Thứ Bảy, ngày 09 tháng 2 năm 2013

Tết, nhớ…

Tác giả Song Chi

Từ khi rời khỏi Việt Nam, với tôi, cũng có nghĩa là không còn có Tết nữa. Mà có lẽ, với rất nhiều người Việt tha hương là như thế. Tết ở nước ngoài chẳng có ý nghĩa gì nhiều. Ngày Tết vẫn phải đi làm như thường lệ, tối 30, trưa mùng một hay mùng ba có bày biện cúng bái thì cũng chỉ trong nhà. Muốn nấu món Việt thì cũng có gia vị hương liệu, phở khô, bún khô, cá lóc cá rô cho đến con tép con ốc ướp lạnh…nhưng tất nhiên, không thể nào ngon như ở VN, ăn thức ăn tươi, gia vị đầy đủ hơn.
Ở thành phố nào có đông người Việt sinh sống thì cộng đồng người Việt cũng ráng tổ chức ít nhất một buổi họp mặt ăn Tết với nhau. Có những món ăn VN, chương trình văn nghệ, múa lân, ông Táo, dăm ba trò chơi cho lũ trẻ…Có khi cùng một thành phố nhưng có năm ba cái Tết trùng hoặc khác ngày, do những đoàn thể khác nhau tổ chức.
Năm đầu tiên khi mới đến Na Uy, tôi còn siêng đi ăn Tết cả ở Kristiansand, cả ở Oslo. Nhưng chỉ cần đến năm thứ ba là không còn hào hứng đi. Tại sao vậy. Không biết ở các nước khác Tết của cộng đồng người Việt ra sao nhưng những cái Tết ở đây, với tôi, thường gợi lên một cảm giác buồn nhiều hơn vui. Trong điều kiện eo hẹp về tài chính, thời gian và nhất là nhân sự, những chương trình thường được tổ chức một cách rất nghiệp dư, từ phần trang trí, nghi lễ, cúng bái, ông Táo diễn trò…cho đến phần văn nghệ cây nhà lá vườn với những giọng ca “vui là chính”; mọi người đến đó, ai biết nhau trước thì hỏi thăm vài câu xã giao, còn lại lo ăn, xem chương trình Tết rồi về.
Tôi biết có nhiều người ở nước ngoài chừng một thời gian cũng không đi ăn Tết với cộng đồng nữa, vì lười, vì năm nào cũng chỉ có bấy nhiêu trò. Họ ở nhà, cúng bái, ăn uống với gia đình, bạn bè, rồi thôi. Tương đối đầy đủ, đông vui nhất, còn khiến mọi người muốn tham dự nhất, chắc chỉ có Tết của cộng đồng người Việt ở Little Saigon, California.
Tết ở VN thì khác. Không khí chờ Tết đã có từ trước đó cả gần…hai tháng. Ở mấy thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng… thì từ trước Giáng Sinh chừng hai ba tuần mọi người đã bắt đầu có tâm lý vừa đi học, đi làm vừa…ngóng Giáng Sinh, ngóng Tết rồi. Lúc này là lúc bắt đầu mua sắm lai rai, càng cận ngày không khí mua sắm càng nhộn nhịp hối hả. Nhất là tuần lễ cuối cùng, khi tất cả mọi công nhân viên chức, người đi làm đều có tiền thưởng Tết, cộng với “tháng lương thứ 13” như thông lệ của nhiều cơ quan. Lúc này là lúc mọi gia đình bung ra sắm sửa.  Người giàu thì đã chuẩn bị mọi thứ xong từ lâu, người nghèo thì phải đợi đến sát ngày mới xoay sở được chút tiền, có khi tận chiều 30 vẫn còn đi vét vội mấy hộp mứt ế, chậu hoa cũ bán hạ giá.
Rồi những ngày Tết kéo dài suốt mấy ngày, với người Việt phần đông là nhẩn nha cho đến mùng bốn mùng năm thậm chí mùng mười, dù đã đi làm vẫn chưa trở lại nhịp điệu ngày thường được.
****
Những năm sau 1975 cho đến cuối những năm 80, cả nước nghèo xác xơ, Sài Gòn và miền Nam cũng nghèo. Gia đình tôi và họ hàng đa phần cũng sống trong hoàn cảnh khó khăn chung của VN lúc bấy giờ. Tôi còn nhớ thời kỳ phải ăn độn-hết độn sắn (củ mì) lại độn mì sợi, cao lương, bo bo…Bột mì mua về phải bày ra đủ món làm cho đỡ ngán, nắm thành từng cục, luộc, chấm nước mắm mỡ hành, làm bánh canh, làm đủ loại bánh…Người Sài gòn và người miền Nam trước năm 1975 chưa bao giờ đói đến mức phải ăn độn, bây giờ mới có được sự trải nghiệm này!
Nhưng dù thiếu thốn đến đâu, phong tục của người Việt là vẫn phải cố gắng để có một cái Tết tươm tất. Tết là một trong những dịp hiếm hoi mà gia đình nào cũng cố cho con cái khỏi phải ăn độn, lại có bánh chưng, thịt mỡ, dưa hấu, có nhiều món ngon. Nên với bọn trẻ con, lũ thiếu niên, luôn luôn vui sướng khi Tết đến.
Hồi ấy còn cho đốt pháo. Nhà tôi thường chỉ dám mua một phong pháo chuột đốt mừng giao thừa. Vào giờ khắc trước giao thừa chừng mười lăm phút nửa tiếng, cả xóm nhà nào cũng bày mâm cúng giao thừa và đốt pháo. Cứ nhà này đốt xong lại tiếp đến nhà khác. Tiếng pháo râm ran từ chỗ này sang chỗ kia. Lũ trẻ con ra đứng trong sân, nghe hướng pháo, đoán pháo nhà ai nổ, nhà nào giàu đốt nhiều v.v…Thường mỗi đứa chỉ được sắm một bộ quần áo mới, may lắm thì một quần hai áo. Ngày mùng một là phải mặc ngay cho nó…hên.
Vậy mà những cái Tết thời đó tôi lại nhớ. Sau này, khi đã thành người phụ nữ tuổi ba mươi, bốn mươi…Tết không còn nhiều háo hức để mong chờ, với tôi, nếu không muốn nói là ngược lại, Tết đến chỉ thêm mệt vì phải mua sắm, nấu nướng nhiều món, đi chúc Tết sếp, ghé thăm người này người kia, làm những nghi thức xã giao theo thông lệ. Nhưng là dân sống ở Sài Gòn, tôi vẫn thích khoảng thời gian từ Giáng Sinh cho đến trước Tết. Trong mắt tôi, đó là lúc Sài Gòn đẹp nhất.
Một phần, đây là những ngày thời tiết đẹp nhất trong năm. Trời mát dịu, và nắng vàng ấm áp rải nhẹ trên mọi vật. Nắng mong manh tưởng như có thể tan biến đi bất cứ lúc nào, khiến người cũng tự nhiên đi nhẹ, nói khẽ kẻo nắng và cả thời gian bay mất. Đây cũng là lúc nhiều con đường của Sài Gòn khoác một diện mạo mới. Những ngôi nhà, cửa hàng, quán xá, khách sạn quét vôi, trang hoàng rực rỡ, khu trung tâm phố xá lung linh đèn sao muôn màu.
Tôi thường hay ngồi với một hai người bạn thân trong những quán cà phê khác nhau. Vừa lắng nghe tiếng nhạc phát ra từ dàn máy hoặc tiếng hát của người nghệ sĩ hòa cùng tiếng piano trong một góc quán, vừa lơ đãng nhìn ra đường. Nhìn những dòng xe ngược xuôi trôi đi không ngừng. Câu chuyện đứt quãng. Mỗi người ném ra vài câu bâng quơ rồi ai nấy lại theo đuổi những suy nghĩ riêng.
Lại có những lúc ngồi với cả nhóm bạn, cùng thuộc giới văn nghệ, trong một quán nhậu. Phụ nữ, uống chả bao nhiêu, chủ yếu ngồi với bạn bè. Như sợ khoảng thời gian cuối năm qua đi. Lại có những lúc một mình chạy xe qua những con đường. Cảm giác xao xuyến bâng khuâng khi một năm cũ sắp qua, năm mới sắp đến…
Những ngày trong Tết, Sài Gòn, và cả Hà Nội lại đẹp hơn ngày thường nhờ…vắng vẻ. Dân nhập cư từ các tỉnh đã về quê ăn Tết, dân tại chỗ nhiều gia đình sau này thường có khuynh hướng đi chơi xa ở nước ngoài vào dịp này, nên thành phố trở nên thoáng đãng, sạch sẽ hẳn ra. Không còn những dòng người, xe máy dày đặc trên đường, tiếng còi xe, khói xăng mù mịt, bụi bặm, ô nhiễm, những chỗ đào đường để sửa chữa, những “lô cốt” giữa đường…cũng được dẹp đi. Chỉ có mấy ngày ngắn ngủi này người Sài Gòn, Hà Nội mới có cảm giác nhẹ nhõm được một chút. Và mới có thời gian thư thả để nghỉ ngơi cùng gia đình, bạn bè, hoặc có thể tĩnh tâm ngắm nhìn thành phố mà quanh năm vì đời sống quá bận rộn với việc mưu sinh nên không làm được một điều đơn giản như vậy.
Những ngày Tết ở mấy thành phố lớn của VN, quán ăn, nhà hàng hầu hết chỉ đóng cửa chiều ba mươi cùng lắm là thêm sáng mùng một, còn lại ngày nào cũng mở cửa đến tận đêm khuya. Sài Gòn thì nổi tiếng với khâu ẩm thực, dịch vụ. Muốn ăn cái gì cũng có, từ đặc sản của mọi miền đất nước cho đến món Thái, Hàn, Nhật, Pháp, Ấn, Mêxicô…Từ món bình dân ngồi ăn ngoài đường cho đến tiệc buffet hàng trăm món trong những nhà hàng, khách sạn sang trọng. Quán café, quán bar, phòng trà… với đủ loại nhạc sống (live) cho khách hàng với các loại gu khác nhau.
Dịp Noel, Tết Dương lịch, Tết Âm lịch người nước ngoài đến Hà Nội, Sài Gòn cũng nhiều, chỗ nào cũng có thể thấy khách du lịch với đủ màu da, ngôn ngữ khác nhau. Nói gì thì nói, đón năm mới ở những đất nước đang phát triển như Việt Nam có những cái lợi như giá cả quá rẻ, thức ăn thì ngon. Mà cũng đâu thiếu món ăn chơi từ rượu, vũ trường cho đến gái vừa trẻ vừa đẹp, giá nào cũng có. Riêng phần dịch vụ, thái độ đối với khách hàng thì Sài Gòn hơn hẳn Hà Nội một bậc.
Đó là Tết ở VN trong mắt du khách. Còn với người dân, những năm sau này khoảng cách giàu nghèo ở VN ngày càng lớn, và Tết là lúc mà cái khoảng cách đó hiển hiện rõ nhất, giữa những thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn với tỉnh lẻ, vùng sâu vùng xa; giữa tầng lớp quan tham, tư bản đỏ và người dân nghèo. Nếu như với những người có tiền, Tết là dịp tha hồ mua sắm ngập mặt, vui chơi trong, ngoài nước, thì với số đông khác, Tết là nỗi ám ảnh, lo lắng, làm sao kiếm được đủ mâm cơm đạm bạc cúng ông bà, miếng thịt cho người già, cái áo mới cho con trẻ. Thậm chí, làm sao trả hết những món nợ trong năm để sang đầu năm mới không bị chủ nợ réo ngoài cửa xui cả năm.
Năm 2012 vừa qua là một năm mà tình hình kinh tế tuột dốc, khó khăn thấy rõ, sẽ có nhiều xí nghiệp, công ty nợ hoặc “xù” tiền thưởng Tết cho công nhân, nhân viên, cũng đồng nghĩa sẽ có thêm nhiều gia đình không có Tết. Trong lúc các quan tham, đại gia thì vẫn thả giàn chi tiêu, chẳng hề hấn gì.
****
Cứ những ngày Tết là tôi lại nhớ nhà. Nhớ Sài Gòn, nhớ bạn bè, nhớ những quán café, quán ăn quen, những món ăn ngon…
Trong khi đó, dù đã sống hơn 3 năm ở Na Uy, rất biết ơn sự bình yên, đời sống êm ả, ít lo âu căng thẳng ở đất nước này, tôi vẫn không sao quen được với cái vắng vẻ, tĩnh lặng, thậm chí buồn tẻ của Na Uy, đặc biệt vào những dịp Noel, Tết Dương Lịch.
Người Na Uy và hình như dân các nước Bắc Âu đều thế, vào những dịp này, thường dành cho gia đình, ăn uống họp mặt ở nhà, ít khi ra ngoài, nếu có bạn bè họ hàng cũng là mời nhau đến nhà. Một phần vì thời tiết lạnh quá, mùa đông lại có tuyết và trời tối sớm, nên người ta nói chung ngại ra bên ngoài. Bọn trẻ, nếu có ra ngoài thì cũng chui vào quán cafe, quán bar nhảy nhót, uống rượu cho ấm.
Khí hậu lạnh cũng ảnh hưởng phần nào đến tính cách của một dân tộc. Người dân các xứ nóng như Châu Phi, Nam Mỹ, Trung Đông hay Nam Á, Đông Nam Á, thường nồng nhiệt, cởi mở, nói nhiều, cười nhiều, nhảy múa nhiều (nhất là dân châu Phi và Nam Mỹ), thích vui chơi ngoài trời. Còn dân Bắc Âu, trời lạnh khiến người ta dường như cũng nói ít hơn, trầm lặng hơn. Mặc dù họ cũng mua sắm rất nhiều, tiêu rất nhiều tiền cho thực phẩm, áo quần, rượu, các thứ trang hoàng nhưng là để đón Noel, đón Tết Dương lịch trong nhà, với gia đình, bạn bè.
Từ khoảng một tháng trước Noel, bắt đầu Mùa Vọng, những cây nến màu tím được thắp lên trong ngôi nhà của người Na Uy. Cứ mỗi tuần thắp một ngọn. Lần lượt, đến hết cây nến thứ tư là Noel đến. Ngày Noel với phần lớn dân Na Uy là dành để đi nhà thờ, gặp gỡ những người bạn tại đó, buổi tối ăn uống với gia đình. Phố xá, cửa hàng, quán ăn cho đến siêu thị đều đóng cửa vào ngày Noel hay Tết Dương lịch. Ngoài đường vắng ngắt. Dân nhập cư dù ở xứ nào rồi cũng phải quen với những điều này.
Và như vậy là cái Tết thứ tư lại sắp đến với tôi ở Na Uy, có khác chăng, là cái Tết thứ nhất ở Oslo, so với mấy lần trước, ở Kristiansand…Một năm lại sắp trôi qua.
Song Chi
*Bài đã đăng trên báo Trẻ số Xuân. 
Theo FB Song Chi

Ngày của những phép lạ

Bạn có tin cuộc đời vẫn còn phép lạ không? Tôi hoàn toàn tin điều đó. Ngày cuối cùng của năm cũ là một ngày của những phép lạ.
KHÚC MỘT:
Theo tôi, đây là ngày đặc biệt nhất trong một năm. Đặc biệt hơn cả ngày đầu tiên của năm mới. Ngày đó, tất cả người Việt Nam dù ở đâu và làm gì đều tìm cách trở về cố hương. Và nếu không thể trở về được thì lòng cũng theo những con đường của ký ức mà trở về.
Ngay từ khi còn rất trẻ tôi đã phải sống xa nhà. Và cứ đến những ngày giáp tết lòng tôi lại vang lên một tiếng gì đó xúc động lạ thường.
Cái tiếng đó làm cho tâm hồn tôi xao động, thương nhớ và trở nên thanh sạch lạ lùng. Cái tiếng đó làm tôi thường tỉnh giấc trong khuya như một người già khó ngủ.
Tất cả những người đi làm ăn hoặc sinh sống xa cố hương đều thao thức trở về cố hương trong dịp Tết. Và ai cũng vậy thường tự nhủ “Mình phải về cho kịp ngày Ba mươi Tết”.
Ngày Ba mươi Tết là cách nói chỉ ngày cuối cùng của năm cũ. Ngày cuối cùng có thể là ngày 29, ngày 30 và cũng có thể là một ngày khác của tháng Chạp. Tất cả phụ thuộc vào lịch của từng năm. Nhưng điều đó chẳng quan trọng gì. Điều quan trọng nhất là ngày cuối cùng ấy rõ ràng có một tiếng gọi. Tiếng gọi của ai thì chẳng ai xác định được rõ ràng. Đó có thể là tiếng gọi của hồi tưởng, của khúc rốn ta mà bà ta đã chôn xuống mảnh vườn quê nội khi ta sinh ra, của những ngày ấu thơ, của một bếp lửa, của một mảnh vườn nở vàng hoa cải…
Nó giống như tiếng gọi của nước với những con cá, tiếng gọi của rừng với muông thú, tiếng gọi của chân trời với những đám mây… Và ta tìm mọi cách để trở về dù chỉ là trở về trong thương nhớ. Nếu ai đó không có một khoảnh khắc quay đầu nhìn về cố hương mình trong ngày ấy thì cũng sẽ chẳng biết nhìn về đâu nữa.
KHÚC HAI:
Trong những ngày cuối cùng của năm cũ, không chỉ người trong gia đình ngóng người trong gia đình đi xa trở về mà những người làng tôi đều ngóng tất cả những người làng đi xa trở về.
Cái ngày cuối cùng ấy nhiều khi như một phép lạ.
Có những người tha phương cả đời bỗng tóc bạc về quê. Mỗi khi có một người con đi xa như thế trở về thì cả làng đều biết. Thế là những người đó trở thành nhân vật chính của làng trong những ngày thiêng liêng và đầm ấm đó. Sự thật là mỗi khi có một người làng bỏ quê đi lâu quá trở về thì cả làng mừng như người đó chết rồi nay đột ngột sống lại.
Mẹ tôi thường nấu bánh chưng vào ngày cuối cùng của năm. Và những lúc ngồi bên nồi bánh mẹ tôi lại nhẩm tính xem năm đó làng có bao người biệt xứ giờ đã trở về. Năm nào có nhiều người như thế về quê ăn Tết là người làng tôi vui như là những người đó là của trời ban cho. Niềm vui ấy tôi chỉ hiểu được khi trên đầu tóc đã điểm bạc.
Có người bỏ quê tha phương cầu thực một nửa thế kỷ mới trở về. Về đến đầu làng, người đó gục xuống mà khóc. Người làng ai nhìn thấy cũng khóc. Tiếng khóc ấy là niềm hạnh phúc lớn lao mà có người cả đời không bao giờ được khóc như thế. Bởi có những người bỏ làng và không bao giờ có một mẩu tin. Có thể họ đã chết. Nhưng nhiều người không chết mà không trở về được.
Tôi có một người họ hàng giờ vẫn sống ở Đà Nẵng. Ông đi lính Pháp và vào Nam năm 1954. Sau năm 1975, những người thân của ông mong ông trở về nhưng ông chưa một lần trở về. Tôi đã tìm đến thăm ông khi đi công tác ở Đà Nẵng. Tôi hỏi ông vì sao ông không về quê dù chỉ một lần. Ông đã khóc nấc lên như một đứa trẻ và nói: “Tôi không thể nào trở về được cậu ạ. Khi nào chết tôi mới có thể trở về“. Ông không giải thích cho tôi vì sao. Nhưng tôi có thể hiểu được dù rất mơ hồ.
Cũng có người cuối đời mới trở về. Người đó hớn hở như một đứa trẻ và đi thăm cả làng. Sau đấy người đó nằm xuống ngủ và vĩnh viễn không bao giờ thức dậy nữa. Người đó là một người được ban phước. Người đó được trở về và thanh thản nằm xuống yên nghỉ ngàn đời trên mảnh đất cố hương mình.
KHÚC BA:
Bạn có tin cuộc đời vẫn còn phép lạ không? Tôi hoàn toàn tin điều đó. Ngày cuối cùng của năm cũ là một ngày của những phép lạ. Một trong những phép lạ của ngày đó là có thể làm cho tất cả những người chết sống lại. Phép lạ này có ở những đâu tôi không biết. Nhưng phép lạ đó có ở quê tôi.
Cứ đến buổi chiều của ngày cuối năm thì những người làng mang hương ra thăm phần mộ những người thân của mình. Họ ra mời những người đã khuất về nhà ăn Tết. Ngày hôm đó, ngay sau bữa trưa cha tôi đã nhắc tôi dẫn các con, các cháu tôi ra mời những người thân của gia đình tôi đã khuất về ăn Tết. Anh em tôi cùng các con, các cháu ăn mặc sạch sẽ và náo nức đi về cánh đồng cuối làng. Buổi chiều hôm ấy, tất cả đều giành cho hai việc: mời những người đã khuất về ăn Tết và chuẩn bị bữa cơm cúng tất niên.
Trên con đường ra nghĩa địa những người làng gặp nhau đều hỏi một câu: “Anh (chị) ra mời các cụ về ăn Tết đấy ạ“. Câu hỏi ấy hoàn toàn là hỏi về một người đang sống. Nếu có ai vì công việc gì đó ra nghĩa địa muộn thì những người khác hỏi: “Sao ra mời các cụ về ăn Tết muộn thế?”. Từ các cụ ở đây thay cho tất cả những người đã khuất.
Việc ra nghĩa địa mời những người đã khuất về ăn Tết hoàn toàn giống việc đến bến xe ở phố huyện đón người nhà đi xa về. Khi các con, các cháu tôi còn nhỏ, lần đầu tiên tôi đưa chúng ra thăm những ngôi mộ và bảo chúng hãy mời các cụ kị về ăn Tết. Con trai tôi đã hỏi làm sao những người chết rồi vẫn sống lại được mà về. Nó hỏi với một sự sợ hãi của một đứa trẻ và một câu chuyện ma trong những nghĩa địa mà ít nhất nó đã một lần được nghe. Nhưng cho đến bây giờ, con trai tôi đã 22 tuổi. Và nó tin điều đó như tôi đã tin. Không phải nó tin chuyện đó như tin một chuyện hoang đường mà bởi có gì đó thực sự thiêng liêng, thực sự gần gũi và thực sự ấm áp đã dâng lên trong tâm hồn nó.
Cả khu nghĩa địa của làng trong buổi chiều cuối cùng của năm cũ nhộn nhịp người đi lại. Họ thắp hương và chắp tay khấn mời những người đã chết về sớm để kịp cùng những người thân của mình đang sống ăn bữa cơm cúng tất niên. Và lúc nào tôi cũng thấy những người đã khuất khăn áo đẹp đẽ , nói cười vui vẻ và giục nhau trở về cho sớm. Họ cũng như những người đi làm ăn hoặc sinh sống ở xa giờ về quê ăn Tết mà tôi vẫn gặp ở bến tàu, bến xe trong những ngày cuối năm.
Nhiều lúc ngồi nghĩ lại tôi cứ băn khoăn tự hỏi có phải mình đã tận mắt nhìn thấy những người đã khuất trong buổi chiều cuối năm ấy không hay chỉ là ảo giác hay chỉ là tưởng tượng. Nhưng dù cho thế nào chăng nữa thì lòng tôi thực sự đã gặp lại tất cả những người đã khuất của làng tôi. Bởi những lúc như thế, một cảm giác thân yêu và ấm áp tràn ngập trong lòng.
Và suốt cả buổi chiều ngày cuối năm ấy cho đến phút giao thừa, trong đầu tôi lúc nào cũng vang lên tiếng chào hỏi, tiếng cười nói của những người đã khuất.
Trong ngày ấy, tôi không hề lưu giữ trong lòng mình bất cứ một chút nào cái cảm giác buồn thương về những người thân của mình đã khuất kể cả những người mất đi khi còn rất trẻ. Chính thế mà tôi thấy họ vẫn còn sống một cách trọn vẹn. Và cảm giác ấy chỉ có trong ngày cuối cùng của năm cũ. Đó có phải là một phép lạ không? Hoàn toàn là một phép lạ.
Nguyễn Quang Thiều
Theo TVN

Quà sếp “con em vợ chân dài”


Sau 1 năm đứng trong top những thành phố “đắt đỏ nhất Châu Á”, năm nay, Hà Nội và TP HCM thăng tới 17 hạng trong top những thành phố “đắt đỏ nhất thế giới”. Chi tiết thật đáng “tự hào” với giới cần lao: Đây là mức thăng hạng mạnh và vượt bậc nhất so với 138 thành phố trên khắp thế giới- theo cáo cáo điều tra của EIU, một tổ chức phi chính phủ.
Xếp hạng của EIU dựa trên sự so sánh tỉ mỉ của 400 mức giá khác nhau và 160 sản phẩm dịch vụ của 140 thành phố trên toàn thế giới.
Chỉ có điều, EIU đánh giá sự thăng hạng này là “gánh nặng quá lớn”, trong đặc thù Châu Á cũng là nơi có những thành phố có “chi phí sống thấp nhất thế giới”.
Năm nay khí tết có kém. Đào nở toe toét dùng làm mắc áo vì vừa nắng nóng, vừa thiếu người mua. Hàng hóa “lên cơn sốt”, trong cảnh ế ê hề. Chung quy cũng là vì sự thiếu tiền. Năm ngoái, có cô giáo được thưởng tết bằng “ổ chó con”, năm nay, nào thì là “gói bột ngọt”, “nải chuối cau”, còn công nhân, có người được mấy tá “quần đùi”. Trong khi giới cần lao nói chung thì đang đi săn hàng ế với giá “rẻ như cho” dịp cận tết.
Nhưng ai đó thiếu cứ thiếu. Tết vẫn cứ phải là tết. Cái gì ế cứ ế. Những gì thuộc về phạm trù “Quà cáp” vẫn cứ gọi là đắt như tôm tươi. Ngoài chợ, những cây mai “độc nhất vô nhị” được giao giá 1,5 tỷ. Hoa giấy hình thác đổ giá 100 triệu…Âm thầm hơn, những món quà biếu bán chạy như tôm tươi : Đĩa sứ thời Lê giá “vài ngàn Obama”; Tượng đồng chứa xá lị mang về từ đất Thái giá “không thể tiết lộ” ; Cây xanh “lưỡng long chầu nguyệt” giá độ nửa tỉ cho phù hợp với tuổi con Rồng của sếp ; Rượu ngoại cao cấp như Whisky Louis 13 “uống đến đâu, nhớ nhau đến đó” chỉ vài chục triệu ; Bút parker, loại quà “đi đâu sếp cũng mang theo” giá 128 triệu đồng/bộ; Đông trùng hạ thảo 2 tỷ đồng/kg; Nhung hươu, Yến sào, Vi cá…cứ mang hàng về đến đâu là cháy đến đó. Hẳn nhiên, quà gì thì quà, vẫn phải kèm món thông dụng và truyền thống là “những tờ giấy in hình Franklin”. Một tờ báo còn có hẳn một “phóng sự” về việc tết sếp cả “chung cư”, thậm chí cả “con em vợ chân dài”. Sức mua, sức chơi “hoành tráng” là thế, ai bảo kinh tế suy thoái rõ là có vấn đề về mắt, đề nghị “cho hốt liền, không nói nhiều”.
Cứ nói chạy chức chạy quyền khó tìm khó biết. Nhìn ngay cổng nhà sếp mấy ngày tết thì biết liền.
Hôm rồi, ở Nghệ An, UBND tỉnh phát lệnh nghiêm cấm tặng quà Tết cho cấp trên dưới mọi hình thức. Thậm chỉ, tỉnh còn giao Thanh tra… theo dõi. Chỉ có điều, chuyện “ông biết, tôi biết, trời biết, đất biết” giờ chỉ còn trong “cổ học tinh hoa”. Sếp không nói, vợ sếp không khai thì giời nào, đất nào, thanh tra nào biết?!
Trong khi đó, thật khôi hài, trên một tờ báo, xuất hiện cùng lúc 2 dòng tin: Dòng trên “Trung Quốc cấm quảng cáo mua quà biếu sếp dịp tết”. Dòng dưới: “Chán cao lương mĩ vị, sếp thích quà quê”.
Nhưng sếp là ai? Sếp là ai đó chứ không phải “giáo viên bột ngọt”, “công nhân quần đùi” hay “cần lao săn hàng đại giá”. Sếp hẳn phải là những người miệng có gang có thép, tay cầm Parker ký những cái lệnh, không biết đâu có cả lệnh nghiêm cấm tặng quà tết.
Đào Tuấn

Thứ Sáu, ngày 08 tháng 2 năm 2013

Khi báo Nhân dân giới thiệu dâm thư và phim kinh dị


Báo Nhân dân không ai đọc, nhiều người nghĩ thế. Tôi cho rằng họ sai. Độc giả của tờ báo đầu đàn chính thống này là một tầng lớp đặc biệt, trước hết gồm các đảng viên, tức những người thuộc giai cấp cầm quyền chính trị; sau nữa đến bản thân giới truyền thông, vì cùng với Thông tấn xã Việt Nam, Đài Phát thanh và Đài Truyền hình, tờ Nhân dân thuộc bộ tứ định hướng tuyên giáo cho toàn bộ giới truyền thông còn lại [i]; và cuối cùng, ít nhất là những người từ nhiều lí do khác nhau quan tâm đến khí hậu chính trị Việt Nam: Họ phải xem dự báo thời tiết. Với trên 200.000 bản in phát hành đến tận các chi bộ, trang Nhân dân Điện tử và ước chừng không ít hơn nửa triệu độc giả chốt tại nhiều mắt xích quan trọng của chuỗi quyền lực chính trị và truyền thông, ảnh hưởng của tờ Nhân dân đủ lớn để không thể bị coi đơn giản là giấy lót nồi. Vai trò dẫn đường cho dư luận dòng chính của tờ Nhân dân về cơ bản không khác vai trò của một tờ như New York Times – sự khác nhau giữa hai bên ở cơ chế vận hành của vai trò đó không đặt ra trong bài này.
Dù khí hậu tinh thần về đại cục không thay đổi đáng kể, theo cảm nhận của tôi, thời tiết văn hóa ở Việt Nam đã bớt khắc nghiệt hơn nhiều so với một, hai thập kỉ trước. Những năm 90, thật khó hình dung một tác phẩm như Lolita nằm đàng hoàng trên các rạp sách ở Việt Nam. Khi ấy tập truyện ngắn của tôi do Nhà xuất bản Hà Nội ấn hành bị thu hồi vì lí do “mang tính kích dục”. Gần hai mươi năm sau, báo Nhân dân dành cho Lolita những lời thiện cảm và không quên cả quảng cáo cho bộ phim cùng tên của đạo diễn Stanley Kubrick. Tôi nhớ đến lời tuyên bố của tác giả Lolita, nhà văn Nga lưu vong Nabokov, rằng ngoài một phương châm cực kì đơn giản và dễ nhớ thì ông không quan tâm đến chính trị. Phương châm đó như sau: tất cả những gì có lợi cho “bọn Đỏ” – chỉ những người cộng sản – thì ông chống và tất cả những gì bất lợi cho “bọn Đỏ” thì ông theo. Tôi thấy mừng vì thế giới thời tôi sống hơi phức tạp hơn một chút so với phương châm đó. Nhưng còn gì đáng thích thú hơn việc cơ quan ngôn luận đầu não của một Đảng Cộng sản trước sau vẫn cứng rắn và giáo điều trong ý thức hệ lại khen ngợi tác phẩm từng bị coi làscandal đồi trụy của một nhà văn ghét cộng sản đến đào đất đổ đi.
Song thế chưa phải là hết. Tờ Nhân dân còn sẵn sàng cho những bất ngờ khác, đáng sửng sốt đến mức tinh thần chính thống cũng phải khâm phục sự đột biến sinh học của chính mình. Giữa năm ngoái, tờ báo này đăng một bài giới thiệu cuốn Fifty Shades of Grey, cũng với nhiều thiện cảm, thậm chí có thể gọi là thán phục. Với cách phiên âm tên nước ngoài độc nhất vô nhị của mình, ban biên tập còn đóng chứng nhận sản phẩm “chỉ có ở báoNhân dân” cho bài quảng cáo đó.
Đứng cách Lolita một lịch sử văn học mênh mông, cuốn 50 sắc thái xám không hề là một scandal, dù nó trưng bày mu và mồng, mông và mồn như ở quầy bán thịt trong siêu thị và cung cấp đủ tinh trùng để phun ướt đẫm nhiều trang sách. Nó đơn giản là một cuốn dâm thư có thành công thương mại khổng lồ nhờ hội được nhiều may mắn của hoàn cảnh ra đời. Tôi cũng góp phần mình vào thành công đó, bằng cách mua đến 5 cuốn tặng năm người bạn, những phụ nữ vừa tròn tuổi 50.
Không lâu nữa, cả bộ ba tập 50 sắc thái xám của Nhà xuất bản Lao Động và Công ti Alphabooks sẽ được phát hành chính thức tại Việt Nam. Độc giả Việt đã trưởng thành. Báo Nhân dân  không hề yêu cầu dâm thư phải đóng góp vào việc “bồi dưỡng lí tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức, tình cảm, cảm thụ thẩm mĩ cho con người”Mới đây tờ báo này còn có lời ca ngợi hiện tượng điện ảnh thế giới “nổi bật”, bộphim kinh dị Mẹ Ma (Mama). Phim này đang được chiếu trên toàn quốc.
Khi báo Nhân dân giới thiệu dâm thư và phim kinh dị thì Việt Nam đã bước vào thời đại văn hóa giải trí và thương mại. Tôi không có gì phản đối điều đó. Thay được toàn bộ nền văn hóa tuyên truyền bằng văn hóa giải trí thuần túy thì phúc của chúng ta còn lớn lắm. Tác hại của nghệ thuật giải trí cũng thua xa của nghệ thuật tầm phào. Tôi thích xem 007 hơn những bộ phim lên gân mà nhẽo nhợt của nền điện ảnh nghiêm túc Việt Nam, thích đọc Harry Potter hơn những bài thơ gửi một thoáng tâm hồn cao thượng, nhạy cảm, sâu sắc, nhân ái vào một thế chấp vẩn vơ nào đó. Đọc Harry Potter, ít nhất tôi được biết rằng ở tuổi 82 khả kính, tổ chức chính trị khuynh loát toàn bộ xã hội Việt Nam bỗng tuân theo kịch bản hành động của một bộ truyện phù thủy dành cho trẻ em. Tôi thấy một nhân vật bước thẳng từ hư cấu ra hiện thựcKẻ mà ai cũng biết (You-Know-Who) nhưng không được phép nêu tên (He-Who-Must-Not-Be-Named): Đồng chí X ra đời từ đồng chí Voldemort, nguyên mẫu của ông trùm đỏ là vị chúa tể đen hắc ám (The Dark Lord).
Song quê hương yêu dấu của tôi sẽ không còn là nó, nếu ở đó có một cái gì mà lí trí bình thường có thể nắm bắt. Ở đó sự cởi mở thì khác thường, sự hà khắc thì phi thường, và bình thường là tất cả những ấm ớ hội tề còn lại. Trong khi bộ phim bạo lực mới toanh với diễn viên cơ bắp và Cựu Thống đốc California Arnold Schwarzenegger được duyệt thì Đấu trường sinh tử (The Hunger Games) bị cấm. Trong khi Thông tấn xã Việt Nam ca ngợi màn trình diễn “vô cùng đặc sắc và bất ngờ” với vài mảnh vải che thân của ca sĩ Mỹ Beyonce ở Super Bowl thì Nghị định 79 đem cái vung “thuần phong mĩ tục và truyền thống văn hóa dân tộc” đậy lên da thịt của sao Việt. Và thời tiết văn hóa Việt Nam tưởng đã thoáng đãng hơn nhiều lại thản nhiên chìa ra bộ mặt nghiệt ngã của nó, khi những ngày qua chúng ta vĩnh biệt một nghệ sĩ lớn, nhạc sĩ Phạm Duy. Gần trọn một thế kỉ, ông đã sống và minh họa giai đoạn đau thương, chia cắt và phức tạp nhất trong lịch sử nước Việt từ nhiều chỗ đứng. Chỗ cuối cùng mà ông chọn và để nằm xuống là chỗ kiên quyết chỉ dành cho ông 1/10 sự thừa nhận sự nghiệp, dù ông đã bày tỏ thiện chí tới mức như tỏ tình, tới mức như cầu xin. Số tác phẩm được cấp phép của một nghệ sĩ nổi tiếng khác, Trịnh Công Sơn, đã mất từ hơn mười năm nay, còn ít hơn nữa.
Cho nên tín hiệu khác thường từ việc thả luật sư Lê Công Định trước thời hạn cùng lắm chỉ ngang giá trị với việc báo Nhân dân giới thiệu dâm thư và phim kinh dị. Vài ngày trước, cũng chính quyền ấy kết án 299 năm tù cộng một bản án chung thân cho 22 người phần lớn đã cao tuổi, vì khu du lịch sinh thái mà họ chung lưng tạo dựng bị coi là căn cứ địa để lật đổ chính quyền và học thuyết chống đối của họ là sấm Trạng Trình.
Phạm Thị Hoài
Theo pro&contra

[i] Tổng Biên tập báo Nhân dân ít nhất phải là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đều giữ vị trí cao hoặc cao nhất trong hệ thống tuyên giáo. Ông Đinh Thế Huynh, Tổng Biên tập nhiệm kì trước kéo dài một thập kỉ, đồng thời là Chủ tịch Hội Nhà báo, hiện là Ủy viên Bộ Chính trị và Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương.

Đừng vay nợ về để… tham nhũng!

Vào những ngày cuối năm, người Việt thường có thói quen kiểm lại nợ nần, xem ai nợ mình thì đi đòi, mình nợ ai thì đem trả. Nếu chưa trả được thì nói lời xin khất. Chợt nhớ con số 1,33 triệu tỉ đồng nợ của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước…
Cái con số 1,33 triệu tỉ đồng này tất nhiên là nhiều, rất nhiều rồi. Nhưng nó nhiều đến mức nào nhỉ? Hay nói cách khác, nếu như nó được in ra với mệnh giá 100.000 VND chẳng hạn, thì sẽ bằng như thế nào?
Chịu. Có lẽ chẳng mấy ai tính toán và tưởng tượng nổi.

Thế nhưng có một người đã giúp chúng ta có cơ sở để mường tượng. Đó là anh Hiệu Minh. Trên blog của mình, Hiệu Minh quy đổi 1,33 triệu VND ra tương đương với khoảng 60 tỉ USD rồi tính toán như sau: Chiều dài, rộng và bề dầy của tờ 1$, 5$, 10$, 20$, 50$ và 100$ hoàn toàn như nhau (0.0043″ dầy X 2.61″ rộng X 6.14″ dài). Nếu xếp những tờ 100$ lên nhau thì 60 tỉ đô la có chiều cao tương đương với… 65,5km? Bằng chiều dài từ Hà Nội đến gần địa giới Ninh Bình.

Bây giờ thì bạn chỉ cần nhân với tỉ giá 1USD = 20.855 VND (giá ngày 6/2/2013) là sẽ ra chiều dài của đoạn đường nếu qui ra tiền VND.

Để dễ tưởng tượng hơn, Hiệu Minh còn qui ra… phở. Theo tính toán của anh, nếu 90 triệu dân ta ăn phở, mỗi người 15 triệu đvn (25.000-30.000 đồng/bát), cũng được cỡ 500 – 600 bát. Nghĩa là gần cả năm liền, cả nước ta mỗi người mỗi ngày ăn gần hai bát phở.

Đấy là riêng món nợ của các “ông lớn” nhà nước. Còn tổng số nợ của Việt Nam là bao nhiêu? Theo tính toán của “Đồng hồ nợ công toàn cầu”, đến thời điểm 15 giờ ngày 17/1, tổng số nợ công của Việt Nam là 70.576.229.508 USD. Với dân số 89.539.016 người, trung bình mỗi người Việt Nam đang gánh số nợ tương đương 787,9 USD.

Số nợ này cao hay thấp? So với các cường quốc, số nợ này là rất thấp. Còn so với các nước trong khu vực, Việt Nam có mức nợ công tính theo đầu người cũng không cao. Con số này ở Indonesia là 917,69 USD/người, ở Philippine là 1213,74 USD/người, ở Thái Lan là 2640,8 USD/người trong khi ở Malaysia con số này lên tới 5936,87 USD/người.

Thật ra trong làm ăn, việc vay nợ là bình thường, thậm chí nợ càng nhiều càng tốt vì nó thể hiện anh đang làm ăn lớn. Những đại gia nợ một vài trăm tỉ VND được coi là “chuyện nhỏ” nếu như anh có số vốn gấp con số đó nhiều lần, tức là nợ “an toàn”. Các con số thống kê một số nước trên cũng cho thấy, quốc gia càng giàu thì nợ lại càng cao.

Vì vậy, vấn đề không phải là nợ bao nhiêu mà quan trọng hơn, đó là vay để làm gì và trả như thế nào. Nếu vay để mở rộng kinh doanh, sản xuất mang lại hiệu quả thì nợ là may, là tốt. Thế nhưng nếu vay nợ về mà chi tiêu lãng phí, đầu tư không hiệu quả, thậm chí để tham nhũng, thất thoát như những Vinashin, Vinalines thì đại nguy cho dân tộc.

Chỉ còn ít ngày nữa là cả nước bước sang năm Quý tị. Cầu mong cho năm mới làm ăn hiệu quả, nhất là đối với các “ông lớn” nhà nước…

Các đừng bắt người dân è cổ trả nợ cho những sai lầm, thất thoát từ các “ông lớn”!

Xin đừng vay nợ về để tham nhũng!

Bùi Hoàng Tám
Theo Dân Trí

Hiến pháp, những “trò khỉ” và chuyện góp ý hay không


Năm 2013 khởi đầu bằng một sự kiện mà tới bây giờ vẫn còn rất “nóng”, đó là chuyện Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 của Đảng, công bố “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992” để công chúng góp ý.
Xét về tính chất thì đây là một “sinh hoạt chính trị” do Đảng đề xướng và thực tế cho thấy là đến giờ, Đảng đã đạt được một số “thành quả nhất định” từ đợt “sinh hoạt chính trị” này.
Nhiều blogger, facebooker đã nêu ý kiến, thảo luận về các góp ý cho “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992”. Trong đó, đáng chú ý nhất là “Kiến nghị về Sửa đổi Hiến pháp” do 72 nhân sĩ, trí thức khởi xướng (ở đây, mình xin tạm gọi là “Kiến nghị 72”).
Ngoài 7 đề nghị cụ thể, 72 vị nhân sĩ, trí thức khởi xuớng “Kiến nghị 72” còn giới thiệu một bản Hiến pháp do họ tự soạn thảo với 9 chương và 81 điều (1). Tính đến ngày 5 tháng 2, sau 12 đợt thu thập chữ ký, “Kiến nghị 72” có hơn 2.500 công dân thuộc đủ các vùng, miền, thành phần xã hội, tôn giáo, tuyên bố ủng hộ.
Tuy nhóm khởi xướng “Kiến nghị 72” vẫn còn tổ chức thu thập chữ ký ủng hộ “Kiến nghị 72” nhưng hôm 4 tháng 2 vừa qua, họ đã cử 15 vị đại diện đến Văn phòng Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp, để trao “Kiến nghị 72”.
Nói cách khác, nhóm khởi xướng “Kiến nghị 72” và những công dân tuyên bố ủng hộ kiến nghị này đã làm xong công việc của họ, theo đúng đề nghị của Đảng. Phải chờ “hồi sau mới rõ” Đảng sẽ thực thi trách nhiệm của phía “xin góp ý” với bên đã tích cực “cho ý kiến” như thế nào.
Dù chưa biết Đảng sẽ tiếp nhận “Kiến nghị 72” và ứng xử với cả “Kiến nghị 72” lẫn những người tuyên bố ủng hộ kiến nghị ra sao, song mình vẫn thấy việc soạn thảo, tuyên bố ủng hộ, gửi “Kiến nghị 72” cho Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp là điều hết sức cần thiết.
1.
Trong 68 năm ở vị trí tổ chức chính trị nắm giữ quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội tại Việt Nam (1945-2013), Đảng đã “chế tạo thành công và đưa vào sử dụng” năm bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992, 2001 – bản sửa đổi bản 1992 và đây mới thật sự là bản Hiến pháp hiện hành).
Nếu mình không lầm thì cả trong lịch sử nhân loại, lẫn pháp chế sử của loài người, Đảng CSVN là tổ chức chính trị duy nhất lập – giữ kỷ lục về “chế tạo và sử dụng Hiến pháp”. Dưới “sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt” của Đảng, “Hiến pháp” trở thành một thứ áo khoác, thường xuyên được cắt – may “cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ trong giai đoạn mới”, “bảo đảm vai trò lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng” tại Việt Nam.
Khi “Hiến pháp” không còn nguyên nghĩa và được “chế tạo, sử dụng” như một thứ áo khoác, có lẽ không ngoa nếu gọi đó là “trò khỉ”. Riêng với Hiến pháp, Đảng đã có năm lần chơi… “trò khỉ” và hình như Đảng toan giở “trò khỉ” thêm một lần nữa.
Sở dĩ mình nói như thế vì lần này, kế hoạch “sửa đổi Hiến pháp” cũng có đầy đủ các dấu hiệu của một thứ “trò khỉ”. Nếu không có thời gian đọc, phân tích nhưng muốn biết “trò” này “khỉ” đến mức nào, các bạn ít theo dõi thời sự có thể tìm xem “Teo dần quyền con người trong Hiến pháp” của bác Hoàng Xuân Phú (2).
Dẫu thấy và đã chỉ ra rất rõ, rất thuyết phục về “tính khỉ” trong trò khỉ mang tên “sửa đổi Hiến pháp 1992” nhưng bác Phú vẫn tham gia nhóm soạn thảo, gửi “Kiến nghị 72”. Vì sao? Phải chăng cả bác Phú lẫn 71 vị còn lại trong nhóm soạn thảo, gửi “Kiến nghị 72” và hơn 2.500 công dân đã chính thức tuyên bố ủng hộ kiến nghị này đều ngây thơ và làm chuyện hết sức vô ích như bạn Kami nhận định trong bài “Vì sao tôi không góp ý và ký kiến nghị sửa đổi Hiến pháp?” (3)?
Suy nghĩ mà bạn Kami trình bày qua “Vì sao tôi không góp ý và ký kiến nghị sửa đổi Hiến pháp?” khá phổ biến nhưng theo mình, lối suy nghĩ và cách hành xử đó không đúng trong bối cảnh như hiện nay.
Tên tuổi, lai lịch của từng vị trong danh sách 72 vị khởi xướng “Kiến nghị 72” cho thấy, có rang cũng không thể xếp bất kỳ ai vào diện “ngây thơ”. Tất cả đều thuộc nhóm “dư hiểu biết và thừa kinh nghiệm” cả về Đảng lẫn hiện tình chính trị Việt Nam. Mình không tin có vị nào trong số 72 vị này tin chắc, rằng Đảng sẽ tiếp nhận “Kiến nghị 72” một cách vui vẻ, trọng thị và xem xét kiến nghị đó một cách nghiêm túc. Vậy thì tại sao họ vẫn soạn – giới thiệu – kêu gọi ủng hộ – gửi?
Mình không dám võ đoán nhưng nếu mình là Đảng thì rõ ràng “Kiến nghị 72” là thứ rất khó nuốt nhưng không nuốt thì cũng giống như tự khắc họa cho “tính khỉ” của “trò khỉ”, được đặt tên là “sửa đổi Hiến pháp 1992” rõ nét hơn và thiên hạ thêm chán ghét hơn..
“Kiến nghị 72” cũng có thể sẽ tiếp tục vào sọt rác như nhiều kiến nghị khác nhưng với mình, tất cả các kiến nghị đã bị Đảng xem như rác đều có giá trị. Nó là hình thức nhắc nhở Đảng một cách công khai và rất đường hoàng rằng, càng ngày, càng nhiều nhân sĩ, trí thức, công chúng thuộc đủ mọi vùng, miền, thành phần xã hội, tôn giáo, kể cả cán bộ, Đảng viên của Đảng, không đồng tình với những việc Đảng làm. Rằng các hình thức trấn áp không còn hiệu quả nữa. Rằng tất cả các trò bịp bợm sẽ bị vô hiệu hóa, sẽ trở thành phản tác dụng và tất nhiên, “mỡ nó” sẽ được dùng để “rán nó”…
Thành ra, nếu bạn cũng muốn nhắc nhở Đảng một cách công khai và rất đường hoàng như vậy, hãy tuyên bố ủng hộ “Kiến nghị 72” bằng chữ ký của bạn.
2.
Sẵn dịp Đảng mời gọi góp ý “sửa đổi Hiến pháp 1992”, mình muốn thưa riêng với các bác lãnh đạo Đảng đôi lời.
Thưa các bác, trong chính trị, niềm tin là một loại “vốn đặc biệt”. Do ngu dốt, chủ quan, lại còn tham và ác, các bác đã tiêu sạch khoản “vốn đặc biệt” này. Lẽ ra nên ngừng “chơi”, các bác vẫn muốn “gỡ gạc” bằng cách bày thêm một ván bài nữa. Trong ván bài “củng cố và giữ quyền lực”, các bác không chỉ đã “cháy túi” mà thiên hạ còn tỏ tường việc các bác chuyên đánh “bạc bịp”. Trò “sửa đổi Hiến pháp 1992” do các bác bày ra giống như chuyện “lột nốt” và “đặt cược” bằng “cái quần đùi”. Nó vừa thảm hại, vừa nhiều rủi ro.
Ở tình thế như hiện nay, các bác nên làm cho thiên hạ thương, đừng tiếp tục hành xử theo kiểu vừa gian, vừa láo. Các bác cũng nên thôi hoang tưởng về khả năng “Muôn năm trường trị. Nhất thống giang hồ” như Nhậm Ngã Hành trong “Tiếu ngạo giang hồ” của Kim Dung. Hãy xem “Kiến nghị 72” là một cơ hội. Bỏ qua cơ hội cuối cùng này, các bác sẽ mất luôn cái “quần đùi”, hoàn toàn trần truồng, ở không được mà về cũng chẳng còn lối.
Đồng Phụng Việt
——-
Chú thích:
(3) Vì sao tôi không góp ý và ký kiến nghị sửa đổi Hiến pháp?
http://www.rfavietnam.com/node/1506

Vì sao tôi ký?


Cuối cùng, tôi cũng đã góp “một viên gạch?” vào một sự kiện hết sức có ý nghĩa đối với Quốc gia, đó là vừa gửi mail ký tên ủng hộ Bản kiến nghị do 72 nhân sỹ, trí thức khởi xướng. Một việc làm ý nghĩa nhất mà tôi làm được cho đất nước đến thời điểm hiện nay. Với nội dung bức thư như sau:
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các nhân sỹ, trí thức đã nghĩ cho tương lai dân tộc, nhân dân, đứng lên khởi xướng bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp đầy ý nghĩa. Qua nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, tôi đánh giá rất cao chất lượng của Bản kiến nghị và Bản hiến pháp mẫu do các nhân sỹ, trí thức soạn thảo. Tôi thấy bản Hiến pháp mẫu này có giá trị không thua kém gì những bản Hiến pháp của các nước dân chủ trên thế giới như Mỹ, Pháp, Đức…
Vì vậy, tôi viết đơn này xin ký tên ủng hộ Bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992 do 72 nhân sĩ, trí thức khởi xướng. Mong quý Ban biên tập ghi đầy đủ như sau:
“Trần Đức Tuấn, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, hiện đang học Thạc sỹ Luật học tại Đại học Victoria, New Zealand.”
Tôi hy vọng rằng, mặc dù chỉ một chữ ký rất nhỏ bé, nhưng nhờ những sự nhỏ bé đó, mới tạo nên được lớn lao, và điều đó cũng thể hiện được trách nhiệm của một công dân nước Việt Nam. Theo đánh giá của tôi, nếu bản Kiến nghị được chấp thuận, chúng ta có quyền hy vọng vào một tương lai Việt Nam tốt đẹp.
Ngoài ra, tôi nghĩ rằng đó là nghĩa vụ mà tôi phải làm. Tôi không muốn sau này, khi tôi 80 tuổi, con cháu tôi hỏi tôi: “Trước đây, các trí thức của Việt Nam mình có một bản Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp, thế cụ có ký không?”
Nếu tôi trả lời “Không”. Chúng tiếp tục hỏi tôi: “Tại sao?” Tôi biết trả lời thế nào?
Giả sử tôi trả lời:
1. Vì ông không biết?
Chúng bảo là các trang mạng đưa tin, đến các bác nông dân, công nhân, sinh viên, các cụ già ở quê không có internet còn biết, chả lẽ cụ lại vô dụng thế sao? Đến bản Hiến pháp là văn bản quan trọng nhất của quốc gia, mà cụ cũng không quan tâm thì cụ quan tâm cái gì?
2. Vì ông thấy chất lượng của bản kiến nghị không cao.
Chúng bảo là, đến người nông dân đọc còn biết được Bản kiến nghị có chất lượng rất cao, huống chi cụ là người đã học Đại học luật trong nước, rồi cũng đi nước này nước khác học sau đại học. Chả lẽ cụ đi học cho vui thế sao? Nghe bảo là cụ được đi học theo học bổng nhà nước, tiền của dân đóng thuế đó cụ. Cụ có thấy mình đã “đốt” tiền oan của dân đó không?
3. Cụ biết nhưng sợ người ta trù dập, không cho thăng tiến trong tương lai, biết đâu lại mất sổ hưu.
Chúng cười mỉa, tuy không nói vì sợ ông cụ bảo hỗn nhưng ngẫm chả lẽ mình lại là cháu của một ông hèn đến thế sao, chỉ biết nghĩ đến quyền lợi bản thân, không thèm nghĩ đến sự hưng thịnh quốc gia, và hậu quả là bây giờ mình lại xin visa đi làm thuê cho các nước láng giềng, bởi hồi đó có những người như cụ mình. Thế mà cụ cũng bày đặt dạy dỗ tôi thành người tử tế? Rồi chúng viện dẫn một câu nói của ông Nguyễn Trường Tộ: ““Biết mà không nói là bất nhân, nói mà không nói hết là bất nghĩa”.
Bọn trẻ tiếp tục dồn ông cụ vào chân tường bằng  câu nói nổi tiếng của Albert Einstein: “The world is a dangerous place to live; not because of the people who are evil, but because of the people who don’t do anything about it”.
Ông cụ bần thần… thì vì cái sổ hưu.
Wellington, 06/02/2013,
Trần Đức Tuấn

Câu chuyện của niềm tin


1. Như bao bạn trẻ khác, tôi rời quê khi học hết phổ thông. Rồi cũng như bao người khác, tôi ra nước ngoài học tiếp khi xong đại học.

Gần mười hai năm học tập và làm việc ở nước ngoài, tôi có bạn bè mới, thầy cô mới, đồng nghiệp mới. Trong công việc không có định kiến, không có phân biệt. Tất cả diễn ra trong một sự trung thực và cởi mở hồn nhiên. Hồn nhiên đến mức ngạc nhiên. 

Tôi chìm đắm trong bầu không khí dân chủ, bình đẳng và tinh thần tự do học thuật. Tôi thấy mình được tôn trọng, và ý thức được mình có quyền được người khác tôn trọng. 

Tôi phải làm đủ thứ giấy tờ nhưng không bao giờ thấy những con dấu đỏ. Chỉ cần một chữ ký cá nhân là đủ, một cuộc điện thoại, một lá email là xong. Không ai hạch sách, không ai đòi kiểm tra, không ai đòi công chứng bản gốc.

Tôi lên tàu điện: không có người soát vé. Họ tôn trọng chúng tôi, và tin chúng tôi. Thỉnh thoảng họ có đi kiểm tra định kỳ thì cũng rất lịch sự, không gây cho mình cảm giác khó chịu.

Tôi ra siêu thị: không ai bắt tôi phải gửi đồ trước khi vào mua hàng. Không ai kiểm tra chúng tôi khi ra. Họ tôn trọng chúng tôi, và tin chúng tôi.

Tôi và một người bạn đi mua bảo hiểm xe. Điều khoản cho biết, nếu mất xe thì sẽ được đền xe mới. Bạn tôi hỏi: nếu chúng tôi bán xe rồi báo mất thì sao? Nhân viên bảo hiểm ngạc nhiên mất một lúc lâu mới nghĩ ra được câu trả lời: tôi tin các anh không làm thế.

Lần đầu tiên tôi cảm nhận được sự tin tưởng mang tính hệ thống. Một sự tin tưởng cá nhân mạnh mẽ lan tỏa trong toàn xã hội. Chữ Tín được xác lập mà không cần sự có mặt của các loại công chứng bản gốc, chứng thực, xác nhận...  

Tôi vỡ ra: À, ra thế. Họ giàu mạnh vì họ tin ở con người.

2. Mười hai năm sau tôi trở về. Nhiều cái như xưa. Nhiều cái hơn xưa. Nhưng cũng nhiều cái tệ hơn xưa. 

Tôi làm thủ tục nhận đồ mình gửi cho mình. Tên tôi đây. Địa chỉ tôi đây. Hộ chiếu của tôi đây. Vậy sao mà rắc rối đến vậy? Sao phải xác nhận? Sao phải chứng minh? Sao phải công chứng bản gốc? 

Tôi có làm gì đâu, chỉ là nhận đồ mình gửi cho mình thôi mà sao phức tạp như vậy. Lẽ ra tôi chỉ chờ ở nhà, đúng hẹn công ty vận chuyển sẽ mang đồ đến. Tôi chỉ cần ký xác nhận là xong. 

Tôi được giải thích ở Việt Nam mọi thứ cần phải đúng quy trình chứ không đơn giản như vậy. 
Tôi ngẫm ra: Càng nhiều dấu đỏ, càng ít niềm tin.

3. Tôi đưa gia đình đi siêu thị Big C Long Biên. Niềm vui khi thấy một siêu thị bề thế, nhộn nhịp vừa mới nhen lên thì gặp ngay một chuyện ngỡ ngàng: Tất cả những ai muốn vào siêu thị đều phải gửi đồ bên ngoài. Con gái tôi có một túi khoác nhỏ để đựng mấy thứ lặt vặt cũng phải niêm phong rồi mới được mang theo. 

Vì sao vậy? Chúng tôi hỏi thì chỉ nhận được câu trả lời: Đây là quy định!

Quy định gì? Quy định không được tin nhau.

Câu chuyện có lẽ sẽ chỉ là một phiền toái buồn, nếu không có chuyện sau khi thanh toán, tất cả khách hàng lại bị kiểm tra một lần nữa, và hóa đơn phải được đóng dấu đỏ “đã thanh toán” thì mới được nhân viên an ninh cho ra ngoài.

Chúng tôi tự hỏi: chuyện quái quỉ gì đang xảy ra vậy? Quầy thanh toán có hai nhân viên kiểm tra và tính tiền. Từ quầy thanh toán ra đến cửa ra này chỉ chừng 2 mét, lại không có hàng hóa gì bày bán trên đoạn đường 2 mét đó. Vậy cớ sao phải kiểm tra lại? Cớ sao phải đóng dấu vào hóa đơn thì mới được ra?

Vợ tôi phản ứng dữ dội: Nếu kiểm tra mà không tìm thấy sai sót nào thì các anh có xin lỗi chúng tôi không? Nhưng chúng tôi chỉ nhận được một câu trả lời lạnh lùng: Đây là quy định.

Tôi nhìn những người xếp hàng chờ kiểm tra và đóng dấu hóa đơn. Tất cả đều kiên nhẫn và ngoan ngoãn. Họ có thể làm gì trên đoạn đường dài 2 mét đó để phải chịu cảnh khám xét?

Tôi lặng lẽ quan sát. Rất nhiều người lớn tuổi. Lịch sử như phảng phất qua bộ quân phục cũ. Một vài nụ cười cầu hòa dù chủ nhân không làm gì sai. Một vài ánh mắt lấm lét không có lý do. Nhiều gương mặt cam chịu và chờ đợi cảnh được khám xét.

Tôi cố gắng tìm lý do để biện minh cho việc làm kỳ quái đó, nhưng không thể. 

Tôi rút ra kết luận: Nhiều người Việt không tin người Việt. Nhiều người Việt không hiểu rằng mình có quyền phải được người khác tôn trọng. 

4. Chúng tôi ra về, nhưng vẫn ám ảnh câu hỏi: Vì sao người Việt không tin nhau? Phải chăng chúng ta đã quen sống trong một sự cảnh giác thường trực đến độ thành phản xạ có điều kiện? 

Tôi bất giác nhớ đến mớ giấy tờ đỏ choét những con dấu công chứng sao y bản gốc. Tôi tự hỏi: Tôi và triệu người quanh tôi đã mất bao nhiêu thời gian cho những thứ này? 

Tôi thở dài: càng nhiều dấu đỏ, càng ít niềm tin. 

Tôi tự hỏi: Phải chăng đang có một cuộc “khủng hoảng niềm tin”? 

Và khi nào thì người ta không tin nhau? 

Rõ ràng là khi có sự dối trá. Người ta không tin nhau khi cần phòng tránh sự dối trá.

Vậy là đang có một sự dối trá phổ biến, đến mức một đoạn đường 2 mét và được kiểm soát chặt chẽ cũng trở nên đáng ngờ.

Và chúng ta đã mất biết bao nhiêu thời gian và nguồn lực để cảnh giác, phòng tránh, đương đầu với sự dối trá này?

Không ai thống kê định lượng, nhưng chắc hẳn là rất nhiều. Nhiều đến mức có thể làm cho đất nước ta kiệt quệ. Kiệt quệ vì luôn phải cảnh giác, đề phòng. 

5. Việt Nam đang rất cần một sự quy tụ nguồn lực để phát triển. Nhưng quy tụ làm sao khi cả xã hội sống trong tâm trạng cảnh giác thường trực, lúc nào cũng nơm nớp đề phòng? Quy tụ làm sao khi sự giả dối đã trờ thành một lối sống của xã hội? Quy tụ làm sao khi niềm tin giữa người với người đã trở nên cạn kiệt?

Việt Nam đang rất cần hội nhập, rất cần làm bạn với thế giới bên ngoài. Nhưng hội nhập làm sao khi luôn nhìn thế giới bên ngoài với con mắt thù địch nghi ngờ? Làm bạn làm sao khi không có lòng tin vào đối tác của mình?

Đất nước đã thống nhất nhưng lòng người chưa thống nhất. Di sản của mấy mươi năm chiến tranh quá đỗi nặng nề. Trong này kinh tế khó khăn. Ngoài kia Biển Đông nổi sóng. Một cuộc hòa giải, để sau đó thực sự có một sự hòa hợp Nam Bắc, trong ngoài là cần thiết hơn bao giờ hết. Muốn vậy cần xóa bỏ mọi nghi kỵ lẫn nhau giữa mọi tầng lớp xã hội.
***
Nhiều học giả đã gọi niềm tin là một thành phần quan trọng của vốn xã hội. Khi niềm tin cạn thì vốn xã hội cũng cạn theo. Mà cạn vốn thì làm sao phát triển?

Giáp Văn Dương
Theo Tia Sáng 

Thứ Năm, ngày 07 tháng 2 năm 2013

Buồn khi Tết quá dài?


Trước 75, nhà tôi không nghèo cũng chẳng giàu. Cha tôi là sĩ quan nhưng lương ông chỉ đủ sống. Ông lại không “biết xoay sở” như những đồng nghiệp để bòn rút quân đội hay buôn lậu hằng xe tải để làm giàu. Tuy nhiên ông có chút quyền hành nên nhiều người nhờ cậy (nói giúp cho con họ khỏi ra chiến trường …). Vì vậy, mỗi khi tết đến, tôi thích lắm. Nhiều người đến tặng bánh chưng, mứt và lì xì cho tôi (giờ hiểu ra, bố tôi cũng phải lì xì lại cho con họ mà tôi lại là con một! Lỗ to!). Tết vui lắm! Tôi thì đếm tiền lì xì, bố mẹ tôi chắc cũng phải đếm tiền xem còn bao nhiêu của lương tháng!?
Sau 75, bố tôi đi học tập cải tạo. Những cái tết buồn thiu không có bố lần lượt theo về. Mẹ tôi tần tảo buôn bán. Không có vốn, thành phố đói gạo, nhà nước ngăn sông cấm chợ. Mẹ tôi theo người trong xóm đi buôn gạo từ Tây Ninh về. Nói là buôn chứ mỗi lần chỉ mang được 3,4 ký gạo, buộc giấu trong quần. Qua thoát được trạm kiểm soát thì hôm đó tôi được mẹ cho ăn chút cơm trắng thay vì bobo với khoai lang luộc. Hôm nào bị bắt, hết vốn, hai mẹ con ăn bobo trộn nước mắt vì cái lo không biết ngày mai sống bằng gì. Ngày mai còn chưa biết thì Tết là cái gì?
Bị bắt mấy lần là hết vốn buôn gạo “lậu”, mẹ tôi thử hết gánh rau muống ngoài đường rồi lại qua tráng bánh đa nướng đầu ngõ. Thành phố bớt đói gạo. Nhà tôi có gạo mốc hay gạo đỏ ăn. Có chút nước mắm và một miếng đậu hũ là sướng rồi. Thèm thịt! Cái thiếu chất thịt nó đào vào cơ thể đến giờ tôi vẫn còn nhớ mình lén mẹ vào bếp uống mỡ! Mẹ chắc chắn biết khi nhìn bát mỡ vơi đi. Một bát mỡ là dành cho mẹ và tôi một tháng xào rau muống mỗi khi có dịp nâng cấp từ rau muống luộc!
Tết đến. Không họp chợ, không ai lại đi ăn bánh đa đầu ngõ, vậy là không tiền. Đói! Mẹ mua sẵn khoai lang và chút đậu phộng. Ngày tết, nhà tôi đóng cửa kín mít. Hai mẹ con nướng khoai, chấm muối đậu phộng trừ cơm. Cái khổ là nhớ bố. Giờ bố ở đâu trong vùng rừng thiêng nước độc Vĩnh Phú? Mấy năm sau thì hết cái nhớ đó vì bố tôi đã chết trong tù. Chết là hết. Người chết thoát đau khổ. Người sống yên tâm hơn (?). Nhưng cái khổ không chỉ ở chỗ đó. Đói vẫn là chuyện nhỏ. Cái khổ lớn hơn tất cả là cái sĩ (diện)! Vài người (không phải tất cả) được bố tôi giúp đỡ trước 75 vẫn đến chúc Tết. Nước trà đâu mà rót, bánh mứt đâu mà mời? Me tôi và tôi đóng cửa vì xấu hổ, mong họ nghĩ mình đi vắng mà bỏ đi. Qua ngày tết, họ quay lại. Khỏi bánh, khỏi trà, đỡ xấu hổ! Bởi vậy xin Tết chỉ mau qua. Nghĩ lại, thấy mình có lỗi quá với những người đã có lòng.
Tết thì phải có bánh chưng xanh mà tôi thì lại không hảo thứ này trừ phi bánh chưng chiên kia. Sao lạ nhỉ? Nghĩ mãi mới nhớ ra rằng sau 75 thì chẳng còn bánh chưng nữa, gạo không có mà ăn thì mong chi mà nấu, người biếu bánh xưa thì cũng khốn khổ như mình. Cỡ mùng 5 hay 6 thì tết đã qua, vài nhà khá giả trong xóm mang cho vài cái bánh chưng. Mở ra thì đã hơi mốc và đã có mùi chua … Mẹ biết tôi cần chất thịt, không vứt bánh đi mà chiên rán nó lên cho bớt mùi. Khi đói thì cái gì cũng ngon, vả lại cái mùi chua trộn với mỡ thơm cũng khá là lạ. Chắc mình thích bánh chưng rán vì lẽ ấy?
Thời đi học đại học, tết không nhà. Lang thang ngoài phố, tối về ngủ nhờ nhà thằng bạn. Sau thì tôi ở nhờ nhà bác tôi ở Ngã Bảy đối diện nhà hát Hòa Bình. Nhà bác to lắm, ba tầng, tôi làm chủ tầng trên cùng vì bác bảo để mày yên thân mà học. Mẹ tôi vì tự ái, không đến ở nhà bác tôi mà lại nhất định ở hàng hiên của một người bạn của mẹ. Ngày tết, về ở với mẹ, ngồi với mẹ ngoài hàng hiên nhà người ta, nhìn thấy thiên hạ qua lại chúc tết, nói cười … Thương cho me, tủi cho mình, lại nhớ bố. Về lại nhà bác, bánh chưng với mứt ê hề… Bác bảo ăn, thấy nhạt thếch mà lại còn bị nghẹn trong họng … Mẹ đang ăn gì giờ này hở mẹ? Lại mong tết chóng qua.
Ra trường, đi làm (cũng may không được giữ lại trường), có chút tiền rủng rỉnh, thuê nhà rồi xây nhà ở với me. Tết đến. Đỡ hơn xưa. Nhưng mẹ nói “Còn bao người khổ quá”. Mẹ không sắm sửa gì cả, vẫn như ngày thường, vì “Còn bao người khổ quá”! Chiều me, không sắm sửa (trả thù đời?). Thế là Tết.
Nay thì me không còn nữa để phàn nàn “Còn bao người khổ quá”. Tết này, Mẹ và bố ở đâu? Nếu có thiên đàng thì bố mẹ phải đang ở đó vì ở đời bố mẹ chưa bao giờ hại ai mà chỉ đầy lòng nhân ái. Ở thiên đàng thì ngày nào mà chả Tết? Con không làm mâm cúng đâu vì chắc bố mẹ không cần nữa! Mẹ vẫn thường đùa khi còn sống rằng “Sống chẳng cho ăn, chết thì làm văn tế ruồi” phải không me? Con đang làm văn nhớ bố mẹ ngày tết, thứ này ruồi không bâu đâu ạ.
Phải vui Tết chứ nhỉ? Nhưng sao cái câu “Còn bao người khổ quá” vẫn còn đâu đó bên tai. Chắc vẫn còn nhiều người đang mong Tết mau qua như mình khi xưa. Ở đây ít người Việt, tết thoảng qua cho có lệ … Vì vậy mình cũng mong Tết chóng qua cho nhiều người bớt tủi… Như mình ngày xưa …
Theo FB Dung Le

Đôi điều suy nghĩ sau việc thả Lê Công Định

Trong một động thái mà có thể gây bất ngờ cho nhiều người quan sát, chính quyền Việt Nam đã thả ông Lê Công Định, luật sư bị bắt và buộc tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền” theo điều 79 của bộ luật hình sự nước CHXHCN VN, mặc dù ông đã bị bắt với lí do vi phạm điều 88. Sự bất nhất này thực ra cũng không có gì để phải bàn thêm, vì theo như tiến sĩ Nguyễn Quang A gần đây có phát biểu với BBC[1] , thì chỉ cần ra khỏi bụng mẹ là bất cứ đứa trẻ nào cũng có thể bị buộc tội theo điều này, hay điều kia.
Trở lại với việc ông Định được thả trước thời giạn hơn một năm, liên hệ với các tin tức trong thời gian gần đây, việc này gợi mở ra những điều đáng để suy nghĩ và bàn luận thêm. Sau đây xin bàn về bối cảnh của sự kiện.
Thứ nhất về kinh tế, với tất cả các tin tức khách quan từ phía các chuyên gia quốc tế[2] về tình hình kinh tế của Việt Nam trong điều kiện hiện tại, nền kinh tế đang ở giai đoạn khó khăn nhất và những vấn đề cốt lõi vẫn chưa được giải quyết. Sự phục hồi mạnh mẽ ở khu vực chứng khoán trong thời gian gần đây chỉ là do đồng tiền vẫn liên tục mất giá, lưu thông vàng bị thắt chặt kiểm soát và bất động sản thì đang chờ nổ nên lượng tiền trong dân chỉ còn con đường cuối cùng là đổ vào chứng khoán. Nhưng với các khối ung thư ở mảng kinh tế nhà nước, cụ thể là các tập đoàn nhà nước vẫn chưa có một biện pháp hữu hiệu để giải quyết (tái cơ cấu đã thực hiện và được chứng minh là vô hiệu quả) thì những dấu hiệu khởi sắc trong chứng khoán không đủ để vực dậy cả nền kinh tế. Thậm chí chứng khoán lại có thể trở lại ảm đạm sau khi nhà đầu tư bị tổn hại niềm tin vì một lí do nào khác. Biểu hiện rõ nhất là ngân khố quốc gia đã cạn kiệt đến mức nhà nước phải ra thông báo “khuyến khích đóng góp tài sản”[3] hay nói dân dã hơn thì là xin tiền quyên góp của dân. Như vậy là ngân khố đã cạn kiệt đến mức cùng kiệt, và e rằng chính phủ khó có thể duy trì lâu hơn được nữa trước khi có sự thay đổi lớn hoặc là tuyên bố phá sản.[4]
Thứ hai về chính trị, áp lực của Trung Quốc lên tất cả các mặt của Việt Nam càng lúc càng nặng nề. Không chỉ có kinh tế, văn hóa, an ninh chủ quyền quốc gia mà còn cả sức khỏe người dân. Trong bối cảnh Hillary Clinton dùng những ngày cuối cùng của nhiệm kì để ra một tuyên bố khẳng định quần đảo Senkaku nằm trong phạm vi của hiệp định song phương Mĩ Nhật[4] , nói trắng phớ ra thì là Mĩ sẽ can thiệp nếu tàu động đến Senkaku của Nhật thì có thể khẳng định Trung Quốc không dại gì mà khiêu chiến với Mĩ và Nhật ở thời điểm hiện tại. Bị đấm một cú đau và khó có điều kiện trả đòn ngay ở khu vực Đông Á, với tính cách đặc trưng của hắn, Trung Quốc làm cho những người quan tâm theo dõi tình hình Việt Nam nín thở theo dõi những động thái sau đó mà tàu sẽ tiến hành tại khu vực Đông Nam Á, trên Biển Đông, nhất là quần đảo Trường Sa.
Thứ ba, về động thái của chính quyền trước tình hình này. Ở mảng đối ngoại, chuyến công du châu Âu của tổng bí thư Trọng mà điểm nhấn là cuộc gặp gỡ đầy bất ngờ với Giáo hoàng, nỗ lực thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược với Pháp, Ý … đều cho thấy những nỗ lực đẩy mạnh đa phương hóa quan hệ quốc tế để tìm kiếm sự ủng hộ, giúp đỡ trước bối cảnh kinh tế bi đát và áp lực Trung Quốc nặng nề. Trong khi đó, tại diễn đàn khu vực, ngoài việc chờ đợi mối quan hệ đối tác chiến lược với Singapore và Inđonexia đã được lên dây cót từ trước, người ta vẫn chưa thấy dấu ấn của ông Lê Lương Minh trên cương vị tổng thư kí ASEAN. Có lẽ do ông mới nhận chức, hãy còn quá sớm để chờ đợi một cái gì to tát. Đối thoại song phương với Trung Quốc vẫn ở trạng thái cực kì bị động, các phản đối xâm phạm chủ quyền mang tính hình thức càng lúc càng hạ thấp về cấp của đơn vị ra tuyên bố, mập mờ về nội dung và hầu như là vô nghĩa trên thực tế. Ở mảng đối nội, những biến động, tranh đấu trong nội bộ chính quyền thời gian gần đây có thể bị nhiều người cho rằng đó chỉ là phân chia lại quyền lực nội bộ. Quan điểm đó có phần đúng, nhưng những đấu tranh đó cũng cho thấy nhận thức của chính quyền, tầng lớp lãnh đạo về sự cần thiết phải thay đổi.
Những việc thả ông Định hay ông Quân (Nguyễn Quốc Quân) trước đó, và cả việc thả Lê Anh Hùng khỏi trại tâm thần; mặc dù có cho thấy những biểu hiện có vẻ như là chuyển biến theo hướng mềm mỏng hơn của chính quyền nhưng thực tế lại không phải là những dấu hiệu để những người mong đợi sự tiến bộ ở Việt nam nên lạc quan. Trường hợp ông Quân có quốc tịch Mĩ, việc bắt giữ trái phép và xét xử không công khai một công dân của Mĩ hay bất cứ nước nào khác theo kiểu mà Việt Nam vẫn làm sẽ gây khó khăn cho những nỗ lực thúc đẩy quan hệ với các nước có tiếng nói trọng lượng (mà ở đây là Hoa Kỳ và Châu Âu). Cũng như vậy, việc bắt cóc và giam giữ Lê Anh Hùng có thể được xem như một hành động manh động quá khích không thể lí giải, chấp nhận được của các cấp thực hiện. Nhờ có sự đấu tranh quyết liệt, thông tin kịp thời của bạn bè Lê Anh Hùng tới các tổ chức quốc tế, thuyết phục mẹ Hùng viết đơn đòi con đã gây ra áp lực đủ mạnh để chính quyền buộc phải thả Hùng. Trường hợp ông Định, một người đã nhận tội và xin khoan hồng trên truyền hình quốc gia, việc thả ông cũng không nên được xem là bước tiến lớn trong chuyển biến tiến bộ ở nhận thức của chính quyền. Có thể, đó chỉ là “con săn sắt” được thả để xoa dịu dư luận, đánh lạc hướng tập trung của xã hội vào khu vực sửa đổi Hiến pháp – mà cụ thể là sửa điều 4 ở Hiến pháp hiện hành đang được xã hội tập trung quan tâm.
Như vậy trọng tâm của vấn đề cần được quan tâm ở thời điểm hiện tại vẫn là ở hiến pháp, có một hiến pháp tốt mới có thể tạo chuyển biến, tạo bệ phóng để khai thông sức mạnh toàn dân đối phó với tình hình mới. Nhưng e rằng việc tạo ra thay đổi đột phá ở thời điểm hiện tại, không chỉ là khó mà còn là cực kì thiếu khả năng. Xin bàn thêm ở phần sau.
Chú thích:
1. Chống tham nhũng: cần đảng đối lập. Bài phỏng vẫn ông Nguyễn Quang A trên BBC. Link: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2013/02/130204_nguyen_quang_a_interview.shtml
2. Alan Phan: góc nhìn Alan. Link: http://www.gocnhinalan.com/
3. Nhà nước khuyến khích đóng góp tài sản hoặc tiền cho dự trữ quốc gia. Link: http://vietstock.vn/2013/02/nha-nuoc-khuyen-khich-dong-gop-tai-san-hoac-tien-cho-du-tru-quoc-gia-758-258097.htm
4. Gần đây Bloomberg có đưa một bản tin ngắn dự báo chứng khoán Việt nam sẽ tăng trưởng mạnh nhất toàn cầu trong năm 2013. Cái mẹo ở đây là họ chỉ nói chứng khoán tăng trưởng, chứ không nói đến nền kinh tế. Điều này có thể đã tác động đến một số nhà đầu tư kĩ thuật của quốc tế. Nhưng chưa có đủ số liệu công bố về đầu tư của khối ngoại lên thị trường trong thời gian sau đó, nên nhận định này chỉ mang tính cá nhân. Linkhttp://www.bloomberg.com/video/vietnam-the-world-s-best-performer-in-2013-SPT8hfCjS8SzPefNfpZnuQ.html
Hoàng Lan
Theo Ba Sàm (Comment số 13)