Thứ Bảy, ngày 08 tháng 12 năm 2012

Con đường nào cho chúng ta?


Những ngày này, lòng dân sôi sục trước sự vu cáo bỉ ổi của bọn cộng sản Đại Hán, chúng vừa hăm dọa đánh Việt Nam, vừa cãi trắng những tội ác xâm phạm lãnh thổ mà chúng đang gây ra trên đất nước ta.
Có điều đáng suy nghĩ là, trong tình hình khẩn trương như vậy, chúng ta không nghe được bất cứ tiếng nói nào của các vị lãnh đạo cao nhất của Đảng? Người ta chỉ nhớ, có lần chính ông bình thản tuyên bố… Biển Đông vẫn lặng sóng yên ổn.
Trong khi đó, tôi nghe được vào rất nhiều lúc, ở rất nhiều nơi, rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam đang quyết trung thành  “Đi theo con đường Bác Hồ đã chọn”, rồi vun đắp tình hữu nghị mà hai vị lãnh tụ đã dày công vun đắp (!).
Tôi cũng được nghe nhiều lần, đài truyền hình đưa tin các vị lãnh đạo cấp cao nhất của Nhà nước và của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp các khách nước ngoài cũng luôn khẳng định: “Chúng tôi đi theo con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn”.
Tôi không phải người nghiên cứu Hồ Chí Minh, nên am hiểu có phần không được đến nơi đến chốn. Vì vậy tôi mong muốn được gửi một số ý nghĩ phân vân của tôi, nhờ xin ý kiến rộng rãi trên trang mạng Bauxite Việt Nam, là trang mạng mà giới trí thức thường gặp nhau đàm đạo, với hy vọng nhận ý kiến chỉ giáo của các bậc thức giả.
*
Theo ngu ý của tôi, thì Cụ Hồ đã chọn nhiều con đường lắm.
Chí ít tôi cũng liệt kê được 5 mốc thời gian mà Cụ Hồ nói về “Con đường mà Cụ quyết định lựa chọn”:
  1. Cách đây 91 năm, vào năm 1921, khi được đọc “Luận cương về các vấn đề dân tộc thuộc địa của Lê Nin”, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức Cụ Hồ) quyết định đi theo con đường của Quốc tế thứ ba, tức Quốc tế Cộng sản.
  2. Cách đây 67 năm, khi giành được chính quyền, tháng 9/1945, cụ quyết định chọn con đường “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, rồi về sau người ta đã xóa cái con đường  “Dân chủ Cộng hòa” của Cụ và đổi thành con đường “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
  3. Cùng chính tại thời điểm cách đây 67 năm, 2 tháng sau ngày đọc Tuyên ngôn Độc lập, Tháng 11/1945, cụ Hồ tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương để mở rộng khối đoàn kết dân tộc và tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của quốc tế (không cộng sản) trong sự nghiệp kháng chiến chống Pháp. Phải nói, đây là một quyết định rất dũng cảm của Cụ Hồ, con đường đã đặt cụ phải đối mặt với nhiều nan đề trong sự nghiệp của Cụ.
  4. Cách đây 61 năm, vào năm 1951, Cụ Hồ lập lại Đảng, với tên gọi mới, là Đảng Lao động, chứ không phải là Đảng Cộng sản. Danh xưng Đảng Lao động ViệtNam được giữ đến cuối đời của Cụ. Cho đến khi Cụ mất, thì người ta lại đổi tên đảng của Cụ thành Đảng Cộng sản ViệtNam.
  5. Cách đây 47 năm, vào ngày 10/5/1965, Cụ Hồ viết di chúc, và bản di chúc của Cụ được công bố trong buổi tang lễ của Cụ vào 4 năm sau đó, năm 1969, trong đó Cụ viết rất rõ: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.
Như vậy, trong vòng 44 năm, từ năm 1921 đến năm 1965, Cụ Hồ không đưa ra một khuôn mẫu duy nhất về con đường mà cụ quyết định lựa chọn. Tôi xin bàn về hai con đường ở chặng đầu và chặng cuối đoạn đường mà Cụ Hồ đã đi qua:
Con đường thứ nhất, vào năm 1921, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành 31 tuổi đã quyết định chọn con đường của Quốc tế Cộng sản. Nhân ngày nhân ngày sinh Lênin, 22/4/1960, Cụ Hồ đã viết một bài trên báo Nhân dân giải thích, rõ “Chủ nghĩa yêu nước đã dẫn tôi đến với Chủ nghĩa Lênin”, và Cụ Hồ còn giải thích rõ thêm về niềm tin của Cụ: “Chỉ có Quốc tế Cộng sản mới giúp được các dân tộc thuộc địa giải phóng khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân”.
Con đường thứ hai, vào năm 1965, trong lời cuối cùng của Bản Di chúc, Cụ Hồ Chí Minh 75 tuổi đã quyết định lựa chọn con đường phát triển một nước “ViệtNam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. Chúng ta có thể tìm tòi rất kỹ, trong Bản Di chúc, không một chỗ nào Cụ Hồ nói đến việc “xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Hai mốc thời gian đó cách nhau vẻn vẹn 44 năm. Phải chăng là Cụ Hồ quên? Cụ Hồ sơ suất? Không. Tôi không tin. Tôi không tin là một người tinh tế như Cụ Hồ lại quên viết cái điều được xem là trọng đại đó trong những lời trăn trối cuối cùng trước toàn đảng của Cụ. Chắc chắn là không, vì trong những lời đầu tiên của Bản Di chúc, Cụ đã khẳng định rất cẩn thận: “…tinh thần và đầu óc vẫn rất sáng suốt” khi đặt bút viết những lời cuối cùng nhắn nhủ lại cho đời sau.
*
Vậy các nhà lãnh đạo ViệtNamnói “Đi theo con đường Bác Hồ đã chọn” là nói đến con đường nào của Cụ Hồ vậy?
Sau 44 năm, từ chỗ quyết định đi theo Quốc tế ba của Lênin đến chỗ chỉ nói đến “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh…”, Cụ Hồ không nói gì đến xã hội chủ nghĩa nữa.
*
Chúng ta có thể hiểu được, vì sao Cụ Hồ có thái độ như vậy đối với chủ nghĩa cộng sản. Có hai bài viết khá kỹ về sự kiện này. Đó là Hồi ký Hoàng Tùng và một bài viết của Giáo sư Tương Lai, qua đó, người đọc có thể thấy được chính Cụ Hồ  cũng đã từng là nạn nhân của sự “độc quyền chân lý, áp đặt tư duy, tùy tiện quy kết” từ những cấp rất cao khi kiên định quan điểm về dân tộc, không tán thành thổi phồng vấn đề giai cấp. Chẳng hạn, vì lý do ấy mà Staline không tiếp Hồ Chí Minh, chưa chịu công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho mãi đến năm 1950 sau cuộc gặp ở Matxcơva.
Một tài liệu cho biết cuối cùng Staline cũng nhận tiếp Hồ Chí Minh, ngay tại phòng làm việc của mình, với sự có mặt đông đủ các nhà lãnh đạo chủ chốt của Liên Xô, phía Trung Quốc có Đại sứ Trung Quốc Vương Gia Tường, phía Việt Nam có Trần Đăng Ninh. Staline mở đầu: Chúng ta là những người bạn, người anh em thân thiết, gặp đồng chí hơi muộn một chút, xin thứ lỗi! Sau khi nghe ý kiến Cụ Hồ, Staline phát biểu chậm rãi nhưng rành rọt, đại ý:
– Tại sao các đồng chí tự ý giải tán Đảng? Đồng chí tưởng lừa được chủ nghĩa đế quốc à, chính là đồng chí lừa chúng tôi, vì ở xa, không biết thực hư thế nào (có ý trách là không xin ý kiến).
– Chính phủ các đồng chí là cái chính quyền gì, sao mà lắm nhân sĩ, trí thức, địa chủ, quan lại thế? (Ý nói không phải chính quyền công nông).
– Tại sao đến nay các đồng chí không tiến hành cải cách ruộng đất? Để đánh thắng đế quốc Pháp, sự chi viện của quốc tế là cần thiết, nhưng phải phát động quần chúng, động viên quần chúng, đem lại lợi ích thiết thân cho họ, đó mới là điểm mấu chốt làm nên thắng lợi.
Staline tỏ ý không hài lòng lắm, hỏi: trong 2 cái ghế dân tộc và giai cấp, đồng chí ngồi trên cái ghế nào? (Có ý phê bình lập trường giai cấp còn mơ hồ ).
Tóm lại, Liên Xô không muốn dính vào vấn đề ViệtNam ở thời điểm này. Cuộc đón tiếp được coi là nhạt nhẽo.
[Theo Trương Quảng Hoa: “Ghi chép bí mật về quyết sách giúp ViệtNamchống Pháp”, đăng trên Tạp chí Viêm hoàng xuân thu, số 10 năm 1995].
Hiểu sự kiện này có ý nghĩa như thế nào mới thấy ra được bản lĩnh của Hồ Chí Minh, những khó khăn mà Hồ Chí Minh phải vượt qua như thế nào.
Gay gắt nhất là khó khăn do các đồng chí của mình gây ra. Trần Phú, Ngô Đức Trì là những học viên lớp đầu của trường Phương Đông trong khoảng thời gian từ 1927 đến 1930, đã được đào luyện rất kỹ theo tinh thần “giai cấp chống giai cấp” của Đại hội VI, trở thành những người cộng sản “cứng rắn”, được cử về để “uốn nắn” lại những “sai lầm” của Nguyễn Ái Quốc!
Người phê phán gay gắt nhất Nguyễn Ái Quốc là Trần Phú. Tại Hội nghị TƯ tháng 10-1930, Trần Phú đã phê phán những sai lầm về chính trị và tổ chức của Hội nghị hợp nhất là “chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh, ấy là một sự rất nguy hiểm”, về “chia địa chủ làm đại, trung và tiểu địa chủ”, về “nói phải lợi dụng bọn tư bản mà chưa rõ mặt phản cách mạng”, cùng một số sai lầm khác, sau đó ra nghị quyết “thủ tiêu Chính cương, Sách lược và Điều lệ cũ của Đảng” [Văn kiện Đảng Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, 1998, t. 2, tr. 110-112]. Sau Hội nghị TƯ 10-1930, trong thư gửi Quốc tế Cộng sản ngày 17-4-1931, ông còn phê phán nội dung Hội nghị hợp nhất “mang nặng dấu ấn các tổ chức cách mạng cũ, các vấn đề cơ bản đều mâu thuẫn với đường lối Quốc tế Cộng sản (do thiếu một chính sách giai cấp),… mang dấu ấn nhất định của thời kỳ Quốc – Cộng hợp tác 1925-1927”[Tài liệu lưu trữ tại Phòng QTCS, nay là Trung tâm bảo tồn và nghiên cứu các tài liệu lịch sử hiện đại Nga, viết tắt là R.C. ký hiệu 495.154.462.].
Thời gian này, Hà Huy Tập đã trở về Trung Quốc, đứng đầu Ban Chỉ huy hải ngoại của Đảng. Ngày 31-3-1935, trong thư gửi Quốc tế Cộng sản, ngoài nội dung chính là báo cáo kết quả của Đại hội Ma Cao, trong 10 điểm nói thêm, có 2 điểm báo cáo về Nguyễn Ái Quốc, ở điểm thứ mười, ông đã viết: “Ở Xiêm và Đông Dương, các tổ chức cộng sản đã tiến hành một cuộc đấu tranh công khai chống lại những tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với chủ nghĩa cải lương của đảng Thanh niên và của đ/c Nguyễn Ái Quốc, những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng cho sự phát triển chủ nghĩa cộng sản… Chúng tôi đề nghị đ/c Lin viết một quyển sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua” [Văn kiện Đảng TT, t. 5, tr. 204].
Có thể nói, đi theo Quốc tế ba, Cụ Hồ cũng đã chịu nhiều nỗi dày vò bất hạnh vì chính Stalin nghi ngờ và kỳ thị về nguồn gốc gia đình trí thức quan lại của Cụ Hồ, thậm chí có giai đoạn Cụ Hồ bị “treo giò” không được hoạt động, và bị những vị như Trần Phú và Hà Huy Tập phê phán. Hãy đọc bức thư Cụ viết cho Tổng thư ký Quốc tế Cộng sản Đimitrov:
Đồng chí thân mến,
Hôm nay là ngày kỷ niệm lần thứ bảy việc tôi bị bắt giữ ở Hồng Kông. Đó cũng là ngày mở đầu năm thứ tám tình trạng không hoạt động của tôi. Nhân dịp này, tôi viết thư gửi đồng chí để xin đồng chí giúp đỡ tôi thay đổi tình cảnh đau buồn này.
Đồng chí hãy phân tôi đi đâu đó. Hoặc là giữ tôi ở lại đây. Hãy giao cho tôi làm một việc gì mà theo đồng chí là có ích. Điều tôi muốn đề nghị với đồng chí là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng.
Tôi sẽ rất biết ơn đồng chí, thưa đồng chí thân mến, cho phép tôi được hội kiến. Tôi tin rằng như vậy sẽ tốt hơn. Đã từ lâu rồi đồng chí không gặp tôi.
Đồng chí thân mến, xin đồng chí nhận lời chào cộng sản anh em của tôi.
6-6-1938
LIN (Nguyễn Ái Quốc)
(Đây là bản dịch đăng trên trang mạng của Bảo tàng Hồ Chí Minh, trong đó ghi là thư Nguyễn Ái Quốc gửi cho Manuilxki, một vị lãnh đạo khác của Quốc tế Cộng sản, nhưng tôi tìm thấy bản tiếng Pháp trong phông tư liệu cá nhân của một vị chuyên viên của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, nay là Viện Lịch sử Đảng, thì thấy đề là thư gửi Đimitrov).
Theo Hồi ký của Hoàng Tùng, thì khi Cụ Hồ từ Trung Hoa Dân Quốc về nước còn bị Trịnh Đình Cửu hỏi giấy ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản.
*
Nhắc lại một cách sơ lược vài sự kiện đó để càng hiểu thêm, vì sao Cụ Hồ đã không nói gì đến màu sắc ý thức hệ trong cái “Điều mong muốn cuối cùng” của Cụ nữa.
Theo ý nguyện cuối cùng của Cụ Hồ, kiên quyết dứt bỏ sự ràng buộc ý thức hệ với bọn đế quốc Trung Cộng xâm lược là điều phù hợp lòng dân hiện nay.
Xin các vị lãnh đạo tỉnh táo: Giữ được Đảng mà mất nước vào tay Trung Cộng thì còn ý nghĩa gì nữa đâu! Vì cố gắng bảo vệ Đảng mà thẳng tay đàn áp những người biểu tình chống Trung Cộng xâm lược thì được lòng Trung Cộng, nhưng mất lòng tin với dân. Lịch sử sẽ ghi lại sự kiện này. Và đó mới chính là điều Đảng cần minh định.
Vũ Cao Đàm
Nguồn: Bauxite Việt Nam (tựa bài của HDTG)

‘Bản năng’ và những phát ngôn ấn tượng

Có dân tộc nào mà lịch sử lập nước, giữ nước lại luôn phải đối đầu với “lòng tham” như dân tộc Việt Nam? Tham nhũng và… tham Biển Đông.
Trong tuần này, có một câu chuyện nhỏ, mà phạm vi bàn luận của nó vô tình lại rất lớn.
Nỗi S ám ảnh
Đó là bài văn nghị luận của một nữ sinh phổ thông về chủ đề: Sợ.
Chỉ có mỗi chữ Sợ, nhưng nó “gói trọn” cả hiện tượng tâm lý loài người, mang tính bẩm sinh và bản năng, trước cái đa dạng, đầy bất ổn của đời sống. Từ thuở hồng hoang ở trần, mặc áo vỏ cây đến thời hiện đại, con người có đủ các thương hiệu thời trang nức tiếng thế giới Gucci, Versace, Louis Vuitton, Dolce Gabbana (D&G), DKNY…
Nhưng nỗi sợ vẫn cứ là một tâm thức thường trực khi đời sống ngày càng văn minh. Có nỗi sợ của con người mang tính phổ  biến: Sợ chết, sợ thất bại, sợ khó khăn…. Cũng có cái sợ cao quý- “sợ phụ một tấm lòng trong thiên hạ”. Để cuối cùng bài viết bàn về cái sợ “phải đạo”- biết sợ pháp luật. Thực chất, đó là nỗi sợ khi phải đối diện với “tòa án lương tâm”.
Những nỗi sợ mang tính thuận lẽ đời.
Có điều, em nữ sinh chưa biết giờ đây, khoa học còn chứng minh, có những nỗi sợ quỷ quái ám ảnh con người. Bởi thế  giới thì vô cùng rộng lớn, còn con người lại vô cùng mong manh, bé nhỏ. Thế giới vô hạn, còn con người hữu hạn.
Đó là sợ Thứ 6 ngày 13, cái ngày mà những người phương Tây đặc biệt kiêng kị, xa lánh, lo rủi ro. Đặc biệt, có những nỗi sợ rất ngược với niềm đam mê của người Việt, người phụ nữ Việt. Đó là: Sợ số 666. Sợ…tiền. Sợ soi gương…
Cũng có nỗi sợ chung, mang tính phổ biến của thời công nghệ điện tử phát triển – nỗi sợ phải sống “thiếu điện thoại di động”. Đó là nỗi sợ không có thông tin. Con người ta hoặc giầu lên, hoặc nghèo đi về trí não, hoặc thành công, hoặc rủi ro, thất bại trong sự nghiệp nhiều khi cũng bởi hai chữ – thông tin này đây!
Có cả nỗi sợ rất đáng thương, làm cư dân mạng xôn xao như mới  đây. Đó là người hành khất Jeffrey Hillman trên  đường phố New York được người cảnh sát tốt bụng Lawrence DePrimo tặng cho đôi giầy mới trị giá 100 USD, khi thấy ông chân trần giữa giá rét.
Dù vậy, người hành khất tội nghiệp này đã không dám xỏ chân vào giầy. Đơn giản, ông sợ bị mất, hoặc bị mất mạng vì món ”tài sản” lớn bất ngờ. Lòng tốt đặt đúng chỗ, nhưng sự hàm ơn thật cay đắng làm sao. Đó là nỗi sợ của con người khốn cùng, không nơi bấu víu, dù ông có hai đứa con đã trưởng thành.
Nhưng có một nỗi sợ rất “nghịch lý”, từ lâu, trở thành nỗi ám ảnh chung với nhiều người trong xã hội. Bởi tính vô đạo của nó. Và nó tàn phá niềm tin ở không ít con người lương thiện.
Đó là nỗi sợ của người ngay sợ kẻ gian, người chính trực sợ kẻ ăn cắp, tham nhũng, người đứng đắn sợ kẻ “Chí Phèo”.
Bài viết của cô nữ sinh chưa trải nghiệm, vô tình chạm đến nỗi đau sâu sắc của cả xã hội.
Đó là mới đây, các báo liên tục đưa tin người lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng gặp gỡ các cử tri Hà Nội sau Kỳ họp Quốc hội khóa XIII.
Chưa bao giờ, những bức xúc của cử tri lại bộc lộ thẳng thắn đến thế. Vì họ chưa hài lòng với kết quả phê bình và tự phê bình theo NQ Trung ương 4. Bởi phát động thì rầm rộ mà…. Thậm chí, nhiều vị ra trước QH chỉ “nhận trách nhiệm” là xong.
Nhiều cử tri còn đề nghị vạch rõ đích danh chân tướng “một bộ phận không nhỏ cán bộ suy thoái”.
Ông Trần Viết Hoàn (phường Liễu Giai), nguyên Giám đốc Khu Di tích Phủ Chủ tịch, thế hệ những con người một lòng một dạ đi theo lý tưởng vạch rõ: Đó chính là những kẻ tranh thủ một thời làm quan, cậy quyền, cậy thế để vơ vét, đục khoét tiền của dân, của nước. Lớp người này lấy đồng tiền làm cứu cánh, làm cái đà cho danh vọng, cái lọng để che thân, làm cán cân của công lý, làm cái cần cho lý trí, tiền là hết ý…
Dân không hiểu vì sao cả bộ máy lại không có sự chuyển biến? Thất thoát cả trăm nghìn tỷ đồng mà chỉ cần một lời xin lỗi là xong? Như vậy thì muôn thuở không chống được tham nhũng mà chỉ mở đường cho tham nhũng.
Ông Nguyễn Khắc Thịnh (phường Giảng Võ) e chủ trương này lại tiếp tục “ngâm tôm” kéo dài như rất nhiều Nghị quyết khác của QH, lúc ban hành thì rất rầm rộ nhưng hiệu quả chưa thấy đâu vv…và…vv…
Đó là những phát ngôn của người dân đầy ấn tượng.
Là những nỗi sợ cay đắng.
Nhưng vị lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng cũng có phát ngôn ấn tượng không kém: Rất khó để ai đó tự nhận ra khuyết điểm của mình. Đụng đến lợi ích là va chạm, là phản ứng, nhất là khi lợi ích đã thành nhóm. Ông còn mượn một câu vè của dân gian, thâm thúy: Miếng ăn là miếng tồi tàn/ Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu.
Đụng đến miếng ăn- miếng nhục, dù là miếng tồi tàn, đâu dễ. Có lẽ chưa bao giờ vị cán bộ lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng lại phải thú nhận đau xót về sự băng hoại đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đến như vậy.
Nhưng ông cũng đủ già đời, cái già đời của người chuyên hoạt động ở chính trường, khi cảnh báo:Không nên xem chủ trương bỏ phiếu tín nhiệm vừa được QH thông qua là “cây đũa thần”, đưa ra là giải quyết ngay được nhiều vấn đề. Bởi trong thực tế vẫn còn có nhiều người không chịu thừa nhận khuyết điểm, sai lầm của mình.
Đó là một nỗi sợ khác, sợ nhận… khuyết điểm!
Nhưng xin đừng tưởng đó là nỗi sợ yếu đuối. Đó đích thị là nỗi sợ của sự gan lì, trơ trẽn, vừa bản lĩnh, vừa dày dạn cuộc đời. Nỗi sợ đó có hai mặt: Mặt bên này là sợ, vì sĩ diện cho thanh danh. Nhưng mặt bên kia, là… không hề biết sợ.
Cái sự ”không hề biết sợ” đó được sản sinh ra trên nền tư pháp chưa đủ mạnh. Bởi lợi ích nhóm vốn là thứ lợi ích chằng chịt, xen kẽ, không dễ bóc tách, như vị cán bộ cao cấp nhất từng chia sẻ. Mà nỗi sợ “đụng chạm” cũng là nỗi sợ cố hữu của người Việt, từ lâu. Rút cục, dĩ hòa vi quý.
Bởi nếu biết sợ, ”một bộ phận không nhỏ cán bộ” đã không suy thoái đến mức tham nhũng trầm trọng, tàn phá niềm tin của người dân, đặt miếng ăn lên trên hết!
Vì thế, mới đây, tại cuộc Đối thoại về phòng chống tham nhũng lần thứ 11 vừa tổ  chức, ông  David John Whitehead, Chủ tịch Phòng Thương mại Úc tại Hà Nội (Auscham) cũng cho rằng nếu chỉ có sự kiên nhẫn, bền bỉ, chống tham nhũng khó đạt hiệu quả triệt để.
Không biết những ngọn lửa chống tham nhũng được nhóm lên trong lò, có đủ sức nóng lan tỏa làm ”tan” tảng băng tham nhũng chình ình trên mặt nước không?
Giữa lúc ”văn hóa từ chức”  còn… nhùng nhằng, kiểu anh hai “về”, quan họ chúng em vui mừng, thì mới đây, Huấn luyện viên bóng đá Phan Thanh Hùng, sau thất bại của Đội tuyển VN ở AFF Cup 2012, đã thẳng thắn tuyên bố từ chức. Bóng đá VN có thể có nhiều đường đi… lắt léo, nhưng cái sự từ chức vì chưa tròn trách nhiệm, hoặc do bất lực, lại rất thẳng thắn, đàng hoàng, đáng mặt quân tử!
Đó mới chính là lòng tự trọng, là biết sợ với lương tâm của mình trước xã hội.
Sự thách thức của chữ Sợ?
Nhưng cả xã hội Việt Nam chúng ta những ngày này, cũng dường như đang phải đối mặt với sự thách thức cân não của chữ Sợ? Khi mà vụ việc hộ chiếu “lưỡi bò” còn chưa lắng xuống, gây nên nỗi tổn thương lớn trong lòng mỗi người Việt yêu nước, yêu tự do, độc lập dân tộc, thì mới đây, một vụ việc cố tình gây tổn thương khác của Trung Quốc lại xảy ra.
Đó là sự cố ”gây đứt cáp” tàu Bình Minh 2 tại vùng đặc quyền kinh tế ở Biển Đông, thuộc chủ quyền lãnh hải Việt Nam. Theo VietNamNet, ngày 6/12, 4 giờ 05 phút, rạng sáng 30/11, tàu Bình Minh 2 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) bị các tàu Trung Quốc phá hoại cáp thu nổ địa chấn tại gần vùng biển gần đảo Cồn Cỏ.
Một quan chức của PVN cho biết, hàng mấy chục tàu cá Trung Quốc “bủa vây” tàu Việt Nam, không chỉ xâm phạm vùng biển Việt Nam đánh bắt hải sản, với số lượng rất lớn, tập trung ở khu vực từ Cồn Cỏ đến Nam Tri Tôn, có ngày lên tới hơn 100 lượt chiếc. Lần này là thủ đoạn mới, vừa đánh bắt hải sản trái phép, vừa cản trở, xâm hại tài sản của PVN ngay trong vùng biển Việt Nam.
Sự ngang ngược, cố tình xúc phạm, và xâm phạm chủ quyền này xảy ra giữa lúc đoàn đại biểu nhà nước TQ vừa có chuyến đi thăm VN, do một quan chức cao cấp dẫn đầu.
Thật lạ cho cách ứng xử  vừa vi phạm luật pháp quốc tế, vừa vi phạm đạo lý của con người ở thời đại văn minh: Miệng nói lời hữu hảo, hành động xâm phạm chủ quyền nước chủ nhà. Tìm trong từ điển, thật khó có một khái niệm nào, nói về “tình bạn” lại trái ngược đến thế: Lời nói hay và việc làm dở. Lời nói đẹp và việc làm xấu.
Ngay tờ New York Times của Mỹ, ngày 5/12 mới đây cũng phải dẫn lời Giáo sư ĐH Bắc Kinh Zhu Feng: Hành động gây đứt cáp tàu Bình Minh 2 là “rất phản cảm”.
Có dân tộc nào mà lịch sử lập nước, giữ nước lại luôn phải đối đầu với ”lòng tham” như dân tộc Việt Nam? Tham nhũng và…tham Biển Đông.
Tham nhũng chưa có phương cách diệt được, bởi lợi ích nhóm có nhiều chiếc vòi bạch tuộc. Mới đây, Tổ chức Minh bạch Quốc tế vừa công bố về nạn tham nhũng, Việt Nam đứng thứ 123 trong số 176 quốc gia và vùng lãnh thổ, tụt 11 bậc so với năm ngoái.
Thì nay, đất nước lại phải tiếp tục đối mặt với lòng tham “cường quốc đại dương” của Trung Quốc. Với những chiếc vòi bạch tuộc còn thâm hiểm hơn, bất ngờ hơn và  ghê gớm hơn, đe dọa an ninh quốc gia, chủ quyền độc lập dân tộc, đe dọa cả các nước trong khu vực có lợi ích từ Biển Đông.
Đó là Chiến tranh tâm lý, chiến tranh truyền thông và chiến tranh kinh tế. Điều đó, đòi hỏi dân tộc Việt không bao giờ được cả tin, không bao giờ được ngây thơ vào “lòng tốt” đầu môi chót lưỡi. Và phải có nhiều phương án đối phó khôn ngoan, tỉnh táo, trong một thế giới nhiều bất an, bất ổn, phải giao hảo với “bạn láng giềng” nhiều mẹo lắm mưu, mà mưu nào cũng hiểm.
Để có thể chung sống trong thế giới đó, bảo vệ được độc lập, chủ quyền, mà không bao giờ đánh mất mình, như câu kết của bài văn về nỗi sợ.
Nhưng dân tộc Việt chúng ta có S không?
Câu trả lời mới đây của Thứ trưởng Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Không thể chấp nhận các hành động của Trung Quốc xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam, tính từ bờ biển, theo quy định của Công ước Liên Hợp Quốc.
Trước đó, Việt Nam không đóng dấu vào hộ chiếu của du khách, mà cấp thị thực rời, không rơi vào cái bẫy thừa nhận yêu sách đường lưỡi bò. Cũng tức là không công nhận bản đồ chín đoạn.
Sâu xa hơn, câu trả lời của dân tộc Việt còn nằm ở lịch sử hàng nghìn năm bị Bắc thuộc, vậy mà đất nước Việt Nam vẫn mãi thuộc về người Việt Nam. Nằm ở lòng yêu nước Việt muôn đời mạnh mẽ như những con sóng bạc đầu. Nhất là những ngày này, hàng trăm, hàng nghìn bài viết trên các trang mạng, mạnh mẽ và quyết liệt một tinh thần giữ nước, bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Câu trả lời của dân tộc Việt nằm ở ý chí bảo vệ độc lập tự do dân tộc mãi sáng lòa và sắc nhọn. Ở bản sắc văn hóa Việt chưa bao giờ bị đồng hóa. Ở tiếng nói Việt kiêu hãnh và ở đức tin mãnh liệt từ trong quá khứ, cái Thiện vẫn sẽ chiến thắng cái Ác.
Xã hội sẽ  ra sao nếu như ai ai cũng không biết sợ pháp luật? Xin mượn câu hỏi của em nữ sinh, tác giả bài văn nghị luận về nỗi sợ, để làm cái kết của bài này.
Chỉ xin sửa lại một chút: Xã  hội sẽ ra sao, thế giới này sẽ ra sao, nếu như có những kẻ tự cho mình cái ”đặc quyền” không hề coi pháp luật xã hội, pháp luật quốc tế là ”cái đinh gì”?
————–
Tham khảo:
Kỳ Duyên
Theo Tuần Việt Nam

Thứ Sáu, ngày 07 tháng 12 năm 2012

Lối thoát duy nhất: phải kháng cự


“Chính sách chung nhất quán mà họ áp đặt một cách đồng bộ, bất chấp những vòng vo và những mâu thuẫn nội tại thứ yếu của chúng, là một chính sách từ bỏ chủ quyền quốc gia, cúi đầu trước xâm lược của Trung Quốc và đàn áp sự kháng cự của nhân dân.”
“Cái đám ca sĩ giọng nam cao người Việt hót vang tình hữu nghị bất diệt giữa hai đảng ‘cộng sản’, những ’4 tốt’ với lại ’16 chữ vàng’, … tên tuổi của bọn chúng, của gia đình chúng sẽ mãi mãi được khắc ghi vào những trang đen tối nhất của lịch sử Viêt Nam.”
Lại một công hàm ngoại giao, lại những tiết lộ muộn mằn của các nhà chức trách cấp cao thú nhận với công dân về những sự kiện liên quan đến toàn dân và sự sống còn của quốc gia, khi sự đã rồi? Những thất bại liên tiếp lặp lại của một chính sách ngoan cố, qua nhiều biểu hiện, đã chứng tỏ là phản quốc! Mọi sự cho thấy cứ như Bắc Kinh trong chính sách của họ, chuyển từ món gặm nhấm sang lối xe lăn nghiền nát, đã  có tay trong của họ trong ruột Việt Nam, ở cấp cao nhất của ĐCSVN, đặng có thể, như bọn mật thám trong một cuộc thẩm vấn, chơi trò hết mềm lại rắn, giả bộ bất bình để càng dễ nhét liều thuốc đắng vào họng nạn nhân và kiềm chế những người phẫn nộ.Tôi vừa đọc được trên một trang web ý kiến của độc giả, thoạt trông có vẻ chẳng có gì quan trọng, nhưng đặt trong ngữ cảnh này không khiến tôi ngạc nhiên. Ý kiến ấy như sau:
3h35′: Độc giả Hoàng Việt Thắng cho biết: “Tôi vừa điện thoại và nghe người bà con ở Bình Sơn, Quảng Ngãi, nói ngư dân ra khơi được biên phòng và chính quyền địa phương ‘căn dặn’ là cần để ý, nếu thấy tàu Trung Quốc (không nói rõ là tàu dân hay tàu chính phủ) thì cố gắng ‘tránh voi chẳng xấu mặt nào’. Nghe xong, tôi có cảm giác ngư dân ta bị chính các cơ quan chức năng của Việt Nam coi như những tên ăn trộm khi họ đánh bắt trên lãnh hải của ta, còn kẻ ăn cướp đã được chính quyền trao cho vị thế người chủ”. *
Quả đúng là như vậy đấy, cảm nhận chung được chia sẻ rộng rãi trong chiều sâu nhất của nhân dân Việt Nam!
Mặc xác các cuộc đấu đá nội bộ vì quyền lực của các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam. Ta đã quá biết trái núi đẻ ra một con chuột nhắt, như cách nói của một người bạn. Điều khủng khiếp là không một người lãnh đạo nào của Đảng Cộng sản ViệtNam, tuyệt đối không một người nào, trong giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng của cuộc leo thang ngày càng ráo riết của Trung Quốc, đã lên tiếng một cách rõ ràng chống hành động đó. Và nhất là không một người nào chủ trương những biện pháp cụ thể đế ngăn chặn, để “quốc tế hóa” hành động đó, kiên quyết đưa nó lên diễn đàn quốc tế. Hoàn toàn ngược lại!  Vào lúc Bắc Kinh tung ra hộ chiếu “đường lưỡi bò”ngạo nghễ và sĩ nhục, vào lúc các nhà cầm quyền Hải Nam thông báo từ đầu tháng giêng 2013 sẽ tiến hành đơn phương kiểm soát tất cả tàu thuyền “nước ngoài” “xâm nhập” khu vực “đường lưỡi bò”, đương nhiên trước hết là nhằm vào Việt Nam, vào lúc lại xảy ra vụ tấn công mới của các tàu giả danh đánh cá đối với tàu Bình Minh 02… thì những người tự giành riêng cho mình quyền bảo vệ đất nước làm gì?
Họ tiếp các đoàn đại biểu cấp cao Trung Quốc và chúc tụng nhau. Không còn là ngoại giao. Chỉ là những pha của cùng một một trò hề bi thảm ấy! Những khúc đoạn ác mộng đối với mọi công dân sáng suốt yêu nước mình.
Bộ trưởng Quốc phòng tiếp đoàn đại biểu cấp cao Trung Quốc và ca ngợi sự hợp tác mẫu mực giữa Bắc Kinh và Hà Nội: «Bộ trưởng khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, đoàn kết truyền thống, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc theo phương châm 16 chữ và tinh thần bốn tốt… Bộ trưởng khẳng định chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam là Việt Nam… không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác». Cứ như là ta đang nằm mơ: Trung Quốc chẳng phải là một nước ngoài ư? Chẳng phải nó đang tự phong cho mình quyền thiết lập các căn cứ quân sự tại Hoàng Sa và Trường Sa, thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam? Những lời nói của ông Bộ trưởng Quốc phòng là nói về phòng thủ QUỐC GIA của Việt Nam hay của Trung Quốc? Trò hề bi thảm!
Tổng bí thư ĐCSVN tiếp đoàn đại biểu cấp cao của Đảng Trung Quốc và ca ngợi sự hợp tác toàn diện và mẫu mực của hai đảng anh em, là đảm bảo cho tình hữu nghị và chủ nghĩa xã hội. «Về quan hệ Việt-Trung, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh rằng quan hệ hai Đảng, hai nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai nước dày công vun đắp, nay đã trở thành quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện… Hai bên cũng đã trao đổi ý kiến về những biện pháp tăng cường quan hệ song phương giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam-Trung Quốc trong thời gian tới». Rõ ràng trao đổi này là có lợi… nhưng … lại một lần nữa, chỉ lợi cho đồng chí Tàu. Trò hề bi thảm!
Thủ tướng tiếp Bộ trưởng công an Bắc Kinh: «Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao sự phối hợp, hợp tác chặt chẽ giữa Bộ Công an hai nước trong thời gian qua, nhất là phối hợp trong phòng chống tội phạm ở khu vực biên giới Việt Nam-Trung Quốc». Ngài nói “biên giới” ư? Biên giới nào vậy? Lãnh thổ toàn vẹn của không gian biển chăng? Không biết. Vùng đặc quyền kinh tế chăng? Không biết.  Bộ trưởng công an của một chế độ ăn cắp, bất hợp pháp, bàn tay còn nóng hổi trong túi người ta, đã được đón tiếp như là đối tác cứu rỗi bởi người đại diện của đất nước bị ăn cắp: lại thêm một trò của ngài Thủ tướng dường như đã quên bẵng tuyên bố trang trọng và vang dội của chính ông ta trước Quốc hội chưa đầy một năm trước… Trò hề bi thảm!  Dù sao đi nữa các sự kiện đầy tính ác mộng được báo chí chính thống trưng lên hàng đầu đó chẳng hề kích thích được chút hành động kháng cự nào! Mọi sự đều tốt đẹp mà, hỡi các công dân yêu quý! Chúng tôi toan liệu tất. Đừng lo.
Mọi sự diễn ra cứ như là chẳng phải trông cậy vào những người lãnh đạo ấy để bảo vệ đất nước. Chính sách chung nhất quán mà họ áp đặt một cách đồng bộ, bất chấp những vòng vo và những mâu thuẫn nội tại thứ yếu của chúng, là một chính sách từ bỏ chủ quyền quốc gia, cúi đầu trước xâm lược của Trung Quốc và đàn áp sự kháng cự của nhân dân. Nó gây thảm họa cho hiện tại và tương lai của Việt Nam vốn chủ yếu sẽ được quyết định trên biển.
Chẳng cần phải chờ đợi gì thêm nữa: Bắc Kinh sẽ tiếp tục, sẽ tăng tốc. Đấy là điều đã được báo. Là điều chắc chắn! Bắc Kinh sẽ gây đổ máu, máu Việt Nam: đấy là điều đã được ghi đậm ngay trong bản chất chính sách của họ. Và cái đám ca sĩ giọng nam cao người Việt hót vang tình hữu nghị bất diệt giữa hai đảng “cộng sản”, những “4 tốt” với lại “16 chữ vàng”, những ông vua về thái độ “mũ ni che tai” và những nhà vô địch về im lặng đồng lõa sẽ đừng hòng mà còn chùi sạch tay: tên tuổi của bọn chúng, của gia đình chúng sẽ mãi mãi được khắc ghi vào những trang đen tối nhất của lịch sử Viêt Nam. Về thời gian rất gần với những trang vinh quang mà họ đã từng có thể góp tay viết nên, còn về phần mình nhân dân Việt Nam  không bao giờ quên.  Hơn bao giờ hết đối với mỗi người Việt Nam xứng đáng mang danh xưng đó, danh dự lúc này là nói không với cái chính sách tự vẫn kia và nói có với các kiến nghị, các cuộc biểu tình, các cuộc xuống đường, bất chấp đàn áp. Ở Hà Nội, ở Sài Gòn, ở Huế, khắp từ Bắc đến Nam đất nước, khắp mọi nơi ở Việt Nam.  Hãy hành động thật đông đảo, thật tự nguyện kỷ luật và kiên định, không để cho bọn khiêu khích đủ loại gây sự, để chứng tỏ với Bắc Kinh và với những người bạn của Việt Nam ở châu Á, ở Trung Quốc, ở Nhật Bản, ở Philippines, ở Ấn Độ, và trên toàn thế giới rằng dân tộc Việt Nam không cúi đầu, không chấp nhận điều không thể chấp nhận, không muốn, mãi mãi không muốn một nền hòa bình Trung Hoa. Như Chủ tịch Trương Tấn Sang đã nói về đấu tranh chống tham nhũng, có thể bỏ tù vài ba người nhưng không thể bỏ tù hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu công dân hòa bình!
Từ nay không có gì  có thể cứu được nước Việt Nam và nhân dân của nó ngoài cuộc kháng cự đối mặt với mối hiểm nguy ngày càng tăng, tức thì mất biển, mất đảo, mất nước. Phải tiến hành cuộc kháng cự ấy ngay bây giờ, và liên tục, nhất thiết không thể tránh, cùng với những người lãnh đạo hay không có họ, điều ấy tùy thuộc ở họ. Đây là vấn đề sống còn.
André Menras Hồ Cương Quyết
Nguyên Ngọc dịch

Vì sao tôi viết?

Cuộc chiến tranh kết thúc vào ngày 30-4-1975 mang lại chính quyền cho một bên. Tôi bắt đầu thu thập tư liệu cho cuốn sách này từ cuối thập niên 1980 và đã dành ra ba năm bốn tháng để hoàn thành bản thảo (8-2009 đến 12-2012). Trong thời gian đó, có rất nhiều ý tưởng đặt tên cho cuốn sách. Nhưng, chỉ có một ý mà từ đầu tới cuối cứ ám ảnh tôi, đó là những gì mà nhà thơ Nguyễn Duy tóm lược rất tài tình trong hai câu thơ của ông: “Suy cho cùng trong mỗi cuộc chiến tranh/ Bên nào thắng thì nhân dân đều bại”. Tựa đề bộ sách ra đời từ đó.
Không ai có thể đi đến tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ, nhất là một quá khứ mà chúng ta can dự và có phần cộng đồng trách nhiệm.
Cuốn sách này bắt đầu bằng những câu chuyện xảy ra trong ngày 30-4-1975. Ngày mà tôi, một cậu bé mười ba, trước giờ học chiều, đang vật nhau ven đồi thì nghe loa phóng thanh truyền tin “Sài Gòn giải phóng”. Thay vì tiếp tục ăn thua, chúng tôi buông nhau ra.
Miền Nam, theo như những bài học của chúng tôi, sẽ chấm dứt “20 năm rên xiết lầm than”. Trong cái thời khắc lịch sử ấy, trong đầu tôi, một sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xuất hiện ý nghĩ: Phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối.
Nhưng hình ảnh miền Nam đến với tôi trước cả khi tôi có cơ hội rời làng quê nghèo đói của mình. Trên quốc lộ Một bắt đầu xuất hiện những chiếc xe khách hiệu Phi Long thỉnh thoảng tấp lại bên những làng xóm xác xơ. Một anh chàng tóc ngang vai, quần loe, nhảy xuống đỡ khách rồi đu ngoài cánh cửa gần như chỉ trong một giây trước khi chiếc xe rú ga vọt đi. Hàng chục năm sau, tôi vẫn nhớ hai chữ “chạy suốt” bay bướm, sặc sỡ sơn hai bên thành xe. Cho tới lúc ấy thứ tiếng Việt khổ lớn mà chúng tôi nhìn thấy chỉ là những chữ in hoa cứng rắn viết trên những băng khẩu hiệu kêu gọi xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh Mỹ.
Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: Mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe; cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra; con búp bê nhựa – biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe – buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn.
Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh… được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giới văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dày[1], Thép Đã Tôi Thế Đấy[2]… Những chiếc máy Akai, radio cassettes, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.
Tôi vẫn ở lại miền Bắc, chứng kiến thanh niên quê tôi đắp đập, đào kênh trong những năm “cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Chứng kiến khát vọng “thay trời, đổi đất sắp đặt lại giang san” của những người vừa chiến thắng trong cuộc chiến ở miền Nam… Chứng kiến cũng những con kênh đó không những vô dụng với chủ nghĩa xã hội mà còn gây úng lụt quê tôi mỗi mùa mưa tới.
Năm 1983, tôi có một năm huấn luyện ở Sài Gòn trước khi được đưa tới Campuchia làm chuyên gia quân sự. Trong một năm ấy, hai cô em gái của Trần Ngọc Phong[3], một người bạn học chung ở trường sỹ quan, hàng tuần mang tới cho tôi bốn, năm cuốn sách. Tôi bắt đầu biết đến rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc. Cho dù, đã kiệt quệ sau 8 năm “giải phóng”, Sài Gòn với tôi vẫn là một “nền văn minh”. Những năm ấy, góc phố nào cũng có mấy bác xích lô, vừa mỏi mòn đợi khách vừa kín đáo đọc sách. Nhiều người trong số họ mới ở trong các trại cải tạo trở về. Tôi bắt đầu tìm hiểu Sài Gòn từ câu chuyện của những bác xích lô quen như vậy…
Mùa Hè năm 1997, một nhóm phóng viên vì nhiều lý do phải rời khỏi tờ báo Tuổi Trẻ như Đoàn Khắc Xuyên, Đặng Tâm Chánh, Đỗ Trung Quân, Huỳnh Thanh Diệu, Nguyễn Tuấn Khanh, Huy Đức… Chúng tôi thường xuyên gặp gỡ, chia sẻ và trao đổi với các đồng nghiệp như Thúy Nga, Minh Hiền, Thế Thanh, Cam Ly, Phan Xuân Loan… Thế Thanh lúc ấy cũng vừa bị buộc thôi chức Tổng biên tập báo Phụ Nữ Thành Phố, và cũng như Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ Kim Hạnh trước đó, chị không được tiếp tục nghề báo mà mình yêu thích.
Chúng tôi nói rất nhiều về thế sự, về những gì xảy ra trên thế giới và ở đất nước mình. Một hôm ở nhà Đỗ Trung Quân, nhà báo Tuấn Khanh, người vừa gặp rắc rối sau một bài báo khen ngợi ca sỹ bị coi là chống cộng Khánh Ly, buột miệng nói với tôi: “Anh phải viết lại những gì diễn ra ở đất nước này, đấy là lịch sử”. Gần như không mấy ai để ý đến câu nói đó của Tuấn Khanh, nhưng tôi thì cứ bị nó đeo bám. Tôi tiếp tục công việc thu thập tư liệu với một quyết tâm cụ thể hơn: Tái hiện giai đoạn lịch sử đầy bi kịch của Việt Nam sau năm 1975 trong một cuốn sách.
Rất nhiều thế hệ, kể cả con em của những người đã từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, sau ngày 30-4-1975, cũng trở thành sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhiều người không biết một cách chắc chắn điều gì đã thực sự xảy ra thậm chí với ngay chính cha mẹ mình.
Không chỉ thường dân, cho đến đầu thập niên 1980, nhiều chính sách làm thay đổi số phận của hàng triệu sinh linh như “Phương án II”[4], như “Z 30”[5] cũng chỉ được quyết định bởi một vài cá nhân, nhiều người là ủy viên Bộ chính trị cũng không được biết. Nội bộ người Việt Nam đã có nhiều đụng độ, tranh cãi không cần thiết vì chỉ có thể tiếp cận với lịch sử qua những thông tin được cung cấp bởi nhà trường và bộ máy tuyên truyền. Không chỉ các thường dân, tôi tin, những người cộng sản có lương tri cũng sẽ đón nhận sự thật một cách có trách nhiệm.
Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975, ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc. Hãy để cho các nhà kinh tế chính trị học và các nhà xã hội học nghiên cứu kỹ hơn hiện tượng lịch sử này. Cuốn sách của tôi đơn giản chỉ bắt đầu kể những gì đã xảy ra ở Sài Gòn, ở Việt Nam sau ngày 30-4: cải tạo; đánh tư sản; đổi tiền… Cuốn sách của tôi cũng nói về hai cuộc chiến tranh cuối thập niên 1970, một với Khmer Đỏ và một với người Trung Quốc. Cuốn sách của tôi cũng nói về làn sóng vượt biên sau năm 1975, nói về sự “đồng khởi” của nông dân, của các tiểu chủ, tiểu thương để dành lấy cái quyền được tự lo lấy cơm ăn áo mặc.
Tư liệu cho cuốn sách được thu thập trong hơn hai mươi năm, và trong vòng ba năm (từ tháng 8-2009 đến tháng 8-2012) tôi đã dành toàn bộ thời gian của mình để viết. Bản thảo cuốn sách đã được gửi tới một số thân hữu và một số nhà sử học, trong đó có 5 nhà sử học uy tính của Mỹ chuyên nghiên cứu về Việt Nam. Sau khi sửa chữa, bổ sung, tháng 11-2012, bản thảo hoàn chỉnh đã được gửi đến một số nhà xuất bản trong nước, tuy nhiên, nó đã bị từ chối. Cho dù một số nhà xuất bản tiếng Việt có uy tín tại Mỹ và Pháp đồng ý in, nhưng để lãnh trách nhiệm cá nhân và giữ cho cuốn sách một vị trí khách quan, tác giả quyết định tự mình đưa cuốn sách này đến tay bạn đọc.
Đây là công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật. Tuy tác giả có những cơ hội quý giá để tiếp cận với các nhân chứng và những thông tin quan trọng, cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, chắc chắn sẽ còn được bổ sung khi một số tài liệu được Hà Nội công bố. Hy vọng bạn đọc sẽ giúp tôi hoàn thiện nó trong những lần xuất bản sau.
Lịch sử cần được biết như nó đã từng xảy ra và sự thật là một con đường đòi hỏi chúng ta không bao giờ bỏ cuộc.
Sài Gòn – Boston (2009-2012)
Osin Huy Đức
Theo FB Huy Đức
[1] Tiểu thuyết cách mạng của Trung Quốc.
[2] Tiểu thuyết cách mạng của Liên Xô.
[3] Đạo diễn điện ảnh.
[4] Tổ chức cho người Hoa nộp vàng để được vượt biên bán chính thức (1978-1979).
[5] Cải tạo những người giàu lên bất thường (1983).

Thứ Năm, ngày 06 tháng 12 năm 2012

Kê ghế tựa nghe EVN kêu lỗ

Không thấy có sự thắc mắc vì sao người tiêu dùng phải gánh cả những khoản lỗ do “diễn biến thủy văn không thuận lợi”.
Chẳng cần phải là chuyên gia kinh tế xuất sắc hay nhà báo lão luyện cũng có thể đoán đúng 3 điều đã trở thành “tiền lệ”, trước mỗi cuộc họp báo của Bộ Công thương liên quan đến điện. Thứ nhất: EVN đang lỗ. Thứ hai: Lỗ do giá điện thấp “so với khu vực và thế giới”. Thứ ba: EVN đòi tăng giá.
Thực ra, EVN có lãi trong năm 2012. Tuy lãi nhưng phải bù lỗ hai năm trước. Tuy (đã) tăng giá điện, nhưng chỉ đù bù những khoản vay đến hạn phải trả, thậm chí chưa thể hạch toán vào phần lỗ tỷ giá trên 26,6 ngàn tỷ. Nên tóm lại, vẫn lỗ. Và số lỗ là 5.297 tỷ đồng.
Số lỗ năm nay, về hình thức, đã được kiểm tra bởi một tổ công tác có sự tham gia của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Hội Bảo vệ người tiêu dùng. Phó Chủ tịch Hội tiêu chuẩn và Bảo vệ Người tiêu dùng, ông Đỗ Gia Phan thậm chí cũng có phát biểu, rằng: Giá thành điện hiện nay bao gồm cả chi phí thuộc về chính sách của Nhà nước như cải tạo lưới điện nông thôn, bù giá cho vùng sâu vùng xa…là chưa hợp lý.
Tuy nhiên, có một chi tiết khá độc được tờ Thời báo kinh tế Việt Nam nhắc đến. Đó là khi trả lời câu hỏi về cơ cấu cũng như giá thành mỗi nguồn điện của EVN, Cục trưởng Cục Điều tiết điện lực Đặng Huy Cường nói gọn lỏn: Số liệu này mang tính bí mật kinh doanh của doanh nghiệp, nên không thể công bố”, và “Tổ công tác chỉ kiểm tra tính hợp lý của các hợp đồng này mà thôi”.
Không thấy có nhà báo nào hỏi về chuyện thưởng tết năm nay của ngành điện khi từng có tiền lệ EVN xin thưởng hơn 1000 tỷ đồng trong một năm tài khóa lỗ chỏng gọng. Cũng không thấy có sự thắc mắc vì sao người tiêu dùng phải gánh cả những khoản lỗ do “diễn biến thủy văn không thuận lợi”.
Nhưng nói gì thì nói, với số lỗ hơn 5.000 tỷ, còn có thể dự báo trước là giá điện sẽ tăng ngay đầu năm 2013, và tất nhiên, tăng không đến mức như đề xuất, để một vị quan chức nào đó có thể khẳng định rằng: Như thế “đã là chia sẻ với DN rồi”.
Cũng trong ngày 3.12, tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam 2012, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh, trước những lời than vãn tập thể của cộng đồng DN đã thiết tha “Chính phủ luôn quan tâm đến doanh nghiệp, coi khó khăn của doanh nghiệp, nhà đầu tư là của mình”. Trong thông điệp gửi đến cộng đồng DN và các nhà đầu tư, ông cam kết: “Sẽ hạn chế tăng chi phí cho doanh nghiệp, cả thuế và phí”.
Nhưng lời cam kết được đưa ra hơi trễ, bởi 48h trước đó, thông tư về phí sử dụng đường bộ theo đầu phương tiện đã được ban hành trong tiếng kêu la thống thiết của các DN vận tải.
Bởi cũng trong ngày 3.12, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Thị Minh khẳng định: Mức thu “đã chia sẻ với doanh nghiệp, phù hợp với tình hình hiện nay”.
Các DN, có lẽ sẽ phải ngồi thật vững khi nghe câu này: “Liên bộ Công Thương- Tài chính đang rà soát để trình Chính phủ lộ trình điều chỉnh giá điện trong tháng 12”.
Hình như với mỗi 56 đồng lỗ/kWh. Chữ “điều chỉnh” có nghĩa là tăng thì phải.
Và đây không phải chỉ là lời kêu than của DN, bởi dường như chi phí DN tăng khi giá điện tăng đều được tính vào giá thành sản phẩm để bổ đầu người tiêu dùng thì phải.
Đào Tuấn

Không cắt cũng đứt


– Ông ơi, cuối cùng thì cái dây cáp quang của tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 2 thuộc tập đoàn Dầu khí vì sao mà đứt?
– Ông này hỏi lạ. Báo mạng, báo giấy đưa đầy rồi còn hỏi gì nữa.
– Ông trả lời mới lạ. Chính vì báo mạng của khổ chủ vừa đưa “cắt cáp”, lâu sau đã sửa thành “đứt cáp” nên tôi mới thắc mắc.
– Vậy thì xem báo giấy.
– Cũng thế: đây nè, trên tờ TT ngay trong một bài thì câu trên mới có chữ “đứt cáp” vế dưới đã thành “cắt cáp”, còn box thì điểm lại vụ “cắt cáp lần đầu” – có nghĩa lần này là lần “cắt cáp thứ hai” chứ gì nữa!
– Ờ, đúng là tiền hậu bất nhất. Nhưng cuối cùng vẫn là sợi cáp bị làm cho đứt, còn vì sao mà đứt có gì quan trọng?
– Ông nói thế nghe sao được. Đã gọi là “cắt” tức hành động cố tình, còn “đứt” thì có thể do vô tình.
– Nhưng “cắt” hay không thì trước sau gì nó cũng “đứt”, băn khoăn làm chi.
– Mình phải biết chính xác sự việc để xác định tình bạn với ông láng giềng bự con này chứ.
– Thế tôi hỏi ông nhé: ở xứ họ, trong năm đức làm người là nhân – lễ – nghĩa – trí – tín thì chữ nào xếp cuối cùng?
– Chữ tín!
– Câu nữa: bạn bè mà một bên cố giữ hoà hiếu, còn bên kia cứ lăm le xông vào nhà người ta gây rối thì gọi là tình bạn gì?
– Là tình bạn… đơn phương!
– Thấy chưa, mà tình đã đơn phương thì không “cắt” cũng “đứt”!
Người già chuyện
Theo SGTT

Thứ Tư, ngày 05 tháng 12 năm 2012

Cái gọi là “hợp lý” trong nghịch lý


Không đâu có số người ăn lương nhà nước đông như Việt Nam. Tính sơ sơ gần hai chục triệu!

Chỉ riêng số người ăn thằng vào ngân sách đã hơn 6 triệu, gồm hơn 2 triệu viên chức, 1,6 triệu người có công, 1,4 triệu người nghỉ hưu, 350.000 cán bộ chuyên trách, 370.000 cán bộ đảng, xem xem chừng ấy cán bộ thanh niên, phụ nữ, mặt trận, nông dân, công đoàn. Chỉ riêng các Đảng bộ khối các cơ quan Trung ương đã có tới 6,5 vạn (650.000) đảng viên đương chức. Bên cạnh đó là lực lượng quân đội chính quy, bán chính quy, xếp thứ hai thế giới, chỉ sau Iran. Và lực lượng công an nhân dân cũng bề thế không thua kém quân đội.
Ngoài đội ngũ cán bộ chính quy có cấp chức, phẩm hàm ngạch bậc công chức theo chức danh, còn một lưc lượng bán chuyên nghiệp rất đông đúc, được sử dụng với danh nghĩa tổ chức quần chúng, như cộng tác viên thanh tra xây dựng, cộng tác viên cảnh sát giao thông, cộng tác viên bảo vệ môi trường, rồi lực lượng an ninh khu phố, dân phòng, quân tự vệ, tất cả đều được hưởng lương theo kiểu bán chuyên chia định suất.

Ước tính tổng số cán bộ nhân viên chính quy và bán chính quy ở nước ta hiện nay khoảng 20 triệu người chiếm 22% dân số, nghĩa là cứ bảy người dân bất kể già trẻ lớn bé phải cõng hai cán bộ. Tỷ lệ đó ở Singapore là 5,2 %, Thái Lan 6,3% và Nhật 5,1%. Sở dĩ Nhật, Singapore, Thái Lan, cũng như các nước tư bản khác, tỷ lệ người ăn lương nhà nước thấp như vậy, vì họ không nuôi bất kỳ một tổ chức đảng đoàn nào, dù là đảng cầm quyền, ngoài quân đội chính quy không có phường đội, quận đội, công an phường, cảnh sát khu vực v.v… Đặc biệt họ không có chính quyền phường,xã. Cấp quận, huyện là cơ quan hành chính thấp nhất giải quyết tất cả mọi vấn đề kinh tế, xã hội, luật pháp với số nhân viên tối thiểu, được tuyển chọn kỹ lưỡng trên cơ sở năng lực giáo dục và kinh nghiệm liên quan, làm việc có hiệu quả, để vừa bớt tầng nấc gây phiền hà cho dân, vừa đỡ tốn tiền của dân. Ở ta dưới phường, xã còn thôn (miền Bắc) ấp (miền Nam) khu phố, tổ dân phố (thành thị), cấp nào cũng đầy đủ lệ bộ đảng, chính, công, thanh, có xã tồng số nhân sự lên tới 500 người. Người ăn lương đông đúc như vậy, nhưng người làm việc ít, người làm được việc càng ít, người hết lòng với công việc rất hiếm. Ông Lê Minh Hoan, chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp đã có lần tiết lộ thực trạng là, có 30% công chức làm việc tốt, 30% làm việc cầm chừng. còn 30% chỉ lĩnh lương. Thực tế chua chát hơn, bởi họ đâu chỉ ngồi chơi xơi nước lĩnh lương như ông Hoan nói, mà còn bàn mưu nghĩ mẹo hành dân, xách nhiễu dân, đục khoét dân.

Nhà báo Thái Duy có lần đã viết trên báo Đại Đoàn Kết: “Không ở đâu như ở ta, dân phải è lưng đóng thuế nuôi ba bộ máy đảng, chính quyền, đoàn thể”. Ba bộ máy ấy chồng chéo lên nhau, phát sinh những mâu thuẫn nội tại, phản quy luật và logic cuộc sống.

Hình như đảng nhà nước cũng nhận ra sự bất tiện ấy nên đã đề ra cuộc cải cách hành chính, tinh giản biên chế, tổ chức xã hội. Nhưng sau mười năm thực hiện cuộc cải cách quy mô ấy, với sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật, nào là vi tính hóa, nào là chính phủ điện tử , với dự án 112 tốn hàng ngàn tỷ đồng, rốt cuộc chẳng có tiến triển gì. Bộ máy công quyền không hẹp lai, hiệu quả hơn, mà phình to và phức tạp hơn. Ngày trước người dân phải đi nhiều cửa, giờ ít cửa hơn nhưng nhiều ngõ ngoắt ngoéo hơn! Mấy năm trước đảng đi tiên phong giảm được hai ban kinh tế và nội chính, giờ lại tái lập. Sắp tới sẽ thành lập thêm lực lượng “chống khủng bố chuyên trách” từ trung ương tới địa phương, sẽ thêm sao, thêm vạch, thêm vài ngàn người vô biên chế, và tất nhiên, thêm phương tiện và trụ sở làm việc.

Một thực trạng, là càng đông cán bộ nhân viên, công việc chuyên môn giải quyết càng chậm, càng đẻ ra những phức tạp kiểu “lắm thầy thối ma, nhiều cha con khó lấy chồng”! Tức là tình trạng làm việc gì mà có quá nhiều người tham gia, góp ý kiến thì dễ không thống nhất, sinh rắc rối, hỏng việc. Do vậy, người dân bị hành dữ hơn. Như báo Doanh nhân đã dẫn chứng chỉ trong một doanh nghiệp hàng không: Chưa ở đâu mà tình trạng “lắm thầy thối ma” trong quản trị công ty lại nặng nề như ở Airbus. Thuận buồm xuôi gió thì không sao, song khi cơm không lành canh không ngọt thì không ai chịu trách nhiệm cả. Gần đây các doanh nghiệp tư nhân trong tập đoàn, từ BAE của Anh, DaimlerChrysler của Đức cho đến Lagardère của Pháp đều tìm cách rút chân ra hoặc giảm bớt số cổ phần ở Airbus.

Nét nổi trội dễ nhìn thấy trong mấy năm qua lả sự phô trương hình thức của các cơ quan hành chính cũng như doanh nghiệp nhà nước từ trung ương đến địa phương.

Ở Thái Lan, Singapore, đặc biệt là Nhật Bản, trụ sở làm việc từ bộ trở xuống các cơ quan hành chính đều rất cũ kỹ, khiêm tốn. Nước Mỹ giàu sụ nhưng đến Wasington DC nhìn trụ sở làm việc của các cơ quan nhà nước bên bở sông Potomac giản dị đến không ngờ. Ở nước ta, theo gương Trung Quốc, rất coi trọng “ bộ mặt” công sở, dù bê bối lục đục, dù làm ăn thua lỗ, dù phải ngửa tay xin ngân sách từng đồng, và hơn thế, tỷ lệ dân đói nghèo còn hai con số, nhưng song hành với lạm phát cấp chức, là trò chơi ngông xây trụ sở hoành tráng. Tập đoàn dầu khí định xây tòa nhà Petrovietnam Tower cao nhất Việt Nam, Bộ giao thông vận tải làm dự án xây trụ sở mới 12.000 tỷ đồng là một minh chứng.

Thật khó hiểu khi Việt Nam là một nước ổn định về chính trị, an ninh về xã hội, nhưng đang duy trì một bộ máy nhà nước khổng lổ và còn muốn tăng thêm lực lượng chuyên chính? Phải chăng chúng ta vẫn giữ nguyên tư duy cũ, là mâu thuẫn giai cấp bất biến, không thể điều hòa, nên bất cứ ở đâu, lúc nào cũng tồn tại và phát triển bộ máy cưỡng chế, như Friedrich Engels đề ra trong phạm trù quản lý nhà nước? Thực tế đã được chứng minh, bộ máy càng lớn, cán bộ, công nhân viên càng đông, trụ sở càng hoành, xe pháo càng nhiều, ngân sách càng teo tóp và người dân càng phải oắn lưng đóng thuế và chịu nhũng nhiễu hơn. Thực trang đó gây nên sự bất mãn ngày càng tăng, nếu không sửa đổi thì chính nó là nguy cơ làm cho nhà nước “tiêu vong” sớm hơn theo sự phát triển của thời kỳ quá độ như lý thuyết !

Có người ví quỹ lương hiện nay như một cái bánh , đáng lẽ chỉ giành cho một người, nhưng mang chia ra ba, bốn phần, mỗi phần lại cắt nhỏ cho vài người ăn, nên nát ra mà chả ai no!

Một người bạn tôi hoài niệm mức lương những năm 60 thế kỷ trước. Bấy giờ lương tồi thiểu 27 đồng 3 hào 5 xu, có thể mua được 2 chỉ vàng hoặc gần 200 bát phở ngon. Bây giờ với mức lương tối thiểu, chỉ mua được 12 bát phở thường, còn vàng bạc thì đừng “hồn bướm mơ tiên!”.

Theo thống kê, từ năm 2003 đến nay đã 8 lần điều chình lương, từ 210.000 đồng lên 990.000 đồng, tăng 295,5%,trong khi giá tiêu dùng tăng 142,2% và GDP tăng 85,9%. Sự so sánh khập khễnh này chẳng hòa nhập gì với cuộc sống đời thường, vì từ mớ rau con cá tấm áo manh quần, đến mảnh đất căn nhà ngoài thị trường luôn diễn biến phức tạp khác xa những gì người ta thống kê. Một nhận định khá chính xác là, lương tháng của cán bộ công nhân viên chức chỉ đủ chi dùng nhu cầu tối thiểu về lương thực, thực phẩm trong 15 ngày, còn cái ăn cái uống 15 ngày còn lại, tiền nhà, tiền xăng xe, tiền con học hành, tiền mừng cưới hỏi, tiền phúng điếu ma chay trăm thứ bà dằn phải tự lo!

Nhưng một ngịch lý đang tồn tại, là lương hẩm hưu bạc bẽo thế, làm cán bộ nhân viên nhà nước khốn khổ thế, mà sao người ta cứ chen chân vào các cơ quan nhà nước? Tỷ lệ xét tuyển công chức trung bình một chọi hai mươi và hơn thế nữa, có ngành một chọi ba-bốn chục? Ấy là loại công chức tầm thường, chứ muốn nhảy vào thuế, hải quan, dầu khí, tài nguyên môi trường, quản lý thị trường, thỉ xin lỗi nhé, bằng cấp, chữ nghĩa xếp lại, xỉ tiền ra. Chỗ (ghế) càng ngon giá càng cao, nhiều chỗ không chỉ mua bằng tiền!

Phải nói thẳng người ta chen chân, chạy tiền mua bán “dịch vụ chính trị”, thậm chí khom lưng quỳ gối kiếm một vị trí trong cơ quan nhà nước, không phải vì đồng lương bèo bọt kia, càng không phải vì lý tưởng muốn được làm công bộc cho dân, mà vì những lợi nhuận, siêu lợi nhuận trong từng vị trí đó. Khi đã mất công mất tiền “chạy” rồi thì phải nhanh chóng bằng mọi thủ đoạn, cơ hội lo đạt mục đích moi móc để thu lợi nhuận, vùa bù đắp khoản đã chi ra, vừa làm giàu. Những nghịch lý ở nước ngoài, hợp lý ở nước ta! Cái không thể biến thành có thể!

Với mặt bằng lương thấp nhất thế giới, nhưng không cán bộ nhân viên nhà nước nào ở ta nghèo bằng dân thường, ngược lại, nhiều người giàu sụ, giàu hơn so với cả quan chức Singgapore, Nhật Bản, Mỹ, dù họ có mức lương cao hơn nhiểu lần! Bởi vì cán bộ, công chức nước ta đâu có sống bằng tiền lương, nhiều người coi tiền lương là thứ đồ bỏ, họ làm giàu bằng nhiều cách soay sở trên cái ghế của mình. Người lương thiện làm thêm, chạy mánh, kẻ bất lương lập nhóm, lập phe moi tiền nhà nước, cướp bóc nhân dân. Lê Văn Lương, thẩm phán quận Hoàn Kiếm , Hà Nội, chỉ hợp thức hóa cho người dân 2,7 mét vuông đất công trình phụ mà lấy của người ta 70 triệu đồng, Huỳnh Ngọc Sỹ, nguyên Phó Giám đốc Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ một dự án đường Đông Tây vơ của nhà đầu tư 260.000 USD; Vũ Quốc Hào, Tồng giám đốc Công ty thuê bao Tài chính ALCII, đớp một phát 500 tỷ đồng gây thiệt hại cho dân cho nước 4.600 tỷ đồng. Có bao nhiêu Lê Văn Lương, Huỳnh Ngọc Sỹ, Vũ Quốc Hào,…đã lộ mặt không thể thống kê hết, nhưng chắc chắn khiêm tốn hơn nhiều so với số chưa lộ mặt. Bởi cái nguyên nhân và diễn tiến như ông Lê Văn Lân, Phó Chánh văn phòng Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng: “Tham nhũng như tảng băng trên biển, chỉ nhìn thấy phần nổi, không thấy phần chìm!”.

Nước nhỏ bộ máy nhà nước to, lương thấp vẫn chen chân vào làm công chức, lương bèo cán vẫn giàu, thật phi lý, nhưng lại rất hợp lý để giải bài toán tham nhũng.

Vài chục năm trước thế hệ lãnh đạo kế cận được hình thành từ cơ cấu bắt nguồn từ lý lịch, giờ hiện tượng cơ cấu lãnh đạo bằng đồng tiền đang trở nên phổ biến. Không có một thái độ dứt khoát thì chính sự cơ cấu này đe dọa sự tồn vong của chế độ. Tất nhiên, bất kỳ một thể chế xã hội, một đảng phái nào trên thế giới cũng có thế lực thù địch. Nhưng, với thực trạnh nêu trên là sự ‘tự diễn biến’, chứ không phải ‘thế lực thù địch’ nào cả!
Minh Diện

Nỗi cay đắng của một đồng minh


Những “màn trình diễn sành điệu” liên tiếp của TQ trên biển Đông làm cho VN – một đồng minh “thân thiết” của TQ không thể không cảm thấy cay đắng. Đúng hơn, người dân VN cảm thấy đầy cay đắng.

Lịch sử VN có rất nhiều bài học về đồng minh, vấn đề là người ta có chịu học hay không? Khi quân Bắc VN sắp tràn ngập Saigon, có người rỉ tai ông Dương Văn Minh, hãy để TQ thu xếp mọi chuyện. Song, ông Minh đã từ chối. Ông nói, chúng ta đã hết theo Pháp rồi theo Mỹ, cũng không đưa lại gì cho đất nước. Vậy bây giờ theo TQ phỏng có ích gì? Thật đúng là một lời tiên tri!

Làm một đồng minh trong cuộc chiến ý thức hệ, dù sao vẫn có niềm kiêu hãnh riêng của nó. Anh em nhà Ngô chống Cộng rất mạnh mẽ song họ không để Hoa Kỳ thao túng toàn bộ đất nước. Họ nhất quyết không cho người Mỹ sử dụng cảng Cam Ranh, cũng không đồng ý cho đưa quân vào (miền Nam), chỉ đồng ý cử cố vấn quân sự và viện trợ kinh tế thôi. Người Mỹ rất bực tức và ra tay hành động, thế là nền Đệ nhất Cộng hòa buộc phải cáo chung. Dù sao, cho đến giây phút cuối cùng, về mặt con người, họ vẫn giữ được tư thế. Đại tá Nguyễn Hữu Duệ kể lại, ông xin phép Tổng thống đem xe tăng, thiết giáp lên Bộ Tổng tham mưu để bắt các tướng lãnh và dẹp đảo chính nhưng Tổng thống không cho. Ông Cao Xuân Vỹ thưa: “Nhưng người ta đánh mình thì mình phải đánh lại chứ Tổng thống. Chẳng lẽ để phải chết hay sao”? Ông quát lên: Chết thì đã sao? Xét riêng về thái độ ấy, thật khác xa những người được gọi là “lãnh đạo” đất nước, chỉ cố bám vào cái ghế quyền lực để vinh thân, phì gia, trong khi cả tài năng và đạo đức của họ nếu chấm điểm thì chắc rằng chỉ được “điểm dưới không”. Họ đáng “xấu hổ hơn cả sự xấu hổ”.

Nền Đệ nhị Cộng hòa vẫn không thoát ra khỏi cái bóng của đồng minh lớn Hoa Kỳ – tất nhiên. Nhưng khi chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ thay đổi, VNCH không còn là ưu tiên trong chính sách của họ nữa, họ sẵn sàng bỏ rơi đồng minh. Nỗi cay đắng của một đồng minh không tương xứng càng thêm sâu sắc. Người Mỹ đàm phán bí mật với Bắc VN nhưng không cho đồng minh biết. Rồi họ ép VNCH ký Hiệp định Pari. Thiệu không thể không ký, dù cố sức chống đỡ, dù viện hết lý do này đến lý do khác. Thậm chí, Nixon còn nói với Kissinger về Thiệu: “Không thể để cái đuôi chó vẫy được con chó”. Tất cả đã an bài, người Mỹ nhất quyết ra đi. Một khi người Mỹ đã ra đi thì Nam VN khó mà chống nổi cuộc tấn công của Bắc VN. Bài học rút ra, làm đồng minh với nước lớn thật không hề dễ dàng.

Rồi đến nước VN thống nhất, đồng minh thân thiết của đại gia đình XHCN mà đứng đầu là LX. Nỗi cay đắng của một đồng minh vẫn còn tiếp tục. Nước VN có bốn ngàn năm lịch sử vẫn phải đi xin viện trợ khắp thế giới. Người phụ trách chính về vấn đề này là Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị. “Trời sinh ra anh Nghị. Lại sinh ra cái bị. Anh đi khắp năm châu. Kinh tế vẫn tắc tỵ” (thơ tướng Đinh Đức Thiện). Có cay đắng nào hơn?

Không phải lúc nào các nước cũng sẵn sàng giúp VN. Hòa bình rồi, chúng mày phải tự làm lấy mà ăn chứ, chúng tao cũng chẳng giàu có gì – đám chuyên viên các nước không dấu vẻ khinh bỉ nói với đám chuyên viên VN khi họ tháp tùng  “các Cụ” lãnh đạo. Còn ông Võ Văn Kiệt, từ Saigon ra Hanoi giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch nhà nước, theo thông lệ, liền đi các nước xin viện trợ và ông đã thấy rõ thế nào là sự cay đắng. Về nước, ông quyết tâm thay đổi cách làm. Cả ông Trường Chinh cũng vậy. Sang Moscow, ông không còn có thể “xin xỏ” gì ở Goócbachốp nữa, vì bấy giờ LX tự lo cho họ còn chưa xong, nói gì VN. Ông đành trở về và hạ quyết tâm “đổi mới hay là chết”!?

Bây giờ, chúng ta nói về đồng minh lớn TQ. Nỗi cay đắng đối với đồng minh “thân thiết” này càng chưa thể chấm dứt. Không cần nhìn lại lịch sử, chỉ gần đây thôi, TQ cũng đã gây cho VN biết bao nhiêu là cay đắng. Vẫn là nỗi cay đắng của một đồng minh không tương xứng. Càng cay đắng hơn nữa khi mà TQ hết bày ra trò ngang ngược này đến trò ngang ngược khác mà VN vẫn cứ “an nhiên chịu đựng”? Người dân VN tự hỏi, vì sao và vì cái gì? Và thế giới cũng sẽ đặt câu hỏi tương tự. Dù câu trả lời đã rõ ràng thì nỗi cay đắng của một đồng minh đã và sẽ vẫn tiếp tục…
Lê Mai