Thứ Bảy, ngày 19 tháng 1 năm 2013

Quyết liệt vì Hoàng Sa

Ngày này cách đây đúng 39 năm, Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Hành động phi pháp ấy đã vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của người Việt Nam và sự lên án mạnh mẽ của thế giới.
Ngày 25.11.2011, trong phát biểu trước Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề cập tới hai thời điểm Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam: “Năm 1956, Trung Quốc đã đưa quân chiếm đóng các đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Đến năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý của chính quyền Sài Gòn, tức chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Chính quyền VNCH lúc đó đã phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Chính phủ lâm thời cách mạng miền Nam Việt Nam lúc đó cũng ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này”. Thủ tướng cũng cho biết Chính phủ Việt Nam sẽ kiên trì đòi lại Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình.
Phát biểu của người đứng đầu Chính phủ của một đất nước Việt Nam thống nhất đã nhắc chúng ta nhớ tới một ngày bi tráng của 39 năm về trước, khi đất nước còn chia đôi. Đó là ngày 19.1.1974, Trung Quốc nổ súng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa. Các chiến hạm cùng quân nhân VNCH đã chiến đấu quyết liệt, nhưng cuối cùng với một lực lượng mạnh hơn, Trung Quốc đã chiếm được cụm phía tây của quần đảo Hoàng Sa, sau khi đã chiếm cụm phía đông hồi thập niên 1950, qua đó chiếm đóng phi pháp toàn bộ quần đảo này từ đó đến nay.
Xâm lăng
Trận hải chiến Hoàng Sa diễn ra trong khoảng 30 phút vào ngày 19.1.1974, nhưng trước đó nhiều ngày, Trung Quốc đã bắt đầu những chuyển động cho hành trình xâm lược của mình. Ngày 10.1, tàu Trung Quốc bắt đầu xuất hiện trong khu vực cụm tây quần đảo Hoàng Sa. Sau đó một ngày, Bộ Ngoại giao nước này phát đi từ Bắc Kinh tuyên bố rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc và VNCH đang chiếm đóng phi pháp. Ngay lập tức, Tổng trưởng Ngoại giao Vương Văn Bắc của chính quyền Sài Gòn đã bác bỏ luận điệu ngang ngược này và lên án hành động xâm lăng gây hấn của Trung Quốc.
Lúc bấy giờ, về mặt quân sự, phía Việt Nam chỉ có một trung đội địa phương quân thuộc Chi khu Hòa Vang trú đóng trên đảo Hoàng Sa. Để tăng cường sức mạnh bảo vệ biển đảo, Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải vào ngày 15.1 đã ra lệnh cho tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), do trung tá Lê Văn Thự làm hạm trưởng, trực chỉ Hoàng Sa. Tiếp theo, khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) do trung tá Vũ Hữu San chỉ huy đang tuần tra vùng biển ngoài khơi Quảng Ngãi cũng được lệnh tức tốc tới bảo vệ Hoàng Sa. Sau đó, do diễn biến phức tạp, tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) và hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10) cũng đã được điều động. HQ-5 là soái hạm, với hạm trưởng là trung tá Phạm Trọng Quỳnh; còn HQ-10 do thiếu tá – Hạm trưởng Ngụy Văn Thà chỉ huy. Ban Chỉ huy công tác trên biển của chiến dịch bảo vệ Hoàng Sa được đặt trên tàu HQ-5, với đại tá Hà Văn Ngạc thừa lệnh Tư lệnh HQ Vùng 1 Duyên hải làm chỉ huy trưởng.
Trong thời gian này, phía Trung Quốc đã cho tàu cá chở quân lính giả dạng ngư dân tiến chiếm một số đảo. Công điện 50.356 của Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải gửi HQ-4, HQ-5 và HQ-16 cho biết: “Trung Cộng đã bất thần tiến chiếm các đảo Robert (Cam Tuyền – NV), Duncan (Quang Hòa), Drummond (Duy Mộng) và Money (Vĩnh Lạc) thuộc quần đảo Hoàng Sa kể từ ngày 10.1.1974. Hiện có 2 tàu loại 100 tấn neo đậu tại đảo Robert… Trên đảo Duncan có 1 chòi quan sát… Tại đảo Money có 1 hầm còn mới…”. Công điện còn cho biết phi cơ của Sư đoàn 1 Không quân đang trực ở sân bay Đà Nẵng. Nhiệm vụ được giao cho lực lượng bảo vệ Hoàng Sa là trước hết sử dụng đường lối ôn hòa, yêu cầu kẻ địch rút khỏi lãnh thổ Việt Nam, trong trường hợp địch khai hỏa thì “tập trung khả năng để tiêu diệt địch”, lệnh từ văn phòng chỉ huy ở Đà Nẵng truyền ra cho HQ-5 nêu rõ.
Lúc bấy giờ, lực lượng chiến đấu của phía Trung Quốc có 11 tàu, trong đó có 2 tàu chống ngầm Krondstadt, 2 tàu quét lôi, vài tiểu đoàn thủy quân lục chiến và một số tàu chở quân. Bên cạnh đó, Trung Quốc còn có một đội quân dự phòng ở Hải Nam, trong đó có nhiều tàu tên lửa Komar và Osa.
Bản đồ Hải chiến Hoàng Sa 1974. Các chiến hạm VNCH (ảnh nhỏ) – Đồ họa: Hồng Sơn
Nổ súng
Sáng sớm 19.1, một toán Biệt hải từ HQ-4 và một đội Hải kích từ HQ-5 chia làm hai mũi dùng bè cao su đổ bộ lên tái chiếm đảo Quang Hòa. Một cuộc đọ súng xảy ra giữa quân VNCH và quân Trung Quốc đã chiếm đảo này từ trước cùng với số mới đổ bộ từ các chiến hạm gần đấy. Cuộc giao tranh này khiến 2 quân nhân VNCH tử thương và sau đó, do quân số ít hơn rất nhiều, hai toán đổ bộ của VNCH đã phải rời đảo, trở lại tàu.
Lúc này, các tàu chiến trên biển đã di chuyển theo đội hình chiến thuật, bộ chỉ huy trên soái hạm HQ-5 chỉ định mục tiêu cho từng chiến hạm thành viên để tiêu diệt. Theo đó, HQ-5 đối đầu tàu Krondstadt 274; HQ-4 đối đầu Krondstadt 271; HQ-10 đối đầu trục lôi hạm 396; HQ-16 đối đầu trục lôi hạm 389. Lúc 10 giờ 22 sáng 19.1.1974, lệnh tác xạ đồng loạt vào các chiến hạm Trung Quốc được ban hành từ HQ-5. Thông tin công khai trước đây cho rằng tàu Trung Quốc đã nổ súng trước. Tuy nhiên, mới đây, nguyên Hạm trưởng HQ-4 Vũ Hữu San xác nhận rằng, lúc bấy giờ, tàu chiến của VNCH đã “chủ động khai hỏa”. Ngay trong những phút đầu, một chiếc Krondstadt đã bị trúng đạn bốc cháy. Sau đó, chiếc Krondstadt thứ hai cũng hư hại và phải ủi vào rạn san hô gần đó để khỏi chìm. Phía VNCH cũng chịu tổn thất khi HQ-4 và HQ-5 đều trúng đạn nhưng vẫn còn chiến đấu được; HQ-16 bị hư hại nặng hơn và phải dần rút khỏi vòng chiến. Riêng HQ-10, là tàu nhỏ nhất, bị bắn chìm và Hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử trận.
Đến gần 11 giờ, có tín hiệu cho thấy Trung Quốc đang tăng viện với các tàu tên lửa Komar xuất hiện từ phía xa. Nhận thấy tình thế bất lợi, chỉ huy trưởng Hà Văn Ngạc đã ra lệnh cho toàn bộ lực lượng rời vùng giao tranh. Trong cuộc chiến này, theo con số thống kê chưa đầy đủ, 53 quân nhân VNCH đã bỏ mình vì nước; một số quân nhân và nhân viên khí tượng bị bắt làm tù binh và đã được trao trả sau đó. Phía Trung Quốc có 4 tàu bị bắn hỏng và 18 binh sĩ chết.
Sau trận chiến ngắn ngủi nhưng ác liệt, Trung Quốc đã chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Dù thế, trận hải chiến 1974 một lần nữa khẳng định ý chí bất khuất của người Việt Nam trong sứ mệnh bảo vệ chủ quyền. Trước một kẻ thù mạnh hơn và trong một tình hình chính trị chung có nhiều diễn biến bất lợi, các quân nhân đã kiên cường nổ súng vào kẻ xâm lăng. Cuộc chiến đó cũng một lần nữa làm nổi rõ tính phi nghĩa của Trung Quốc tại Hoàng Sa và trên toàn biển Đông về sau, như tuyên cáo của Bộ Ngoại giao VNCH số 015/BNG sau trận hải chiến 1974 đã vạch rõ: “Các hành động quân sự của Trung Cộng là hành vi xâm phạm trắng trợn vào lãnh thổ VNCH”. Hành động dùng vũ lực để chiếm lãnh thổ của nước khác đi ngược lại với Hiến chương LHQ, và vì thế, dù cho đã chiếm đóng toàn bộ Hoàng Sa gần 40 năm qua, Trung Quốc mãi mãi vẫn không có được một tư cách hợp pháp đối với vùng lãnh thổ này.
Tư liệu cho bài viết này được lấy từ Tài liệu Hải chiến Hoàng Sa (Vũ Hữu San, Trần Đỗ Cẩm), qua trao đổi với ông Vũ Hữu San và một số cựu quân nhân tham gia trận hải chiến cũng như tham khảo nhiều tài liệu khác.
Đỗ Hùng
Theo Thanh Niên

Thứ Sáu, ngày 18 tháng 1 năm 2013

“Trỗi mà không thể nào dậy nổi!”

Trong tác phẩm Giấc mơ Trung Quốc được dư luận đánh giá cao, đại tá, giáo sư Đại học quốc phòng Trung Quốc Lưu Minh Phúc viết “Có 3 mâu thuẫn lớn có thể làm cho Trung Quốc “trỗi mà không thể dậy nổi”: (1) Mâu thuẫn giữa con người với thiên nhiên, (2) mâu thuẫn giữa người với người, (3) mâu thuẫn giữa Trung Quốc với thế giới. Thuyết “Trung Quốc đe dọa” là bài toán khó theo giáo sư Lưu, đòi phải có lời giải “sáng tạo mới về chính trị”. Vậy mà nhà cầm quyền Bắc Kinh không chịu nghe lời khuyên sáng suốt đó, chỉ làm ngược lại! 
Từ đầu năm tới nay, Trung Quốc liên tục tiến hành các hoạt động gây hấn trên biển Hoa Đông và Biển Đông. Truyền thông Trung Quốc công bố, nước này sẽ xuất bản bản đồ mới nêu tên 130 hòn đảo trên Biển Đông, trong đó có nhiều đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam, nhằm hợp thức hóa sự xâm chiếm bất hợp pháp bằng thủ tục hành chính. Mới đây, họ chính thức công bố nội dung có hiệu lực “Điều lệ quản lý trị an biên phòng ven biển Hải Nam”; tổ chức tập trận tại đảo Quang Hòa thuộc quần đảo Hoàng Sa; phê duyệt “Quy hoạch phát triển du lịch tàu khách thành phố Tam Á 2012 – 2022, trong đó có tuyến đi tới các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa…

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị khẳng định: “Những hoạt động nêu trên của phía Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam tại biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, làm cho tình hình Biển Đông thêm phức tạp, trái với tinh thần DOC, không có lợi cho hòa bình ổn định trong khu vực và quan hệ Việt Nam- Trung Quốc. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ ngay các hoạt động sai trái đó”. 

Các nước trong vùng đều có những động thái phản ứng mạnh mẽ. Nhật Bản liên tục có những phản ứng càng ngày càng quyết liệt hơn. Ngày 13-1 Lực lượng phòng vệ Nhật “tập trận tái chiếm đảo” với 2000 quân. Ngày 14-1 tổ chức diễn tập nhảy dù bảo vệ đảo và điều thêm tàu tuần tra tới gần khu vực Senkaku/Điếu Ngư. Philippines yêu cầu Trung Quốc lý giải việc điều tàu hải giám đến các đảo tại Biển Đông và tấm bản đồ xâm phạm chủ quyền nhiều nước, gây căng thẳng mới trong khu vực. Philippines đã nâng quan hệ liên minh quân sự với Mỹ lên những bước cao hơn và mới đây được Tokyo thỏa thuận cấp 10 tàu hải giám bằng vốn vay ưu đãi, nhằm tăng cường lực lượng phòng vệ bờ biển, “kiên quyết sẽ bắn trả và làm chìm tàu kẻ nào gây hấn”. Ngoại trưởng Úc khẳng định việc hợp tác an ninh giữa ba nước Mỹ, Nhật, Úc là vô cùng quan trọng. Thủ tướng Nhật Shinzo Abe quyết định chuyến thăm nước ngoài đầu tiên là Việt Nam, Thái Lan, Indonesia (hồi năm 2006 khi đắc cử Thủ tướng, ông đã chọn Trung Quốc cho chuyến thăm đầu tiên). Mới đây, ông cho thông báo, sẽ cử Chủ tịch UBĐN Hạ viện chuyển thông điệp của Tokyo đến NATO đề nghị cùng tăng cường quan hệ chặt chẽ hơn, nhằm kiềm chế hành động hung hăng của Trung Quốc. Thời báo Hoàn Cầu vội vàng bình luận rằng, Tokyo nhất định thất bại “vì NATO còn phải lo việc ổn định của Châu Âu”. Nhưng có lẽ họ quên rằng từ tháng 5-2012, cuộc họp NATO tại Mỹ, đã đưa ra mô hình “Đối tác toàn cầu” gồm tám nước Iraq, Pakistan, Afghanistan, Mông Cổ, Úc, Hàn Quốc, New Zealand và Nhật. Hiện nay, NATO đang mở rộng hoạt động toàn cầu, đặc biệt là khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thể hiện qua chiến lược của Mỹ. Ấn Độ cũng tuyên bố sẵn sàng đưa tàu chiến ra Biển Đông để bảo vệ quyền lợi của mình…

Nhiều học giả trung thực của Trung Quốc lên tiếng cho rằng, cách hành xử như trên chỉ gây ra rối ren, “hoàn toàn bất lợi cho Trung Quốc” (Học giả Lý Lệnh Hoa, Trung tâm tin tức Hải Dương). Thời Tây Hán (179 trước CN) Tư Mã Tương Như có lời răn: “Kẻ khôn ngoan biết tránh được tai họa khi nó chưa đến”.  Mong rằng lãnh đạo Bắc Kinh sẽ kịp học khôn sớm từ bỏ lối hành xử vượt xa các ông trùm phát xít để tránh kết cục như dự báo của đại tá giáo sư Lưu Minh Phúc: “Trỗi mà không thể nào dậy nỗi!”
Tống Văn Công
Theo Viet Studies

"Nghĩa trang đỏ"

Chính khi biển Đông đang dậy sóng và chủ quyền quốc gia bị đe dọa thì sự đoàn kết toàn dân từ trong nước đến cộng đồng người Việt Nam ở nước mgoài lại càng thúc bách hơn lúc nào hết.

Trong khi tin tức về hành động xâm phạm chủ quyền quốc gia Việt Nam của Trung Quốc thông qua tập bản đồ đang gây phản ứng mạnh mẽ trên đất liền, thì ngoài biển khơi, các đoàn tàu vẫn rẽ sóng biển Đông, thăm và chúc tết cán bộ, chiến sĩ và nhân dân huyện đảo Trường Sa.

Yêu nước tất nhiên không quên những người đã hy sinh mạng sống để bảo vệ đất nước. Vì vậy, theo thông lệ mỗi lần đi Trường Sa, các đoàn thường tổ chức lễ tưởng niệm 64 chiến sĩ hải quân đã anh dũng hi sinh bảo vệ cụm đảo Gạc Ma, Len Đao, Cô lin trong cuộc tấn công của Trung Quốc vào ngày 14.3.1988. Những người anh hùng hòa thân vào vùng biển quê hương, không có những nấm mộ với những tấm bia tạc bằng đá hoa cương, nên trên mặt biển đầy những vòng hoa đỏ rực trong ngày tưởng niệm, vì thế có tên gọi là “Nghĩa trang đỏ”. Sự xúc động và lòng biết ơn những người lính trỗi dậy mạnh mẽ trong những ngày này.

Những chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam anh dũng hy sinh để bảo vệ Trường Sa được nhân dân ghi nhớ và lịch sử dân tộc còn ghi lại rất nhiều những tấm gương anh dũng hi sinh vì biển đảo của Tổ quốc thân yêu ở các thời điểm khác nhau. Dù bất cứ thời điểm nào, họ đều là những người con đã chiến đấu để bảo vệ đất đai của tổ tiên để lại. Họ cũng có cha mẹ, vợ con và tất nhiên nỗi đau của sự mất mát không hề có sự khác biệt, chiến đấu và chết vì đất nước quê hương thì dù như thế nào cũng đều là những anh hùng dũng sĩ. Linh hồn của họ đều nằm trong “Nghĩa trang đỏ” trên biển Đông của Tổ quốc Việt Nam.

Chính khi biển Đông đang dậy sóng và chủ quyền quốc gia bị đe dọa thì sự đoàn kết toàn dân từ trong nước đến cộng đồng người Việt Nam ở nước mgoài  lại càng thúc bách hơn lúc nào hết.
Lê Chân Nhân
Theo Dân Trí

Bên thắng cuộc - logic sử học chưa phù hợp (bản gốc)

Hôm nay, dư luận và cộng động mạng xã hội có nhiều ý kiến về bài viết của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh đăng trên báo Pháp luật TP.HCM, nhất là những đoạn liên quan đến cuốn sách mới Bên thắng cuộc của nhà báo Huy Đức.

Bạn bè đã lâu với ông Thanh, tôi có thể khẳng định mà không sợ sai rằng ông là một nhà nghiên cứu nghiêm túc, cẩn trọng; những phát ngôn hoặc bài viết của ông thường thể hiện sự suy nghĩ chín chắn, đầy đủ, vừa bao quát vừa có chiều sâu, và đặc biệt khách quan, bày tỏ thái độ cũng như cách đánh giá rõ ràng. Tuy nhiên, trong bài đăng báo Pháp luật nói trên, tôi thấy không toát lên điều ấy.

Cũng vừa may, chiều tối, ông Cao Tự Thanh gọi cho tôi bảo rằng ông đang rất phiền lòng vì bài gốc đã bị cắt xén, lược bớt, thay đổi cho phù hợp với ý đồ của người biên tập và tờ báo. Tôi đề nghị ông cho tôi bài gốc đã được ông chấp nhận trước khi đăng báo, và ông đã chuyển cho tôi, vậy xin đưa lên đây để mọi người cùng rõ quan điểm đầy đủ của một nhà nghiên cứu cẩn trọng.
17.1.2013
Nguyễn Thông
Bài trên báo Pháp luật TP.HCM: “Bên thắng cuộc – logic sử học chưa phù hợp”  (đọc ở đây)

Còn đây là bài gốc: Phỏng vấn người kết thúc việc phiên dịch Đại Nam Thực lục ở Việt Nam

Lịch sử Việt Nam thế kỷ XX từ góc nhìn quốc tế hóa và hiện đại hóa

Tháng 10. 2011, Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên viết về lịch sử Việt Nam dưới hai đời Thành Thái, Duy Tân của Quốc sử quán triều Nguyễn đã ra mắt người đọc (được in lần thứ hai tháng 8. 2012). Đến nay, trước thềm năm mới, tháng 12. 2012 Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ thất kỷ viết về lịch sử Việt Nam dưới đời Khải Định lại tiếp tục ra mắt người đọc, cả hai quyển đều do nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu, Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản. Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh đã có cuộc trao đổi với anh, người kết thúc việc phiên dịch Đại Nam Thực lục ở Việt Nam.

Bộ Đệ thất kỷ này anh làm trong bao lâu?

Nó ngắn hơn bộ Đệ lục kỷ Phụ biên, nhưng tôi phải làm mất tám tháng. Vì nhiều chuyện mà nó ghi chép cũng được nhiều sách báo tài liệu đương thời ghi chép, không đối chiếu với những tài liệu ấy thì không thể hiểu rõ và dịch đúng được. Ngay từ cuối 2011 đầu 2012 Thư ký của tôi đã phải ra Hà Nội hai lần trong hai tháng để tìm đọc và sao chép tư liệu trong một số báo chí sách vở thời gian 1916 – 1925, đây là chưa kể tới công sức và thời gian của những người đã giúp đỡ tôi. Ví dụ phía Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp mà không vui lòng chụp giúp cho nguyên bản, thì tôi lấy gì mà dịch. Họ hỗ trợ người khác với tinh thần khoa học, chứ có phải với cung cách như ở xứ ta đâu!

Có vẻ như anh gặp nhiều khó khăn trong việc tập hợp tư liệu tham khảo?

Có đấy. Ví dụ tôi biết bản in 26 tờ mộc bản của bộ Đệ thất kỷ có bản dập ở Thành phố Hồ Chí Minh, cũng đã có được nội dung phần Phàm lệ trong đó, nhưng gọi điện xin qua xem lại thì người lãnh đạo cơ quan Lưu trữ ở Thành phố nói không có, cứ lên Đà Lạt đọc. Sau đó có một người bạn ở Viện Hán Nôm vào Thành phố công tác, có đủ giấy tờ, tôi nhờ hỏi giúp thì nhân viên ở đó nói có lệnh của cấp trên không cho đọc bản dập mộc bản. Cô ấy ra Hà Nội xin đủ giấy tờ liên hệ thì người lãnh đạo Lưu trữ ở Đà Lạt nói cô ấy nghiên cứu Đông y chứ không phải nghiên cứu lịch sử, không cho sao chụp. Mớ mộc bản ấy đều thuộc loại tư liệu lịch sử được tham khảo, mà người đọc cũng chỉ cần xem bản dập, cô ấy là người nhà nước, có đủ giấy tờ còn không được đụng tới, thì loại thảo dân như tôi biết tìm ai chứng nhận mình nghiên cứu cái gì để được đọc cái gì. Họ không cho đọc tôi cũng chẳng mất gì, có điều nếu trong 26 tờ mộc bản tức bản in chính thức ấy có chỗ nào khác với bản Đệ thất kỷ chép tay của Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp thì người đọc không được chửi tôi, thế thôi.

Còn nói thêm thì hệ thống Lưu trữ – Thư viện ở nước ta rất kém. Thư ký của tôi đọc tư liệu về cho biết có những bộ báo trước 1945 ở Thư viện Quốc gia Hà Nội nhiều năm không ai đụng tới, để đứng trên giá lâu ngày cong quằn thành hình chữ S, mượn ra đọc nhân viên thư viện mới biết là báo nát, sau đó không phục vụ nữa. Họ không đưa ra phục vụ để giữ gìn tài liệu là phải, nhưng như thế thì giữ những tư liệu ấy làm cái gì, thư viện đâu phải là bảo tàng? Cũng có một số cũ nát được lưu trữ và phục vụ bằng vi phim kiểu những năm 50 của thế kỷ trước, nhưng sử dụng và bảo quản đều rất bất tiện. Phải có kế hoạch và kinh phí, kỹ thuật này nọ để số hóa các tài liệu ấy chứ. Tôi hy vọng những người có trách nhiệm quan tâm tới những chuyện loại này, để hệ thống Lưu trữ – Thư viện của quốc gia làm tròn chức trách của mình với xã hội.

Anh nghĩ gì về việc đã kết thúc việc phiên dịch Đại Nam Thực lục?

Tôi chỉ nghĩ dịch hai bộ sử đó là việc phải làm, mình làm được thì cứ làm hết sức, còn kết thúc hay không thì có hề gì, chuyện chung thiên hạ ai mà độc quyền được. Với lại kết thúc một cái gì đó thì phải mở ra một cái gì đó, nếu không mở ra được thì cái kết thúc ấy có giá trị gì đâu.

Anh không lạc quan về việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam, lịch sử triều Nguyễn hiện nay à?

Vài ngàn trang tư liệu trong hai bộ sử chữ Hán tôi dịch có thể cũng quan trọng, nhưng còn hàng triệu trang tư liệu chữ Hán chữ Pháp và cả chữ quốc ngữ khác chắc chắn cũng quan trọng nhưng thử hỏi có bao nhiêu người làm sử lâu nay nhìn tới. Mà tư liệu chỉ là một phần của sử học. Ví dụ nhiều năm nay lịch sử Việt Nam thế kỷ XX chỉ được nhìn qua lăng kính sử Đảng, có khi còn được nhất hóa với sử Đảng, không khắc phục được sai lầm sử học này thì còn lâu chúng ta mới có được một bộ quốc sử đúng nghĩa ít nhất là về thế kỷ XX.

Trong phần giới thiệu Đệ thất kỷ, anh có nói lịch sử Việt Nam từ thời Pháp thuộc trở đi bị chi phối bởi hai tiến trình quốc tế hóa và hiện đại hóa, trong đó tiến trình quốc tế hóa đi trước và chia thành hai dòng quốc tế hóa cưỡng bức – quốc tế hóa tự nguyện. Xin anh giải thích rõ hơn về hai tiến trình này?

Trong lịch sử, sự tiếp xúc và giao lưu giữa các dân tộc và quốc gia luôn luôn diễn ra nhưng chủ yếu trong phạm vi nhỏ, không toàn diện và nhiều khi mang tính chất ngẫu nhiên. Nếu không có kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa thì không thể có phong trào quốc tế hóa như một quy luật phát triển của lịch sử thế giới từ thế kỷ XIX trở đi. Hiện nay người ta gọi đó là toàn cầu hóa, vì tính chất cưỡng bức đã giảm đi rất nhiều và quan trọng hơn là mang tính đa phương đa chiều chứ không phải chủ yếu là một chiều như trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Tôi có viết trong lời giới thiệu Đệ thất kỷ rằng “Khác với hiện đại hóa cơ bản là sự thay đổi các tổ chức, thiết chế, quan hệ trong cấu trúc kinh tế – xã hội theo hướng hoàn thiện hơn để phù hợp với nhu cầu và xu thế trước hết của các hoạt động sản xuất cả vật chất lẫn tinh thần trong quốc gia, quốc tế hóa chủ yếu là sự tiếp thu các mô hình, chuẩn mực, giá trị nước ngoài trên phạm vi rộng và với quy mô lớn để thích ứng trước hết với sự giao dịch thế giới. Tiến trình quốc tế hóa do đó dễ phát triển theo đường hướng ly khai truyền thống, ít nhiều tách rời với những điều kiện có thật và tạo ra những mâu thuẫn trong tiến trình văn hóa – xã hội của đất nước”. Dĩ nhiên đó chưa chắc là một cách hiểu thật chính xác, vì đây là một vấn đề lịch sử và sử học rất lớn, phải có nhiều người cùng quan tâm và tìm hiểu mới làm rõ được. Nhưng tôi giới thiệu Đệ thất kỷ, chủ yếu chỉ nói đến thời điểm 1925 thì xác định nội hàm của khái niệm như vậy là tạm đủ để làm việc rồi. Còn quốc tế hóa tự nguyện là tôi muốn nói tới việc nhiều tổ chức và lực lượng yêu nước trước 1945 tiếp nhận các kinh nghiệm, chuẩn mực, giá trị nước ngoài để chống Pháp, ví dụ Phan Bội Châu và nhiều chí sĩ Đông du từng qua Nhật học tập với ý định tiến tới cầu viện Nhật Bản. Cái chính thống góp phần quy định cái phi chính thống, đã có quốc tế hóa cưỡng bức của Pháp thì sẽ có quốc tế hóa tự nguyện để chống Pháp, đó là một trong những logic của lịch sử Việt Nam thế kỷ XX.

Có thể vận dụng cách nhìn ấy để nhìn nhận lịch sử Việt Nam trước và sau 1975 không, xin anh nói rõ?

Có hai điểm phải nói thêm. Thứ nhất là trên bề mặt thì quốc tế hóa và hiện đại hóa có rất nhiều nét giống nhau, nên nhiều khi người ta tưởng là mình hiện đại hóa nhưng thật ra là đang quốc tế hóa. Giáo dục Việt Nam nhiều năm nay là một ví dụ, nhiều trường Đại học theo chương trình tiêu chuẩn quốc tế này nọ mà có đáp ứng được nhu cầu của đất nước đâu. Cho nên phải nhìn vào bản chất và chức năng, tôi có nói qua ở đoạn trích trên kia rồi.

Thứ hai là quốc tế hóa và hiện đại hóa cơ bản không mâu thuẫn với nhau, nhưng ở Việt Nam thế kỷ XX thì ách đô hộ của ngoại nhân đến 1945 rồi chiến tranh liên miên từ 1945 đến 1975 đã tạo ra giữa hai tiến trình này một sự lệch pha, sự lệch pha ấy dẫn tới nhiều mâu thuẫn về nhận thức xã hội ảnh hưởng bất lợi tới sự phát triển đất nước. Ví dụ sau giải phóng thì nhiều yếu tố văn hóa thị dân trong vùng tạm chiếm ở miền Nam trước đó bị đồng nhất với văn hóa thực dân mới, quần loe bị rọc, tóc dài bị cắt, truyện võ hiệp bị cấm. Chủ trương hòa giải và hòa hợp dân tộc đúng đắn thời bấy giờ lẽ ra đã đạt được hiệu quả xã hội cao hơn rất nhiều nếu không có sự lạc hậu như thế về nhận thức ở nhiều người chiến thắng vốn chưa sống trong bối cảnh kinh tế hàng hóa nên không có ý niệm đúng đắn về sinh hoạt thị dân.

Tiến trình hiện đại hóa ở Việt Nam trước 1945 chỉ đạt được kết quả phiến diện và nửa vời, vì nó được hướng tới phục vụ cho lợi ích của ngoại nhân chứ không phải cho nhân dân Việt Nam. Kinh tế xã hội Việt Nam năm 1945 còn rất lạc hậu, tiến hành chiến tranh chống Pháp xong đã chết dở, nên qua thời kỳ 1954 – 1975 hai bên tham chiến đều phải dựa vào nước ngoài. Nhiều tài liệu gọi đó là “cuộc chiến tranh hai phe”, tức tính chất quốc tế hóa của lịch sử Việt Nam thời gian 1954 – 1975 đã được xác nhận rõ ràng. Về nội dung thì chiến tranh chống Mỹ nhằm giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, nhưng về tính chất thì đó là một cuộc đấu tranh giữa hai đường hướng và cách thức quốc tế hóa khác nhau. Hàng chục quyển sách, hàng ngàn bài viết của những người lưu vong hay đối lập mà tôi đọc thấy trước nay cũng thế, cũng chỉ là muốn Việt Nam quốc tế hóa theo những đường hướng khác với nhà nước Việt Nam, rất giống nhau về cách tư duy, chỉ là quyền lợi khác nhau thì con đường khác nhau.

Sau 1975 tiến trình quốc tế hóa về chính trị ở Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển mặc dù là quốc tế hóa tự nguyện như điều 4 trong Hiến pháp 1980 rồi Hiến pháp 1992 ít nhiều cho thấy, trong khi việc hiện đại hóa về các mặt kinh tế, văn hóa và pháp lý tức nền tảng vật chất, cơ sở xã hội của chính trị thì không được quan tâm đúng mức. Từ thời đổi mới đến nay kinh tế có sự phát triển nhảy vọt nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhiều người nhắc nhở chuyện phát triển bền vững thật ra là nói tới việc hiện đại hóa, tức phát triển trên cơ sở tái sản xuất mở rộng sức mạnh của chính đất nước đấy. Nhưng từ thời đổi mới, trong nhiều lãnh vực văn hóa và xã hội tốc độ quốc tế hóa lại nhanh hơn tốc độ hiện đại hóa. Nhiều giá trị, chuẩn mực nước ngoài dần dần chiếm ưu thế trong khi mặt bằng dân sinh và dân trí chưa phát triển đủ mức cần thiết để tiếp nhận và sử dụng chúng một cách chủ động và có hiểu biết. Tôi cho rằng nếu chúng ta không điều chỉnh được sự lệch pha này thì đó sẽ là một đại họa của dân tộc Việt Nam. Còn nói rộng ra thì Trung Quốc cũng đang chết dở vì sự lệch pha nói trên, nhưng họ là một nước lớn nên còn gây tai họa cho nhiều nước khác.

Mới đây, quyển sách Bên thắng cuộc gây ra nhiều ý kiến đánh giá trái chiều. Với cách nhìn nói trên thì anh đánh giá thế nào về quyển sách này?

Về tư liệu thì quyển sách ấy nêu ra nhiều chuyện tôi không biết. Nhưng tư liệu chỉ là một phần của sử học, còn phải có tri thức, phương pháp và bản lãnh thì may ra tư liệu mới giúp người ta thành sử gia được.

Cùng một số tư liệu như nhau nhưng trình bày khác nhau sẽ dẫn tới hiệu ứng thông tin khác nhau. Ví dụ một ông lãnh đạo cơ quan nhận xét cán bộ rằng “Anh A năng lực chuyên môn cao nhưng vô kỷ luật” thì y kẹt rồi, nhưng nếu ông ta nói “Anh A vô kỷ luật nhưng năng lực chuyên môn cao” thì y sẽ dễ sống hơn. Hay tôi có một đứa cháu con người bạn, lớn rồi mà ham học nên không lo chuyện vợ con, cứ xin cha mẹ cho đi du học hết Úc lại tới Trung Quốc. Có lần Tết y về tôi tới chơi gặp y bèn vu cáo “Sao mày không lo lấy vợ mà cứ ham ra nước ngoài chơi bời thế hả? Chú xem Niên giám thống kê của Trung Quốc thấy từ năm mày qua học bên đó thì tình trạng nạo phá thai ở các trường Đại học tăng vọt, mày vừa phải thôi chứ”, ba má y cứ bò ra cười. Tóm lại những sự kiện có thật là một chuyện, cách sắp xếp những sự kiện ấy để đưa người đọc người nghe tới kết luận mình muốn là chuyện khác. Nhưng logic của sử học phải ăn khớp với logic của lịch sử, nếu ăn khớp rồi thì nó sẽ trở thành một sức mạnh độc lập chặn người làm sử lại trước những ngã rẽ chủ quan, những ngõ cụt thiên kiến để đi tới và nếu cần thiết thì điều chỉnh mục tiêu học thuật của mình. Không có được cái công cụ phương pháp luận ấy thì tác phẩm sử học đồ sộ công phu cỡ nào cũng có yếu tố ngụy thư. Tương tự, nếu đánh giá tác phẩm sử học từ góc độ quyền lợi và tâm lý của mình hay nhóm mình bất kể sự thật và logic lịch sử thì khen hay chê cũng đều có thể sai lầm, có nhân danh cái gì vĩ đại cao cả cũng vẫn thế thôi.

Quyển sách ấy phủ nhận nhiều chuyện trước kia được coi là đúng đắn hay tất yếu, chuyện đó thì bình thường. Có điều phủ nhận cái gì là một chuyện, phủ nhận để làm gì là chuyện khác. Nói ra những cái sai của Đảng cộng sản, của chính quyền Việt Nam sau 1975 thì dễ thôi, ngay Đảng cộng sản và chính quyền Việt Nam cũng từng nói tới nhiều cái trong nhiều lần rồi. Điều quan trọng là nêu ra được nhận thức thế nào mới là đúng, hành động thế nào để khắc phục tối đa hậu quả của những cái sai ấy mới là hay, sử học có là sử học, có là kho lưu trữ những kinh nghiệm quá khứ, có là chất gắn kết quá khứ với hiện tại và tương lai hay không là ở chỗ ấy, chứ đã rắp tâm ca tụng tung hô hay công kích phủ nhận thì cần gì tới sử học.

Tôi mới đọc phần đầu quyển sách ấy nên không thể có ý kiến chính xác. Nhưng về tư duy sử học thì phần đầu quyển sách ấy có vẻ không khác với nhiều cái tôi đã đọc, chưa thấy tác giả xác lập được cái logic sử học phù hợp cần có để thực hiện đề tài rất khó và rất lớn này.

Trong bối cảnh phức tạp như hiện nay chúng ta nên có thái độ, cách nhìn, lý giải lịch sử như thế nào cho phù hợp với sự phát triển và giảm thiểu tổn thương cho dân tộc đã bị quá nhiều thương tổn?

Nhiều người làm sử và đọc sử không quan tâm tới cái logic của lịch sử Việt Nam nói chung và thế kỷ XX nói riêng, nên trước nay có nhiều ngụy thư mà cũng có nhiều lời khen chê kiểu đạo đức luận, chán lắm. Từ 1930 đến nay Đảng cộng sản là một lực lượng góp phần làm ra lịch sử Việt Nam, nhưng chính lực lượng ấy cũng là một sản phẩm cụ thể của lịch sử Việt Nam, ngay từ lúc mới hình thành cũng mang nhiều yếu tố thuộc địa nửa phong kiến, phần đông đảng viên yêu nước là chính chứ có được bao nhiêu người thật sự hiểu chủ nghĩa Marx. Nhưng vì họ không có điều kiện tự khắc phục hạn chế của chính mình trong mấy mươi năm chiến tranh nên sau 1975 những khiếm khuyết trí mạng ấy mới bộc lộ toàn diện, tiếp tục bao cấp đã sai mà mở cửa đổi mới cũng có nhiều cái chưa đúng. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc đương chức từng phát biểu công khai trên báo chí, đại ý là càng giữ chức vụ cao hơn ông càng thấy ít tự do hơn. Đủ thấy một cá nhân luôn bị giới hạn bởi tổ chức trong đó họ hoạt động, còn một tổ chức luôn bị giới hạn bởi hoàn cảnh lịch sử trong đó nó tồn tại. Không nên đánh giá thấp vai trò cá nhân, nhưng phải giải thích lịch sử bằng chính lịch sử chứ không thể quy kết vào ý chí hay đạo đức của một số cá nhân được. Cái mà nhiều người gọi là phải công bằng với lịch sử chính là như thế.

Thứ Năm, ngày 17 tháng 1 năm 2013

Lối mòn tư duy?

Thời kỳ báo Văn Nghệ sôi động nhất (1988), nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã viết trong bộ ba tác phẩm nổi tiếng “Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết” như sau:
Nhân sĩ trí thức có sự thông cảm sâu sắc với nhân dân. Họ yêu nhân dân mình. Họ đại diện cho nhân dân ở phần u uẩn nhất, trữ tình nhất nhưng cũng đáng thương nhất. Nhà cầm quyền không thèm đại diện cho ai, nhà cầm quyền chỉ chịu trách nhiệm với mình. Đấy là điều vĩ đại nhưng cũng đê tiện khủng khiếp. Nhà cầm quyền có cách nhìn thực tiễn với chính từng khắc tồn tại của bản thân mình. Nhà cầm quyền biết xót thân. Nhân sĩ trí thức thì khác, họ không biết xót thân, họ thông cảm với những đau khổ của các số phận đơn lẻ mà không hiểu nổi nỗi đau khổ lớn của cả dân tộc. Đặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Đây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú, vừa nhục nhã, vừa căm thù nó. Nhà cầm quyền hiểu điều ấy và đấy là nỗi cay đắng lớn nhất mà họ cùng cộng đồng phải chịu đựng. Nhân sĩ trí thức thì khác, họ không hiểu điều ấy. Nhân sĩ trí thức chính là đứa con của cô gái đồng trinh kia, dòng máu chứa đầy điển tích của tên đàn ông khốn nạn đã cưỡng hiếp mẹ mình. Họ ngập trong mối bùng nhùng của đời sống, còn nhà cầm quyền đứng cao hẳn ngoài đời sống ấy. Người mẹ-tức nền chính trị đương thời-giấu giếm con mình sự ê chề và chịu đựng với tinh thần cao cả, kiềm chế. Phải ba trăm năm sau người ta mới thấy điều này vô nghĩa. Không có một sức đẩy mạnh, cả cộng đồng sẽ mọc rêu, mủn nát. Cộng đồng Việt là một cộng đồng mặc cảm. Nó nhỏ bé biết bao bên cạnh một nền văn minh Trung Hoa, một nền văn minh vừa vĩ đại, vừa bỉ ổi lại tàn nhẫn… 
Ông Nguyễn Trung có vẻ là một người uyên bác. Ông Lê Hiếu Đằng vốn là một môn đồ nồng nhiệt của chủ nghĩa Marx. Và nhiều người được ông Lê Hiếu Đằng nhắc đến trong “Thư đầu năm của Lê Hiếu Đằng gửi nghệ sĩ ưu tú Kim Chi” đều đã từng là những người nhiệt thành với tư tưởng cộng sản.
Những bài viết của ông Nguyễn Trung và ông Lê Hiếu Đằng, cho thấy rằng, những người Việt Nam theo chủ nghĩa cộng sản có khuynh hướng tỏ ra “cộng sản hơn cả Marx”. Trong khi chủ nghĩa cộng sản ở Trung Hoa đang ngày càng phai nhạt thì trong tư tưởng của ông Nguyễn Trung, ông Lê Hiếu Đằng và những người được hai ông nhắc đến, (có thể nhận diện qua vết tích của khuynh hướng tư tưởng trong những bài viết), tỏ vẻ như là những người thừa kế chính thống tư tưởng Marx về một xã hội dân chủ công bằng và thấm nhuần đạo lý dân tộc. Điều này thể hiện rõ nhất bằng việc ôn lại những kỷ niệm đẹp của một thời đấu tranh gian khổ, nhiều trích dẫn đầy hình ảnh, hay sự viện dẫn đến những con người ít nhiều có danh tiếng đã từng góp phần trong việc tạo dựng nên xã hội hôm nay, những mê mải về mặt hình thức thay vì sự phân tích tình hình và tìm ra những giải pháp thực tế.
Cá nhân tôi kính trọng những người cộng sản chân chính, những người cộng sản tiến bộ như ông Nguyễn Trung và ông Lê Hiếu Đằng và các vị nhân sĩ trí thức khác. Họ là những con người nhạy cảm và luôn chú ý đến tình hình chính trị. Những con người thuộc thế hệ này được xem như những biểu tượng chính thống. Đồng thời họ cũng là biểu tượng cho những khó khăn không thể thực hiện nổi sự thích nghi cần thiết. Là biểu tượng và cũng là những người đại diện chịu trách nhiệm về những hậu qủa đã và đang xảy ra. Nhãn quan và nhận định tình hình thực tại của họ dường như đã bị sàng lọc, bị đóng khung trong khuôn khổ chủ nghĩa Marx cổ điển và dường như mọi phương pháp đều phải thích ứng với khuôn khổ ấy. Sự thiếu mềm dẻo về hệ tư tưởng, hay nói cách khác, tính chính thống quá cứng nhắt của họ đã ngăn cản họ thích nghi với những điều kiện mới. Tất nhiên, những con người này về bản chất là bảo thủ không có nghĩa là họ khước từ một cách có hệ thống bất cứ nhu cầu cải cách nào. Những đề xuất đưa ra chỉ được chấp nhận nếu chúng nằm trong khuôn khổ tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Cho nên, những đề xuất của họ có khuynh hướng nhằm một cuộc cải cách mang tính đạo lý hơn là cải cách cơ cấu và thiết chế. Ở đây, chúng ta có thể thấy bóng dáng những đề xuất của Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản…gửi đến vua Tự Đức trong lịch sử. Và những đề xuất đó sẽ chẳng bao giờ được thực hiện, cũng giống như trong quá khứ vua Tự Đức đã từng bỏ qua. Lưu ý: không phải vì nhà vua không có ý định canh tân cứu quốc, mà hoàn toàn ngược lại, Tự Đức rất ý thức về cuộc canh tân. Về chủ đề này, xin được quay trở lại ở một bài viết khác.
Cùng một vấn đề đặt ra cho Việt Nam và Miến Điện: làm sao giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, chống lại nguy cơ bị lệ thuộc vào Trung Hoa, chống lại nguy cơ bị Hán hóa; làm sao để phát triển, tận dụng được sức mạnh kỹ thuật của phương Tây, giữ vững được các giá trị văn hóa bản địa;
Thế mà, tầng lớp trí thức Miến Điện với biểu tượng Aung San Suu Kyu, đã cố gắng, nhất là trên bình diện tư tưởng, tìm cách hòa hợp yếu tố truyền thống, tận dụng khả năng kết nối với phương Tây đã đặt một chân vững chắc trên con đường thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Trung Quốc. Họ đã đề xuất nhiều cải cách với lộ trình có tính thực tiễn cao, có tính đến khả năng thích ứng với tình hình quốc tế nhiều thay đổi. Chúng ta hầu như không nhìn thấy những đề xuất tương tự như thế ở Việt Nam, dù với ông Nguyễn Trung hay một nhân sĩ trí thức tiếng tăm nào khác. Người Việt đã không thể phát triển một luận thuyết độc đáo nào khả dĩ có thể thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Trung Quốc và có thể tận dụng được những thay đổi mang tính thời đại; nhân sĩ trí thức hiện nay không đề ra một đường lối riêng cho dân tộc, một khẩu hiệu làm bật dậy sự thức tỉnh chung vì công cuộc đề kháng dân tộc. Về mặt này, nhân sĩ trí thức của chúng ta một lần nữa thể hiện sự bảo thủ như một thuộc tính thâm căn cố đế đã ăn sâu vào cấu trúc tư duy. Trên tất cả các phương tiện truyền thông, ai cũng dễ dàng nhận ra những yếu kém nhưng không quan tâm đủ đến nền móng của yếu kém. Như thế, tất cả những đề xuất và giải pháp đều hỏng.
Chúng ta cần cởi trói về mặt tư tưởng để có thể giải phóng năng lượng vốn đã bị trói buột bởi những ý thức hệ cầm tù. Việc đó phải bắt đầu từ việc giới tinh hoa tự giải phóng mình khỏi cơ chế tự sàng lọc bởi ý thức hệ. Hơn một trăm năm qua, trong khi đề xuất của cụ Phan Chu Trinh phủ bụi mờ thì nhân sĩ trí thức vẫn loay hoay với đủ các kiểu đề xuất.
Không thoát khỏi lối mòn tư duy, “không có một sức đẩy mạnh, cả cộng đồng sẽ mọc rêu, mủn nát. Cộng đồng Việt là một cộng đồng mặc cảm. Nó nhỏ bé biết bao bên cạnh một nền văn minh Trung Hoa, một nền văn minh vừa vĩ đại, vừa bỉ ổi lại tàn nhẫn…”. 
——————Sài Gòn, 17/01/2013  
Ghi chú:
-Tôi đã thay chữ “Gia Long” bằng chữ “nhà cầm quyền và chữ “Nguyễn Du” bằng chữ “Nhân sĩ trí thức” trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.
-Bài viết được ánh xạ từ tác phẩm “Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa của tác giả Yoshiharu Tsuboi.
Đặng Ngữ
Theo FB Đặng Ngữ

Tôn trọng lịch sử?

Gần đây, sau sự kiện “Bên Thắng cuộc”, một số bác lại bắt đầu lải nhải về chuyện phải “tôn trọng lịch sử”. Không rõ loại “sử” mà các bác ấy đòi tôn trọng là do ai viết và viết để làm gì? Nếu vẫn là loại “sử” được dùng như công cụ duy trì vai trò “lãnh đạo Nhà nước và xã hội” của Đảng thì có “tôn trọng” hay không là tùy các bác, chỉ mong các bác đừng áp đặt, buộc mọi người phải tôn trọng nó.
Mình vốn không có chuyên môn về sử nên mạo muội mượn một bài của bác Cao Tự Thanh – người mà mình rất hâm mộ về kỹ năng nghiên cứu, khả năng tư duy, uy tín khoa học – thay cho lời giải thích về việc tại sao mình đề nghị đừng áp đặt, buộc mọi người phải tôn trọng thứ “lịch sử đã được định hướng”…
1.
Chén đắng rượu Xuân thu – Bi kịch của Phan Thanh Giản
Cao Tự Thanh
Là một nhân vật lịch sử có số phận khác thường, Phan Thanh Giản đã chết bốn lần. Lần thứ nhất là Phan uống thuốc độc tự tử. Lần thứ hai, Phan bị thực dân ám sát khi khen ông sáng suốt không chống lại Pháp. Lần thứ ba, Phan bị triều đình Tự Đức bức tử với bản án “truy đoạt tất cả chức hàm, đục tên trong bia Tiến sĩ, giữ mãi cái án trảm giam hậu”. Lần thứ tư là vào thời gian 1960 – 1963, khi chúng ta hạ quyết tâm dùng bạo lực cách mạng để giải phóng miền Nam, và nền sử học rời khỏi con đường dài phục vụ cách mạng mà đi vào con đường tắt phục vụ chính trị đương thời đã xử tử ông (cũng như phê phán những người yêu nước chủ trương không dùng bạo lực như Phan Châu Trinh), gây ra một công án đau lòng khiến những trí thức như Ca Văn Thỉnh đương thời day dứt và các chính khách như Võ Văn Kiệt hiện nay trăn trở.
Năm 1994 vấn đề Phan Thanh Giản lại được đặt ra trong Hội thảo khoa học ở Vĩnh Long, nhưng hầu như không có tiếng vang nào đáng kể. Các công trình cũ vẫn còn đó, các giáo trình cũ vẫn còn đó, quan niệm cũ vẫn còn ngự trị, tâm lý cũ vẫn còn tác động. Nhiều người không ngại khẳng định Phan Thanh Giản, mà sợ phản đối đồng chí và đồng nghiệp, cấp trên hay thầy học của mình. Cho nên đến cuộc Tọa đàm Thế kỷ 21 nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản do Hội Khoa học Lịch sử tổ chức ở Thành phố Hồ Chí Minh ngày 16 tháng 8 mới đây, cái số phận nhiều cay đắng mà ít vinh quang ấy lại một lần nữa được đưa ra mổ xẻ.
Trong cuộc Tọa đàm vừa qua, nhiều người đã khẳng định Phan Thanh Giản là một người yêu nước và thương dân. Thương dân có đồng nghĩa với trọng dân hay không ở các nhà nho xưa còn là chuyện phải bàn, nhưng uyên nguyên của tấn bi kịch lịch sử nơi Phan Thanh Giản là ở chỗ ông đã theo một cái học coi triều là nước. Cho nên lúc vua sợ giặc mà dân chống giặc, Phan Thanh Giản cũng dần dần rơi vào bế tắc trên một lập trường chính trị chiết trung. Vừa mong ái dân vừa muốn trung quân, cái tâm thế lưỡng phân này khiến từ 1859 Phan không kế thừa được một cách tích cực truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam và sau Hòa ước 1862 thì có nhiều hành động bất lợi cho phong trào chống Pháp “chẳng nghe Thiên tử chiếu”. Cho nên bi kịch lúc còn sống của Phan Thanh Giản trước hết là sự thất bại về trí tuệ của thế giới cũ, một thế giới già cỗi đang rúng động và từng bước giải thể trong quá trình tiếp xúc với cái thế giới mới sung sức, năng động và tàn nhẫn hơn tới từ phương Tây. Đây cũng là bi kịch của chế độ phong kiến Việt Nam thế kỷ XIX nói chung và nhà Nguyễn nói riêng, vì với một chính quyền thì sự bất lực trước nhiệm vụ thực tiễn luôn gắn liền với sự suy thoái về đạo đức chính trị. Dĩ nhiên trong chính trị thì không phải có tội lỗi hay sai lầm là không có tinh thần yêu nước, nên vẫn có thể nói Phan Thanh Giản là một người yêu nước ít nhất theo kiểu của ông.
Trong cuộc Tọa đàm vừa qua có một số người đi sâu khẳng định Phan trên phương diện đạo đức cá nhân, nhưng điều đó không có nhiều tác dụng trong việc đánh giá các nhân vật lịch sử, nhất là một nhân vật có hành trạng chính trị phức tạp như Phan Thanh Giản. Chín chữ “Đại Nam hải nhai lão thư sinh tính Phan” như một lá đơn từ chức gởi cho người đương thời và hậu thế của ông vì thế cũng mang ý nghĩa của một biểu trưng hai mặt, hay nói như Nguyễn Đình Chiểu “Minh sinh chín chữ lòng son tạc, Trời đất từ nay bặt gió thu”, đó là sự buông xuôi của nhà chính khách bất lực mặc dù thông qua cách chuộc tội của bậc quân tử chí thành. Cái nhục mất thành mất đất của nhà Nguyễn, Phan Thanh Giản đã tình nguyện gánh chịu “Theo nghĩa thì thần phải chết, không dám tạm bợ sống mà để lại cái nhục cho quân phụ” (Di sớ). Nhưng nỗi khổ làm dân vong quốc của sĩ dân Lục tỉnh thì ông tự biết mình không sao gánh được “Minh sinh xin bỏ, nếu không xin đề Quan tài của người học trò già họ Phan ven biển nước Đại Nam, cũng lấy đó đề trên bia mộ”. Bi kịch của Phan Thanh Giản lúc còn sống vì vậy còn là sự phá sản về đạo đức của trật tự cũ, một trật tự không phản ảnh thực tiễn mà khẳng định tín điều.
Không phải chén độc dược nào cũng đắng. Năm Phan Thanh Giản bốn tuổi, Ngô Tòng Châu đã uống rượu độc tự tận ở thành Quy Nhơn. Chén rượu của Ngô được các nhà nho phù Nguyễn chống Tây Sơn đương thời ca ngợi về hiệu quả chính trị “Tận chước thuần thành thù họa loạn – Rót hết lòng thành mời họa loạn” (Lê Quang Định, Ngô Lễ bộ tửu) cũng như về ý nghĩa lịch sử “Thiên cổ công danh túy hậu hoàn – Say rồi, ngàn thuở vẹn công danh” (Trịnh Hoài Đức, Ngô Lễ bộ tửu). Còn chén độc dược của Phan Thanh Giản thì đắng ngắt nỗi đau bất lực và thất bại. Nhưng vị đắng mà chén rượu Xuân thu dành cho Phan Thanh Giản không chỉ có thế. Sau khi “nhắm mắt đi vào cơn trường dạ” (Đinh Hùng) năm 1867, ông vẫn có một cuộc đời không ngừng thăng trầm cùng vận nước. Từ bản án xử tội của triều đình Tự Đức năm 1868 tới sắc văn khai phục của triều đình Đồng Khánh năm 1885, các thế lực phi nghĩa luôn tiếp tục lợi dụng cái hành trạng chính trị đa diện và đa nghĩa này. Nhưng điều xót xa là năm 1963 giới sử học mácxít lại cường điệu sự khác biệt giữa Phan Thanh Giản với Trương Định, Nguyễn Hữu Huân mà quên đi sự khác biệt giữa ông với Trần Bá Lộc, Tôn Thọ Tường, thậm chí trong khi lẽ ra phải chống lại những kẻ lợi dụng lịch sử thì lại quay ra lên án Phan Thanh Giản… Và đến khi thấy cần sửa chữa sai lầm ấy, một nhà sử học nổi tiếng đã phải kê khai chi tiết công tội của Phan Thanh Giản theo hai hệ thống dựng nước và giữ nước như một báo cáo ưu khuyết điểm của “đương sự” để trình lên Ban Bí thư! Cái bi kịch sau khi chết của Phan Thanh Giản vì vậy còn là bi kịch của một hệ thống nhận thức luận và phương pháp luận sử học. Phát biểu trong cuộc Tọa đàm ngày 16 tháng 8 vừa rồi, nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng cũng nói “Một nhà sử học lớn như Trần Huy Liệu (người tổng kết cuộc Hội thảo về Phan Thanh Giản năm 1963 ở Hà Nội) không thể không biết điều đó (tức sự thành kiến với Phan Thanh Giản)”. Chính nghĩa cũng có những bất công của nó!
Từ 1975 đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu mới về Phan Thanh Giản nào được xuất bản ở Việt Nam. Dĩ nhiên việc tìm hiểu Phan Thanh Giản mà trọng tâm là tấn bi kịch của ông có phải là vấn đề khoa học cấp thiết cần đưa ra vào lúc này hay không là chuyện khác, nhưng chắc chắn nó phải được tiến hành một cách thật sự khoa học, nghĩa là trên một cơ sở tư liệu chính xác, toàn diện và nhất là với một thái độ nghiêm túc và không vụ lợi. Điều này có thể sẽ giúp Phan Thanh Giản tránh được cái chết lần thứ năm trong thời hội nhập. Bởi vì Phan Thanh Giản là một bi kịch của cả lịch sử lẫn sử học trong quá khứ, nhưng nếu không nhận thức và chia sẻ được bi kịch ấy thì đó là tấn bi kịch của chính chúng ta.
2.
Nếu mình nhớ không lầm thì hình như Cicero, một triết gia La Mã, từng bảo, sử là lửa của chân lý, là sinh mạng của ký ức, là người thầy của cuộc sống và là sứ giả của tiền nhân. Không phải ngẫu nhiên mà sử trở thành một ngành khoa học. Song thực tế cho thấy, sử đã và đang là một trong vài ba môn học mà thế hệ trẻ Việt Nam không muốn học. Vài năm qua, tỷ lệ điểm 0 môn sử trong các kỳ thi lên tới 80%, 90% đã trở thành vấn nạn chưa có giải pháp. Bao nhiêu phần trăm của vấn nạn này thuộc về sự áp đặt loại “sử” được viết, được dùng như công cụ duy trì vai trò “lãnh đạo Nhà nước và xã hội” của Đảng? Những người vẫn ra rả đòi “tôn trọng” loại “lịch sử đã được định hướng” này có dám nhận trách nhiệm khi đã và đang tạo ra những thế hệ không còn lửa của chân lý, không có ký ức, thiếu vắng người dạy, đứt gãy với tổ tiên, nguồn cội không?
Đồng Phụng Việt

Gánh nặng thuế đè lên người dân

Con số nợ của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, hơn 1,3 triệu tỉ đồng, và con số “lỗ phát sinh” của họ, 2.253 tỉ đồng; “lỗ lũy kế, 17.730 tỉ đồng, là cái giá mà người dân Việt Nam phải trả cho “định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Trong khi đồng tiền Việt bị mất giá nghiêm trọng, thu nhập của người lao động giảm, Nhà nước lại moi móc tìm cách tăng đủ thứ thuế, trong đó có phí sử dụng đường bộ, suy cho cùng đó cũng là loại thuế mới đánh thẳng vào túi người lao động nghèo.
Chi phí giao thông cao khiến giá cả hàng hoá đầu ra tại nơi tiêu thụ cuối cùng bị đội lên là một trong những nguyên nhân khiến tốc độ tăng trưởng của thị trương nội địa bị giảm sút. Ông Trương Trọng Nghĩa, Đại biểu Quốc hội TP.HCM, bức xúc: “Nếu người dân phải đóng phí SDĐB thì hậu quả trực tiếp và lan tỏa đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân sẽ vô cùng lớn. Nếu coi khoản phí này là hợp lý thì Bộ Tài chính có rà soát để bỏ bớt những khoản phí không hợp lý mà tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đang phải đóng hay không?”.
Một mối lo nữa là thuế và các khoản thu của dân. Gọi là mang tiếng được miễn thuế nông nghiệp. Nhưng có thấm vào đâu. Được miễn thuế này thì lại đẻ ra thứ thu khác. Cũng như không.
Thông thường có những cặp thuế tương xứng về loại thể như: Thuế quốc gia và thuế địa phương, thuế trực thu và thuế gián thu, thuế nội địa và thuế quan, thuế định ngạch và thuế định lệ, thuế thông thường và thuế đặc biệt; từ đó lại phân ra thuế thu nhập, thuế cổ tức, thuế chuyển nhượng, thuế môn bài, thuế VAT, thuế tiêu thụ, thuế lạm phát,…ngoài ra còn các khoản thuế phụ thu.
Thuế dựa vào thực trạng của nền kinh tế (GDP, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất, thu nhập, lãi suất…). Thuế được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu. Khi nhà nước ra đời, để có tiền chi tiêu cho sự tồn tại và hoạt động của mình, nhà nước đã đặt ra chế độ thuế khóa do dân cư đóng góp để hình thành quỹ tiền tệ của mình. Tất cả mọi hoạt động của chính quyền cần phải có nguồn tài chính để chi (đầu tiên là nuôi bộ máy nhà nước); nguồn đầu tiên đó là các khoản thu từ thuế.
Hiện nay, ở nước ta, việc thu thuế và quản lý thuế còn tồn tại nhiêu fbaats cập, hệ lụy như sau:
Tăng tiền thuế của người sản xuất, buôn bán nhỏ, nhưng lại bỏ qua hoặc thu ít, thu không đủ, thu sai quy định những khoản lớn và rất lớn thuế bất động sản, thuế kinh doanh nghiệp, thuế kinh doanh, thuế hải quan…Bà giá đem mớ rau vườn ra trước cửa chợ bị thu thuế, nhưng có những doanh nghiệp, những chủ đất buôn bán bất động sản lai né, trốn thuế cà chục tỉ đồng.
Giảm thuế xuất nhập khẩu hàng hóa, nhưng lại tăng thuế buôn bán nhỏ lẻ. Việc giảm, hoặc miễn thuế xuất nhập khẩu, nhằm điều chính, cân đối gia sbans buôn công nghiệp, bán buôn lợi tức, mong sẽ giảm chỉ số CPI, nhưng lại đi tăng thuế của người kinh doanh bán lẻ. Như vậy, các tập đoàn, tổng công ty, nhà kinh doanh lớn được có lợi, nhưng người lao động nghèo vấn phải tăng thuế, giá hàng hóa bán lẻ vẫn không ngừng tăng. Gánh chịu thiệt thòi vẫn là người lao động nghèo.
Thuế giá trị gia tăng VAT cuối cùng là đánh vào túi người tiêu dùng, doanh nghiệp, doanh nhân được hưởng lợi. Khi thu tiền điện, tiền nước, thu tiền điện thoại, mua các loại hàng hóa ở thị trường tự do cũng như các siêu thị đều phải thêm 10% thuế VAT. Nhưng người bỏ tiền ra mua lại không bao giờ được hoan fthuees VAT. Theo định kỳ, các doanh nghiệp được thanh toán hoàn thuế VAT, người tiêu dùng bị thiệt.
Thuế thu nhập cá nhân chưa phù hợp với thu nhập đời sống và giá trị tiền lương ở nước ta hiện nay.
Thuế cầu đường, thuế xe, thuế bến bãi thu tùy tiện, không có quy định rõ ràng.
Quản lý tiền thuế còn nhiều sơ hở, đẻ cá nhân, nhóm lợi ích lợi dụng tiền thuế chia chắc nội bộ, tham nhũng. Cuối cùng, nhà nước và người lao động bị thiệt, lợi ích cá nhân làm trái pháp luật, làm tùy tiện, vô nguyên tắc lại được hưởng đậm. Chính quyền xã, phường lợi dụng thu thuế, sinh ra các khoản phụ thu để gây quỹ cho cơ quan, lập lờ chia chác nhau vụ lợi…
Theo tính toán của ADB, tỷ lệ động viên thu vào ngân sách nhà nước ở Việt Nam tính toán từ thuế, phí và lệ phí rất cao so với các nước trong khu vực và thế giới. Việt Nam khoảng 25-28% GDP, trong khi Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia khoảng 15%, Philippines dưới 13%, Indonesia 12%, Ấn Độ chỉ 7-8%… Chưa kể lạm phát là thứ thuế vô hình tạo thêm gánh nặng cho người dân.
Chỉ lấy ví dụ một chiếc xe là phương tiện giao thông cá nhân tối thiểu thôi, người Việt Nam đã phải chịu tới khoảng 9 loại thuế và phí khác nhau theo kiểu phí chồng lên phí. Chẳng hạn như, đã có thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào hàng xa xỉ để hạn chế tiêu dùng, nay lại chuẩn bị ban hành phí lưu hành cao chót vót cũng với mục tiêu hạn chế xe lưu thông trên đường nhằm chống ùn tắc giao thông; đã có hàng tá, hàng tá trạm thu phí giao thông đường bộ nhà nước có, tư nhân có, tràn lan khiến dân chúng ta thán không ngớt chưa giải quyết xong lại thêm phí bảo trì đường bộ, chưa kể loại phí này còn gián thu qua lượng xăng dầu nữa.
Vì thế, trong việc đặt ra chính sách thuế, áp dụng thuế, mức thuế, thu và quản thuế phải chú trọng đến các sắc thuế đều cần thỏa mãn ba nguyên tắc chung sau đây:
Trung lập: sắc thuế không được bóp méo các hoạt động sản xuất, dẫn tới phúc lợi xã hội (tổng hiệu dụng) của nền kinh tế bị giảm đi.
Đơn giản: việc thiết kế sắc thuế và tiến hành trưng thu thuế phải không phức tạp và không tốn kém.
Công bằng: sắc thuế phải đánh cùng một tỷ lệ vào các công dân có điều kiện như nhau. Giữa các công dân có điều kiện khác nhau, thì thuế suất cũng cần khác nhau (vì thông thường người có điều kiện tốt hơn có xu hướng tiêu dùng hàng hóa công cộng nhiều hơn).
Riêng các sắc thuế địa phương còn cần thỏa mãn một số nguyên tắc nữa:
- Cơ sở thuế phải bất biến: nghĩa là công dân, hoạt động và đồ vật phải tương đối cố định, không hay di chuyển giữa các địa phương. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo địa phương này không đánh thuế lên công dân, hoạt động và đồ vật vốn là của địa phương khác.
Nguồn thu ổn định: nghĩa là quy mô dân số địa phương và quy mô các hoạt động, đồ vật không nên biến động thường xuyên. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo thu ngân sách của địa phương không bị biến động
- Nguồn thu phân bố đồng đều giữa các địa phương. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách giữa các địa phương không quá chênh lệch.
- Chính quyền địa phương phải có trách nhiệm tài chính. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo chính quyền địa phương không lạm dụng quyền hạn thuế của mình để đánh thuế quá mức.
- Trong thực tế, khó có sắc thuế nào đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc đòi hỏi cho nó. Vì thế, theo nguyên tắc về “cái tốt thứ hai”, sắc thuế nào càng thỏa mãn nhiều nguyên tắc, thì càng xứng đáng là một sắc thuế tốt. Việc ban hành phần lớn các sắc thuế thường cần phải được Quốc hội phê chuẩn và phải có luật về sắc thuế đó.
Thuế là sự thể hiện bản chất, mô thức, tính ưu việt của một chế độ chính trị-xã hội. Cần phải được quan tâm chỉ đạo thường xuyên, có chính sách đúng, nhạy bén, cập nhật giá tiền tệ và các nhu cầu sản xuất, kinh doanh, đời sống xã hội. Mọi biểu hiện buông lỏng hoặc tùy tiện trong việc đề ra các chính sách, các quy định về thuế, việc tổ chức thu thuế, quản lý thuế đêu là những sai lầm gây hậu họa lớn cho toàn xã hội, kìm hãm sự phát triển của đất nước.
Bùi Văn Bồng