Thứ Bảy, ngày 24 tháng 11 năm 2012

Chuẩn bị cho ngày Trung Quốc sụp đổ

Những ngày qua, cái tên Trung Quốc đã gần như thu hút mọi sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Người ta nói về sức mạnh của Trung Quốc, dự đoán khi nào Trung Quốc sẽ vượt Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới… Nhưng người ta đã không để ý rằng, những dấu hiệu “diệt vong” đang xuất hiện lại khá nhiều ở Trung Quốc.
Không thể phủ nhận sự trỗi dậy quá mạnh mẽ của Trung Quốc trong những năm qua đã khiến không ít quốc gia phải lo ngại và thậm chí là gióng lên những hồi chuông báo động ở những cường quốc mạnh nhất thế giới. Tại Diễn đàn An ninh quốc tế vừa diễn ra hồi tuần trước tại Halifax (Canada), cái tên Trung Quốc đã trở thành tâm điểm của mọi cuộc thảo luận. Ở đó, các đại biểu đặt câu hỏi liệu ông Obama có bị hút theo vị tân lãnh đạo Tập Cận Bình của Trung Quốc hay không? Liệu nước Mỹ sẽ làm gì với những cuộc tranh chấp biển đảo giữa Trung Quốc với Nhật Bản hay ASEAN? Liệu Tokyo và New Delhi có bỏ Washington để chạy về phía Bắc Kinh hay không?… Từng đó câu hỏi đã cho thấy sức ảnh hưởng của Trung Quốc giờ đây đã lớn đến thế nào.
Nếu có một vụ Bạc Hy Lai thứ 2 vỡ lở dưới thời ông Tập Cận Bình, hàng ngũ lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc sẽ bị chia rẽ sâu sắc hơn nữa và sự bất mãn dẫn đến bất ổn nghiêm trọng trong xã hội cũng bùng nổ.
          Nhưng cũng có nhiều chuyên gia đã chỉ ra rằng, thực tế những dấu hiệu diệt vong giống như những gì đã có ở Liên bang Xô viết trước kia giờ đây đang xuất hiện trở lại khá nhiều ở Trung Quốc và rất có thể Trung Quốc sẽ sụp đổ trước khi kịp vượt qua Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới.
          Các chuyên gia này cũng chỉ ra rằng, cách đây 2 thập kỷ, cả chính phủ Mỹ và CIA đã khá bối rối khi bất ngờ nhận ra rằng đối trọng của mình đã sụp đổ quá nhanh chóng đến như vậy và giờ đây, đã đến lúc nước Mỹ cần phải lắng nghe lời kêu gọi: “Hãy chuẩn bị cho ngày Trung Quốc sụp đổ”.
          Nhưng những dấu hiệu đó là gì? Các chuyên gia đã chỉ ra ít nhất 5 yếu tố cho thấy lịch sử đang chuẩn bị lặp lại.
1. Hàng ngũ lãnh đạo bị chia rẽ và bê bối
          Trong năm 2012, vụ bê bối của chính trị gia thuộc nhóm “ngôi sao đang lên” Bạc Hy Lai đã trở thành vết nhơ lớn nhất trong vòng 40 năm qua của chính trường Trung Quốc. Nhưng theo bình luận của tờ The Diplomat (Nhà Ngoại giao) vụ bê bối này cũng cho thấy những cuộc đấu tranh giành quyền lực tại Trung Nam Hải đang diễn ra gay gắt và vấn nạn tham nhũng đã “leo cao, chui sâu” đến mức nào trong bộ máy lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc.
          Đại hội 18 của Đảng cộng sản vừa kết thúc nên những cú sóng dồn mới chỉ đang ở mức độ bắt đầu đối với ông Tập Cận Bình và 7 Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị. Không ai dám chắc, một vụ scandal tương tự vụ Bạc Hy Lai sẽ không xảy ra trong nhiệm kỳ của ông Tập và nếu có, nó sẽ khiến cho sự chia rẽ và rạn nứt trong nội bộ ban lãnh đạo Trung Quốc trở nên sâu sắc hơn nữa đồng thời sẽ gây ra những sự bất mãn dẫn đến bất ổn nghiêm trọng trong xã hội Trung Quốc.
          Trong thời gian vừa qua, các nhà phân tích còn nhắc đến vấn đề “phe quân đội” cũng đang trỗi dậy ngày một mạnh mẽ và “nếu ông Tập không vững tay lái, rất có thể con dao sắc này sẽ khiến ông đứt tay”, The Diplomat nói.
          2. Tăng trưởng kinh tế chậm lại
          Trong suốt 2 thập kỷ qua, Trung Quốc đã trở thành hình mẫu về phát triển kinh tế cho cả thế giới. Sau gần 30 năm liên tục tăng trưởng với tốc độ trên 10%, bước sang năm 2012, kinh tế Trung Quốc đã giảm tốc khá nhanh. Quý trước, tăng trưởng kinh tế của nước này chỉ đạt 7,4% do kinh tế Mỹ và châu Âu khủng hoảng. Sự “thất tốc” đột ngột này đã trở thành một đòn giáng mạnh vào toàn bộ lực lượng lao động Trung Quốc và đã bắt đầu phát sinh những bất ổn, đặc biệt là sự giận dữ của hàng triệu người dân ở nông thôn hay công nhân trong các nhà máy khi phải nhìn thấy thu nhập của mình giảm nhanh chóng.
Chỉ tính riêng trong năm 2010, nền kinh tế yếu đã khiến Trung Quốc phải gánh chịu khoảng 180.000 cuộc đình công, biểu tình hay thậm chí là bạo loạn và điều này đã trở thành gánh nặng khó chịu cho toàn xã hội cũng như hệ thống chính trị Trung Quốc.
          Kinh tế khó khăn khiến làn sóng di cư trong nước và sang cả các nước châu Á khác tăng mạnh. Những cuộc đụng độ nảy lửa giữa người bản xứ và dân di cư cũng bùng nổ thường xuyên hơn, đặc biệt là tại các thành phố lớn.
          Chưa hết, Trung Quốc còn đang phải đối mặt với vấn đề nợ của các chính quyền địa phương cũng như bong bóng bất động sản đang ngày một phình to ở những đô thị lớn. Chỉ cần 1 trong 2 quả bong bóng này phát nổ, những hệ lụy kinh tế đối với cả nước trở nên vô cùng khó lường.
          Cuối cùng, tác động của chính sách một con kéo dài đã đẩy Trung Quốc vào một vấn đề rất khó giải quyết: lực lượng lao động ngày một mỏng đi khiến các kế hoạch phát triển kinh tế trong tương lai trở nên ít khả thi hơn rất nhiều.
          3. Những vụ tranh chấp chủ quyền không lối thoát
          Trong gần một thập kỷ, chính sách “ngoại giao nụ cười” đã giúp Trung Quốc có được khá nhiều bạn bè cũng như thiện cảm của thế giới. Đã có lúc người ta coi Bắc Kinh là đối tác dễ chịu và sáng tạo hơn tất cả các quốc gia khác, kể cả Mỹ và Nhật Bản. Cùng với đó, các dự án viện trợ hào phóng cũng giúp cho Trung Quốc gây dựng được sự hiện diện ở khắp thế giới. Nhưng tất cả những thành tựu này đang có nguy cơ tan thành mây khói bởi tuyên bố đòi chủ quyền tại các vùng biển Hoa Đông với Nhật Bản và Biển Đông với các nước ASEAN. Để lấy chỗ dựa, Trung Quốc buộc phải kích động chủ nghĩa dân tộc trong nội bộ nước mình nhưng có điều đó là con dao 2 lưỡi vì chính quyền sẽ không thể kiểm soát được ngọn lửa này. Kết quả là các nước nhỏ hơn sẽ liên kết với nhau để đối phó với Trung Quốc. Châu Á – Thái Bình Dương trở nên bất ổn sẽ tác động ngược trở lại nền kinh tế Trung Quốc, gây ra những khó khăn mới đồng thời trong con mắt cộng đồng quốc tế, Trung Quốc trở thành kẻ hiếu chiến, xấu xa và sẽ bị cô lập dần dần.
          4. Những thảm họa môi trường đang chực chờ
          Đã đến lúc Trung Quốc phải trả giá đắt cho việc chỉ chú tâm phát triển kinh tế mà bỏ qua yếu tố môi trường. Trong những năm gần đây, các nguồn nước có thể uống được đã giảm đi nhanh chóng, hạn hán tại các vùng Tây Bắc trở thành vấn nạn thường xuyên hơn do lượng mưa ngày một giảm trong khi nhiệt độ lại cứ tăng đều đều. Tại các thành phố lớn của Trung Quốc, tình trạng ô nhiễm không khí đã ở mức báo động cực kỳ nguy hiểm đồng thời tình trạng mất an toàn thực phẩm cũng tiếp diễn với chiều hướng ngày một xấu hơn.
Để giải quyết vấn nạn môi trường, các nhà lãnh đạo Trung Quốc chỉ còn một cách duy nhất: Hy sinh tăng trưởng kinh tế để đầu tư vào cải tạo môi trường. Nhưng cũng chính từ đây, các bất ổn xã hội sẽ được dịp bùng phát mạnh hơn nữa.
          5. Không có ý tưởng mới
          Có lẽ một trong những mối lo ngại lớn nhất của ông Tập Cận Bình và 6 thành viên khác trong Thường vụ Bộ Chính trị Trung Quốc là họ không có một ý tưởng thực sự “hay ho” nào để thúc đẩy cải cách. Thực tế, những cá nhân có ý tưởng và tài năng để cải cách ở Trung Quốc không thiếu nhưng có điều ban lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc sẽ không thể mạo hiểm hy sinh những chức vụ quan trọng hàng đầu để trao nó vào tay những cá nhân này.  Trong lúc này, ông Tập lại phải đối mặt với sức ép từ giới thượng lưu, nhà giàu đòi hỏi chính phủ phải có những biện pháp để bảo đảm quyền lợi cho họ còn những tầng lớp còn lại thì giận dữ với nạn tham nhũng và tình trạng mức sống suy giảm nghiêm trọng. Đến một lúc nào đó, những sức ép này lớn dần và buộc ban lãnh đạo cấp cao quốc gia phải vội vã tiến hành cải tổ. Kịch bản này có vẻ như khá giống với những gì ông Mikhail Gorbachev đã làm ở Liên Xô 25 năm trước.
          Dưới thời của mình, ông Hồ Cẩm Đào đã cố tình giảm nhẹ vai trò của kinh tế tư nhân và chú trọng vào các doanh nghiệp nhà nước nhưng đến nay, các tập đoàn kinh tế nhà nước cũng đã hết thời. Dưới thời của mình, liệu ông Tập sẽ làm gì để tiếp tục duy trì tăng trưởng kinh tế đồng thời xoa dịu sự bất mãn của người dân trong bối cảnh các chính quyền địa phương lãnh đạo ngày càng yếu kém?
          Câu hỏi đặt ra là: Đâu là tầm nhìn cho Trung Quốc trong vòng 10 hay 25 năm tới?
          Các chuyên gia tại Halifax kết luận: Dù đây mới chỉ là những dấu hiệu nhưng diễn biến của nó trong khoảng 10 năm tới vẫn còn khá phức tạp và điều quan trọng là hiện nay, khi các nền kinh tế đã giao thoa với nhau khá sâu sắc, chắc chắn Mỹ và phương Tây cũng sẽ không thể yên ổn nếu Trung Quốc sụp đổ và nhiệm vụ của họ là phải theo dõi rất kỹ những tín hiệu này đồng thời có bước chuẩn bị “thoát thân” cho chính mình.
          Theo infonet

Hộ chiếu «lưỡi bò» Trung Quốc: Đã đến lúc phải có giải pháp quyết liệt hơn


Nhà cầm quyền Bắc Kinh vừa cho phát hành loại hộ chiếu điện tử mới, trong đó có in bản đồ có hình lưỡi bò, biểu thị yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên hầu như toàn bộ Biển Đông, trong đó có cả Hoàng Sa và Trường Sa. Chính quyền Việt Nam, Philippines, Đài Loan và Ấn Độ đã nhanh chóng lên tiếng phản đối với các mức độ khác nhau.
Về phía người dân Việt Nam, thủ đoạn mới của Trung Quốc cũng đã làm cho dư luận hết sức xôn xao. Vừa trở về từ Ấn Độ và Nepal hôm nay 23/11/2012, ông Nguyễn Văn Mỹ, giám đốc công ty dã ngoại Lửa Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã dành thì giờ trao đổi với RFI Việt ngữ về vấn đề này, với tư cách một công dân Việt.
RFI Kính chào ông Nguyễn Văn Mỹ, rất cám ơn ông đã nhận trả lời phỏng vấn. Thưa ông, ông có cảm nghĩ như thế nào về hành động Trung Quốc in bản đồ có hình lưỡi bò lên hộ chiếu ?
Ông Nguyễn Văn Mỹ : Tôi vừa đi công tác ở Ấn Độ và Népal, nên chỉ mới nắm thông tin một cách tổng quát thôi. Nhưng điều đó thì bản thân tôi không hề ngạc nhiên, chỉ có điều họ đưa ra như vậy là rất sớm. Tức là chuyện đó trước sau gì cũng làm thôi. Mà phải chăng đây là cái món quà đầu tiên ra mắt thế giới của Tập Cận Bình.
Tại sao tôi không ngạc nhiên ? Bởi vì thật ra tham vọng của Trung Quốc thể hiện rẩt là rõ. Một mặt thì họ nói rằng họ không gây chiến, họ hết sức ôn hòa và tôn trọng các nước khác ; mà họ luôn luôn làm ngược lại. Tức là trong khi những tranh chấp đó chưa hề được giải quyết thì họ đơn phương tuyên bố là cái đó của họ. Mà điều này là trái với thông lệ ngoại giao, thể hiện tinh thần nước lớn. Người Việt mình dùng cái từ là « cả vú lấp miệng em » đó. Cái này gần như là bản chất của Trung Quốc.
Tháng trước tôi vừa đi Quảng Châu và Hải Nam về. Thì phải nói rằng là Trung Quốc đã đạt được rất nhiều thành tựu về kinh tế cũng như quản lý. Nhưng mà bên cạnh đó thì cũng đó những điều mà người nước ngoài họ rất là khó chịu.
Cái tinh thần bài Nhật, được hiểu ngầm gần như được sự hậu thuẫn của chính quyền, rất là quyết liệt. Hướng dẫn viên địa phương khuyến cáo chúng tôi không nên vào các nhà hàng Nhật để ăn, không vào các cửa hàng của Nhật để mua bán, bởi vì có thể bị hiểu lầm là người Nhật, và có thể bị hành hung. Một cái đất nước nếu mà có tinh thần tôn trọng nhau thì không thể giải quyết bằng cái kiểu đó được !
Việc thứ hai, tại sao tôi bảo là không ngạc nhiên. Bởi vì chúng tôi đi làm việc, khi vào các cơ quan nhà nước của Trung Quốc thì thấy một điều rất là rõ. Sau lưng bàn làm việc của nhân viên họ, và đặc biệt lãnh đạo của họ, luôn luôn có cái bản đồ hình lưỡi bò to đùng ! Và trên tất cả các tài liệu do họ phát hành, từ du lịch cho tới kinh tế…luôn luôn có hình lưỡi bò.
Họ kêu gọi đàm phán nhưng bản thân họ không thèm đàm phán, họ xem như cái đó đương nhiên là của họ rồi. Và tôi cho rằng đó là thái độ thách thức không chỉ Việt Nam, mà thách thức cả thế giới, khó mà chấp nhận được.
Trung Quốc có rất nhiều mặt mạnh, và thật ra nếu họ ôn hòa, thật lòng tôn trọng các nước khác một chút, thì họ có thể làm bá chủ thế giới, thay vì cái thái độ mà mình gọi là hung hăng, hiếu chiến hiện nay. Thái độ của họ rất thiếu tôn trọng các nước khác, kể cả những nước láng giềng có bề dày truyền thống hữu nghị như Việt Nam thì họ cũng chẳng thèm tôn trọng.
Cho nên đó là thách thức của cả thế giới. Và Trung Quốc họ làm là có ý đồ rõ ràng, bài bản từ đầu tới cuối. Một cái chiến lược có thể nói là trong vòng bao nhiêu năm, chứ không phải là làm một cách tự phát, theo nhiệm kỳ hoặc là theo một cá nhân nào đó.
RFI Như vậy theo ông Việt Nam phải đối phó như thế nào ?
Trong những năm kháng chiến chống Pháp trước đây, Hồ Chí Minh có nói một ý rất hay, là « Chúng ta càng nhu nhược thì kẻ thù càng lấn tới ». Hiện nay mình chưa nói Trung Quốc là kẻ thù, nhưng rõ ràng trong quan hệ đối ngoại song phương cũng vậy. Mình càng nhu nhược thì đối phương họ càng lấn tới. Và cha ông mình cũng thường nói là « Mềm nắm, rắn buông ».
Thì tôi nghĩ rằng có lẽ đã đến lúc mình phải có những giải pháp mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn. Bởi vì mình là người đụng chạm trực tiếp nhất, bị ảnh hưởng nhiều nhất, chứ còn các nước khác không bị trực tiếp như mình. Cho nên coi như mình là nạn nhân đi, mà mình không lên tiếng mạnh mẽ, mình phản ứng một cách yếu ớt, hoặc là chấp nhận chuyện đó là bình thường, thì khó mà đòi hỏi thế giới, bạn bè đồng tình ủng hộ mình. Và nhân dân sẽ trách Nhà nước là tại sao những việc như thế mà chúng ta lại không có cách gì hành xử.
Thật ra mình làm cái này không phải chỉ cho mình không thôi, mà cả cho những nước đang bị Trung Quốc o ép, cho cả bạn bè thế giới, và thậm chí giúp đỡ nhân dân Trung Quốc. Bởi vì suy nghĩ thật lòng, tôi cũng có qua Trung Quốc, có tiếp xúc thì không phải là người Trung Quốc nào cũng nghĩ như thế đâu. Họ cũng muốn hòa bình, hữu nghị anh em. Nếu càng sa vào những tranh chấp quyết liệt như thế, thì tất cả đều bị thiệt hại. Và điều đó là mình cũng giúp cho nhân dân Trung Quốc tránh khỏi những chuyện bị đầu độc, bị nhồi nhét những điều không có thực của lịch sử.
RFI : Về mặt cụ thể, không biết lượng khách du lịch Trung Quốc mỗi năm vào Việt Nam là bao nhiêu, chẳng lẽ không cho họ vào ? Còn nếu cho thì coi như mặc nhiên chấp nhận bản đồ hình lưỡi bò của họ, có phải không thưa ông?
Cái đó thì vì mình không phải là Nhà nước, mình chỉ có ý kiến thôi. Còn Nhà nước chắc họ cũng có những phương án đối phó, chưa biết là thế nào, và dựa trên cơ sở nào thôi. Nhưng lượng khách Trung Quốc vào Việt Nam hiện nay đông nhất là đường bộ, đi qua ngõ các cửa khẩu bằng giấy thông hành. Và lượng khách này thật ra là khách đi chơi qua Việt Nam, thì không phải là khách quan trọng đâu.
Lượng khách đi bằng đường hàng không qua Việt Nam cũng không phải là nguồn khách lớn tới mức mà chúng ta sợ bị ảnh hưởng, và chi tiêu của họ cũng không phải là nhiều. Khách Trung Quốc đi đến đâu thì ồn ào, và xin lỗi là, khách châu Âu họ cũng ngại, họ tránh ra. Thậm chí giả sử khách Trung Quốc mà có đông tới mức có thể áp đảo chăng nữa, thì cũng không phải vì cái chuyện đó mà chúng ta có thể bán rẻ chủ quyền lãnh thổ, cũng như uy tín của cả đất nước.
Cho nên theo tôi, mình không phải là Nhà nước, thì mình không thể đề ra chủ trương, nhưng nếu với tư cách công dân thì mình có quyền kiến nghị. Còn nghe hay không là chuyện quản lý của Nhà nước, đó là chuyện khác nữa. Tổ tiên mình đã dạy rồi, mềm nắm rắn buông. Khi có tranh chấp thì chúng ta mềm mỏng, kiên nhẫn nhưng mà không nhu nhược. Và chúng ta càng nhún nhường thì có khi đối thủ lại càng lấn tới – đây là quy luật của cuộc sống rồi, và nó chỉ bất lợi cho mình thôi.
Bản thân tôi trước hết với tư cách công dân, tôi nghĩ rằng có mấy biện pháp mình có thể thực hiện. Một là, việc đầu tiên về phía Nhà nước, mình sẽ gởi công hàm phản đối – chuyện đó là đương nhiên rồi – và thông báo lộ trình cho họ. Nếu trong vòng bao lâu mà anh vẫn sử dụng cái hộ chiếu đó, thì tôi sẽ không cấp nhập cảnh cho anh. Cái thứ hai, trong lúc chờ thay đổi hộ chiếu, mình có thể sẽ thu hồi cái hộ chiếu đó không cho sử dụng, cấp tạm cho một cái giấy thông hành gì đó, rồi về mình trả lại.
Tôi nghĩ rằng từ chối khách Trung Quốc cũng không có gì ghê gớm cả. Chính cái thái độ hung hăng của Trung Quốc đã làm cho một lượng khách du lịch Việt Nam cũng không muốn đi Trung Quốc. Người Trung Quốc tự làm cô lập mình – mất một lượng khách khá lớn đến Trung Quốc, mất một lượng bạn bè lâu nay có tình cảm với nhân dân Trung Quốc, qua những thành tựu mà họ đạt được về quản lý, về kinh tế…
Mất một lượng khách khá lớn từ Việt Nam và từ các nước có mâu thuẫn trực tiếp, với lại cả những người bình thường nữa. Bây giờ làn sóng không thích người Trung Quốc không phải chỉ có ở Việt Nam và Đông Nam Á không đâu, mà nó lan ra cả châu Phi ! Cả châu Âu, cả Mỹ. Thì cái đó lợi bất cập hại.
Cho nên tôi nhắc lại là đã đến lúc mình cần có thái độ mạnh mẽ và dứt khoát hơn, để khẳng định chủ quyền. Chúng ta không hung hăng, mình hết sức là kiên nhẫn, nhưng không có nghĩa là bạc nhược. Anh nói một đằng làm một nẻo thì dù tôi là nước nhỏ hơn, nhưng mà về mặt pháp luật tôi bình đẳng. Sau lưng Việt Nam có cả nhân dân thế giới nữa mà. Ở cái thời đại hiện nay, không phải như hồi xưa mà muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm.
RFI : Tóm lại là theo ông, chính quyền Việt Nam cần có thái độ dứt khoát và căn cơ hơn ?
Đã đến lúc mà chúng ta, về phía Nhà nước, cũng cần phải có biện pháp mạnh mẽ hơn trong việc giáo dục. Đền Preah Vihear tranh chấp với Thái Lan, thì tôi đi qua Campuchia tôi thấy tất cả trên toàn lãnh thổ Campuchia họ trương một cái pa-nô « Preah Vihear là của chúng ta ! ». Thì tại sao mình không dám trương một cái bảng to đùng « Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam » trên khắp cả nước Việt Nam ?
Mình có chứng minh lịch sử, thì tại sao Trung Quốc họ làm như thế mà mình không làm ngược lại cho nhân dân mình biết cái chuyện đó là chuyện không đúng. Và không chỉ làm với nhân dân trong nước mà còn với nhân dân thế giới biết rằng, chuyện đó là người Trung Quốc sai. Chứ không thể bây giờ Trung Quốc muốn làm gì thì làm, còn ta thì cứ im lặng. Im lặng ở đây không phải là vàng nữa, mà có nghĩa sẽ là bùn !
Với tư cách công dân thì tôi muốn là có thái độ mạnh mẽ, dứt khoát hơn, chứ không thể làm theo kiểu đối phó hiện nay. Từ trong tài liệu sách giáo khoa, trong các văn bản gởi ra nước ngoài, tất cả mọi cái…nếu Trung Quốc họ không đưa vào, ta tranh chấp thì ta tôn trọng. Nhưng vì Trung Quốc đã làm như thế bao nhiêu năm nay rồi.
Thậm chí tôi nhớ là trong một lần vào Việt Nam để giới thiệu chương trình du lịch Trung Quốc tại khách sạn Rex, Thành phố Hồ Chí Minh, thì người Trung Quốc đưa ngay tài liệu có đường lưỡi bò vào trong đó luôn. Không ai để ý, nhưng tới lúc về nhà mình mở tài liệu ra mới hết hồn. Thì phải nói là họ ngang ngược không còn chỗ nào mà nói nữa cả !
Nhân dân Việt Nam sẽ có những phán xét đối với những chính sách của Nhà nước trong việc đối phó. Mà đừng hy vọng rằng Trung Quốc thay đổi. Rất khó, cực kỳ khó !
Hồi nãy tôi có nói mình sẽ thông báo cho họ một thời hạn để họ thay đổi. Đó là về mặt pháp lý mình phải làm cho đúng thủ tục, chứ không phải đùng một cái mình ngưng không cho người ta vô, và để người ta không trách mình sau đó. Chúng tôi đã có thời hạn cho anh rồi, mà anh vẫn khăng khăng như thế thì thôi.
Anh vô nhà tôi mà anh lại bảo là nhà của anh thì ai mà chấp nhận. Ai mà lại đi tiếp một cái người, mà xin lỗi, phải dùng cái từ hơi nặng là, ai mà đi tiếp kẻ cướp bao giờ !
RFI : Xin rất cảm ơn ông Nguyễn Văn Mỹ, giám đốc công ty dã ngoại Lửa Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã dành thì giờ trả lời cuộc phỏng vấn hôm nay của chúng tôi.
Thụy My thực hiện

Hội chứng Stockholm


1. Trong lịch sử, Trung Quốc luôn coi Việt Nam như kẻ bị bắt cóc. Đương nhiên kẻ đi bắt cóc có quyền áp đặt lên kẻ bị bắt cóc những gì gã ta muốn, miễn là không để con tin thoát khỏi tầm kiểm soát của hắn. Chỉ khác ở các triều đại trước, các cụ nhà ta coi việc triều cống là đối sách để chế ngự tính ngông cuồng của kẻ bắt cóc này. Hễ có cơ hội là quật cường đứng dậy, sẵn sàng sống mái với hắn. Sau nhiều thế kỷ, con cháu các cụ giờ làm ngược lại. Việc Trung Quốc cho in đường lưỡi bò vào pasport chính là hợp thức cách trao quyền cưỡng bức biển Đông cho từng công dân của họ. Chính quyền biến từng công dân Trung Quốc trở thành những kẻ cướp biển hợp pháp mang danh nghĩa nhà nước. Cả biển Đông, trong đó có Việt Nam, trở thành con tin cho tư tưởng đại Hán cuồng dại. Chính phủ Việt Nam sẽ làm được gì với kẻ bắt cóc này khi đề cao “quyết tâm chính trị” là không để biển Đông làm sứt mẻ “tình hữu nghị” và công cuộc xây dựng CNXH của hai nước? Dường như chính phủ hôm nay đã mắc hội chứng Stockholm, yêu chính kẻ bắt cóc mình.
2. Chỉ còn chưa đầy 2 tháng nữa là bắt đầu cuộc bỏ phiếu lấy ý kiến nhân dân về thay đổi Hiến pháp. Chắc nhiều quan chức sẽ lấy đây làm bằng chứng “dân chủ gấp vạn lần” tư bản của nhà nước Việt Nam. Sẽ là đúng nếu “phiên dịch” từ ý thức hệ CHXH ra nội hàm dân chủ. Và cái thứ “dân chủ” đó lại rơi vào mớ lí luận của ý thức hệ như đã tồn tại cả trăm năm không thay đổi và chưa sẵn sàng thay đổi. Dân chủ luôn đặt xã hội ở một không gian mở, thay đổi, phản biện, phê phán, không có điểm kết thúc…để xã hội luôn hướng đến sự phát triển. Nói như giáo sư Benjamin Barber thì: “Hiến pháp không tạo nên dân chủ, mà chính dân chủ tạo nên hiến pháp”. Vậy Hiến pháp của chúng ta sẽ tạo nên từ cái gì khi dân chủ vẫn là thứ xa vời và xa xỉ? Phải chính xác là thứ dân chủ là kết quả giành được từ đời sống Việt Nam (giá mà nền dân chủ tư bản có thể bắt cóc được chế độ độc tài để mọi người mắc chứng Stockholm?). Bao giờ có đời sống dân sự thì khi ấy mới hy vọng có nền dân chủ thực sự. Và khi ấy mới có một Hiến pháp thực sự. Bao giờ???
3. Sắp hết một năm sóng gió với những sóng gió mới đang ập đến. Mấy hôm nay báo chí đưa tin những tập đoàn NN nợ khủng, thua lỗ, các doanh nghiệp phá sản hàng loạt, ngân hàng còn lâu mới thoát được khủng hoảng…Chưa hề thấy tia sáng cuối đường hầm. Liệu người dân có bị bắt làm con tin cho những thất bại của chính phủ như đã từng bị bắt làm con tin cho công cuộc thể nghiệm xây dựng thiên đường dưới mặt đất nhiều chục năm qua? Năm tới đây sẽ là đến đáy hay xuyên đáy?
4. Ở tâm thế của một con tin, người ta sẽ làm được gì, sẽ phải làm gì nếu không mắc hội chứng Stockholm? Hoặc được người ngoài giải cứu, hoặc họ phải tự giải cứu, hoặc có cả hai cách. Nhưng không dễ dàng gì nếu trong số các con tin đem lòng yêu kẻ bắc cóc và sẵn sàng dâng tài sản, tính mạng cho những kẻ bắt cóc.
Rùng mình trộm nghĩ nếu càng ngày càng có nhiều người mắc hội chứng Stockholm. Nhưng chắc điều đó khó xảy ra. Và ngược lại, nhiều người đã từng mắc chứng bệnh này hiện đang dần chữa khỏi…
Nhưng vẫn không khỏi rùng mình khi nghĩ đến chặng đường xa ngái trước mặt…
Và mệt mỏi.
(*) – “Hội chứng Stockholm” – tức là trường hợp những nạn nhân cảm thấy gắn bó và thậm chí còn trung thành với những kẻ bắt cóc họ. Tên gọi của thuật ngữ này bắt nguồn từ một vụ cướp xảy ra vào năm 1973, khi các nhân viên của ngân hàng Kreditbanken ở Stockholm, Thụy Điển, bị hai tên cướp Jan-Erik Olsson và Clark Olofsson vũ trang súng máy bắt giữ làm con tin trong sáu ngày. Bất ngờ sau đó, bốn trong số những người bị bắt làm con tin đã một mực bênh vực tên tội phạm. Họ nói rằng vụ bắt giữ các nạn nhân chỉ là chuyện “tưởng tượng” của giới truyền thông. Vụ việc này được xem là trường hợp đầu tiên của hội chứng Stockkholm. 

Thứ Sáu, ngày 23 tháng 11 năm 2012

Phản đối rồi thì làm sao?


Vẫn biết TQ thế nào cũng dở nhiều trò bẩn, nhưng đọc cái tin TQ in đường lưỡi bò vào hộ chiếu mới thì ai không sốc kẻ đó không phải người Việt Nam. Nguyễn Thông nói đúng: “Bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh đánh chết cái nết không chừa, thừa thủ đoạn và âm mưu thâm độc để chống phá Việt Nam (việc in lưỡi bò vào hộ chiếu là cực kỳ xảo quyệt). Tin nó thì đổ thóc giống ra mà ăn.”
Chắc chẳng mấy ai tin miệng lưỡi TQ đâu,bằng chứng là Chính phủ đã phản ứng rất mau lẹ trước trò bẩn của mấy ông cộng sản Tàu. Tin đã đưa rành rành ( tại đây):”Người phát ngôn Lương Thanh Nghị khẳng định: Việc làm trên của phía Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển liên quan ở Biển Đông….”Đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện ĐSQ Trung Quốc tại Hà Nội để trao công hàm phản đối và yêu cầu phía Trung Quốc hủy bỏ những nội dung sai trái in trên hộ chiếu phổ thông điện tử nêu trên”, ông Lương Thanh Nghị cho biết.”
Nhưng mình phản đối, đòi nó hủy bỏ mà nó không hủy bỏ thì phải làm sao?
Ít ra khi đã đòi nó hủy bỏ thì việc cần làm ngay là ra tuyên bố: Việt Nam coi những  hộ chiếu có in hình lưỡi bò là hộ chiếu bất hợp lệ, tuyệt không cho ai có hộ chiếu đó được nhập vào Việt Nam. Nếu được thì mình vận động cả bốn nước Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam đồng thanh tuyên bố coi những hộ chiếu in đường lưỡi bò là bất hợp lệ, ai có hộ chiếu đó sẽ không được nhập vào 4 nước nói trên.
Làm  được không? Làm được, thừa sức làm được điều đó, chỉ sợ ta không muốn làm thôi. Nhưng nếu không muốn làm thì phản đối làm cái gì, ô hay?
Từ nay nếu phản đối mà không có hành động  quyết liệt thực thi điều mình phản đối thì đừng nên phản đối nữa.  Nếu phản đối là để báo cho dân biết: Đấy nha, chúng tôi phản đối rồi đấy nha, thì tha im mồm đi còn đỡ nhục hơn.
Rứa đo rứa đo.
Nguyễn Quang Lập
Theo Quê Choa

Ngộp trong “núi” nợ!

Những khoản nợ lớn của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước là đáng báo động. Rất mong Quốc hội sớm có nghị quyết cần thiết để cải cách thể chế quản lý về tập đoàn, tổng công ty để không thể trường diễn mãi tấn bi hài kịch quá đắt giá này.
Khoản nợ rất lớn của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước đặt ra hàng loạt câu hỏi nghiêm túc về trách nhiệm giải trình, quy chế công khai minh bạch, trách nhiệm quản lý vốn của chủ sở hữu, quy chế bổ nhiệm…

Báo cáo số 336/BC-CP của Chính phủ ngày 16-11-2012 trình Quốc hội về tình hình làm ăn của các tập đoàn (TĐ), tổng công ty (TCT) Nhà nước cho thấy tình trạng tài chính không mấy khả quan, đang “ôm” một “núi” nợ phải trả rất lớn.

Báo cáo cho biết: “Năm 2011, tổng số nợ phải trả của TĐ, TCT là 1.292.400 tỉ đồng, tăng 18,9% so với năm 2010. Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu bình quân năm 2011 là 1,77 lần. Xét từng TĐ, TCT, có 30 TĐ, TCT tỉ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần, trong đó có 8 TĐ, TCT trên 10 lần.

Cơ cấu nợ phải trả của các TĐ như sau:

Điều có thể dễ dàng nhận thấy là tỉ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu quá cao, có 8 TĐ, TCT có hệ số trên 10 lần. Trong khi đó, tình trạng lỗ của các TĐ, TCT rất đáng lo ngại. Báo cáo cho biết: “Lỗ lũy kế theo báo cáo hợp nhất của 13 TĐ, TCT đến ngày 31-12-2011 là 48.988 tỉ đồng, trong đó lớn nhất là TĐ Điện lực Việt Nam số lỗ lũy kế là 38.104 tỉ đồng (lỗ do sản xuất kinh doanh điện 11.437 tỉ đồng; lỗ do chênh lệch tỉ giá 26.667 tỉ đồng); TCT Hàng hải Việt Nam 5.738 tỉ đồng; TĐ Xăng dầu Việt Nam 2.390 tỉ đồng; TCT Xăng dầu Quân đội 566 tỉ đồng; TĐ Sông Đà 625 tỉ đồng; TCT Dâu tằm tơ 321 tỉ đồng; TCT Cà phê Việt Nam 209 tỉ đồng; TCT Trường Sơn 66 tỉ đồng; TCT Xây dựng đường thủy 871 tỉ đồng; TCT Xây dựng Công trình Giao thông 1: 35 tỉ đồng; TCT Chè Việt Nam 27 tỉ đồng; TCT Xây dựng Công trình Giao thông 6: 27 tỉ đồng; TCT Văn hóa Sài Gòn 3,4 tỉ đồng…”.
Cơ cấu nợ trong nợ phải trả (Số liệu báo cáo hợp nhất của tập đoàn, tổng công ty năm 2011)
Tình hình nợ cao và lỗ lũy kế như vậy rõ ràng là không bình thường, khả năng hoàn trả vốn và lãi hoàn toàn không khả quan. Trong một công ty hoạt động theo cơ chế thị trường, chắc chắn các chủ sở hữu sẽ không thể chấp nhận tình trạng tài chính nguy kịch như vậy và đòi hỏi phải có thay đổi.
Thứ nhất, ai đã phê duyệt cho các TĐ, TCT vay số vốn khổng lồ đó từ các ngân hàng của Nhà nước, đã bảo lãnh cho các TĐ vay nước ngoài trong khi tình trạng nợ nần và lỗ lũy kế cao như vậy? Lý trí và hiểu biết bình thường của kinh tế thị trường không thể chấp nhận các khoản tín dụng như thế vì khả năng sinh lời và hoàn trả quá thấp. Động cơ nào đã thúc đẩy các phi vụ tín dụng bất bình thường này?
Thứ hai, vay rồi thì đầu tư vào đâu và hiệu quả thế nào? Báo cáo cho thấy đã có không ít vốn được đầu tư ra ngoài ngành, vào những lĩnh vực có rủi ro cao. “Tính đến ngày 31-12-2011, các công ty mẹ đã đầu tư vào các lĩnh vực: Chứng khoán, quỹ đầu tư, bảo hiểm, ngân hàng, bất động sản là 23.744 tỉ đồng, tăng 3.056 tỉ đồng (15%) so với năm 2010” – trích báo cáo. Báo cáo không cho biết hiệu quả đầu tư của các TĐ ra sao nhưng từ các nghiên cứu khác chúng ta biết hiệu quả đầu tư rất thấp, các TĐ thường cần gấp hai, ba lần tiền vốn đầu tư để tạo ra một sản phẩm đầu ra so với kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài.
Như vậy, trách nhiệm chủ sở hữu Nhà nước về hiệu quả sử dụng đồng vốn đó đến đâu? Có ai chịu trách nhiệm về những đầu tư của Vinashin và Vinalines hay không? Người dân đặt câu hỏi không có “Vina-cho” thì làm gì có được “Vina-xin” và “Vina-chia” là ai, ở đâu vậy…! Lợi ích nhóm là những ai và ở đâu?
Rõ ràng là “núi” nợ của các TĐ, TCT Nhà nước đang đặt ra những vấn đề rất nghiêm túc về trách nhiệm giải trình, quy chế công khai minh bạch, trách nhiệm quản lý vốn của chủ sở hữu, quy chế bổ nhiệm cán bộ của TĐ và TCT. Trên thế giới, lãnh đạo TĐ, TCT được bổ nhiệm có thời hạn theo hợp đồng trách nhiệm, trong đó người được bổ nhiệm cam kết phải đạt được những kết quả gì của TĐ, TCT.
Chẳng hạn, sau khi ông Phạm Thanh Bình bị bắt giam thì ông Trần Quang Vũ được bổ nhiệm làm tổng giám đốc Vinashin, 3 tuần sau ông Trần Quang Vũ… cũng bị bắt. Chắc chắn, đây không phải là ưu điểm trong chính sách cán bộ lãnh đạo các TĐ và cần phải rút kinh nghiệm nghiêm túc.
Khoản nợ rất lớn của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước đặt ra hàng loạt câu hỏi nghiêm túc về trách nhiệm giải trình, quy chế công khai minh bạch, trách nhiệm quản lý vốn của chủ sở hữu, quy chế bổ nhiệm…
Báo cáo số 336/BC-CP của Chính phủ ngày 16-11-2012 trình Quốc hội về tình hình làm ăn của các tập đoàn (TĐ), tổng công ty (TCT) Nhà nước cho thấy tình trạng tài chính không mấy khả quan, đang “ôm” một “núi” nợ phải trả rất lớn.
Báo cáo cho biết: “Năm 2011, tổng số nợ phải trả của TĐ, TCT là 1.292.400 tỉ đồng, tăng 18,9% so với năm 2010. Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu bình quân năm 2011 là 1,77 lần. Xét từng TĐ, TCT, có 30 TĐ, TCT tỉ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần, trong đó có 8 TĐ, TCT trên 10 lần.
Cơ cấu nợ phải trả của các TĐ như sau:
Điều có thể dễ dàng nhận thấy là tỉ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu quá cao, có 8 TĐ, TCT có hệ số trên 10 lần. Trong khi đó, tình trạng lỗ của các TĐ, TCT rất đáng lo ngại. Báo cáo cho biết: “Lỗ lũy kế theo báo cáo hợp nhất của 13 TĐ, TCT đến ngày 31-12-2011 là 48.988 tỉ đồng, trong đó lớn nhất là TĐ Điện lực Việt Nam số lỗ lũy kế là 38.104 tỉ đồng (lỗ do sản xuất kinh doanh điện 11.437 tỉ đồng; lỗ do chênh lệch tỉ giá 26.667 tỉ đồng); TCT Hàng hải Việt Nam 5.738 tỉ đồng; TĐ Xăng dầu Việt Nam 2.390 tỉ đồng; TCT Xăng dầu Quân đội 566 tỉ đồng; TĐ Sông Đà 625 tỉ đồng; TCT Dâu tằm tơ 321 tỉ đồng; TCT Cà phê Việt Nam 209 tỉ đồng; TCT Trường Sơn 66 tỉ đồng; TCT Xây dựng đường thủy 871 tỉ đồng; TCT Xây dựng Công trình Giao thông 1: 35 tỉ đồng; TCT Chè Việt Nam 27 tỉ đồng; TCT Xây dựng Công trình Giao thông 6: 27 tỉ đồng; TCT Văn hóa Sài Gòn 3,4 tỉ đồng…”.
Tình hình nợ cao và lỗ lũy kế như vậy rõ ràng là không bình thường, khả năng hoàn trả vốn và lãi hoàn toàn không khả quan. Trong một công ty hoạt động theo cơ chế thị trường, chắc chắn các chủ sở hữu sẽ không thể chấp nhận tình trạng tài chính nguy kịch như vậy và đòi hỏi phải có thay đổi.
Thứ nhất, ai đã phê duyệt cho các TĐ, TCT vay số vốn khổng lồ đó từ các ngân hàng của Nhà nước, đã bảo lãnh cho các TĐ vay nước ngoài trong khi tình trạng nợ nần và lỗ lũy kế cao như vậy? Lý trí và hiểu biết bình thường của kinh tế thị trường không thể chấp nhận các khoản tín dụng như thế vì khả năng sinh lời và hoàn trả quá thấp. Động cơ nào đã thúc đẩy các phi vụ tín dụng bất bình thường này?
Thứ hai, vay rồi thì đầu tư vào đâu và hiệu quả thế nào? Báo cáo cho thấy đã có không ít vốn được đầu tư ra ngoài ngành, vào những lĩnh vực có rủi ro cao. “Tính đến ngày 31-12-2011, các công ty mẹ đã đầu tư vào các lĩnh vực: Chứng khoán, quỹ đầu tư, bảo hiểm, ngân hàng, bất động sản là 23.744 tỉ đồng, tăng 3.056 tỉ đồng (15%) so với năm 2010” – trích báo cáo. Báo cáo không cho biết hiệu quả đầu tư của các TĐ ra sao nhưng từ các nghiên cứu khác chúng ta biết hiệu quả đầu tư rất thấp, các TĐ thường cần gấp hai, ba lần tiền vốn đầu tư để tạo ra một sản phẩm đầu ra so với kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài.
Như vậy, trách nhiệm chủ sở hữu Nhà nước về hiệu quả sử dụng đồng vốn đó đến đâu? Có ai chịu trách nhiệm về những đầu tư của Vinashin và Vinalines hay không? Người dân đặt câu hỏi không có “Vina-cho” thì làm gì có được “Vina-xin” và “Vina-chia” là ai, ở đâu vậy…! Lợi ích nhóm là những ai và ở đâu?
Rõ ràng là “núi” nợ của các TĐ, TCT Nhà nước đang đặt ra những vấn đề rất nghiêm túc về trách nhiệm giải trình, quy chế công khai minh bạch, trách nhiệm quản lý vốn của chủ sở hữu, quy chế bổ nhiệm cán bộ của TĐ và TCT. Trên thế giới, lãnh đạo TĐ, TCT được bổ nhiệm có thời hạn theo hợp đồng trách nhiệm, trong đó người được bổ nhiệm cam kết phải đạt được những kết quả gì của TĐ, TCT.
Chẳng hạn, sau khi ông Phạm Thanh Bình bị bắt giam thì ông Trần Quang Vũ được bổ nhiệm làm tổng giám đốc Vinashin, 3 tuần sau ông Trần Quang Vũ… cũng bị bắt. Chắc chắn, đây không phải là ưu điểm trong chính sách cán bộ lãnh đạo các TĐ và cần phải rút kinh nghiệm nghiêm túc.
TS Lê Đăng Doanh
Theo NL Đ

Thứ Năm, ngày 22 tháng 11 năm 2012

Bé Hoàng Sa và đôi dép màu hồng


Từ sau 1975 có nhiều ngày trở nên ồn ào, náo nhiệt. Ngày cách mạng tháng Tám, ngày thành lập nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa, ngày giải phóng miền Nam, ngày thương binh liệt sĩ, ngày phụ nữ, ngày nhà báo, ngày người cao tuổi, ngày thầy thuốc, ngày HIV, ngày bệnh lao, ngày thành lập Đảng… Ngày nào cũng là ngày kỷ niệm, cũng rất quan trọng và đáng nhớ. Hội hè, kỵ chạp, cúng giỗ ăn uống ngồm ngoàm, rước xách đều như nhau cả.
Ngày 20 tháng 11, ngày nhà giáo Việt nam Xã hội chủ nghĩa có lẽ là một ngày rộn ràng, náo nhiệt nhất trong năm. Trên các nẻo đường từ thành phố đến thôn xóm làng quê, học sinh, sinh viên các cấp kể cả phụ huynh, từng người, từng nhóm, từng đoàn lũ lượt đi bộ, đèo xe cặp đôi, cặp ba, hàng dọc hàng ngang tìm đến nhà thầy cô để tặng hoa tặng quà.
Trong cái ngày đặc biệt này cảnh sát giao thông cũng tham dự bằng thái độ dễ dãi, thông cảm. Thầy cô giáo đa phần chuẩn bị nhà cửa để đón tiếp học sinh, không ít vị trước đó đã gợi ý với môn đệ, với phụ huynh: nhà tôi thiếu cái này, cái kia. Nhưng cũng có đôi ba vị thấy sợ, thấy chướng, thấy xấu hổ nên từ sáng sớm đã khóa cổng, khóa cửa tìm chỗ trốn tránh.
Ngày 20 tháng 11 năm 1997, như thường lệ, tôi nhận ca trực lúc 5g chiều tại phòng hồi sức cấp cứu nhi, bệnh viện đa khoa Đà Nẵng. Phòng có 10 giường nhưng chỉ có 9 bệnh nhân. Sau khi thăm khám bệnh, xem lại y lệnh, tôi tự nhủ đêm nay có lẽ không vất vả là bao, chỉ một trường hợp xuất huyết não của trẻ 45 ngày tuổi đang thở máy là nặng, những bệnh còn lại tạm ổn.
Tôi vào phòng bác sĩ, bật truyền hình xem thời sự. Chị y tá Tâm(1) đưa tôi ổ mì kẹp thịt và nói:
– “Bác Thoa ăn đi kẻo chốc nữa có bệnh nặng lại ăn không được. Hôm nay Xuân(2) nó trực với em, vía nó nặng lắm, chắc không thư thả được đâu. Nói rồi chị quay sang bình nước lọc rót cho tôi một ly.
Các chị y tá rất tin vào vía của mỗi người: vía nặng, vía nhẹ. Trực với người này, vía nhẹ thì thong thả nhẹ nhàng, trực với người kia, vía nặng thì nhọc nhằn, vất vả, nhiễu sự.
Không tin chuyện vía nặng vía nhẹ, chậm rãi ngồi nhai bánh mì và xem truyền hình, tôi để tâm lắng nghe ông giám đốc sở Giáo dục đọc diễn văn nhân ngày nhà giáo Việt nam. Ông ta nói nhiều, nói dài, nhưng tôi chẳng nhớ điều gì ngoài câu tục ngữ ông lặp đi lặp lại nhiều lần: “ Muốn sang thì bắt cầu kiều – muốn con hay chữ phải yêu mến thầy ”. Không hiểu ông giám đốc sở Giáo dục nhấn mạnh câu tục ngữ này trong cương vị của mình có thích hợp không? Ông có gợi ý điều gì không trong bài diễn văn đậm đà tính chất dân gian của mình?
Sau biến cố 1975, từ miền Bắc tràn vào miền Nam nhiều thứ, mà nghe đâu một người lãnh đạo kháng chiến nổi tiếng tại khu 5 và Quảng Nam – Đà Nẵng – ông Hồ Nghinh, trong chỗ riêng tư, đã nhận định rằng là: “ một làn gió hắc ám và độc hại ”. Một trong những thứ hắc ám và độc hại đó, biểu hiện trong ngành giáo dục nói riêng, là những bóng đen núp sau chiêu bài ơn nghĩa. “ Khi người ta thiếu hoặc không có cái gì thì người ta hay nói nhiều, nói quá về cái đó ”. Ai đó đã nói với tôi câu này. Sau ngày “Giải phóng” tôi nghe quá nhiều từ “ơn” từ phía những người ở miền Bắc vào. Ơn Đảng. Ơn Bác. Ơn kháng chiến. Ơn ông bí thư. Ơn ông chủ tịch và ơn Thầy Cô…
“ Khi người ta thiếu cái gì…” Phải chăng nhận định đó không còn là của riêng ai, mà là của tất cả mọi người đã trải nghiệm một cách cay đắng, bẽ bàng, thấm thía sự phá sản, đảo lộn ngôn từ trong bối cảnh “cuộc cách mạng Xã hội Chủ nghĩa long trời lở đất”, “ đấu tranh này là trận cuối cùng..”.
Tiếp theo lời khuyến dụ của ông giám đốc sở Giáo dục là tiết mục trình diễn một bản nhạc của một ca sĩ mà mới nghe qua tôi rất thích: “ Khi thầy viết bảng bụi phấn trắng bay bay, có hạt bụi nào vương trên bục giảng, có hạt bụi nào vương trên tóc thầy…”. Rõ ràng giai điệu tha thiết, lời ca đẹp, giọng hát ngọt ngào, xúc cảm… diễn tả hình ảnh và nghĩa cử của người Thầy lí tưởng và lòng biết ơn của người học trò lí tưởng. Cả hai đều không có thật trong cuộc sống nhãn tiền. Rõ ràng có một sự mâu thuẫn trầm trọng giữa thực trạng giáo dục, thực trạng đất nước với lời kêu gọi của ông giám đốc sở với giai điệu, lời ca, giọng hát của người nhạc sĩ, ca sĩ.
Miên man suy nghĩ về ngày nhà giáo, ăn chưa hết nửa ổ mì, chuông cấp cứu réo lên, các chị y tá bỏ lỡ bữa ăn đưa xe tiếp nhận bệnh nhân, tôi vớ chiếc ống nghe vội chạy theo.
Trên xe đẩy, một bé gái chừng 12 tuổi, da xanh tái, trán rịn mồ hôi, thở từng cơn ngắn được chuyển vào. Em bị té ngã khi cùng các bạn đi thăm thầy cô. Phòng cấp cứu ngoại khoa đã chụp phim cắt lớp(3) loại trừ chấn thương sọ não, em được chuyển vào phòng cấp cứu hồi sức nhi với chẩn đoán: hạ đường huyết(4).
Tôi bắt mạch, bàn tay em lạnh quá, mạch nhẹ và chậm, đếm thoáng 15 giây, án chừng mạch không quá 40 lần / phút.
Đặt em nằm lên giường cấp cứu, y tá Tâm cho thở oxy, tôi mắc vội monitoring kiểm tra các dấu hiệu sinh tồn(5). Điện tim(6) trên monitoring biểu hiện một cơn nhịp xoang chậm, 42 lần / phút, đoạn PR dài hơn bình thường: phân li nhĩ thất cấp I(7). Tôi vội cho thuốc nâng mạch và kiểm tra lại đường huyết.
Qua các thông tin sơ khởi, tôi biết được: Em đã cùng các bạn rong ruổi đi thăm thầy cô từ sáng sớm, chưa ăn gì trước khi bị ngất xỉu, té trên đường. Người đi đường và bạn bè gọi cấp cứu 05 đưa vào bệnh viện. Gia đình em ở Hòa Khánh (cách bệnh viện 7 – 8 km) đã được thông báo nhưng chưa vào kịp.
Sau khi làm các xét nghiệm khẩn, bơm glucose, nâng mạch bằng Atropin, mười phút sau tình trạng bệnh không cải thiện, trên monitoring nhịp tim còn 40 lần/phút, xuất hiện dấu hiệu phân li nhĩ thất cấp II. Không có máy tạo nhịp, tôi quyết định dùng thuốc Isuprel. Tủ thuốc trực cấp cứu không có Isuprel, muốn dùng phải mua ở các nhà thuốc bên ngoài bệnh viện. Người nhà chưa đến, người nuôi bệnh giường bên cạnh tình nguyện đi mua giùm.
Trong lúc chị y tá Tâm chuẩn bị bơm tiêm để chuyền Isuprel thì chuông điện thoại phòng trực réo lên. Chị hộ lý bắt máy và nói:
– “Có người trên Thành ủy cần gặp bác sĩ trực gấp”.
Tôi nói với chị hộ lý trả lời giùm rằng tôi đang cấp cứu bệnh nhân, có gì sẽ gặp sau. Chị hộ lý nói lại, và người bên kia đường dây gởi lời nhắn với bác sĩ trực:
– “Cháu Trương thị Hoàng Sa là con của một sĩ quan đang đóng quân ở Trường Sa, đề nghị các bác sĩ điều trị chu đáo”.
Vừa lúc ấy mẹ cháu Hoàng Sa đến. Chị hớt hải hỏi tôi về bệnh tình của con mình. Tôi giải thích tình trạng bệnh của Hoàng Sa và nói thêm:
– “Bệnh cần dùng thuốc Isuprel mà tủ thuốc trực không có, anh nuôi bệnh gường bên đã mua giùm, chị có thể trả lại tiền cho anh ấy”
Người mẹ tần ngần giây lát rồi bảo:
– “ Bác sĩ chờ cho tôi một chốc, tôi có người quen trên Thành ủy, tôi sẽ nhờ hỏi xem bệnh viện có thuốc tốt hơn không? Thuốc mua ngoài sợ không bảo đảm chất lượng”.
Đành phải hoãn tiêm chuyền Isuprel và chờ đợi. Tôi bồn chồn lo lắng, chữa bệnh cần thời gian tính. Thời khắc vàng đôi khi chỉ vài giây. Trong vài giây tìm được cái vein nhỏ xíu để chuyền thuốc là cứu được người bệnh, bằng không là thất bại, là tử vong. Tôi hết nhìn lên monitoring lại nhìn người mẹ đang nói chuyện qua điện thoại ở phòng bên mà lòng rối bời. Cầm bàn tay lạnh và xanh của Hoàng Sa, tôi tiên cảm điều không lành. Chị y tá Tâm nhắc tôi:
– “Bác Thoa, qui định của bệnh viện khi dùng thuốc ngoài danh mục bắt buộc phải có hội chẩn với bác sĩ trực giám đốc, bác là người hay quên nhất, khéo mà mang vạ vào thân, con cháu ông lớn đó”.
Tôi nói với cô bác sĩ trẻ trực cùng phiên, bác sĩ Hồ Dung Diễm(8) làm các thủ tục mời giám đốc hội chẩn, đồng thời cố giải thích thêm một lần nữa về tình trạng khẩn cấp và trầm trọng của bệnh nhân nếu chậm chuyền thuốc. Nhưng người mẹ vẫn muốn chờ lệnh của Thành ủy và thuốc của bệnh viện.
Cầm ống thuốc đã pha, nhìn lên monitoring thấy nhịp tim chậm dần, chậm dần mà lòng tôi nóng như lửa đốt. Nhưng rồi tôi tự nghĩ: Ống thuốc trong tay mình có chắc là thuốc thật hay không? Ai bảo đảm đây không phải là thuốc dổm. Chị y tá Tâm cầm bơm tiêm nhìn tôi chờ y lệnh và cũng ngầm cảnh báo.
Gần ba mươi phút sau, bác sĩ giám đốc, chủ nhiệm khoa dược đến cùng với vị khách bên Thành ủy.
Trưởng khoa dược thông báo khoa không có Isuprel vì đây là loại thuốc ít khi dùng nên khoa không nhập về.
Bác sĩ giám đốc, dược sĩ trưởng khoa dược ngồi vào bàn, trầm ngâm, chậm rải vuốt tờ biên bản thật thẳng, để lại thật ngay ngắn và thong thả ký biên bản hội chẩn: – “Bệnh viện không có Isuprel, quyết định sử dụng thuốc ngoài danh mục”. Ký xong ba vị đứng dậy ra về. Vị khách Thành ủy đến vỗ vai người mẹ và nói:
– “Chị an tâm, bác sĩ sẽ làm tốt thôi.” Người mẹ khúm núm vâng dạ cám ơn.
Trên monitoring lúc này nhịp tim của bệnh nhân còn 32 lần / phút, biểu hiện phân li nhĩ thất cấp III, hội chứng Adams Stocks, PaO2 còn 60mmHg(9). Tình trạng gần như vô vọng. Isuprel thật hay Isuprel giả không còn là vấn đề nữa rồi. Tôi và các chị y tá đã làm hết sức mình nhưng kết quả hoàn toàn không tốt như lời phán của lãnh đạo Thành ủy. Cái thật, cái giả của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã lấy đi cái may mắn sống còn của em bé 12 tuổi mà mới chiều nay thôi còn cười nói với bạn bè, đi hết nhà này đến nhà kia tặng hoa và quà cho thầy cô giáo.
Cầm bàn tay lạnh ngắt, mạch lặng như tờ, tôi biết mình đã thất bại. Điện tim trên monitoring là một đường thẳng, tiêm Adrenaline xuyên tim, ấn tim ngoài lồng ngực, bóp bóng oxy hỗ trợ…, hơn ba mươi phút không hiệu quả, tôi rã rời buồn bã báo với người nhà: Cháu đã ra đi.
Tiếng khóc vỡ òa của người mẹ xé lòng tất cả chúng tôi trong phiên trực.
Trở về bàn làm việc, ngồi viết giấy khai tử, đầu và hai vai tôi nặng trĩu như bị đè bởi cả khối trời.
Bốn ngày sau, 11 giờ 30 trưa, chuẩn bị nghỉ, thấy mẹ cháu Hoàng Sa đứng tần ngần trước cửa ra vào phòng bệnh, tôi đến với chị và hỏi:
– “Chị cần gì không? Chúng tôi có thể giúp gì cho chị?
Không trả lời tôi, chị đi thẳng vào bệnh phòng, đến giường số 2 nơi cháu Hoàng Sa nằm cách đây 4 ngày. Chị đi quanh, rồi đứng lại vịn thành giường, hết nhìn vào em bé đang nằm điều trị, lại nhìn xuống nền nhà, miệng lẩm bẩm: “Đôi dép màu hồng của con đâu rồi”? Đi theo chị quanh giường số 2, tôi nói:
– “ Chúng tôi không thấy có đôi dép nào ở đây cả, chị về nhà xem lại có ai để đâu đó không?
Không trả lời tôi, chị đứng nhìn thật lâu đứa bé đang nằm trên giường số 2 rồi lặng lẽ ra về.
Ngày hôm sau, 11 giờ 30 trưa, người mẹ đó lại xuất hiện, đi quanh giường số 2, hỏi thăm các cô y tá về đôi dép màu hồng rồi lặng lẽ ra về.
Ngày thứ ba cũng thế. Tôi bắt đầu thấy có cái gì đó không ổn ở người phụ nữ này. Tôi mời chị về phòng nói chuyện. Tôi cố giải thích cho chị là chúng tôi đã làm hết những gì có thể làm được. Cái chết của Hoàng Sa, con chị có thể là số mệnh… Tôi nói nhưng hình như tôi cũng không biết mình đang nói gì.
Với đôi mắt ráo hoảnh, vô thần, chị nhìn tôi một lúc rồi bảo:
–“ Bác sĩ có thấy đôi dép màu hồng của Hoàng Sa đâu không? Ở nhà tôi không nghe tiếng dép của nó đã mấy ngày rồi”.
Nói xong, chị đứng dậy nhìn quanh chiếc ghế đã ngồi như tìm kiếm vật gì. Tôi tiễn chị ra cửa phòng mà lòng quặn thắt.
Những ngày tiếp theo, người mẹ ấy không vào phòng bệnh nữa, chị đến phòng hồi sức nhi, đứng ngoài nhìn vào qua cửa kính rất lâu, rồi đến thắp hương nơi chiếc trang nhỏ đặt trên gốc cây sứ trong vườn hoa cạnh phòng cấp cứu. Thắp hương xong, chị đến ngồi trên chiếc ghế đá dưới gốc cây bàng sau phòng bệnh. Cứ thế, mỗi trưa chị đến thắp hương, ngồi lại lẩm bẩm nói chuyện một mình, đến nửa chiều lại ra về.
Một hôm, khoảng 15 ngày sau khi cháu Hoàng Sa ra đi, một người đàn ông dáng vóc khỏe mạnh, nước da ngăm đen đến tìm chị đang ngồi trên chiếc ghế đá dưới gốc cây bàng. Ông trìu mến, dỗ dành, đưa chị về.
Người đàn ông nọ đến gặp tôi tại văn phòng khoa mấy ngày sau đó. Anh tự giới thiệu là bố của Hoàng Sa, anh đến nhận giấy khai tử của con và để cám ơn chúng tôi. Anh còn cho biết thêm anh là chiến sĩ đóng quân trên đảo Trường Sa lớn. Khi con mất anh không về kịp. Hoàng Sa là con gái duy nhất của anh chị, họ đến với nhau khi chiến tranh kết thúc, đã lớn tuổi và khó khăn lắm mới có được mụn con. Tôi nhận ra trên khuôn mặt rám nắng và rắn rỏi của anh nỗi đau dường như bất tận. Anh nói lời cám ơn khiến lòng tôi đau xé. Tôi thầm nghĩ: Không biết người chiến sĩ kia có còn giữ vững được tay súng trước đầu sóng ngọn gió nữa không?
Cái chết của cháu Hoàng Sa không chỉ gây đau thương cho mẹ cha, gia đình và bạn bè của cháu, nó là giọt nước cuối cùng làm tràn ly nước đã tích lũy từ “ Huế, trường y của tôi và cả miền Nam Giải phóng ”. Ba năm thật dài tại bệnh viện tỉnh Daklak và 15, 16 năm vô cùng khó khăn căng thẳng của chính tôi tại bệnh viện Đà Nẵng. Có quá nhiều đêm không ngủ với ý nghĩ rằng mình đang bị khủng hoảng và rối loạn tâm thần.
Bà mẹ Hoàng Sa thơ thẩn đi tìm đôi dép màu hồng của đứa con duy nhất.
Còn tôi ngày càng quẩn quanh với quá nhiều câu hỏi khởi đầu bằng chữ nếu.
– Nếu không có cuộc hội chẩn giám đốc quái gở…?
– Nếu bệnh viện Đà Nẵng có sẵn ống thuốc Isuprel và người mẹ của Hoàng Sa không kêu cầu Thành ủy?
– Nếu đảng Cộng sản và nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam có chính sách lao động, lương bổng hợp lý thay vì kêu gọi mọi người “muốn con hay chữ phải yêu mến thầy”
Nếu… nếu… nếu…?
Và cuối cùng: Nếu đảng Cộng sản không đối lập quyền tuyệt đối của mình với trí khôn bình thường và tình yêu thương con người một cách bình dị của nhân dân.
Chồng tôi, anh C. S, đâm hoảng khi thấy tình trạng sức khỏe của tôi không được cải thiện sau khi rời Ban mê thuột. Anh khuyên tôi tạm thời quên đi những tra vấn không lối thoát. Anh ấy nói rằng:
– “Không có lời giải đáp cho chữ nếu khi nhìn lại lịch sử”.
Tôi nói: “Em không nhìn lại lịch sử, mà em, chúng ta đang đối diện với đảng Cộng sản với một đường lối không bình thường và những con người nhẫn tâm trước chết chóc, đau khổ của kẻ khác. Sự tham luyến quyền lực và vật chất của đảng Cộng sản là quá độ”.
– “Nhưng đảng cộng sản ngày nay không rơi xuống từ trên trời mà là kết quả của một khủng hoảng nhân loại diễn ra trên bình diện toàn cầu. Không có sự bóc lột dã man những người cùng khổ trong thế giới Tư sản, không có chủ nghĩa thực dân và khai thác thuộc địa bạo tàn, không có những cuộc chiến tranh thế giới giữa các đế quốc để giành tài nguyên và khu vực ảnh hưởng, sẽ không có chủ nghĩa Cộng sản và phong trào Cộng sản quốc tế. Không có các phong trào yêu nước lần lượt thất bại và sự hình thành của đảng Cộng sản với hai ngọn cờ Dân tộc và Chủ nghĩa Xã hội và cả cuộc kháng chiến trường kỳ, khốc liệt, đẫm máu, và các cuộc cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, cải tạo văn hóa bạo ngược và thô thiển. Tất cả những thứ ấy nằm trong một bối cảnh mà các cực đối lập tương sinh, tương tác và vận hành theo chuyển động quán tính. Khi cuộc sống nhân loại bị kéo lệch về phía bên này thì một phản động lực tất yếu vận động theo chiều ngược lại, kéo lệch cuộc sống về phía bên kia. Cuộc vận động ấy không chỉ diễn ra trên bình diện nhân loại, nó còn diến ra trong những phạm vi nhỏ hơn đến mỗi một cá nhân. Lý tưởng và bản năng, trí tuệ và u mê, vị kỷ và vị tha, hy sinh và cưỡng đoạt, giải phóng và nô lệ chỉ là hai mặt của một tồn tại. Nếu em nhận ra mình đang đứng ở đâu, vào thời điểm nào trong cuộc vận hành ấy thì nỗi khổ và sự giằng xé của em sẽ lắng xuống, tâm thần em sẽ trở lại bình thường. Từ bình thường anh dùng trong trường hợp này em phải hiểu một cách tương đối. Anh không nói chúng ta sẽ sống hạnh phúc và khỏe mạnh đầy đủ giữa một bối cảnh ngày một bế tắc và thối rữa như thế này. Anh chỉ nói em không nên để cho những bi lụy nó hủy hoại thân tâm và cuộc sống gia đình mà em đã góp phần tạo dựng. Vợ – chồng, mẹ – con, thầy thuốc – bệnh nhân, gia đình – cộng đồng, đất nước và thế giới… Em có tồn tại mới có hy vọng cải thiện các mối tương quan ấy. Những bức xúc, phẫn nộ, giằng xé của em tại bệnh viện và của chúng ta giữa đất nước và thế giới chúng tỏ em, anh, chúng ta chưa hoàn toàn tuyệt vọng”. Nhiều lần anh Chu Sơn luận giải với tôi những điều đại loại như thế. Và có lẽ anh cũng tự thuyết phục chính mình bằng những luận giải như thế.
Đành rằng chúng tôi không nên quá bi lụy, hoảng hốt để mình rơi vào tình trạng thụ động suy sụp tinh thần một cách bệnh lý. Nhưng chúng tôi cũng không đủ bản lãnh để nhẫn nhục chịu đựng và an nhiên tự tại như một nhà tu hành trong một thế giới không có lương tâm. Trong cái thế chẳng đặng đừng, chúng tôi âm thầm chịu đựng và đơn độc chống lại cái ngu, cái ác hoành hành ngang ngược như một dịch bệnh. Nhưng kết quả chẳng được bao nhiêu, chính xác là tất cả những nỗ lực của chúng tôi như muối bỏ biển, như nước chảy lá môn, như sương đêm trước nắng cháy sa mạc. Bất quá chỉ hành xử có tính cách lương tâm.
Tại bệnh viện Đà Nẵng, khoảng 1500 con người gồm y bác sĩ, y tá, y công, dược sĩ, dược tá, nhân viên hành chánh, bảo vệ… từ ba nguồn khác nhau: Mỹ – Ngụy lưu dung, trên núi xuống, ngoài Bắc vào, tất cả bị sai khiến bởi bộ tứ: Đảng ủy, ban giám đốc, công đoàn, đoàn thanh niên. Bộ tứ trên danh nghĩa chứng tỏ có một tập thể, thực tế quyền lực chỉ có một: Đảng. Đảng ủy: đảng, công đoàn: đảng, giám đốc: đảng, thanh niên: đảng. Tôi không nói mọi đảng viên đều ngu dốt và độc ác. Tôi cũng không nói mọi người ngoài đảng, đặc biệt là người miền Nam (Mỹ – Ngụy, lưu dung) đều hoàn hảo. Cái ác, cái đê tiện, cái xấu xa, cái ngu dốt, cái tối tăm ở đâu và bất cứ nới nào cũng có không ít thì nhiều. Có điều trong chế độ Cộng sản, đặc biệt trong cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, cái ác, cái xấu, cái đê tiện, cái ngu dốt tối tăm, cái vô trách nhiệm, cái dửng dưng vô cảm, trơ lì ngày một tăng trưởng và những con người mang những thuộc tính ấy ngày một nhiều thêm. Trái lại, những con người lương thiện ngày một ít đi. Để rồi từ đất nước đến mỗi thành viên, cơ phận, gia đình, con người, và những chi tiết tồn tại trong đó rơi vào tình trạng suy đốn, băng hoại như một căn bệnh nan y.
Trở lại cuộc hội chẩn giám đốc kỳ quái mà tôi đã tham dự với cái chết của cháu Hoàng Sa. Thành phần tham dự hội chẩn gồm có: bác sĩ giám đốc là một bác sĩ chuyên khoa X-Quang, trưởng khoa dược là dược sĩ từ Bắc vào, ông khách Thành ủy có lẽ là chuyên khoa lãnh đạo, bác sĩ Hồ Dung Diễm và tôi, bác sĩ chuyên khoa II nhi(10), trưởng tua trực. Cuộc hội chẩn bắt đầu sau khi cháu Hoàng Sa vào viện khoảng 30 phút, kéo dài khoảng 5 phút. Tôi báo cáo tóm tắt tình hình bệnh và đề xuất hướng điều trị. Giám đốc ngồi nghe và vuốt thật thẳng tờ biên bản hội chẩn. Trưởng khoa dược báo cáo khoa dược không có thuốc Isuprel, đề nghị cho dùng thuốc ngoài danh mục (mua ngoài). Ông khách Thành ủy chứng kiến từ đầu đến cuối và ra lệnh chúng tôi tích cực cứu chữa cho cháu Hoàng Sa. Ông nhấn mạnh cháu Hoàng Sa thuộc gia đình có công với cánh mạng, hiện tại cha cháu là sĩ quan đang bảo vệ Trường Sa, mẹ của cháu là giáo viên, cả hai đều là đảng viên. Cuộc hội chẩn kết thúc với biên bản được ký bởi giám đốc bệnh viện, trưởng khoa dược và cuối cùng là tôi. Như thế là sau khi ký vào biên bản hội chẩn tôi mới có quyền điều trị cho cháu Hoàng Sa với liều thuốc Isuprel mà y tá Tâm chuẩn bị hơn 30 phút trước. Và kết quả Hoàng Sa đã chết sau bao nỗ lực tuyệt vọng của chúng tôi. Xin mở một ngoặc đơn giải thích ở đây, nếu không có cuộc điện thoại của Thành ủy, nếu mẹ cháu Hoàng Sa không quá tin vào quyền lực của thành ủy thì tôi có thể sử dụng thuốc ngay từ đầu, Hoàng Sa sẽ có cơ may nhiều phần trăm được cứu sống.
“Hội chẩn giám đốc” hay nói một cách thông thường là “duyệt giám đốc” diễn ra khắp các bệnh viện lớn nhỏ trong cả nước suốt nhiều chục năm Đảng Cộng sản lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối đã cướp đi những cơ may sống sót của rất nhiều bệnh nhân. Trường hợp cháu Hoàng Sa chỉ là một thí dụ.
Xin nói thêm về hoạt động “Hội chẩn” để biểu thị quyền làm chủ tập thể trong các bệnh viện Việt nam Xã hội chủ nghĩa. Có rất nhiều loại hội chẩn, chỉ xin nói về hai loại phổ biến trong bệnh viện:
  • Hội chẩn chuyên môn, đây là một hoạt động thuần túy chuyên môn, nhưng bao giờ cũng có đại diện giám đốc tham dự, đa phần là phó giám đốc. Hội chẩn diễn ra tại các bệnh phòng trong các trường hợp có vướng mắc về chẩn đoán cũng như điều trị. Chẳng hạn bệnh nhi tim mạch thỉnh thoảng mời bác sĩ của khoa chẩn đoàn hình ảnh hay khoa ngoại lồng ngực… Hội chẩn giữa các bác sĩ nội ngoại khoa hay sản khoa khi có sự cần phối hợp.
Để có một chẩn đoán chính xác và giải pháp điều trị đúng đắn ở bất cứ chế độ nào cũng cần những cuộc hội chẩn như thế. Có điều ở đây người đại diện giám đốc là người có phán quyết sau cùng.
  • Hội chẩn giám đốc về các vấn đề ngoài chuyên môn như hội chẩn để có quyết định sử dụng thuốc ngoài danh mục, hội chẩn chuyển viện… Đây thực chất là sự giám sát của đảng. Đặc biệt là “hội chẩn dùng thuốc ngoài danh mục” là một “sáng tạo” tại các cơ sở điều trị của ngành y tế Việt nam trong bối cảnh “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Tại các bệnh viện công, khoa dược căn cứ vào tình hình thuốc hiện hữu trong kho mà lên một danh sách và thông báo cho các khoa phòng sử dụng: đây là thuốc trong danh mục. Hàng năm khoa dược cũng tổ chức các buổi tham khảo ý kiến các bác sĩ để biết các bác sĩ cần gì cho bệnh nhân, nhưng đó chỉ là việc làm lấy lệ. Khoa dược mua, nhập thuốc gì là còn tùy thuôc vào ý đồ của các đối tác là các công ty, các hãng thuốc ngoại. Ví dụ khoa nhi đã bao lần đề nghị nhập thuốc ở dạng si rô hay dạng bột thơm cho trẻ em, nhưng gần 25 năm trong công việc điều trị nhi khoa tại bệnh viện Đà Nẵng, tôi chỉ được dùng các loại thuốc kháng sinh dạng viên của người lớn: viên nén hay viên con nhộng(11) hàm lượng 500mg hay 250mg. Khi sử dụng y tá phải mở bỏ vỏ hay tán mịn rồi chia hai, chia ba, chia bốn, chia năm tùy theo trọng lượng của cháu bé. Các cháu phải uống thứ thuốc bột đắng, gây ói mửa, tác dụng chỉ còn vài chục phần trăm. Nhiều gia đình xin tự mua thuốc ở ngoài, nhưng bác sĩ cũng ngại vì lỡ có chuyện không hay, mọi trách nhiệm người bác sĩ phải gánh chịu. Một dược sĩ đã nói với tôi: “Các hãng thuốc nước ngoài đã đúc những chìa khóa bằng vàng để mở tất cả các cửa lớn bé từ Trung ương xuống địa phương. Người bệnh trong các nước Xã hội chủ nghĩa sử dụng thuốc đắt hơn nhiều lần so với người bệnh trong các nước Tư bản”.
Trở lại vấn đề “thuốc trong danh mục”. Bác sĩ ở các khoa phòng căn cứ vào danh mục thuốc do khoa dược thông báo để kê đơn điều trị hoặc ghi vào bệnh án. Thuốc trong danh mục thông thường đáp ứng yêu cầu điều trị các bệnh phổ biến. Trong trường hợp đặc biệt, như trường hợp cháu Hoàng Sa, khoa dược không có. Tại sao? Một bệnh viện lớn như bệnh viện Đà Nẵng lại không có các loại thuốc đặc biệt này là một vấn đề cần thảo luận. Theo khoa dược: vì thuốc ít sử dụng, nếu mua về để quá hạng phải bỏ đi, khoa dược không chuẩn bị những loại thuốc như thế là để tiết kiệm tiền của nhân dân. Lí giải như thế là gian, theo nhận định của tôi và nhiều y bác sĩ khác. Bằng cớ là các nhà thuốc tư nhân phạm vi hoạt động nhỏ hơn khoa dược rất nhiều lại có thuốc đặc dụng để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Động cơ là lợi nhuận.
Khi điều trị tại bệnh phòng với thuốc ngoài danh mục, phải có sự duyệt ký của giám đốc, bác sĩ điều trị không được phép kê đơn cho bệnh nhân mua thuốc ở các quầy thuốc tư nhân mặc dù các cửa hàng này đã có giấy phép của nhà nước, có dược sĩ chịu trách nhiệm và cũng được sở y tế quản lý. Phép tắc này diễn ra dưới các hình thức:
  • Hoặc là giám đốc ký vào một tờ trình do y tá hành chính có nhiệm vụ lãnh thuốc trình ký tận nơi ông ta ngồi. Tình trạng này diễn ra hàng ngày. Để có chứ ký của giám đốc, y tá phải đi nhiều lần, có khi nhiều ngày vì giám đốc bận “đi họp” ở đâu đó.
  • Hoặc là trong trường hợp trực cấp cứu, giám đốc hay người trực thay giám đốc (đa phần là các phó giám đốc kể cả phó giám đốc đời sống hay vật tư) ký vào biên bản hội chẩn của ít nhất là hai bác sĩ đang trực tại phòng cấp cứu. Biên bản này cũng do y tá trực trình ký tại phòng trực giám đốc. Đôi khi người trực giám đốc đi đâu đó chỉ để lại điện thoại, y tá trực gọi điện và người trực giám đốc “ký miệng”, sáng mai ký thực vào giấy.
  • Hoặc là giám đốc quyết định một cuộc hội chẩn tại nơi bệnh nhân đang nằm (như trường hợp cháu Hoàng Sa) để bày tỏ sự quan tâm của Đảng đối vói những gia đình quan trọng cần biệt đãi (gia đình cán bộ cấp cao, gia đình có công cách mạng, gia đình danh tiếng…)
Các cuộc “hội chẩn giám đốc’ như thế thông thường dẫn đến các kết quả như sau:
  • Một là chậm trễ trong việc xử lí cấp cứu. Cái sống cái chết của bệnh nhân (đặc biệt là bệnh nhân nhi) trong nhiều trường hợp chỉ tính bằng giây.
  • Hai là bác sĩ điều trị cảm nhận một cách cay đắng rằng mình bị Đảng tước đoạt trách nhiệm và quyền hạn trong phạm vi nghề nghiệp. Trong trường hợp bệnh nhân tử vong (do xử lý cấp cứu trễ) người bác sĩ trực tiếp điều trị bị một chấn thương tâm lý lâu dài: rằng là mình thấy chết mà không cứu.
  • Ba là người bác sĩ do chấp hành mệnh lệnh của Đảng lâu ngày trở nên trơ lì, khoanh tay đứng nhìn bệnh nhân từng bước rơi vào tình trạng nguy hiểm, tử vong. Mãi đến thời điểm này (2012), nhiều vụ hành hung, kiện tụng xảy ra tại rất nhiều bệnh viện trong cả nước, lý do bác sĩ điều trị chờ “hội chẩn giám đốc”.
Một câu nói cửa miệng của các bác sĩ đào tạo tại miền Nam trước 1975 được “lưu dung” tại các bệnh viện: “linh hồn ai nấy giữ”. Câu nói này phát xuất từ các bác sĩ đã trải qua một trong hai kinh nghiệm:
  • Hoặc là khám chữa bệnh cho một ông bà lớn (hoặc thân nhân của họ), kết quả khả quan không nói gì, kết quả xấu, lập tức bị kết tội phản động, tay sai Mỹ Ngụy mai phục.
Sau kinh nghiệm đắng cay đó, các bác sĩ lưu dung tìm mọi lý do để từ chối không nhận khám chữa trị cho những bệnh nhân thuộc thành phần trên. Họ thường chọn biện pháp “hội chẩn giám đốc” để tránh trách nhiệm.
  • Hoặc là do nóng lòng trước tình trạng cấp cứu của bệnh nhân, người bác sĩ quên rằng mình cần phải “hội chẩn giám đốc”. Kết quả tốt không nói gì, kết quả xấu tức thì bị hành hung, chưởi bới, kiện tụng, có khi bị bêu riếu trên báo chí, hoặc bị kỷ luật, bị thuyên chuyển công tác vì đã vượt quá qui định của lãnh đạo (hội chẩn giám đốc).
Trong các chế độ phi Xã hội chủ nghĩa, trọng tài cho những trường hợp trên là Y sĩ đoàn, sự sai phạm được người có chuyên môn và pháp luật phán xét. Trong chế độ Xã hội chủ nghĩa, không có quyền lực nào ngoài quyền lực tuyệt đối của Đảng Cộng sản cả, nên người bác sĩ phải giữ “linh hồn của mình” mặc dù y biết chắc chắn nếu giữ gìn kiểu ấy lâu ngày linh hồn của y sẽ biến dạng, hoặc y không còn linh hồn nữa.
Đến thời điểm này, cũng do sự can thiệp toàn diện và tuyệt đối của Đảng vào các quy trình hành xử chuyên môn, các bác sĩ trẻ xuất thân từ mái trường Xã hội chủ nghĩa, đa phần – tôi nói đa phần – sợ phiền hà do không chấp hành hội chẩn giám đốc, và nhất là do bản chất của nền giáo dục – đào tạo Xã hội chủ nghĩa, nên đã răm rắp tuân thủ mệnh lệnh của Đảng. Lâu dần tất cả đã chai lì trước những nỗi đau của đồng bào, đồng loại. Do Đảng lãnh đạo, người thầy thuốc tại Việt nam Xã hội Chủ nghĩa, đa phần – tôi nói đa phần – quên rằng mình cũng là Con người đã từng có một linh hồn.
Khi viết những dòng cuối của đoạn ký ức xao xuyến và không vui này tôi nghĩ nhiều hơn về hai ông bà là cha mẹ của người bệnh nhi bé nhỏ xấu số của tôi cách đây 15 năm, người mà hằng năm cứ đến ngày nhà giáo tôi không thể không nhớ đến, bởi cái chết của cháu đã gây cho tôi nỗi trăn trở không nguôi suốt quãng đời còn lại của người thầy thuốc trên đất nước bị tròng kéo theo con đường khổ nạn: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của đảng Cộng sản, người mà mỗi ngày khi đọc báo, xem truyền hình, hay khi thực hiện các mối giao tiếp, thậm chí cả khi ngồi một mình, tâm trí tôi cũng vướng bận nghĩ về. Bởi cái tên của cháu còn nhắc nhở tôi về một vùng lãnh thổ của đất nước, một phần máu thịt của dân tộc đang bị chiếm cứ bởi bọn bành trướng Trung quốc: Hoàng Sa.
Tôi không biết vào thời điểm này hai ông bà là cha mẹ của Hoàng Sa đang ở đâu, làm gì? Bà đang ở Hòa Khánh – Đà Nẵng, đang đi dạy học hay đang vẫn vơ đi tìm đôi dép màu hồng trên những nẻo đường tối tăm và giữa những con người trở nên xa lạ. Còn ông? Ông đang ở đảo Trường Sa lớn hay một nơi nào đó trên biển Đông, nói và làm theo mệnh lệnh của Đảng. Hay ông đang đăm đăm nhìn về phía bãi cát vàng mà lòng quặn thắt nhớ thương căm hờn lẫn lộn. Hoàng Sa, đứa con gái bé bỏng của ông đã chết. Hoàng Sa, vùng biển đảo mà ông cùng vợ khi đặt tên con đã thề nguyền sẽ đem cuộc sống và cả máu xương của mình để giành giật lại trong bạo lực của kẻ thù mà ông bà đã nhìn rõ mặt, gọi đúng tên: Trung Quốc. Nhưng Hoàng Sa đối với ông vào thời điểm này (2012) lại bị trùm phủ bởi một bầu trời đen tối của tấn bi kịch mới. Theo lệnh của Đảng Cộng sản – bởi ông là đảng viên – ông không cần nhìn rõ mặt kẻ thù, ông không được gọi đúng tên chúng, ông chỉ được khoanh tay đứng nhìn “kẻ lạ” đang hoành hành ngang ngược trên đảo, trên biển, “kẻ lạ” đang tấn công, đuổi bắt, đánh đập, giam cầm ngư dân ruột thịt của ông. Dường như ông đang lẩm bẩm một mình. Giữa sóng gió muôn trùng không ai nghe rõ lời ông: Kẻ lạ, Đảng lạ, kẻ lạ, Đảng lạ… Và rồi cũng như vợ ông đang đi tìm đôi dép màu hồng giữa cuộc đời ngày thêm tối tăm và xa lạ.
Ông đang đi tìm Đảng của ông, cũng màu hồng của một thời trai trẻ, giữa mịt mùng sóng gió của biển khơi. Tôi không biết đại dương và nỗi đau đớn tuyệt vọng của cặp vợ chồng là cha mẹ của cháu Hoàng Sa cái nào lớn hơn, lúc này và đến bao giờ?
Nguyễn thị Kim Thoa
Ghi chú
(1): Chị Nguyễn thị Tâm, y tá của phòng hồi sức cấp cứu nhi, bệnh viên đa khoa Đà Nẵng, chị Tâm là em ruột thi sĩ Nguyễn Nho Sa Mạc.
(2) Chị Thanh Xuân y tá của phòng hồi sức cấp nhi, bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng. (Phòng Hồi sức cấp cứu nhi bệnh viên Đà Nẵng là đơn vị đã được phong tặng danh hiệu: Đơn vị Anh Hùng).
(3) Chụp phim cắt lớp: CT scanner.
(4) Hạ đường huyết: hypoglycémie.
(5) Dấu hiệu sinh tồn: signe vitale.
(6) Điện tim còn gọi là điện tâm đồ (ECG: Electrocardiogramme).
(7) Phân ly nhĩ thất: Bloc A – V ( bloc atrio – ventriculaire)
(8) Hồ Dung Diễm là bác sĩ hay trực cặp với tôi.
(9) PaO2: nồng độ oxy trong máu động mạch.
(10) Chuyên khoa I, Chuyên khoa II: bằng cấp sau đại học thuộc hệ thực hành của từng chuyên ngành.
(11) viên nén: comprimé, viên nhộng: capsule.