Thứ Bảy, ngày 26 tháng 1 năm 2013

Đi tìm định nghĩa báo tết

Có một điều khá dễ thấy ở quan điểm làm báo tết 2013 trên hai tờ Tuổi Trẻ và Thời báo Kinh tế Sài gòn. Một tờ thì hầu hết bài vở là của phóng viên, biên chế của tòa soạn; và một tờ thì hầu như tất cả bài vở đều của cộng tác viên, những cây bút gạo cội, những chuyên gia đầu ngành trên các lĩnh vực. Và tờ nào hay tờ nào dở chỉ cần thế là rõ. Liệu từ đây ta có thể rút ra định nghĩa nào đó về báo tết ?
Báo tết năm nay không hay ! Câu nói ấy được lặp đi lặp lại khá lâu rồi. Nhưng thế nào là báo tết hay thì ngay các giảng viên các trường đại học báo chí cũng chưa chịu đúc kết. Và thế là mỗi báo làm theo mỗi kiểu, tờ thì mạnh về gương người tốt việc tốt, lạc quan hơn hớn là chính, tờ thì chuyên về nới chốn ăn chơi, tờ thì ngả hẳn về ầm thực ba miền; công sức chủ yếu tập trung vào sự trình bày. Nhiều họa sĩ trình bày cứ đến dịp làm báo tết thì chạy sô suốt từ Nam, ra Bắc, về Trung. Mà người đọc bây giờ họ tinh lắm, trang bìa đẹp cũng không lôi cuốn được họ, người viết có tên có tuổi nhưng viết như một mùa thu hoạch họ cũng nhận ra. Biết thì biết vậy, nhưng không mua không được, quen nết rồi.
Đó là chưa nói sự vận hành của bộ máy sản xuất báo tết đã khởi động từ 5-6 tháng trước. Tổng sản phẩm xã hội trong lĩnh vực báo tết từ in ấn, quảng cáo, đến người mua, chắc chắn không hề là số nhỏ. Thế nhưng nó có cần không; nó cần cho ai và người ta cần cái gì ở báo tết ? chắc chắn là những cầu hỏi cần thiết cần được trả lời. Nhiều người bảo là lãng phí, nên bỏ. Thử một lần bàn rốt ráo chuyện này xem sao !
Thế giới không có báo tết, cuối năm một vài bài tổng kết năm qua, vậy thôi. Làng báo ở miền Nam trước 1975 cũng không có báo tết. Nhiều người bảo đây là một tập quán hình như chỉ có ở xã hội ta, nó hình thành từ thời còn bao cấp. Hồi đó, cứ báo tết là những người danh tiếng nhất đều có mặt. Những tờ bào tết hay nhất là thời trước sau đổi mới. Hồi đó bao nhiêu tâm huyết của những trí thức như Nguyên Ngọc, Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Chế Lan Viên (Sorrỳ sự điểm danh này, đọc BTC phần 2 sẽ có ví dụ cụ thể hơn)… như dồn hết cho tờ Văn Nghệ số tết. Đó là những suy nghĩ của giới tinh hoa nước nhà trước vận nước đổi mới. Không hay sao được !
Những số báo tết hay cuối cùng có thể nói là những số lúc GS Hoàng Tụy viết khỏe nhất, những năm đó, trước sau 2.000, báo tết mà không có bài chiêm nghiệm về canh tân đất nước của Hoàng Tuy, Nguyên Ngọc… thì không thể gọi là hay được.
Báo chí về sau ngày càng nhiều, trong khi những người danh tiếng thì đã vắng nhưng báo tết thì vẫn phải ra. Các phóng viên như vắt kiệt sự suy tư của mình một năm qua để đúc kết hoặc để dành một sự kiện, một nhân vật độc đáo nào đó cho số báo xuân. Và người mua, người đọc cũng vẫn vậy. Ai cũng chờ đợi, cũng hy vọng, cũng lướt qua tên những người viết, rồi mua rồi đọc và lại… thất vọng. Họ không hay rằng họ chờ đợi báo tết theo kiểu cũ, kiểu của những trí thức tinh hoa nước nhà rút ruột rút gan mà viết trong khi những người làm báo thì đã không còn nghĩ vậy! Rồi tự lý giải rằng phải chăng đây là một trong những cái bệnh luyến tiếc quá khứ mà ai cũng mắc phải ? Chuyện ngày xưa bao giờ cũng hay cũng đẹp, cũng cũ khoai, cũ sắn hoặc tô mì, tô phở sao ngày xưa ăn ngon thế mà bây giờ nuốt không trôi ! Hay là bây giờ thông tin nhiều, người đọc hằng ngày đã tiếp nhận quá nhiều thông tin “nặng đô”, như bị lờn thuốc, báo tết dầu cố thế nào đi nữa vẫn không thấy đã như đọc báo tết ngày xưa ? Ăn ngon quanh năm, cái lưỡi hư rồi, làm sao mà cảm nhận được hương vị dân dã của những món thời còn thời thơ ấu được !
Có thể những cảm nhận ấy đều đúng, cũng như sẽ có rất nhiều cách giải thích khác cũng sẽ đúng. Và điều đó đặt ra cho giới lý luận báo chí một yêu cầu mà hình như chưa ai làm: Một định nghĩa thế nào là báo tết. Nếu báo ngày làm chuyện đưa tin, báo tuần làm chuyện bình luận sự kiện trong tuần là chính thì báo tết làm chuyện gì ? Phải chăng đó là nơi để suy tư, để chiêm nghiệm chuyện đất nước, đi tìm ý nghĩa kiếp người, tỏ bày nỗi băn khoăn thân phận, ngồi dưới hương trầm thơn mà đọc rồi ngẫm về một năm đã qua và một năm sắp đến ? Một năm thì dài và vì thế mà nó thành chuyện của đời người, chuyện thăng trầm của một giai đoạn lịch sử. Quả thật, sẽ khó có bao giờ đất nước lại cho những nguyện liệu để có thể thành những bài báo hay như vận nước trong những năm tháng này.
Và nếu vậy ta sẽ hiểu được tại sao nhiều báo cứ đến báo tết thì thưởng tiền cho phóng viên và để họ về quê ăn tết. Phóng viên có thể viết nhưng hãy viết cho báo khác, như một CTV. Bạn đọc đã đọc họ cả năm rồi, những gì muốn nói họ cũng có chỗ để nói suốt năm qua rồi, giờ hãy là chỗ của những chiêm nghiệm, suy tư của các chuyên gia đầu ngành, của các nhân sĩ trí thức trước vận nước chưa bao giờ là nguội trên báo tết. Xin đừng dùng những bài gương người tốt việc tốt trên báo tết, đó là chuyện của báo ngày và báo tuần. Và không cần phải học qua chuyện làm báo người đọc bình thường nhất cũng có thể bảo đó là tờ báo tết dở.
Hồ Trung Tú
Theo FB Hồ Trung Tú

“Quà” cho nữ Bộ trưởng

Bảo tàng siêu khủng sẽ là nơi triển lãm những bức ảnh cơ cực với chủ đề “Chợ cóc bệnh viện”. Nhà hát hoành tráng sẽ là nơi những diễn viên mặc pijama hát lên khúc “bệnh viện bi ca”?
Hôm qua, ở Thủ đô, một triển lãm “bá đạo” được tổ chức dưới cái tên “Chợ sức khỏe”. Ôi giời, tràn lan là ảnh ngủ gậm giường hoặc màn trời chiếu đất bên hành lang, vỉa hè bệnh viện. Những cảnh cá hộp “xưa như trái đất, thật như hiện tại, đúng như tương lai”. Muốn có sức khỏe phải ra chợ. Đã ra chợ, phải mất tiền mua. Và đã mua bán, thế nào cũng gặp phường gian dối. Gặp thực phẩm ôi thiu. Cái chữ “Chợ” càng nghĩ càng thấy “bá đạo”. Nhưng triển lãm này cũng sai đúng ở chữ “chợ”. Bởi chưng “luật chợ” là người ta có quyền mặc cả. Có quyền chê đắt. Có quyền làm thượng đế. Và có quyền lắc đầu. Trong khi đến “chợ” mua sức khỏe thì kể cả có tiền, xin mời xếp hàng, cứ hẵng “nu pa ga zi” đã.
Hôm qua cũng là ngày nữ Bộ trưởng xinh như búp bê, chắc là cay đắng thừa nhận “tình trạng cá hộp”, ngôn ngữ ngành y là “quá tải” ở hầu hết những cái “chợ lớn”. Chắc bà cũng chẳng vui vẻ gì với thường niên hình ảnh “Bệnh nhân bò từ gậm giường ra chào Bộ trưởng”. Đây là câu chuyện cần sự cảm thông của bà con, bởi giảm hay không giảm phụ thuộc vào vấn đề đầu tiên. Chuyện những “cái chợ” không đơn giản là việc vẽ trên giấy là được. Huống chi, ngân sách đang hụt thu. Huống chi, tiền còn phải để xây dựng bảo tàng 11 ngàn tỷ, để lập kế hoạch nhà hát nửa triệu đô, để xây “sân vận động massage”.
Hôm qua, trên VietNamNet, người phát ngôn của Bộ VH-TT-DL một mặt thừa nhận tình trạng “vừa thừa – vừa thiếu” đang xảy ra đối với nhiều công trình văn hóa, mặt khác lại chê “Nửa tỉ đô chưa chắc đã đủ” để xây một nhà hát lớn và “nổi tiếng trên thế giới”.
Giời ạ. Cơ bản là nhà hát đó trình diễn cái gì. Cơ bản ai sẽ đến nhà hát đó chứ không phải cứ cầu chữ to là được.
Chuyện nhà hát và những cái bệnh viện giờ giống y sì như chuyện “no con mắt và đói cái bụng” khi huyện nghèo miền núi Krông Nô vốn “chỉ có” 34,16% hộ nghèo, học đòi định tổ chức bắn pháo hoa.
Ừ thì “Không có một đất nước nào lại dừng lại và không hoạt động gì trong lúc khó khăn cả”. Cũng đúng khi “Bên cạnh đời sống vật chất thì còn nhu cầu đến hưởng thụ đời sống tinh thần”. Nhưng những người bụng sôi ùng ục, đang phải nằm chen như cá hộp trong gầm giường những cái “chợ bệnh viện” xin đặt một câu hỏi nhỏ: Những cái nhà hát hoành tráng, những Viện bảo tàng siêu khủng sẽ trình diễn những gì về cuộc sống đương đại? Bảo tàng lịch sử sẽ là nơi triển lãm những bức ảnh cơ cực với chủ đề “Chợ cóc bệnh viện”. Nhà hát sẽ là nơi những diễn viên mặc áo pijama hát lên khúc “bệnh viện bi ca”?
Hẳn nhiên việc no cái bụng chính đáng hơn sướng con mắt. Hẳn nhiên nỗi cơ cực ngoài da nhiêu khê, khốn khổ hơn nhiều so với thú vui tao nhã là “quần là áo lượt tai không trâu” đến nhà hát nghe nhạc giao hưởng.
Tin mừng là Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án giảm quá tải bệnh viện. Theo đó, đến 2020, mỗi bác sĩ chỉ còn phải khám 35 bệnh nhân/ngày và tại các bệnh viện sẽ không còn tình trạng quá tải. Cụ thể hơn, đến 2015 phải “cơ bản khắc phục tình trạng nằm ghép”.
Tin không mừng là một quan chức ngành thể thao khẳng định kinh phí tổ chức Asiad 2019 “chỉ 150 triệu USD” là “vừa sức”.
Nếu được một điều ước, giản dị thì đó là 34,16% hộ nghèo Krông Nô bỗng nhiên thoát nghèo để được hưởng một đêm pháo hoa thỏa thích. Hay thực tiễn hơn, Sân vận động Mỹ Đình trị giá 53 triệu USD sẽ trở thành Viện Châm cứu, thay vì massage đá nóng.
Nhưng ước mơ lãng mạn nhất của dân chúng thì dứt khoát phải là việc Bộ trưởng Hoàng Anh Tuấn sang tận Giảng Võ “ngỏ lời” với nữ Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến với món tặng phẩm là 10.800 tỷ giải cứu cho những con cá hộp đang rúc gậm giường trong những cái chợ vẫn được gọi là bệnh viện!
Đào Tuấn

Ngôn ngữ nghị trường - chuyện nhỏ mà không nhỏ

Chuyện xưng hô trong các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội cũng như ngôn ngữ tại nghị trường chứa đựng nhiều sự nhầm lẫn về tư cách và địa vị của những người tham gia.
Từ cách gọi “đồng chí”
“Đồng chí” là một danh từ phổ biến trong sinh hoạt nghị trường ở Việt Nam và gần như trở thành từ xưng hộ cửa miệng trong các giao tiếp công việc.
Đơn cử, ngày 12-11-2012, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng phát biểu trong kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII: “Về sửa Nghị định 84 như chúng tôi đã báo cáo, Thủ tướng Chính phủ mà trực tiếp là hai đồng chí Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và Vũ Văn Ninh vào cuộc họp tháng 7 vừa qua đã nghe Bộ Tài chính và Bộ Công thương, Bộ Khoa học và Công nghệ báo cáo việc thực hiện Nghị định 84. Qua nghe tình hình báo cáo hai đồng chí Phó Thủ tướng đã có kết luận”.
Hoặc phát biểu ngày 15-11 của đại biểu Bế Xuân Trường (tỉnh Bắc Kạn): “… Đảng lãnh đạo quân đội trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt, đồng chí Tổng bí thư là Bí thư Quân ủy Trung ương, điều này đã được ghi trong Điều lệ Đảng. Còn đồng chí Chủ tịch nước trên cơ sở lãnh đạo tập thể, phát huy vai trò của cá nhân, chịu trách nhiệm trước tập thể về nhiệm vụ này, như vậy nội hàm của Chủ tịch nước với lực lượng vũ trang là gì?”.
Theo bản gỡ băng thảo luận tại hội trường Quốc hội sáng 12-11 được Văn phòng Quốc hội công bố, có 41 lần từ “đồng chí” được các đại biểu cũng như quan chức Chính phủ sử dụng. Thậm chí tại phiên làm việc của Ủy ban Pháp luật của Quốc hội sáng 24-4, từ này cũng được sử dụng đến 154 lần.
Vậy từ “đồng chí” có từ bao giờ và ý nghĩa của nó ra sao? Trong tiếng Anh, “đồng chí” là  comrade, về ngữ nghĩa có thể hiểu là người bạn, đồng nghiệp hoặc đồng minh. Theo từ điển Wikipedia, những từ có ý nghĩa tương tự được những người theo phong trào xã hội chủ nghĩa ở châu Âu sử dụng từ giữa thế kỷ XIX nhằm thay thế cho các từ truyền thống thời đó như Mister (quý ông), Miss (quý cô), Missus (quý bà) trong cách xưng hô. Lần đầu tiên từ comrade xuất hiện trong tiếng Anh với nghĩa tương tự là trên tạp chí Justice (Công lý), xuất bản năm 1884.
Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 2006 của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa “đồng chí” là “người cùng chí hướng chính trị, trong quan hệ với nhau”, “từ dùng trong Đảng Cộng sản để gọi đảng viên”, “từ dùng trong xưng hô để gọi một người với tư cách là đảng viên cộng sản, đoàn viên một đoàn thể cách mạng hoặc công dân một nước xã hội chủ nghĩa”. Đây cũng là cách hiểu và cách sử dụng phổ biến của từ này trên thế giới.
Với ý nghĩa như vậy, việc sử dụng từ “đồng chí” ở diễn đàn Quốc hội là không hợp lý. Chỉ cần nhìn vào tỉ lệ biểu quyết các dự án luật ở Quốc hội là biết họ không “cùng chí hướng” với nhau, khi luôn có một tỉ lệ từ vài phần trăm đến vài chục phần trăm số đại biểu có ý kiến khác với phần còn lại. Có những vấn đề gây tranh cãi tại Quốc hội như dự án bauxite Tây Nguyên, dự án điện hạt nhân, dự án đường sắt cao tốc. Có dự án được thông qua hoặc bị bác bỏ. Bên cạnh đó, Quốc hội có một tỉ lệ đáng kể đại biểu là người ngoài Đảng, chiếm khoảng 10% vào thời điểm công bố kết quả bầu cử. Vì vậy, dùng ngôn ngữ chính trị của Đảng với họ là không hợp lý. Mặc dù tìm kiếm sự đồng thuận là bản chất của hoạt động chính trị, nhưng diễn đàn Quốc hội là nơi thảo luận, tranh luận giữa những người được dân bầu để tìm ra các quyết sách đúng cho đất nước. Đã là thảo luận, tranh luận thì bao giờ cũng có những quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Đại biểu Quốc hội hay đảng viên?
Sự nhầm lẫn giữa diễn đàn Quốc hội với các diễn đàn khác cũng xảy ra trong nhiều trường hợp khác, đặc biệt là các cuộc tiếp xúc cử tri. Nó cũng không chỉ xảy ra với các đại biểu Quốc hội, mà còn xảy ra với các cử tri.
Tại nhiều cuộc tiếp xúc cử tri, các tấm pa-nô, áp-phích đều “nhiệt liệt chào mừng đồng chí bí thư”, “nhiệt liệt chào mừng đồng chí chủ tịch”. Trong các phát biểu, các chức danh này cũng được sử dụng, thay vì gọi đúng tư cách của họ là đại biểu Quốc hội.
Ngày 1-12-2012, cử tri Nguyễn Khắc Thịnh (phường Giảng Võ – Hà Nội) đã chất vấn đại biểu Quốc hội Nguyễn Phú Trọng tại cuộc tiếp xúc cử tri: “Nghị quyết Trung ương 4 nói một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái. Xin đề nghị Tổng bí thư làm rõ một bộ phận không nhỏ ấy nằm ở đâu?”.
Tại nhiều cuộc tiếp xúc cử tri khác, những cụm từ như “kính thưa đồng chí Chủ tịch nước”, “đề nghị Thủ tướng Chính phủ”, “xin đồng chí Bí thư”,… được nhắc đi nhắc lại nhiều lần.
Điều này phản ánh một sự nhầm lẫn cơ bản về tư cách của người tiến hành tiếp xúc cử tri. Đứng trước các cử tri khi đó, không có ai là Tổng Bí thư, không có ai là Chủ tịch nước, không có ai là Thủ tướng, và không có ai là Bí thư. Họ chỉ có một tư cách duy nhất là đại biểu Quốc hội, đi gặp cử tri để báo cáo kết quả làm việc, trả lời các chất vấn và lắng nghe ý kiến của cử tri. Ít khi thấy có ai đó gọi họ cho đúng danh phận là đại biểu Quốc hội Nguyễn Tấn Dũng, đại biểu Quốc hội Trương Tấn Sang, đại biểu Quốc hội Lê Thanh Hải,…
Thể hiện bản chất của hệ thống chính trị
Thói quen xưng hô nói trên không đơn thuần là vấn đề giao tiếp. Nhìn vào lịch sử và bản chất hệ thống chính trị Việt Nam, chúng ta thấy rằng cách xưng hô này phản ánh những vấn đề đáng lưu ý hơn nhiều.
Sự nhầm lẫn về tư cách đại biểu Quốc hội và tư cách quan chức của Đảng có căn nguyên chính trị và căn nguyên lịch sử. Hệ thống chính trị ở miền Bắc Việt Nam kể từ năm 1954 và trên cả nước từ 1975 do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Điều này diễn ra trên thực tế và được thể chế hóa tại các bản Hiến pháp 1980 và 1992. Điều này dẫn đến hai hiện tượng: Đảng làm thay Nhà nước và các quan chức bên phía Nhà nước cũng đồng thời là quan chức bên Đảng.
Trong thời kỳ 1954-1975, các quyết sách lớn đều trực tiếp từ Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, chứ không phải đến từ Chủ tịch nước hay Hội đồng Quốc phòng hay Bộ Quốc phòng. Lịch sử ghi nhận Nghị quyết 15 tháng 1-1959 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã vạch ra phương pháp đấu tranh thống nhất đất nước, chứ không phải một đạo luật hay sắc lệnh nào do Quốc hội hay Chủ tịch nước ban hành. Cho đến 1975, các quyết định liên quan đến chiến trường cũng được quyết định bằng các nghị quyết của Bộ Chính trị. Các nghị quyết này được trực tiếp phổ biến đến các chiến trường.
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, tình trạng Đảng làm thay Nhà nước tiếp tục diễn ra. Hai quyết định quan trọng về kinh tế thời kỳ đó là Khoán 100 và Khoán 10, thực chất là Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13-1-1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị tháng 4-1988 về khoán trong nông nghiệp.
Cho đến cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, hoạt động lập pháp của Quốc hội mới bắt đầu thể hiện rõ hơn vai trò của mình trong đời sống chính trị, với việc thông qua nhiều đạo luật quan trọng như Bộ Luật Hình sự (1985), Luật Hôn nhân và Gia đình (1986), Luật Đất đai (1987), Luật Đầu tư Nước ngoài (1987),… và dần dần thể chế hóa các quyết định chính trị của Đảng.
Cho đến nay, nhiều quan chức Chính phủ khi bị chất vấn tại Quốc hội đã trả lời rằng “vấn đề này đã báo cáo với tổ chức Đảng” để né tránh vấn đề và né tránh trách nhiệm. Bên cạnh đó, có đến 90% số đại biểu Quốc hội đồng thời là đảng viên. Tất cả những đặc điểm này của hệ thống chính trị khiến cho ranh giới giữa diễn đàn của Đảng và diễn đàn Quốc hội trở nên mờ nhạt, dễ phát sinh sự nhầm lẫn, tâm lý “phiên phiến”.
Mặt khác, việc cử tri gọi các đại biểu của mình là Chủ tịch nước, Thủ tướng, là Bộ trưởng, là Chủ tịch cũng thể hiện một hiện tượng khác, đó là một người vừa là đại biểu Quốc hội, vừa là quan chức hành pháp. Điều này khiến cho nhiều người đặt câu hỏi: Các vị ngồi ở diễn đàn Quốc hội với tư cách gì?
Cần rạch ròi tư duy
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự rạch ròi cần thiết phải có trong quan hệ giữa Đảng và chính quyền, cũng như sự rạch ròi cần thiết giữa các nhánh quyền lực trong nội bộ chính quyền. Đó là Đảng không bao biện, làm thay Nhà nước vì vi phạm nguyên tắc pháp quyền, đó là đại biểu Quốc hội không được kiêm nhiệm chức danh hành pháp vì lý do xung đột lợi ích.
Nguyên tắc pháp quyền chỉ cho phép ý chí chính trị của các cá nhân, đảng phái được thực thi trên thực tế thông qua các cơ quan dân cử như Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và không được can thiệp vào các quyết định của chính quyền. Điều này được các lãnh đạo Đảng nhắc đến nhiều lần, tuy nhiên hiệu quả thực thi còn là điều phải đánh giá thận trọng.
Mặt khác, sự phân công, phân nhiệm giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong thiết kế bộ máy nhà nước chúng ta hiện nay còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Khi là một đại biểu của dân, có nghĩa là người đó phải dùng quyền lực được dân trao cho để tác động và giám sát việc thực thi pháp luật của các quan chức hành pháp và tư pháp. Vậy thì hóa ra vị Bộ trưởng kiêm đại biểu Quốc hội sẽ phải tự giám sát chính mình, đồng thời, khi ngồi ở diễn đàn Quốc hội, có lúc ông ta là đại biểu Quốc hội, có lúc lại là Bộ trưởng. Ông ta sẽ đứng về phía ai, Chính phủ hay Quốc hội trong phiên chất vấn của mình?
Rõ ràng sự nhầm lẫn về cách xưng hô không chỉ là vấn đề giao tiếp, mà còn phản ánh sự thiếu rạch ròi trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, và giữa các cơ quan nhà nước với nhau. Việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam sẽ khó có thể thực hiện được, nếu không giải quyết triệt để vấn đề này.
Trịnh Hữu Long

Sử gia Dương Trung Quốc nói về ‘Bên Thắng Cuộc’

Sử gia Dương Trung Quốc nhận xét cuốn ‘Bên Thắng Cuộc’ của nhà báo Huy Đức có những đóng góp về mặt phương pháp và tư liệu, khắc phục được hạn chế của sử học chính thống ở Việt Nam và đóng vai trò như một ‘cú hích’ để những ai quan tâm có thể nghiên cứu lịch sử đương đại của đất nước một cách ‘nghiêm túc’ và ‘thiện chí’ hơn.
Trong khi ‘đánh giá cao’ cuốn sách, ông Quốc, người đang nắm giữ chức vụ Tổng thư Ký hội Sử học Việt Nam nhấn mạnh không nên ‘tuyệt đối hóa’ những gì được cho là ‘sự thực lịch sử’ trong cuốn sách.
Theo ông đây mới chỉ là tác phẩm của ‘một tác giả’ về một vấn đề được nhiều người quan tâm.
DTQ: Thực ra tôi có được bản thảo của anh Đức trước khi anh ấy công bố trên mạng không lâu. Và có lẽ nhận xét của tôi, trước hết, tôi không lấy làm ngạc nhiên về hiệu ứng của cuốn sách ấy đối với đông đảo công chúng, không chỉ vì anh sử dụng công cụ hết sức lợi hại tức là xuất bản trên mạng, khiến cho rất nhiều người có thể tiếp cận được rất nhanh. Tôi nghĩ là nếu cuốn sách này in theo cách truyền thống là in sách thì chắc là nó không được như thế này. Nhưng quan trọng hơn chính là nội dung của nó. Mà trước khi nói đến nội dung thì phải nói đến cách viết của anh ấy.
Anh ấy là một nhà báo, ai cũng biết là một nhà báo lâu năm của nhiều tờ báo lớn, và rất có ý thức trong cái việc mà thu thập tư liệu. Cho nên tôi nghĩ chắc anh cũng có ý tưởng từ lâu rồi. Vì thế mà, cái cách viết của anh ấy nó đã khắc phục được một trong những nhược điểm của rất nhiều các công trình sử học, nhất là ở trong nước Việt Nam, là nó có bóng dáng con người.
Sử học chính thống Việt Nam thường tiếp cận cái nguyên lý nhiều hơn, đề cập những cái nguyên lý lớn, quy luật nhiều hơn là nói đến số phận, thân phận cái con người ở trong … mà chúng tôi hay gọi là “vô nhân xưng”. Thì đấy là một cái gây hấp dẫn về phương pháp, cách làm này thì cũng không phải là thật mới đối với thiên hạ. Ở Việt Nam thì tôi nhớ đến Đặng Phong thì cũng là cái người khai thác cái phương pháp này trên cơ sở sử dụng rất nhiều nguồn tư liệu khác nhau trong đó có nguồn tư liệu sống. Nhưng anh chỉ đề cập chủ yếu tới cái lịch sử kinh tế thì như thế cũng ít va chạm cái vấn đề tế nhị hay nhạy cảm như ở Việt Nam hay nói.
Thế nhưng mà đối với anh Huy Đức thì rõ ràng là anh ấy biết khai thác cây bút nhà báo. Chúng tôi cũng biết cũng có quan điểm cho rằng cái lịch sử đương đại, lịch sử còn đang tác động với những người nhân chứng còn sống hoặc hậu duệ của họ hoặc những hệ lụy xã hội còn tồn tại thì thường thuộc về báo chí chứ không phải là các nhà sử học kinh điển. Vì thế tôi nghĩ đấy là cái thế mạnh của anh Huy Đức thể hiện trong cuốn sách của mình. Cái thứ hai là những vấn đề anh nêu lên thì thực ra vấn đề nó động chạm đến rất nhiều con người, thậm chí hàng triệu con người. Thế nhưng mà cái dòng văn sử học chính thống Việt Nam thường né tránh ít đề cập tới hoặc vì nhạy cảm hoặc vì không muốn hoặc phức tạp v.v… Cho nên nó cũng là một cái hạn chế của cái dòng sử học chính thống.
Vì thế khi anh đáp ứng được một cái nhu cầu đề cập tới những vấn đề lịch sử cũng chưa xa lắm mà nó tác động đến rất nhiều con người, rất nhiều gia đình. Thí dụ như những vấn đề về di tản, vấn đề về truyền nhân, vấn đề về nạn kiều, những vấn đề liên quan đến ví dụ như chính sách cải tạo, chính sách kinh tế v.v… Thì phải nói đây là cái mảng không phải là tò mò nữa mà người ta cảm thấy hết sức là thiết thực vì họ có thể nhìn thấy bóng dáng của mình trong tất cả những cái biến cố có sự kiện ấy. Và nó tạo nên cái sự hấp dẫn.
Cho nên tôi cũng thấy phản ứng có hai chiều, chiều khen cũng có mà chiều chê cũng có. Mà phổ biến của chiều chê là gì, là tính phiến diện. Tính phiến diện, tôi nghĩ rất là đương nhiên thôi bởi vì là một vấn đề lớn như thế không thể nào mà dùng những cái nhân chứng cụ thể mà có thể khái quát được ngay trong một tác phẩm đầu tiên như vậy. Và vì thế tôi nghe không những chỉ trên báo chí ở trong nước thì nói rằng đây là một cuốn sách mà đề cập những vấn đề nhìn nhận rất là phiến diện. Và ngay cả một số nhân chứng lịch sử mà can dự ở đây đứng ở góc độ phía bên kia cũng nói rằng là … cũng chưa nói hết được những điều cần nói.
Trong khi đó giới viết sử ở hải ngoại, ta cứ tạm gọi theo cách nói về địa lý như thế thì do nhiều hoàn cảnh chính trị khác nhau thì thường viết có vẻ cực đoan hơn. Cho nên là cái cách viết phần nào đó giữ được một cái khách quan, tất nhiên khách quan là hết sức tương đối thôi. Và cũng cố gắng gửi gắm vào đó một cái thiện chí nào đó, nhưng mà chia sẻ được sự thông cảm được tất cả là rất khó.
Nhưng dẫu sao cái hiệu ứng quan trọng nhất đối với chúng tôi khi đọc cái này, nhất là những người làm nghề như chúng tôi là lịch sử là một cái hiện thực, không thể che đậy được, nó có thể bị quên lãng lúc này hoặc là bị ít quan tâm đến nhưng chắc chắn là nó vẫn tồn tại trong ký ức, trong cái trải nghiệm của rất nhiều con người. Và nếu chúng ta không có một ý thức dám nhìn thẳng vào sự thật  để nhìn nhận nó trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nó, phân tích để rút ra những bài học tốt, bài học không tốt, bài học xấu thì chúng ta luôn luôn có nợ với lịch sử. Và lịch sử thường nó sẽ xuất hiện vào những khúc quanh. Chúng ta nhìn thấy những biến động chính trị lớn trên thế giới có sự kiện nào mà không gắn với vấn đề lịch sử đâu. Vì thế nó cũng đánh thức những người có trách nhiệm là nên nhìn vào những vấn đề rất là phức tạp, rất là phong phú của cái lịch sử Việt Nam hiện đại trải qua thời gian chưa dài nhưng phải nói còn bề bộn những công việc mà còn chưa được nhìn nhận một cách thấu đáo.
Tôi lấy thí dụ thôi, năm nay là 60 năm cải cách ruộng đất. Thực ra cải cách ruộng đất nếu anh dám nhìn thẳng vào nó một cái chủ trương như thế là nó phù hợp với nhu cầu của đại đa số người Việt Nam là nông dân, cái khẩu hiệu “ruộng đất cho dân cày” thì tôi cho rằng tự thân nó nếu không phải là một khẩu hiệu cao cả thì nó cũng chả có tội tình gì. Nhưng cái cách triển khai v.v… nó có thể tạo ra những hiệu ứng ngược lại cái mục tiêu tốt đẹp ấy. Thế nếu đã dám nhìn thẳng vào đó, ta phân tích nó là vì sao và chia sẻ được, xoa dịu được phần nào cái nỗi đau của những người trong cuộc mà chịu thiệt thòi và chia sẻ được những quan điểm nhận thức để thấy cái biện chứng của cuộc sống nó là như thế và đồng thời chấp nhận những cái sai lầm để mà sửa chữa. Tôi cho nó sẽ giảm nhẹ rất nhiều nếu như chúng ta chỉ nghĩ rằng là cứ cất giấu chỗ nào đó thì chắc chắn một ngày nào đó nó sẽ bộc lộ ra mà người ta lại không thể chủ động để có thể nhận thức nó được.
Vì thế mà cái cuốn sách của anh Huy Đức thì tôi nghĩ rằng là cũng là một cái điều nhắc nhở và làm sao cho chúng ta dám giữ được một cái quan điểm, dũng cảm là nhìn thẳng vào sự thật. Và nếu mục tiêu chúng ta mong muốn là những điều tốt đẹp thì chỉ có bao giờ giải quyết được hóa giải quá khứ thì chúng ta mới có thể hướng tới một cái mục tiêu tốt đẹp như ta mong muốn được mà thôi.
PV: Theo ông thì những cái sự thực lịch sử đó, mà tác giả đã đề cập trong hai phần cuốn sách của mình đó, thì có cái gì mới đối với giới sử học Việt Nam, nhất là ở trong nước hay không ạ?
DTQ: Tôi muốn nói là với số đông, chứ với giới sử học thì chắc anh em làm lịch sử thì trên lĩnh vực chuyên môn khác nhau thì họ đều cũng tiếp cận cả. Nhất là số đông bởi vì với sử học ngoài công việc nghiên cứu còn công việc truyền bá nữa, vấn đề là in ấn xuất bản nữa. Cho nên mới thì không hẳn là mới, cái phương pháp thì có thể mới một chút, còn cái tư liệu thì tôi thấy cũng không có gì mới cả. Ít nhất là cá nhân tôi. Nhưng với nhiều số đông thì nó là mới mà nhất là với các bạn trẻ vì các bạn chưa bao giờ có cơ hội tiếp cận với những vấn đề đó, ngay cả những khái niệm mà bạn nói là “sự thật” ý thì chúng ta cố gắng tiếp cận thôi, những cái vấn đề mà anh Đức nêu lên là anh tiếp cận với cái đó, cố gắng tiếp cận, đưa ra những cái bằng chứng, đưa ra cách phân tích để có thể thuyết phục hoặc chia sẻ được với mọi người chứ tôi không nghĩ rằng là cuốn sách của anh là nói sự thật. Cái mục tiêu muốn tìm ra sự thật thì tôi cho là điều đó có thể có, có thể thấy được, thế nhưng mà bảo đấy là sự thật thì chưa hẳn, nó mới là một cuốn sách thôi. Cuốn sách của một người viết thôi, về những vấn đề nhiều người quan tâm. Còn chính vì thế mà tôi còn muốn nhân cái cơ hội này như cú hích ý để mọi người cùng quan tâm nghiên cứu với sự nghiêm túc, với thiện chí đối với tương lai thì tôi nghĩ rằng là cái lịch sử nó sẽ sáng tỏ, sáng tỏ hơn. Chứ còn cuốn sách này tôi nghĩ nó chỉ là một cái khởi đầu mà tôi cũng đánh giá là cao.
PV: Thưa ông, có cái chi tiết nào đối với riêng ông mà nó nổi bật cái độ chính xác của nó mà đặt ra vấn đề phải bàn lại cái độ tin cậy của nó, của cái sử liệu, của cái chi tiết cần phải bàn lại bởi vì có thể theo ông là nó chưa được chính xác, chưa được chân xác thưa ông?
DTQ: Tôi nghĩ rằng là những vấn đề anh đề cập đến rất là nhạy cảm cho nên cái việc tiếp cận với một cách tương đối toàn diện về những nguồn tư liệu chắc không đơn giản, còn khó khăn là đằng khác. Cho nên tôi không nghĩ rằng đây, những điều anh ý nói dựa trên một cái nghiên cứu toàn diện, nhưng mà anh khơi ra, nêu ra được vấn đề mà tôi cho đã là quý. Còn đi vào cụ thể thì tôi muốn nói thí dụ thế này một trong những cái mảng mà anh Huy Đức sử dụng nhiều nhất mà cũng gây ấn tượng nhất, có hiệu ứng nhất là những cái hồi ức hoặc là những cái phỏng vấn. Như chúng ta biết rằng cái việc chúng ta sử dụng những lời phỏng vấn rất là phức tạp. Và không ai biết rằng … đầu tiên sẽ đặt câu hỏi đơn giản thôi là có cuộc phỏng vấn đấy thật không? Cái thứ hai, cái phỏng vấn đấy người ta có đồng ý cho công bố không? Thậm chí công bố như thế có đúng không? Và không những là những người còn sống mà những người hậu duệ của những người đã mất họ vẫn có bản quyền đối với cái đó. Cái đó là một cái phải hết sức thận trọng trong sử dụng. Nó có thể gây hiệu ứng rất là mạnh đối với người đọc nhưng mà nó cũng đòi hỏi một sự thẩm định.
Tôi rất là tin cậy anh Huy Đức với tư cách anh là một nhà báo mà tôi quen biết nhưng mà khi đã đưa vào một cuốn sách mang tính chất lịch sử như cuốn sách này thì cái sự thận trọng về việc sử dụng tư liệu tôi cho là hết sức quan trọng, nhất là bản quyền đối với những cái lời trả lời phỏng vấn ấy. Tôi nghĩ ngay ở Việt Nam thôi, ai phỏng vấn tôi sau đó theo đúng luật là anh phải ghi chép như thế nào chuyển lại cho tôi đọc, tôi đồng ý thì mới được công bố. Đấy là nguyên tắc thôi, còn trong thực tế có những mối quan hệ tin cậy lẫn nhau thì chắc không phải đi qua khâu ấy nhưng về nguyên tắc thì phải là như thế. Cho nên là tôi nghĩ rằng đây chúng ta cố gắng ghi nhận những nỗ lực của anh Huy Đức thôi, nhưng đừng tuyệt đối hóa đó là sự thật. Mà quan trọng là làm cho mọi người quan tâm đến nó và tiếp cận nó một cách rất là nghiêm túc và cùng với thời gian tôi nghĩ là chúng ta sẽ tiếp cận gần nhất cái sự thật mà chúng ta mong muốn không phải là với ý thức phê phán quá khứ mà quan trọng nhất là tìm ra bài học tốt cho hiện tại và tương lai.
Quốc Phương thực hiện
Phần gỡ tiếng: Blog Ba Sàm

Thứ Sáu, ngày 25 tháng 1 năm 2013

Vì sao “họ” dám dùng, ta lại sợ?

Theo dõi loạt bài “Sống cùng công nghệ cao” trên TTCT (xem TTCT từ số ra ngày 24-11-2012), tôi có cảm giác không ít người đang “cảnh giác cao độ” hoặc bất lực trước các loại mạng xã hội.

Trong khi đó thực tế số người tham gia các mạng xã hội này nói chung ngày càng tăng. Chỉ riêng Facebook từ lâu đã vượt mức 1 tỉ người.
Cái chạm tay của Đức giáo hoàng Benedict XVI vào Ipad để gửi đi thông điệp đầu tiên qua mạng xã hội Twitter hồi tháng 12-2012 đã được báo giới ghi lại
Mới đây, New York Times cho biết giữa tháng 12-2012, Đức giáo hoàng Benedict XVI lần đầu tiên đã lên Twitter bằng iPad của ngài, gửi thông điệp bằng tám thứ tiếng đến các giáo dân (1). Còn Đức Đạt Lai Lạt Ma đã làm việc này từ vài tháng trước và số người kết nối với ông đã lên tới hơn 5 triệu (2).

Dĩ nhiên, không phải giáo hoàng hay Đạt Lai Lạt Ma tham gia mạng xã hội vì “thời thượng”. Chắc chắn đó cũng chỉ là một phương tiện để họ vươn tới hàng triệu tín đồ. Vậy tại sao họ dám dùng? Họ không có nỗi sợ như chúng ta? Trong khi danh sách người kết nối với họ dài hơn chúng ta cả ngàn lần và những vấn đề họ đưa lên trang mạng xã hội cũng có thể gây tranh cãi hơn chuyện của chúng ta cả ngàn lần…

Vì sao họ dùng một thứ mà ta thấy cám dỗ và nguy hiểm đến vậy? Tôi cho rằng vì họ mạnh. Mạnh nên thắng được bản thân, không sa vào những niềm ham muốn khoe mẽ, tò mò tọc mạch mất thời gian mà chúng ta không cưỡng được. Họ biết dùng các mạng xã hội để làm được những việc nếu bình thường sẽ mất rất nhiều thời gian để làm, mà kết quả không thể nào bằng được.

Con dao hai lưỡi

Công nghệ cao luôn là con dao hai lưỡi, mà lưỡi độc hại, khốn thay, thường đến từ trong chính chúng ta. Những lời than về các mạng xã hội chính là than về sự yếu đuối trong ta.

Tôi không phải là người am hiểu Internet, cũng không phải tuýp chuộng công nghệ. Nhưng tôi đã lướt net từ lâu bởi các tiện ích mà Internet mang đến cho công việc của tôi – một loại công việc cần phải đọc nhiều và tìm kiếm, tổng hợp thông tin.

Tôi còn là một bà mẹ có con gái đang tuổi trung học. Khi Internet mới “du nhập” vào gia đình, tôi quyết định đặt máy tính ở phòng chung để có thể dễ dàng “quan sát” con từ xa. Và từ khi con gái có tài khoản Facebook thì tôi cũng phải mở tài khoản cho mình, cũng để “quan sát” con từ xa. Trong khoản này Facebook khá “được việc”. Nhớ lại ngày xưa, “bốc phét” với bố mẹ về những người bạn thân tốt lành, làm sao bố mẹ kiểm chứng được. Tất cả là qua một lời kể của một đứa đang muốn tạo hình ảnh tốt về bầu không khí xung quanh nó cho bố mẹ yên lòng.

Ngay nay, với Facebook và thêm một chút cẩn trọng, bình tĩnh, tôi đã biết rõ hơn bạn bè của con tôi là ai, có phải là cậu bé mê bóng bàn, cô bé thích nấu ăn như con kể tôi nghe không… “Add friend” với con, tôi có thể “thoải mái” tìm hiểu. Đọc một mẩu nhắn gửi của con, các bình phẩm của bạn con, tôi có thể biết con và bạn con đang quan tâm chuyện gì, có gì bức xúc, có gì mong muốn, chiều sâu của những mối quan tâm đó…

Mạng xã hội, hay ở đây cụ thể là Facebook, giúp người ta “lọc” người nhanh hơn. Xưa kia chọn người yêu cũng chỉ có vài nguồn thông tin ít ỏi, toàn có lợi cho “đối phương”, khó kiểm chứng. Nay dùng Facebook, bạn có thể đánh giá nhanh người này kín đáo hay khoe khoang? Bạn của họ là dạng nào? Họ sử dụng thời gian ra sao? Họ có biết giữ bí mật không hay cái gì cũng phải “chia sẻ”?

Ta cũng có thể, qua Facebook, dạy con cẩn thận hơn để không bị tổn thương cũng như chớ nên bất nhất, nói dối. Toàn là những bài học bố mẹ có dạy hoài cũng không thuộc được. Tôi nhớ có một chuyện phim Mỹ, trong đó cô sinh viên hào hứng đưa lên Facebook bức ảnh chụp cảnh cô uống rượu cùng bạn bè trong một bữa tiệc cuối năm học. Sau đó khi ra trường tìm việc, một kẻ “ghen ăn tức ở” đã mail link bức ảnh đó cho ông chủ tương lai của cô. Kết quả là cô không được nhận vào vì bị cho là nói dối (cô đã khai trong hồ sơ mình không nghiện thuốc lá, rượu chè…).
Trang Twitter của Đức Đạt Lai Lạt Ma
Dùng dao giỏi chỉ dùng lưỡi tốt

Trong “Sẹo Facebook”, tác giả Nguyễn Trương Quý có đề cập việc sử dụng mạng xã hội trong công sở. Tôi cũng không ủng hộ việc nhân viên “nuôi thỏ”, “đổ kẹo” hay buôn chuyện trên mạng trong giờ làm việc. Nhưng mặt khác, nếu là một người quản lý, mạng xã hội sẽ cho phép bạn hiểu thêm nhân viên. Bạn có thể biết cô X đang có nỗi buồn trong gia đình, C đang hân hoan vì tết này có người thân ở nước ngoài về, H mừng vì mới mua một quyển sách mới, L đang hỏi thăm địa điểm tham quan đâu đó… Qua mạng xã hội, bạn biết được con người ẩn sâu của đồng nghiệp hóa ra rất lãng mạn, thích chụp ảnh kiểu bông hồng ngậm sương chẳng hạn…

Dĩ nhiên, người ta luôn đến với mạng xã hội vì những mục đích tốt. Nhưng rồi lưỡi dao xấu trong chúng ta lộ dần. Chúng ta dùng Facebook để theo dõi đối thủ, tò mò chuyện hai đứa kia còn yêu nhau không, con nhỏ ấy vui lại chưa. Chúng ta dùng Facebook để bạ cái gì cũng khoe, đến nỗi vào quán ăn việc đầu tiên là chụp cái hình, thông báo đã đến, đã gọi và đã chụp. Chúng ta dùng Facebook chỉ để viết những câu ngăn ngắn có vẻ thông minh, nhưng sự thật nếu bắt nghĩ sâu hơn, dài hơn thì tắc tị. Cái ham muốn có khán giả tức thì được Facebook đáp ứng triệt để. Tung một thứ gì ra, chút sau đã có “like”, có bình luận, có xin “share”. Còn gì thích hơn cho những người bình thường trong vòng ít phút được là ngôi sao giữa một nhóm nhỏ?

Đúng như tác giả Nguyễn Trương Quý nói, nghiện Facebook cũng như nghiện các thứ khác. Thế thì hãy thôi than về nó như đừng than về rượu, về thuốc lá, mà hãy than về bản thân người sử dụng. Các mạng xã hội nếu dùng đúng sẽ tiết kiệm cho người dùng rất nhiều. Chúng mang lại nhiều thông tin mà chúng ta có bỏ lắm thời gian, tiền bạc cũng khó mua được.

Giáo sư ĐH Oxford Susan Greenfield từng quan ngại, và đã đúng, đây là thời mà công nghệ đang từ vị trí “phương tiện” trở thành “mục tiêu”, đang từ vai trò nhằm cải thiện cuộc sống trở thành một lối sống. Nhưng để nó biến hóa và đổi vai như thế rốt cuộc là do ta, tại ta. Còn nếu vẫn không tin, bạn có thể xin kết nối với Đức Đạt Lai Lạt Ma và hỏi ngài bí quyết làm sao để khỏi vừa mở mắt ra là đã ôm chầm lấy máy.
Xuân Anh
“Lướt” và “cưỡi” sóng
Bạn có thể ngồi lo âu cho những tác hại của mạng xã hội, nhưng đừng quên một thực tế có nhiều người đang sống tốt, thậm chí rất tốt, nhờ biết tận dụng truyền thông xã hội.
Đến nay, không chỉ mỗi mình ông chủ Facebook Mark Zuckerberg giàu lên nhờ Facebook. Có những doanh nhân sau khi lướt net đã biết “cưỡi” cơn sóng mạng xã hội này để gặt hái. Gary Vaynerchuk là một thí dụ. Xuất thân là một người buôn rượu, nhờ biết tranh thủ mạng xã hội mà anh chàng đã thành công và trở thành người tư vấn cho các doanh nhân cách sử dụng mạng xã hội để bán hàng. Vaynerchuk kể hồi anh bắt đầu chơi Twitter, không ai biết đến anh.
Để xây dựng thương hiệu của mình, anh bắt đầu trò chuyện xoay quanh đề tài anh quan tâm nồng nhiệt: rượu. Anh dùng Search.Twitter để tìm những “mention” (bàn luận trên Twitter) về rượu Chardonnay. Mọi người bèn đặt câu hỏi và anh trả lời…
Nếu người ta nói họ đang uống Merlot, anh cho lời khuyên về Merlot nhưng không đề cập tới việc mua Merlot trên trang web của anh. Anh cũng không cố tiếp cận quá sớm, mà tập trung đầu tư vào mối quan hệ trước. Cuối cùng, người ta bắt đầu “biết” anh và nghĩ: “Ê, cái tay Vaynerchuk này biết về rượu Chardonnay. Ái chà, anh ta có kinh doanh rượu, để thử xem nào. Ê, tay này vui tính đây. Anh ta có bán rượu, lại giao hàng miễn phí nữa. Thử một chai coi nào…”. Bằng cách đó, Vaynerchuk kể anh đã xây dựng nên thương hiệu của mình (*).
Đó chỉ là một trong số không ít ví dụ cho việc biết “cưỡi” sóng sẽ giúp bạn thế nào. Cho nên thay vì lo âu, né tránh con sóng, bạn hãy tìm cách đối đầu, hay sống chung với nó thế nào có lợi nhất cho bạn, gia đình bạn. Gary Vaynerchuk đã ví von một cách hình tượng về thế giới chúng ta đang sống: thuở trước, ông bà ta khắc phục khoảng cách bằng những đoàn tàu. Ngày nay đoàn tàu đó là Web 2.0, có tên là truyền thông xã hội. Nó chạy dọc đường ray web với tốc độ khổng lồ khiến Internet vốn dĩ lặng lẽ, ẩn danh trở nên rôm rả, trực tiếp và công khai. Mọi người không chỉ biết nhau mà còn có thể biết rõ những chuyện vụn vặt về nhau, sở thích của nhau, mạnh yếu của nhau.
Những thông tin trước đây người ta phải bỏ công tìm kiếm, thậm chí phải thuê người tìm kiếm, kể cả mua lại, giờ nhan nhản. Bạn chỉ cần biết cách sàng lọc không chỉ nội dung thông tin mà cả phương thức truyền đi thông tin đó, làm lợi cho mình hay cho công ty mình. Có nghĩa bạn có thể chọn nhảy hay không nhảy lên đoàn tàu đó, nhưng đừng quên rằng “trò chơi mà tất cả đã học cách chơi rốt cuộc cũng bắt đầu thay đổi”.
___________
(*): The Thankyou Economy. Gary Vaynerchuk. Bản dịch tiếng Việt: Nền kinh tế cảm ơn (NXB Trẻ)
(1): http://www.nytimes.com/2012/12/13/world/europe/the-pope-now-on-twitter-posts-his-first-message.html
(2): https://twitter.com/DalaiLama
Theo Tuổi Trẻ Cuối Tuần

Việt Nam học gì từ vụ Philippines kiện Trung Quốc?

Các tranh chấp liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa, bãi cạn Scarborough và Biển Đông đã tồn tại từ lâu, nhưng việc Philippines khởi kiện Trung Quốc trước một Tòa Trọng tài được thiết lập theo UNCLOS là lần đầu tiên một nước khởi kiện một nước khác trước trọng tài quốc tế.

Vì thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS không giải quyết tranh chấp chủ quyền đảo, và vì Trung Quốc đã bảo lưu không chấp nhận thủ tục này cho tranh chấp phân định biển, câu hỏi trước tiên là Tòa có thể phán quyết gì về hồ sơ của Philippines không?

Chìa khóa của Philippines để khắc phục sự trốn tránh luật pháp của Trung Quốc là thiết kế hồ sơ sao cho Tòa không phải giải quyết tranh chấp chủ quyền đảo, mà cũng không phải phân định biển.

Việc đưa tranh chấp ra tòa là một bước tiến cho việc sử dụng luật quốc tế mà Việt Nam có thể rút kinh nghiệm. Nỗ lực của Philippines để khắc phục sự trốn tránh luật pháp của Trung Quốc là một sự sáng tạo mà Việt Nam cũng có thể rút kinh nghiệm.

Nhưng hồ sơ của Philippines có thể vượt qua được sự trốn tránh luật pháp đó hay không, và Tòa có thẩm quyền để, hay có đồng ý, phán quyết như Philippines mong muốn hay không, thì còn là câu hỏi.
Tuân thủ UNCLOS

Thông báo khởi kiện của Philippines đưa ra 13 điểm, bao gồm yêu cầu Tòa phán quyết rằng các yêu sách của Trung Quốc phải tuân thủ UNCLOS, nhằm cản trở lập luận dựa trên “quyền lịch sử” mà Trung Quốc có thể toan dùng, và những điểm chính sau.

Điểm 2: Các yêu sách biển của TQ đựa trên đường lưỡi bò là không phù hợp với UNCLOS và không có giá trị

Điểm yếu của Philippines ở đây là Trung Quốc chưa hề tuyên bố chính thức rằng các yêu sách biển của họ ở Biển Đông là dựa trên đường lưỡi bò.

Trung Quốc có thể tuyên bố rằng các yêu sách biển của họ là dựa trên UNCLOS, dựa trên quan điểm các đảo, hay một số đảo, thuộc Hoàng Sa, Trường Sa được hưởng đầy đủ các cơ chế vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa. Tòa có sẽ cho rằng không có đảo nào được hưởng cơ chế EEZ? Khả năng đó là thấp. Tòa có sẽ cho rằng EEZ của các đảo này không thể vươn ra đến vị trí của các “yêu sách biển của TQ đựa trên đường lưỡi bò”?

Tòa có thể làm điều đó cho đoạn đường lưỡi bò trong khu vực Scarborough-Luzon, cách Hoàng Sa, Trường Sa hơn 200 hải lý. Nhưng cho các khu vực khác gần hai quần đảo này hơn thì không chắc là Tòa có thẩm quyền để làm điều đó, hay sẽ đồng ý. Tuy nhiên, nếu Trung Quốc dùng lập luận này thì lập luận dựa trên “quyền lịch sử” sẽ bị loại bỏ.

Như vậy, điểm này có thể được Tòa công nhận và vô hiệu hóa đường lưỡi bò trong khu vực Scarborough-Luzon, nhưng không chắc được Tòa công nhận cho những khu vực khác.

Dù sao đi nữa, điểm này có khả năng làm sáng tỏ về cơ sở của các yêu sách biển của Trung Quốc, và có thể là một cái bẫy để triệt tiêu khả năng Trung Quốc dùng lập luận dựa trên “quyền lịch sử”.

Điểm 4: Đá Vành Khăn (Mischief) và đá Ken Nan (McKennan) không phải là đảo mà là một phần của thềm lục địa của Philippines

Điểm 6: Đá Ga Ven (Gaven) và đá Xu Bi (Subi) không phải là đảo và không nằm trên thềm lục địa của Trung Quốc, và vì vậy xây cất của Trung Quốc tại đó là bất hợp pháp

Toà có thể công nhận là đá Vành Khăn, Ken Nan, Ga Ven, Xu Bi không phải là đảo (nếu sự thật là đá Ken Nan và Ga Ven là thấp hơn mức thủy triều cao).

Nhưng để công nhận là đá Vành Khăn, Ken Nan là một phần của thềm lục địa của Philippines, hay xây cất của Trung Quốc tại đá Ga Ven, Xu Bi là bất hợp pháp, Tòa phải cho rằng những đảo như Ba Bình, Thị Tứ, Bến Lạc và Trường Sa Lớn không có EEZ, hay EEZ của các đảo này không vươn ra đến các đá trên. Không chắc Tòa sẽ làm điều thứ nhất, và không chắc Tòa có thẩm quyền để làm điều thứ nhì.

Hai điều này có ảnh hưởng đến Việt Nam. Việt Nam phải xác định đá Ken Nan và Ga Ven có cao hơn mức thủy triều cao hay không, và quyết định quần đảo Trường Sa có EEZ vươn ra đến bốn đá này hay không. Nếu có, Việt Nam phải yêu cầu Tòa cho mình can thiệp.

Điểm 8: Bãi cạn Scarborough, đá Gạc Ma (Johnson), Châu Viên (Cuateron) và Chữ Thập (Fiery Cross) là đá, không được hưởng cơ chế EEZ cách các đá này hơn 12 hải lý, và việc Trung Quốc đòi biển cách các đá này hơn 12 hải lý một cách bất hợp pháp

Rất có thể là Tòa sẽ công nhận rằng bãi cạn Scarborough, đá Gạc Ma (nơi Trung Quốc tàn sát binh lính Việt Nam năm 1988), Châu Viên và Chữ Thập là đá và không có EEZ.

Nếu vậy, Tòa sẽ công nhận rằng việc Trung Quốc đòi biển cách Scarbrough hơn 12 hải lý là bất hợp pháp.

Nhưng để công nhận rằng việc Trung Quốc đòi biển cách đá Gạc Ma, Châu Viên và Chữ Thập hơn 12 hải lý cũng là bất hợp pháp, Tòa phải cho rằng những đảo như Ba Bình, Thị Tứ, Bến Lạc và Trường Sa Lớn không có EEZ, hay EEZ của các đảo này không vươn ra đến các đá trên. Không chắc Tòa sẽ làm điều thứ nhất, và không chắc Tòa có thẩm quyền để làm điều thứ nhì.

Việt Nam phải xác định rằng đá Gạc Ma, Châu Viên và Chữ Thập có được hưởng cơ chế EEZ hay không. Nếu cho là có, Việt Nam phải yêu cầu Tòa cho mình can thiệp để khẳng định quyền lợi.

Điểm 9: Trung Quốc không được cấm Philippines khai thác tài nguyên trong vùng nước lân cận với bãi cạn Scarborough và đá Gạc Ma, cũng như phải chấm dứt các hoạt động không phù hợp với Công ước trong vùng kế cận những bãi cạn và đá này

Philippines không nói rõ khái niệm “vùng nước lân cận” và vùng “kế cận” là gì. Nếu đó là lãnh hải 12 hải lý thì Tòa sẽ không có thẩm quyền để cho rằng bãi cạn Scarborough và đá Gạc Ma là của nước nào, và sẽ không thể công nhận điểm này.

Điểm 10: Philippines được hưởng 12 hải lý lãnh hải, 200 hải lý EEZ cùng với thềm lục địa tính từ đường cơ sở quần đảo

Nếu không có chồng lấn thì sẽ không có vấn đề gì cản trở Philippines được hưởng các vùng biển trên. Nhưng thực tế là EEZ và thềm lục địa của Philippines có chồng lấn với lãnh hải 12 hải lý của các đảo, đá Trường Sa. Nếu quần đảo Trường Sa có đảo có EEZ thì sẽ có thêm chồng lấn với EEZ của các đảo này.

Để công nhận là Philippines được hưởng các vùng biển trên mà không có chồng lấn với EEZ thuộc Trường Sa, Tòa phải cho rằng những đảo như Ba Bình, Thị Tứ, Bến Lạc và Trường Sa Lớn không có EEZ. Không chắc Tòa sẽ làm điều đó.

Việt Nam phải quyết định đảo nào của quần đảo Trường Sa có EEZ, và nếu có đảo có EEZ thì Việt Nam phải yêu cầu Tòa cho mình can thiệp để bảo vệ EEZ đó.
Câu hỏi tiếp

Philippines đã thách Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế từ năm 2011. Sau khi Trung Quốc không hưởng ứng, Philippines đã tuyên bố sẽ đơn phương đưa quan điểm của mình ra một Tòa Trọng Tài của UNCLOS, và cuối cùng họ cũng đã làm điều đó.

Đó là một bước tiến quan trọng cho việc thật sự sử dụng luật quốc tế cho các tranh chấp tại Biển Đông, thay vì chỉ nói xuông về luật quốc tế. Hành động của Philippines cho thấy họ không bị trói buộc vào đàm phán với Trung Quốc.

Khi Trung Quốc không thực tâm đàm phán, Philippines sẵn sàng yêu cầu một trọng tài quốc tế phân xử. Đó là những điều Việt Nam cần rút kinh nghiệm.

Thế nhưng, theo tuyên bố khởi kiện thì hồ sơ của Philippines có vẻ yếu trong nhiều điểm, trừ cho vùng EEZ trong khu vực Scarborough-Luzon. Có thể là chiến thắng pháp lý trong khu vực đó là tạm đủ cho Philippines.

Có thể là mục đích của Philippines là làm sáng tỏ về các yêu sách của Trung Quốc và để triệt tiêu những lập luận dựa trên “quyền lịch sử” mà Trung Quốc có thể toan dùng, nhằm sẽ tấn công tiếp trong tương lai. Nhưng như thế cũng đem lại nhiều rủi ro. Trung Quốc sẽ lợi dụng mỗi điểm của Philippines không được Tòa công nhận để tuyên tuyền tối đa cho các yêu sách của họ.

Ngoài ra, theo thông báo khởi kiện thì hồ sơ của Philippines có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của Việt Nam, tùy theo Việt Nam xác định quyền lợi của mình bao gồm những gì.

Vì vậy, hành động của Philippines đặt Việt Nam vào vị trí phải xác định quyền lợi và yêu sách của mình bao gồm những gì, để có thể quyết định phải phản ứng thế nào, thí dụ như yêu cầu Tòa cho mình can thiệp.

Không rõ Việt Nam có sẵn sàng để xác định về quyền lợi và yêu sách của mình chưa, nhưng việc xác định đó không phải là điều xấu, và không sớm thì muộn Việt Nam cũng phải làm.
Dương Danh Huy và Phạm Thanh Vân
Bài thể hiện quan điểm của hai tác giả, thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông.

Huy Đức sẽ không đơn độc

Là một trong những người sống gần trọn đời trong chế độ cộng sản, tôi chỉ đọc, chỉ biết những gì báo chí của Đảng viết ra . Một thời tôi đã từng say mê những bài viết của Thép Mới, Nguyễn Thành Lê, Nguyễn Hữu Chỉnh , Hữu Thọ, Hoàng Tùng, và cả Bùi Tín nữa khi anh ta còn làm Phó Tổng biên tập Báo Nhân dân phụ trách tờ Nhân dân chủ nhật . Có lúc chợt nghĩ nếu Olimpic có môn viết xã luận thì chắc chắn Việt Nam sẽ có huy chương vàng !

Sau năm 1975, một thế hệ các nhà báo trẻ xuất hiện. Họ trưởng thành ở một thành phố gặp muôn trùng khó khăn nhưng cũng mạnh mẽ trỗi dậy và đi đầu trong công cuộc đổi mới . Đó là Đỗ Trung Quân, Nguyễn Ngọc Châu, Lê Thọ Bình, Bùi Thanh, Thủy Cúc , Lưu Đình Triều ,Tâm Chánh, Đà Trang… ở tờ Tuổi trẻ, Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Văn Thịnh, Danh Đức … ở tờ Thanh Niên ; Trong số đó người nổi tiếng nhất là Huy Đức . Tôi đã có nhiều lần cộng tác với số nhà báo trẻ sớm thành danh nói trên nhưng với Huy Đức thì chưa một lần gặp mặt. Chỉ “ gặp” anh trên các bài viết nóng hổi tính thời sự và nhân văn . Sau khi buộc phải rời các tờ báo khá mạnh bạo ở Sài Gòn, Huy Đức nổi tiếng với blog “lề trái” Osin , nhưng tôi cũng ít đọc cho tới khi Bên thắng cuộc ra đời thì nó như một quả bom nổ giữa sự nhàm chán của dư luận làm rúng động cả “quân ta” lẫn “quân địch”.

Huy Đức tung ra ánh sáng biết bao chuyện được gọi là “thâm cung bí sử” mà cả hai bên chiến tuyến, hai bên cựu thù đều dấu kín . Huy Đức viết những điều mà nhiều người đương thời còn “sống nhăn răng” ra đó” nên người khen kẻ chê, người phản ứng gay gắt khi chạm nọc là điều không tránh khỏi .

Với một số bà con định cư ở Quận Cam và nhiều thành phố bên nước Mỹ xa xôi, những cay đắng họ phải gánh chịu từ chuyện cải tạo tư sản, cải tạo ngụy quân ngụy quyền, từ chuyện đổi tiền, chuyện vượt biên với biết bao rủi ro và mất mát … sẽ không bao giờ nguôi ngoai sự uất hận trong lòng họ cho dù hòa bình đã hơn ba chục năm rồi và nhiều người đã lần lượt trở về quê hương đoàn tụ gia đình tìm cơ hội làm ăn, thậm chí nhiều người già trong đó có những người nổi tiếng là tướng lĩnh là nhà chính trị trong quân đội Việt Nam cộng hòa, là văn nghệ sĩ nổi danh đã xin được về chết trên mảnh đất quê hương bởi vì như Đỗ Trung Quân đã viết khi còn là phóng viên Tuổi trẻ “Quê hương là chùm khế ngọt” . Ấy là lúc Trung Quân còn trai trẻ và tương lai của dân tộc cũng như tình yêu quê hương đất nước còn đang cháy bỏng trong trái tim anh chứ không phải của Đỗ Trung Quân chín chắn và trưởng thành như bây giờ .

Cho nên một số bà con Việt kiều dù chưa đọc một dòng Bên thắng cuộc nhưng nghe lời xúi dục của các phần tử quá khích đã đi biểu tình chống Bên thắng cuộc là một điều đáng tiếc . Nếu họ đọc , đọc thật kĩ và suy ngẫm về những điều Huy Đức nói về những “người thua cuộc” thì họ sẽ từ chối đi “biểu tình “ như vậy . Quả thật, nhờ những thông tin mà Huy Đức cung cấp trong kho sử thi đồ xộ của đất nước trong hơn ba chục năm qua , chúng ta bây giờ mới có thể biết được vì sao Cộng sản giải phóng được Sài Gòn và toàn Miền Nam . Không chỉ là chuyện hai miền “nội chiến”” nồi da xáo thịt” mà có sự can dự và hưởng lợi của các nước lớn mang danh đồng minh với cả hai phía của cuộc chiến dai dẳng ba chục năm

Tất cả các câu chuyện về thành phố Sài Gòn sau giải phóng đã được Huy Đức giải mã một cách đầy đủ và chân thực . Tại sao những người chịu đau thương và mất mát trong các sự kiện kể trên lại có thể phản đối tác giả khi anh đã giúp họ nói lên một phần sự thật để phần nào nguôi ngoai nỗi đau thương dấu kín bấy lâu. Có lẽ chỉ vì chuyện Huy Đức đã mô tả rất chi tiết việc quân đội Việt Nam cộng hòa tan rã nhanh chóng trước sức tấn công như vũ bão của quân đội miền Bắc chăng ? Lúc đó ở Hà Nội, tôi thắc mắc tại sao Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vốn là một vị tướng lại ra lệnh “tùy nghi di tản” dẫn đến cuộc tháo chạy ồ ạt từ Ban Mê Thuột, đến Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng …cho đến tận Sài Gòn . Nếu chỉ bằng những thông tin trên báo chí Miền Bắc thì ta có thể suy ra rằng quân đội cộng hòa Sài Gòn là đội quân bạc nhược sau khi bị Mỹ bỏ rơi . Nhưng Huy Đức đã chỉ ra rằng có rất nhiều tướng lĩnh và sĩ quan đã “tử vì đạo”. Có người đã bắn chết cả gia đình sau đó tự sát như các võ sĩ Nhật Bản . Đáng lẽ người Việt phải rời quê hương ra đi phải biết ơn Huy Đức đã cho tòan thế giới biết bên cạnh những tướng lĩnh bạc nhược vẫn có những người “anh hùng” như vậy chứ. Vậy thì cớ gì phản đối Bên thắng cuộc ?

Năm 1995, trên tờ Tuổi trẻ chủ nhật nhân kỉ niệm 20 năm ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước tôi đã viết bài “Sài Gòn 1975-1995 dưới con mắt một người Hà Nội” . Bài viết kể chuyện về ông chú vì đói thông tin đã bán hết hàng hóa ôm một đống tiền , khi chính quyền quân quản đổi tiền ông mất trắng. Trong khi người cháu là sĩ quan quân đội , là đảng viên cộng sản ngày 30-4 vào tiếp quản thành phố đã không dám đến gặp người chú vì sợ bị liên lụy. Chuyện của người anh trai của tôi với ông chú không chỉ là chuyện cá biệt trong trận chiến ba mươi năm giữa những người cùng dòng máu đỏ da vàng , cho nên chuyện cha con Lưu Quý Kỳ và Lưu Đình Triều cũng chẳng có gì là khó hiểu và anh Triều không nên có phản ứng với người đồng nghiệp một thời cùng chung lưng đấu cật làm nên thương hiệu của tờ Tuổi trẻ . Cuộc chiến Nam Bắc không chỉ hy sinh hàng triệu nhân mạng những người con ưu tú của dân tộc mà còn là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa một bên là cộng sản một bên là cộng hòa mà cuộc chiến về ý thức hệ này còn dai dẳng đến tận bây giờ. Nếu nó không chấm dứt với một bên thắng một bên thua hoàn toàn thì sẽ không bao giờ có hòa hợp dân tộc một cách đúng nghĩa

Nếu như phần I của Bên thắng cuộc với tiêu đề “ Giải phóng” làm cho ai đó bên thua cuộc phản ứng là điều có thể hiểu được thì phần II có tiêu đề “ Quyền bính” đã và sẽ làm cho nhà cầm quyền Hà Nội, bên thắng cuộc phát điên . Bao nhiêu chuyện thâm cung bí sử dấu lẹm đã bị Huy Đức phơi bày . Huy Đức “khôn “ lắm, anh chỉ cung cấp thông tin có dẫn chứng người nói, dẫn chứng từ các văn bản “mật” chứ không bình luận. Tự thân các sự kiện nói lên tất cả tùy nhận thức của người đọc . Cũng không ai có thì giờ và tâm huyết đi kiểm chứng xem những thông tin Huy Đức tung ra là đúng hay sai, đúng bao nhiêu phần trăm, sai bao nhiêu phần trăm. Cho nên nói như Bùi Tín rằng Huy Đức mới chỉ nói 30% sự thật là nói đại. Còn 70% nữa Bùi Tín có giỏi thì nói nốt đi. Cần biết rằng để viết Bên thắng cuộc , Huy Đức không chỉ dành 3 năm để viết và chỉnh sửa, anh đã dành gần cả trọn cuộc đời làm báo của mình để tích lũy sử liệu , để thẩm tra các dữ kiện, để phỏng vấn các nhân vật và nhờ có internet, anh đã lưu trữ được nó trong một chiếc laptop nhỏ bé để mang theo nó sang nước Mỹ rồi tung nó ra toàn cầu bằng giải pháp kĩ thuật số, điều mà ở trong nước anh không thể làm được.

Sau một thời gian im ắng, các báo trong nước chủ yếu là các tờ báo công an bắt đầu phản công Bên thắng cuộc và tác giả Huy Đức . Đọc qua một vài bài tôi thấy hình như họ viết theo sự chỉ đạo của cấp trên nên gò ép và thiếu sự thuyết phục. Những “dư luận viên” mà ông Trưởng ban tuyên huấn thành ủy Hà Nội nói theo sự chỉ đạo của cấp trên không đủ tâm và đủ tài để chọi với các bài phản biện của các tay bút bên lề trái . Nó tương tự như bài của ông nghị Hoàng Hữu Phước viết trên blog của mình đại ý rằng một thằng nhóc mới 13 tuổi khi Sài gòn giải phóng thì biết gì mà viết nhăng viết cuội . Cái ông nghị rởm này như có bạn viết trên Facebook là đã bị ung thư dây thần kinh giai đọan cuối này làm sao có đủ trình độ và tư cách phê phán Bên thắng cuộc .

Chúng ta phải cám ơn Bên Thắng cuộc và tác giả Huy Đức đã dũng cảm giải mã biết bao sự thật ở Ba Đình . Ví dụ người có công tiến hành đổi mới đất nước là ông Trường Chinh về lí luận và ông Võ Văn Kiệt về hành động chứ không phải ông Nguyễn Văn Linh với mấy bài “Những việc cần làm ngay”. Ví dụ vì sao các lãnh đạo Việt nam từ thời ông Lê Duẩn, ông Trường Chinh, ông Nguyễn Văn Linh, ông Đỗ Mười, ông Lê Khả Phiêu, ông Nông Đức Mạnh , đến ông Nguyễn Phú Trọng hôm nay đều “kiên trì” định hướng xã hôi chủ nghĩa cho dù mang tiếng là giáo điều . Bởi vì tuy Huy Đức không nói ra nhưng nếu không bám vào cái lí thuyết không tưởng đó thì không có lí do gì tồn tại Đảng Cộng sản mà nếu không còn Đảng thì còn đâu mảnh đất tham nhũng như ngày hôm nay . Cho nên nói chống tham nhũng mà vẫn khư khư theo đuổi định hướng XHCN một cái rất mơ hồ thì chỉ là nói chống cho vui vậy thôi. Bây giờ bên Đảng có Ban nội chính chống tham nhũng, bên chính quyền lại mới đẻ thêm Ban chỉ đạo gì đó tương tự thì chỉ là cuộc chiến giữa Đảng và Chính quyền chứ bè lũ tham nhũng vẫn phè phỡn ngoài vòng pháp luật vì các ông đang kềm chế nhau chứ có đánh gì tham nhũng đâu

Trong hai thứ những người cộng sản sợ nhất là chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa giáo điều. Xét lại hiểu theo một cách nào đó là một sự đổi mới chủ nghĩa Maxk đã lỗi thời còn giáo điều là cố níu kéo cái đã lỗi thời đó để thể hiện mình là người trung thành tuyệt đối với lí tưởng mà thời trai trẻ mình đã mù quáng tuyên thệ . Tất cả những gì làm trái quy luật dù cố níu kéo bằng lý thuyết ma giáo hay bằng chuyên chính vô sản tàn bạo , mà tàn bạo nhất là chiến tranh đều không thoát khỏi sự phán xét và trừng phạt của lịch sử mà lịch sử thì rất công bằng.

Nhiều thế hệ người Việt nam phải biết ơn “sử gia” Huy Đức bằng những thông tin mà anh cung cấp . Những đời tư của các nhân vật quyền thế từ Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Lê Đức Anh, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Văn Tiến Dũng, Đoàn Khuê, Võ Nguyên Giáp , Đinh Đức Thiện , Mai Chí Thọ, Nguyễn Hà Phan, Trần Xuân Bách, Nông Đức Mạnh … Tất cả những sự kiện hư hư thực thực kể cả chuyện Hồ Chí Minh có vợ đăng trên tờ Tuổi trẻ -lí do mà Tổng biên tập Kim Hạnh mất chức và suốt đời không được làm báo , những chuyện Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng có bố có mẹ chứ không phải là con ông nọ bà kia đều đã được Huy Đức công khai danh tính và có thể đó là lí do mà các “dư luận viên” viết theo Lề Đảng sẽ vin vào đó để kết tội Huy Đức làm lộ bí mật quốc gia và bí mật đời tư chiểu theo nghị định này nghị định nọ để có thể bỏ tù khi Huy Đức về tới sân bay Tân Sơn Nhất

Huy Đức đã không thể từ trong nước phát hành Bên Thắng cuộc, anh cũng chưa thể in thành sách . Anh lựa chọn phát hành trên mạng. Cách phát hành này có thể không mang lại cho anh nhiều tiền bạc tương xứng với công sức anh bỏ ra và giá trị của quyển sách mà anh mang đến cho độc giả nhưng bằng cách này sẽ có nhiều người trên thế giới tìm đọc quyển sách đang rất hot này. Càng có nhiều người khen kẻ chê càng có nhiều người tìm đọc. Đó là quy luật mà những người làm công tác tuyên giáo của Đảng Cộng sản rất biết nhưng họ vẫn cứ phải lên án nếu như không muốn bị cấp trên khiển trách , mắng mỏ . Và tôi nghĩ như ai đó đã từng viết rằng các lãnh đạo Việt nam, các Trung ương ủy viên, các ủy viên Bộ Chính trị càng nên đọc sách này để biết một phần sự thật mà họ chưa được biết . Biết để mà phòng thân và tránh các sai lầm khuyết điểm mà tư tưởng giáo điều đã ám ảnh họ , Trên hết ông Nguyễn Phú Trọng cần đọc quyển sách này . Và nếu là người thực sự cầu thị, thì ông phải khuyến khích các đảng viên của ông cùng đọc mới đúng . Và tôi tin lịch sử sẽ rất công bằng với Huy Đức, một nhà báo dấn thân.

Lương Kháu Lão
* Tác giả là cựu tổng biên tập một tờ báo trong nước