Thứ Bảy, ngày 29 tháng 12 năm 2012

10 sự kiện nổi bật năm 2012

1. Cưỡng chế đất đai
Năm 2012 khởi đầu với những phát đạn hoa cải ở Tiên Lãng, Hải Phòng trong vụ cưỡng chế trái luật khu đầm của ông Đoàn Văn Vươn.
Ông Vươn và gia đình bị tố cáo bắn bị thương một số công an và quân nhân trong vụ cưỡng chế hồi đầu tháng Một.
Truyền thông trong nước mạnh mẽ chỉ trích các quan chức Hải Phòng và dẫn lời tướng Lê Đức Anh, cựu Chủ tịch nước, nói:
“Nếu Đoàn Văn Vươn là một người lương thiện được người dân địa phương quý mến, vậy lý do gì khiến anh ta phải có hành vi tiêu cực như vậy? Điều này cần được khẩn trương làm rõ.”
Hôm 28/12, báo chí trong nước nói ông Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý và hai người anh em khác bị đề nghị truy tố tội giết người trong khi vợ của hai ông bị buộc tội chống người thi hành công vụ.
Sau Tiên Lãng, một vụ cưỡng chế với số đông công an hơn, dù không có sự tham gia của quân đội như Tiên Lãng, đã diễn ra tại Văn Giang, Hưng Yên hồi tháng Tư.
Người dân tố cáo chính quyền dùng vũ lực mạnh và hai nhà báo của Đài Tiếng nói Việt Nam cũng đã bị hành hung.
Đây chỉ là hai vụ lớn nhất trong số các vụ cưỡng chế đất đai trong năm qua ở Việt Nam.
2. ‘Đồng chí X’
Trong tháng 10, một sự kiện được theo dõi sát sao là Hội nghị trung ương 6 của Đảng Cộng sản mà kết quả là không ai bị kỷ luật vì để xảy ra các sai phạm kinh tế và tham nhũng tràn lan.
Điều này diễn ra bất chấp chuyện toàn thể Bộ Chính trị và cá nhân một ủy viên, được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gọi là ‘đồng chí X’, bị đưa ra trước Ban Chấp hành Trung ương gồm 175 thành viên chính thức.
Mặc dù truyền thông Việt Nam không nêu tên nhưng các hãng thông tấn nước ngoài đều nói ‘đồng chí X’ chính là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người được tờ The Economist nói tới trong bài’ Chúng ta tha cho chúng mình‘.
Sau hội nghị, luật sư Trần Quốc Thuận, đảng viên 44 năm tuổi đảng và từng 14 năm làm Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nói với BBC Đảng nên triệu tập Đại hội giữa kỳ để xử lý việc kỷ luật ‘Bộ chính trị và một ủy viên’.
Sang tháng 11, đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc gợi ý với ông Nguyễn Tấn Dũng rằng chính phủ nên bắt đầu ” văn hóa từ chức” nhưng vị Thủ tướng nói Đảng còn giao cho ông nhiệm vụ thì ông còn làm mặc dù ông không ‘xin’ Đảng Cộng sản giao việc cho ông.
Bản thân Đảng Cộng sản cũng nhận ra rằng họ cần thay đổi nhưng có vẻ lúng túng trong chuyện thực hiện.
3. Nhóm lợi ích
Tranh chấp phe nhóm và nhóm lợi ích là hai vấn đề ‘nóng’ trong nhiều tháng qua. Tiến sỹ kinh tế Lê Đăng Doanh nhận định hồi tháng Chín:
“Lợi ích nhóm ở Việt Nam có đặc trưng là liên quan đến những người có chức, có quyền, nhất là quyền liên quan đến cán bộ, tài chính, ngân sách, đầu tư, đất đai, hầm mỏ, rừng, biển,…
“Những người này có thể ở cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã phường hay ở cấp sở, phòng, thậm chí cá nhân thanh tra, cảnh sát hay ở doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn, dự án…
“Hiện nay đã hình thành một tầng lớp đặc quyền, đặc lợi, cản trở mọi cải cách cần thiết nhân danh ổn định chính trị – xã hội.”
Một cựu quan chức nói các nhóm lợi ích luôn “gắn với một ông quan chức nào đấy” và nói khó có thể chống tham nhũng nếu chính các quan chức này cũng phụ trách luôn việc chống tham nhũng.
4. Ai làm báo?
Năm 2012 chứng kiến sự phát triển của một số blog chỉ trích chính quyền mà các nhà lãnh đạo Việt Nam gọi là “phản động”.
Trong số các trang này có Quan làm báo và Dân làm báo, hai trang bị Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ thị cấm đọc.
Con gái ông Dũng, bà Nguyễn Thanh Phượng, cũng chỉ trích những ‘ blog phản động‘ trong một cuộc phỏng vấn.
Sự xuất hiện của Quan làm báo được xem là biểu hiện của những ‘căng thẳng cung đình’ bị ‘bật mí’ ra tại Việt Nam.
Cho tới giờ danh tính của các tác giả trên Quan làm báo vẫn còn là điều bí ấn.
Một trong những người bị cáo buộc đứng đằng sau trang web này, cựu đại biểu Quốc hội Đặng Thị Hoàng Yến, nói với BBC rằng bà và em trai, Đặng Thành Tâm, không có liên quan gì tới Quan làm báo.
5. ‘Bầu’ Kiên
Một loạt các cuộc bắt bớ và xét xử liên quan tới sai phạm kinh tế đã diễn ra mà vụ ‘Bầu’ Kiên, tức doanh nhân Nguyễn Đức Kiên, đã gây ra cú sốc cho thị trường tài chính Việt Nam.
Ông Kiên bị quy vào hai tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Sau ông Kiên, lần lượt Tổng giám đốc và Chủ tịch Hội đồng quản trị, một cựu Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư, của ngân hàng có tiếng ACB đã bị bắt vào khởi tố.
Cựu Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Trần Xuân Giá và một số nhân vật khác được tại ngoại hầu tra.
6. Vinashin – Vinalines
Hai vụ thất thoát nhiều ngàn tỷ đồng ở hai tập đoàn chuyên đóng tàu (Vinashin) và vận tải hàng hải (Vinalines) đã dẫn tới các án tù lâu năm hoặc truy nã và bắt bớ.
Cuối tháng Ba, cựu Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm tổng giám đốc Vinashin bị tòa kết án 20 năm tù trong phiên xử sơ thẩm bốn ngày ở Hải Phòng trong đó tám người khác bị các án tù từ ba đến 19 năm, trong đó nặng nhất là ông Trần Văn Liêm, nguyên trưởng ban kiểm soát Vinashin.
Sang tháng Sáu, cựu Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinalines Dương Chí Dũng bị truy nã quốc tế và bị bắt vào tháng Chín.
Trước đó, Bí thư thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh nói tại Quốc hội Việt Nam rằng vụ thất thoát hàng nghìn tỷ đồng ở Tổng công ty Hàng hải Vinalines và cựu lãnh đạo bỏ trốn giống ‘ như chuyện đùa‘.
7. Đường ‘lưỡi bò’
Quan hệ Việt – Trung tiếp tục có nhiều căng thẳng liên quan tới chủ quyền biển đảo và người dân đã nhiều lần xuống đường để bày tỏ sự bất bình.
Lần biểu tình cuối cùng, vốn nhanh chóng bị lực lượng an ninh giải tán, diễn ra hôm 9/12.
Một đương kim Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc ở thành phố Hồ Chí Minh nói chính quyền không muốn có biểu tình vì “lửa nhỏ có thể bùng thành đám cháy to” do người dân đã không còn tin vào chính quyền, vốn đã làm “quá nhiều điều sai trái”.
Cuộc biểu tình hôm 9/12 diễn ra ít lâu sau khi tàu Trung Quốc bị cáo buộc làm đứt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam và Bắc Kinh in hình ‘lưỡi bò’ thể hiện đòi hỏi chủ quyền của họ ở Biển Đông lên hộ chiếu mà Việt Nam từ chối đóng dấu.
Trước đó Việt Nam đã thông qua Luật biển khẳng định chủ quyền đối với Trường Sa và cả Hoàng Sa, hiện đang do Trung Quốc chiếm giữ toàn bộ.
Đáp lại, Bắc Kinh xác nhận việc thành lập thành phố Tam Sa để quản lý các đảo trong đó có Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa).
Trong năm, Việt Nam tiếp tục đón các chuyến thăm viếng của hải quân nước ngoài và tăng cường quân bị qua việc đặt mua tàu chiến, phi cơ.
8. Blogger lãnh án
Hồi tháng 9/12, ba blogger được nhiều người biết tới, Điếu Cày (ông Nguyễn Văn Hải), bà Tạ Phong Tần (chủ blog Công lý & Sự thật) và Anh Ba Sài Gòn (ông Phan Thanh Hải) bị kết án tổng cộng 26 năm tù giam.
Ông Hải bị kết án 12 năm, bà Tần 10 năm và ông Phan Thanh Hải bốn năm. Trong phiên phúc thẩm hôm 28/12, chỉ riêng ông Phan Thanh Hải được giảm án một năm xuống còn ba năm tù giam vì đã “nhận tội”.
Mẹ bà Tần đã tự thiêu trong lúc con gái bị giam giữ.
Các tổ chức nhân quyền chỉ trích mạnh mẽ việc Việt Nam dùng những điều luật “mơ hồ” để bỏ tù những người có quan điểm khác với chính quyền.
Việt Nam cũng bị Tổ chức Phóng viên Không biên giới coi là ‘kẻ thù của internet’ vì xét xử và sách nhiễu những cây viết trong không gian ảo, những người chính quyền nói bị trừng trị vi phạm pháp luật.
9. ‘Hạt giống đỏ’
Cô Tô Linh Hương làm Chủ tịch Hội đồng quản trị trong hai tháng
Một trong những tin thu hút sự chú ý của dư luận hồi tháng Tư là chuyện con ủy viên Bộ Chính trị Tô Huy Rứa, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng, trở thành Chủ tịch Hội đồng quản trị doanh nghiệp nhà nước Vinaconex – PVC.
Nhưng con gái ông Rứa đã nhanh chóng rời ghế chủ tịch hồi tháng Sáu, hai tháng sau khi nhậm chức.
Hồi tháng Một có tin con trai út 23 tuổi của một ủy viên Bộ Chính trị khác, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trở thành cán bộ đoàn cấp cơ sở sau khi du học ở Anh Quốc trở về.
Tới tháng 12/12, anh Nguyễn Minh Triết được bầu vào Ban chấp hành Trung ương đoàn.
Chị gái của anh Triết, bà Nguyễn Thanh Phượng, 32 tuổi, là lãnh đạo của một số công ty trong đó có chức Chủ tịch Hội đồng quản trị ngân hàng Bản Việt.
Anh trai của anh, Nguyễn Thanh Nghị, 35 tuổi là ủy viên trung ương dự khuyết và Thứ trưởng Bộ Xây dựng.
10. ‘Bên Thắng Cuộc’
Cư dân mạng xôn xao về cuốn sách của nhà báo Huy Đức, tức blogger Osin trong những tuần cuối năm 2012.
Nhà báo Huy Đức viết về những gì xảy ra ở Việt Nam sau khi Sài Gòn sụp đổ trong cuốn Bên Thắng Cuộc.
Tác giả sách nói: “Sự thật không chỉ giúp chúng ta tìm ra phương thuốc đúng để chữa lành các vết thương cũ mà còn giúp những người đang nắm vận mệnh quốc gia không phạm các sai lầm mới.”
Sách được đánh giá là giúp người đọc “hình dung ra được khá rành mạch vì sao sự mê tín với một mô hình độc tôn đã khiến lãnh đạo Đảng cầm quyền ở Việt Nam liên tiếp sai lầm mà các di chứng vẫn còn đang là chính sách hiện hành dù đã được bớt liều nhờ tác động khách quan và sự tự ý thức.”
Phần một của Bên Thắng Cuộc với tựa đề Giải Phóng đã trở thành sách bán chạy nhất trong phần lịch sử Đông Nam Á trên Kindle Store của Amazon.
Vì gợi lại nhiều vấn đề tại Việt Nam thời kỳ chiến tranh và hậu chiến, cuốn sách tiếp tục nhận các luồng ý kiến khen và chê trong các giới người Việt.
Một độc giả trên Amazon nói sách được viết “khá vội vã với lối hành văn và vô vàn các chi tiết được đưa vào” và “sách còn mắc một số lỗi câu, lỗi chính tả, và lỗi đánh máy.”
Trong khi đó một nhân vật được nêu trong sách cũng công khai lên tiếng nói rằng bài báo nói ông và đồng đội đầu hàng quân miền Bắc mà tác giả trích lại là không chính xác.
Tác giả Huy Đức hiện tiếp tục hiệu đính cho bản in của cuốn sách, ông cũng cho các bạn trên Facebook hay ông sẽ phản ánh những phản hồi của bạn đọc trong lần xuất bản tới.
 Theo BBC

Thứ Sáu, ngày 28 tháng 12 năm 2012

Phiên tòa cuộc đời


Mình đọc được những dòng chữ này ở facebook của Hoàng Khương hôm nay:
Vài giờ trước “phiên tòa cuộc đời”:
Cuối cùng “công lý đã được thực thi”. Xin tỏ lòng biết ơn các anh chị trong Ban biên tập báo Tuổi Trẻ, tòa soạn, đồng nghiệp, cán bộ nhân viên báo TT, đọc giả gần xa, bạn bè tôi và cả những người tôi chưa từng biết mặt đã hết lòng chia sẽ, giúp đỡ gia đình tôi trong những lúc khó khăn nhất.
Tôi muốn nói với mọi người rằng, tôi luôn tự hào và hãnh diện khi được đứng chung hàng ngũ với những người làm báo Tuổi Trẻ. Tuổi Trẻ luôn trong trái tim tôi!
Riêng trong vụ án này, tôi xin khẳng định với mọi người rằng tôi không làm điều gì hổ thẹn với lương tâm và có thể ngẩng cao đầu với những gì mình đã làm.
Xin chào từ biệt!
FB Hoàng Khương.
Tạm biệt Hoàng Khương.
Đâu phải một mình bạn bị kết án? Cả dân tộc này, đất nước này gần như là những đối tượng gây nên “nguy cơ tan vỡ từ bên trong” mà người ta đang nói nhiều trên báo chí, tivi ngày hôm nay.
Mọi người đang “tự chuyển hóa, tự diễn biến” khiến chính quyền đang cần đấu tranh, loại bỏ khỏi xã hội. Tại sao tự diễn biến, tự chuyển hóa? Các quan chức đã chỉ ra rồi đấy, như bạn đã bắt tận tay, chỉ tận mặt kẻ tham nhũng: “Mà lãnh đạo ngày càng không muốn nghe những lời nói thẳng. Chỉ muốn nghe lời nói khen bùi tai nên đã quy tụ xung quanh những người thiếu trung thực” – ông Hữu Thọ kết luận. Còn trung tướng Vũ Hải Triều (Phó tổng cục trưởng Tổng cục An ninh II) bổ sung: lòng tin của đảng viên và người dân đang ngày càng giảm sút trước thực trạng một bộ phận lãnh đạo quản lý kinh tế xã hội yếu kém. Rồi những vấn đề khác về đời tư, lối sống, tình trạng thất thoát, tham nhũng…Theo ông Triều, dư luận đặc biệt bức xúc quanh câu chuyện bổ nhiệm và sử dụng những cán bộ không có đức tài…Nhận diện như vậy nhưng nhân dân vẫn không được bất mãn, vẫn phải tin tưởng vào sự lãnh đạo của đảng, chính quyền. Như Khương dù bị kết án, đi tù thì vẫn phải tin vào sự công bằng, anh minh của pháp luật XHCN. Được không?
Cùng ngày Khương ra toàn phúc thẩm, lại có luật sư bị bắt vì tội trốn thuế, như Điếu Cày ngày trước. Nghe quen quá. Quen với phương thức đấu tranh mà giờ đây không còn ai tin, nhưng lại nhân danh pháp luật. Thêm một bằng chứng “tự chuyển hóa, tự diễn biến” nữa Khương ơi…Sắp tới lại có “phiên tòa cuộc đời” như Khương, như Điếu Cày, Tạ Phong Tần rơi vào. Sắp tới đây, sẽ còn những ai nữa đứng trước “phiên tòa cuộc đời” như Khương? Bởi thủ tướng vừa ra lệnh cho bộ CA phải đấu tranh với tổ chức đối lập chống lại đảng, nhà nước. Những gì các sinh viên trong mái trường XHCN được dạy dỗ thì quan điểm của chủ nghĩa Marx là: đấu tranh giữa các mặt đối lập là động lực của sự phát triển. Nhưng đất nước mình cấm các sự đối lập, có nghĩa cấm sự phát triển. Ai cần phát triển, giàu có? Những người giàu đã giàu lắm rồi, ăn nhiều đời con cháu không hết, phát triển nữa để làm gì, Khương nhỉ? Như Khương, những ai mong muốn đất nước phát triển đều đang có nguy cơ phải đứng trước “phiên tòa cuộc đời” như Khương đó…Vì rất có thể ý muốn đó sẽ bị tòa truy tố là “đi ngược lại lợi ích đất nước, nhân dân”.
Càng nhiều phiên tòa cuộc đời thì sẽ càng tiến nhanh đến phiên tòa lịch sử soi xét lại từng danh phận con người, nhất là những người cầm quyền.
Vậy thì hãy nhanh lên những phiên tòa cuộc đời, càng nhiều càng tốt…
Thùy Linh

Quyền lực đích thực ở đâu?

Trong cuộc sống hàng ngày, nhiều người cố “chạy” cho được những chức này, chức khác, bởi vì theo suy nghĩ thường tình, có chức thì có quyền, có quyền thì có tiền, có tiền thì “mua tiên cũng được” – nghĩa là, có tất cả!
Quyền lực đích thực ở đâu? Ở trong mỗi chúng ta? Có đúng vậy không? Đã hàng ngàn đời nay từ bậc vua chúa, tổng thống, thủ tướng, các ông chủ những tập đoàn giàu có, đến các ông bố, bà mẹ, đến những người lao động bình thường đều mong có một chút quyền, một chút thôi, hay quyền lực vô biên!
Đối với chúng ta quyền lực có ý nghĩa gì? Tại sao ai cũng tìm mọi cách để đạt cho được quyền lực? Cho dù không để ý… ” Chúng ta luôn cố đạt cho được một địa vị có quyền lực bởi vì ta tin rằng quyền lực giúp ta làm chủ được cuộc sống, đem lại cho ta tự do và hạnh phúc – những gì ta mong muốn nhất” – mở đầu cuốn sách “Quyền lực đích thực” tác giả Thích Nhất Hạnh đã viết như vậy.
Quyền lực, chuyên của muôn đời. Lịch sử đã chứng kiến biết bao tấm bi kịch do giành giật quyền lực mà dẫn đến những cuộc chiến tranh, sát phạt đẫm máu, huynh đệ tương tàn, đất nước bị phá hủy; từ đông sang tây, từ nam đến bắc, đã và đang không ngừng diễn ra…
Quyền lực là gì? “Xã hội chúng ta được xây dựng trên một khái niệm rất hạn hẹp về quyền lực, đó là giàu có, sung túc, thành công nghề nghiệp, danh tiếng, sức khỏe, sức mạnh quân sự và quyền năng chính trị”…
“Muốn có quyền lực, muốn được danh tiếng hay giầu sang không phải là điều xấu. Nhưng phải nhớ rằng, chúng ta theo đuổi quyền lực hay dang tiếng, tiền tài là để được hạnh phúc. Nếu giàu có và quyền lực không hạnh phúc thì giàu có và quyền thế để làm gì?” – Thích Nhất Hạnh.
Vấn đề là ở chỗ quyền lực để làm gì? Sử dụng quyền lực thế nào? Nó có mang lại hạnh phúc cho chính người có quyền lực hay không? Ai có quyện lực bằng tổng thống Mỹ? Tổng thống G.W. Bush chẳng hạn. Là tổng tư lệnh một lực lượng quân sự hùng mạnh bậc nhất là vị lãnh đạo quốc gia giàu có nhất thế giới… Nhưng, tôi tin chắc rằng dù với bao nhiều cái gọi là quyền lực trong tay, tổng thống vẫn cảm thấy bất lực và đau khổ… Tôi không nghĩ rằng tổng thống Bush… ngủ được yên giấc… Bởi cuộc chiến Iraq, bởi suy thoái kinh tế, bởi …
Triết gia Jean Jacques Rousean đã viết: Người mạnh nhất không bao giờ đủ mạnh để mãi mãi ở vị trí lãnh đạo, trừ khi người ấy chuyển đổi sức mạnh thành lẽ phải, và chuyển đổi sự khuất phục thành bổn phận. Đúng vậy.
Sử dụng quyền lực không đúng sẽ nhận lấy sự chống đối từ phía những người dưới quyền khi một bên thâu tóm quyền lực và một bên không có quyền lực thì bên không có quyền lực có xu hướng nổi loạn. Sự cách biệt quá lớn giữa dân tộc này và dân tộc khác, giữa nhóm người này với nhóm người khác sẽ làm cho quyền lực bấp bênh. Ngay cả khi dường như được người khác chấp nhận thì người cầm quyền vẫn cảm thấy bất an.
Ấy vậy, nhưng trong cuộc sống hàng ngày, nhiều người cố “chạy” cho được những chức này, chức khác, bởi vì theo suy nghĩ thường tình, có chức thì có quyền, có quyền thì có tiền, có tiền thì “mua tiên cũng được” – nghĩa là, có tất cả!
Ở đâu cũng vậy, mục đích cuối cùng của con người là mưu cầu hạnh phúc. Hạnh phúc cho bản thân mình, cho gia đình mình, cho cộng đồng, cho muôn dân. Tác giả Thích Nhất Hạnh, trong cuốn sách “quyền lực đích thực” đã phân tích, lý giải, trình bày bằng những ví dụ sinh động, từ những con người đang sống hôm nay cho đến những dẫn dụ từ thời xa xưa.
“Bhaddiya một quan chức cao cấp của Vương quốc Sacya. Nhưng ông đã từ bỏ tất cả để xuất gia. Một hôm, đang ngồi thiền, Bhaddiya bỗng thốt lên: Ôi, hạnh phúc của tôi… đến ba lần. Bụt gọi Bhaddiya tới và hỏi lý do. Ông trả lời: “Kính lạy thế tôn, khi con còn tại chức, con có rất nhiều quyền hành và tiền bạc. Con có những đội quân bảo vệ. Con muốn mua gì cũng được. Nhưng con không hạnh phúc vì con luôn sợ hãi. Còn là nạn nhân của ganh tị, sợ sệt, ghét bỏ và tham lam. Bây giờ, con không còn lo sợ hay phiền não nữa. Con không có gì để mất, không sợ bị ai sát hại, không cần vệ sỹ bảo vệ. Chưa bao giờ con được tự do và bình an như thế. Vì hạnh phúc quá nên con thốt lên như vậy”.
Khuyên ta từ bỏ tất cả để xuất gia ư! Không! Nếu kiếm lợi nhuận mà đem lại an vui cho mình và cho xã hội thì việc làm của ta không có gì sai trái. Ta có thể vẫn kiếm lợi nhuận mà không tổn hại, mà phát huy công bằng xã hội, đem lại hiểu biết và giảm thiểu khổ đau… Muốn thế, phải ngưng chạy theo quyền hành, tiền tài, danh vọng và sắc dục. Bốn thứ ấy đi liền với nhau.
Bụt nói “Quá khứ đã qua ruồi, tương lại thì chưa đến, ta chỉ thực sự sống trong giây phút hiện tại”. Nếu đánh mất hiện tại thì sẽ đánh mất cuộc sống! Nếu ta qua ưu tư về quá khứ, quá lo nghĩ về tương lai, để luôn đắm chìm trong sự bất an, ta sẽ không có hạnh phúc, dù là người có nhiều tiền, nhiều quyền, nhiều danh tiếng…
Quyền lực đích thực là gì? Làm sao để có nó? Nó ở đâu? Đó phải chăng là những câu hỏi muôn đời sao …?
Quyền lực đích thực, phải là thứ quyền mang lại hạnh phúc cho bản thân ta, cho gia đình, cho cộng đồng, cho xã hội. Nó luôn gắn với sự an lành, nhất là trong xã hội hiện tại, trong sự quay cuồng của cuộc sống, sự khó khăn của nền kinh tế thế giới thời kỳ suy thoái và những khó khăn của nền kinh tế nước ta hiện nay.
Dương Kỳ Anh
Theo Tuần Việt Nam

Thứ Năm, ngày 27 tháng 12 năm 2012

Đọc “Bên Thắng Cuộc”, nghĩ về lịch sử Việt Nam hiện đại

“Trong chính trường cũng như trong chiến tranh, hãy cẩn trọng khi ca tụng đức hạnh của những người thắng cuộc” – William Niskanen.
“Khi tôi lựa được một cuốn sách hay, thì tôi chẳng nệ hà mắc giá, thế nào tôi cũng mua cho được, và tôi cưng cuốn sách còn hơn bà xã nội gia. Cách tôi đọc thì chậm rãi, tôi không tiếc thì giờ bỏ ra cho sách, khi khác tôi đọc ngấu nghiến còn hơn bồ câu ra ràn nuốt mồi không kịp đút, nói tục mà nghe, y như chó gặm xương, như mèo mới sanh được mẹ nhường mồi dạy ăn, vừa ngừ nghè sợ mất mồi vừa gầm gừ tiếng rên nho nhỏ vì khoái trá và vì sợ miếng ngon chóng hết hoặc anh chị nào đồng lứa sắp giựt phỏng trong mồm” -  học giả Vương Hồng Sển.
Thế nên, trong sự háo hức chờ đợi song lại gần như “tuyệt vọng”, tôi may mắn được cô Hà Linh từ Tokyo, Nhật Bản mua tặng một ấn phẩm điện tử cuốn sách Bên Thắng Cuộc (Tập I: Giải phóng) của Huy Đức. Và, nói như học giả Vương Hồng Sển, đối với Bên Thắng Cuộc, tất nhiên tôi cũng “đọc ngấu nghiến còn hơn bồ câu ra ràn nuốt mồi không kịp đút, nói tục mà nghe, y như chó gặm xương”, sau đó tôi lại đọc một cách từ từ, chậm rãi và có khi đối chiếu các tư liệu để cảm nhận cái hay của Bên Thắng Cuộc.
Có ý kiến cho rằng, thay vì trình bày lịch sử bao gồm cả thành công và thất bại của chính quyền sau “giải phóng”, bức tranh của Bên Thắng Cuộc có vẻ như thiên về gam “màu tối” hơn là “màu sáng”? Song, chúng ta không nên nhầm lẫn giữa lịch sử và chính trị, cũng không nên nhầm lẫn giữa lịch sử và tuyền truyền. Tuyên truyền cũng quan trọng, song việc đó ai làm cũng được và chắc chắn nó không phải là chủ đề của Bên Thắng Cuộc.
Lịch sử chỉ xẩy ra một lần và duy nhất, còn trình bày lịch sử, giải thích lịch sử thì có thể làm đi làm lại nhiều lần – đại ý lời của ông Võ Nguyên Giáp. Bên Thắng Cuộc cũng chỉ là một cuốn sách trình bày lại lịch sử, theo nhãn quan của người viết, với những chứng cứ mà tác giả thu thập được. Sự tranh cãi về nội dung cuốn sách, tùy theo góc độ của mỗi người là điều đương nhiên. Chúng ta biết, có không ít những cuốn sử Việt Nam, do những tác giả “nổi tiếng” viết, rất giàu tính đảng, tính nhân dân, đúng quan điểm, lập trường, in đẹp không chê vào đâu được, song liệu có mấy người đọc và nó đưa lại điều gì cho độc giả?
Đọc Bên Thắng Cuộc, tôi thường nghĩ về lịch sử Việt Nam hiện đại đầy “anh dũng” và “đau thương”, nhất là giai đoạn sau “giải phóng”. Bên Thắng Cuộc trình bày những sự kiện như đổi tiền, tù cải tạo, kinh tế mới, đánh tư sản, vượt biên, hai cuộc chiến tranh biên giới… làm người đọc rơi nước mắt (tỷ như cô Hà Linh không thể nào đọc một mạch quyển sách được). Sự thật được tác giả ghi lại một cách khách quan, “nói có sách, mách có chứng”. Dù muốn hay không, lịch sử đã xẩy ra như thế và “người ta không thể thay đổi được quá khứ nhưng có thể thay đổi được tương lai”.
Lịch sử Việt Nam hiện đại có nhiều cơn địa chấn mà kết quả đã làm người dân và đất nước kiệt quệ, tụt hậu ghê gớm so với ngay các nước láng giềng. Đáng buồn hơn nữa là cho đến nay, những cơn địa chấn đó vẫn chưa chấm dứt. Câu hỏi đặt ra, vì sao sai lầm cứ nối tiếp sai lầm và có khi sai lầm sau trầm trọng hơn sai lầm trước? Cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng được tổ chức như thế nào mà rất dễ phạm sai lầm, liên tục phạm sai lầm và khi đã phạm sai lầm thì rất khó sửa? “Chỉ làm lấy cái để ăn mà khó thế đấy” – Phạm Văn Đồng, vì người ta không muốn thực hiện cơ chế khoán trong nông nghiệp, sợ đi vào con đường tư bản, sợ mất chủ nghĩa xã hội (đã có đâu?).
Khách quan mà nói, hậu quả tiêu cực xẩy ra sau “giải phóng” không như mong muốn của chính quyền và các nhà lãnh đạo cao cấp. Khát vọng về một xã hội tốt đẹp, không có người bóc lột người như Mác nêu ra là cái đích để chính quyền hướng tới. Ý thức hệ có tầm quan trọng bao trùm tất cả, quyết định tất cả. Phải chăng, sai lầm cũng từ đó mà ra? Ngay những bộ óc sáng suốt nhất của đất nước, trước khi Liên Xô sụp đổ, vẫn còn chưa thoát ra khỏi nếp suy nghĩ cũ. Theo ông Trần Phương: “Khi giải phóng miền Nam, chúng tôi đặt câu hỏi, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân rồi thì làm gì? Gần như mọi người đều tán thành: còn có thể làm gì hơn là tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội”. Ông Trần Phương nói tiếp: “Tư tưởng đó là của của Lênin. Khi đó thì đầu óc của mình chỉ biết có Lênin, cái gì Lênin đã nói thì không tranh cãi”.
Nói đến lịch sử Việt Nam hiện đại thì phải nói đến sự vận hành của bộ máy cao nhất, nói đến những nhà lãnh đạo cao cấp, bởi vì bộ máy và con người đó đóng một vai trò rất lớn trong việc ra quyết sách. Bên Thắng Cuộc đã mô tả rất nhiều nhân vật với nhiều tính cách khác nhau, tài năng và cả những hạn chế khác nhau một cách sinh động, hấp dẫn, cuốn hút.
Làm sao chúng ta không kinh ngạc khi biết Bộ Chính trị những năm sáu mươi thế kỷ trước lãnh đạo cả nước với hai nhiệm vụ chiến lược: miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội và miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà mà rất ít việc làm. Ông Đậu Ngọc Xuân kể: “Nhiều cụ Bộ Chính trị vẫn giết thời gian bằng cách chơi tú-lơ-khơ với tổ phục vụ… Các ủy viên Trung ương lại càng ít việc. Theo ông Nguyễn Văn Trấn, Phó Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, vốn là một thợ cơ khí, nhiều hôm đã lật chiếc xe đạp của ông ra sửa để giết thời gian”.
Ta càng kinh ngạc hơn nữa vì sự mất đoàn kết giữa những người lãnh đạo cao cấp nhất. Điều đó làm Hồ Chí Minh rất buồn, phê bình các Ủy viên Bộ Chính trị: “các chú mắc bệnh cá nhân chủ nghĩa, chú Lê Duẩn cũng cá nhân chủ nghĩa”.
Nhân vật thứ hai sau Hồ Chí Minh là Lê Duẩn, để lại dấu ấn rất lớn trước và sau “giải phóng”. Bằng cách xâu chuỗi các sự kiện trong Bên Thắng Cuộc, ta thấy Huy Đức thể hiện rất lý thú giấc ngủ của Lê Duẩn. Ông phải mất ngủ ba đêm liền khi quyết định đánh Mỹ, vì suy xét đến yếu tố Liên Xô và Trung Quốc. Ông cũng mất ngủ nhiều đêm vì Pol Pot quấy rối ở phía Nam mà Việt Nam đối phó rất lôi thôi, vì lo ngại Trung Quốc ở phía Bắc. Ấy thế mà khi nghe con rể là Giáo sư Hồ Ngọc Đại đánh thức báo tin, “quân ta đã vào Phnom Penh”, thì ông chỉ “ừ” rồi ngủ tiếp. Than ôi, “đưa đại quân đến thủ đô một quốc gia khác tưởng nhẹ tựa giấc ngủ trưa của một đấng quân vương”. Sau này, do mắc bệnh tiền liệt tuyến, hầu như không đêm nào ông được ngủ yên cả và ông “đánh mất khả năng lắng nghe”.
Suy nghĩ về lịch sử Việt Nam hiện đại, ta cũng thấy thương cho ông Phạm Văn Đồng. Ông là Thủ tướng mà khi họp Chính phủ, nhìn thấy Đỗ Quốc Sam là thành viên mới, đã hỏi: “Anh là ai, đến đây làm gì?”. Như vậy, Lê Đức Thọ toàn quyền lựa chọn thành viên Chính phủ và thậm chí cũng không (thèm) cho Thủ tướng biết trước. Thế thì, giả sử họ làm không được việc thì đó không phải là lỗi của ông Phạm Văn Đồng.
Lê Đức Thọ chỉ cần vài phút để gạt ông Nguyễn Thành Thơ ra khỏi Trung ương, khi Nguyễn Văn Linh hỏi, ông ta nói, nếu nó năn nỉ tôi, thì tôi đã cho ở lại. Ông  Linh: “Người cộng sản chân chính không bao giờ năn nỉ đâu”. Vậy con người mà quyền lực bao trùm thiên hạ Lê Đức Thọ có năn nỉ ai không? Bên Thắng Cuộc cho biết, theo ông Đoàn Duy Thành và Hoàng Tùng, từ khi Lê Duẩn yếu dần, Trường Chinh xử lý hầu hết các công việc trong Đảng. Thế nhưng, Lê Đức Thọ vẫn lên Hồ Tây thăm và xin Lê Duẩn: “Anh ốm, sức khỏe của anh bắt đầu hạn chế, anh giới thiệu với Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương để tôi thay anh đi”. Ông Lê Duẩn nói: “Với tình hình Đảng ta bây giờ, anh chưa thay tôi được mà phải Trường Chinh”. Tháng 4-1986, Lê Đức Thọ lại đến, lần này đi hai vợ chồng. Ông Thọ, được tả là đã quỳ xuống chân Lê Duẩn nhưng bị Lê Duẩn hất ra: “Anh lạ thật, tôi đã từ chối rồi. Những khi nào cần nổi danh là anh cứ xin tôi, đi Paris, rồi đi miền Nam khi sắp giành chiến thắng. Tôi đã nói rồi, Trường Chinh”. Có lẽ đây là một nhận xét rất tinh của Lê Duẩn đối với Lê Đức Thọ.
Ta cũng nhận thấy, ông Võ Văn Kiệt xuất hiện rất nhiều trong Bên Thắng Cuộc sau “giải phóng” và thật sự chiếm được tình cảm của nhiều người. Ngược lại, ông Võ Nguyên Giáp xuất hiện không nhiều trong Bên Thắng Cuộc sau “giải phóng”, chứng tỏ, sự can dự của ông vào những quyết sách sai lầm là rất ít, và ông Giáp cũng chiếm được tình cảm của nhiều người. Tiếc rằng, vai trò của ông Giáp trong hai cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc không được Bên Thắng Cuộc đề cập đến. Lưu ý rằng đến thời điểm đó, ông Giáp vẫn là Bộ trưởng Quốc phòng.
Đọc Bên Thắng Cuộc, suy nghĩ về lịch sử Việt Nam hiện đại, ta thấy để biết  đúng sự thật lịch sử thật khó khăn. Sự kiện xe tăng 390 húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập mà chỉ gần đây mới được làm sáng tỏ. Nhưng, ai là sỹ quan cao cấp nhất của Bắc Việt Nam vào Dinh Độc lập đầu tiên? Có phải là có một người đang sống ở Pari đó, ai cũng biết, đã không được Bên Thắng Cuộc nhắc tới? Và, nếu chủ yếu dựa vào những hồi ký, phỏng vấn để dựng lại toàn bộ lịch sử giai đoạn đó, liệu có đầy đủ và chính xác hay không? Điều này thì chính tác giả Huy Đức đã tiên liệu, “cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, và sẽ còn được bổ sung khi một số tài liệu được Hà Nội công bố”.
Có thể rút ra rất nhiều bài học sau khi đọc Bên Thắng Cuộc, tùy góc độ, lăng kính, chỗ đứng của mỗi người. Hơn ai hết, người cần rút ra bài học đầu tiên chính là các nhà lãnh đạo, vì họ nắm trong tay việc ra quyết sách, quyết định số phận của hàng triệu con người. Dù có thiện ý đến đâu chăng nữa, chừng nào còn chưa xác định được con đường đi đúng đắn, còn bị cầm tù bởi ý thức hệ “nhảm nhí” – chữ dùng của ông Trần Việt Phương, còn thiếu một thể chế phù hợp, chừng đó còn gây ra thảm cảnh cho dân tộc, cho đất nước mà lịch sử vừa diễn ra chưa xa vẫn đang nghiêm khắc cảnh cáo chúng ta.
Lê Mai

Cuộc tập kích của lề trái

Cú “pháo hạm”, có lẽ là “thông điệp” mà lề trái nhắn tới độc giả: Muốn đọc cướp hiếp giết, hoặc “tin đầu lâu” xin mời lên báo. Muốn biết sự thật thì trèo tường vào Net.
Anh Ba Sàm, dưới cái tên cúng cơm Nguyễn Hữu Vinh, đeo kính trắng ngồi trên bàn chủ tọa, tay trái thủ máy ghi âm, tay phải lướt camera. Phía dưới, nhà văn Phạm Viết Đào nhát lại quay xuống giơ máy ảnh bấm tách tách. Tiến sĩ Nguyễn Quang A, ngồi khoanh tay, khi gật gù, lúc gãi mũi, và sau đó thuyết trình về câu chuyện “rác và kim cương”. Luật sư Trần Vũ Hải thì 3 lần giơ tay “xin micro”, và còn định xin tiếp để cướp diễn đàn.
Từ lâu, truyền thông xã hội, mình cứ thích gọi là “lề trái”- cho máu, dù phải chơi trò đổi IP hay “nhảy tường Olympic”, đã ép lề phải trong vấn đề đạo đức của người truyền tin, qua Hội thảo vừa rồi, chính thức nhờ RED đóng cho một cái dấu đỏ, để tập kích “lề phải” qua một cuộc Hội thảo được xin phép đàng hoàng.
Ba Sàm mượn diễn đàn Red “quăng bom” lề phải
Cái đạo đức của người truyền tin là ở chỗ trong khi “lề trái” dùng tên thật để bình luận, thì không ít lề phải lại dùng bút danh, chẳng hạn trong việc đưa tin.
Đây là những “phát súng” của lề trái mà mình gom ra. Thôi thì cứ nêu ra đây và không bình luận.
Ba Sàm: Có một ví dụ cho thấy sự thụt lùi của báo chí. Năm 2007, Tuổi trẻ có một bản tin về các cuộc biểu tình phản đối TQ, nhưng bây giờ thì không.
Chưa kể, có những tin bài đã lên mạng, vì lý do nào đó không được tồn tại nữa, nhưng lại bị âm thầm gỡ bỏ, hầu như không hề được thông báo, giải thích lý do, độc giả truy cập vào không được. Làm vậy vừa thiếu tôn trọng độc giả, vừa thiếu áp lực trách nhiệm lên chính nơi đã “gây ra” việc phải gỡ bỏ tin bài đó. Ví dụ có rất nhiều, nhưng gần đây nhất là bài trên báo Thanh tra: “Đánh đấm” mạnh, ông Trần Nhung bị trả thù”, hiện còn thấy được trên mạng là phải nhờ thủ thuật tìm kiếm.
Chưa kể có tới 2 ví dụ về việc báo chính thống phải cải chính những thông tin trên blog.
Nhà văn Phạm Viết Đào: Xuất hiện rất nhiều cây viết, chủ nhân của các cư dân mạng nổi tiếng hơn cả nghề tay phải của mình, họ là nhà báo nhưng người đọc biết nhiều về họ hơn nhờ viết blog chứ không phải viết báo; có nhà báo bỏ cả nghề báo để viết blog; có ông chẳng liên quan gì đến nghề báo tự dưng nhảy ra làm trang mạng có sức lôi cuốn người đọc, thách thức các tổng biên tập báo chính thống khiến cho Huy Đức một nhà báo kiêm một blogger có tiếng đã phải thốt lên: Báo chính thống nói chuyện Basam; Còn Basam lại đưa chuyện chính thống…Rất nhiều các hãng thông tin nước ngoài khi một tìm hiểu dư luận xã hội về một vấn đề nào đó lạ thường tìm đến các blogger hơn là tìm đến những nhà báo, nhà quan sát chính trường có nhãn mác, bằng cấp và giấy phép hành nghề. “Làm sao để các nhà báo được sống hết mình với tin bài của mình như các trang mạng xã hội, có như thế báo chí mới góp phần hữu ích vào đời sống xã hội”.
Nhà báo Mạnh Quân:
Nếu chỉ quan tâm, đọc báo trên báo in, báo online, truyền hình…của nhà nước là không đủ…Có rất nhiều thông tin từ facebook, từ các diễn đàn, trang web, blog cá nhân…hữu ích cho công việc của tôi mà nhiều khi, đọc báo chính thống, tôi không có được hoặc có chậm hơn. So sánh với các blogger bình thường khác thì theo tôi, các nhà báo thường cũng có xu hướng kiềm chế, kiểm soát nội dung mình. Với cá nhân tôi và có thể với không ít nhà báo khác, việc chủ động tham gia, tham gia thường xuyên vào TTXH, vào FB…đặc biệt là với FB hay blog…thì đó thực sự còn là công cụ để giữ được “lửa nghề”. Có những điều anh không thể nói được trên báo thì anh nói được trên FB, blog của mình, giữ được quan điểm, nói lên được nhiệt tâm của mình.
Đoạn này là của mình:
“Một bản tin trên BBC dưới tựa đề “Truyền thông VN im lặng về biểu tình”. Đây là những gì mà BBC đã viết: Một ngày sau khi các cuộc biểu tình chống Trung Quốc diễn ra ở cả Hà Nội và TP HCM, báo chí trong nước hoàn toàn im hơi lặng tiếng. Hai cuộc biểu tình ở các thành phố lớn nhất Việt Nam có sự tham gia của hàng trăm người, cho dù bị giải tán một cách nhanh chóng. Sự kiện này đã thu hút sự chú ý của truyền thông nước ngoài, với hầu hết các đài báo quốc tế lớn đều có tin, bài. Thế nhưng ngay ở trong nước, không thể tìm thấy một dòng nào về các cuộc biểu tình”.
“Lòng tự trọng khiến tôi tin những người làm báo ở Việt Nam cảm thấy bị tổn thương. Bởi với bất cứ lý do gì, báo chí đang mặc nhiên coi như không nghe, không biết, không thấy sự kiện người dân xuống đường phản đối Trung Quốc. Nếu báo chí là người chép sử của hiện tại, thì với cách thức chúng ta im lặng ngày hôm nay, 100 năm sau, những thế hệ con cháu sẽ lại gặp những khoảng trống trong lịch sử?”
“Báo chí hoặc im lặng, hoặc đưa ra những bản tin 200 chữ không có thông tin, sẽ càng chỉ khiến bạn đọc tìm đọc những sự kiện đó trên Internet, trên truyền thông xã hội. Bởi trong nhiều sự kiện, mà điển hình là sự kiện 9-12, blog đã thay thế báo chí ngay trong chính vai trò thông tin của mình”.
Anh Ba Sàm đầy tinh thần lạc quan đến xuất một mô hình “Đặc khu thông tin”, như “đặc khu kinh tế”. Đó là “Khu vực trung dung giữa báo chí chính thống và TTXH. Ở đó có sự theo dõi, quản lý nhất định của cơ quan chức năng, nhưng không cần thiết chặt chẽ như với báo chí hiện nay. Ở đó thông tin cung cấp “thoáng” hơn báo chí chính thống nhưng sẽ cẩn trọng hơn so với TTXH. Có những thông tin “nhạy cảm” của nhà nước, không tiện đưa lên báo (có thể tránh đụng chạm quan hệ ngoại giao chẳng hạn, vì mang tiếng là báo nhà nước), nhưng lại rất cần phổ biến tới người dân, để thử nghiệm hay tận dụng tiếng nói công luận. Có những vấn đề cần lắng nghe nguyện vọng, sáng kiến của dân, nhưng lâu nay vẫn lúng túng khi cần tổ chức thu thập qua báo chí “chính thống”.
TS Nguyễn Quang A thì nói về câu chuyện Thông tin trên các mạng truyền thông xã hội như Facebook, blog… “thì rác cũng có mà kim cương cũng có”. Thế nào là rác? Anh Ba: “Các tòa báo, trước áp lực “mất khách”, và thậm chí cả soi lưng từ TTXH, họ phải bươn chải hơn để tồn tại, tìm đủ mọi cách lách, và câu khách bằng thị hiếu tầm thường, gây tác động làm méo mó thêm từ môi trường báo chí cho tới đời sống văn hóa, tinh thần của cả xã hội”.
Còn nhiều chi tiết nữa mà một người 100% lề phải như mình thậm chí không dám chép trên blog.
Cú “pháo hạm”, có lẽ là “thông điệp” mà lề trái nhắn tới độc giả: Muốn đọc cướp hiếp giết, hoặc “tin đầu lâu” xin mời lên báo. Muốn biết sự thật thì trèo tường vào Net.
Note: Riêng Lao Động cũng được dành cho một dòng, nghĩ cũng đau: Ở VN cũng đã có báo thử nghiệm (mô hình blog trên báo), nhưng không rõ tiêu chí, như VOV News, còn Lao Động cũng có nhưng … như không.
Đào Tuấn 

Lịch sử, sự thật và sử học

“Ai ai đều đã bằng câu hết
nước chẳng còn có Sử Ngư”
Đó là hai câu thơ trong bài thơ cuối cùng của mười bốn bài “mạn thuật” mà Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta. Thật là cay đắng khi mà mọi người uốn cong như lưỡi câu, và chẳng còn ai nói lên sự thật nữa, chẳng còn ai như Sử Ngư nữa. Sử Ngư là một chép sử nước Vệ thời Xuân Thu, nổi tiếng về thẳng thắn và trung thực. Khổng Tử đã từng khen: “trực tai Sử Ngư” (Sử Ngư thẳng thay)
Cho đến hôm nay, đọc câu thơ Nguyễn Trãi chúng ta vẫn như tê tái với nổi đau của ông, làm sao có thể sống trong xã hội mà mọi sự thật đều bị che đậy và xuyên tạc. Trong những thời kỳ như vậy, người chép sử, nhà sử học, những người có nhiệm vụ nói lên sự thật, không biết bị dằn vặt như thế nào? Ngày nay chúng ta đang sống trong một giai đoạn cần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật đáp ứng yêu cầu của nhân dân của đất nước. Đã đến lúc những người chép sử, nhà sử học phải tự hỏi rằng “sử bút” của mình có thật nghiêm chưa, đã viết đúng sự thật lịch sử hay chưa?
Từ thời cổ đại người ta đã yêu cầu cho việc chép sử là nêu gương cho nhân dân và đem lại bài học cho những nhà cầm quyền. Polibious, nhà sử học Hy Lạp vào thế kỷ 2 TCN, đã nhận thấy rằng sử học có tính Pagmatikos, tức thực dụng. Trong các vị thần Muses Hy Lạp thì nữ thần Clio là thần sử học, nhưng tên Clio là bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là Kleio nghĩa là ca tụng, biểu dương.
Ơ Phương Đông Khổng Tử viết kinh Xuân Thu, bộ sử lớn của Trung Quốc cổ đại, là cốt để “bao biến” tức là khen và chê các hành vi của nhân vật lịch sử. Cái mẫu mực sử học thực dụng còn tồn tại rất lâu dài về sau, nhất là ở Phương Đông. Ta hãy đọc những dòng của Phạm Công Trứ trong bài tựa sách đại việt sử ký tục biên : “Vì sao phải viết quốc sử? Vì sử chủ yếu ghi chép công việc. Có chính trị của một đời tất phải có sử của một đời mà sự ghi chép của sử giữ nghị luận rất nghiêm, tụ điểm việc trí trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời, mặt trăng, răn đe kẻ loạn tặc thì ráo riết như sương thu lạnh buốt, người thiện biết thì có thể bắt chước, người ác biết thì có thể tự răn, quan hệ với chính trị thì không thể là ít, cho nên mới làm ra quốc sử”
Một mục đích thực dụng như vậy đặt ra cho sử học tất nhiên đã ngăn cản không ít việc nói lên sự thật của lịch sử. Thường thì người ta chỉ chọn chép những sự kiện nào có lợi cho đường lối chính trị, hoặc làm thay đổi sự kiện cho phù hợp với ý muốn của nhà cầm quyền.
Nhưng ngay trong hàng ngũ các nhà sử học thời cổ cũng đã có người cho rằng cần làm thế nào để phục vụ đời sống và chính trị không làm haị đến thiên chức nói sự thật của nhà sử học. Chẳng những thế, họ còn cho rằng sử có chép đúng sự thật thì mới phục vụ tốt cho đời sống và chính trị. Ciceron ở la mã đã gắn historia magistra vitae(lịch sử chính yếu của cuộc sống) với yêu cầu đạt tới Lus Veritatis (ánh sáng của sự thật. Trong Deoratore, ông đã viết “luật thứ nhất của chép sử là không giám nói cái giả mạo, luật thứ hai là giám nói tất cả những gì là sự thật”.
Còn Lê Quý Đôn của chúng ta, ở đầu tập Đại Việt thông sử, đã dẫn một loạt các câu nói của các nhà sử học đời trước để coi việc chép sử đúng sự thật như một tôn chỉ của việc soạn sử. Và để giữ được tôn chí đó, cuối cùng ông đã chép lại câu của Yết Hề Tư đời Nguyên “ việc soạn sử phải lấy việc dùng người làm gốc, người có văn mà không biết chép sử thì không thể dự vào sử quán. Người có văn học lại kiêm biết cách soạn sử, nhưng bụng dạ bất chính cũng không được dự”.
Từ thế kỷ thứ 17 sử học thế giới đạt đến mẫu mực phê phán, đặt yêu cầu đem lại sự thật quá khứ. Và từ cuối thế kỷ thứ 19, khi sử học đạt đến mẫu mực cấu trúc và biện chứng, các hình ảnh của quá khứ mà sử học khôi phục còn phải được đặt trong cái toàn thể và sự vận động.
Nhưng biết sự thật không dễ, và dám nói lên sự thật nhiều khi càng khó hơn. Với ý của Yết Hề Tư mà Lê Quý Đôn đã dẫn, nhưng nói theo ngôn ngữ hiện đại thì như thế này :Muốn viết sử phải biết phương pháp sử học và trước hết phải là người trung thực chứ không phải là tên cơ hội .
Viết sử là một nghề, nói như người pháp là Métier D Historien. Người viết sử phải được luyện rèn tay nghề. Cách dạy nghề, tức các sách viết về phương pháp sử học, thường nói đến hai bước cơ bản trong công tác sử học : bước thứ nhất là từ sử liệu, khôi phục sự kiện; bước thứ hai là giải thích và đánh giá sự kiện.
Ngay từ bước thứ nhất đã có những khả năng dẫn nhà sử học xa rời sự thật, đó là vì sử liệu thiếu, và phổ biến hơn vì sử liệu không được phê phán nghiêm túc. Nguời ta chia sử liệu ra làm hai loại: sử liệu trực tiếp và sử liệu gián tiếp. Sử liệu trực tiếp xuất hiện cùng với sự kiện, chẳng hạn trống đồng Ngọc Lũ, khẩu pháo điện biên hay văn bản hiệp nghị Paris… là sử liệu trực tiếp. Còn sử liệu gián tiếp là sử liệu nói đến sự kiện này qua một thông tin gián tiếp, tức tác giả sử liệu. Loại sử liệu này cần được giám định cẩn thận vì thông tin nhận được đã qua trung gian người thông tin. Chẳng hạn hồi ký là sử liệu gián tiếp. Ở đây các sự kiện xảy ra không đồng thời với sử liệu, tức là trước lúc hồi ký được viết nhà sử học Liên Xô M.N.Thernomorski đã viết cả một quyển sách dày, có đầu đề “ hồi ký với tư cách là sử liệu lịch sử” để trình bày các phương pháp để nghiên cứu nguồn sử liệu gián tiếp này.
Hiện nay nhiều công trình nghiên cứu sử học của chúng ta đã sử dụng những nguồn sử liệu gián tiếp một cách thiếu thận trọng. Sử liệu gián tiếp bao gồm cả những lời kể về sau của những người đã chứng kiến sự kiện. Các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương hay lịch sử hiện đại, lịch sử đảng thường sử dụng nguồn tài liệu này, những lời kể như vậy thường được phân tích so sánh với các tư liệu khác, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng là cùng một sự kiện, có thể được trình bày rất khác nhau. Tình hình càng xảy ra là nếu người thông tin là người hiện có uy lực chi phối ở địa phương thì lịch sử sẽ được viết theo cách nhìn nhận của người đó.
Đối với các thời kỳ xa xưa, sự sai lầm càng dễ xảy ra, vì sử liệu càng hiếm hơn, khó kiểm tra hơn. Trong nhiều trường hợp để khôi phục sự kiện nhà sử học phải vận dụng đến sự suy đoán lôgích, và thậm chí cả sự tưởng tượng. Nhưng trong trường hợp sự kiện được trình bày mới chỉ là giả thiết thì điều đó phải được nói rõ, đừng để người khác tin rằng đó là sự thật đích xác. Trong nhiều công trình sử học hiện nay, cái mới chỉ là giả thuyết với cái đã là sự thật, thường bị làm lẫn lộn.
Chẳng hạn không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả. Sử cũ chỉ chép rằng trong trận chiến chống quân Tống ở sông Như Nguyệt, một đêm quân sĩ nghe ngâm bài thơ đó trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát, cóthể đoán rằng Lý Thường Kiệt đã cho người ngâm thơ. Đi xa hơn có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ. Nhưng đó chỉ là đoán thôi, làm sao nói chắc đựơc đó là bài thơ của Lý Thường Kiệt. Thế nhưng cho đến nay, mọi người tin rằng đó là sự thật, hay đúng hơn không ai giám nghi ngờ đó không phải là sự thật.
Ta còn có thể dẫn ra những ví dụ khác về những sự kiện chắc là không thật mà nay nghiễm nhiên là “sự thật”,  ngay cả trong giai đoạn lịch sử gần đây.
Các nhà sử học thường chủ yếu dựa vào nguồn sử liệu viết. Mà nước ta, các văn bản sử liệu thường bị biến chuyển ghê gớm. Đó là chưa kể sự xuất hiện những tài liệu giả. Nếu trình bày sự kiện mà dựa vào sử liệu đã bị biến đổi hay sử liệu giả thì hiển nhiên không tránh khỏi những sai lầm.
Chẳng hạn, cuốn Binh thư yếu lược hiện có, được coi là của Trần Hưng Đạo, là một cuốn sách giả từ đầu chí cuối . Các nhà nghiên cứu viện Hán Nôm vừa làm một việc có ý nghĩa là chứng minh được cuốn sách giả mạo đó đã hình thành như thế nào. Thế nhưng khi viết về cuộc kháng chiến chống Nguyên hay về Trần Hưng Đạo, một số người vẫn dùng cuốn sách giả này. Thậm chí có lãnh tụ đã trích dẫn cuốn sách này trong diễn văn của mình. Đó là lỗi của các nhà sử học, họ đã không thuyết minh đầy đủ khi cho in bản dịch tác phẩm giả mạo này.
Còn các văn bản bị biến đổi, sữa chữa qua các thời kỳ rất nhiều. Thậm chí các văn bản hiện đại. Ngay bức thư của chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các em học sinh mà hiện nay các em trong trường phổ thông vẫn học, vẫn trích, cũng đã sai, khác nhiều với văn bản đầu tiên còn được cất giữ ở cục lưu trữ Trung Ương. Các văn kiện khác cũng vậy. Về điểm này cần phải học tập thái độ của Mac và Angghen khi cho xuất bản Tuyên ngôn Đảng cộng sản năm 1872, hai ông viết rằng “Tuyên ngôn là một tài liệu lịch sử mà chúng tôi không có quyền sửa lại”. Các nhà sử học đòi hỏi phải có một thái độ như vậy đối với các văn kiện lịch sử.
Trên đây là chuyện phê phán sử liệu và miêu tả sự kiện, thực ra sự thật sẽ bị che lấp hay xuyên tạc là ở bước thứ hai, giải thích và đánh giá sự kiện. Đó là vì công việc này phụ thuộc vào mặt chủ quan của nhà sử học như quan điểm, nhận thức và nhân cách. Các nhà sử học chúng ta thường tự coi là người matxit nhưng bệnh thiên lệch lại hay dễ mắc. Mà thiên lệch, cường điệu một cách phiến diện, một mặt nào đó lại là đặc trưng của chủ nghĩa duy tâm . Vì vậy, nhiều sự thật lịch sử đã bị bỏ qua.
Trong một thời gian dài, do một động cơ tốt là phải tập trung binh lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các nhà viết sử chỉ chú ý đến các trang sử chống ngoại xâm trong lịch sử dân tộc. Không chỉ trong các công trình chuyên luận, mà cả trong các bộ thông sử, cũng chỉ tập trung khai thác truyền thống đánh giặc giữ nước. Một nhà sử học Liên Xô khi bình luận một quyển sử Việt Nam do Uỷ Ban Khoa học Xã hội xuất bản đã có một nhân xét thú vị là các bản đồ trong sách, trừ một bản đồ hình thể chung, đều là bản đồ các trận đánh. Trong thời gian qua, hàng loạt các vấn đề kinh tế – xã hội của lịch sử Việt Nam đã không được chú ý đầy đủ.
Cũng là đề cao truyền thống, chúng ta thường đánh giá một chiều, chỉ nhận thấy cái hay cái tốt, dường như người ta không chấp nhận có truyền thống xấu. Đến nay, trong công cuộc xây dựng đất nước, chúng ta đang cần đánh giá đúng về con người Việt Nam, mà phần lớn là tính cách, khả năng đã được quy định qua lịch sử. Phải phân tích trung thực và khoa học các ưu điểm và nhược điểm của con người Việt Nam, chứ không phải cái gì cũng khen.
Chúng ta đã được đọc cả một cuốn sách dày đề cao truyền thống khoa học kỹ thuật Việt Nam. Tôi nghĩ truyền thống khoa học kỹ thuật Việt Namcũng đã đạt được một số thành tựu về kỹ thuật. Nhưng đề cao quá đáng truyền thống khoa học kỹ thuật của người Việt Nam xưa thì là một sự tô hồng không thật. Vả lại, đề cao ông nghè Vũ Hữu cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16 đã tính đủ số gạch xây tường không thiếu một viên, khi trên thế giới không chỉ châu Au (thời Copernic) mà ở Ả Rập (thời Al Kashi) đã có những công trình toán học cao, thì chỉ là một việc lố bịch.
Rồi người ta lại đề cao cả những truyền thống của làng xã cổ truyền, nhấn mạnh tính dân chủ của nó. Không hiểu vì sao các nhà sử học tự coi mình là Mác xít lại có thái độ “dân tuý” đến như thế. Ngày nay, khi cái cung cách, cái tâm lý “việc làng” đang khoác áo xã hội đi giữa chúng ta, các nhà sử học phải xem xét lại thái độ của mình trong việc đánh giá làng xã cổ truyền. Lịch sử Việt Nam anh hùng thật, vinh quang thật, trình bày nó lúc nào, chỗ nào cũng tốt đẹp cả, rực sáng cả thì quả là không thật. Nhà sử học không chỉ ngâm ngợi những thiên anh hùng ca mà không biết đến những khúc bi ca trong lịch sử.
Cũng thường thiên lệch khi chúng ta đánh giá các nhân vật lịch sử. Con người là cả một hệ thống những mối quan hệ phức tạp, bị quy định bởi các điều kiện xã hội tự nhiện, lịch sử. Thiếu một sự đánh giá xuất phát từ chủ nghĩa lịch sử dường như là căn bệnh chung của chúng ta. Một số người đã chỉ trích các nhân vật lịch sử vì họ không giống ta. Một số lại quá yêu các nhân vật đó, đến chỗ miêu tả tư duy và hành động của họ cứ y như là họ đã được học tập chủ nghĩa Mac- Lênin.
Chúng ta hãy nhớ lời Mac :” khoa học càng vô tư và không thiên vị thì càng phù hợp với quyền lợi và nguyện vọng của người công nhân”. Một nền sử học muốn tự biểu hiện là Macxít chân chính, chẳng những phải đặt cho mình nhiệm vụ khám phá chân lý của lịch sử, mà còn phải tỏ rõ khả năng đạt được sự thật khách quan. Cho đến nay nhiều học giả tư sản vẫn nghi ngờ tính khách quan của sử học. Ngay người bạn của chúng ta là Bertrand Russell cũng nói rằng:” sử học chỉ là dẫn ra những ngu xuẩn ngày hôm qua để giúp con người chịu đựng được những ngu xuẩn ngày hôm nay”. Chúng ta phải bác bỏ  những luận bằng cách chứng minh rằng nền sử học của chúng ta có khả năng đạt được sự thật khách quan, chứ đừng tiếp tục giúp thêm chứng cứ cho những luận điểm đó
Từ khi chủ nghĩa duy vật biện chứng và lịch sử macxít ra đời, khám phá ra cơ chế hoạt động của sự thật phát triển xã hội, các nhà sử học được cung cấp một mô hình giải thích lịch sử có tính nhất thể – năng động, kết hợp cả hai mặt cấu trúc và biến đổi. Sử học vươn tới phát hiện quy luật và nhờ đó sử học không những nhận thức được quá khứ mà còn chuẩn bị cho những khả năng dự báo. Nhưng sử học muốn thực hiện các chức năng đó, khảo sát con đường đã qua và góp phần nhận thức con đường sắp tới, một điều kiện cơ bản là phải biết sự thật và nói lên sự thật.
Đã là con người, không phải là ông thánh, thì có lúc đúng lúc sai. Đó là chuyện thường tình. Nhưng thật là không công bằng khi chỉ vì khuyết điểm của thời kỳ này, ta sổ toẹt hết cả công lao của nhân vật đó, khi ở thời kỳ khác, đóng góp của người đó rõ ràng, không thể chối cãi. Nhà sử học Mác xít không thể chấp nhận một thái độ như vậy. Tại sao chúng ta không noi gương Lênin trong việc đánh giá nhân vật như Plê-kha-nốp?.
GS Hà Vãn Tấn
Tạp chí Tổ quốc, tháng giêng, 1988.
In lại trong: Một số vấn đề Lý luận Sử học, Nxb ĐHQGHN, 2007