinh tế phi chính thức phổ biến nhất ở TP Hồ Chí Minh là buôn bán trên vỉa hè từ nhiều năm qua đã nhanh chóng đáp ứng nhu cầu mua – bán nhanh, tiện lợi với các loại hàng hóa giá rẻ. Và đây cũng là điều kiện thuận lợi để các hoạt động kinh tế vỉa hè có điều kiện nảy sinh và tồn tại.
Cùng với đó “Văn hóa mặt Tiền” trở thành “đặc trưng” mới của đô thị Việt Nam, từ thành phố lớn đến thị trấn hẻo lánh (Có lẽ không có nước nào mà dân cư lại có thói quen, nhu cầu và “đua nhau” ra sống cạnh mặt đường lớn, nhỏ như ở nước ta! Trong khi đó ở các nước thì mặt tiền vỉa hè là không gian công cộng, cần tuân thủ những quy định chung của thành phố, không được tùy tiện sử dụng theo ý muốn cá nhân).
Thói quen này dẫn đến nhiều hệ lụy: Thứ nhất, quy họach và quản lý kiến trúc mặt tiền các con đường trở nên khó khăn, thậm chí làm cho hình thức kiến trúc xấu, không đồng bộ dù tốn kém rất nhiều kinh phí để xây dựng hay cải tạo đường xá (đường Nam Kỳ khởi nghĩa từ sân bay Tân Sơn Nhất về trung tâm thành phố Hồ Chí Minh là  ví dụ điển hình);
Thứ hai, những đường cao tốc mới xây dựng lại không thể lưu thông với tốc độ cao vì rất nguy hiểm khi dân cư trú ngay hai bên đường, không có khoảng lùi an toàn và cảnh quan cần thiết,  làm giảm hiệu quả xây dựng và đầu tư;
Thứ ba, buôn bán vỉa hè, lòng đường, mặt tiền đường phố và phương tiện giao thông cá nhân có mối quan hệ mật thiết của “cung và cầu”, xe cá nhân phát triển thì người sử dụng còn nhu cầu mua bán ngay ở vỉa hè lòng đường. Tình trạng tắc đường kẹt xe lại có thêm một nguyên nhân. Các nhà quản lý và điều phối giao thông thấy được điều này nhưng khó mà giải quyết.
Không để người dân tự giải quyết
Ở các thành phố như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, nếu phương tiện giao thông công cộng phát triển, tiện lợi, phù hợp nhu cầu, tạo điều kiện cho người dân có thói quen sử dụng xe công cộng thay vì xe cá nhân, nhu cầu “mua bán nhanh tiện lợi” sẽ chuyển đến các đầu mối giao thông như bến tàu xe, trạm xe bus, ga xe điện ngấm, bãi giữ xe hơi… Có nghĩa là những trung tâm mua bán, dịch vụ… sẽ được thiết lập ở đó.
Tuy nhiên, trong khi chờ đợi có được những yếu tố giao thông mang tính chất “giao thông đô thị”, bằng cách nào hạn chế mặt tiêu cực của “kinh tế vỉa hè” tác động đến nếp sống văn minh đô thị? Nên chăng cần tổ chức những con đường, khu vực theo ô phố – đặc thù quy họach đô thị, để duy trì và phát triển kinh tế vỉa hè, vừa giải quyết nhu cầu sinh sống của người bán, người mua, vừa đảm bảo mỹ quan và trật tự đô thị, vừa bảo tồn được nét độc đáo, cần thiết giữ gìn và có thể khai thác nó như một di sản văn hóa phi vật thể. “Văn minh đô thị” sẽ có bộ mặt mới.
Mặt khác cũng cần thấy rằng, những loại hình dịch vụ và buôn bán nhỏ hiện nay còn phù hợp với tập quán tiêu dùng, tiện ích, khả năng chi trả… của phần lớn người dân thành phố.
Hơn nữa, nó còn được xem giải pháp mưu sinh hữu hiệu của rất nhiều hộ dân nghèo, hộ thu nhập thấp, vì vậy cần tổ chức và tăng cường mạng lưới cửa hàng nhỏ lẻ trong các khu vực tập trung dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất… nhằm đáp ứng nhu cầu của đa số dân cư. Cũng vậy, việc hạn chế và lọai bỏ các lọai xe thô sơ 3, 4 bánh – phương tiện mưu sinh của hàng ngàn hộ gia đình, cũng cần có tính tóan thấu đáo khả năng chuyển đổi nghề nghiệp để không đẩy người dân vào chỗ khó khăn.
Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều thành phố, đô thị khác trong cả nước đang xây dựng nếp sống văn minh hiện đại. Không thể không bắt đầu từ yếu tố kinh tế: các ngành nghề của dân cư, lọai hình kinh tế cần được phát triển cân đối, đảm bảo quyền lợi của nhân dân nhưng cũng đảm bảo sự phát triển bền vững của thành phố.
Trong việc này vai trò quản lý và điều phối của nhà nước là chủ đạo, không thể trông chờ người dân tự giải quyết mà chỉ có thể kêu gọi ý thức chấp hành luật pháp và ý thức cộng đồng. Do đó, người nhập cư và vấn đề việc làm – kinh tế phi chính thức cần được nhìn nhận xem xét ở một góc độ lịch sử – văn hóa sâu rộng hơn, bên cạnh góc độ kinh tế, góp phần tìm ra giải pháp cải thiện đời sống của cư dân và phát triển những lợi ích của khu vực kinh tế phi chính thức.
Theo Tuần Việt Nam

Lãng phí cái ghế Chủ tịch (nước)

Sự đồng thuận tuyệt đối trong việc tăng quyền cho Chủ tịch nước tại QH hôm qua, không phải bởi để tránh lãng phí, dù đó đang là một cái ghế to, đang được dùng để “tượng trưng”.

Đương thời, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết có lần yêu cầu Mặt trận mở cuộc vận động hỏa táng, để tiết kiệm đất, và hát quốc ca, để giáo dục lòng yêu nước. Những điều đó là cần thiết, nhưng dường như đó không phải là việc xứng với tầm vóc của mấy chữ “nguyên thủ quốc gia”.

Đã từ rất lâu, trước dân chúng, chế định Chủ tịch nước rất đơn giản chỉ là người đọc vài câu “gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước” mỗi đêm giao thừa, xuất hiện trong những bản tin tiếp khách lễ tân; tới trao huân chương, dự lễ khánh thành. Sang hơn tí nữa thì ký ban hành luật. Và đó là một bộ luật đã được Chính phủ đệ trình và Quốc hội thông qua.

Rất ít điểm nhấn, như việc Chủ tịch nước cưỡi tàu ra Bạch Long Vĩ để khẳng định chủ quyền biển đảo. Hoặc Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định quyết tâm chống tham nhũng.

Đến ngay một công việc đã được quy định trong Hiến pháp, rằng Chủ tịch nước có quyền dự các phiên họp của Chỉnh phủ, thực ra, cũng chưa từng được thực hiện. Ngày hôm qua, Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp Đinh Xuân Thảo băn khoăn vừa hỏi vừa tự trả lời: Trước đây quy định Chủ tịch nước được quyền tham dự các buổi họp của Chính phủ. Nhưng quy định này là chưa rõ ràng. Có một cái ghế chủ tọa thì Thủ tướng ngồi rồi. Vậy thì Chủ tịch nước ngồi ở đâu!?”. Vấn đề mà ông Thảo nói, chắc chắn không phải là vì “thiếu một cái ghế”. Mà ở việc “kê thêm ghế”, và “chỗ đặt ghế”.

Cái ghế Chủ tịch nước, trong Hiến pháp, là nguyên thủ quốc gia, nhưng thực tế, lại rất “tượng trưng”- Đây là từ mà ĐBQH Nguyễn Thị Quốc Khánh đã sử dụng. Theo bà Khánh, chế định Chủ tịch nước chỉ có thực quyền trong thời kỳ đầu khi Hiến pháp quy định Chủ tịch nước đồng thời là người đứng đầu Chính phủ. Tuy nhiên, “càng về sau, chế định Chủ tịch nước, dù vị trí rất quan trọng nhưng chỉ mang tính chất tượng trưng”. Sau khi nhắc đi nhắc lại rằng : “Chúng ta phải thừa nhận thực tế như vậy”, sau khi ngập ngừng mất vài giây, bà Khánh sau đó đã quả quyết dùng chữ “lãng phí”: “Và điều đó là rất lãng phí”.

Ngày hôm qua, ĐBQH nào phát biểu liên quan đến chế định Chủ tịch nước đều tán thành việc cần tăng quyền lực cho chức danh này. Đây là một sự đồng thuận tuyệt đối hiếm thấy tại Quốc hội.

Viện trưởng Đinh Xuân Thảo nói: Hiến pháp quy định rõ những gì gắn với chức năng của Chủ tịch nước thì chế định này có quyền yêu cầu triệu tập phiên họp Chính phủ. Chủ tịch nước là Thống lĩnh lực lượng vũ trang, Chủ tịch HĐ quốc phòng an ninh. Được phong quân hàm cấp tướng từ thiếu tướng trở lên, chuẩn đô đốc hải quân trở lên. Chủ tịch nước được quyền bãi bỏ văn bản của chính phủ, Thủ tướng chính phủ. Chủ tịch nước có quyền đề nghị QH bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Đình Quyền, người tự nhận “nói thẳng quá nên giờ người ta không mời góp ý cho Hiến pháp nữa” cũng để nghị: “Cần xem xét vai trò của Chủ tịch nước trong mối quan hệ với Quốc hội, đặc biệt là đối với Chính phủ khi trong Hiếp pháp 1992, quy định về mỗi quan hệ này là rất mờ nhạt”.

Và bà Khánh đương nhiên đặc biệt tán đồng bởi theo bà : “Tăng quyền cho Chủ tịch nước chính là việc tăng cường kiểm soát quyền lực của nhau (các chế định khác)”.

Nhưng rõ ràng, sự đồng thuận tuyệt đối tại QH hôm qua, không phải bởi để tránh lãng phí.

Bởi nếu để tránh lãng phí thực sự, và không chỉ là một “cái ghế”, thì Hiến pháp đáng lẽ phải tái lập chế định Chủ tịch nước như bản hiến pháp đầu tiên năm 1946, theo đó Chủ tịch nước vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Và trả lại quyền kiểm tra, giám sát, bổ nhiệm, miễn nhiệm, hủy bỏ cho Quốc hội. Huống chi, ở Việt Nam còn có chế định “Đảng cộng sản” cũng được ghi trong Hiến pháp.
Đào Tuấn
Theo Đào Tuấn blog

Thứ Ba, ngày 06 tháng 11 năm 2012

Hãnh tiến trên sự nói dối hoành tráng

Nhân dân Viêt nam đều căm giận khi Bắc Kinh tiến quân đánh phá Việt nam, hiện đang còn chiếm đóng một phần biển đảo, và hằng ngày đang đe dọa chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.
Nhưng dân chúng càng bực bội hơn, khi thấy  lãnh đạo Việt Nam tỏ ra thân thiện với cách ứng xử giống như là nhu nhược, trước nhà cầm quyền Bắc kinh. Người dân thật sự không biết điều gì đã và đang diễn ra giữa họ (lãnh đạo hai bên), khi mà tình hình đất nước ngày càng trở nên khó khăn, với các hiện tượng can thiệp công khai kín hở của Bắc kinh, dưới khẩu hiệu hợp tác “chiến lược, toàn diện”, lấy điểm chung là cùng “chủ nghĩa xã hội”, cùng “đảng CS” làm nền tảng cho các mặt hoạt động: kinh tế, chính trị, an ninh, quân sự… Người ta thấy diễn  ra liên tục và dày đặc những cuộc tiếp xúc của họ với lãnh đạo Việt Nam ở mọi thời điểm, vào mọi sự kiện lớn nhỏ đang có của VN.
Và mới đây, lại diễn ra cả việc hợp tác báo chí với Đảng CSTQ để tuyên truyền, “giáo dục” nhân dân Việt nam. Một chủ trương rất khó hiểu, mang nhiều nghĩa với nội dung phức tạp.
Trong bối cảnh đó, người dân càng không thể không phẩn nộ trước sự điều hành quá tồi tệ của một bộ máy nhà nước, vừa thiếu khả năng, vừa thiếu phẩm chất, đầy rẩy tham nhũng, lại đầy vẻ hãnh tiến của nhiều cán bộ trên những việc làm không mấy lương thiện.
Chúng ta đang ở trong một vùng trũng ngập ngụa những điều bất cập, mà ở đó lá cờ “liên kết” XHCN, kiêu hãnh một cách đáng tiếc, cứ thế tung bay.
1-Lá phiếu oan nghiệt ?
Trước mắt chúng ta là sự sa đọa trầm trọng trong thượng tầng tham nhũng của bộ máy nhà nước ai cũng biết. Dù Bộ Chính Trị trực tiếp chủ trì cuộc vận động đấu tranh chống tham nhũng rộng lớn, nhưng dường như nó đã trượt ra khỏi tầm tay. Trước đó, ít người tin rằng nó sẽ đem lại hiệu quả, vì người ta nghĩ đến cái gốc cơ chế sản sinh ra nó. Và sau đó, kết thúc Hội nghị 6 dù không ngạc nhiên, nhưng không  khỏi gây ra một trạng thái não nề đau đớn cho những ai mong muốn một sự đổi mới của tình hình đất nước, không chỉ ở cái quả, mà cả ở cái gốc của cây tham nhũng.
 Tổng Bí Thư và Chủ Tịch Nước, hình như cả hai đều nghẹn ngào nói với quốc dân rằng, tham nhũng còn đang hoành hành, đang gây hậu quả nặng nề, sự nghiệp chống tham nhũng sẽ được tiếp tục đẩy mạnh, và kêu gọi toàn dân tham gia. Biết nói gì hơn ? Quả bóng ảo y như rằng, đang được đá về phía “chân không giày” của nhân dân. Nụ cười “mỉm chi” của TT Nguyễn Tấn Dũng, mà người ta ví von với nụ cười đầy bí ẩn của nàng Monalisa, như dự báo một cho một trắc nghiệm điều gì đó, ngay khi mở đầu phiên họp . Và khi kết thúc hội nghị, nụ cười ấy đã vỡ òa tươi vui, tương phản với nét u buồn không che dấu của TBT Nguyễn Phú Trọng và CTN Trương Tấn Sang. Người ta cho rằng, hội nghị không có kết quả như mục tiêu của nó, và tham nhũng đã thắng thế với số phiếu áp đảo.
    Người dân nín lặng, biết rằng sân chơi, dù rất “sanh tử” nầy, chỉ là của Đảng, không thuộc về mình. Nụ cười rạng rỡ kia là sự hãnh tiến trên một loại quyền lực. Nỗi u buồn nọ thì lại trên nền của một nhận thức cố chấp, trung thành một cách đáng tiếc, về một cơ chế đáng lẽ phải cải tổ, lại gắn bó chung một cách lạ lùng với chủ thuyết của kẻ đang đe dọa chủ quyền đất nước ta là Bắc kinh. Nên cái vui và buồn ấy chỉ là bức tranh “vân cẩu” trước cái nhìn cay đắng của nhân dân.
 Ngày mà ông Nguyễn Phú Trọng được nội bộ chọn lên làm TBT, ông hứa hẹn một “đột phá” về lý luận xhcn để phá vở vòng tròn xơ cứng và bầy hầy của bao năm qua. Và ông đã làm điều đó, bằng một diễn văn tai tiếng ở Cuba, gây nên một cơn cảm sốt bất ngờ cho người trong nước và thế giới về một VN tiền phong đỉnh cao xhcn! Lần thứ hai, ông dành tâm huyết cho cuộc “đột phá” bằng cách “phục hồi” nguyên lý phát triển “phê bình và tự phê bình” để củng cố Đảng. Và kết cuộc, đã nhận ra, vũ khí phê bình không thay thế được sự phê bình bằng “lá phiếu”, không phải lá phiếu của dân chủ , mà lá phiếu của phe cánh và tiền-vàng. Đạo đức của hai ông thì rất đáng ngợi ca, một người tuổi cao, chức lớn nhất trong Đảng mà “đi xe đạp thăm bạn”, một người chức to nhất nước, chỉ ở trong căn nhà “51 mét vuông”, là hình ảnh đẹp, trái ngược với hầu hết những quan chức đương quyền có cảnh ngựa xe như nước, lâu đài như nêm, nhưng đã không thể thắng được những lá phiếu của thời đại gọi là suy thoái ! Người xưa nói, người “quân tử” gặp nhau trong chén nước lã, kẻ “tiểu nhân” thì thân nhau qua rượu thịt, kết nhau thành số đông.
Ý nói là quyền lợi gắn bó cùng nhau tạo nên sức mạnh. Tham nhũng hiện nay là một cách kiếm tiền mà những người tham nhũng cho rằng, nó đương nhiên là lương thiện, phù hợp trật tự, lại hợp lý với hệ thống, với trào lưu đang lên của thời đại, thấy trong lòng hạnh phúc lên hương chứ không phải là áy náy. Họ không hề băn khoăn cho mình là kẻ tiểu nhân, mà thấy mình là người anh hùng, mưu trí, thành đạt, hãnh tiến rung đùi.
Qua những lần tiếp xúc cử tri, người ta thấy các ông rất cần nhân dân. Nhưng nhân dân đâu rồi ? Nhân dân đã bị tước hết mọi thứ quyền từ lâu, không có chỗ nào bám víu, vì “không tam quyền phân lập”, mọi việc làm ăn của dân chúng đều lệ thuộc vào bàn tay thao túng của các cấp. Sở hữu đất đai là một trong những quyền căn bản cho sự sống của người dân thì thuộc quyền “đại diện thống nhất quản lý”, mà chính TBT đã khẳng định theo cách áp đặt, và chính “chúng nó” đã tạo nên những “lá phiếu” tín nhiệm kia.
Vì sự tham nhũng đang diễn tiến là toàn diện và có hệ thống, bởi tính chất của cơ chế là một cấu trúc gắn chặt quyền lực chính trị với cơ cấu kinh tế bao trùm. Hệ thống “lợi ích lớn” và hệ thống “lợi ích nhỏ”, như tấm lưới khổng lồ phủ khắp đất nước, đang từng ngày làm cạn kiệt, bào mòn sinh lực của quốc gia. Các hoạt động làm ăn của người dân được xem là sự “ban ơn’ của bộ máy quan chức, khó khăn mỗi ngày đè nặng lên lưng người dân, trên đầu doanh nghiệp, “tiêu cực lặt vặt” là hằng triệu xúc tu tinh vi của hằng triệu cái vòi của con bạch tuộc. Nó thuộc về toàn bộ cơ thể, và nó được chỉ huy…
Cái gì sẽ xảy ra khi cái uy về giá trị tinh thần của đại diện công quyền không còn nữa ?
 Bữa ăn của người dân ngày càng ít lại, “giai cấp công nhân tiền phong” chấp nhận nuốt thực phẩm độc hằng ngày vì giá rẻ của Trung Quốc đang ngồn ngộn đổ sang bằng đường bộ và đường biển, dù biết là sẽ bệnh hoạn và chết sớm. Thiếu nữ sẵn sàng lao đi bốn phương tìm cách đổi đời trong cơn tuyệt vọng …Các thế hệ thanh niên khác đang quay vòng vòng trong cái “ao tù” giáo dục các cấp, đầy ô nhiễm và thiếu khí trời.
Tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng giờ đây, là công việc nội bộ của hệ thống nhà nước, và hệ thống nầy thì không thể tự hủy hoại, như người cầm dao tự thiến mình. Qua kết quả HN trung ương 6 cho ta thấy gì, nhất là Ông TBT và Ông CTN ? Cho dù đó là tấm gương trong sạch đáng được ngợi ca, nhưng hai ông có thể chống tham nhũng được không; khi mà ‘xã hội dân sự” không được thừa nhận, quyền công dân bị tước đoạt; khi mà Đảng lãnh đạo “toàn diện và tuyệt đối” kèm theo “đặc quyền đặc lợi” của mình, chắc như bàn đá ? Dân không đưa một ông lãnh đạo nào lên, thì dân không thể đưa một ông lãnh đạo nào xuống, cũng như mọi ông lãnh đạo lớn bé khác. Tình thế đã nói lên điều gì với lịch sử ? Các ông đang bảo vệ sự tồn vong của ai và “thế lực cầm quyền” nào, hay bảo vệ Dân tộc và Đất nước nầy, trước sự “hủ hóa” của “một bộ phận không nhỏ” với đồng tiền, và trước họa xâm lăng của Bắc kinh với âm mưu “diễn tiến hòa bình” của chúng ?
 Không một người dân nào muốn cho xã hội bị rối loạn, hay đất nước bị phủ bóng của Bắc kinh, nên họ mong muốn một sự cải tổ, như trước đây đã từng có chủ trương đổi mới, nhưng nó bị giật lùi, giật cục bởi chính sự đe dọa của bàn tay Bắc kinh. Ở trong trạng thái bóng râm nầy, việc chống xâm lược với mọi hình thức, được xem là làm mất ổn định chính trị, bị đồng hóa thành chống nhà nước, việc kêu đòi một xã hội công dân thì bị rơi vào “thế lực phản động”. Xã hội đang bị tham nhũng trị, và tham nhũng cũng trị lẫn nhau trong chừng mực nào đó. Cho nên TBT có nói : “chống tham nhũng là công việc hết sức phức tạp và lâu dài…”  Câu nói ấy thật là vô nghĩa ghê gớm, vì ai nói cũng được, và chẳng làm gì hết. Phức tạp là đương nhiên, vì nó nằm trong tự thân nó, lâu dài cũng đúng, cho đến ngày mà dân Nga không còn hô URA, dân TQ không còn hô VẠN TUẾ, và VN không còn hô MUÔN NĂM. Ngày ấy, không có bề trên nào cả, anh Chủ tịch nước có thể đến nhậu và xin phiếu anh Dân cày, không ai cao đạo để giáo dục ai. Kẻ nào muốn học thì tự đến trường. Tham nhũng cũng có chỗ dành sẵn, không phức tạp lâu dài chi cả, chỉ có điều không thể nghênh ngang nói phét. Cái thiên đường xhcn hình như hé lộ ở đâu đó, không phải ở đằng kia mà cũng không phải ở đâu đây.
2-Hợp tác với Trung quốc để giáo dục nhân dân ?
Tiếp kiến và làm việc với Ông Ngô Bằng Quyền, Tổng biên tập Nhân Dân nhật báo TQ, Ông Đinh Thế Huynh, Trưởng ban Tuyên giáo Trung  ương VN, tuyên bố : “Các ấn phẩm của hai báo phải gương mẫu tuyên truyền giáo dục nhân dân về tình cảm hửu nghị, chống lại những luận điệu tuyên truyền, sai trái, phá hoại sự nghiệp CM của mỗi nước, gây phương hại đến quan hệ hửu nghị giữa hai nước, hai đảng ,và nhân dân hai nước”.
Quyền tự do báo chí của người dân, được ghi trong Hiến pháp, thì không được thực thi, nay lại chính thức đưa cái quyền tuyên truyền và giáo dục của Đảng CS Trung quốc vào để cùng giáo dục nhân dân Việt nam. Đảng CSVN đã từng chống lại chế độ Phong kiến, lấy dân chủ làm mục tiêu, từng nói cán bộ lãnh đạo là “công bộc của dân”, tức “đầy tớ của nhân dân”, phục vụ cho quyền lợi của nhân dân. Ngày nay, bỗng dưng trở lưỡi, hai tiếng “giáo dục nhân dân” thường xuyên phát ra một cách ngon lành tự tin, từ miệng các quan chức lớn nhỏ, ngay cả Đoàn thanh niên cộng sản thì cũng hồ hởi “giáo dục” thanh niên, bạn của mình, những người cùng mài đũng quần trên cùng một chiếc ghế nhà trường. Cái tư tưởng hãnh tiến thật đáng tiếc, bộc lộ thẳng thừng, không che dấu một cách điển hình qua cách dùng một từ ngữ.
Thế mà chưa đủ, nay đưa cả cơ quan tuyên truyền của TQ – một quốc gia khác- vào cùng “tuyên truyền giáo dục nhân dân ta”! Mặt khác, nước VN, về tầm vóc so với TQ thì thân phận như con ong cái kiến, dám đâu và cũng chưa từng bao giờ “phá hoại sự nghiệp CM” của TQ, mà ngược lại, thì đã quá rõ ràng như bao đời nay và ngày nay. Điểm nữa, “Xuyên tạc, nói xấu”TQ thì cũng không dễ, lại hao tổn công sức mà chẳng ích lợi gì. Nói ngay thẳng, nói đúng sự thật còn chưa hết cái xấu, cái hiểm ác, của TQ đối với VN, hơi đâu đặt điều ! Còn về cái “tình hữu nghị’ rất ư khốn cùng nầy, thì dân mong gỡ còn chưa ra, nói gì đến ai đó vào đây để xây đắp với phá hoại ? Ông Đinh Thế Huynh, hãy thay mặt BCT mà chỉ ra cái lỗi của nhân dân ta ở đâu đối với Trung Quốc, để mà nay đến nỗi phải rước họ vào, cùng với họ giáo dục nhân dân ta ? Bỗng dưng vì sao lại quàng vào trên đầu nhân dân một thứ tai ách oan khiêng như vậy ? Hằng ngày trên báo Hoàn Cầu, Thời báo tiếng Anh (đều là báo chính thống của đảng TQ) đã chẳng ra rã vu khống, chửi VN ta đó chưa đủ sao ? Họ gọi Luật biển của VN là một “trò hề lố bịch”. Liệu rằng các tờ báo nói trên có là thế lực thù địch của tình hữu nghị mà TQ sẽ mời ông Huynh sang đó giáo dục ?  Khi người dân xuống đường phản đối sự xâm lược của TQ thì chưa đủ cho sức giáo dục dư thừa của Trung tướng Nhanh và Thượng tướng Vịnh đó sao, mà cần thêm nữa ? Quốc hội VN có cần phải đặt ra thêm một khung luật hình sự dành sẵn cho “thế lực thù địch của cái tình hữu nghị Việt-Trung” nầy hay không ? để mà lùa tất cả những ai biểu tình, khác ý kiến, chống hành vi cướp nước, cướp đảo của TQ, vào cái rọ thù địch phá hoại tình hữu nghị, âm mưu lật đổ chế độ nghiệt ngã ?
Về mặt văn bản, thì chữ nghĩa rất ngang bằng, bình đẳng “hai báo.., hai bên.., hai đảng… hai nước cùng giáo dục nhân dân”, kể cũng phấn khởi được ngồi ngang và được xóa cái mặc cảm từ làng lên quận. Nhưng tiếc thay, cái bình đẳng đó chỉ là hình thức. Cuộc chơi chung nầy liệu sẽ đem lại lợi và hại cho ai ?. Văn kiện thì đẹp mã công bằng, nhưng nước thì chảy về chỗ trủng. Vì hẳn nhiên, ông Đinh Thế Huynh, và bất cứ vị nào trong Bộ chính trị VN lại có thể chạy sang TQ mà tuyên truyền giáo dục nhân dân TQ giữ tình hửu nghị ? Dân số cả nước VN chưa bằng số dân trong một tỉnh của họ, tỉ lệ 80/1330 triệu, thế mà TQ lại chịu “lép vế” trong cái trò chơi rất ngang hàng nầy. Bởi vì sự hợp tác nầy sẽ chỉ diễn ở VN thôi, họ được tiếp tay một cách hợp pháp, tha hồ tuyên truyền giáo dục cho nhân dân VN về “đại cục hửu nghị xã hội chủ nghĩa mang màu sắc TQ”, về “cái ơn” giúp súng đạn, còn ta góp phần xương máu cho cuộc chiến trước,  và để êm đi cuộc chiến biên giới, và quên đi Hoàng Sa, Trường Sa, quên đi vĩnh viễn mấy vạn chiến sĩ VN đã ngã xuống và không được nhắc tới. Họ cần làm cho nhân dân VN thấm nhuần rằng, những gì họ đã đánh cướp được, là chuyện của ngày hôm qua, thuộc về “lịch sử”, cần phải gát lại. Thế là ta cũng y như thế…gát qua, để không phương hại đếntình hửu nghị hôm nay vừa mới gia cố. Nay, tiến thêm một bước nữa, ông Đinh Thế Huynh hồ hỡi được giao nhiệm vụ hợp tác với họ, để cùng giáo dục nhân dân VN về điều gì nữa ?  Nhân dân VN hoa mắt trước sự hợp tác huê dạng: “nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung”, làm sao hiểu được chuyện tình nầy ?  Họ đã từng dạy những trang lịch sử dối trá cho nhân dân và học sinh TQ, nhưng khi đưa chương trình giáo dục “lòng yêu nước”của Đại lục vào học sinh Hồng Kông, vốn thuộc lãnh thổ của họ, họ đã thất bại thảm hại vì sự chống đối quyết liệt của người dân ở đây.
Nhân dân VN có thể học tập ở bất cứ ai, nhưng không chấp nhận sự giáo dục của bất kỳ ai.  Lòng yêu nước thuần khiết của nhân dân VN là có sẵn.Nhân dân VN không cho phép kẻ khác đứng ra bẻ ghi cho lòng yêu nước của mình theo “màu sắc” của họ.  Lãnh đạo của hai đảng cộng sản VN và TQ muốn có một tiếng nói chung, là tiếng nói chung nào ?  VN,TQ là hai quốc gia riêng biệt, có sinh mệnh riêng của mỗi quốc gia, có quyền bình đẳng, cùng trong cộng đồng thế giới. Nhân dân, và Quốc hội VN chắc chắn phải cảnh giác, theo dõi những ấn phẩm mà ông Đinh Thế Huynh cùng Tổng biên tập báo Nhân dân TQ, sẽ sản xuất ra gương mẫu như thế nào, mang nội dung gì, có lỡ in hình cờ TQ 6 sao, hoặc in nhầm bản đồ hình lưỡi bò không ?…và đặc biệt xem họ ca ngợi loại vàng 16 chữ ấy ra sao. Vì TQ là một quốc gia không gương mẫu về mọi phương diện, nên khó tin là có ấn phẩm gương mẫu được, vì đó là xứ sở rất có danh tiếng về sản phẩm độc hại. Vẫn phải chờ xem. Để cảnh giác.
3-Về một giấc mơ lâu
Đảng CSVN đã từng giương cao ngọn cờ Độc Lập Dân Tộc, cùng bao năm xương máu của nhân dân, với khẩu hiệu của bao thế hệ hãy còn treo khắp nơi : “Không có gì quý hơn độc lập tự do !”. Đó là tư tưởng Hồ Chí minh. Đó là đại cục của VN.  Ngoài ra, không còn đại cục nào khác, nếu không là đại cục CNXH nhộm nhiều màu Trung quốc.
 Giấc mơ CNXH không từng là của riêng ai, mà nó đã từng là một thời, của một phần nhân loại.
 Nhưng chủ nghĩa xã hội nào là đích thật, xuất phát từ tư tưởng nhân bản của trào lưu dân chủ, đã đóng góp một cách xuất sắc cho quá  trình đấu tranh cho một xã hội tiến bộ, ở đó có ước mơ người không bóc lột người, có công bằng, có tự do, mà ai ai cũng có quyền và có cơ hội để tìm kiếm hạnh phúc. Một thứ chủ nghĩa tốt đẹp mà đã từng có hằng triệu người trên quả đất, và những thế hệ người VN, vì nó mà đã sẳn sàng chấp nhận gian khổ, chịu hy sinh thân mình ? Và chủ nghĩa xã hội nào chỉ là sự nhân danh và biến thái, trở thành một loại độc tài, hà khắc, với bản chất tàn bạo kéo dài hơn nửa thế kỷ ở đất nước Trung Hoa, và man rợ khủng khiếp như ở Bắc Triều Tiên ngay hôm nay ? Chủ nghĩa xã hội nào mang tư tưởng hướng nhân loại đến một thế giới đại đồng, mà khoa học ngày nay đã từng bước minh họa qua xu thế toàn cầu hóa ? Chủ nghĩa xã hội nào lại đang cuồng nhiệt cổ vũ cho một thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, bành trướng đang đe dọa sự an toàn của các dân tộc khác ? Chủ nghĩa ấy đã kìm hãm sức vươn lên về hướng nhân bản của một dân tộc đã từng trải qua những thời kỳ văn minh và để lại một gia tài văn hóa đồ sộ đáng nể cho nhân loại. Chủ nghĩa xã hội nào chỉ có trong mơ, và chủ nghĩa xã hội nào trong hiện thực đã trải nghiệm bằng nhiều xương máu của đồng loại mà không thành? Đó là thứ chủ nghĩa giả danh XHCN, là sự đánh tráo phủ phàng những giá trị thật của cuộc sống, bằng những ảo ảnh vẽ vời của thế lực cai trị, nhằm che lấp lợi ích vật chất mà họ đang thụ hưởng, và tham vọng quyền lực có tính chất bản năng mà họ đã đoạt được. Bằng logic quyền lực đó, trong nội bộ không lúc nào tránh khỏi nạn bè cánh và thanh trừng đẫm máu; bên ngoài, họ xem thế giới còn lại đều là kẻ thù; trong nước với người dân, những ý kiến hay hành vi nào, khác với trật tự độc quyền, đều được xem là phương hại đến quốc gia, và quy chụp vào “thế lực phản động”. Do đó, loại xã hội XHCN giả danh nhìn thấy chung quanh mình đều là kẻ thù. Một xã hội xhcn chân chính trong mơ, luôn gắn liền với mục tiêu xây dựng xã hội công dân, tạo cơ chế cho đông đảo người dân được tham gia vào sự vận hành xã hội, có hiểu biết và trách nhiệm với quốc gia từ mỗi cương vị của mình, để cho vai trò và quyền lực nhà nước ngày càng tự thu hẹp lại, mà lý thuyết Mác gọi bằng từ “tự tiêu vong”. Nhưng rất tiếc, từ khi tất cả các nhà nước XHCH ra đời trên thế giới nầy, chưa nơi nào thực hiện được theo phương hướng trên, mà ngược lại, quyền lực nhà nước càng tập trung, càng trở nên bạo lực, không cho phép một xã hội công dân hình thành, người dân bị cô lập thành từng cá nhân lẻ loi, yếu đuối, bất lực, bị cai trị  triệt để hơn. Nhà nươc đó nói rằng, đó là tình thế phải cam chịu để cho họ tập trung quyền lực “tạm thời” nhưng “rất lâu dài” trong giai đoạn gọi là “quá độ”, để một ngày xa xôi nào đó, sẽ có “thiên đàng” cho mọi công dân. Trong khi đó, nó diễn biến thành một nhà nước tham nhũng có hệ thống vững chắc hơn, toàn diện hơn, vì có hệ thống luật pháp đở đầu che chắn bên ngoài, có bạo lực bên trong thực thi rầm rộ, sự cướp bóc của công trầm trọng hơn bất cứ quốc gia nào khác.. Trung quốc là một quốc gia “XHCN” giả danh, điển hình đầy đủ các mặt nói trên, gọi là màu sắc Trung quốc.  Đó không phải là mô hình của Việt nam, không phải là giấc mơ của nhân dân Việt nam.  Việt nam có sinh mệnh riêng của mình và đi con đường của mình. “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh…” không thể là lời nói suông.
Nhưng tiếc thay tất cả điều trên đang được thêu dệt từ những lời nói dối  thật là hoành tráng./.
Hạ Đình Nguyên